1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh bắc ninh

91 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 6,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại ở mốc thời gian năm 2012, là năm chưa ban hành Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 và Luật sửa đổi, bổ sung các Luật về thuế số 71/2014/QH13; Luận văn thạc

Trang 1

NGÔ THỊ THẢO PHƯƠNG

Ph¸p luËt VÒ thuÕ thu nhËp doanh nghiÖp

vµ thùc tiÔn thi hµnh t¹i tØnh B¾c Ninh

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THỊ THẢO PHƯƠNG

Ph¸p luËt VÒ thuÕ thu nhËp doanh nghiÖp

vµ thùc tiÔn thi hµnh t¹i tØnh B¾c Ninh

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 62 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Ánh Vân

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Ngô Thị Thảo Phương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1.KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 7

1.1 Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp 7

1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp 7

1.1.2 Đặc điểm của thuế thuế thu nhập doanh nghiệp 8

1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp 9

1.2 Khái quát về pháp luật điều chỉnh thuế thu nhập doanh nghiệp 13

1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 13

1.2.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc thu và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 14

1.2.3 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 15

1.2.4 Nội dung của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: 21

Chương 2 THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH BẮC NINH 22

2.1 Khái quát về tình hình thực thi pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh 22

2.1.1 Khái quát về công tác quản lý, thu thuế tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh 22

2.1.2 Khái quát về hoạt động kê khai, nộp thuế của các doanh nghiệp thành lập và hoạt động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 27

2.2 Những kết quả đạt được trong quá trình thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh 29

Trang 5

2.3 Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật thuế thu

nhập doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh 42

2.4 Nguyên nhân dẫn tới những khó khăn, vướng mắc trong thực thi pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh 49

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59

Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 60

3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 60

3.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NSNN : Ngân sách nhà nước TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế Những năm qua Việt Nam đã thực hiện tốt chính sách mở cửa, chủ động hội nhập quốc tế, tăng cường và phát triển quan hệ hợp tác trong nhiều lĩnh vực với các nước trong đó có công tác xây dựng pháp luật, điều đó đã mang lại những thành tựu quan trọng tạo ra thế và lực mới cho sự phát triển của đất nước Cùng với sự phát triển của nền kinh

tế, vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước ngày càng được thể hiện rõ nét Thông qua những công cụ đắc lực của mình, Nhà nước, Chính phủ đã thực hiện khá thành công vai trò điều tiết các hoạt động kinh tế trong từng giai đoạn phát triển Một trong những công cụ quan trọng để thực hiện nhiệm vụ đó là chính sách pháp luật về thuế

Ở nước ta thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước (NSNN) mà còn phản ánh chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc định hướng phát triển cho từng lĩnh vực, ngành nghề kinh tế Thông qua các chính sách thuế, Nhà nước khuyến khích việc đầu tư, sản xuất đối với những mặt hàng, ngành nghề, lĩnh vực trọng điểm ưu đãi đồng thời hạn chế đầu tư, sản xuất đối với những lĩnh vực, ngành nghề nhà nước chủ trương thu hẹp trong từng giai đoạn nhất định Bên cạnh đó, thuế còn được sử dụng như là công cụ góp phần mang lại công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và giảm thiểu các vấn đề tiêu cực, hạn chế sự gia tăng các tệ nạn xã hội trong quá trình phát triển kinh tế

Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng quan tâm đến vấn đề này thể hiện bằng sự ra đời của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) năm 1997, năm 2003, năm 2008, sửa đổi năm 2013 và Luật sửa đổi các Luật về thuế năm 2014 cùng với một hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ, Bộ Tài chính với nội dung cụ thể hóa những quy định của Luật thuế TNDN Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các văn bản pháp luật vào thực tiễn vẫn

Trang 8

còn một khoảng cách khá lớn giữa văn bản và thực tế áp dụng, vẫn còn những khó khăn trong việc thực thi những quy định pháp luật này

Với hơn 20 năm trưởng thành và phát triển, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, ngành thuế tỉnh Bắc Ninh những năm qua đã đạt được những kết quả hết sức to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Số lượng doanh nghiệp ngày một tăng, tập trung chủ yếu vào các khu công nghiệp, khu đô thị, quy mô sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng đã đóng góp số thu thuế TNDN lớn cho NSNN Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà những năm qua vẫn tồn tại một số bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về thuế TNDN đặc biệt các hiện tượng gian lận thuế, trốn thuế, nợ thuế chiếm tỷ lệ cao so với cả nước Điều này đặt ra yêu cầu phải có sự nghiên cứu quá trình thực thi pháp luật thuế TNDN trong thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh để tìm ra những khó khăn, nguyên nhân và đưa ra giải pháp khắc phục Qua đó, góp phần làm cho pháp luật thuế TNDN hiện hành được hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn và tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho sự phát triển của các doanh nghiệp và không ngừng nâng cao nguồn thu từ thuế TNDN cho

NSNN Xuất phát từ lý do đó, việc lựa chọn đề tài: "Pháp luật thuế thu nhập

doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Ninh" làm luận văn tốt nghiệp ở

bậc đào tạo thạc sĩ là việc làm có ý nghĩa thực tiễn to lớn

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau về

đề tài pháp luật về thuế TNDN và thực tiễn trên địa bàn địa phương Cụ thể sau đây:

Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam -

thực trạng và giải pháp hoàn thiện" (2004), của Tống Thị Bích Lan, là đề tài nghiên

cứu khái quát về pháp luật thuế TNDN ở Việt Nam, tuy nhiên đề tài tác giả làm vào trước năm 2008 - thời điểm luật thuế TNDN năm 2008 chưa có hiệu lực thi hành;

Khóa luận tốt nghiệp "Hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh

nghiệp" (2011), của Nguyễn Hải Linh; Luận văn thạc sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp" (2011), của Nguyễn Hải Sinh và Luận văn thạc

Trang 9

sĩ luật học "Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam - thực trạng và giải

pháp hoàn thiện" (2012), của Vũ Thùy Dương, mới chỉ tập trung nghiên cứu các

quy định và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế TNDN mà chưa nghiên cứu đến thực trạng áp dụng pháp luật thuế TNDN tại địa phương cụ thể;

Luận văn thạc sĩ luật học "Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và thực

tiễn trên địa bàn Hà Nội" (2012), của Ngô Thị Cẩm Lệ, là một đề tài nghiên cứu

khá đầy đủ các vấn đề pháp lý cũng như thực trạng pháp luật thuế TNDN tại địa bàn thành phố Hà Nội, đồng thời, đề tài cũng đưa ra các giải pháp mang tính đột phá, phù hợp với tình hình thực tiễn của thành phố Hà Nội Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại ở mốc thời gian năm 2012, là năm chưa ban hành Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 và Luật sửa đổi, bổ sung các Luật về thuế số 71/2014/QH13;

Luận văn thạc sĩ luật học "Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp qua

thực tiễn tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam" (2017), của Đinh Đại Khánh, là đề tài

nghiên cứu khái quát các quy định pháp luật thuế TNDN đồng thời nghiên cứu thực tiễn và đưa ra những giải pháp phù hợp với hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tuy nhiên luận văn dừng lại nghiên cứu thực tế ở cơ quan chấp hành pháp luật thuế TNDN;

Ngoài ra, còn có những bài viết trên các tạp chí như Bành Quốc Tuấn

(2013); "Hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8; Nguyễn Văn Phụng (2013), "Giảm thuế suất chung và điều chỉnh ưu

đãi thuế thu nhập doanh nghiệp", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 08; NguyễnThị

Lan Hương (2013), "Bảo đảm công bằng và điều chỉnh quan hệ lợi ích khi sửa đổi

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 08 Về cơ bản

những bài viết trên chỉ đi sâu vào một số quy định cụ thể và từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện những quy định đó của pháp luật thuế TNDN mà chưa có bài viết nghiên cứu tổng quát

Phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển khác nhau của Luật Thuế TNDN và tình hình kinh tế - xã hội mỗi thời kỳ mà các công trình nghiên cứu thành công nhất

Trang 10

định, góp phần làm rõ thêm về vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng về loại thuế này Đặc biệt kể từ khi Luật thuế TNDN sửa đổi năm 2013 và Luật sửa đổi các Luật về thuế năm 2014 có hiệu lực đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu

về mặt thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Bắc Ninh Do vậy, luận văn

"Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Ninh" là

một trong những đề tài góp phần hoàn thiện pháp luật về thuế TNDN thông qua việc phân tích đánh giá các quy định của pháp luật và tìm hiểu thực tiễn quá trình thực thi pháp luật thuế TNDN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Luận văn làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế TNDN và khái niệm pháp luật thuế TNDN cũng như chỉ ra sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc thu và nộp thuế TNDN Luận văn cũng phân tích khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật TNDN

Trang 11

- Luận văn nghiên cứu về những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật thuế TNDN từ đó chỉ ra nguyên nhân dẫn tới những khó khăn và những tồn tại trong quá trình thực thi pháp luật thuế TNDN

- Từ những thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNDN trên địa bàn Bắc Ninh, luận văn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế TNDN hiện nay và các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế TNDN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Dựa trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu khu trú vào các nội dung cụ thể sau đây:

- Quy định hiện hành của pháp luật về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

- Quy định của các văn bản hướng dẫn thi hành của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

- Thực tiễn thi hành pháp luật về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh

- Về thời gian: Từ năm 2015 đến nay

- Về đối tượng nghiên cứu: Các quy định hiện hành về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Như nhiều công trình khoa học pháp lý khác, đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng

và một số vấn đề lý luận có liên quan

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản khác tùy thuộc vào từng nội dung cụ thể như phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ các quy định của pháp luật về thuế TNDN Phương pháp phân tích được sử dụng nhằm phân tích đánh giá một số điều luật cụ thể; phương pháp thống kê các số liệu về thuế TNDN trên địa bàn Bắc Ninh Các phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu đề tài được

xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau góp phần hoàn thiện hơn nữa vấn đề "Pháp

luật thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Ninh"

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp và pháp luật thuế Thu

nhập doanh nghiệp

Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại tỉnh

Bắc Ninh

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 13

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế thu nhập gồm có thuế TNDN và thuế thu nhập cá nhân Thuế TNDN hay còn gọi là thuế thu nhập công ty xuất hiện khá sớm trong lịch sử phát triển của thuế, ra đời bắt nguồn từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội và nhu cầu tài chính của nhà nước Do đó, thuế TNDN tác động lớn tới sự phân phối thu nhập, tiền lương, tác động đến khả năng khai thác, thu hút vốn đầu tư, tác động tới việc di chuyển vốn và có thể làm thay đổi cơ cấu kinh tế… Chính vì vậy, Chính phủ của các quốc gia luôn quan tâm và hướng tới việc hoàn thiện loại thuế này Trên thế giới ngày nay, ở các nước phát triển, thuế TNDN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo và ổn định nguồn thu NSNN và thực hiện phân phối thu nhập Ở Việt Nam, thuế thu nhập cũng được phân chia thành hai loại là thuế TNDN và thuế thu nhập cá nhân Vậy thuế TNDN được hiểu là gì?

Để đưa ra khái niệm thuế TNDN, trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu "thuế

thu nhập" là gì?

Xét về khía cạnh kinh tế, thu nhập là chỉ một bộ phận tài sản tăng thêm trong một thời gian nhất định Tuy nhiên, thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định như: thu nhập của một cá nhân, thu nhập của một doanh nghiệp, thu nhập của một quốc gia…

Xét về khía cạnh pháp lý, không phải toàn bộ thu nhập phải chịu thuế mà thu nhập chịu thuế là thu nhập thực tế phát sinh, tức là thu nhập nhận được sau khi

đã trừ đi các chi phí

Như vậy, có thể hiểu thu nhập là khoản thu dưới dạng tiền tệ hoặc hiện vật của các tổ chức hoặc cá nhân nhận được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ,

Trang 14

từ lao động, từ quyền sở hữu, quyền sử dụng về tài sản, tiền vốn mà có hoặc các khoản thu nhập khác mà xã hội dành cho trong một thời kỳ nhất định thường là một năm

Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các tổ chức và cá nhân nhưng không phải toàn bộ thu nhập của các thể nhân và pháp nhân đều là đối tượng đánh thuế thu nhập, mà thuế thu nhập điều chỉnh hay thu trên phần thu nhập chịu thuế tức là khoản thu nhập sau khi đã được miễn trừ chi phí hợp lý, hợp lệ

Từ đó, chúng ta có thể hiểu: Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh trực

tiếp vào thu nhập của các doanh nghiệp

1.1.2 Đặc điểm của thuế thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế TNDN ngoài những đặc điểm chung của thuế là có tính cưỡng chế, tính pháp lý cao và là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp thì còn có

một số đặc điểm riêng, cụ thể là:

Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của

doanh nghiệp, có tính chất điều tiết sản xuất, kinh doanh Tính chất trực thu được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế Đặc điểm

của tính trực thu là việc đánh thuế có tính đến khả năng của người nộp thuế

Thứ hai, thuế TNDN là loại thuế đánh vào thu nhập chịu thuế (hay là lợi

nhuận) của các doanh nghiệp Thu nhập chịu thuế TNDN được xác định là thu nhập

từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ khoản chi phí được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, hàng hóa đó Để xác định chính xác thu nhập chịu thuế và đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế TNDN cần có sự thống nhất giữa cách xác định thu nhập chịu thuế Một số nhà kinh tế đưa ra quan điểm đánh thuế TNDN đối với toàn bộ thu nhập của nhà đầu tư đó là thu nhập bằng tiền mặt và cả phần lãi vốn đầu tư1 Về lý thuyết, quan điểm này có thể chấp nhận

và đảm bảo công bằng giữa các doanh nghiệp Nhưng thực tế, để có thu nhập giống

1 Trường đại học Luật Hà Nôi (2004), Các quy định pháp luật hiện hành về thuế giá trị gia tăng,

thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp và kế toán doanh nghiệp, Nxb Lao động - xã

hội, Hà Nội

Trang 15

nhau thì mỗi chủ thể tạo ra thu nhập lại có chi phí khách quan khác nhau như chi phí tiền lương, chi phí quản lý, chi phí khắc phục rủi ro hoặc khó có thể xác định được số thu nhập sẽ hình thành trong tương lai Nên nếu dựa vào thu nhập hoàn chỉnh để làm cơ sở đánh thuế thì nguyên tắc công bằng không được đảm bảo và không khả thi Do đó, thu nhập chịu thuế phải được xác định trong những trường hợp cụ thể, phải được xác định trên sơ sở doanh thu của doanh nghiệp và các khoản

chi phí gắn liền với quá trình tạo ra doanh thu

Mức động viên vào NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn (theo số tuyệt đối) doanh nghiệp có thu

nhập thấp

Thứ ba, thuế TNDN áp dụng mức thuế suất thống nhất Bản chất đặc trưng

của loại thuế trực thu là Nhà nước điều tiết một cách trực tiếp lên thu nhập của đối tượng nộp thuế Vì vậy, một trong những nguyên tắc khi ban hành chính sách thuế đối với loại thuế này là nguyên tắc "công bằng" - công bằng theo chiều dọc và chiều ngang Về chiều ngang, bất kể doanh nghiệp nào kinh doanh bất kỳ hình thức nào nếu có thu nhập chịu thuế thì đều phải nộp thuế TNDN Về chiều dọc, cùng một ngành nghề không phân biệt quy mô kinh doanh nếu có thu nhập chịu thuế thì đều phải nộp thuế TNDN Với mức thuế suất thống nhất, doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn (theo số tuyệt đối) đối với doanh nghiệp có thu nhập thấp Do đó, trong chính sách thuế TNDN luôn tồn tại nhiều mức thuế suất, nhưng trong đó mức thuế suất áp dụng phổ biến cho hầu hết các đối tượng nộp thuế là mức thuế chính hay còn gọi là thuế suất phổ thông

1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp

Thứ nhất, thuế TNDN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội

Một trong những vai trò của thuế TNDN là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội Thuế TNDN được áp dụng cho các loại

Trang 16

hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thể hiện sự bình đẳng, công bằng

về chiều ngang và chiều dọc (như đã phân tích ở trên) Trong chính sách thuế TNDN, Nhà nước đã thiết kế đối tượng điều tiết khác nhau với các mức thuế suất và chế độ ưu đãi khác nhau Do vậy chính sách thuế đã tác động mạnh mẽ đến cung cầu các loại nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hóa, dịch vụ khác nhau để điều chỉnh quá trình phân phối các yếu tố đầu vào của các lực lượng thị trường và điều chỉnh quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Sự bình đẳng của chính sách thuế sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có năng suất cao dẫn đến thu nhập cao hơn Từ đó kích thích các doanh nghiệp đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh để có thu nhập cao một cách chính đáng Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế thị trường, khi kinh tế càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội càng phân hóa rõ rệt Nhà nước sử dụng thuế TNDN làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của chủ thể kinh doanh vào NSNN công bằng, hợp lý

Thứ hai, thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của NSNN

Thuế TNDN là loại thuế trực thu và khoản thu từ loại thuế này chiếm một

tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN, đặc biệt đối với các nước phát triển khi mà tỷ trọng thuế thu nhập đối với các nước phát triển thường ở mức trên 50% Theo quy luật chung, khi trình độ kinh tế càng phát triển thì thuế thu nhập ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng số thu về thuế Điều này được thể hiện bởi phạm vi áp dụng của thuế TNDN là tương đối rộng, bao quát các nguồn thu từ các đối tượng nộp thuế tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại thu nhập ở mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn Mặt khác, cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh doanh ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng được nâng cao, tích lũy nội bộ của doanh nghiệp ngày càng nhiều sẽ tạo nguồn thu

về thuế TNDN cho ngân sách quốc gia ngày càng lớn Thực tế chứng minh, hầu hết các nước phát triển loại thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN và ngược lại các nước có thu nhập quốc dân và thu nhập bình quân đầu người thấp thì

Trang 17

thuế gián thu thường chiếm tỷ trọng lớn Ở Việt Nam, tỷ trọng thuế TNDN trong tổng số thu NSNN năm năm 2016 là 54,14%, năm 2017 là 62,59% Cùng với xu hướng phát triển kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh tế ngày càng được mở rộng hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ tạo ra nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN

Thứ ba, thuế TNDN là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước

Bằng các quy định pháp luật thuế TNDN, Nhà nước thể hiện sự quan tâm đúng mức đối với các doanh nghiệp nộp thuế, đồng thời góp phần chia sẻ với doanh nghiệp gánh nặng thuế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh Thông qua chính sách miễn, giảm, ưu đãi thuế TNDN tác động đến quá trình thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế các vùng miền và giữa các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào những ngành, sản phầm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, dịch vụ chất lượng cao, lĩnh vực xã hội hóa, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn… phù hợp với mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước Thuế TNDN còn có tác động lớn tới hình thành vốn phát triển sản xuất kinh doanh Vốn của doanh nghiệp hàng năm được bổ sung từ nhiều nguồn, song trong đó một bộ phận rất quan trọng là từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Quy mô vốn bổ sung từ lợi nhuận lớn hay nhỏ là phụ thuộc trước hết vào quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh hàng năm Tăng quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp có thể thực hiện thông qua nhiều cách, song quan trọng nhất là tăng quy mô lợi nhuận thông qua mở rộng sản xuất kinh doanh; tăng quy mô lợi nhuận thông qua việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng quy mô lợi nhuận thông qua việc giảm điều tiết thu thuế TNDN của Nhà nước Trong các phương thức tăng quy mô vốn của doanh nghiệp này thì việc hạ thấp mức động viên thuế TNDN là thuộc chủ trương

Trang 18

của Nhà nước Chính phủ thực hiện giảm thuế TNDN sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng nhanh tích lũy và tích tụ vốn Như vậy, việc thay đổi chính sách thuế TNDN sẽ tác động ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ tích lũy vốn, do đó tác động đến quá trình tái cơ cấu đầu tư, tác động đến mức độ tăng trưởng và cơ cấu nền kinh tế

Thứ tư, thuế TNDN còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định

Việc điều tiết kinh tế của thuế TNDN gắn liền với vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Qua đó, thuế TNDN thể hiện các vai trò chủ yếu sau:

(i) Nhà nước ban hành một hệ thống pháp luật về thuế TNDN áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển Qua đó kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung phù hợp với lợi ích xã hội Như vậy, trong cùng một hành lang pháp lý như nhau, các doanh nghiệp sản xuất cùng một mặt hàng như nhau, cùng bán trên thị trường như nhau nếu cơ sở sản xuất càng hạ thấp giá thành sản phẩm, càng thu được nhiều lợi nhuận thì càng phát triển mạnh và ngược lại thì các doanh nghiệp sẽ càng dễ dẫn đến tình trạng phá sản

(ii), Vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế TNDN còn được thể hiện ở vai trò điều chỉnh chu kì nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, sự phát triển của nền kinh tế theo chu kỳ là điều không thể tránh khỏi Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định, nhà nước đã sử dụng thuế TNDN như là công cụ để điều chỉnh quá trình đó Nhà nước có thể hạ thấp mức thuế suất, tạo ra những điều kiện ưu đãi về thuế thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng đầu tư và mở rộng sản xuất để nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng nhanh chóng Ngược lại, Nhà nước có thể tăng thuế, thu hẹp đầu tư, Nhà nước có thể giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đặt ra nếu trong thời kỳ phát triển quá mức nền kinh tế có nguy cơ dẫn đến sự mất cân đối

Trang 19

(iii) Thuế TNDN là một trong những công cụ để Nhà nước điều chỉnh cơ cấu vùng, ngành kinh tế hợp lý

Để khuyến khích đầu tư Nhà nước ban hành một mức thuế suất hợp lý và quy định miễn, giảm thuế TNDN vào các ngành nghề, các lĩnh vực, các vùng mà nhà nước cần tập trung khuyến khích đầu tư nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế theo vùng, ngành hợp lý Qua đó, Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển của các ngành quan trọng nhất, giữ vững vị trí then chốt trong nền kinh tế hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa các ngành nghề thông qua chính sách thuế TNDN

1.2 Khái quát về pháp luật điều chỉnh thuế thu nhập doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Pháp luật thuế TNDN là một bộ phận của pháp luật thuế, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chủ thể nộp thuế TNDN nhằm điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế giữa các doanh nghiệp, nhà đầu tư có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong xã hội với nhà nước Việt Nam

Những quy định về nội dung của pháp luật thuế TNDN thực chất là những quy định nhằm xác định ai là người nộp thuế TNDN và mức thuế mà họ phải nộp cho Nhà nước là bao nhiêu Những quy định này liên quan đến chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế và thường được quy định rất đầy đủ, chi tiết trong luật thuế TNDN Những quy định về chủ thể nộp thuế TNDN và đối tượng chịu thuế TNDN có nhiệm vụ phải xác định rõ ai là người nộp thuế và đối tượng chịu thuế là gì Các quy định này quan trọng đến mức nếu không cụ thể, rõ ràng và hợp

lý thì có thể khiến cho Luật thuế kém tính khả thi và thậm chí là có thể trở thành phản tác dụng Những quy định về căn cứ tính thuế TNDN có nhiệm vụ xác định rõ các chủ thể nộp thuế TNDN phải nộp số tiền thuế là bao nhiêu cho Nhà nước Những quy định này chỉ rõ các yếu tố cần và đủ để xác định mức thuế cụ thể cho một chủ thể nộp thuế, khi xảy ra sự kiện làm phát sinh nghĩa vụ thuế Căn cứ tính thuế sẽ bao gồm thu nhập tính thuế và thuế suất Yếu tố thuế suất thể hiện rõ nhất

Trang 20

thái độ của Nhà nước trong việc tạo nguồn thu ngân sách và điều tiết bằng công cụ thuế đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh

Ngoài ra, pháp luật thuế TNDN còn quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện hệ thống thuế TNDN Bao gồm các quy định về đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, truy thu và hoàn thuế và các quy định về thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế TNDN

1.2.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc thu và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển Năm

2006, Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từ đây mở

ra một hướng đi mới, một hướng phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam Kinh tế phát triển đòi hỏi phải có một thể chế pháp luật đi kèm phù hợp với tình hình phát triển chung của nền kinh tế Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: "Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ, bảo đảm môi trường thuận lợi, khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh"

Đối với một doanh nghiệp, nguồn vốn giữ vai trò quan trọng trong việc sản xuất, đầu tư và mở rộng quy mô doanh nghiệp, do đó số thuế TNDN phải nộp gián tiếp quyết định quy mô nguồn vốn tái đầu tư của doanh nghiệp trong những chu kỳ kinh doanh sau Đặc biệt, với môi trường thể chế và kinh tế chưa hoàn chỉnh như ở Việt Nam hiện nay, cùng với quy mô hoạt động của doanh nghiệp càng lớn thì rủi

ro gian lận về thuế sẽ càng lớn Rủi ro trong gian lận thuế đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: không tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật thuế; chính sách thuế chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội; công tác quản lý thuế còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ; sự hiểu biết của người dân về chính sách thuế còn hạn chế; công tác kiểm soát hệ thống thanh toán trung gian và hệ thống chứng từ còn yếu kém Doanh nghiệp có nhiều hình thức để gian lận về số thuế TNDN phải nộp như: giấu bớt doanh thu tính thuế; kê khai những khoản chi phí bất hợp lý vào chi phí được trừ; sử

Trang 21

dụng hóa đơn, chứng từ giả; thực hiện chế độ kế toán không thống nhất trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp,… Để hạn chế, giảm thiểu và ngăn chặn nguy cơ này, đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng, lành mạnh thì cần có quy phạm pháp luật buộc các chủ thể có nghĩa vụ phải nộp thuế TNDN vào NSNN đồng thời có các

biện pháp xử lý, xử phạt, chế tài áp dụng đối với hành vi trốn thuế

Nhà nước bằng pháp luật thuế TNDN đưa ra các giới hạn "hành lang", thiết lập các "hàng rào pháp lý" để các chủ thể có được sự tự do trong khuôn khổ Hiện nay ở Việt Nam pháp luật về thuế về cơ bản là một trong các lĩnh vực phức tạp, có rất nhiều các nghị định, thông tư cụ thể để hướng dẫn áp dụng Tuy nhiên, việc có quá nhiều nghị định, thông tư, văn bản pháp luật hướng dẫn về Thuế TNDN giống

như "con dao hai lưỡi", một mặt quy định được pháp luật bổ sung, thay đổi liên tục

đáp ứng yêu cầu của sự phát triển không ngừng của xã hội đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp được thành lập ngày một nhiều và khó kiểm soát, mặt khác, việc

có quá nhiều văn bản hướng dẫn dẫn đến sự chồng chéo và mâu thuẫn trong pháp luật, dẫn đến việc hình thành các lỗ hổng pháp luật khiến cho nhiều doanh nghiệp dựa vào các lỗ hổng đó để có hành vi lách luật

1.2.3 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Luật Thuế lợi tức lần đầu tiên đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30/6/1990 có hiệu lực thi hành ngày 01/10/1990, theo đó tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có lợi tức từ các hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ

và hoạt động kinh doanh khác trên lãnh thổ Việt Nam (gọi chung là cơ sở kinh doanh) đều phải nộp thuế lợi tức theo quy định của Luật này

Sau 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới Vì vậy, Luật thuế TNDN đã được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền

Trang 22

kinh tế trong giai đoạn mới của đất nước Luật thuế TNDN lần đầu tiên được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức, theo đó tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (dưới đây gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu nhập đều phải nộp thuế TNDN, trừ đối tượng quy định tại Điều 2 của Luật này

Sau gần 5 năm thực hiện, Luật này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần phải được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thực tế lúc bấy giờ Do đó, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật thuế TNDN (sửa đổi) năm 2003 Mục tiêu của lần sửa đổi này là: Thống nhất điều chỉnh giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, tiếp tục ưu đãi theo hướng thuận lợi hơn trước nhằm tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn hơn, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đảm bảo nguồn thu cho NSNN

Qua 4 năm thực hiện, Luật thuế TNDN (sửa đổi) năm 2003 đã đạt được mục tiêu sửa đổi đề ra và đánh dấu bước ngoặt quan trọng về cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh, đồng thời đảm bảo nguồn động viên nhằm đáp ứng nhu cầu chi NSNN cho phát triển và bảo vệ đất nước Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện và trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới, Luật thuế TNDN năm 2003 đã bộc lộ một số hạn chế, tồn tại như sau:

Thứ nhất, mức thuế suất 28% tuy phù hợp với tình hình thực tế khi ban

hành nhưng chưa thực sự cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài do các nước trong khu vực đã có sự điều chỉnh giảm;

Thứ hai, ưu đãi thuế TNDN còn dàn trải, phức tạp, chưa phát huy hiệu quả

phân bổ nguồn lực trong đầu tư để đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế theo vùng

và lãnh thổ, nhất là thu hút đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

Thứ ba, căn cứ tính thuế (bao gồm thu nhập chịu thuế, chi phí được trừ và

không được trừ) chưa thực sự minh bạch, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế;

Trang 23

Thứ tư, một số nội dung đã được điều chỉnh bởi các luật khác như Luật

quản lý thuế, Luật thuế thu nhập cá nhân

Do vậy, để phát huy hơn nữa những ưu điểm của thuế TNDN cần thiết phải sửa đổi Luật thuế TNDN hiện hành, khắc phục những tồn tại nêu trên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đến năm 2008, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế TNDN mới thay thế Luật Thế TNDN 2003 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2009) thể hiện một bước tiến mới trong cải cách pháp luật thuế với những thay đổi căn bản và quan trọng Việc ban hành Luật Thuế TNDN mới này đã góp phần củng cố chính sách về thuế của nước ta nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển hiện nay Luật thuế TNDN năm 2008 đã góp phần hoàn thiện khung pháp luật thuế TNDN, cải thiện môi trường đầu tư theo hướng mở rộng hơn nữa cho các nhà đầu tư nước ngoài và tạo

cơ sở vững chắc cho việc bổ sung nguồn NSNN trong giai đoạn hiện nay Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN; Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN và Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ; và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008, Nghị định số 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật thuế TNDN

Trong gian gần đây, Việt Nam đã và đang có những bước đột phá trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là kinh tế, số lượng doanh nghiệp ngày một tăng, loại hình kinh doanh, quan hệ phát sinh trong hoạt động kinh doanh cũng ngày một đa dạng Nắm bắt được tình hình đó, Nhà nước ta cũng đã tiến hành sửa đổi pháp luật thuế TNDN cho phù hợp, điều chỉnh được những quan hệ pháp luật thuế mới phát sinh

Cụ thể, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế

Trang 24

TNDN số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013; Luật sửa đổi các Luật về thuế số 71/2014/QH13; cùng với đó là những văn bản dưới luật ra đời để hướng dẫn luật

là Nghị định 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN sửa đổi và Thông tư 78/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ-CP; và Luật sửa đổi Những quy định này phần nào đã giải quyết được những vướng mắc khi thi hành pháp luật thuế TNDN cũ Tuy nhiên, vẫn còn những thiếu sót, và những dự liệu tương lai mà pháp luật thuế TNDN cần tiếp tục được hoàn thiện

1.2.4 Nội dung của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay

a Người nộp thuế TNDN

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật thuế TNDN 2008 và Khoản 1 Điều

2 Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN như sau: “Người nộp thuế TNDN là tổ chức

hoạt động, sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế ( sau đây gọi là doanh nghiệp)…”

b Phương pháp tính thuế TNDN

Căn cứ Điều 11 Luật thuế TNDN hiện hành quy định số thuế TNDN phải

nộp trong kỳ tính thuế bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất

Kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính (trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch), trừ trường hợp quy định áp dụng kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập

- (Thu nhập được

miễn thuế

+ Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định)

Xác định thu nhập chịu thuế

Trang 25

Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật thuế TNDN hiện hành quy định về

thu nhập chịu thuế như sau: “ Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ các khoản

chi được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh cộng thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được ở ngoài Việt Nam”

Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế được xác định như sau:

Thu nhập

chịu thuế

= (Doanh thu - Chi phí được trừ) + Các khoản thu nhập

khác

Xác định doanh thu tính thuế TNDN

Doanh thu để tính thuế TNDN là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng (không bao gồm thuế GTGT nếu cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; bao gồm cả thuế GTGT nếu cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp) không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền

Căn cứ để xác định doanh thu là hóa đơn bán hàng Tùy theo đối tượng là hàng hóa hay dịch vụ mà thời điểm xác định doanh thu có quy định khác nhau

Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

TNDN

Các khoản chi được trừ là những chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ tính thuế có liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà theo quy định của luật thuế được phép trừ khỏi doanh thu để tính thu nhập chịu thuế

Về nguyên tắc các khoản chi phí được trừ phải có các đặc trưng sau:

+ Chi phí phải liên quan đến doanh nghiệp hay nói cách khác các chi phí phải được chi ra cho các mục đích tạo ra thu nhập chịu thuế

+ Chi phí được chi ra phải là có thật

+ Mức trả cho chi phí phải hợp lý

Trang 26

+ Chi phí phải có tính “thu nhập” hơn là tính vốn Chi phí mang tính chất vốn là những khoản chi liên quan đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp Chi phí mang tính chất thu nhập là những khoản chi phí liên quan trực tiếp đến tạo ra thu nhập

Quy định về các khoản chi không được trừ, Luật thuế TNDN hiện hành liệt

kê các khoản chi không được trừ khi tính vào thu nhập chịu thuế

Thu nhập khác

Thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà các khoản thu nhập này không thuộc các ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh có trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, Luật thuế TNDN hiện hành liệt

kê các khoản thu nhập được miễn thuế khi xác định thu nhập chịu thuế

Thuế suất thuế TNDN

Hiện nay, luật thuế TNDN quy định thuế suất thuế TNDN phổ thông áp dụng từ ngày 01/01/2016 là 20%;

Thuế suất thuế TNDN đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam từ 32% đến 50%;

Ngoài ra, còn các trường hợp được áp dụng thuế suất ưu đãi khác: 10%, 15%, 17% (trước năm 2016 là 20%) theo quy định của pháp luật thuế TNDN

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:

Từ việc nghiên cứu các khái niệm, đặc điểm về thuế TNDN, và nội dung của pháp luật về thuế TNDN, có thể nhận thấy bản chất thuế TNDN là một loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào kết quả, lợi nhuận mà người nộp thuế thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh Do vậy, công tác quản lý thu và nộp thuế TNDN rất khó

và phức tạp vì nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Hiện nay, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách pháp luật nhằm nâng cao tính hiệu quả trong công tác công tác thu và nộp thuế TNDN Tuy nhiên, để đánh giá được tính hiệu quả của những chính sách pháp luật này, cần xem xét tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn Chương 2 của luận văn sẽ phân tích, đánh giá kĩ hơn về tính thực tiễn thi hành của các quy định pháp luật về thuế TNDN

Trang 28

Chương 2 THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

TẠI TỈNH BẮC NINH 2.1 Khái quát về tình hình thực thi pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh

2.1.1 Khái quát về công tác quản lý, thu thuế tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh

* Khái quát về Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh

Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh được thành lập theo Quyết định số 1133/QĐ/TCCB, ngày 14/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính trên cơ sở chia tách tỉnh Hà Bắc thành tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh Thời gian chính thức đi vào hoạt động của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh là từ ngày 01/01/1997 Khi mới thành lập, cơ cấu bộ máy của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh theo Nghị định 281/HĐBT ngày 07/8/1990, Thông tư số 38/TCCB ngày 25/8/1990 của Bộ Tài chính, Cục thuế Bắc Ninh có 9 phòng và 8 Chi cục thuế trực thuộc, tổng số cán bộ, công chức là 360 cán bộ

Năm 1999, Cục thuế Bắc Ninh có 8 Chi cục thuế và 9 Phòng thuộc văn phòng Cục, trong đó có Phòng quản lý doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập mới Đến năm 2004, thực hiện Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg ngày 28/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 189/2003/QĐ-BTC ngày 14/11/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính cơ cấu tổ chức của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh gồm 8 chi cục thuế và 10 phòng thuộc văn phòng Cục thuế, số cán bộ, công chức là 382 người Đến năm 2011, thực hiện Quyết định số 3218/QĐ-BTC ngày 08/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập Phòng quản lý các khoản thu từ đất thuộc Cục Thuế; Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh đã thành lập Phòng Quản lý các khoản thu từ đất và đi vào hoạt động từ ngày 15/02/2011 gồm 8 chi cục thuế và 13 phòng thuộc Văn phòng Cục thuế, số cán bộ, công chức là 491 người

Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác vào NSNN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo quy định của pháp luật Bên cạnh nhiệm vụ đảm bảo số thu cho NSNN, Cục

Trang 29

Thuế tỉnh Bắc Ninh còn phải thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác do Tổng cục Thuế giao và đảm bảo thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Theo phân cấp quản lý, Văn phòng Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh thực hiện quản

lý thu thuế của các doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp dân doanh có hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp dân doanh có quy mô kinh doanh lớn (sử dụng từ 300 lao động trở lên) Các Chi cục Thuế thực hiện quản lý thu thuế của các doanh nghiệp dân doanh nhỏ và chủ yếu là quản lý thu của các hộ cá thể

Cục Thuế thực hiện nhiệm vụ quyền hạn trách nhiệm theo quy định của Luật Quản lý thuế, các luật thuế, các quy định pháp luật có liên quan khác và các nhiệm vụ quyền hạn cụ thể sau đây:

- Tổ chức, chỉ đạo hướng dẫn và triển khai thực hiện thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, quy trình nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn tỉnh, thành phố

- Phân tích, tổng hợp, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương về lập dự toán thu NSNN, về công tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm

vụ được giao

- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế: đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xóa nợ thuế, tiền phạt, lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo quy định của pháp luật thuế; đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào NSNN

- Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin

về người nộp thuế

Trang 30

- Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế theo mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động, công khai hóa thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ quản lý thuế và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi phục vụ cho người nộp thuế thực hiện chính sách, pháp luật về thuế

- Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính sách thuế của Nhà nước; hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật

- Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao, các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trực tiếp thực hiện việc quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế theo quy định của pháp luật và các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế

- Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra các Chi cục Thuế trong việc tổ chức triển khai nhiệm vụ quản lý thuế

- Trực tiếp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn, giảm thuế nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách pháp luật về thuế đối với người nộp thuế; tổ chức và cá nhân quản lý thu thuế, tổ chức được ủy nhiệm thu thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Cục trưởng Cục Thuế

- Tổ chức thực hiện kiểm tra việc chấp hành nhiệm vụ, công vụ của cơ quan thuế, của công chức thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Cục trưởng Cục Thuế

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế, khiếu nại tố cáo liên quan đến việc chấp hành trách nhiệm công vụ của cơ quan thuế, công chức thuế thuộc quyền quản

lý của Cục trưởng cục thuế theo quy định của pháp luật; xử lý vi phạm hành chính

về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thuế

- Tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế quản lý biên lai, ấn chỉ thuế lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khắc phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, của Ủy ban nhân dân đồng cấp và các cơ quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Cục Thuế

Trang 31

- Kiến nghị với Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế những vấn đề vướng mắc cần sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, các quy định của Tổng cục Thuế về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý nội bộ; kịp thời báo cáo với Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về những vướng mắc phát sinh, những vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của Cục Thuế

- Quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm, hoàn thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thu tiền thuế, xóa nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật

- Được yêu cầu người nộp thuế, các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân

có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết cho việc quản lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá nhân không thực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thu thuế vào NSNN

- Được ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với người nộp thuế vi phạm pháp luật thuế

- Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghị theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế

- Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Tổ chức tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ thông tin và phương pháp quản lý hiện đại vào các hoạt động của Cục Thuế

- Quản lý bộ máy biên chế, công chức, viên chức, lao động và tổ chức đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức của Cục Thuế theo quy định của Nhà nước và của ngành thuế

- Quản lý, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế và kinh phí, tài sản được giao theo quy định của pháp luật

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế giao2

2 Điều 2 Quyết định số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15/6/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế

Trang 32

* Khái quát về công tác quản lý, thu thuế tại Cục thuế Bắc Ninh:

Thứ nhất, về công tác thu thuế

Công tác thu thuế TNDN là nhiệm vụ chuyên môn riêng biệt của ngành Thuế, giữ vai trò hết sức quan trọng vì thực hiện tốt công tác thu thuế TNDN

sẽ đảm bảo số thu cho NSNN đúng chi tiêu kế hoạch nhà nước giao cho Trên cơ sở

đó thực hiện đúng quy định của pháp luật về thuế, hạn chế việc trốn thuế, tăng cường kiểm soát, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế và đảm bảo số thuế TNDN được thực hiện đúng dự toán thu NSNN hằng năm

Nguồn thu thuế tăng nhờ chính sách thuế đã phần nào hợp lý, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển; nuôi dưỡng được nguồn thu; hệ thống quản lý thu thuế đã từng bước cải cách, hiện đại hóa, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ

về chất lượng cho đội ngũ công chức thuế, tăng hiệu quả trong quản lý thu thuế, tạo nguồn lực quan trọng phục vụ công tác đầu tư, phát triển và xóa đói, giảm nghèo

Thứ hai, về công tác quản lý thuế

Công tác quản lý thuế hướng tới các mục tiêu: thực hiện nghiêm chỉnh các luật thuế, pháp lệnh thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp đúng, nộp đủ và nộp thuế kịp thời vào NSNN; đề cao ý thức tự giác chấp hành chính sách, pháp luật về thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ về thuế, xóa bỏ những thủ tục không cần thiết gây phiền hà tốn kém cho doanh nghiệp đồng thời cải tiến thủ tục quản lý thuế, phân công, phân nhiệm rõ ràng, chuẩn hóa dần công tác quản lý thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý thuế, nâng cao chất lượng làm việc của đội ngũ cán bộ thuế Thông qua những hoạt động cải cách thủ tục hành chính thuế, môi trường kinh doanh của tỉnh Bắc Ninh trở nên minh bạch, thông thoáng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, từng bước đưa kinh tế tỉnh Bắc Ninh phát triển bền vững Cụ thể:

GDP tỉnh Bắc Ninh năm 2017 ước đạt 162 nghìn tỷ đồng, tương đương 7,3 tỷ USD, chiếm 3,2% GDP cả nước; xếp thứ 4/63 tỉnh, thành phố (sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Bà Rịa - Vũng Tàu) GRDP bình quân đầu người đạt 134,1 triệu

Trang 33

đồng, tương đương 6.027 USD, gấp 2,4 lần bình quân chung cả nước (2.385 USD)

và xếp thứ 2/63 tỉnh, thành phố (sau Bà Rịa - Vũng Tàu) Sản xuất công nghiệp tạo được bước đột phá mới đưa Bắc Ninh trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp điện

tử công nghệ cao của cả nước Theo giá hiện hành, giá trị sản xuất năm 2017 ước đạt 1.082 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,3% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước và xếp thứ 2/63 tỉnh, thành phố (sau Thành phố Hồ Chí Minh) Tính đến 31/12/2017, Bắc Ninh thu hút được 192 dự án mới và điều chỉnh tăng vốn cho 115 dự án với tổng vốn đăng ký sau điều chỉnh đạt 3.302 triệu USD Lũy kế đến năm 2017, đã có 33 nước

và vùng lãnh thổ đầu tư vào Bắc Ninh với tổng số 1.144 dự án và 15.733 triệu USD vốn đăng ký, xếp thứ 5/63 tỉnh/thành phố về dự án và xếp thứ 6/63 tỉnh, thành phố

về vốn đăng ký Trong năm, các dự án FDI đã giải ngân và thực hiện vốn đầu tư đạt 91.666 tỷ đồng (tương đương 4,13 tỷ USD), chiếm 77% tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh3 Những nỗ lực mà Cục Thuế thành phố tỉnh Bắc Ninh thực hiện góp phần quan trọng trong việc duy trì mức tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua

2.1.2 Khái quát về hoạt động kê khai, nộp thuế của các doanh nghiệp thành lập và hoạt động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bắt đầu từ năm 2004, Việt Nam bắt đầu thí điểm cơ chế "cơ sở kinh doanh

tự khai, tự nộp thuế" và được triển khai rộng trên địa bàn cả nước từ năm 2007, theo

cơ chế này đối tượng nộp thuế tự giác tuân thủ các nghĩa vụ thuế, căn cứ các quy định tại các luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế, kê khai chính xác, nộp tờ khai và nộp thuế đúng hạn, cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế nếu đối tượng nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế và thông qua công tác thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi gian lận, trốn thuế của đối tượng nộp thuế

3 Cục thống kê Bắc Ninh (2017), 10 điểm nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, Bắc Ninh, tr 2

Trang 34

- Về hoạt động kê khai thuế: Công tác kê khai là một nội dung quan trọng trong quản lý thuế, là nguồn dữ liệu đầu vào để xác định, theo dõi và phục vụ công tác quản lý thu ngân sách được chặt chẽ, đúng đối tượng Thời gian qua, Cục Thuế tỉnh tăng cường đôn đốc người nộp thuế bổ sung các thông tin đăng ký thuế một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời Tăng cường kiểm tra rà soát tình hình kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân, đảm bảo người nộp thuế nộp tờ khai đúng hạn, chất lượng tờ khai đảm bảo, phát hiện kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp để có các biện pháp chấn chỉnh, xử phạt Thực hiện công khai thông tin rủi ro của người nộp thuế trong các trường hợp không kê khai thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng và trang thông tin điện tử của ngành Tích cực hướng dẫn người nộp thuế kịp thời thực hiện việc kê khai thuế qua mạng

và nộp thuế điện tử Tập trung nâng cao chất lượng hiệu quả công tác kế toán thuế Thực hiện đúng, đầy đủ, kết xuất các báo cáo kế toán theo quy định, đảm bảo đúng thời gian gửi báo cáo về Tổng cục Thuế Xử lý kịp thời những sai sót khi người nộp thuế lập nộp tiền thuế sai chương, tiểu mục vào ngân sách Công tác kiểm tra đã phát hiện và xử phạt kịp thời các trường hợp kê khai chậm, không nộp

tờ khai

Cục Thuế Bắc Ninh cũng đã phát động nhiều phong trào thi đua và giao chỉ tiêu cụ thể cho các chi cục thuế, phòng kiểm tra thuế, hàng quý; đánh giá kết quả triển khai khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử hàng tháng Do vậy, kết quả triển khai luôn ở vị trí đứng đầu toàn quốc và hoàn thành nhiều chỉ tiêu thi đua với kết quả đạt khá cao

- Về hoạt động nộp thuế của doanh nghiệp: Doanh nghiệp thực hiện theo cơ

chế tự khai, tự nộp thuế dẫn đến tính tuân thủ tự giác trong kê khai thuế còn hạn chế, trốn thuế TNDN ngày càng phổ biến dưới nhiều hình thức tinh vi, khó phát hiện Cụ thể: 6 tháng đầu năm 2017, số nợ thuế của toàn đơn vị tăng 75 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2016 Tính đến hết tháng 6 năm 2017, tổng số nợ trên địa bàn ước khoảng 480 tỷ đồng, tỷ lệ nợ đọng chiếm là 3,3% tổng thu ngân sách, cùng kỳ

Trang 35

2016 là 3,85%4 Nguyên nhân tăng nợ chủ yếu do các khoản tiền phạt và tiền chậm nộp, tiền thuế nợ không có khả năng thu và chủ yếu tăng của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh Ngoài ra, yếu tố chính sách, nhận thức của doanh nghiệp, thay đổi về cơ chế dẫn đến hoạt động của doanh nghiệp có xáo trộn, doanh nghiệp cố tình vi phạm, các biện pháp truy thu của cơ quan quản lý thuế chưa hiệu quả Trong

đó, một trong những nguyên nhân chính là ý thức chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp Bởi khi doanh nghiệp đã cố tình trốn thuế, việc thu đòi nợ thuế sẽ gặp nhiều khó khăn Trong khi đó, việc thực hiện cưỡng chế theo trình tự quy định của Luật Quản lý thuế còn phức tạp, khó thực hiện Để ngăn chặn hiệu quả tình trạng doanh nghiệp nợ thuế cũng như giải quyết việc nợ đọng thuế, nợ khó đòi, bên cạnh nỗ lực của các cơ quan thuế, thì vấn đề tiên quyết là cần có sự thay đổi từ chính sách pháp luật

2.2 Những kết quả đạt được trong quá trình thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh

về các khoản thu, năm 2017, có 8/11 khoản thu, sắc thuế ngành Thuế Bắc Ninh thực hiện hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán là: Thu từ doanh nghiệp có vốn

4 Cục thuế Bắc Ninh (2017), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế 6 tháng đầu năm 2017, Bắc Ninh, tr 4.

Trang 36

đầu tư nước ngoài đạt 103% dự toán, tăng 28% so với cùng kỳ; thu từ khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 121% dự toán, tăng 31% so với cùng kỳ5

Sáu tháng đầu năm 2018, thuế TNDN thu nộp được cho ngân sách tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2017 Cụ thể, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 54% dự toán, tăng 16%; thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương đạt 52% dự toán, tăng 24%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 139% dự toán, tăng 85%; thu từ khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 57% dự toán, tăng 19% Một số doanh nghiệp điển hình có số nộp ngân sách đạt khá là: Nhà máy Sữa Tiên Sơn nộp 230 tỷ đồng; Công ty Đô thị Kinh Bắc nộp 130 tỷ đồng; Công ty thuốc lá Bắc Sơn nộp 145 tỷ đồng; Công ty CP Tập đoàn Dabaco nộp 60 tỷ đồng; Chi nhánh Công ty Rượu cồn Tỉnh Bắc Ninh nộp 58 tỷ đồng; Công ty cổ phần Công nghệ thực phẩm châu Á nộp 25 tỷ đồng;… Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp FDI cũng đóng góp khá cho ngân sách như: Công ty Unilever nộp 94 tỷ đồng; Công ty Vsip Bắc Ninh nộp 95 tỷ đồng Số nộp thuế nhà thầu của Công ty Samsung Display Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2018, tăng so với cùng kỳ là 400 tỷ đồng, do cuối năm 2017 đơn vị này đầu tư nhập máy móc thiết bị của dự án 3 nên số thuế nhà thầu nộp tăng6

Thứ hai, về kê khai, kế toán thuế

Công tác kê khai và kế toán thuế của các cơ quan quản lý thuế tại tỉnh Bắc Ninh đã được triển khai thực hiện và kết quả đạt được luôn ở vị trí hàng đầu toàn quốc và hoàn thành nhiều chỉ tiêu thi đua Cụ thể: 3 tháng đầu năm 2018, tổng số các loại tờ khai thuế tiếp nhận đạt 96,7% trên tổng số tờ khai phải nộp Cụ thể, số tờ khai đã nộp là 30.361 tờ trên 31.404 tờ khai phải nộp; tỷ lệ tờ khai nộp đúng hạn trên tờ khai đã nộp đạt 94,1%; tỷ lệ tờ khai chưa nộp là 3,3% trên tổng số hồ sơ khai thuế phải nộp.Tính đến hết quý I năm 2018, tỷ lệ doanh nghiệp nộp hồ sơ khai thuế qua mạng so với tổng số doanh nghiệp đang hoạt động do Cục Thuế Bắc Ninh quản

5 Cục thuế Bắc Ninh (2017), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế năm

2017, Bắc Ninh, tr.1

6 Cục thuế Bắc Ninh (2018), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế 6 tháng đầu năm 2018, Bắc Ninh, tr 1

Trang 37

lý đạt 98% Cụ thể, có 10.067 doanh nghiệp thực hiện nộp hồ sơ khai thuế qua mạng trên 10.273 doanh nghiệp đang hoạt động; tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử thành công là đạt 96%; tỷ lệ chứng từ nộp thuế điện tử đạt 93%; tỷ lệ số tiền nộp thuế điện tử đạt 95%7

Như vậy, qua số liệu thống kê trên cho thấy kết quả công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát kê khai thuế, nộp thuế của cơ quan thuế và công tác hạch toán kế toán thuế TNDN của người nộp thuế đã được chú trọng và đạt được kết quả tốt, tác động tích cực đến số thu thuế TNDN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Thứ ba, về công tác hỗ trợ người nộp thuế

Giữ vai trò là cầu nối giữa cơ quan thuế và người nộp thuế, bên cạnh việc truyền tải các chính sách thuế của cơ quan thuế tới người nộp thuế, bộ phận tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế của Cục Thuế cũng tiếp nhận những phản hồi của người nộp thuế tới các cấp hoạch định chính sách để ban hành cơ chế chính sách phù hợp Vì thế, công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế là một trong nhiệm vụ quan trọng, đảm đương khối lượng công việc lớn với 03 mảng công việc chính gồm: tuyên truyền chính sách pháp luật thuế và các hoạt động của ngành thuế; công tác hỗ trợ người nộp thuế; tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch

vụ về thuế theo cơ chế "Một cửa"

Đối với công tác hỗ trợ người nộp thuế, từ năm 2014 đến nay, Cục Thuế tỉnh đã áp dụng thành công ứng dụng Hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS), trong

đó, cung cấp miễn phí phần mềm kế toán, hỗ trợ khai thuế, quyết toán thuế cho doanh nghiệp, triển khai dịch vụ kê khai thuế điện tử đến doanh nghiệp, đồng thời, phối hợp với các ngân hàng thương mại triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử để giúp doanh nghiệp, người nộp thuế tiết kiệm thời gian, chí phí Đến nay, 98% doanh nghiệp đang hoạt động thực hiện khai thuế điện tử, hơn 95% doanh nghiệp thực hiện nộp thuế điện tử8

7 Cục thuế Bắc Ninh (2018), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế 3 tháng đầu năm 2018, Bắc Ninh, tr 2

8 http://bacninh.gov.vn/news/-/details/20182/Day-manh-cong-tac-tuyen-truyen-ho-tro-cho-nguoi-nop-thue

Trang 38

Cục Thuế tỉnh tiếp tục triển khai dịch vụ khai và nộp thuế điện tử đến các

hộ sản xuất kinh doanh có sử dụng hóa đơn và các cá nhân nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký tài sản, cá nhân cho thuê tài sản Đẩy mạnh ứng dụng phần mềm khai thuế (ETAX) để doanh nghiệp dễ dàng trao đổi thông tin với cơ quan thuế, truy cập thông tin, tìm hiểu đối tác hợp pháp trên hệ thống dữ liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, để kịp thời tiếp nhận các nhu cầu cần hỗ trợ của người nộp thuế từ các cơ quan thuế và nắm bắt các phản ánh kiến nghị về thái độ tác phong của các bộ công chức thuế khi tiếp xúc thực thi nhiệm vụ với người nộp thuế, hàng năm Cục Thuế tỉnh tổ chức tuần lễ "Lắng nghe ý kiến người nộp thuế"; tổ chức 16 cuộc hội nghị đối thoại với doanh nghiệp, trả lời 342 ý kiến vướng mắc cho doanh nghiệp9 Công tác tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ về thuế theo cơ chế "Một cửa" được thực hiện nghiêm túc bài bản và có giám sát, kiểm tra của lãnh đạo đối với từng khâu từ khi nhận, thực hiện đến khi có kết quả phản hồi Nhờ vậy, hiệu quả công tác hỗ trợ ngày càng cao, mọi thông tin được truyền tải nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo người nộp thuế thực hiện đúng luật định, góp phần giảm thời gian giao dịch và số lần giao dịch của người nộp thuế với cơ quan thuế

Bên cạnh đó, Cục Thuế Bắc Ninh cũng đã hỗ trợ trực tiếp tại cơ quan thuế cho 1.198 lượt người nộp thuế; hỗ trợ bằng điện thoại cho 2.985 lượt người nộp thuế; kịp thời giải đáp 119 văn bản cho người nộp thuế theo đúng chính sách pháp luật thuế; tiếp nhận và giải quyết kịp thời cho 10.357 lượt hồ sơ liên quan đến thủ tục hành chính thuế tại bộ phận một cửa10

Thứ tư, về công tác thanh tra, kiểm tra thuế

Công tác thanh tra, kiểm tra về thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, được các cơ quan quản lý thuế đặc biệt là Cục thuế đặt lên hàng đầu nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế Cụ thể: năm 2017,

9 Xem chú thích số 8

10 Cục thuế Bắc Ninh (2017), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế năm

2017, Bắc Ninh, tr.3

Trang 39

các cơ quan quản lý thuế tỉnh Bắc Ninh đã thanh tra, kiểm tra tại 1.094 doanh nghiệp, đạt 102% kế hoạch được giao11 Ngay từ những ngày đầu năm 2018, ngành Thuế Bắc Ninh đã tiếp tục tập trung lựa chọn doanh nghiệp để đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra, theo cơ chế quản lý rủi ro Trong 3 tháng đầu năm 2018, Cục Thuế Bắc Ninh thực hiện thanh tra tại 14 doanh nghiệp, đã hoàn thành tại 9 doanh nghiệp, đang thực hiện dở dang tại 5 doanh nghiệp, đạt 16% so với kế hoạch năm, đạt 3,3% so cùng kỳ năm 2017 Thông qua công tác thanh tra, đơn vị đã ra quyết định truy thu, truy hoàn, phạt tiền chậm nộp số tiền trên 2,3 tỷ đồng; số đã nộp NSNN đạt 4,5 tỷ đồng (bao gồm cả nợ đọng của năm 2017 chuyển sang); giảm lỗ trên 17,7 tỷ đồng

Bên cạnh đó, Cục Thuế Bắc Ninh thực hiện kiểm tra tại 102 doanh nghiệp,

đã hoàn thành 96 doanh nghiệp, còn 6 doanh nghiệp thực hiện dở dang, đạt 9% so với kế hoạch năm Thông qua công tác kiểm tra, cơ quan thuế đã ra quyết định truy thu, truy hoàn, tiền phạt số thuế đạt 40,8 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2017; Số tiền đã nộp vào NSNN là 25,7 tỷ đồng (bao gồm cả nợ đọng năm 2017 chuyển sang); giảm lỗ: 29,8 tỷ đồng; giảm khấu trừ 2,1 tỷ đồng Cũng trong 3 tháng đầu năm 2018, Cục Thuế Bắc Ninh đã kiểm tra đạt 3.236 lượt hồ sơ khai thuế, trong

đó chấp nhận 3.235 hồ sơ; điều chỉnh 1 hồ sơ, số tiền thuế điều chỉnh tăng 750 triệu đồng12 Đồng thời, số thu nợ thuế đã đạt được những kết quả khả quan như: tính đến hết năm 2017, số tiền nợ thuế trên địa bàn tỉnh là 476 tỷ đồng, so với tổng số thu ngân sách trên địa bàn năm 2017 là 16.648 tỷ đồng, thì tỷ lệ nợ đọng chiếm 2,9%, dưới mức chỉ tiêu Tổng cục Thuế giao (5%), thấp hơn mức năm 2016 0,2% Trong

đó, nhóm nợ có khả năng thu (nợ đến 90 ngày và trên 90 ngày) chiếm tỷ trọng 79%, nhóm nợ khó thu chiếm tỷ trọng 21% Như vậy, năm 2017, Cục Thuế Bắc Ninh đã duy trì và đưa tỷ lệ nợ thuế về dưới 5% theo chỉ đạo của Tổng cục Thuế, thấp hơn

11 Cục thuế Bắc Ninh (2017), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế năm

2017, Bắc Ninh, tr.5

12 Cục thuế Bắc Ninh (2018), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế 3 tháng đầu năm 2018, Bắc Ninh, tr.4

Trang 40

năm 2016 (3,1%) Cũng trong năm này, toàn đơn vị thực hiện thu hồi nợ thuế đạt

221 tỷ đồng Trong đó, thu bằng biện pháp quản lý nợ đạt 206 tỷ đồng; thu bằng biện pháp cưỡng chế nợ thuế đạt 15 tỷ đồng13 Ngoài ra, Cục Thuế Bắc Ninh cũng

đã kiên quyết thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ theo quy định đối với số nợ trên 90 ngày Sáu tháng đầu năm 2017, Cục Thuế Bắc Ninh đã ra thông báo trích tài khoản của 315 doanh nghiệp, đình chỉ sử dụng hóa đơn của 50 doanh nghiệp Đồng thời, trong tổng số 146 tỷ đồng tiền nợ thuế Cục Thuế Bắc Ninh đã thu được,

có 134 tỷ đồng thu nhờ biện pháp quản lý thu và 12 tỷ đồng thu bằng biện pháp cưỡng chế nợ thuế

Kết quả đạt được sau công tác thanh tra, kiểm tra, ngoài truy thu và xử phạt

vi phạm hành chính về thuế đối với những trường hợp người nộp thuế, tính thuế không đủ, không đúng do phát hiện qua thanh tra, kiểm tra như nêu trên thì Cục Thuế Bắc Ninh lập hồ sơ chuyển cơ quan chức năng xử lý hình sự đối với các doanh nghiệp cố tình lợi dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp để gian lận, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, kết quả, năm 2017, ngành Thuế đã chuyển hồ sơ cho công an

10 vụ việc liên quan đến 11 doanh nghiệp; khởi tố 6 vụ; không khởi tố chuyển xử lý hành chính 4 vụ; Tòa án đã xét xử 2 vụ với số tiền thuế trốn trên 5,5 tỷ đồng; giám định 3 vụ với số tiền trốn thuế trên 32,3 tỷ đồng14

Ngoài ra, công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế (bao gồm cả đối chiếu chéo hóa đơn qua mạng) tại cơ quan thuế thường xuyên được chú trọng, tính đến tháng 10 năm 2017, Cục thuế Bắc Ninh đã kiểm tra đạt 11.509 lượt hồ sơ khai thuế; trong đó chấp nhận 11.489 hồ sơ, số hồ sơ chờ giải trình 15 hồ sơ, chờ điều chỉnh 17 hồ sơ Tổng số tiền thuế phải điều chỉnh tăng 927 triệu đồng, giảm khấu trừ 55 triệu đồng, giảm lỗ 5,8 tỷ đồng15

Ngày đăng: 30/07/2019, 19:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w