1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư và thực tiễn thi hành tại quận bắc từ liêm, thành phố hà nội

90 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hay các công trình đã công bố nghiên cứu về pháp luật bảo vệ môi trường nói chung hoặc các mảng pháp luật môi trường như pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, pháp luật về

Trang 1

LÊ THỊ HỒNG THÚY

ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI QUẬN BẮC TỪ

Trang 2

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Hồng Thúy

Trang 3

dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Thị Duyên Thủy, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn

tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND quận Bắc Từ Liêm, Phòng Thống kê quận Bắc Từ Liêm, UBND và cán bộ địa chính của các phường trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, tư liệu trong quá thực hiện làm luận văn

Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2018

Tác giả

Lê Thị Hồng Thúy

Trang 4

Bảng 1.2 Tổng hợp số công trình, dự án xây dựng để san lấp ao hồ trên địa

bàn Quận 46

Bảng 1.3 Tổng hợp số lượng loại cây trên đường phố của Quận Bắc Từ

Liêm tính đến tháng 4, năm 2018 49

Trang 5

TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ……… .5

1.1 Khái niệm về môi trường đô thị, khu dân cư……… …… 5

1.1.1 Khái niệm đô thị, khu dân cư……… … 5

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm môi trường đô thị, khu dân cư……… ….10

1.1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư…… 12

1.2 Khái niệm về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư… 16

1.2.1 Khái niệm, nội dung điều chỉnh của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư……… …….16

1.2.2 Vai trò của pháp luật môi trường trong bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư……… … 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BẮC TỪ LIÊM……… …….…… 24

2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư ở Việt Nam hiện nay………….……… ………… 24

2.1.1 Nội dung các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư……… ….…………24

2.1.2 Đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư ở Việt Nam hiện nay ……… ………36

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm……… … 38

2.2.1 Giới thiệu sơ lược về Quận Bắc Từ Liêm……….38

2.2.2 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm…… ………….41

2.2.3 Những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm……… … …… 45

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG II……… ………55 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ……… ……… … 56 3.1 Các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư……….……… …….…… 56 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư……… ………57

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về Quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị .57 3.2.2 Hoàn thiện các quy định về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư……… ……… 59

3.2.3 Hoàn thiện các nội dung khác của pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị …61

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư……… ………… 62

3.3.1 Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đô thị… 62 3.3.2 Tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường đô thị của cộng đồng……… ………63

3.3.3 Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường đô thị…… …65 3.3.4 Đầu tư thích đáng cho bảo vệ môi trường đô thị……… ….66 3.3.5 Tập trung đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh việc chuyển giao, ứng dụng công nghệ cho hoạt động bảo vệ môi trường đô thị

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự sống, sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các quốc gia và nhân loại Quá trình toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế đang diễn ra có tác động mạnh mẽ tới đời sống kinh tế, xã hội của mọi quốc gia, trong đó có ảnh hưởng nhiều mặt tới môi trường Vì vậy, bảo vệ môi trường trở thành vấn đề cấp bách trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có nội dung bảo vệ môi trường đô thị Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm tới bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường đô thị nói riêng Tuy nhiên, các vấn đề môi trường như mất cân bằng sinh thái, biến đổi khí hậu, sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường tại các đô thị vẫn diễn ra, gây tác hại cho con người Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, như ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn thấp, chưa áp dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào bảo vệ môi trường, đặc biệt

hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường còn thiếu đồng bộ, việc thực hiện pháp luật về môi trường còn kém hiệu quả

Ở Việt Nam, các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường đô thị hiện nay chưa được quan tâm đúng mức từ các nhà lập pháp, các nhà quản lý và các chủ thể Hoạt động ban hành, triển khai, thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị còn bất cập, hạn chế Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường đô thị nói riêng là yêu cầu mang tính bức xúc và khách quan hiện nay Quận Bắc Từ Liêm được tách từ Huyện Từ Liêm cũ kể từ ngày 01/4/2014 Trong quá trình phát triển, Quận Bắc Từ Liêm vẫn còn phải đương đầu với nhiều thách thức, trong đó có những thách thức về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư Vì

vậy, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư và

thực tiễn thi hành tại Quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội” làm luận văn

thạc sĩ, với hy vọng qua nghiên cứu, trình bày một số vấn đề lý luận, thực

Trang 8

trạng pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị và thực tiễn thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị tại địa bàn Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội sẽ đưa ra được một số giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị ở Quận Bắc Từ Liêm nói riêng

và ở Việt Nam nói chung

2 Tình hình nghiên cứu

Đề tài luận văn mà tác giả lựa chọn là vấn đề chưa phổ biến ở nước ta

Ở Việt Nam có rất ít công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, nhất là nghiên cứu dưới khía cạnh pháp lý Phần lớn các công trình đã công bố chủ yếu nghiên cứu về đô thị trên phương diện đô thị học và quản lý

đô thị, trong đó có đề cập vấn đề môi trường nên không nghiên cứu sâu về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị Hay các công trình đã công bố nghiên cứu

về pháp luật bảo vệ môi trường nói chung hoặc các mảng pháp luật môi trường như pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, pháp luật về bảo tồn di sản, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí.Ví dụ như: Võ Kim Cương (2006), Chính sách đô thị, NXB Xây dựng, Hà Nội; PGS, TS Nguyễn Đức Khiển (2009), Quản lý môi trường đô thị, NXB Nông nghiệp, Hà Nội; Đinh Quỳnh Phượng (2011), Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Phong Bình (2007), Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Tạp chí Phát triển KH&CN, Tập 9, Môi trường và tài nguyên, năm 2006- Các vấn đề về môi trường trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, Kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học có liên quan

là tài liệu tham khảo rất hữu ích trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn của tác giả

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

Trang 9

Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay và thực hiện pháp luật về môi trường đô thị tại địa bàn Quận Bắc Từ Liêm, luận văn

đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo

vệ môi trường đô thị ở Việt Nam nói chung và ở Quận Bắc Từ Liêm nói riêng Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thi hành tại Quận Bắc Từ Liêm

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam nói chung và ở Quận Bắc Từ Liêm nói riêng

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư đề cập đến các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là một bộ phận cấu thành của Luật bảo vệ môi trường đô thị năm 2014 Trong đó nó là các quy định về quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đây là một lĩnh vực khá rộng và phức tạp Do đó, nội dung chính của luận văn chủ yếu đi sâu vào pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư và thực tiễn pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư tại địa bàn Quận Bắc Từ Liêm

Trang 10

sách, pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị; tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho các tổ chức, cá nhân có liên quan

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, các quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo

vệ môi trường, về pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật bảo vệ môi trường đô thị nói riêng

Vận dụng các phương pháp khác nhau như phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn Trong đó chủ yếu sử dụng hai phương pháp là phân tích và tổng hợp Nội dung của phương pháp là tổng hợp những văn bản pháp luật, những thông tin thu được có liên quan đến đề tài theo từng vấn đề trong một thể thống nhất về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư rồi tiến hành đánh giá từng bộ phận tiến tới đánh giá chung về toàn bộ hệ thống và rút ra kết luận chung Cụ thể các phương pháp ở từng chương như sau:

Chương 1: Sử dụng phương pháp liệt kê, phân tích,tổng hợp và so sánh; Chương 2: Sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp thông tin

Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân

cư và thực tiễn thực hiện tại địa bàn Quận Bắc Từ Liêm

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư

Trang 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ

MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ 1.1 Khái niệm về môi trường đô thị, khu dân cư

1.1.1 Khái niệm đô thị, khu dân cư

1.1.1.1 Khái niệm đô thị

Sự phát triển của phân công lao động xã hội, đặc biệt là sự hình thành

và phát triển của công nghiệp và thương mại đã dẫn tới sự hình thành và phát triển một loại hình kết cấu kinh tế-xã hội mới là các điểm dân cư gắn với hoạt động sản xuất tập trung có tính công nghiệp, mang tính chuyên môn hóa

và mang sắc thái khác với hoạt động sản xuất nông nghiệp Đó là hình thái ban đầu của đô thị

Theo quan điểm chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới thì “Đô

thị được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ” 1.Còn theo

Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị được định nghĩa là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp

Dưới góc độ pháp lý, đô thị được hiểu là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn (Khoản 1 Điều 3 Luật quy hoạch đô thị năm 2009) Để được công nhận là đô thị, khu dân cư đó phải đạt được các tiêu chuẩn nhất định, bao gồm: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc

là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh

tế-1

TS Võ Kim Cương (2006), Chính sách đô thị, NXB Xây dựng, Hà Nội

Trang 12

xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định; quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên; mật độ dân số phù hợp với quy

mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động; Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật (đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững); Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân

cư đô thị; Có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên Đó cũng là các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị của một quốc gia Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định

Ở Việt Nam, đô thị được phân thành sáu loại, bao gồm: Đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV, đô thị loại V Các

đô thị này được phân theo các cấp quản lý khác nhau, cụ thể là: Thành phố trực thuộc Trung ương; thành phố thuộc tỉnh, thị xã thuộc tỉnh hoặc thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương và thị trấn thuộc huyện Tính đến tháng 04 năm 2017, cả nước đã có 805 đô thị (tăng thêm 08 đô thị loại V so với cuối năm 2016), với tỷ lệ đô thị hoá đạt 37%, gồm: 02 đô thị đặc biệt (Hà

Trang 13

Nội và Tp Hồ Chí Minh), 17 đô thị loại I trong đó có 03 đô thị loại I trực thuộc trung ương (Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ), 25 đô thị loại II, 44 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV và 633 đô thị loại V 2

Có thể thấy, phát triển và tăng trưởng đô thị ở nước ta nhìn chung là chậm hơn so với một số nước trong khu vực Đô thị có sự phát triển nhưng không đồng đều giữa các vùng và chênh lệch nhiều giữa các khu vực khác nhau về đặc điểm địa lý, cụ thể như: các khu vực đồng bằng, duyên hải sẽ phát triển nhanh hơn vùng núi, vùng cao Thực trạng chung hiện nay là các đô thị đa phần đều bị quá tải, tăng sức ép ở tất cả các mặt hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội Phần lớn các đô thị đều có hệ thoát nước chung cho cả nước mặt

và nước thải, thiếu hệ thống thu gom và các trạm xử lý nước thải tập trung Tỷ

lệ đất cây xanh, công viên đạt rất thấp so với tiêu chuẩn quy định, chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn Sự tăng trưởng các ngành kinh tế ở khu vực đô thị như xây dựng, công nghiệp, giao thông, vận tải, y tế, thương mại-dịch vụ cũng như quá trình sử dụng và tiêu thụ năng lượng đã và đang tạo ra nhiều sức ép đối với môi trường ở khu vực đô thị Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế khu vực đô thị gấp 1.5-2 lần cả nước, trong đó, các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ,

du lịch ở các thành phố lớn chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước

Đô thị có ba đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đô thị có một cấu trúc hoàn chỉnh, đồng bộ và luôn vận động

Hệ thống cấu trúc hạ tầng của đô thị bao gồm hệ thống hạ tầng kỹ thuật và

hệ thống hạ tầng xã hội Sự vận động của đô thị là các hoạt động của nền kinh tế-xã hội trên cơ sở cấu trúc của hệ thống hạ tầng đó

Thứ hai, đô thị luôn luôn phát triển Sự hình thành và phát triển của

đô thị luôn gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của loài người, đặc

2

http://doisongtieudung.vn/ca-nuoc-co-805-do-thi-tinh-den-thang-42017-537871.html

Trang 14

biệt là từ khi xuất hiện nền kinh tế hàng hóa Do đó, đô thị hình thành và phát triển chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế-xã hội, đặc biệt là các quy luật của nền kinh tế thị trường Các tác động này là thời cơ và cũng là thách thức cho sự phát triển ổn định và bền vững của đô thị

Thứ ba, sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được

Đô thị được hình thành và phát triển theo các quy luật khách quan của nền kinh tế-xã hội Tuy nhiên, con người có thể định hướng, can thiệp vào sự phát triển của đô thị theo ý chí chủ quan của mình dựa vào những quy luật nhất định Ví dụ: để trở thành khu đô thị du lịch thì phải đầu tư vào hạ tầng cơ sở dịch vụ, khu đô thị khoa học công nghệ thì phải đầu tư vào giáo dục và đào tạo nguồn lao động có chất lượng cao

Từ những khái niệm về môi trường và đô thị nêu trên, chúng ta có thể hiểu môi trường đô thị là môi trường sống, nơi cư trú và diễn ra các hoạt động của dân cư đô thị Môi trường đô thị bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, yếu tố vật chất và phi vật chất có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của thiên nhiên và con người tại các điểm dân cư trong đô thị Môi trường đô thị gồm rất nhiều thành phần khác nhau như nhà ở, các công trình công cộng, hạ tầng giao thông, công viên, cây xanh, các công xưởng nhà máy, các tòa nhà thương mại, hạ tầng môi trường

đô thị (cấp nước, cấp điện, xử lý nước thải, quản lý rác thải…) Có thể nói, sự phát triển của các đô thị có mối quan hệ qua lại tương ứng với trình độ phát triển kinh tế- xã hội của các vùng, cùng với đó là sức ép không nhỏ của đô thị lên môi trường Những đô thị có quy mô và tốc độ phát triển càng lớn thì sức

ép lên môi trường càng cao Ngược lại, ở các đô thị nhỏ, chất lượng môi trường còn khá tốt, chưa chịu nhiều tác động của các hoạt động phát triển Trong suốt những năm qua, những vấn đề nổi cộm về môi trường đô thị luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý và cộng đồng dân cư

1.1.1.2 Khái niệm về khu dân cư:

Trang 15

Khu dân cư được hiểu là cộng đồng sinh sống tập trung Khu dân cư thường được phân thành hai loại chính đó là khu dân cư thành thị (đô thị) và khu dân cư nông thôn Cụ thể là:

- Khu dân cư nông thôn là nơi cư trú của cộng đồng dân cư nhưng không thỏa mãn các tiêu chí của đô thị Như vậy, một khu vực được xác định

là khu dân cư nông thôn thì phải thỏa mãn các yêu tố sau: Không có chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy

sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước hoặc cả một vùng kinh tế nhất định;

tỷ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục

vụ các hoạt động của cư dân dưới 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định; quy mô dân số dưới 4000 người

- Khu dân cư đô thị là nơi cư trú của cộng đồng dân cư khi thỏa mãn các tiêu chí của đô thị như: có chức năng trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã hội của cả nước hoặc của một vùng kinh tế nhất định; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của cư dân tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định; Quy mô dân số tối thiểu là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km2

Về phương diện tổ chức, “khu dân cư” không phải là một cấp hành chính, nhưng dù tồn tại dưới hình thức, tên gọi nào, quy mô địa giới hành chính đến đâu thì “khu dân cư” vẫn có 3 đặc trưng chủ yếu sau:

- Khu dân cư là một cấu trúc cộng đồng bao gồm “một số hộ gia đình tụ

cư, sống đan xen trong một khu vực địa lý nhất định (thôn, xóm, bản, khu phố…) Có khu dân cư tồn tại ổn định từ lâu đời, có khu dân cư mới đang trong quá trình hình thành biến đổi… tùy theo yêu cầu, cách sắp xếp bố trí của mỗi địa phương

Trang 16

- Các hộ dân sinh sống ở khu dân cư không phụ thuộc theo huyết thống,

có quan hệ gắn bó với nhau trong lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tinh thần, trong giao tiếp xã hội, tâm lý tư tưởng và ứng xử cộng đồng

- Các hộ dân sinh sống ở khu dân cư ngoài chịu sự tác động, chi phối của chủ trương, chính sách pháp luật chung của Đảng, Nhà nước, còn chịu sự tác động, chi phối của bộ máy chính quyền địa phương, của hệ thống chính trị khu dân cư cùng các phong tục, tập quán nơi bản thân mình cư trú, sinh sống Khu dân cư được chia làm hai loại đó là khu dân cư tập trung và khu dân cư nông thôn.3

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm môi trường đô thị khu dân cư

Môi trường đô thị, khu dân cư là môi trường sống, nơi cư trú và diễn ra các hoạt động của đô thị, khu dân cư Môi trường đô thị, khu dân cư bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, yếu tố vật chất và phi vật chất có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của thiên nhiên và con người tại các đô thị, khu dân cư Môi trường đô thị, khu dân cư gồm rất nhiều thành phần khác nhau như nhà ở, các công trình công cộng, hạ tầng giao thông, công viên, cây xanh, các công xưởng nhà máy, các tòa nhà thương mại, hạ tầng môi trường đô thị, khu dân cư (cấp nước, cấp điện, xử lý nước thải, quản lý rác thải…)

Môi trường đô thị là một bộ phận của môi trường nên môi trường đô thị mang các đặc điểm, chức năng của môi trường nói chung Bên cạnh đó, môi trường đô thị cũng có những điểm đặc thù để phân biệt với các khu vực khác:

Thứ nhất, môi trường đô thị, khu dân cư là không gian sống của cư dân

đô thị Chức năng này đòi hỏi môi trường đô thị, khu dân cư phải có một phạm vi không gian thích hợp với cuộc sống của cư dân đô thị Do đó, môi trường đô thị phải đạt đủ những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hóa

3

http://www.mattran.org.vn/home/TapChi/so%2050/mtdttnvn1.htm

Trang 17

học, sinh học, cảnh quan, xã hội… Yêu cầu về không gian sống của người dân đô thị thường cao hơn các khu vực khác Tuy nhiên, với quy mô dân số lớn, trình độ phát triển cao, các hoạt động sống của con người tại đô thị, khu dân cư như sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh… chủ yếu mang lại các tác động xấu đến môi trường đô thị dẫn đến tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường

đô thị ngày càng gia tăng

Thứ hai, môi trường đô thị, khu dân cư là nơi cung cấp tài nguyên cần

thiết (như ánh sáng, đất, nước, không khí ) cho cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân đô thị Đô thị, khu dân cư là nơi tập trung dân

cư đông đúc, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn các khu vực khác nên nhu cầu về tài nguyên của đô thị cũng cao hơn, cả về số lượng và chất lượng nên môi trường đô thị chịu áp lực về tài nguyên giới hạn Tính bình quân đầu người, dân số đô thị tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên (như năng lượng, nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa ) gấp 2- 3 lần so với người dân sinh sống ở nông thôn

Thứ ba, môi trường đô thị, khu dân cư là nơi chứa đựng rất nhiều chất

phế thải do cư dân đô thị tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, gây bệnh tật cho cuộc sống của con người Trong quá trình sinh sống và phát triển, con người luôn đào thải ra các chất thải vào môi trường, nhất là tại các khu đô thị, khu dân cư với số lượng dân cư đông, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy các chất thải, do đó chất lượng môi trường sẽ giảm, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, có khả năng gây bệnh cho con người Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hiện trạng môi trường quốc gia thì

do người dân đô thị tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên gấp 2-3 lần so với người dân sinh sống ở nông thôn nên chất thải do dân đô thị thải ra cũng cao gấp 2-3 lần người dân nông thôn Tại đô thị, khí thải từ các hoạt động giao thông, sản

Trang 18

xuất công nghiệp và xây dựng cũng là nguyên nhân dẫn đến các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa, tim mạch…

1.1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư

Với vai trò quan trọng là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định, đô thị luôn vận động và phát triển Tuy nhiên, trong quá trình hình thành, vận động và phát triển đó, rất nhiều đô thị ở Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường, nhất là khi đô thị hóa được đẩy mạnh với tốc độ cao và phá vỡ quy hoạch thì

ô nhiễm môi trường trong các đô thị có xu hướng gia tăng không kiểm soát được Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật Trong đó, thành phần môi trường là các yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng và các yếu tố vật chất khác, là các yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người Ô nhiễm môi trường đô thị có thể xảy ra ở hầu hết các thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến cư dân đô thị Tình trạng ô nhiễm môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay thể hiện trên một số thành phần

cơ bản như sau:

Thứ nhất, ô nhiễm môi trường đất đô thị Ô nhiễm môi trường đất là kết

quả hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt quá giới hạn sinh thái của các quần thể sống trong đất Ô nhiễm môi trường đất xảy ra khi đất bị nhiễm các hóa chất độc hại có hàm lượng vượt quá giới hạn cho phép Đó là do các hoạt động của con người gây ra như khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, sử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá nhiều với các chất gây ô nhiễm đất phổ biến là hydrocacbon, kim loại nặng, các loại hydrocacbon clo hóa Ô nhiễm đất tại các đô thị do rất nhiều nguyên nhân gây ra Chất thải rắn là một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm đất đô

Trang 19

thị Chất thải rắn đô thị phát sinh chủ yếu từ các nguồn: chất thải sinh hoạt; chất thải từ các khu thương mại; từ các công trình xây dựng; từ các dịch vụ công cộng; từ các nhà máy xử lý; từ các nhà máy công nghiệp; từ các hoạt động nông nghiệp; từ các cơ quan, bệnh viện, trường học Theo thống kê của Tổng cục môi trường, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở khu vực đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày, với mức gia tăng trung bình 12% mỗi năm Chất thải rắn sinh hoạt đô thị có tỷ lệ hữu cơ vào khoản 54-77%, chất thải có thể tái chế (thành phần nhựa và kim loại), chiếm khoảng 8-18% Chất thải nguy hại còn

bị thải lẫn vào chất thải sinh hoạt mang đến bãi chon lấp là 0.02 đến 0.82% Chất thải rắn y tế phát sinh là 600 tấn/ngày với mức độ gia tăng khoảng 7.6% mỗi năm Ước tính, chất thải rắn công nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng 20-30% Trên thực tế, tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đã đạt khoảng 85% và tăng lên trong các năm gần đây 4

Tuy nhiên, tồn tại cho thấy, phương tiện thu gom còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn Bên cạnh đó, khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông, sinh hoạt, xây dựng cơ bản trong vùng đô thị theo nước mưa chảy xuống, thấm vào lòng đất khiến cho chất lượng đất đô thị ngày càng xấu Thêm nữa là ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm do việc quản lý kém cũng đang làm cho ô nhiễm đất đô thị gia tăng Tình trạng ô nhiễm đất như dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều gây nên những tác hại đối với môi trường và sức khỏe con người Nếu sử dụng nguồn nước hoặc sản phẩm trồng trọt có dư thừa Nitrat (từ đạm chuyển hóa thành), con người có khả năng bị

4

B%C3%A1o-c%C3%A1o-hi%E1%BB%87n-tr%E1%BA%A1ng-m%C3%B4i- tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-qu%E1%BB%91c-gia-2016-M%C3%B4i-

http://vea.gov.vn/vn/tintuc/tintuchangngay/Pages/C%C3%B4ng-b%E1%BB%91-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%C3%B4-th%E1%BB%8B.aspx

Trang 20

nhiễm hội chứng trẻ xanh (tắc nghẽn vận chuyển ô xy trong cơ thể trẻ em) và gây bệnh ung thư dạ dày ở người lớn

Thứ hai, ô nhiễm môi trường nước đô thị, khu dân cư Ô nhiễm môi

trường nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lý, hóa học và sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư các đô thị ngày càng tăng nhanh do tăng dân số và sự phát triển các dịch vụ đô thị, khu dân cư Hiện nay, hầu hết các đô thị, khu dân cư đều chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, hoặc nếu có thì tỷ lệ nước được

xử lý còn rất thấp so với yêu cầu Bởi vậy, tình trạng nhiều khu công nghiệp, nhà máy, khu đô thị xả nước thải chưa qua xử lý xuống hệ thống sông, hồ

đã gây ô nhiễm nguồn nước Thực trạng các đô thị, khu dân cư ở Việt Nam cho thấy, nhiều sông, hồ bao quanh các đô thị không đảm bảo các tiêu chuẩn

để khai thác cung cấp nước sạch cho đô thị, khu dân cư (do chất độc hóa học,

vi trùng, độ đục quá cao…) Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đối với sức khỏe của con người có thể thông qua hai con đường: một là do ăn uống phải nước

bị ô nhiễm hay các loại rau quả và thủy hải sản được nuôi trồng trong nước bị

ô nhiễm; hai là do tiếp xúc với môi trường nước bị ô nhiễm trong quá trình sinh hoạt và lao động Theo thống kê của Bộ Y tế, gần một nửa trong số 26 bệnh truyền nhiễm hiện nay có nguyên nhân liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm Điển hình nhất là bệnh tiêu chảy cấp Ngoài ra, có nhiều bệnh khác như tả, thương hàn, các bệnh về đường tiêu hóa, viêm gan A, viêm não, ung thư Còn đối với các loài sinh vật, ô nhiễm nước làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hóa được, giảm độ đa dạng sinh vật trong nước

Trang 21

Thứ ba, ô nhiễm môi trường không khí đô thị, khu dân cư Ô nhiễm

môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra

sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi Đó là do việc xả khói chứa bụi và các chất hóa học vào bầu không khí Ví dụ về các khí độc là cacbon mônôxít, điôxít lưu huỳnh, các chất cloroflorocacbon, và ôxít nitơ là chất thải của công nghiệp và các phương tiện giao thông Ghi nhận cục bộ tại một số thời điểm, ô nhiễm NO2 xuất hiện tại khu vực giao thông trong một số

đô thị lớn như: TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hạ Long và có xu hướng tăng Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi môi trường không khí bị ô nhiễm, sức khỏe con người bị suy giảm, quá trình lão hóa trong cơ thể bị thúc đẩy, chức năng của phổi bị suy giảm; gây bệnh hen suyễn, viêm phế quản; gây ung thư, suy nhược thần kinh, tim mạch và làm giảm tuổi thọ con người Đặc biệt, ở các đô thị, khu dân cư, khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông, sinh hoạt, xây dựng cơ bản, mùi hôi thối của các cống rãnh, kênh mương tiêu thoát nước đã làm cho ô nhiễm không khí đô thị, khu dân cư gia tăng Hầu hết các

đô thị lớn của nước ta đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng Mức độ ô nhiễm giữa các đô thị rất khác biệt, phụ thuộc vào quy mô đô thị, mật độ dân số, đặc biệt là mật độ giao thông và tốc độ xây dựng Các đô thị nhỏ, các đô thị ở khu vực miền núi có môi trường không khí khá trong lành

Thứ tư, ô nhiễm tiếng ồn đô thị, khu dân cư Ô nhiễm tiếng ồn là tiếng

ồn trong môi trường vượt quá ngưỡng nhất định gây khó chịu cho người hoặc các loài động vật Tai người không thể chịu đựng được những âm thanh phát

ra với cường độ quá lớn Thông thường, khi mức cường độ âm thanh đạt tới

140 decibel (dB) thì người nghe sẽ cảm thấy chói tai Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm môi trường rất nguy hại, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, nhưng lại ít được quan tâm như các loại ô nhiễm khác Ô nhiễm tiếng ồn phổ

Trang 22

biến ở hầu hết các đô thị, khu dân cư Tiếng ồn tác động đến tai, sau đó tác động đến hệ thần kinh trung ương, rồi đến hệ tim mạch, dạ dày và các cơ quan khác, sau đó mới đến cơ quan thính giác Vì thế, ô nhiễm tiếng ồn có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe và hành vi của con người, làm cho con người

có thể mắc bệnh huyết áp cao, bệnh tim, bệnh điếc, gây chứng mất ngủ, khó chịu, khó tiêu, ợ nóng… và còn có thể gây ra bệnh tâm thần nếu thường xuyên tiếp xúc với tiếng ồn Như vậy, quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người tại các đô thị tác động rất lớn đến môi trường đô thị, khu dân cư, ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư nằm trong tình trạng đáng báo động Do

đó, bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư mang tính cấp thiết và có ý nghĩa rất quan trọng Để bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia có nhiều cách khác nhau như biện pháp tổ chức-chính trị, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học-công nghệ, biện pháp giáo dục, biện pháp pháp lý… trong đó biện pháp pháp lý hay công cụ pháp luật là cách thức hữu hiệu nhất được tất cả các quốc gia trên thế giới sử dụng để bảo vệ môi trường nói chung cũng như bảo vệ môi trường đô thị nói riêng

1.2 Khái niệm về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư

1.2.1 Khái niệm, nội dung điều chỉnh của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư

Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là một nội dung của công tác bảo

vệ môi trường vì môi trường đô thị, khu dân cư gồm rất nhiều thành phần khác nhau như nhà ở, các công trình công cộng, hạ tầng giao thông, công viên, cây xanh, các công xưởng nhà máy, các tòa nhà thương mại, hạ tầng môi trường đô thị, khu dân cư (cấp nước, cấp điện, xử lý nước thải, quản lý rác thải…) Theo khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì bảo vệ môi trường được hiểu là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái,

Trang 23

cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành

Theo Điều 4 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định thì bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành Đồng thời, bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia Hoạt động bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, có thể hiểu, bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là các hoạt động do cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân tiến hành nhằm đạt được những mục đích cơ bản sau:

Một là, giữ cho môi trường đô thị, khu dân cư trong lành, sạch đẹp Vì

môi trường là không gian sống của con người, nó có một vai trò rất quan trọng và ý nghĩa quyết định đối với sức khỏe và tính mạng của con người, nên

ở các đô thị, khu dân cư là nơi tập trung số lượng lớn dân cư thì việc giữ gìn

sự trong lành của môi trường càng trở nên cần thiết Con người tiến hành rất nhiều hoạt động để bảo vệ môi trường đô thị khu dân cư, bảo vệ các thành phần của môi trường, trong đó có các hoạt động nhằm đảm bảo sự trong lành của môi trường không khí, đảm bảo độ trong sạch của nguồn nước, giữ gìn vệ sinh môi trường ở đô thị, khu dân cư …

Hai là, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường đô thị,

khu dân cư, ứng phó sự cố môi trường Hiện nay, trong xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa-hiện đại hóa, đã tạo nên sức ép đối với môi trường nói chung và môi trường đô thị, khu dân cư nói riêng Vì vậy, để bảo vệ môi trường đô thị , khu dân cư, vấn đề hết sức quan

Trang 24

trọng là phải phòng ngừa những tác động xấu của đô thị hóa, của hoạt động phát triển kinh tế-xã hội đối với sức khỏe con người tại các khu vực này, ứng phó kịp thời các sự cố môi trường, bảo vệ môi trường sống tốt cho cộng đồng

dân cư đô thị, khu dân cư

Ba là, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường

đô thị, khu dân cư Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, nhất là từ khi xuất hiện nền sản xuất hàng hóa loài người đã gây ra nhiều biến đổi cho môi trường, ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường sống Tình trạng nguồn nước bị nhiễm bẩn, môi trường không khí bị ô nhiễm là những thách thức lớn mà con người phải đối đầu cho sự tồn tại và phát triển của mình Vì vậy, việc khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm, phục hồi và cải thiện, nâng cao chất lượng của môi trường là một yêu cầu bức xúc hiện nay của công tác bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư nói riêng

Bốn là, bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị, khu dân cư Đây là yếu tố

giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo mỹ quan đô thị, khu dân cư nhằm thỏa mãn một trong những nhu cầu không thể thiếu của con người, đó là nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi, giải trí Bên cạnh đó, về phương diện môi trường thì cảnh quan đô thị, cảnh quan khu dân cư cũng góp phần không nhỏ trong đảm bảo cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học Để đạt được các mục đích nêu trên, bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư cần được thực hiện bằng nhiều công cụ, biện pháp, trong đó công cụ có hiệu quả nhất là pháp luật Pháp luật

về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là tổng hợp các quy phạm pháp luật

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan

hệ giữa các chủ thể trong hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị, khu dân cư và bảo vệ đa dạng sinh học

Trang 25

Với cách tiếp cận thuật ngữ môi trường đô thị, khu dân cư và bảo vệ môi trường nêu trên, có thể hiểu pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, khu dân

cư như sau: Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị, khu dân cư

và bảo vệ đa dạng sinh học

Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị gồm những nội dung chính: Các quy định về bảo vệ môi trường đô thị nhằm ngăn ngừa, hạn chế những tác động xấu đến môi trường đô thị Đó là các quy định pháp luật về quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, các quy định pháp luật về yêu cầu chung về bảo vệ môi trường đối với đô thị, bảo vệ môi trường nơi công cộng, bảo vệ môi trường Ví dụ, pháp luật quy định quy hoạch bảo vệ môitrường đô thị bao gồm hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường, như hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa;

hệ thống cây xanh, vùng nước nhằm hạn chế, ngăn ngừa những tác động xấu đến môi trường đô thị như hiện tượng sự cố môi trường, suy thoái môi trường, hạn chế các chất gây ô nhiễm môi trường tại các đô thị ; các quy định về yêu cầu đối với bảo vệ môi trường đô thị như yêu cầu về bảo vệ môi trường nơi công cộng, yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình, yêu cầu đối với tổ chức tự quản bảo vệ môi trường tại các đô thị nhằm giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạch đẹp, khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường đô thị như bỏ rác vào đúng nơi quy định, có hệ thống xử lý nước thải, chất thải trước khi xả ra môi trường…Như vậy, pháp luật là một công cụ

có vai trò hết sức to lớn đối với việc bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư do pháp luật có tính cưỡng chế đảm bảo thi hành

Trang 26

1.2.2 Vai trò của pháp luật môi trường trong bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư

Môi trường bị hủy hoại chủ yếu là do sự tàn phá của con người, vậy nên đối tượng để thực hiện việc bảo vệ môi trường cũng chính là con người

Vì vậy, muốn bảo vệ môi trường trước hết là tác động đến hành vi con người Pháp luật thông qua các hệ thống quy phạm để điều chỉnh hành vi xử sự của con người và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước sẽ có tác động quyết định đến hiệu quả của việc bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường đô thị nói riêng Vai trò quan trọng của pháp luật môi trường trong công tác bảo vệ môi trường đô thị được thể hiện dưới những khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, pháp luật bảo vệ môi trường đô thị là công cụ hữu hiệu được

sử dụng để ngăn ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường đô thị Vai trò này được thể hiện thông qua các quy định mang tính bắt buộc về bảo

vệ môi trường đối với đô thị như: Đô thị phải được thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững gắn với việc duy trì các yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử

và bảo đảm tỷ lệ không gian xanh theo quy hoạch; Có kết cấu hạ tầng về bảo

vệ môi trường đồng bộ, phù hợp với quy hoạch đô thị, khu dân cư tập trung

đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Có thiết bị, phương tiện, địa điểm để phân loại tại nguồn, thu gom, tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân cư; Bảo đảm yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môi trường; lắp đặt và bố trí công trình vệ sinh nơi công cộng Chủ đầu tư dự án khu dân cư tập trung, chung cư phải thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này; Đối với khu dân cư phân tán phải có địa điểm, hệ thống thu gom,

xử lý rác thải; có hệ thống cung cấp nước sạch và các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp và an toàn (Khoản 1 Điều 80 Luật Bảo vệ môi

Trang 27

trường năm 2014) Những quy định của pháp luật nhằm ngăn ngừa và hạn chế những tác động xấu đối với môi trường đô thị, ứng phó sự cố môi trường, vì đây là những yêu cầu phải tuân thủ trong suốt quá trình phát triển của đô thị,

nó phải được đảm bảo tuân thủ trước, trong và sau khi môi trường đô thị bị ô nhiễm Thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ các yêu cầu này góp phần hạn chế, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường đô thị một cách hiệu quả Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định các chế tài được áp dụng cho các chủ thể khi thực hiện hành

vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị như trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, nhằm trừng trị những người vi phạm, đồng thời răn đe các tổ chức, cá nhân không thực hiện các hành vi gây

ô nhiễm môi trường đô thị

Thứ hai, pháp luật bảo vệ môi trường đô thị là công cụ để khắc phục ô

nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường đô thị thông qua các quy định về trách nhiệm của các chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường tại đô thị như: Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và

tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị (Việc thực hiện quy chuẩn quốc gia về chất lượng vệ sinh môi trường tại các đô thị; Việc báo cáo đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược liên quan đến môi trường đô thị; hoạt động quan trắc môi trường tại đô thị…) Các hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường

đô thị như thu gom và vận chuyển chất thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định,

xả nước thải vào hệ thống thu gom nước thải; Tham gia hoạt động vệ sinh môi trường khu phố, đường làng, ngõ xóm, nơi công cộng và hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường đô thị; thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong hương ước, bản cam kết bảo vệ môi trường…

Thứ ba, pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị còn là công cụ pháp lý

hữu hiệu trong việc bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị Điều này được hiểu

là pháp luật quy định các nội dung, yêu cầu trong việc quy hoạch bảo vệ môi

Trang 28

trường đô thị như quy hoạch đô thị phải được thiết kế theo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, tận dụng địa hình, cây xanh, mặt nước và điều kiện thiên nhiên nơi quy hoạch nhằm làm cho cảnh quan môi trường đô thị hợp lý Nội dung của quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị gồm các hệ thống công trình hình thành nên cảnh quan môi trường đô thị như hệ thống cây xanh, hệ thống công viên, khu vui chơi, giải trí, công trình vệ sinh công cộng, khu vực mai táng… Bên cạnh đó pháp luật còn quy định cụ thể yêu cầu về cảnh quan đô thị đối với bảo vệ môi trường đô thị như đối với khu vực cảnh quan gắn với di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, khu vực bảo tồn quốc gia, của địa phương thì chính quyền địa phương phải phối hợp với các cơ quan chuyên môn, tổ chức, nghiên cứu, khẳng định giá trị khoa học trước khi đề xuất giải pháp, lập quy chế bảo tồn và khai thác…

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việt Nam hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư đang ở tình trạng báo động, đe dọa đến sức khỏe và hoạt động phát triển của cộng đồng dân cư Chính vì vậy, yếu tố pháp luật môi trường có vai trò hết sức quan trọng đối với công tác bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư thông qua việc điều chỉnh tất cả các vấn đề nhằm đạt được các mục đích về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư như giữ cho môi trường đô thị, khu dân cư trong lành, sạch đẹp

Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị, khu dân cư và bảo

vệ đa dạng sinh học

Ngăn ngừa, hạn chế những tác động xấu đến môi trường đô thị, khu dân cư, ứng phó sự cố về môi trường xảy ra tại các đô thị, khu dân cư; Bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị, khắc phục và cải thiện môi trường đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm Và công cụ này được đảm bảo thực hiện cao do có tính cưỡng chế thi hành

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN

BẮC TỪ LIÊM 2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư

ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Nội dung các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư

Bảo vệ môi trường là yêu cầu chung, tất yếu của tất cả các ngành, lĩnh vực, với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân Riêng đối với bảo vệ môi trường đô thị, pháp luật đã quy định các yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với đô thị, yêu cầu bảo vệ môi trường nơi công cộng và yêu cầu bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình tại đô thị

2.1.1.1 Các yêu cầu chung về bảo vệ môi trường đối với đô thị, khu dân cư

Môi trường đô thị, khu dân cư là môi trường sinh hoạt, sản xuất, nơi cư trú của dân cư đô thị, là nơi truyền bá lối sống đô thị do kết quả của quá trình

đô thị hóa Các hoạt động như hoạt động sinh hoạt, hoạt động sản xuất, kinh doanh….tại các đô thị và khu dân cư chủ yếu mang lại các tác động xấu đến môi trường đô thị, khu dân cư đó như tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường đô thị, khu dân cư Chính vì vậy, để thực hiện tốt về công tác bảo vệ môi trường đối với đô thị, khu dân cư thì cần đảm bảo thực hiện bởi các yêu cầu sau đây:

Thứ nhất, có kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường đồng bộ, phù

hợp với quy hoạch đô thị, khu dân cư tập trung đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Đây là một yêu cầu quan trọng, có tính bắt buộc bởi kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường giữ vai trò quyết định tới hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường đô thị Bởi, quy hoạch bảo vệ môi trường là một

Trang 31

nội dung của quy hoạch đô thị, bởi vậy kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường

đô thị cần phải phù hợp với quy hoạch đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Theo đó, các đô thị đều phải có hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa; hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử lý, tái chế chất thải rắn; hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất; hệ thống công viên, khu vui chơi, giải trí, công trình vệ sinh công cộng;

hệ thống cây xanh, vùng nước và khu vực mai táng được xây dựng đảm bảo tuân theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt

Thứ hai, có thiết bị, phương tiện, địa điểm để phân loại tại nguồn, thu

gom, tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân cư Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước

ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng Tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm Đô thị có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất là Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 5.500 tấn/ngày, Hà Nội khoảng 2.500 tấn/ngày

Bởi vậy, yêu cầu này được đặt ra trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại

đô thị là thực sự cần thiết Nếu được đảm bảo thực hiện tốt thì các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh từ chất thải rắn sinh hoạt sẽ được ngăn ngừa và giảm thiểu, góp phần đảm bảo cho con người được sống trong môi trường trong lành, sạch đẹp Ngày 10/7/1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

"Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020" tại Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg Qua quá trình thực hiện,

công tác quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp đã từng bước đi vào

nề nếp, tình hình môi trường đô thị dần được cải thiện Tuy nhiên, trước những yêu cầu, thách thức thực tế là quy mô dân số đô thị ở nước ta ngày càng tăng, đời sống người dân được nâng cao, công nghiệp hóa phát triển

Trang 32

mạnh làm phát sinh càng nhiều chất thải rắn, trong đó có các chất thải rắn sinh hoạt, vì vậy Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 về đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp nhằm thực hiện thành công Chiến lược quản

lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020

Thứ ba, bảo đảm yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môi trường; lắp

đặt và bố trí công trình vệ sinh nơi công cộng

Yêu cầu về cảnh quan đô thị: Cảnh quan đô thị là không gian cụ thể có nhiều hướng quan sát ở trong đô thị như không gian trước tổ hợp kiến trúc, quảng trường, đường phố, hè, đường đi bộ, công viên, thảm thực vật, vườn cây, vườn hoa, đồi, núi, gò đất, đảo, cù lao, triền đất tự nhiên, dải đất ven bờ biển, mặt hồ, mặt sông, kênh, rạch trong đô thị và không gian sử dụng chung thuộc đô thị Theo quy định tại Nghị định số 38/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, các yêu cầu chung về cảnh quan đô thị được đặt ra là:

- Cảnh quan đô thị do chính quyền đô thị trực tiếp quản lý Chủ sở hữu các công trình kiến trúc, cảnh quan đô thị có trách nhiệm bảo vệ, duy trì trong quá trình khai thác, sử dụng

- Việc xây dựng, cải tạo, chỉnh trang các công trình kiến trúc tại các khu vực cảnh quan trong đô thị đã được chính quyền đô thị xác định quản lý cần hạn chế tối đa việc làm thay đổi địa hình và bảo đảm sự phát triển bền vững của môi trường tự nhiên

- Đối với những khu vực có cảnh quan gắn với di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, khu vực bảo tồn, chính quyền đô thị phải căn cứ Luật

Di sản văn hóa và các quy định hiện hành, phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức nghiên cứu, đánh giá về giá trị trước khi đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác phù hợp Bên cạnh đó, Nghị định còn quy định cụ thể về yêu cầu đối với cảnh quan công viên, cây xanh; cảnh quan tự nhiên; công trình

Trang 33

cấp, thoát nước, vệ sinh đô thị; công trình giao thông trong đô thị; các không gian khác trong đô thị nhằm góp phần bảo vệ, giữ gìn cảnh quan đô thị

Yêu cầu về vệ sinh môi trường tại đô thị: Yêu cầu này được đặt ra trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của con người tại đô thị Do vậy, vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường được quy định tại nhiều văn bản khác nhau, có thể là văn bản luật hay văn bản dưới luật thể hiện bằng quy định của các chính quyền đô thị trong hoạt động quản lý đô thị của mình Theo đó, yêu cầu đảm bảo vệ sinh môi trường tại đô thị có thể

kể đến như “tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm

thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh ở nơi công cộng; đổ, bỏ rác vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tập trung rác thải”, cấm thực hiện các hành vi vứt rác ra nơi công cộng, ao, hồ

Quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư đã được triển khai ở Việt Nam trong những năm gần đây và đã dạt được những thành tựu đáng kể

Cụ thể: Hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường đã từng bước được đầu tư và có những chuyển biến tích cực Hầu hết các đô thị đều

đã đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường đô thị; các đô thị mới, khu dân cư dần được đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo hướng hiện đại và đồng bộ Hiện nay, có rất nhiều chương trình, dự án và các quy hoạch phát triển chuyên ngành hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị đã và đang được triển khai như các dự án trong lĩnh vực cấp thoát nước, giao thông đô thị và quản lý chất thải rắn…Bên cạnh đó, quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như: Tại một số đô thị ở Việt Nam thì các bãi rác chôn lấp thải sinh hoạt được quy hoạch nằm trong thành phố đã gây ô nhiễm nghiêm trọng tại đô thị, khu dân cư đó; Quy hoạch đô thị chưa phù hợp với công tác bảo vệ môi trường Điều này, được lý giải bởi quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh đã có

Trang 34

những ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái

Như vậy, các yêu cầu bảo vệ môi trường đối với đô thị là rất quan trọng, cần phải được tuân thủ nghiêm ngặt Khi xây dựng mới các khu dân cư tập trung, khu chung cư; chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu về bảo

vệ môi trường nêu trên thì mới được bàn giao đưa vào sử dụng

2.1.1.2 Các quy định về bảo vệ môi trường nơi công cộng

Nơi công cộng là nơi thường tập trung dân cư đông đúc với nhiều hoạt động khác nhau như đường phố, quảng trường, công viên, nhà ga, bến xe… Các hoạt động của con người tại nơi công cộng gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, cảnh quan đô thị Trong khi đó, ý thức bảo vệ môi trường tại nơi công cộng của người dân còn thấp Bởi vậy, pháp luật đã quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ môi trường nơi công cộng của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư tại Điều 81 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, như sau:

Thứ nhất, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh nơi công cộng; phân loại, chuyển rác thải vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tập trung rác thải; không để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng

Thứ hai, tổ chức, cá nhân quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, khu

du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng, bến phà và khu vực công cộng khác có trách nhiệm phải bố trí nhân lực thu gom chất thải, làm vệ sinh môi trường trong phạm vi quản lý; Bố trí công trình vệ sinh cộng cộng; phương tiện, thiết bị thu gom chất thải đáp ứng nhu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường; Đồng thời, phải niêm yết quy định về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng

Ngoài ra, pháp luật còn quy định chặt chẽ đối với các cơ sở sản xuất những mặt hàng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao và có những chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân

cư nhằm đảm bảo cho công tác bảo vệ môi trường tại các đô thị, khu dân cư

Trang 35

được tốt Cụ thể như: Cơ sở sản xuất hoặc kho tang thuộc các trường hợp sau đây không được đặt trong khu dân cư hoặc phải có khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư: Có chất dễ cháy, dễ gây nổ; có chất phóng xạ hoặc bức xạ mạnh; có chất độc hại đối với sức khỏe con người và gia cầm, gia súc; phát tán mùi làm ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người; gây ô nhiễm nghiêm trọng cho các nguồn nước; gây tiếng ồn, phát tán bụi, khí thải quá quy chuẩn kỷ thuật cho phép Đồng thời, pháp luật còn quy định trách nhiệm xử lý các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường ở nơi công cộng của Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng công an, đơn vị quản lý trật tự công cộng Những hành

vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quy định giữ gìn vệ sinh môi trường nơi công cộng bị xử lý bằng các biện pháp: Phạt tiền; buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng; tạm giữ phương tiện có liên quan gây ra ô nhiễm môi trường Những quy định này rất có ý nghĩa đối với việc nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường nơi công cộng

Thực tiễn cho thấy, công tác bảo vệ môi trường nơi công cộng đã thu được một số thành tựu đáng kể như: tại các nơi công cộng như công viên, khu vui chơi giải trí, khu du lịch, nhà ga, chợ… đều được niêm yết quy định về bảo vệ môi trường, có các thùng chứa rác công cộng, nhà vệ sinh công cộng Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều tồn tại đó là người dân vẫn chưa có ý thức, còn vứt rác bừa bãi gây nên ô nhiễm nghiêm trọng tại các dòng song, kênh rạch như : sông Nhuệ, sông Tô Lịch, Sông Kim Ngưu… đều ở tình trạng báo động,

là những dòng song chết, mùi hôi thối bốc lên, màu đen của nước do các chất gây ô nhiễm gây nên cho dòng sông ngày càng tăng

2.1.1.3 Các quy định về bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình

Bên cạnh quy định về yêu cầu bảo vệ môi trường tại nơi công cộng, pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị còn quy định yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình tại đô thị Theo quy định tại Điều 82 Luật Bảo

Trang 36

vệ môi trường năm 2014, hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy định

về bảo vệ môi trường sau đây:

- Thứ nhất, phải giảm thiểu, phân loại tại nguồn, thu gom và chuyển rác thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định

-Thứ hai, giảm thiểu, xử lý và xả nước thải sinh hoạt đúng nơi quy định

- Thứ ba, không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn, độ rung và tác động khác vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư xung quanh

- Thứ tư, nộp đủ và đúng thời hạn phí bảo vệ môi trường; chi trả cho dịch vụ thu gom, xử lý chất thải theo quy định của pháp luật; Các hộ gia đình tại đô thị có thể phải nộp các khoản phí như phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn theo các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành

- Thứ năm, tham gia hoạt động bảo vệ môi trường công cộng và tại khu dân cư

Cuối cùng, có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm vệ sinh, an toàn

Để thực hiện tốt điều này và hoạt động bảo vệ môi trường tại hộ gia đình có hiệu quả, thiết thực, các hộ gia đình cần thực hiện tốt các yêu cầu sau: tuyệt đối không vứt rác bừa bãi xuống sông, rạch, ra đường, nơi công cộng… tạo thói quen tiết kiệm trong mua sắm hàng hóa, để thải ít rác và phân loại rác

để tận dụng, tiết kiệm, tái sinh rác Đối với các hộ gia đình ở nông thôn nên đào hố xử lý rác, để tránh thải rác thải tràn lan gây mất vệ sinh Mỗi hộ gia đình ở khu vực thành thị, khu dân cư tập trung cần thực hiện đổ rác đúng nơi quy định và đóng lệ phí thu gom rác thải theo quy định Thực hiện tốt khẩu hiệu “3T”: Tiết kiệm-Tận dụng-Tái sinh theo nguyên tắc càng ít chất thải thải

ra môi trường càng tốt

Trang 37

Các quy định của pháp luật nhằm khuyến khích các hộ gia đình hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ những thói quen gây mất vệ sinh và gây ô nhiễm môi trường… Trên thực tế, công tác bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư dã được các hộ gia đình tại đấy triển khai và thu được nhiều kết quả đáng kể như: Rác thải đã được các gia đình thu gom

và chuyển đến đúng nơi do tổ chức giữ gìn vệ sinh môi trường tại địa bàn quy định Các gia đình hầu như có đủ nhà vệ sinh riêng, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm đã đảm bảo vệ sinh môi trường Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư còn bộc lộ nhiều hạn chế như: các hộ gia đình ở các khu dân cư nông thôn vẫn chưa có nhà vệ sinh đảm bảo vệ sinh môi trường; các công trình phụ chăn nuôi gia súc, gia cầm vẫn đặt gần nhà, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và mất cảnh quan môi trường

2.1.1.4 Các quy định về tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường

Để thực hiện tự quản về bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư ở

đô thị, khu dân cư thì Nhà nước ta đã khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống Đây là tổ chức được thành lập và hoạt động dựa trên các nguyên tắc nhất định như nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng trách nhiệm, tuân theo quy định của pháp luật Đây

là một trong những biện pháp xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư vì đây là tổ chức do chính người ở khu vực đó lập nên, do vậy mà

ý thức bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư sẽ được thực hiện một cách tự giác và hiệu quả hơn, sát với lợi ích của những người tham gia Để tổ chức này hoạt động có hiệu quả thì pháp luật còn quy định Ủy ban nhân dân cấp xã

có trách nhiệm quy định về tổ chức, hoạt động và tạo điều kiện để tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường hoạt động có hiệu quả

Theo quy định tại khoản 2 Điều 83 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 thì tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường có trách nhiệm thực hiện theo các quy định của pháp luật các nhiệm vụ như sau: Kiểm tra, đôn đốc hộ gia đình,

Trang 38

cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường; Tổ chức thu gom, tập kết và xử lý chất thải; Giữ gìn vệ sinh môi trường tại khu dân cư

và nơi công cộng; Xây dựng và tổ chức thực hiện hương ước về bảo vệ môi trường; tuyên truyền, vận động nhân dân xóa bỏ hủ tục, thói quen mất vệ sinh,

có hại cho sức khỏe và môi trường và tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn

2.1.1.5 Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

đô thị, khu dân cư

Theo quy định tại Điều 160 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì mọi

cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư nói riêng đều bị xử lý theo quy định của pháp luật Theo đó, người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý bằng biện

pháp hình sự, dân sự, hành chính hay kỷ luật

* Trách nhiệm hành chính

Biện pháp hành chính được áp dụng khi các tổ chức, cá nhân có hành vi

vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đô thị gây hậu quả lớn nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự Các hành vi vi phạm về pháp luật bảo

vệ môi trường đô thị là một bộ phận của vi phạm pháp luật môi trường nói chung Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường Các vi phạm hành chính trong bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư có thể kể đến là: Các hành vi vi phạm các quy định về lập, thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo

vệ môi trường; các hành vi gây ô nhiễm môi trường đô thị, khu dân cư; các hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải; các hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi

Trang 39

trường và các hành vi vi phạm các quy định khác về bảo vệ môi trường đô thị; các hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đô thị, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền Mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đô thị là 1.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000 đồng đối với tổ chức Bên cạnh các hình thức xử phạt chính thì theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đô thị còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

- Tước quyền sử dụng có thời hạn đối với Giấy phép xử lý chất thải nguy hại; Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đô thị Ngoài các hình thức xử phạt trên, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu tiếng ồn, độ rung, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường; buộc phục hồi môi trường; buộc thực hiện đúng quy định về khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư…

* Trách nhiệm dân sự

Khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về môi trường nói chung và môi trường đô thị nói riêng, ngoài việc bị xử lý về hình sự và hành chính, nếu

Trang 40

có thiệt hại xảy ra thì các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm còn phải chịu trách nhiệm dân sự Đó là việc bồi thường thiệt hại về tài sản, sức khỏe của con người và môi trường do hành vi vi phạm gây ra Theo quy định tại Điều

585 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì nguyên tắc bồi thường thiệt hại là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Tại khoản 2 Điều 160 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cũng quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây phiền hà, nhũng nhiễu cho tổ chức, cá nhân, bao che co người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc thiếu trách nhiệm để xảy ra ô nhiễm, sự cố môi trường thì tùy tính chất, mức độ vi phạm

mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

Riêng đối với bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường thì cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi Việc bồi thường thiệt hại đối với môi trường

bị ô nhiễm được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 03/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 06/01/2015 Nghị định này quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường bao gồm việc thu thập dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường, tính toán thiệt hại đối với môi trường và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trong các trường hợp: môi trường nước phục vụ mục đích bảo tồn, sinh hoạt, giải trí, sản xuất và mục đích khác bị ô nhiễm, bị ô nhiễm ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; môi trường đất phục vụ cho các mục đích bảo tồn sản xuất và mục đích khác bị ô nhiễm, bị ô nhiễm ở mức

Ngày đăng: 30/07/2019, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w