1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục giải thể doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp 2014 và thực tiễn thực hiện tại tỉnh lạng sơn

87 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 4,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, thành viên của nhiều hiệp định Thương mại tự do FTA thì vấn

Trang 1

VI QUANG THANH

THñ TôC GI¶I THÓ DOANH NGHIÖP

THEO LUËT DOANH NGHIÖP 2014

Vµ THùC TIÔN THùC HIÖN T¹I TØNH L¹NG S¥N

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VI QUANG THANH

THñ TôC GI¶I THÓ DOANH NGHIÖP THEO LUËT DOANH NGHIÖP 2014

Vµ THùC TIÔN THùC HIÖN T¹I TØNH L¹NG S¥N

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 8 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quý Trọng

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vi Quang Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI THỂ

DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THỦ TỤC

1.3 Khái niệm và đặc trưng của thủ tục giải thể doanh nghiệp 19 1.4 Khái quát pháp luật điều chỉnh thủ tục giải thể doanh nghiệp 20

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI THỂ

DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN TẠI TỈNH LẠNG SƠN 25 2.1 Các quy định về thủ giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh

2.2 Thủ tục giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 -

Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP Ở

3.1 Những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải thể

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải thể doanh

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh mẽ hiện nay, số lượng các doanh nghiệp ra đời trong thời gian gần đây tăng lên một cách đáng kể Đó cũng là tín hiệu đáng mừng của nền kinh tế nước nhà bởi doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những hoạt động chung của doanh nghiệp đều được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước thông qua pháp luật Tuy nhiên, trong một giai đoạn nào đó hoặc vì một số lý do khách quan, doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động được nữa và có nhu cầu ngừng hoạt động, pháp luật về doanh nghiệp đã quy định cho phép doanh nghiệp có thể tiến hành giải thể

Một trong những con đường rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp

là giải thể Các quy định về thủ tục giải thể doanh nghiệp được ghi nhận tại các văn bản điều chỉnh về pháp luật doanh nghiệp, mà văn bản gần đây nhất là Luật Doanh nghiệp năm 2014, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014, cùng với các văn bản dưới luật giải thích và hướng dẫn thi hành

Tuy nhiên, thực tế cho thấy pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập về sự thiếu thống nhất, thiếu minh bạch thậm chí là chồng chéo trên phương diện lý luận và thực tiễn thi hành Điều

đó ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình áp dụng giải thể doanh nghiệp, tác động xấu trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của các chủ thể liên quan trên phạm vi toàn quốc, các địa phương trong đó có địa bàn Lạng Sơn Bên cạnh đó, có khá nhiều doanh nghiệp với quy mô lớn, nhất

là các tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động ở các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế mặc dù có đủ điều kiện để giải thể nhưng không tiến hành thủ tục giải thể được tạo ra những trở ngại và rào cản giải thể doanh nghiệp

Trang 6

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thành viên của nhiều hiệp định Thương mại tự do (FTA) thì vấn đề xác định điều kiện và

áp dụng thủ tục giải thể doanh nghiệp cần phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật trên cơ sở đảm bảo sự bình đẳng, công bằng, không phân biệt đối

xử Các thiết chế pháp luật về giải thể, thủ tục giải thể doanh nghiệp phải đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam Chính vì vậy, xây dựng một hành lang pháp lý đủ vững, môi trường cạnh tranh lành mạnh và hướng tới các quy định của pháp luật minh bạch, hiệu quả trong việc áp dụng thủ tục phá sản doanh nghiệp là một vấn đề hết sức quan trọng trong điều kiện nền kinh tế thị trường

Từ nhận thức đó, học viên đã chọn đề tài: "Thủ tục giải thể doanh

nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn"

để làm luận văn tốt nghiệp Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về thủ tục giải thể doanh nghiệp Nhận xét, đánh giá thực trạng pháp luật về giải thể doanh nghiệp tại tỉnh Lạng Sơn Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải thể doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Giải thể doanh nghiệp, thủ tục giải thể doanh nghiệp không phải là vấn đề gì mới mẻ ở Việt Nam cũng như các quốc gia khác Có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này Mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận khác nhau với mức độ khác nhau và kết quả khác nhau

Có thể nhắc đến một số công trình nghiên cứu về giải thể doanh nghiệp chủ yếu sau đây:

- Phạm Quý Tỵ (1986): Một số kiến nghị về giải thể, phá sản doanh

nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn, Tạp chí Dân chủ và pháp

luật, số 6/1998;

Trang 7

- Phạm Minh Long (1996): Quy chế thành lập và giải thể, phá sản và

cơ chế quản lý của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, Khóa luận

tốt nghiệp;

- TS Nguyễn Thị Dung: Những giải pháp pháp lý cần xây dựng và

hoàn thiện nhằm đảm bảo doanh nghiệp rút khỏi thị trường, Trường Đại học

Luật Hà Nội - Tài liệu Hội thảo khoa học của Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, năm 2012;

- Hoàng Thị Huế (2013): Giải thể doanh nghiệp theo pháp luật Việt

Nam và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần JM; Đại học Quốc gia Hà Nội;

- Trần Thị Hồng Minh (2017), Bức tranh doanh nghiệp 2016 dưới góc

nhìn đăng ký kinh doanh, Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh - Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 2+3/2017;

- Nguyễn Thị Dung (2012): Thực trạng pháp luật về giải thể doanh

nghiệp - một số đánh giá và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 10;

- Đỗ Tiến Thịnh: Thực trạng doanh nghiệp rút khỏi thị trường hiện

nay và kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý về giải thể doanh nghiệp, Trưởng

phòng Phòng Nghiệp vụ, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

2.2 Một số nhận xét về các công trình nghiên cứu đến đề tài

- Các công trình khoa học nêu trên đã phân tích, đánh giá, nhận diện các trường hợp doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tạm ngừng kinh doanh, giải thể

- Phân tích, đánh giá và so sánh giữa giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp để xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai thủ tục này liên quan đến sự tồn tại, chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp

- Nhìn chung các nghiên cứu phân tích và đánh giá những hạn chế, bất cập về giải thể trên các phương diện như: điều kiện, thủ tục, thanh toán trong giải thể doanh nghiệp,…

Trang 8

- Trên cơ sở tiếp cận, nghiên cứu cứu các quy định pháp luật về giải thể doanh nghiệp trên phương diện lý luận và thực tiễn, các học giả đều đưa

ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở các góc độ

khác nhau

- Vấn đề thủ tục giải thể doanh nghiệp được đề cập trong một số nghiên cứu nhưng ở mức độ mang tính khái quát, chưa nghiên cứu sâu hoặc theo quy định trong các văn bản pháp luật cũ đã hết hiệu lực Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, tác giả sẽ phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về thủ tục giải thể

doanh nghiệp mang tính hệ thống và sâu hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành, trong đó tập trung nghiên cứu các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 về thủ tục giải thể doanh nghiệp trên phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng trong mối tương quan so sảnh với pháp luật một số quốc gia về vấn đề này Trên cơ sở

đó xác định những kết quả cũng như những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó về thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu lý luận chung về doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp đặc biệt là thủ tục giải thể doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp, trong

đó tập trung vào các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014

- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp Xác định rõ những kết quả đạt được trong quá trình áp dụng

Trang 9

pháp luật về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp Đồng thời chỉ rõ những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp

- Nghiên cứu quy định của một số quốc gia trên thế giới về thủ tục giải thể doanh nghiệp nhằm rút ra bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể khảo cứu trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

- Xác định yêu cầu và đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về giải thể doanh nghiệp và thủ tục giải thể doanh nghiệp

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành, trong đó tập trung vào các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 về thủ tục giải thể doanh nghiệp trên phương diện lý luận và thực tiễn thi hành Đồng thời luận văn cũng tiếp cận, nghiên cứu quy định của một số quốc gia như Hoa

Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức về thủ tục giải thể doanh nghiệp để làm tăng thêm độ sâu của luận văn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp nói chung và pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, phương pháp so sánh, đối chiếu thông tin để

Trang 10

giải quyết các nội dung đặt ra trong luận văn nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu Tùy từng nội dung, chương, mục, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã tổng hợp được các quan điểm, các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về thủ tục giải thể doanh nghiệp Nghiên cứu khái quát quy định của các nước như Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức về thủ tục giải thể doanh nghiệp nhằm đúc rút những bài học mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp sau hơn 2 năm thi hành Luật Doanh nghiệp Luận văn đánh giá khách quan về những kết quả đạt được trong việc thực thi thủ tục giải thể doanh nghiệp Đồng thời, luận văn cũng đã chỉ rõ những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc trong quá trình thi hành thủ tục giải thể doanh nghiệp Đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Những kết quả nghiên cứu trong luận văn là tài liệu tham khảo phục

vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu trong các trường đại học về Luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục giải thể doanh nghiệp và

pháp luật điều chỉnh thủ tục giải thể doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp theo

Luật Doanh nghiệp 2014 từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Lạng Sơn

Chương 3: Những yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về

thủ tục giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THỦ TỤC GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

1.1 Nhận diện doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp

Dưới góc độ pháp lý, doanh nghiệp được hiểu là một loại chủ thể pháp luật (có tư cách pháp lý độc lập) và có nghề nghiệp kinh doanh (thực hiện hoạt động kinh doanh với tính chất nghề nghiệp) Trong pháp luật Việt Nam, định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan

Khái niệm doanh nghiệp được đề cập trong quá trình xây dựng và phát triển pháp luật về doanh nghiệp Nhận diện doanh nghiệp cũng có sự thay đổi

để đảm bảo sự phù hợp và tương thích với pháp luật quốc tế và điều kiện kinh

tế - xã hội của Việt Nam

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì doanh nghiệp là

"tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được

đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh"1 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/07/2014) quy định doanh nghiệp là "là tổ chức có tên riêng, có tài

sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh"2

Nhìn chung, khái niệm về doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 có sự kế thừa từ các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm

2005 Bên cạnh đó, để đảm bảo xác định rõ bản chất pháp lý của doanh

1 Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005

2 Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 12

nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại nói chung và trong lĩnh vực đầu tư trong quá trình gia nhập thị thị trường, do đó Luật Doanh nghiệp năm

2014 đã xác định thủ tục thành lập doanh nghiệp Theo đó, việc đăng ký kinh doanh là một trong những quy trình sự ra đời của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp là một chủ thể pháp luật Với tư cách pháp lý

này doanh nghiệp có thể tham gia vào các hoạt động kinh doanh, thương mại trên cơ sở thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ Đặc điểm này là cơ sở để phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác như cá nhân, hộ kinh doanh,… Cơ

sở pháp lý để doanh nghiệp gia nhập thị trường và trở thành chủ thể các quan

hệ pháp luật là việc doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Thứ hai, doanh nghiệp phải có tên riêng Tên riêng là yếu tố hình thức

nhưng là dấu hiệu đầu tiên để xác định tư cách chủ thể độc lập của doanh nghiệp khi tham gia hoạt động kinh doanh Tên riêng là cơ sở để Nhà nước thực hiện quản lý đối với doanh nghiệp, đồng thời là cơ sở phân biệt chủ thể trong quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau và với khách hàng Với tên riêng, trụ sở giao dịch, doanh nghiệp có thể nhân danh mình tham gia các giao dịch một cách độc lập

Thứ ba, doanh nghiệp phải có tài sản Tài sản của doanh nghiệp là cơ

sở kinh tế để đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Nếu không

có tài sản thì không thể tiến hành kinh doanh bởi đó là hoạt động đầu tư tài sản nhằm thu lợi về tài sản Do đó, điều kiện tiên quyết của doanh nghiệp là phải có một mức độ tài sản nhất định Có thể nói, tài sản vừa là điều kiện hoạt động, vừa là mục đích hoạt động của doanh nghiệp Tài sản doanh nghiệp bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tài sản doanh nghiệp được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau như: sự góp vốn của của thành viên, đầu tư của chủ sở hữu hoặc phát hành chứng khoán huy động vốn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp

Trang 13

Thứ tư, trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp Việc xác định trách

nhiệm của doanh nghiệp đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của pháp luật Doanh nghiệp là một chủ thể pháp luật vì vậy trong quá trình thành lập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường, doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh các trách nhiệm đối với các chủ thể khác, đặc biệt là các trách nhiệm về tài chính và thanh toán các khoản nợ Hiện nay, trách nhiệm của doanh nghiệp bao gồm trách nhiệm hữu hạn và trách nhiệm vô hạn Mỗi loại trách nhiệm có bản chất, quy trình áp dụng cũng như tính ưu việt hay hạn chế của từng loại trách nhiệm Ví dụ: công ty trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đối với các nghĩa vụ tài chính và thanh toán các khoản

nợ (trách nhiệm hữu hạn) Bên cạnh đó, một số chủ thể khác áp dụng chế độ trách nhiệm vô hạn như: chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân kinh doanh

Thứ năm, lợi nhuận thông qua hoạt động kinh doanh, thương mại là

mục đích hàng đầu của doanh nghiệp Đây là mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp Tùy theo mô hình doanh nghiệp thì vấn đề mục đích lợi nhuận được thực hiện khác nhau Tuy nhiên, việc thực hiện mục đích lợi nhuận của doanh nghiệp như thế nào, ở mức độ nào phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Mục đích lợi nhuận là một trong cơ sở để phân loại giữa pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện có hệ thống, một cách độc lập, trên danh nghĩa

và trách nhiệm của doanh nghiệp, với mục đích sinh lợi và trong điều kiện do pháp luật quy định Nó có khuynh hướng lâu dài, không gián đoạn trong một thời gian nhất định và có khả năng tái diễn thường kỳ Đây cũng là căn cứ quan trọng để phân biệt doanh nghiệp với các chủ thể khác Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cũng có thể thực hiện nhiều hoạt động khác không phải hoạt động kinh doanh theo đúng nghĩa, để đáp ứng nhu cầu của mình hoặc theo quy định của pháp luật, như các hoạt động xã hội từ thiện Tuy nhiên, các hoạt động này không phải mục tiêu bản chất của doanh nghiệp, mà được doanh nghiệp tiến hành để phục vụ cho hoạt động kinh

Trang 14

doanh, nên trong nhiều trường hợp, chúng được điều chỉnh bởi cơ chế của pháp luật kinh doanh Nếu doanh nghiệp không lấy kinh doanh là hoạt động

cơ bản thì tất yếu không thể tồn tại và không có khả năng tồn tại

1.1.2 Phân loại doanh nghiệp

Việc phân loại doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn cơ chế điều chỉnh pháp luật thích hợp đối với doanh nghiệp, cả về quản

lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp Phương pháp phân loại doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp Một số cách thức phân loại doanh nghiệp phổ biển như sau:

Thứ nhất, căn cứ vào tính chất sở hữu và mục đích hoạt động của doanh

nghiệp thì doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp tư và doanh nghiệp công Doanh nghiệp tư thường được hình thành từ sở hữu tư nhân hoặc đa sở hữu, có bản chất kinh doanh thuần túy, hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, lấy lợi nhuận làm cơ sở để tồn tại và phát triển Doanh nghiệp công được thành lập với sự can thiệp và chi phối của nhà nước trong chiến lược và mục tiêu hoạt động thông qua việc nắm giữ một phần hoặc toàn bộ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Hiện nay, tiêu chí phân loại này ngày càng trở nên không phổ biến và ít có ý nghĩa, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển

Thứ hai, căn cứ cơ cấu nhà đầu tư và phương thức góp vốn vào doanh

nghiệp, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp một chủ sở hữu và nhiều chủ sở hữu Chủ sở hữu của doanh nghiệp một chủ có thể là cá nhân hoặc tổ chức Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, doanh nghiệp một chủ sở hữu bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu được hình thành trên cơ sở sự liên kết của nhiều nhà đầu tư, do nhiều nhà đầu tư góp vốn thành lập Pháp luật Việt Nam chia doanh nghiệp nhiều chủ thành công ty hợp danh, công ty cổ phần, công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Sự liên kết trong việc thành lập công ty tạo ra một tư cách chủ thể pháp luật mới Tiêu chí phân loại này có ý nghĩa trong việc quy định vấn đề tổ chức doanh nghiệp một cách phù hợp,

Trang 15

bảo vệ quyền lợi của những chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp, cũng như các bên thứ ba Đây là phương pháp phân loại phổ biến được áp dụng để cấu trúc hệ thống pháp luật doanh nghiệp về hình thức văn bản và nội dung quy phạm pháp luật

Thứ ba, căn cứ tư cách pháp lý của doanh nghiệp, doanh nghiệp được

chia thành doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân Pháp nhân là một tổ chức tồn tại vì một mục đích nào đó và

có những yếu tốt pháp lý cho phép phân biệt nó với các thành viên của nó và với các pháp nhân khác Việc xác lập tư cách pháp nhân cho một doanh nghiệp liên quan đến khả năng chịu trách nhiệm độc lập về tài sản của doanh nghiệp đó Trên nguyên tắc, những doanh nghiệp có sự tách bạch về tài sản được gọi là pháp nhân, ngược lại, những doanh nghiệp không thực hiện nguyên tắc tách bạch về tài sản sẽ không có bản chất pháp nhân Việc có được hưởng quy chế pháp nhân hay không đôi khi có ảnh hưởng nhất định đến địa

vị pháp lý của doanh nghiệp

Thứ tư, căn cứ chế độ trách nhiệm tài sản, hay dựa trên mức độ chịu

trách nhiệm tài sản trong hoạt động kinh doanh của chủ sở hữu doanh nghiệp: chế độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn Chủ sở hữu doanh nghiệp theo quy chế trách nhiệm vô hạn phải chịu trách nhiệm về các khoản

nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, chế độ trách nhiệm vô hạn áp dụng đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh và chủ hộ kinh doanh cá thể Đối với những doanh nghiệp theo quy chế trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi giá trị vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp Doanh nghiệp có khả năng trả nợ đến mức cao nhất là toàn bộ giá trị tài sản của doanh nghiệp

Có thể thấy, các hình thức tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường phát triển theo xu hướng ngày càng phong phú và đa dạng Luật Doanh nghiệp đã quy định về những loại hình doanh nghiệp phổ biến trong

Trang 16

nền kinh tế thị trường, bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Các loại hình doanh nghiệp này, bên cạnh những đặc điểm của doanh nghiệp nói chung, còn có những đặc điểm riêng về tổ chức Mặt khác, mỗi loại hình doanh nghiệp, xét theo lợi ích, nguyện vọng của nhà đầu tư, đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định

Ngoài ra, còn có nhiều cách khác để phân loại doanh nghiệp ít được đề cập đến dưới góc độ pháp lý như: phân loại doanh nghiệp theo quy mô, theo ngành nghề kinh doanh…, song mỗi cách phân loại có những ý nghĩa thực tiễn nhất định trong việc xây dựng và áp dụng các chính sách phát triển doanh nghiệp

1.2 Khái quát về giải thể doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm giải thể doanh nghiệp

Doanh nghiệp có quá trình gia nhập, hoạt động, phát triển và rút lui khỏi thị trường Theo đó, một trong những cách thức rút lui khỏi thị trường mang tính phổ biến hiện nay là thông qua giải thể doanh nghiệp

Dưới góc độ ngôn ngữ, giải thể là "không còn hoặc làm cho không còn

tồn tại như một tổ chức, các thành phần, thành viên phân tán đi" Hiểu theo

cách thông thường, giải thể doanh nghiệp có nghĩa là doanh nghiệp chấm dứt

sự tồn tại, không còn là một tổ chức tiến hành hoạt động kinh doanh Khái niệm này được thể hiện trong tiếng Anh bằng nhiều thuật ngữ như "disband" hay "break up", trong đó thông dụng nhất và được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp lý là thuật ngữ "dissolution", để chỉ sự chấm dứt sự tồn tại của một doanh nghiệp, tổ chức

Theo Từ điển tiếng Việt thì giải thể là "không còn tồn tại, làm cho không còn tồn tại như một tổ chức, các thành phần, thành viên phân tán đi"3

Theo Từ điển Luật học, giải thể doanh nghiệp là "thủ tục chấm dứt sự

tồn tại của doanh nghiệp, với tư cách là một chủ thể kinh doanh bằng cách thanh lý tài sản của doanh nghiệp để trả cho các chủ nợ"4

3 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2005

4 Viện Khoa học pháp lí (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội

Trang 17

Theo quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Hợp Toàn thì "Giải thể doanh

nghiệp được nhìn nhận là việc một doanh nghiệp chấm dứt hoạt động kinh doanh, không tiếp tục tồn tại trên thị trường với tư cách là một chủ thể kinh doanh"5 Còn theo Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam của Viện Đại học Mở

Hà Nội, thì giải thể doanh nghiệp là "một trong những thủ tục pháp lý dẫn đến

chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp Hậu quả của giải thể là doanh nghiệp

sẽ bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh"

Như vậy, có khá nhiều quan điểm khác nhau về giải thể doanh nghiệp Tuy nhiên, dù tiếp cận giải thể doanh nghiệp ở phương diện nào thì các quan điểm đó có sự tương đồng nhất định Theo đó, giải thể là một quá trình, chứ không phải một thời điểm hay một sự kiện, với yêu cầu phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật Một trong các điều kiện tiên quyết mà pháp luật quy định khi giải thể, đó là doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết khoản

nợ, nghĩa vụ tài sản cũng như những nghĩa vụ hợp đồng khác với các bên có liên quan

Nhìn chung, giải thể doanh nghiệp được hiểu là một quá trình chấm dứt sự tồn tại và hoạt động với tư cách một chủ thể kinh doanh của doanh nghiệp khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của

doanh nghiệp đó Theo đó, giải thể doanh nghiệp là quá trình chấm dứt sự tồn

tại của doanh nghiệp trong điều kiện doanh nghiệp có khả năng thanh toán

hoặc bảo đảm thanh toán các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp Giải thể là

thủ tục để doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường một cách hợp pháp6

1.2.2 Đặc trưng của giải thể doanh nghiệp

Giải thể doanh nghiệp mang những đặc trưng pháp lý sau đây:

Thứ nhất, giải thể doanh nghiệp dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của

doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tiến hành các thủ tục giải thể, mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải dừng lại, doanh nghiệp phải tiến hành

5 Nguyễn Hợp Toàn (2012), Giáo trình Pháp luật Kinh tế, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

6 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, tập 1, Nxb Tư pháp năm 2018, tr 419

Trang 18

thanh lý tài sản, thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác Doanh nghiệp sẽ bị cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên trong sổ đăng ký doanh nghiệp, hay cập nhật lại tình trạng trên cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký kinh doanh, theo như quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, và kể từ thời điểm đó, doanh nghiệp không còn tồn tại trên thị trường

Thứ hai, giải thể doanh nghiệp là thủ tục mang tính hành chính Để

chấm dứt sự tồn tại, chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc đại diện của chủ sở hữu phải tiến hành thủ tục giải thể theo trình tự luật định, với rất nhiều các thủ tục như chấm dứt hiệu lực mã số thuế tại cơ quan quản lý thuế, trả con dấu doanh nghiệp tại cơ quan công an, nộp hồ sơ giải thể, xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cập nhật thông tin trên Hệ thống thông tin quốc gia… Đây đều là các thủ tục được tiến hành tại

cơ quan hành chính và do các cơ quan hành chính xử lý vụ việc

Thứ ba, giải thể doanh nghiệp có thể mang tính tự nguyện hoặc mang

tính bắt buộc Thông thường, việc quyết định giải thể doanh nghiệp thuộc quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, tất cả các thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Hội đồng thành viên của công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần có quyền đưa ra quyết định giải thể doanh nghiệp Đây là trường hợp giải thể hoàn toàn mang tính tự nguyện, theo ý chí của nhà đầu tư Tuy nhiên, khi doanh nghiệp không còn thỏa mãn các điều kiện tồn tại theo quy định của pháp luật hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh vi phạm pháp luật, thì bắt buộc doanh nghiệp phải giải thể Trong trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ thể ra quyết định giải thể doanh nghiệp chứ không phụ thuộc vào ý chí của nhà đầu tư

Thứ tư, việc giải thể doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán hết các

khoản nợ và nghĩa vụ của doanh nghiệp Đây là điểm đặc trưng của giải thể doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn chấm dứt sự tồn tại bằng thủ tục giải thể

Trang 19

thì phải tiến hành thanh lý tài sản và bảo đảm thanh toán đầy đủ các khoản nợ với các chủ nợ, cũng như thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc chuyển giao nghĩa vụ thanh toán nợ và nghĩa vụ hợp đồng cho các chủ thể khác theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan Các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp sẽ được giải quyết và mọi tài sản còn lại của doanh nghiệp được phân chia cho các thành viên hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp Đây cũng là tiêu chí quan trọng được dùng để phân biệt chế định phá sản doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp

1.2.3 Hậu quả pháp lý của giải thể doanh nghiệp

Như đã phân tích tại phần trên, giải thể doanh nghiệp dẫn đến việc doanh nghiệp chấm dứt tất cả các hoạt động kinh doanh và tình trạng của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp sẽ được chuyển từ "đang hoạt động" sang "đã giải thể" Đây có thể coi là hành động

"khai tử" doanh nghiệp Do doanh nghiệp chấm dứt tư cách là một chủ thể kinh doanh nên mọi quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp sẽ chấm dứt, các quan hệ xã hội với các chủ thể khác sẽ không còn tồn tại

Một là, đối với cơ quan nhà nước, doanh nghiệp phải đảm bảo đã hoàn

thành hết các nghĩa vụ, như thanh toán hết các khoản thuế, bảo hiểm xã hội còn thiếu (nếu có), thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, trả hoặc hủy con dấu doanh nghiệp,… Doanh nghiệp có thể yêu cầu cơ quan nhà nước đảm bảo các quyền lợi của mình, như yêu cầu cơ quan thuế hoàn trả thuế…

Hai là, đối với các chủ thể kinh doanh có liên quan, quan hệ kinh

doanh nói riêng và các quan hệ xã hội nói chung sẽ chấm dứt khi doanh nghiệp giải thể Doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản, hoàn thành các nghĩa vụ hợp đồng còn tồn đọng Doanh nghiệp phải thực hiện thanh lý hợp đồng lao động và thực hiện các nghĩa vụ như thanh toán tiền lương, trợ cấp, bảo hiểm và đảm bảo các quyền lợi chính đáng cho người lao động trong doanh nghiệp; trả đủ các khoản nợ cho các chủ

nợ, kể cả nợ có đảm bảo và không đảm bảo; thực hiện và thanh lý hết các hợp

Trang 20

đồng đã ký kết, hoặc phải có các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận với đối tác hợp đồng Đồng thời, doanh nghiệp cũng có quyền yêu cầu các chủ thể đó thực hiện nghĩa vụ đối với mình, ví dụ như yêu cầu được thanh toán khoản nợ mà doanh nghiệp đã cho vay, thực hiện hợp đồng đã ký kết để doanh nghiệp đảm bảo đủ điều kiện giải thể…

Ba là, giữa các thành viên trong Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ

đông, quan hệ hợp tác kinh doanh sẽ chấm dứt kể từ khi doanh nghiệp giải thể Có thể coi như sự thỏa thuận giữa các thành viên trước lúc thành lập doanh nghiệp sẽ kết thúc Việc xử lý quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên công ty sẽ thực hiện theo quy định tại Điều lệ Công ty đã thông qua hoặc theo

sự thỏa thuận Tuy nhiên, nếu trong quá trình hoạt động và quá trình thực hiện giải thể có sai phạm thì các thành viên vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với các hành động của mình, đặc biệt nếu doanh nghiệp rơi vào các trường hợp bắt buộc phải giải thể

1.2.4 Phân loại giải thể doanh nghiệp

Giải thể doanh nghiệp bao gồm: giải thể tự nguyện và giải thể bắt buộc

Giải thể tự nguyện Giải thể tự nguyện là trường hợp doanh nghiệp

chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp mình do đã đạt được mục đích kinh doanh hay do gặp khó khăn không thể khắc phục được,… và muốn rút lui khỏi thị trường Đối tượng của trường hợp giải thể này là doanh nghiệp thực hiện việc giải thể của chính công ty mình Lý do giải thể có thể do kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn hoặc theo quyết định của chủ doanh nghiệp với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng

cổ đông đối với công ty cổ phần

Giải thể bắt buộc: Giải thể doanh nghiệp bắt buộc là trường hợp giải thể

không do ý chí chủ quan của doanh nghiệp Do doanh nghiệp không đáp ứng được những điều kiện nhất định mà pháp luật đã quy định Đối tượng quyết định

Trang 21

giải thể là cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu doanh nghiệp thực hiện việc giải thể công ty Lý do giải thể của trường hợp giải thể này là do công ty không đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong sáu tháng liên tục

mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình kinh doanh hoặc bị thu hồi giấy phép kinh doanh

Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ thì trường hợp công ty vi phạm nghĩa vụ nộp thuế hàng năm hoặc không nộp báo cáo hàng năm theo quy định

sẽ bị giải thể bởi quyết định của Văn phòng thư ký bang (hoặc tương đương) Nếu công ty có hành vi lừa đảo hoặc đưa thông tin sai lệch hoặc có sai trái trong quản lý, Tòa án có quyền giải thể công ty Pháp luật các bang cũng trao cho một cổ đông hoặc nhóm cổ đông quyền yêu cầu Tòa án nếu công ty thuộc một trong các trường hợp dưới đây:

(i) Hội đồng quản trị gặp bế tắc trong quản lý công ty và Đại hội đồng

cổ đông không thể giải quyết được bế tắc này, vì vậy công ty đang hoặc có nguy cơ phải gánh chịu thiệt hại không thể khắc phục được;

(ii) Hành vi của Hội đồng quản trị hoặc những người kiểm soát công

ty là trái luật, có tính chất áp bức hoặc lừa đảo;

(iii) Tài sản của công ty được sử dụng không có căn cứ hoặc bị lãng phí; (iv) Đại hội đồng cổ đông gặp bế tắc trong biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị mới thay thế thành viên Hội đồng quản trị đã hết nhiệm kỳ hoặc sắp hết nhiệm kỳ và không giải quyết được bế tắc trong thời hạn xác định (thường là hai kỳ họp thường niên)

1.2.5 Phân biệt giữa giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp

Giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp là những con đường rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp Tuy nhiên, giữa giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp có sự khác nhau ở nhiều góc độ, cụ thể:

Thứ nhất, về lý do giải thể và phá sản doanh nghiệp

Lí do của giải thể doanh nghiệp rộng hơn rất nhiều của phá sản doanh nghiệp Có nhiều lí do để giải thể một doanh nghiệp như doanh nghiệp đã

Trang 22

hoàn thành mục đích thành lập, đã từng bị thua lỗ và không muốn kinh doanh nữa hoặc bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy phép kinh doanh…Trong khi đó, phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác

xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể

từ ngày đến hạn thanh toán7

Thứ hai, về thẩm quyền quyết định

Giải thể là do chủ sở hữu, đồng chủ sở hữu tự quyết định theo ý chí của mình hoặc do cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập quyết định, Trong khi đó, với phá sản thì doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án có thẩm quyền tuyên bố phá sản theo thủ tục luật định khi mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn

Thứ ba, thủ tục tiến hành giải thể và phá sản doanh nghiệp Giải thể là

theo thủ tục hành chính được tiến hành theo một thủ tục bắt buộc còn thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp

Thứ tư, về hậu quả pháp lí

Giải thể doanh nghiệp đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chấm dứt hoạt động và bị xóa tên trong sổ đăng kí doanh nghiệp nhưng với phá sản thì không phải bao giờ cũng dẫn đến hậu quả như vậy, ví dụ: có người trả nợ thay cho doanh nghiệp Doanh nghiệp phá sản còn có thể phục hồi hoạt động kinh doanh nếu thủ tục phục hồi doanh nghiệp được thực hiện thành công, như là nếu người nào đó mua lại toàn bộ doanh nghiệp, tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh Như vậy là chỉ thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp chứ không chấm dứt hoạt động của nó

Thứ năm, về quyền của chủ doanh nghiệp sau khi bị giải thể hoặc phá sản

Chủ doanh nghiệp bị phá sản thì không được phép thành lập doanh nghiệp trong một thời gian nhất định kể từ ngày tuyên bố phá sản Trừ trường

7 Khoản 1, Điều 4 Luật phá sản năm 2014

Trang 23

hợp phá sản do những trường hợp bất khả kháng, ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp; ví dụ: hỏa hoạn, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, bạo loạn, đình công, khủng hoảng kinh tế, chính sách pháp luật của nhà nước thay đổi hoặc nhà nước nơi doanh nghiệp hợp tác kinh doanh thay đổi chính sách của

họ8,… dẫn đến doanh nghiệp bị tổn thất nặng nề, không thể tiếp tục duy trì hoạt động và buộc tiến hành làm thủ tục phá sản Còn trong trường hợp bị giải thể thì chủ doanh nghiệp vẫn có quyền thành lập và quản lí, điều hành doanh nghiệp khác Như vậy, Nhà nước không đặt ra chế tài hạn chế quyền tự do kinh doanh của chủ doanh nghiệp bị giải thể

Thứ sáu, đối với giải thể doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp phải đảm

bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp Ngược lại, đối với phá sản, chủ doanh nghiệp sẽ phải giao lại toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho tổ thanh toán tài sản để thanh toán theo căn cứ phân chia do Tòa án quyết định

1.3 Khái niệm và đặc trƣng của thủ tục giải thể doanh nghiệp

1.3.1 Khái niệm thủ tục giải thể doanh nghiệp

Giải thể doanh nghiệp là một trong những con đường rút lui khỏi thị

trường của doanh nghiệp Thủ tục giải thể doanh nghiệp là cách thức, trình tự

đã được pháp luật quy định để doanh nghiệp có thể tiến hành việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp theo ý chí chủ quan của doanh nghiệp hoặc do quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Về cơ bản là thủ tục

giải thể được tiến hành theo một thủ tục giống nhau trong cả hai trường hợp giải thể tự nguyện và giải thể bắt buộc, vì rằng, tự nguyện hay bắt buộc chủ yếu chỉ liên quan đến yếu tố tự do ý chí khi quyết định giải thể9

1.3.2 Những đặc trưng của thủ tục giải thể doanh nghiệp

Thủ tục giải thể doanh nghiệp là một khâu trong việc áp dụng giải thể doanh nghiệp Thủ tục giải thể doanh nghiệp có những đặc trưng sau đây:

8 https://luatduonggia.vn/phan-biet-giai-the-doanh-nghiep-va-pha-san-doanh-nghiep/

9 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, tập 1, Nxb Tư pháp năm 2018, tr 423

Trang 24

Một là, thủ tục giải thể doanh nghiệp mang tính chất hành chính và

được tiến hành tại các cơ quan hành chính Nhà nước và do các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện Việc thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp được tiến hành tại các cơ quan nhà nước như: Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, cơ quan hải quan, bảo hiểm xã hội,…

Hai là, thủ tục giải thể doanh nghiệp mang tính chất trình tự bắt buộc

và được pháp luật điều chỉnh Việc giải thể đối với doanh nghiệp kết thúc thời hạn hoạt động hoặc giải thể do doanh nghiệp quyết định được thực hiện theo trình tự bắt buộc gồm: thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp; thanh lý tài sản doanh nghiệp; gửi quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động; đăng quyết định giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; niêm yết công khai quyết định giải thể tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp; thông báo tình trạng doanh nghiệp đang tiến hành thủ tục giải thể của Cơ quan đăng ký kinh doanh,

Ba là, thủ tục giải thể chỉ được thực hiện khi doanh nghiệp đã thanh

toán xong các khoản nợ đối với các chủ nợ Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài Trong quá trình giải thể doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị công ty cổ phần trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng

1.4 Khái quát pháp luật điều chỉnh thủ tục giải thể doanh nghiệp

1.4.1 Vai trò của pháp luật điều chỉnh giải thể doanh nghiệp

Giải thể doanh nghiệp liên quan đến sự "khai tử" của doanh nghiệp Chính vì vậy, pháp luật điều chỉnh về giải thể doanh nghiệp có có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, đối với các chủ thể khác, góp phần đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể rút lui khỏi thị trường một cách trật tự, khách quan

Trang 25

Vai trò của pháp luật điều chỉnh giải thể doanh nghiệp được thể hiện trân các phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất, pháp luật giải thể doanh nghiệp là công cụ bảo vệ bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của chính doanh nghiệp giải thể Ngay từ khi tham gia vào thị trường, doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm, được tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh, chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, chủ động điều chỉnh quy mô, ngành, nghề kinh doanh, lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn, chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của doanh nghiệp; chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh… Nhìn chung, doanh nghiệp được quyền tự quyết những hoạt động của mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép, không trái với những điều pháp luật cấm Rút khỏi thị trường cũng

là một quyền hợp pháp của doanh nghiệp, do chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định, đặc biệt trong trường hợp việc tồn tại của doanh nghiệp không còn phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường, có thể gây tổn hại tới lợi ích của chủ sở hữu và các chủ thể có liên quan Có thể thấy rõ điều này trong trường hợp doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và không còn nhu cầu tiếp tục kinh doanh Việc doanh nghiệp chấm dứt hoạt động bằng thủ tục giải thể sẽ là một quyết định đúng đắn trước khi doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ Đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện việc giải thể doanh nghiệp, chức năng chủ yếu của pháp luật về giải thể doanh nghiệp là tạo cơ sở pháp lý để chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ sở hữu doanh nghiệp

Thứ hai, pháp luật giải thể doanh nghiệp là công cụ bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan tới doanh nghiệp giải thể Để được giải thể, doanh nghiệp phải thỏa mãn điều kiện tiên quyết là thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác, giải quyết tất cả các nghĩa vụ hợp

Trang 26

đồng đã ký kết Đồng thời, pháp luật cũng nghiêm cấm các hành vi trốn tránh nghĩa vụ trong quá trình thực hiện giải thể, như tẩu tán tài sản, từ chối trả nợ,… Điều này đảm bảo cho quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan khi doanh nghiệp chấm dứt tồn tại, có thể kể đến như chủ nợ, người lao động, các đối tác hợp đồng… Trong trường hợp doanh nghiệp bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định giải thể, vai trò này càng được khẳng định rõ ràng

Thứ ba, pháp luật giải thể doanh nghiệp góp phần bảo vệ trật tự, kỷ

cương của xã hội, bảo vệ tính lành mạnh của nền kinh tế Trong nhiều trường hợp, việc chấm dứt hoạt động và rút khỏi thị trường của doanh nghiệp có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều chủ thể trong xã hội Do đó, thủ tục giải thể doanh nghiệp luôn được đòi hỏi phải thiết kế nhằm đáp ứng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các loại chủ thể tham gia vào tiến trình đó, như

đã trình bày ở trên Ở góc độ này, pháp luật giải thể doanh nghiệp đã góp phần hạn chế những mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các chủ thể có liên quan, bảo vệ trật tự và kỷ cương xã hội Bên cạnh đó, giải thể doanh nghiệp cũng giúp đào thải khỏi thương trường những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả hoặc hoạt động trái quy định của pháp luật, có khả năng gây tổn hại đến các chủ thể kinh doanh khác và cả nền kinh tế nói chung

Do vậy, xây dựng chế định pháp luật về giải thể doanh nghiệp là một yêu cầu thiết yếu trong hệ thống pháp luật doanh nghiệp nói riêng và pháp luật kinh doanh nói chung của một quốc gia, hướng tới một nền kinh tế thị trường phát triển và cạnh tranh lành mạnh, góp phần định hướng, cải thiện, đẩy mạnh sự phát triển của đất nước

1.4.2 Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh thủ tục giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam

1.4.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh thủ tục giải thể doanh nghiệp

Pháp luật về giải thể doanh nghiệp, thủ tục giải thể doanh nghiệp là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan

hệ xã hội về giải thể doanh nghiệp, trong đó có các quan hệ xã hội về thủ tục giải thể doanh nghiệp Các quan hệ xã hội về giải thể doanh nghiệp phát sinh trực

Trang 27

tiếp từ quá trình tạo lập, duy trì, biến đổi và chấm dứt tư cách pháp lý của doanh nghiệp Trong đó, pháp luật về giải thể doanh nghiệp, thủ tục giải thể doanh nghiệp là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp

Pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp được hiểu là: tổng hợp các

quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình áp dụng trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, doanh nghiệp

và của các tổ chức, cá nhân liên quan

1.4.2.2 Nội dung cơ bản pháp luật điều chỉnh thủ tục giải thể doanh nghiệp

Tại Việt Nam hiện nay, pháp luật điều chỉnh giải thể doanh nghiệp được ghi nhận tại Luật Doanh nghiệp 2014, văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật liên quan Nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh thủ tục giải thể doanh nghiệp bao gồm:

- Nguyên tắc thủ tục giải thể doanh nghiệp Khuôn khổ áp dụng thủ tục giải thể doanh nghiệp cần được phát triển dựa trên quan điểm về tác động của nó đối với hiệu quả kinh tế nói chung, tính toàn vẹn của thị trường Với các cơ chế khuyến khích mà khuôn khổ này tạo ra cho các bên tham gia thị trường, sự thúc đẩy thị trường minh bạch và hiệu quả Nguyên tắc thủ tục giải thể doanh nghiệp bao gồm những nguyên tắc chung trong giải thể doanh nghiệp đồng thời có những nguyên tắc đặc thù phù hợp với thủ tục giải thể doanh nghiệp như: thủ tục giải thể doanh nghiệp phải thực hiện trên cơ sở những điều kiện cụ thể, thủ tục giải thể doanh nghiệp phải thực hiện theo quy trình nhất định, thủ tục giải thể doanh nghiệp bảo đảm quyền, lợi ích của các chủ thể,

- Quy định về các trường hợp, điều kiện giải thể doanh nghiệp Quy định này chỉ rõ các trường hợp giải thể doanh nghiệp bắt buộc hoặc giải thể tự nguyện Bên cạnh đó, doanh nghiệp chỉ được tiến hành giải thể khi đã thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản đối với các chủ nợ khác Quy định này cũng là điểm khác với điều kiện áp dụng phá sản doanh nghiệp

- Các quy định về trình tự các bước trong thủ tục giải thể doanh nghiệp Các bước giải thể trong thủ tục giải thể doanh nghiệp là vấn đề quan

Trang 28

trọng, xác định lộ trình cụ thể để đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa

vụ của tổ chức, cá nhân liên quan Thủ tục giải thể doanh nghiệp bao gồm: thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp, thanh lý tài sản, thông báo quyết định giải thể doanh nghiệp,

- Các quy định của pháp luật về thủ tục giải thể doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực đặc thù như: doanh nghiệp bảo hiểm, Ngân hàng, doanh nghiệp trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng,… Bên cạnh những quy định mang tính chất chung thì việc giải thể sẽ áp dụng mang tính đặc thù đối với giải thể các doanh nghiệp nhằm đảm bảo hiệu quả của việc giải thể những doanh nghiệp này

Kết luận Chương 1

Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường được thành lập nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh, tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế và của toàn xã hội Trong quá trình hoạt động, đến một lúc nào đó, vì những lý do cụ thể, doanh nghiệp sẽ có nhu cầu, hoặc buộc phải chấm dứt hoạt động và rời khỏi thị trường Giải thể doanh nghiệp là một trong các cách thức đó

Giải thể doanh nghiệp dẫn tới hậu quả cuối cùng là doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, kết thúc sự tồn tại với tư cách một chủ thể kinh doanh khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp đó Nó có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp, các chủ thể có liên quan và cả nền kinh tế - xã hội của quốc gia Chính vì vậy, xây dựng một khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động này là yêu cầu tất yếu, nhằm đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp

có thể rút lui khỏi thị trường một cách trật tự, lành mạnh, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, bảo vệ kỷ cương quốc gia, hướng tới một nền kinh tế thị trường phát triển toàn diện Thủ tục giải thể doanh nghiệp là một trong những yếu tố góp phần vào việc đó Thủ tục giải thể doanh nghiệp càng đơn giản hóa sẽ giúp doanh nghiệp có thể rút lui khỏi thị trường một cách thuận lợi để tiếp tục vòng quay đầu tư

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

TỪ THỰC TIỄN TẠI TỈNH LẠNG SƠN

2.1 Các quy định về thủ giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014

Những quy định về giải thể và thủ tục giải thể doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, được cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp và thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp

2.1.1 Quy định về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014

2.1.1.1 Quy định về giải thể doanh nghiệp nói chung

Việc giải thể doanh nghiệp được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định Mỗi một trình tự, giai đoạn áp dụng có sự tác động hay ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động giải thể doanh nghiệp, từ doanh nghiệp cho đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay những chủ thể liên quan Doanh nghiệp phải có trách nhiệm gửi hồ sơ giải thể doanh nghiệp tới cơ quan đăng ký kinh doanh

Hồ sơ giải thể doanh nghiệp bao gồm:10

- Thông báo về giải thể doanh nghiệp;

- Báo cáo thanh lý tài sản doanh nghiệp; danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, người lao động sau khi quyết định giải thể doanh nghiệp (nếu có)

- Con dấu và giấy chứng nhận mẫu dấu (nếu có)

- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp được cấp Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương thì ngoài các giấy tờ

10 Khoản 1 điều 204 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 30

nêu trên, doanh nghiệp nộp kèm theo: Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đầu tư; Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký thuế; Giấy đề nghị bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp quy định tại Phụ lục II-18 Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT

Khoản 2 Điều 204 Luật Doanh nghiệp 2014 còn quy định về người chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp: "Thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng thành viên công

ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ

giải thể doanh nghiệp"

Tại khoản 3 Điều 204 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp khi hồ sơ giải thể doanh nghiệp giả mạo hoặc không chính xác, cụ thể như sau: "Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người quy định tại khoản 2 Điều này phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưa thanh toán, số thuế chưa nộp và quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày

nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh"

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi đề nghị giải thể cho Cơ quan đăng ký kinh doanh trong 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp

Pháp luật về giải thể doanh nghiệp của Việt Nam thì thủ tục giải thể được thực hiện theo trình tự các bước Mỗi một bước có những yêu cầu và trình tự thực hiện các nội dung khác nhau Theo pháp luật Hoa Kỳ thì thủ tục chấm dứt hoạt động của công ty gồm hai bước là giải thể và thanh lý Công ty

có thể bị giải thể theo quyết định của chính công ty Hội đồng quản trị sẽ đề xuất kế hoạch giải thể gửi lên Đại hội đồng cổ đông phê chuẩn Trường hợp công ty tự giải thể được gọi là giải thể tự nguyện (voluntary dissolution) Bên

Trang 31

cạnh đó, công ty có thể bị buộc giải thể theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước Nếu công ty giải thể tự nguyện, Hội đồng quản trị sẽ là người thụ thác (trustees) để quản lý tài sản của công ty Hội đồng quản trị tiến hành thanh lý tài sản của công ty vì lợi ích của chủ nợ và cổ đông Trong trường hợp này thành viên Hội đồng quản trị có nghĩa vụ thụ thác đối với chủ nợ và

cổ đông công ty và phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu vi phạm nghĩa vụ thụ thác mà gây thiệt hại cho chủ nợ hoặc cổ đông công ty

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc giải thể đối với doanh nghiệp được thực hiện thông qua các bước chủ yếu sau:

Bước 1: Quyết định giải thể

Quyết định giải thể là một căn cứ pháp lý quan trọng để tiến hành giải thể doanh nghiệp Quyết định giải thể do chủ sở hữu/ đồng chủ sở hữu doanh nghiệp đó là chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Đại hội đồng cổ đông của công

ty cổ phần Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giải thể doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp

Trên cơ sở biên bản họp thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp sẽ kí quyết định giải thể Tuy nhiên, cần lưu ý là đối với loại doanh nghiệp một chủ sở hữu như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì không có biên bản họp thông qua quyết định giải thể

Về quyết định giải thể của doanh nghiệp Quyết định giải thể doanh nghiệp cần phải có các nội dung chủ yếu sau:

- Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;

- Lý do giải thể;

- Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp; thời hạn thanh toán nợ, thanh lý hợp đồng không được vượt quá 06 tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể;

Trang 32

- Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động;

- Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Trong những nội dung của quyết định giải thể thì nội dung về phương

án thanh lý tài sản, trả nợ, phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ việc thanh lý hợp đồng là những nội dung quan trọng khi quyết định giải thể11

Sau thời hạn 180 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải thể mà không nhận được ý kiến về việc giải thể từ doanh nghiệp hoặc phản đối của bên có liên quan bằng văn bản hoặc trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

Để làm đảm bảo việc giải thể đúng theo quy định và bảo vệ lợi ích tối

đa của các chủ thể liên quan đến giải thể doanh nghiệp Theo đó, kể từ thời điểm có quyết định giải thể doanh nghiệp, hoạt động của doanh nghiệp bị hạn chế hoặc bị cấm đối với một số lĩnh vực Cụ thể, những hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị cấm bao gồm12

:

- Cất giấu, tẩu tán tài sản;

- Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;

- Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp;

- Ký kết hợp đồng mới trừ trường hợp để thực hiện giải thể doanh nghiệp;

- Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản;

- Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;

- Huy động vốn dưới mọi hình thức

Đồng thời để đảm bảo "kỷ cương phép nước" cũng như hướng tới bảo

vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể, những hành vi vi phạm của các cá nhân tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, cá nhân có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường

11 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, tập 1, Nxb Tư pháp, năm 2018, tr 424

12 Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 33

Bước 2: Thực hiện quyết định giải thể doanh nghiệp

Sau khi quyết định giải thể được thông qua hợp pháp, doanh nghiệp chủ động tiến hành các nội dung được ghi trong quyết định giải thể Ví dụ, đối với công ty cổ phần thì quyết định giải thể thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định13

Việc thông qua Nghị quyết về giải thể công ty được thông qua bằng hình thức biểu quyết Nghị quyết về nội dung giải thể công ty được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định14

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua quyết định giải thể thì: Quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng

ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp, đăng quyết định giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp

Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo quyết định giải thể phương án giải quyết nợ đến các chủ

nợ, người có quyền, lợi và nghĩa vụ có liên quan Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ

Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp ngay sau khi nhận được quyết định giải thể của doanh nghiệp Kèm theo thông báo phải đăng tải quyết định giải thể và phương án giải quyết

Việc thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp giải thể cần được tiến hành trên cơ sở tài sản doanh nghiệp, trách nhiệm và các khoản nợ Việc

13 Khoản 1, Điều 141 Luật Doanh nghiệp năm 2014

14 Khoản 1, Điều 144 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 34

thanh lý tài sản trong giải thể doanh nghiệp là một trong những nội dung quan trọng trong thủ tục giải thể doanh nghiệp nhằm đảm bảo lợi ích của các chủ thể Việc thanh lý tài sản có thể chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng

Theo quy định của Hoa Kỳ về giải thể Trong trường hợp công ty bị giải thể bắt buộc, Tòa án sẽ bổ nhiệm người quản lý tài sản (receiver) để quản

lý và thanh lý tài sản của công ty Trong trường hợp có lý do chính đáng để không tin tưởng Hội đồng quản trị là người thụ thác, cổ đông có thể đề nghị Tòa án bổ nhiệm quản tài viên Tài sản của công ty khi thanh lý trước hết sẽ được sử dụng để trả nợ, sau đó số tài sản còn lại sẽ trả cho cổ đông theo tỷ lệ vốn cổ phần và theo thứ tự ưu tiên ghi trong điều lệ công ty

Thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp được thực hiện theo thứ tự sau đây:

- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

- Nợ thuế;

- Các khoản nợ khác

Sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể doanh nghiệp, phần còn lại chia cho chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty theo tỷ lệ sở hữu phần vốn góp, cổ phần

Bước 3: Kết thúc thủ tục giải thể doanh nghiệp

Thủ tục giải thể doanh nghiệp kết thúc khi cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhất tình trạng pháp lý "doanh nghiệp đã giải thể" trên cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Tuy nhiên, cần lưu ý là đối với trường hợp giải thể khi bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp thì việc cập nhật tình trạng "đang làm thủ tục giải thể" ngay khi có quyết định

Trang 35

thu hồi Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Quy định như vậy để đảm bảo tính bắt buộc của giải thể trên cơ sở những hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp Doanh nghiệp không có sự lựa chọn khác Bên cạnh đó, pháp luật cũng có những quy định xác định trách nhiệm của những người quản lý doanh nghiệp về những thiệt hại phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định trong giải thể bắt buộc đối với doanh nghiệp Quy định này là cần thiết nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của những người quản lý doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo việc giải thể được thực hiện theo đúng trình tự góp phần bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp và các chủ thể khác Như vậy, về cơ bản các quy định về giải thể doanh nghiệp của Việt Nam cũng có nét tương đồng với quy định của Cộng hòa liên bang Đức Một

số văn bản điều chỉnh quá trình giải thể của công ty gồm: Bộ luật thương mại;

Bộ luật dân sự; Luật công ty cổ phần; Luật công ty trách nhiệm hữu hạn; Bộ luật công nghiệp

Theo pháp luật của Đức, công ty có thể giải thể thông qua thủ tục giải thể bắt buộc hoặc thủ tục giải thể tự nguyện Trình tự thủ tục giải thể tự nguyện được đưa ra chỉ bởi thành viên của công ty trong một cuộc họp thành viên, trong khi đó, thủ tục giải thể bắt buộc được đưa ra bởi Tòa án có thẩm quyền Giải thể tự nguyện, về trình tự thủ tục, được quyết định bởi ít nhất 50% số phiếu có quyền biểu quyết tại cuộc họp thành viên, trừ khi điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác Trước khi bắt đầu quá trình giải thể, việc cần thiết là phải chuẩn bị một báo cáo cân đối, trong đó có chứa tên và địa chỉ của giải thể viên là người phụ trách việc giải thể (liquidator) cũng như tên và địa chỉ của người có trách nhiệm giữ sổ sách của công ty sau khi giải thể Giải thể viên thường là thành viên tiền nhiệm trong các hội đồng quản lý của công ty

và có cùng thẩm quyền quản lý các lợi ích có thể phát sinh trong quá trình giải thể công ty

Bước đầu tiên trong tiến trình giải thể công ty là phải gửi thông báo cho Cơ quan đăng ký thương mại Đức, trong đó tuyên bố việc giải thể hoặc

Trang 36

không thể có lý do nào khác để không giải thể công ty Quyết định giải thể phải được công khai tại Hệ thống thông tin điện tử của Đức (German

Electronic Federal Gazette) và các chủ nợ phải được thông báo về quyết định

giải thể và trình tự đệ trình các yêu cầu đòi nợ

Các yêu cầu đòi nợ từ các chủ nợ đầu tiên phải được thống kê và nếu trong vòng một năm từ khi có quyết định giải thể mà vẫn còn tài sản thì tài sản phải được phân phối lại cho các chủ sở hữu theo các thỏa thuận quy định trong điều lệ công ty

Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chấp nhận việc giải thể nếu thông báo

về giải thể được gửi tới các chủ nợ trong vòng thời hạn một năm trước đó Trong trường hợp này, công ty phải đệ trình quyết định giải thể và phải có bằng chứng chứng minh rằng các chủ nợ đã được thông báo về việc giải thể công ty

2.1.1.2 Quy định về thủ tục giải thể doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án

Việc áp dụng giải thể doanh nghiệp trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án là hết sức cần thiết nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm của doanh nghiệp hay đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các chủ thể trong hoạt động kinh doanh

Việc giải thể doanh nghiệp được thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây15

:

Cơ quan đăng ký kinh doanh, phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đồng thời với việc ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc ngay sau khi nhận được quyết định giải thể của Tòa án đã

có hiệu lực thi hành Kèm theo thông báo phải đăng tải quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực,

15 Điểm d khoản 1 Điều 201 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 37

doanh nghiệp phải triệu tập họp để quyết định giải thể Quyết định giải thể và bản sao quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính và chi nhánh của doanh nghiệp Đối với trường hợp mà pháp luật yêu cầu phải đăng báo thì quyết định giải thể doanh nghiệp phải được đăng ít nhất trên một tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp

Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải đồng thời gửi kèm theo quyết định giải thể của doanh nghiệp phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ

Việc thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 202 của Luật Doanh nghiệp 2014

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi đề nghị giải thể cho Cơ quan đăng ký kinh doanh trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp

Sau thời hạn 180 ngày, kể từ ngày thông báo tình trạng giải thể doanh nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều này mà không nhận phản đối của bên

có liên quan bằng văn bản hoặc trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

Cá nhân người quản lý công ty có liên quan phải chịu trách nhiệm cá nhân về thiệt hại do việc không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định của pháp luật

Theo quy định của pháp luật Đức, Giải thể công ty bắt buộc, về trình

tự thủ tục cũng giống như giải thể tự nguyện nhưng quyết định giải thể do Tòa

án đưa ra và Tòa án là người giám sát toàn bộ quá trình đó Công ty có nghĩa

Trang 38

vụ thông báo cho các cơ quan địa phương như cơ quan bảo hiểm tiền lương

Đức (German pension insurance scheme), Cơ quan lao động Liên bang

(Federal Employment Agency) và các cơ quan thuế địa phương Giải thể công

ty tại Đức thông thường kéo dài trên 1 năm vì chấp thuận từ cơ quan đăng ký kinh doanh không thể thực hiện sớm hơn một năm từ khi thông báo đầu tiên tới các chủ nợ

2.1.1.3 Quy định về thủ tục giải thể đối với một số doanh nghiệp đặc thù

Thực tế cho thấy các loại hình doanh nghiệp Việt Nam ngoài những điểm chung còn mang những nét đặc thù về đăng ký thành lập, quá trình hoạt động hay rút lui khỏi thị trường Sự điều chỉnh của pháp luật đối với các doanh nghiệp đặc thù là hết sức cần thiết đảm bảo phù hợp và phát huy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế

* Thủ tục giải thể của doanh nghiệp bảo hiểm

Kinh doanh Bảo hiểm là loại hình kinh doanh đặc biệt Luật Kinh doanh bảo hiểm điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm Luật Kinh doanh bảo hiểm không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh Theo đó việc thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp tái bảo hiểm (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp bảo hiểm), chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài (sau đây gọi tắt là chi nhánh nước ngoài), doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài và quỹ bảo vệ người được bảo hiểm16

Xuất phát từ bản chất pháp lý cũng như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Bảo hiểm thì việc áp dụng thủ tục rút lui khỏi thị trường, trong

16 Khoản 1 Điều 1 Nghị định sô 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ

Trang 39

đó thông qua việc giải thể doanh nghiệp Bảo hiểm cần thực hiện theo quy định chặt chẽ phù hợp với loại hình doanh nghiệp này Theo đó, Doanh nghiệp bảo hiểm giải thể trong các trường hợp sau đây17

:

- Tự nguyện xin giải thể nếu có khả năng thanh toán các khoản nợ;

- Khi hết thời hạn hoạt động quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động mà không có quyết định gia hạn;

- Bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại các

điểm a, b, đ và e khoản 1 Điều 68 của Luật này;

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật;

Đồng thời Luật Kinh doanh bảo hiểm cũng quy định riêng áp dụng giải thể doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là cần phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản Như vậy, đây là một quy định khác về về giải thể đối với việc giải thể công ty, doanh nghiệp thông thường thì cần sự đồng ý của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Kinh doanh theo quy định Với quy định như vậy nhằm đảm bảo đúng quyền lợi cho các khách hàng đã mua bảo hiểm từ công ty

Xuất phát là một doanh nghiệp đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm vì vậy liên quan đến việc giải thể doanh nghiệp này thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính Do vậy, việc làm hồ sơ giải thể cũng như thực hiện giải thể công ty bảo hiểm rất phức tạp và để thực hiện giải thành công thì doanh nghiệp bảo hiểm cần tìm hiểu rõ các quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp bảo hiểm Cụ thể như sau:

Trước khi giải thể, doanh nghiệp bảo hiểm phải nộp Bộ Tài chính một (01) bộ hồ sơ đề nghị giải thể và được sự chấp thuận của Bộ Tài chính.Hồ sơ

đề nghị giải thể doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

- Đơn xin giải thể, kết thúc hoạt động;

- Quyết định của cấp có thẩm quyền theo quy định tại Điều lệ tổ chức

và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm trong trường hợp tự nguyện xin giải thể nếu có khả năng thanh toán các khoản nợ (bản gốc);

17 Điều 82 Luật kinh doanh bảo hiểm

Trang 40

- Bằng chứng chứng minh đã thực hiện hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm gồm:

+ Báo cáo việc thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động theo quy định của pháp luật;

+ Báo cáo việc thực hiện các nghĩa vụ nợ đối với các chủ hợp đồng bảo hiểm, bao gồm cả việc thanh toán các nghĩa vụ đến hạn theo hợp đồng bảo hiểm và chuyển giao hợp đồng bảo hiểm theo quy định (đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm);

+ Báo cáo thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước và các chủ nợ khác; + Giấy xác nhận của cơ quan thuế về việc đã hoàn thành các nghĩa vụ

về thuế (bản sao công chứng)

- Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm (bản gốc)

- Thực hiện đóng mã số thuế

- Thực hiện trả con dấu và hủy con dấu tại Cơ quan Công An

- Thực hiện thanh lý tài sản

- Đăng bố cáo giải thể công ty trong 3 kỳ liên tiếp

Trong thời hạn bảy (07) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp

lệ theo quy định tại khoản 3 Điều này, Bộ Tài chính ra quyết định giải thể doanh nghiệp bảo hiểm

* Thủ tục giải thể của doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng

Giải thể doanh nghiệp là tổ chức tín dụng được quy định Luật các

Tổ chức tín dụng năm 2010 Giải thể tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giải thể trong các trường hợp sau đây:

- Tự nguyện xin giải thể nếu có khả năng thanh toán hết nợ và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản;

- Khi hết thời hạn hoạt động không xin gia hạn hoặc xin gia hạn nhưng không được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản;

Ngày đăng: 30/07/2019, 19:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm