1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá để bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại và thực tiễn thi hành tại ngân hàng TMCP xăng dầu petrolimex

105 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Với đề tài này, tác giả hy vọng thông qua Luận văn của mình sẽ làm rõ hơn được bản chất của giao dịch cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay củ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

LÊ THỊ QUÝ

PHÁP LUẬT VỀ CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP

XĂNG DẦU PETROLIMEX

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG THỊ KIM DUNG

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Thị Quý

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này, bên cạnh sự

nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giao, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Tiến sĩ Trương Thị Kim Dung đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn của mình

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những nhận xét, đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6 1.1 Khái quát chung về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại giấy tờ có giá 6 1.1.2.Khái niệm, đặc điểm của cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 16

1.2 Khái quát pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 22

1.2.1.Khái niệm pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 22 1.2.2.Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại 23

Kết luận Chương 1 26 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX 27 2.1 Thực trạng pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam 27

2.1.1.Quy định pháp luật về chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá 27 2.1.2 Quy định pháp luật về loại giấy tờ có giá được dùng làm tài sản bảo đảm 31 2.1.3 Quy định pháp luật về định giá giấy tờ có giá và phạm vi bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá 34 2.1.4 Quy định pháp luật về hình thức, hiệu lực của cầm cố giấy tờ có giá 36 2.1.5 Quy định pháp luật về trình tự, thủ tục cầm cố giấy tờ có giá 44 2.1.6 Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá 47 2.1.7 Quy định pháp luật về xử lý giấy tờ có giá cầm cố 55

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex 59

Trang 6

2.2.1 Sơ lược về Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex 59 2.2.2 Quy định của PG Bank về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay 60 2.2.3 Thực tiễn thi hành pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay tại

PG Bank 62

Kết luận Chương 2 72 Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 74 3.1 Các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 74 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại 77 3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay tại PG Bank 85 Kết luận Chương 3 86 KẾT LUẬN 87

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung, ngân hàng thương mại nói riêng luôn được xem là huyết mạch của nền kinh tế, có tính nhạy cảm cao và tác động lan truyền mạnh trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó tiến trình mở cửa đối với lĩnh vực dịch vụ tài chinh, ngân hàng ngày càng mạnh mẽ Bên cạnh những

cơ hội do quá trình hội nhập mang lại, hoạt động ngân hàng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức về khả năng cạnh tranh, khả năng thích ứng và đối phó với những diễn biến bất lợi do kinh tế thế giới và khu vực mang lại

Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại thì hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất, đóng góp nhiều trong lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng thực chất là quan hệ cho vay tiền tệ giữa một bên chủ thể là ngân hàng cho vay, và một bên chủ thể là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, sinh hoạt,… Tuy nhiên, hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh chịu nhiều rủi ro, hậu quả mà rủi ro mang lại là rất lớn, thậm chí có thể dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng Một trong số những rủi ro rõ nét nhất trong hoạt động cho vay của ngân hàng chính là rủi ro không thu hồi được nợ Do đó, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay hay còn gọi là bảo đảm tiền vay luôn được đặt ra trong quá trình cho vay của các ngân hàng thương mại như một biện pháp dự phòng để có thể chủ động xử lý đối với loại rủi ro này

Cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay là một trong những biện pháp bảo đảm được pháp luật ghi nhận, bảo hộ, được các ngân hàng thương mại và bên vay lựa chọn áp dụng Hiện nay, pháp luật điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng cầm cố giấy tờ có giá tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng mới chỉ là những quy định mang tính chất chung chung như Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm

2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Chứng khoán 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2010), Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012), Nghị định số

Trang 8

102/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm,… Pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại còn thiếu những quy định, hướng dẫn cụ thể, thống nhất dẫn đến gặp rất nhiều khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn

Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu những vấn đề pháp lý và thực tiễn của pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại để góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này, tác giả quyết định lựa

chọn nghiên cứu vấn đề "Pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá để bảo đảm tiền vay

của các ngân hàng thương mại và thực tiễn thi hành tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến việc nghiên cứu quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm tiền vay nói chung và biện pháp bảo đảm tiền vay bằng cầm cố giấy tờ có giá nói riêng, cho đến thời điểm hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đến vấn đề này

Một số bài việt, công trình nghiên cứu về giấy tờ có giá tiêu biểu phải kể đến như:

- TS Phạm Công Lạc (2006), Tài sản trong pháp luật Dân sự Việt Nam –

Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Đại

học Luật Hà Nội, Hà Nội Trong công trình nghiên cứu khoa học này có hai chuyên đề liên quan đến tài sản là giấy tờ có giá của TS Phạm Thị Giang Thu, trong đó tác giả bài viết đã làm rõ bản chất, chế độ pháp lý và chỉ ra những bất cập trong việc quản lý và xử lý tranh chấp liên quan đến loại tài sản này, tác giả bài viết cũng đã đề xuất các phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về giấy tờ có giá

- Nguyễn Thị Anh Thơ (2006), Giấy tờ có giá – Một loại tài sản trong quan hệ

pháp luật dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,

Hà Nội;

- Nguyễn Thị Hoàng Điệp (2010), Giấy tờ có giá – Một loại tài sản theo quy

định pháp luật hiện hành, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội,

Hà Nội;

Trong hai công trình nghiên cứu này, các tác giả đã khái quát được sự hình thành và phát triển, cũng như phân tích được các vấn đề lý luận, các đặc điểm của

Trang 9

giấy tờ có giá để làm rõ bản chất pháp lý của giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong pháp luật dân sự

Một số công trình nghiên cứu liên quan đến cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại như:

- Nguyễn Anh Tuấn (2013), Cầm cố tài sản – Một số vấn đề lý luận và thực

tiễn, Luận Văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Ở

công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra những lý luận chung về cầm cố tài sản với tư cách là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, phân tích quy định pháp luật, chỉ ra những bất cập và nêu phương hướng hoàn thiện cho biện pháp bảo đảm này Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu về biện pháp cầm cố

áp dụng đối với các loại tài sản nói chung, không đi sâu nghiên cứu về biện pháp cầm cố áp dụng đối với từng loại tài sản, trong đó có giấy tờ có giá

- Ngô Thị Hà (2011), Bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại các tổ chức tín

dụng – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa

Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Đến thời điểm hiện tại, đây được xem là công trình nghiên cứu bao quát, sát thực nhất liên quan đến cầm

cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về giấy tờ có giá và biện pháp bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá dựa trên cơ sở các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 Luận văn cũng chỉ ra được những bất cập trong quá trình các ngân hàng thương mại áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm khắc phục những bất cập đó

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có liên quan đến giấy tờ có giá và cầm

cố giấy tờ có giá để bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại cho đến thời điểm hiện tại còn hạn chế Các công trình này đã làm rõ bản chất của giấy tờ có giá dưới góc độ là một loại tài sản trong pháp luật dân sự, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu dưới góc độ là đối tượng của một trong những biện pháp bảo đảm tiền vay là cầm cố, đặc biệt trong bối cảnh Bộ luật dân sự năm 2015 đã có hiệu lực thay thế cho

Bộ luật dân sự năm 2005 mà các công trình nêu trên làm cơ sở để nghiên cứu Do

đó, tác giả cho rằng, việc nghiên cứu pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại là một việc cần thiết

Kế thừa những thành quả từ các công trình nói trên, Luận văn đi sâu vào nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về cầm cố giấy tờ có giá và pháp luật về

Trang 10

cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay, đồng thời liên hệ với thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex nơi tác giả đang làm việc, để từ đó có thể đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho hoạt động của của các ngân hàng thương mại nói chung, của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex nói riêng

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận pháp luật về biện pháp cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại; hệ thống pháp luật và thực trạng thi hành pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay ở Việt Nam Bên cạnh đó, nhằm làm rõ hơn các nội dung nghiên cứu, Luận văn cũng liên hệ với thực tiễn thi hành pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại, có liên hệ với thực tiễn thi hành tại hoạt động cho vay của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex, để từ đó, đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả hoạt động cho vay bằng biện pháp biện pháp bảo đảm tiền vay là cầm

cố giấy tờ có giá

5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Trong quá trình nghiên cứu công trình, tác giả đã vận dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác – Lênin, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là đường lối chính sách về phát triển hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập

Luận văn cũng sử dụng các phương pháp liệt kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn trong quá trình nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại,

từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị để hướng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

Trang 11

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Với đề tài này, tác giả hy vọng thông qua Luận văn của mình sẽ làm rõ hơn được bản chất của giao dịch cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại; hệ thống, đánh giá, nhận định được ưu điểm và hạn chế của các quy định của pháp luật liên quan đến cầm cố giấy tờ có giá cũng như liên hệ với thực tiễn áp dụng quy định pháp luật trong hoạt động nhận cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại cũng như nâng cao hiệu quả thực thi tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex

7 Bố cục của luận văn

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của luận văn bao gồm 03 Chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cầm cố giấy tờ có giá và pháp luật về cầm cố

giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các

ngân hàng thương mại ở Việt Nam và thực tiễn thi hành tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại ở Việt

Nam

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại giấy tờ có giá

1.1.1.1 Khái niệm giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá được hình thành ở hình thức sơ khai dựa trên sự tồn tại của quan hệ mua bán chịu hàng hóa, mua bán hàng trả chậm dẫn đến việc sử dụng các chứng thư nợ như là bằng chứng ghi nhận khoản nợ của các thương nhân Đây được xem như là hình thái sơ khai đầu tiên của giấy tờ có giá Cùng với sự phát triển của các quan hệ thương mại, nhu cầu sử dụng các chứng thư này ngày càng gia tăng Tuy nhiên, việc áp dụng các tập quán thương mại về phát hành và sử dụng các chứng thư này không đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên liên quan đã đòi hỏi nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ nợ nần trên

cơ sở mua bán chịu

Trên thế giới, văn bản đầu tiên quy định về giấy tờ có giá ở dạng hối phiếu ra đời vào năm 1603, đó là Pháp lệnh Humburg Đây là pháp lệnh được ban hành trên

cơ sở của các tập quán thương mại về phát hành và sử dụng thương phiếu Năm

1874, Pháp lệnh chung về hối phiếu Đức đã được tập hợp hóa từ 55 pháp lệnh hối phiếu của từng bang riêng rẽ Đến năm 1882, Vương Quốc Anh ban hành Luật hối phiếu (Bill of Exchange Act 1882) Sau năm 1930, năm ký kết công ước Giơ-ne-vơ

về hối phiếu, một loạt quốc gia đã lần lượt ban hành luật hối phiếu của quốc gia mình cho dù có gia nhập hay không gia nhập Công ước 1930 về hối phiếu Đến năm

1988, Hiệp ước thống nhất về hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ quốc tế đã được Ủy ban Luật thương mại Liên hợp quốc (gọi tắt là UNCITRAL) soạn thảo và được Đại Hội đồng Liên Hợp quốc thông qua trong khóa họp toàn thể lần thứ 43 ngày 9/12/1988 Hiệp ước này có hiệu lực sau khi được 10 quốc gia ký kết phê chuẩn chính thức

Ở Việt Nam, thời kỳ trước năm 1975, sau khi nhà nước ta tiến hành cải tạo công thương nghiệp, vận hành nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hướng tới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng ở miền Nam Thời kỳ này, quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong xã hội được vận hành theo cơ chế kế hoạch

Trang 13

hóa tập trung, quan hệ tín dụng thương mại vẫn chưa được thừa nhận Do vậy, các quy định về giấy tờ có giá không xuất hiện trong giai đoạn này, ngoại trừ sự tồn tại một số loại tem phiếu có giá trị để mua các tiêu chuẩn phân phối tại các cửa hàng mậu dịch quốc doanh

Từ năm 1986 trở lại đây, cùng với việc thực hiện công cụ đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội của đất nước, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong cơ chế thị trường, các quan hệ hàng hóa – tiền tệ ngày càng trở nên sôi động và phong phú, sự chuyển dịch của dòng tiền ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp Tuy nhiên, giấy tờ có giá dưới hình thức là các loại hối phiếu, chứng khoán…đã tồn tại hàng trăm năm ở các nước tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn là những vấn đề rất mới mẻ ở nước ta

Giao dịch phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng được quy định lần đầu tiên tại pháp lệnh ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 24/5/1990 Giao dịch phát hành trái phiếu ngân hàng và các loại giấy tờ

có giá khác tiếp tục được quy định trong Luật tổ chức tín dụng năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004) và được cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật nhằm điều chỉnh các hoạt động phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng để huy động vốn1 Năm 1995, giấy tờ có giá đã được pháp luật thừa nhận trong Bộ luật dân sự đầu tiên của nước Việt Nam dưới tên gọi “giấy tờ trị giá được bằng tiền”2 Nhưng phải đến khi Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời, thuật ngữ “giấy tờ có giá” mới chính thức được ghi nhận với tư cách là một loại tài sản3

Theo nghĩa chung nhất, "Giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ

hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác" 4

Trên phương diện kinh tế, giấy tờ có giá là một loại hàng hóa có thể thực hiện việc mua bán, trao đổi trên thị trường, gồm rất nhiều loại như trái phiếu, tín phiếu, công trái do Chính phủ phát hành; cổ phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu và các

giấy tờ có giá khác do tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp khác phát hành; …

1 Nguyễn Thị Anh Thơ (2006), “Giấy tờ có giá - Một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự”, Luận văn

Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.20

2 Điều 172 về “Tài sản” và Điều 327 về “Tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”, Bộ luật Dân sự năm 1995

3 Điều 163 về “Tài sản”, Bộ luật Dân sự năm 2005

4 TS Nguyễn Văn Tuyến (2008), "Bàn về giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng", Tạp chí Ngân hàng, (Số 9/2008)

Trang 14

Dưới góc độ pháp lý, trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, thuật ngữ

“giấy tờ có giá” được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Bộ luật dân sự Việt Nam quy định về giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản dùng trong các giao dịch dân sự Theo đó, Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015

quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Tuy nhiên, Bộ luật

dân sự năm 2015 chỉ dừng lại ở việc thừa nhận giấy tờ có giá là một lại tài sản mà không có một điều khoản nào khác giải thích giấy tờ có giá là gì

Tương tự, Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005 cũng không đưa ra một khái niệm cụ thể nào về giấy tờ có giá mà chỉ quy định theo hướng liệt kê các công

cụ chuyển nhượng, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc là giấy tờ có giá5 Đến Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, giấy tờ có giá được định nghĩa dưới góc độ là một loại giấy tờ do các tổ chức phát hành để huy động vốn và được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận như một công cụ để chiết khấu; hoặc chấp nhận như một loại tài sản bảo đảm trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước cho các tổ chức tín dụng vay vốn; hoặc Ngân hàng Nhà nước mua bán giấy tờ có giá đó thông

qua nghiệp vụ thị trường mở, cụ thể: “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa

vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác” 6

Theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP), giấy

tờ có giá cũng được định nghĩa dưới dạng liệt kê như sau: "Giấy tờ có giá bao gồm

cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch"7

Trong trường hợp các tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn, khái niệm giấy tờ có giá được đề cập tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 34/2013/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Ngân hàng Nhà nước quy định

về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ

chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giấy tờ có giá như sau: “Kỳ phiếu,

tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu (sau đây gọi là giấy tờ có giá) là bằng

5 Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005

6 Khoản 8 Điều 6 về "Giải thích từ ngữ", Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010

7

Khoản 9 Điều 3 về "Giải thích từ ngữ", Nghị định số 163/2006/NĐ-CP

Trang 15

chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành với người mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”

Bên cạnh đó, Công văn của Toà án nhân dân tối cao số 141/TANDTC-KHXX ngày 21 tháng 9 năm 2011 cũng chỉ dẫn các văn bản chuyên ngành quy định về giấy

tờ có giá bao gồm:

Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005; trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005; tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật Quản lý nợ công năm 2009; các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều

6 của Luật Chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010); trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định

số 52/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp 8

Như vậy, tùy theo mục đích của quan hệ được thiết lập, đối tượng tạo ra giấy

tờ có giá hoặc phạm vi điều chỉnh của vấn đề nghiên cứu, của một văn bản mà giấy

tờ có giá có thể được định nghĩa theo những cách khác nhau Nhìn chung, các quan niệm về giấy tờ có giá cho đến thời điểm hiện nay đều được xây dựng dựa trên phương thức liệt kê các loại giấy tờ được coi là giấy tờ có giá, ví dụ như: cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, Tuy nhiên, có thể thấy việc định nghĩa giấy tờ có giá bằng cách liệt kê các loại giấy tờ được xem là giấy tờ có giá sẽ không mang tính bao quát, rõ ràng vì ngoài những loại giấy tờ có giá phổ thông đã được liệt kê, thì những loại giấy tờ nào khác được coi là giấy tờ có giá, và rút cục thì chúng đều phải thỏa mãn những đặc điểm gì để được pháp luật công nhận là giấy tờ có giá? Vì vậy, theo tác giả, giấy tờ có giá có thể được định nghĩa

một cách khái quát như sau: Giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác

8 Tòa án nhân dân tối cao (2011), Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9 về thẩm quyền giải quyết các

yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, Hà Nội

Trang 16

nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lý với chủ thể khác, trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự

1.1.1.2 Đặc điểm của giấy tờ có giá

Như đã phân tích ở trên, giấy tờ có giá khi được nhìn dưới các góc độ, phương diện khác nhau sẽ có các định nghĩa khác nhau Nhưng, cho dù được định nghĩa như thế nào, giấy tờ có giá vẫn có những thuộc tính cơ bản, những đặc điểm đặc trưng

để có thể nhận biết và phân biệt giấy tờ có giá với các loại tài sản khác Xét về bản chất, giấy tờ có giá có ba đặc điểm đặc thù: (1) Xác nhận quyền tài sản của một chủ

thể xác định; (2) Trị giá được bằng tiền; và (3) được phép tham gia giao dịch

Thứ nhất, giấy tờ có giá xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định

Giấy tờ có giá là một tài sản và bản thân nó là bằng chứng xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định Khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Như vậy, giấy tờ có giá đã

được liệt kê trong số các đối tượng được coi là tài sản, vì vậy, người được coi là chủ

sở hữu giấy tờ có giá có đủ quyền năng đối với đối tượng này như quyền năng đối với bất kỳ một tài sản thông thường nào khác, bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, người nắm giữ giấy tờ có giá không thể hiện thực tế mình đang nắm giữ lượng vốn hữu hình mà lượng vốn này đang được chiếm giữ bởi chủ thể phát hành ra nó Việc định đoạt lượng vốn thực thuộc về chủ thể nhận vốn mà không thuộc về người nắm giữ giấy tờ có giá

Trong phạm vi hoạt động của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, giấy tờ có giá được quy định dựa trên góc độ là loại giấy tờ mà các tổ chức phát hành để huy động vốn Cụ thể, theo khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam năm 2010 thì : “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa

tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”

Tương tự, khoản 1 Điều 2 Thông tư số 34/2013/TT-NHNN của Ngân hàng

Nhà nước quy định giấy tờ có giá: “là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ

chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành với người mua giấy tờ

có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”

Theo các quy định trên đây, thì giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều

khoản cam kết khác của tổ chức phát hành giấy tờ có giá đối với người sở hữu,

Trang 17

người mua giấy tờ có giá Điều này cũng đồng nghĩa với việc giấy tờ có giá xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu, người mua giấy tờ có giá Với tư cách là chủ

nợ, người sở hữu giấy tờ có giá có quyền yêu cầu tổ chức phát hành trả nợ một khoản tiền bằng mệnh giá ghi trên giấy tờ có giá kèm theo các khoản lãi vào ngày

đáo hạn giấy tờ có giá

Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005 ghi nhận đặc điểm của giấy tờ có giá về việc xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định dưới góc độ khác với Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Theo Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005 thì

“Công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết

thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định” 9

Như vậy, quyền tài sản của chủ thể sở hữu giấy tờ có giá theo quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng chính là quyền của người thụ hưởng trong việc yêu cầu người phát hành, người bị ký phát thanh toán một số tiền xác định vào một thời điểm xác định cho người thụ hưởng Quyền yêu cầu của người thụ hưởng xuất phát

từ việc người ký phát, người phát hành thực hiện phát hành công cụ chuyển nhượng trên cơ sở giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, cho vay, giao dịch thanh toán và giao dịch tặng cho theo quy định của pháp luật

Cũng xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định, nhưng quyền tài sản của chủ sở hữu chứng khoán lại là quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn góp của tổ chức phát hành Theo quy định tại khoản 1

Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2010) thì “chứng

khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành”

Tùy thuộc vào loại chứng khoán khác nhau (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán hay hợp đồng góp vốn đầu tư)

mà quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu chứng khoán loại đó sẽ có nội dung và

phạm vi khác nhau Ví dụ, loại chứng khoán là “Quyền mua cổ phần” sẽ “mang lại cho

cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phần mới theo điều kiện đã được xác định”10, còn loại

chứng khoán là “Hợp đồng góp vốn đầu tư” sẽ “mang lại cho người góp vốn lợi nhuận

và được phép chuyển đổi thành chứng khoán khác”11

9 Khoản 1 Điều 4 về "Giải thích từ ngữ", Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005

10 Khoản 6 Điều 6 về "Giải thích từ ngữ", Luật Chứng khoán năm 2006

11

Khoản 8a Điều 6 về "Giải thích từ ngữ", Luật Chứng khoán năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2010

Trang 18

Như vậy, giấy tờ có giá dù là loại nào đi nữa thì cũng luôn mang đặc điểm là bằng chứng xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định, tuy rằng nội dung và phạm vi của quyền tài sản mà loại giấy tờ có giá đó ghi nhận là không giống nhau Khi nói về đặc điểm này của giấy tờ có giá cũng cần phải nhấn mạnh rằng, mặc dù giấy tờ có giá xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định nhưng giấy tờ có

giá không phải là quyền tài sản Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Quyền tài

sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Như vậy, mặc dù quyền tài

sản và giấy tờ có giá đều là tài sản, trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong dân

sự, nhưng hai loại tài sản này khác nhau ở chỗ, giấy tờ có giá là tài sản hữu hình còn quyền tài sản là tài sản vô hình

Thứ hai, giấy tờ có giá trị giá được bằng tiền

Một trong những đặc điểm nổi bật khác của giấy tờ có giá đó là giấy tờ có giá

có thể trị giá được bằng tiền, nghĩa là có thể hoán đổi giấy tờ có giá thành tiền Thật vậy, qua khái niệm về giấy tờ có giá như đã phân tích ở trên có thể thấy rằng vì bản thân giấy tờ có giá xác nhận quyền yêu cầu trả nợ, quyền yêu cầu thanh toán một khoản tiền trong một thời hạn nhất định và khoản tiền đó luôn được xác định rõ trên giấy tờ có giá nên giấy tờ có giá có thể trị giá bằng tiền

Đặc điểm trị giá được bằng tiền của giấy tờ có giá thể hiện rất rõ trong các mối quan hệ pháp lý liên quan đến giấy tờ có giá như quan hệ giữa người sở hữu giấy tờ

có giá với tổ chức phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn, quan hệ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá hay bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá

Trong mối quan hệ giữa người sở hữu giấy tờ có giá với tổ chức phát hành giấy tờ có giá, khi đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá, người sở hữu giấy tờ có giá có quyền yêu cầu tổ chức phát hành trả nợ một khoản tiền bằng mệnh giá của giấy tờ có giá cộng với số tiền lãi tính trên mệnh giá giấy tờ có giá Như vậy, đến ngày đáo hạn, giấy tờ có giá đã được quy ra một khoản tiền và tổ chức phát hành có nghĩa vụ trả cho người sở hữu số tiền đó

Xét trong mối quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá, khi bên nhận chiết khấu đồng

ý chiết khấu giấy tờ có giá của khách hàng thì bên nhận chiết khấu phải trả cho khách hàng số tiền chiết khấu (gọi là giá chiết khấu) dựa trên giá trị giấy tờ có giá khi đến hạn thanh toán, lãi suất chiết khấu và thời hạn còn lại của giấy tờ có giá

Trang 19

Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá, mức cho vay được xác định dựa trên giá trị của giấy tờ có giá Mức cho vay thường không vượt quá giá trị của giấy tờ có giá

Thứ ba, giấy tờ có giá được phép tham gia giao dịch

Pháp luật hiện hành xem giấy tờ có giá là một loại tài sản, vì vậy, chủ sở hữu giấy tờ có giá được quyền thực hiện các giao dịch đối với giấy tờ có giá thuộc sở hữu của mình Giấy tờ có giá có thể trở thành phương tiện thanh toán tiền mua bán hàng hóa trong hoạt động tín dụng thương mại, hay là đối tượng của các giao dịch mua bán, chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán Giấy tờ có giá cũng là loại tài sản bảo đảm khá phổ biến trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại,…

Để giấy tờ có giá có thể trở thành đối tượng của giao dịch cầm cố bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại, giấy tờ có giá phải đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau :

(i) Giấy tờ có giá phải thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố

Theo quy định của khoản 1 Điều 395 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu” Quy định này xuất phát từ quyền định đoạt tối cao của chủ

sở hữu Theo đó, chỉ có chủ sở hữu của tài sản mới có quyền định đoạt tài sản của mình, trong đó có việc dùng tài sản của mình cầm cố để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của người khác

Khi bên cầm cố giao tài sản cầm cố là giấy tờ có giá cho bên nhận cầm cố, từ thời điểm đó bên cầm cố bị hạn chế một số quyền năng đối với giấy tờ có giá của mình Bên nhận cầm cố chiếm hữu giấy tờ có giá đó đồng thời có quyền định đoạt

nó khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên vay vốn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ như đã thỏa thuận Vì vậy, giấy tờ có giá là đối tượng của cầm cố phải thuộc sở hữu của bên cầm cố Nếu giấy tờ có giá thuộc sở hữu chung của nhiều người thì việc cầm cố giấy tờ có giá đó phải được sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu

Trong thực tế, việc xác định giấy tờ có giá có thuộc sở hữu của bên cầm cố hay không sẽ tương đối dễ dàng đối với các giấy tờ có giá ghi danh, nhưng sẽ là một việc làm hết sức khó khăn đối với giấy tờ có giá vô danh Đối với đối tượng cầm cố

là giấy tờ có giá vô danh, các ngân hàng thương mại phải hết sức thận trọng và chỉ

Trang 20

nhận làm tài sản bảo đảm khi có đủ cơ sở để khẳng định chắc chắn giấy tờ có giá đó thuộc sở hữu của bên cầm cố thì quyền lợi của mình mới được bảo đảm

(ii) Giấy tờ có giá là tài sản hiện có và phải xác định được

Xuất phát từ bản chất của cầm cố là việc bên cầm cố phải giao tài sản cho bên nhận cầm cố giữ nên tài sản cầm cố chỉ có thể là vật có sẵn vào thời điểm giao dịch cầm cố được xác lập Vì vậy, giấy tờ có giá chỉ có thể là tài sản cầm cố nếu bản thân giấy tờ có giá đó là một loại tài sản

Là đối tượng của một loại nghĩa vụ dân sự nên về nguyên tắc, tài sản cầm cố

là giấy tờ có giá phải đáp ứng các điều kiện mà Bộ luật dân sự quy định đối với đối tượng của nghĩa vụ Theo Điều 376 Bộ luật dân sự năm 2015, “Đối tượng của nghĩa

vụ phải được xác định” Tương tự như vậy, tại khoản 3 Điều 395 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng đã khẳng định: “Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được” Như vậy, giấy tờ có giá là đối tượng của biện pháp cầm cố phải thỏa mãn điều kiện phải xác định được

(iii) Giấy tờ có giá phải được phép chuyển giao

Khi nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đến thời hạn mà bên vay vốn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ thì ngân hàng nhận cầm cố được quyền bán giấy tờ có giá đã nhận cầm cố để thu hồi nợ Tuy nhiên, ngân hàng nhận cầm cố chỉ

có thể bán giấy tờ có giá đã nhận cầm cố nếu chúng là tài sản được phép chuyển giao trong giao dịch dân sự Vì vậy, nếu giấy tờ có giá là tài sản mà pháp luật cấm giao dịch thì không chỉ giao dịch cầm cố giấy tờ có giá đó vô hiệu, mà bên nhận cầm cố còn không thể xử lí được giấy tờ có giá đó để thu hồi nợ

Như vậy, giấy tờ có giá có ba đặc điểm đặc trưng cơ bản là: xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định, trị giá được bằng tiền và được phép tham gia giao dịch Đây là ba đặc điểm để nhận biết giấy tờ có giá và để phân biệt giấy tờ có giá với các loại giấy tờ khác, cũng như với loại tài sản khác

1.1.1.3 Phân loại giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau

Thứ nhất, căn cứ vào khả năng chuyển nhượng, giấy tờ có giá được phân

thành giấy tờ có giá có khả năng chuyển nhượng và giấy tờ có giá không chuyển nhượng Việc phân loại giấy tờ có giá theo tiêu chí này giúp cho chủ thể có liên quan có những quyết định phát hành, đầu tư đúng đắn

Trang 21

Giấy tờ có giá có khả năng chuyển nhượng như séc vô danh, hối phiếu không ghi tên, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán có khả năng hình thành các loại thị trường đặc biệt ngoài thị trường hàng hóa thông thường Mỗi loại giấy tờ có giá có những đặc điểm riêng và khả năng chuyển nhượng của các loại giấy tờ có giá khác nhau là khác nhau Giấy tờ có giá không có khả năng chuyển nhượng như séc định danh, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, hối phiếu định danh tạo ra

cơ hội an toàn cho người nắm giữ và khả năng kiểm soát của các chủ thể phát hành

ra chúng

Thứ hai, căn cứ vào thời hạn của giấy tờ có giá, giấy tờ có giá được phân

thành giấy tờ có giá dài hạn và giấy tờ có giá ngắn hạn Thời hạn giấy tờ có giá là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày đến hạn thanh toán Giấy tờ có giá ngắn hạn có thời hạn dưới một năm, giấy tờ có giá dài hạn có thời hạn từ một năm trở lên, trái phiếu có thời hạn từ một năm trở lên12

Việc phân loại giấy tờ có giá theo thời hạn của giấy tờ có giá có ý nghĩa quan trọng trong các giao dịch liên quan đến giấy tờ có giá như mua, bán, tặng cho… đặc biệt là giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay bằng giấy tờ có giá và giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá, thời hạn của giấy tờ có giá là cơ sở để Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng xác định thời hạn cho vay trên cơ sở đảm bằng giấy tờ có giá Thời hạn cho vay không quá thời hạn còn lại của giấy tờ có giá Thời gian gia hạn nợ không vượt quá ngày đến hạn của giấy

tờ có giá Ngoài ra, trong giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá thì "thời hạn còn lại

của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn Ngân hàng Nhà nước chiết khấu đối với trường hợp chiết khấu có kỳ hạn" 13

Cuối cùng, dựa vào hình thức của giấy tờ có giá, giấy tờ có giá được phân

thành giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá vô danh Giấy tờ có giá ghi danh: "là

giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu", giấy tờ có giá vô danh: "là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu” 14

Như vậy, đối với giấy tờ có giá ghi danh thì tên người sở hữu giấy tờ có giá được ghi rõ trên giấy tờ có giá Đối với giấy tờ có giá

12 Khoản 4 Điều 2 về “Giải thích từ ngữ”, Thông tư số 34/2013/TT-NHNN

13

Điểm e, khoản 1 Điều 6 về “Giấy tờ có giá được chiết khấu”, Thông tư số 01/2012/TT-NHNN

14 Khoản 2, khoản 3 Điều 2 về "Giải thích từ ngữ", Thông tư số 34/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Trang 22

vô danh, trên giấy tờ có giá không ghi tên người sở hữu, giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

Trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, các bên có thể lựa chọn áp dụng một trong các biện pháp bảo đảm tiền vay như: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh, tín chấp … quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 Mỗi biện pháp bảo đảm mang một đặc điểm riêng biệt, tùy thuộc vào nội dung, điều kiện của các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng cũng như loại tài sản mà các bên lựa chọn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phù hợp Đối với tài sản là giấy tờ có giá, trước hết cần xem xét loại tài sản này phù hợp với đặc điểm của biện pháp cầm cố hay thế chấp?

Tài sản được dùng để cầm cố là kết quả của sự lựa chọn, thống nhất ý chí giữa các bên chủ thể và phải phù hợp với đặc điểm cơ bản nhất của quan hệ cầm cố là có

sự chuyển giao tài sản cầm cố từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố Theo quy định của pháp luật hiện hành, ngoài việc đáp ứng các điều kiện chung về đối tượng của giao dịch dân sự như phải được xác định cụ thể, không có tranh chấp, được phép giao dịch, phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm… thì tài sản cầm cố còn phải phù hợp với các đặc trưng của quan hệ cầm cố, đó là: (i) có sự chuyển giao tài sản từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố, bên nhận cầm cố có quyền quản lí, nắm giữ tài sản cầm cố Khi chuyển giao giấy tờ pháp lí về tài sản cũng đồng thời là chuyển giao quyền quản lí đối với tài sản đó; và (ii) tài sản cầm cố không được đưa vào khai thác công dụng để hưởng hoa lợi, lợi tức trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Đối với tài sản là giấy tờ có giá, khi dùng làm tài sản bảo đảm thì Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định theo tinh thần quyền quản lí giấy tờ có giá được chuyển giao đồng thời khi chuyển giao những giấy tờ đó Cụ thể, bên nhận bảo đảm giấy tờ

có giá có quyền yêu cầu người phát hành giấy tờ có giá hoặc trung tâm lưu kí chứng khoán đảm bảo quyền giám sát của bên nhận bảo đảm đối với giá trị của tài sản ghi trên giấy tờ có giá đó Đồng thời, nếu giấy tờ có giá được dùng làm tài sản bảo đảm

Trang 23

cho nhiều bên nhận bảo đảm khác nhau thì bên nhận bảo đảm chiếm giữ giấy tờ có giá sẽ được ưu tiên thanh toán trước15

Theo tinh thần đó, có quan điểm cho rằng, xét về bản chất thì giấy tờ có giá mang bản chất của quyền tài sản và đối tượng trong các hợp đồng cầm cố đó chính

là quyền tài sản Khi chuyển giao giấy tờ có giá thì cũng chính là chuyển giao quyền quản lí, kiểm soát tài sản ghi trên giấy tờ đó cho bên nhận bảo đảm Do vậy, giấy tờ

có giá chỉ là đối tượng của cầm cố tài sản chứ không phải là đối tượng của các biện pháp bảo đảm khác như thế chấp tài sản, bảo lãnh, 16

Bên cạnh quan điểm cho rằng giấy tờ có giá chỉ có thể là đối tượng của biện pháp cầm cố tài sản, cũng có quan điểm khác cho rằng biện pháp bảo đảm đối với tài sản là giấy tờ có giá có thể là cầm cố hay thế chấp tùy thuộc vào loại giấy tờ có giá được giao dịch Trước hết, có thể giao về mặt vật chất công cụ chuyển nhượng (như hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc và công cụ chuyển nhượng khác) cho ngân hàng và do quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng nằm trong chính giấy chứng nhận công cụ chuyển nhượng nên chúng có thể được cầm cố Ngoài ra, giấy chứng nhận chứng khoán vô danh có thể cầm cố bởi lý do duy nhất là quyền sở hữu được chuyển giao thông qua việc trao tay giấy chứng nhận này Tuy nhiên, đối với chứng khoán ghi sổ, do đây là tài sản vô hình và không thể thực hiện việc chuyển giao về mặt vật chất cho bên nhận cầm cố nên thế chấp là giao dịch bảo đảm đảm phù hợp nhất đối với chứng khoán ghi sổ bởi vì thế chấp không đòi hỏi phải chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm17

Tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng biện pháp bảo đảm đối với tài sản là giấy tờ có giá có thể là cầm cố hay thế chấp tùy thuộc vào loại giấy tờ có giá được giao dịch như vừa nêu Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung làm rõ cơ sở pháp lý và các quy định pháp luật hiện hành về biện pháp cầm cố giấy tờ có giá trong hoạt động bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại theo nội dung đề tài đặt ra

Trang 24

Để có thể đưa ra được khái niệm cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại cần phải làm rõ khái niệm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bảo đảm tiền vay và cầm cố tài sản bảo đảm tiền vay

Về mặt khách quan, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là sự quy định của pháp luật

về các biện pháp để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện, đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đó Về mặt chủ quan, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là việc thỏa thuận giữa các bên chủ thể về việc lựa chọn sử dụng một trong các biện pháp đã được pháp luật quy định với tính chất tác động, dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra

Trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, thì bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng hay còn gọi là bảo đảm tiền vay, là việc ngân hàng thương mại

áp dụng các biện pháp bảo đảm nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp

lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay Cầm cố tài sản bảo đảm tiền vay là việc bên bảo đảm dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ vay của bên vay đối với ngân hàng cho vay Tài sản bảo đảm tiền vay có thể là tài sản của chính khách hàng vay hoặc tài sản của bên thứ ba tự nguyện dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đối với các ngân hàng

Như vậy, qua các khái niệm trên đây có thể đưa ra khái niệm cầm cố giấy tờ

có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại như sau: Cầm cố Giấy tờ có

giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại là việc bên cầm cố giao tài sản

là giấy tờ có giá thuộc quyền sở hữu của mình cho ngân hàng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay của bên vay đối với ngân hàng

1.1.2.2 Đặc điểm của cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, cầm cố giấy tờ có giá là biện pháp bảo đảm đối vật

Biện pháp cầm cố giấy tờ có giá được xác định là biện pháp đối vật vì nó luôn

đi kèm tài sản bảo đảm được chỉ định cụ thể là giấy tờ có giá Trong giao dịch bảo đảm này, bên bảo đảm dùng giấy tờ có giá thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay của bên vay vốn đối với ngân hàng cho vay Khi bên vay vốn không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoàn

Trang 25

trả tiền vay đã thỏa thuận với ngân hàng tại hợp đồng tín dụng, thì bên nhận bảo đảm (ngân hàng cho vay) có quyền xử lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá đã nhận cầm cố để thu hồi nợ

Đặc điểm này của cầm cố giấy tờ có giá giúp phân biệt biện pháp bảo đảm này với biện pháp bảo đảm là bảo lãnh và tín chấp, được xác định là hai biện pháp bảo đảm đối nhân Trong biện pháp bảo lãnh và tín chấp có sự tham gia trực tiếp của người thứ ba bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ trước người có quyền Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ không thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ của mình thì người có quyền được yêu cầu người thứ

ba phải thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ

Thứ hai, là biện pháp bảo đảm được thiết lập nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ trả nợ tiền vay của bên vay vốn đối với bên cho vay là ngân hàng thương mại

Cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác, biện pháp cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc và gắn liền với một nghĩa vụ, đó là nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay vốn đối với bên cho vay là ngân hàng thương mại Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ khi bên vay vốn và ngân hàng thiết lập quan hệ vay vốn thông qua hợp đồng tín dụng thì bên bảo đảm (có thể là chính khách hàng hoặc bên thứ ba) và ngân hàng mới cùng nhau thiết lập biện pháp cầm cố giấy tờ có giá để bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả tiền vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng đã ký giữa bên vay và ngân hàng Nghĩa là việc cầm cố giấy tờ có giá để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay của bên vay không tồn tại một cách độc lập Nội dung và hiệu lực của giao dịch cầm

cố giấy tờ có giá phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vụ chính, đó là nghĩa vụ hoàn trả tiền vay mà bên vay đã thỏa thuận với ngân hàng tại hợp đồng tín dụng

Thứ ba, tài sản dùng để bảo đảm tiền vay là giấy tờ có giá

Nếu như đối tượng của các biện pháp bảo đảm nói chung có thể bao gồm nhiều loại (tài sản, công việc phải thực hiện, uy tín) thì đối tượng của cầm cố tài sản chỉ có thể là tài sản Pháp luật hiện hành không có quy định về tài sản cầm cố nhưng xét theo bản chất của cầm cố là việc bên cầm cố phải giao tài sản cho bên nhận cầm

cố giữ nên tài sản cầm cố chỉ có thể là vật có sẵn vào thời điểm giao dịch cầm cố được xác lập Như đã nêu ở phần trên, giấy tờ có giá được xác định là một loại tài sản được pháp luật ghi nhận, và vì vậy, giấy tờ có giá được tham gia các giao dịch dân sự nói chung, giao dịch bảo đảm tiền vay nói riêng

Trang 26

Trong giao dịch cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay thì tài sản bảo đảm đã được xác định chính là giấy tờ có giá Bên bảo đảm giao giấy tờ có giá thuộc sở hữu của mình cho bên nhận bảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả tiền vay của bên vay đối với ngân hàng Giấy tờ có giá dùng làm tài sản bảo đảm rất đa dạng như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch

Thứ tư, một bên chủ thể trong giao dịch cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền

vay là ngân hàng thương mại

Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên chủ thể Trong giao dịch cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại có sự tham gia của các bên chủ thể bao gồm: bên bảo đảm (có thể là chính bên vay vốn hoặc người thứ ba) là cá nhân hoặc pháp nhân và bên nhận bảo đảm chính là ngân hàng cho vay

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận18, trong đó hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu và đóng vai trò mang lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng Với chức năng này, ngân hàng thương mại cho các cá nhân, pháp nhân vay vốn trên cơ sở thu hồi nợ gốc và một khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc đã cho vay Vì vậy, nhằm dự phòng trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoàn trả nợ vay, cũng là

để ràng buộc thêm trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng và bên bảo đảm thỏa thuận và ký kết hợp đồng cầm cố giấy tờ có giá để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay đối với ngân hàng Như vậy, một bên chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay luôn là ngân hàng cho vay, còn bên bảo đảm

có thể chính là bên vay vốn hoặc là người thứ ba đồng ý dùng giấy tờ có giá thuộc

sở hữu của mình làm tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho bên vay

Trên đây là những đặc điểm cơ bản của cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại Các đặc điểm này là cơ sở để phân biệt biện pháp bảo đảm tiền vay bằng cầm cố giấy tờ có giá với các biện pháp bảo đảm tiền vay khác tại các ngân hàng thương mại

1.1.2.3 Vai trò của cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

18

Khoản 3 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010

Trang 27

Cầm cố giấy tờ có giá là biện pháp bảo đảm có vai trò quan trọng đối với hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, với khách hàng, cũng như đối với sự phát triển của đời sống kinh tế, xã hội

Đối với các ngân hàng thương mại:

Cầm cố giấy tờ có giá là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay của bên vay, là biện pháp chế tài có chức năng dự phạt, là rào cản đối với những đối tượng đi vay có chủ định lừa đảo Tài sản bảo đảm tiền vay là giấy tờ có giá như một khoản dự phòng làm tăng khả năng thu hồi nợ, nó được coi là nguồn trả nợ thứ hai bên cạnh nguồn trả nợ thứ nhất đến từ thu nhập của khách hàng, giúp giảm bớt tổn thất cho ngân hàng trong trường hợp bên vay vốn không thanh toán được nợ vay Khi đó, tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá sẽ được ngân hàng xử lý để thu hồi lại số tiền đã cho bên vay vay

Việc đưa giấy tờ có giá bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ giúp hạn chế rủi ro đạo đức từ phía khách hàng, đặc biệt là khi giấy tờ có giá thuộc quyền sở hữu của chính khách hàng hoặt của bên có mối liên hệ mật thiết với khách hàng (huyết thống, điều hành/sở hữu,…) Khách hàng cung cấp tài sản bảo đảm nhằm tăng cường khả năng đáp ứng điều kiện cấp tín dụng, rút tiền vay chứ không nhằm trao đổi tài sản để lấy tiền Vì vậy, để tránh nguy cơ mất tài sản bảo đảm, khách hàng sẽ có trách nhiệm hơn trong việc sử dụng vốn vay đúng mục đích theo phương án đã được ngân hàng thương mại thẩm định cũng như tuân thủ các cam kết khác tại hợp đồng cấp tín dụng ký kết giữa hai bên

Ngoài ra, việc khách hàng sẵn sàng cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay cũng là một tiêu chí thể hiện mức độ an toàn của phương án vay vốn và khả năng trả

nợ của khách hàng, vì vậy, biện pháp này còn có vai trò hỗ trợ sàng lọc khách hàng của các ngân hàng thương mại

Cuối cùng, cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay còn giúp các ngân hàng thương mại giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro cụ thể, tăng cường hiệu quả sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại

Đối với khách hàng và sự phát triển của đời sống kinh tế, xã hội:

Cầm cố giấy tờ có giá giúp khách hàng tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng với các điều khoản thuận lợi và lãi suất hợp lý, từ đó bảo đảm duy trì, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thỏa mãn được nhu cầu tiều dùng, phục vụ đời sống Ngoài ra, việc cầm cố giấy tờ có giá còn khiến khách hàng có thêm động cơ

sử dụng vốn đúng mục đích theo phương án đã được ngân hàng thương mại thẩm

Trang 28

định cũng như tuân thủ các cam kết khác tại hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng thương mại, dẫn đến giảm thiểu rủi ro cho chính khách hàng

Đối với sự phát triển của đời sống kinh tế, xã hội, cầm cố giấy tờ có giá giúp thúc đẩy giao dịch cho vay diễn ra, tạo điều kiện để quá trình sản xuất kinh doanh

và luồng chu chuyển tiền – hàng trong nền kinh tế diễn ra liên tục, đồng thời giúp tập trung vốn, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế và góp phần nâng cao mức sống của dân cư Nguồn tiền vay trên cơ sở có bảo đảm bằng giấy tờ có giá đóng vai trò như một trong những kênh tạo vốn quan trọng cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển

1.2 Khái quát pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

Pháp luật là hệ thống các quy định pháp luật quy định cách thức ứng xử chung giữa các chủ thể trong xã hội, được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với bản chất của nền kinh tế và định hướng của Nhà nước Trong nền kinh

tế thị trường, hoạt động của hệ thống các ngân hàng thương mại có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Hệ thống các ngân hàng thương mại là kênh cung ứng vốn chủ yếu nền kinh tế Tuy nhiên, hoạt động này của ngân hàng thương mại lại chưa đựng nhiều rủi ro Bởi vậy, để phòng tránh các rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống các ngân hàng và nền kinh tế, Nhà nước đã ban hành các quy định pháp lý điều chỉnh và quản lý hoạt động của các ngân hàng thương mại, trong đó có các quy phạm điều chỉnh quan hệ bảo đảm tiền vay nói chung, bảo đảm tiền vay bằng biện pháp cầm cố giấy tờ có giá nói riêng

Tại nước ta hiện nay, các quy định của pháp luật liên quan đến giấy tờ có giá

và cầm cố giấy tờ có giá không được quy định cụ thể tại một văn bản pháp luật nào

mà nó được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật như: Bộ luật dân sự, Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP,… Trong

đó, pháp luật dân sự là lĩnh vực pháp luật chung, điều chỉnh các quan hệ dân sự trong đó có quan hệ cầm cố tài sản đã xây dựng những nguyên lý chung nhất, cơ bản nhất cho giao dịch cầm cố tài sản nói chung và cầm cố tài sản là giấy tờ có giá nói riêng Bộ luật dân sự năm 2015 hiện nay cũng đã quy định cụ thể, đầy đủ các nguyên tắc, những yêu cầu về nội dung và hình thức của hợp đồng cầm cố tài sản; những quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng cầm cố tài sản; cũng như cách thức để thiết lập hợp đồng cầm cố tài sản; … trên nền tảng của sự tôn trọng tối

Trang 29

đa quyền bình đẳng, tự do ý chí của các bên tham gia quan hệ cầm cố Các quy định này là những chuẩn mực pháp lý chung nhất, tạo nên tiền đề cơ sở để các bên thiết lập và thực hiện giao dịch cầm cố giấy tờ có giá Cùng với các quy phạm mang tính nền tảng của Bộ luật dân sự, các quy phạm pháp luật về ngân hàng, về chứng khoán

và rất nhiều văn bản hướng dẫn liên quan như các nghị định của Chính phủ, các thông tư của Ngân hàng Nhà nước, của các Bộ ban ngành có liên quan,… cũng chứa đựng rất nhiều quy phạm quan trọng có liên quan đến quan hệ cầm cố giấy tờ

có giá

Pháp luật hiện hành không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là pháp luật về cầm

cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại, tuy nhiên, qua nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo đảm tiền vay bằng biện pháp cầm cố giấy

tờ có giá, cũng như các quy định về cầm cố tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự, có thể đưa ra khái niệm pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại như sau:

Pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh trực tiếp

và liên quan đến biện pháp cầm cố tài sản là giấy tờ có giá tại ngân hàng thương mại với mục đích bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả tiền vay của bên vay vốn đối với ngân hàng thương mại đã cho vay

1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bao gồm các nội dung liên quan đến trình

tự, thủ tục cầm cố giấy tờ có giá; điều kiện để giấy tờ có giá trở thành tài sản bảo đảm; về chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá; về định giá giấy tờ có giá và phạm vi bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá; về hình thức và hiệu lực của cầm cố giấy tờ có giá; về quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy

tờ có giá và về xử lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá

Thứ nhất, nhóm quy phạm pháp luật quy định về chủ thể của quan hệ cầm cố

giấy tờ có giá Chủ thể tham gia quan hệ cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại bao gồm: bên cầm cố và bên nhận cầm cố

Bên cầm cố là bên phải giao giấy tờ có giá là tài sản cầm cố để bảo đảm việc

thực hiện nghĩa vụ Bên cầm cố giấy tờ có giá có thể chính là bên vay vốn – bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố giấy tờ có

Trang 30

giá; cũng có thể là người thứ ba Người thứ ba cầm cố giấy tờ có giá là người không thuộc các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm giao giấy tờ có giá thuộc sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố (ngân hàng thương mại) để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ đó Để có thể tham gia vào quan hệ cầm cố giấy tờ có giá, bên cầm cố phải có năng lực chủ thể (bao gồm năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự đối với chủ thể là cá nhân; năng lực pháp luật dân sự đối với chủ thể là pháp nhân), là chủ sở hữu giấy tờ

có giá cầm cố và không thuộc các trường hợp bị pháp luật cấm hoặc hạn chế trở thành bên bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Bên nhận cầm cố là bên nhận tài sản cầm cố là giấy tờ có giá từ bên cầm cố để

bảo đảm cho quyền và lợi ích của mình trong trường hợp bên vay vốn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ Trong phạm vi Luận văn này tác giả tập trung đi sâu tìm hiểu việc cầm cố giấy tờ có giá của bên cầm cố với bên nhận cầm cố là các ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức có nguồn vốn cho vay ổn định, hoạt động cho vay cũng là hoạt động thường xuyên, phổ biến và là hoạt động mang tính nghề nghiệp của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại vừa là chủ thể cho vay, vừa là chủ thể nhận cầm cố giấy tờ có giá

để bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả tiền vay tối ưu cho mình Việc ngân hàng thương mại có chấp nhận nhận cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của mình hay không phụ thuộc vào chính sách nội bộ của từng ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành Quyết định cho vay của các ngân hàng thương mại hiện nay chủ yếu dựa trên các cơ sở sau: Hồ sơ pháp lý, mức độ tín nhiệm của khách hàng; năng lực tài chính; tính hiệu quả của dự án đầu tư vay vốn; tính thanh khoản tài sản bảo đảm;

Thứ hai, nhóm các quy phạm pháp luật quy định điều kiện để giấy tờ có giá

trở thành tài sản bảo đảm: Pháp luật hiện hành chưa đưa ra quy định thống nhất các điều kiện đối với giấy tờ có giá để trở thành một tài sản bảo đảm Vì vậy các chủ thể

áp dụng vẫn phải dựa trên những quy định chung của Bộ luật dân sự để xác định điều kiện tham gia giao dịch bảo đảm đối với giấy tờ có giá Đồng thời, chủ thể áp dụng cũng phải rà soát các quy định pháp luật chuyên ngành để bảo đảm giấy tờ có giá cầm cố không thuộc các trường hợp cấm hay hạn chế giao dịch

Thứ ba, nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh việc định giá giấy tờ có giá và

phạm vi bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá: Pháp luật hiện hành còn thiếu quy định điều chỉnh hoạt động định giá tài sản bảo đảm nói chung, tài sản bảo đảm là

Trang 31

giấy tờ có giá nói riêng Do pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về phương thức, căn cứ định giá để làm cơ sở cho vay, nên mỗi ngân hàng thương mại đều tự thực hiện việc định giá giấy tờ có giá theo quy định riêng của mình

Thứ tư, nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh hình thức và hiệu lực của cầm cố

giấy tờ có giá

Hình thức của cầm cố tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như Bộ luật dân sự năm 2005 đều quy định phải bằng văn bản Tuy nhiên, đến Bộ luật dân sự năm 2015 thì hình thức của cầm cố tài sản đã không còn được xác định

rõ ràng nữa Là một dạng cụ thể của cầm cố tài sản trong pháp luật Dân sự, hình thức của cầm cố giấy tờ có giá cũng được xác định dựa trên quy định của Bộ luật dân sự về hình thức của cầm cố tài sản Vì vậy, hình thức của cầm cố giấy tờ có giá theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 không bắt buộc phải bằng văn bản mà còn có thể bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể

Căm cứ các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về thời điểm có hiệu lực đối với các bên chủ thể và đối với bên thứ ba của hợp đồng cầm cố tài sản, có thể xác định hiệu lực của hợp đồng cầm cố giấy tờ có giá như sau: hợp đồng cầm cố giấy tờ có giá sẽ có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác; hiệu lực đối kháng với người thứ ba của cầm cố giấy tờ có giá sẽ phát sinh từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ giấy tờ có giá cầm cố; Hợp đồng cầm cố giấy tờ có giá không thuộc các trường hợp phải công chứng

và đăng ký biện pháp bảo đảm

Thứ năm, nhóm các quy phạm pháp luật quy định trình tự, thủ tục cầm cố giấy

tờ có giá: Pháp luật hiện hành chưa có văn bản pháp luật nào quy định trình tự, thủ tục thống nhất áp dụng đối với biện pháp bảo đảm là cầm cố giấy tờ có giá Vì vậy, các ngân hàng thương mại phải căn cứ những quy định chung về việc nhận tài sản bảo đảm của Bộ luật dân sự năm 2015, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, Nghị định

số 102/2017/NĐ-CP,… để xây dựng một quy trình nhận cầm cố giấy tờ có giá phù hợp với tổ chức và hoạt động của từng ngân hàng

Thứ sáu, nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên

chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá

Từ thời điểm cầm cố giấy tờ có giá có hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng phát sinh tương ứng Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về các quyền

và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong quan hệ cầm cố tài sản, cụ thể tại các điều: Điều 311 về “Nghĩa vụ của bên cầm cố”, Điều 312 về “Quyền của bên cầm cố”,

Trang 32

Điều 313 về “Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố” và Điều 314 về “Quyền của bên nhận cầm cố”

Ngoài các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá còn được ghi nhận tại một số văn bản pháp luật khác, tiêu biểu là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP; các bên cũng có thể thỏa thuận ràng buộc thêm các quyền và nghĩa vụ khác không trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội

Thứ bảy, nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xử lý tài sản bảo đảm là

giấy tờ có giá

Trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm thông thường bao gồm các bước sau đây: (i) Thông báo về việc xử lý giấy tờ có giá cầm cố (Điều 300 Bộ luật dân sự năm 2015); (ii) Giao giấy tờ có giá cầm cố cho ngân hàng thương mại để xử lý (Điều 301 Bộ luật dân sự năm 2015); (iii) Xử lý giấy tờ có giá cầm cố (Điều 301 Bộ luật dân sự năm 2015); (iv) Thanh toán số tiền thu được từ việc xử lý giấy tờ có giá cầm cố (Điều 307, Điều 308 Bộ luật dân sự năm 2015) và (v) Chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá cầm cố

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1 của luận văn, tác giả đã phân tích làm rõ được những vấn

đề lý luận cơ bản về giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong pháp luật dân sự và về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng cầm cố giấy tờ có giá Đồng thời, tác giả khái quát pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại, bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh trình tự, thủ tục cầm cố, về chủ thể, về đối tượng, về hình thức và hiệu lực của cầm cố giấy tờ có giá, về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá và về các quy định xử lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá Qua đó, tác giả đã phác họa nên một bức tranh tổng thể những vấn đề lý luận chung về cầm cố giấy tờ có giá và pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại

Trang 33

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU

PETROLIMEX

Theo pháp luật Việt Nam, mặc dù hoạt động cho vay là hoạt động chuyên ngành về tín dụng ngân hàng, chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự và các quy định của pháp luật về tín dụng ngân hàng, song khi áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay nói chung, bảo đảm tiền vay bằng biện pháp cầm cố giấy tờ có giá nói riêng, về

cơ bản vẫn phải dựa trên nền tảng các quy định về biện pháp cầm cố tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành về giao dịch bảo đảm như: Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính Phủ quy định về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP; Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01tháng 09 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm

2.1 Thực trạng pháp luật về cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

2.1.1 Quy định pháp luật về chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá

2.1.1.1 Quy định pháp luật về chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá

Chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá là các bên tham gia xác lập hợp đồng cầm cố giấy tờ có giá, được hưởng quyền và phải chịu những nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cầm cố đã giao kết kể từ thời điểm hợp đồng cầm cố có hiệu lực pháp lý Chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại gồm bên cầm cố và bên nhận cầm cố

Bên nhận cầm cố giấy tờ có giá làm tài sản bảo đảm trong hợp đồng cầm cố giấy tờ có giá đồng thời là bên cho vay trong hợp đồng tín dụng, đó chính là các ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức có nguồn vốn cho vay ổn định, hoạt động cho vay cũng là hoạt động thường xuyên, phổ biến và là hoạt động mang tính nghề nghiệp của ngân hàng thương mại Để trở thành chủ thể trong quan

hệ cho vay cũng như chủ thể nhận cầm cố trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá, ngân hàng thương mại phải được phép hoạt động, có chức năng cho vay theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có giấy đăng ký kinh doanh hợp pháp và có người đại diện đủ năng lực, thẩm quyền để giao kết và thực hiện hợp đồng

Trang 34

Bên cầm cố giấy tờ có giá là chủ sở hữu giấy tờ có giá cầm cố, đó có thể là bên vay vốn (bên có nghĩa vụ) hoặc là người thứ ba cam kết dùng giấy tờ có giá thuộc sở hữu của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay của bên vay vốn đối với ngân hàng thương mại cho vay Tham gia giao dịch cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại, bên cầm cố giấy tờ

có giá có thể là cá nhân hoặc pháp nhân có năng lực chủ thể và có đủ các điều kiện

để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo quy định của pháp luật

Theo pháp luật dân sự Việt Nam, năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Trong đó, năng lực pháp luật dân

sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự19, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự20 Năng lực chủ thể của pháp nhân được xác định khi một tổ chức được công nhận là pháp nhân Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi đáp ứng đủ bốn điều kiện sau: (i) Được thành lập theo quy định của

Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan; (ii) Có cơ cấu tổ chức gồm cơ quan điều hành và có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật; (iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; và (iv) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập21

Chỉ khi các cá nhân và pháp nhân thỏa mãn yêu cầu về điều kiện chủ thể mà pháp luật đã quy định thì mới có thể tham gia các quan hệ pháp luật dân sự Do đó, khi tham gia vào quan hệ cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại, trước hết, bên cầm cố phải thỏa mãn điều kiện: có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu bên cầm cố là cá nhân; có năng lực pháp luật dân sự nếu bên cầm cố là pháp nhân Trường hợp bên cầm cố là pháp nhân, cũng cần lưu ý đến các yếu tố hợp pháp, hợp lệ về điều lệ, tài sản, cơ cấu tổ chức, về người đại diện theo quy định pháp luật Khi ký kết hợp đồng cầm cố giấy

tờ có giá với pháp nhân thì phải thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện hợp pháp theo ủy quyền Đối với các trường hợp tổ chức không phải là pháp nhân thì tham gia giao dịch bảo đảm nói chung, giao dịch cầm cố giấy tờ có giá nói riêng với tư cách cá nhân Những tổ chức không có tư cách pháp nhân,

19 Điều 16 về “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân”, Bộ luật Dân sự năm 2015

20 Điều 19 về “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân”, Bộ luật Dân sự năm 2015

21

Điều 74 về “Pháp nhân”, Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 35

nhưng là một bộ phận phụ thuộc của pháp nhân như chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, nhà máy, trung tâm, … thì tham gia giao dịch với tư cách của pháp nhân và giới hạn trong trách nhiệm của pháp nhân22

Trong giao dịch cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay, bên cầm cố dùng giấy

tờ có giá thuộc sở hữu của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay đối với ngân hàng thương mại cho vay Vì vậy, bên cầm cố phải là chủ sở hữu hợp pháp giấy tờ có giá hoặc là người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu giấy tờ có giá

đó

Đối với giấy tờ có giá là các công cụ chuyển nhượng như hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, việc xác định chủ sở hữu giấy tờ có giá được thực hiện theo quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng Theo đó, người thụ hưởng có quyền cầm cố hối phiếu đòi nợ theo quy định pháp luật, đó là người sở hữu công cụ

chuyển nhượng với tư cách của một trong những người sau đây: "người được nhận

thanh toán số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng theo chỉ định của người ký phát, người phát hành; người nhận chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng theo các hình thức chuyển nhượng quy định tại Luật Các công cụ chuyển nhượng; người cầm giữ công cụ chuyển nhượng có ghi trả cho người cầm giữ" 23

Đối với các loại giấy tờ có giá khác, căn cứ vào các quy định pháp luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Thông tư số 34/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013 của Ngân hàng Nhà nước quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, … chủ sở hữu hợp pháp của giấy tờ có giá được xác định căn cứ vào tính chất ghi danh của giấy tờ có giá Theo đó, đối với giấy tờ có giá ghi danh, chủ sở hữu giấy tờ có giá là người được ghi tên trên giấy tờ có giá đó Đối với các loại giấy tờ có giá vô danh, thì người đang nắm giữ giấy tờ có giá được công nhận là chủ sở hữu giấy tờ có giá đó

Ngoài ra, do hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại là hoạt động có tính chất đặc thù, vì vậy để đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động cho vay, Luật Các tổ chức tín dụng quy định một số chủ thể không thể trở thành bên bảo đảm trong mối quan hệ với bên nhận bảo đảm là các tổ chức tín dụng, trong đó có các

Trang 36

ngân hàng thương mại Vì vậy, một trong những điều kiện khác đặt ra đối với bên bảo đảm là tổ chức/cá nhân đó không thuộc trường hợp mà Luật Các Tổ chức tín dụng không cho phép làm bên bảo đảm cho bên vay vốn, bao gồm:

Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng; pháp nhân là

cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụnglà công ty cổ phần, pháp nhân

là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn; cha, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của

tổ chức tín dụng24

Như vậy, khi nhận cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay, các điều kiện đặt

ra đối với bên cầm cố bao gồm: thứ nhất, bên cầm cố giấy tờ có giá phải có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; thứ hai, bên cầm cố phải là chủ sở hữu

hợp pháp giấy tờ có giá làm tài sản cầm cố hoặc là người được ủy quyền hợp lệ từ

chủ sở hữu giấy tờ có giá theo quy định pháp luật; thứ ba, bên cầm cố giấy tờ có giá

không thuộc trường hợp pháp luật cấm hoặc hạn chế đứng ra bảo đảm cho chủ thể khác

2.1.1.2 Nhận xét, đánh giá quy định pháp luật về chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá

Có thể thấy, pháp luật hiện hành chưa có một quy định cụ thể, rõ nét nào về chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại Việc xác định tư cách chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá được xác định dựa trên các quy định chung trong Bộ luật dân sự Những quy định mang tính chất nền tảng của Bộ luật dân sự đã không giới hạn hay đặt ra những yêu cầu

“đặc biệt” về tư cách chủ thể tham gia quan hệ cầm cố giấy tờ có giá, đây là yếu tố khá thuận lợi giúp các bên tự do lựa chọn biện pháp bảo đảm tiền vay này

Tuy nhiên, liên quan đến cách thức xác định chủ sở hữu của giấy tờ có giá căn

cứ vào tính chất ghi danh của giấy tờ có giá, theo đó, chủ sở hữu giấy tờ có giá được

24 Khoản 3, Điều 126 về “Những trường hợp không được cấp tín dụng”, Luật Các Tổ chức tín dụng năm

2010

Trang 37

xác định là người được ghi tên trên giấy tờ có giá ghi danh hoặc là người đang nắm giữ giấy tờ có giá đối với giấy tờ có giá vô danh Tác giả cho rằng, việc xác định chủ sở hữu đối với giấy tờ có giá ghi danh là việc làm không khó, nhưng đối với giấy tờ có giá vô danh, nếu chỉ căn cứ vào việc ai đang nắm giữ giấy tờ có giá đó thì người đó là chủ sở hữu lại trở thành một vấn đề không hề đơn giản Bởi trên thực tế, người nắm giữ giấy tờ có giá vô danh có thể chỉ là người quản lý, người cầm, giữ hộ chủ sở hữu Vậy trường hợp những người nắm giữ giấy tờ có giá vô danh nhưng thực chất không phải là chủ sở hữu mà xác lập biện pháp cầm cố giấy tờ có giá đó, thì rủi ro đặt ra đối với các ngân hàng thương mại nhận cầm cố là rất lớn

Ngoài ra, liên quan đến việc xác định chủ thể trong quan hệ cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay, trên thực tế còn tồn tại vướng mắc trong việc xác định bên cầm cố tham gia xác lập giao dịch bảo đảm đối với giấy tờ có giá là tài sản chung/riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng Việc xác định tài sản chung hoặc riêng của vợ chồng khi tham gia giao dịch bảo đảm tưởng chừng như đơn giản, song trên thực tế đôi khi lại không hề dễ dàng Đặc biệt với tài sản là giấy tờ có giá, chủ

sở hữu giấy tờ có giá được xác định là người có tên trên giấy tờ có giá ghi danh, hoặc là người nắm giữ giấy tờ có giá (đối với giấy tờ có giá vô danh), hoặc là người được nhận thanh toán số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng theo chỉ định của người ký phát, người phát hành,… mà thông thường, chỉ ghi tên vợ hoặc chồng, nhưng lại không có đủ căn cứ xác định tài sản riêng (do lịch sử hôn nhân phức tạp, thời điểm hình thành tài sản diễn ra sau thời điểm đăng ký kết hôn, thiếu các giấy tờ

về thừa kế, cho tặng riêng, phân chia tài sản sau ly hôn,…) Giao dịch cầm cố giấy

tờ có giá là tài sản chung của vợ chồng nhưng lại chỉ do vợ hoặc chồng ký tên trên hợp đồng cầm cố có thể bị tuyên vô hiệu, dẫn đến nguy cơ khoản cho vay của ngân hàng thương mại trở thành không có tài sản bảo đảm Trên thực tế đã phát sinh một

số trường hợp chỉ có người vợ/chồng đứng ra xác lập giao dịch cầm cố để vay vốn ngân hàng nhưng đến khi ngân hàng xử lý tài sản cầm cố thì “xuất hiện” người chồng/vợ đòi lại tài sản chung hợp nhất, dẫn đến phát sinh quan hệ tranh chấp tương đối phức tạp Vì vậy, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể trường hợp này để có thể

áp dụng thống nhất trên thực tế

2.1.2 Quy định pháp luật về loại giấy tờ có giá được dùng làm tài sản bảo đảm

2.1.2.1 Quy định pháp luật về loại giấy tờ có giá được dùng làm tài sản bảo đảm

Trang 38

Trong giao dịch cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại, các bên chủ thể giao dịch được tự do, tự nguyện thỏa thuận loại giấy tờ

có giá dùng làm tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ Tuy nhiên, sự tự do thỏa thuận

đó vẫn phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn mà pháp luật cho phép, tức là loại giấy

tờ có giá mà các bên lựa chọn làm tài sản cầm cố phải đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật như đã phân tích tại tiểu mục 1.1.1.2, Chương 1 Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù của giấy tờ có giá, luật chuyên ngành điều chỉnh đối với một số loại giấy tờ có giá còn quy định các điều kiện ràng buộc riêng mà giấy tờ có giá đó phải đáp ứng khi tham gia quan hệ cầm cố Cụ thể như sau:

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 36, Điều 57 Luật Các công cụ chuyển

nhượng năm 2005 thì hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc được dùng làm tài sản cầm cố Việc cầm cố hối phiếu được thực hiện khi hối phiếu có đủ các điều kiện

để được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật25

Thứ hai, theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, việc cầm cố cổ phần, cổ

phiếu của các tổ chức tín dụng cổ phần cũng bị hạn chế trong một số trường hợp tại thời điểm cầm cố hoặc thời điểm phải xử lý chuyển nhượng cổ phần Đó là, tổ chức tín dụng không được nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng để cấp tín dụng26 Và cổ đông là cá nhân, cổ đông

là tổ chức có người đại diện là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của tổ chức tín dụng cổ phần không được chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời hạn đảm nhiệm chức vụ27 Việc pháp luật quy định không được chuyển nhượng cổ phần, tức là bị hạn chế quyền định đoạt và cũng tương đương với việc không được cầm cố trong trường hợp này

Thứ ba, theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, việc cầm cố tài sản là cổ phần, cổ

phiếu của cổ đông sáng lập bị hạn chế khi phải xử lý tài sản bảo đảm vì quy định trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác; nếu chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông28 Vì vậy, để tránh vướng mắc

Trang 39

phát sinh khi nhận và xử lý tài sản bảo đảm là cổ phần, cổ phiếu của cổ đông sáng lập trong trường hợp này, thì cần được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông tại thời điểm cầm cố, đồng thời cho phép chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập

Trên thực tế, không phải tất cả các loại giấy tờ có giá đáp ứng các điều kiện trở thành tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật nêu trên đều được các ngân hàng thương mại nhận làm tài sản bảo đảm tiền vay Các ngân hàng thương mại thường quan tâm tới uy tín của chủ thể phát hành giấy tờ có giá và tính thanh khoản của từng loại giấy tờ có giá để xem xét nhận cầm cố Thông thường, các ngân hàng thương mại sẽ lựa chọn những loại giấy tờ có giá có giá mà giá trị của chúng ổn định, có tính thanh khoản cao, chủ thể phát hành uy tín như Chính phủ và các cơ quan được Chính phủ ủy quyền phát hành như Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và giấy tờ có giá do các ngân hàng thương

mại khác phát hành Riêng giấy tờ có giá là cổ phiếu, hầu hết các ngân hàng thương

mại chấp nhận cổ phiếu được niêm yết chính thức trên thị trường chứng khoán và

cổ phiếu chưa niêm yết của các ngân hàng thương mại cổ phần được xếp hạng uy tín nhất định Một số yêu cầu khác các ngân hàng thương mại thường đặt ra đối với giấy tờ có giá khi được nhận bảo đảm đó là phải còn nguyên hình, nguyên khổ, không rách rời, không chắp vá, không bị sửa chữa, tẩy xóa hoặc có dấu hiệu giả mạo…

2.1.2.2 Nhận xét, đánh giá quy định pháp luật về điều kiện để giấy tờ có giá trở thành tài sản bảo đảm

Pháp luật hiện hành vẫn chưa có quy định rõ ràng và thống nhất về điều kiện đối với giấy tờ có giá được dùng làm tài sản bảo đảm mà những quy định này hiện đang được quy định rải rác tại rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau Việc pháp luật quy định rải rác tại nhiều văn bản luật khác nhau về điều kiện để giấy tờ có giá trở thành đối tượng của biện pháp bảo đảm tiền vay khiến cho các ngân hàng thương mại gặp khó khăn trong việc kiểm soát các điều kiện đối với giấy

tờ có giá khi nhận cầm cố Trong trường hợp bên cầm cố thiếu thiện chí, không trung thực về các hạn chế giao dịch đối với giấy tờ có giá cầm cố thì ngân hàng nhận cầm cố giấy tờ có giá sẽ chịu rất nhiều rủi ro trong việc nhận, quản lý và xử lý tài sản bảo đảm khi có tranh chấp phát sinh, thậm chí là sẽ không thể phát mại được tài sản để thu hồi nợ

Trang 40

Thực tế hiện nay mỗi ngân hàng thương mại đều tự đặt ra các điều kiện riêng bên cạnh các điều kiện theo quy định pháp luật nêu trên về giấy tờ có giá nhận làm tài sản bảo đảm tiền vay Vì vậy, các ngân hàng khác nhau sẽ áp dụng những cách thức kiểm tra, thẩm định điều kiện về giấy tờ có giá làm tài sản bảo đảm tiền vay khác nhau gây khó khăn và thiếu thống nhất trong hoạt động nhận cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại Do đó, pháp luật cần có quy định cụ thể, thống nhất về điều kiện của giấy tờ có giá được dùng làm tài sản bảo đảm, hướng dẫn cách thức kiểm tra, thẩm định giấy tờ có giá nhằm tạo cơ sở pháp

lý thống nhất và hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra trong việc nhận, quản lí và xử lý giấy tờ có giá cầm cố khi có tranh chấp phát sinh cho các ngân hàng thương mại thực hiện trên thực tế

2.1.3 Quy định pháp luật về định giá giấy tờ có giá và phạm vi bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá

2.1.3.1 Quy định pháp luật về định giá giấy tờ có giá và phạm vi bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá

Trong quy trình nhận cầm cố giấy tờ có giá bảo đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại, việc định giá giấy tờ có giá thường được thực hiện đồng thời với các thủ tục nhận hồ sơ, phân tích và thẩm định giấy tờ có giá nhận cầm cố Định giá giấy tờ có giá cầm cố là việc xác định giá trị của giấy tờ có giá đó tại một thời điểm nhất định Để có thể định giá giấy tờ có giá cầm cố, các ngân hàng thương mại có thể thành lập hội đồng định giá tài sản bảo đảm hoặc cử chuyên viên tín dụng, chuyên viên thẩm định trực tiếp định giá tài sản bảo đảm dựa trên các quy định của pháp luật và quy định nội bộ của từng ngân hàng thương mại về định giá tài sản bảo đảm Trường hợp gặp khó khăn trong việc định giá, ngân hàng thương mại có thể thỏa thuận với bên cầm cố về việc thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp thực hiện Vấn đề định giá giấy tờ có giá cũng là một vấn đề rất quan trọng khi ngân hàng thương mại phải xử lý tài sản để thu hồi nợ Cần lưu ý rằng, việc định giá giấy

tờ có giá khi xem xét, quyết định cho vay là độc lập với việc định giá khi xử lý tài sản bảo đảm Khi xem xét, quyết định cho vay, giấy tờ có giá được định giá để làm

cơ sở xác định mức cho vay, giá trị định giá tại thời điểm này không được áp dụng

để xử lý giấy tờ có giá nhằm thu hồi nợ vay Đây là vấn đề rất quan trọng đối với toàn bộ quá trình cấp tín dụng có biện pháp bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá Khi giá trị giấy tờ có giá được định giá chính xác, phù hợp với quy định pháp luật

Ngày đăng: 30/07/2019, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w