1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và thực tiễn tại tòa kinh tế tòa án nhân dân thành phố hà nội

97 175 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 6,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA KINH TẾ - TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 13 2.1 Những quy định pháp luật Việt Nam

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

(Định hướng ứng dụng)

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Vệ Quốc

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp của tôi với đề tài: “Pháp luật về hợp

đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và thực tiễn tại Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép

của bất cứ ai

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tôi cam đoan và sẽ chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình./

Tác giả Luận văn

Trần Thị Bích Ngọc

Trang 4

Được học tập và rèn luyện dưới môi trường chuyên nghiệp của mái trường Đại học Luật Hà Nội – cơ sở hàng đầu trong đào tạo và giảng dạy luật học, em đã tích lũy được cho mình những kiến thức quý báu cũng như phương pháp tư duy pháp lý hiệu quả Chính vì vậy, lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến toàn thể các thầy cô giáo của Trường Đại học Luật Hà Nội thân yêu, đặc biệt là những thầy cô trong khoa Sau đại học – khoa Luật kinh tế

Để có được luận văn ngày hôm nay em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sĩ Lê Vệ Quốc, người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để em có thể hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của mình

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến đội ngũ các anh chị quản lý và trông coi Trung tâm thông tin thư viện của Trường đại Luật Hà Nội đã giúp em tìm kiếm và khai thác hiệu quả các thông tin tài liệu từ Thư viện của Trường phục vụ cho Luận văn của em

Lời cảm ơn cuối cùng em xin gửi đến các anh, chị quản lý và trông coi Thư viện Quốc gia Việt Nam cũng đã hướng dẫn và hỗ trợ nhiệt tình để em có được những nguồn thông tin tài liệu vô cùng quý báu và hữu ích cho cuốn Luận văn này

Cũng qua đây, em xin gửi lời kính chúc sức khỏe, bình an, hạnh phúc và thành công đến Quý thầy cô và các anh, các chị

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

Kinh doanh thương mại KDTM

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Bảng số liệu các vụ án KDTM được giải quyết, xét xử

Bảng 2 Bảng số liệu các vụ án KDTM được giải quyết, xét xử của Tòa án kinh tế

- Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Trang 7

Trang

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP

ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

4

1.1.2 Dấu hiệu và xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại 4

1.1.3 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinhdoanh thương mại 7

1.2.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh

doanh thương mại

9

1.2.4 Nguồn luật và vấn đề áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng

trong kinh doanh thương mại

10

1.2.5 Pháp luật của một số nước trên thế giới về hợp đồng vô hiệu trong

kinh doanh thương mại

11

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TẠI TÒA KINH TẾ - TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

13

2.1 Những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu

trong kinh doanh thương mại

13

2.1.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh thương mại 13

2.1.2 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại 16

2.1.3 Về xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh

thương mại

23

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh

thương mại tại Tòa án kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

30

Trang 8

3.1.1 Những tồn tại trong pháp luật chuyên ngành 53

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng và hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

68

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật chuyên ngành 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Pháp luật hợp đồng là nơi chứa đựng nhiều kỹ thuật pháp lý nhất trong khoa học pháp lý Do đó việc học tập và nghiên cứu luật hợp đồng thực sự hữu ích cho việc phát triển tư duy pháp lý Đất nước ta đã trải qua nhiều truyền thống pháp luật trong suốt chiều dài lịch sử Có thể chưa có một sự chắp nối và tinh lọc thật sự giữa các truyền thống pháp luật này hoặc chưa có sự lựa chọn tinh tế và khoa học giữa các truyền thống pháp luật đó, nên luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay thiếu tính kế thừa và thiếu đồng

bộ Trước khi thực dân Pháp chiếm đóng, ở Việt Nam chưa phát triển lĩnh vực pháp luật hợp đồng Các quy tắc liên quan tới hợp đồng thường dưới dạng các điều cấm theo truyền thống pháp luật Viễn Đông Khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, pháp luật của Pháp theo đó mà xâm nhập Luật hợp đồng được pháp điển hóa theo truyền thống dân luật – Civil Law Tới khi thống nhất đất nước, pháp luật hợp đồng của Việt Nam được pháp điển hóa theo truyền thống pháp luật Xô viết – Sovietique Law Hiện nay luật hợp đồng Việt Nam được thể hiện qua nhiều đạo luật

Để một hợp đồng phát huy được giá trị của nó thì hợp đồng đó phải đáp ứng đầy

đủ các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực Trong hoạt động kinh doanh thương mại không thể thiếu sự hiện diện của hợp đồng Với xu thế hội nhập, các chủ thể kinh doanh không chỉ “chơi” với các doanh nghiệp/thương nhân trong nước – sân nhà, mà còn có cơ hội và cũng là thách thức khi “chơi” với doanh nghiệp/thương nhân nước ngoài Vì lẽ đó, doanh nghiệp/thương nhân muốn chủ động, muốn phát triển và muốn tìm kiếm lợi nhuận thì phải nắm chắc “luật chơi” trên sân nhà cũng như quốc tế Chính vì vậy, giá trị pháp lý của hợp đồng là vấn đề vô cùng quan trọng Làm sao để hợp đồng không bị vô hiệu, làm sao để loại trừ rủi ro do hợp đồng vô hiệu? Vì những lý do quan trọng trên, tác giả lựa

chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và thực

tiễn tại Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” cho luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu về HĐ vô hiệu, việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm trong các thời kỳ với nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, vấn đề này đã được đề cập tới trong Giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia, Trường Đại học Kiểm sát, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh…Các vấn đề liên quan còn được đề cập trong

một số công trình nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ luật học với đề tài: “HĐ kinh tế vô

hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu” của tác giả Lê Thị Bích Thọ năm

2002, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cường:

Trang 10

“Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” năm 2004, Khoa luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sỹ luật học

của Nguyễn Thị Thanh: “Xử lý hợp đồng vô hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam” năm

2005, Trường đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sỹ của Cao Thị Thùy Dương: “Những

vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý hợp đồng vô hiệu ở Việt Nam” năm 2004, Trường

Đại học Luật Hà Nội… Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết của các tác giả được đăng trên các Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân hay Tạp chí Kiểm sát…

Tuy nhiên, khi tìm hiểu và nghiên cứu các công trình có liên quan nói trên, tác giả nhận thấy rằng các công trình này nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự năm

2005 Đồng thời, các nghiên cứu đó cũng chỉ đi sâu vào vấn đề lý luận, chưa có đề tài nào khai thác vấn đề thực tiễn việc vận dụng và thi hành các quy định của pháp luật

Năm 2016, tác giả Đỗ Thị Len cũng có nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về hợp đồng

thương mại vô hiệu ở Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình Ở luận văn này đã có sự

nghiên cứu và liên hệ với Bộ luật Dân sự 2015 Tuy nhiên, có thể khi này Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có hiệu lực, do vậy, luận văn chưa nghiên cứu sâu quy định của Bộ luật mới và vẫn chỉ đưa ra các đánh giá và phân tích các quy định của Bộ luật Dân sự năm

2005 Chính vì vậy, trong bối cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đi vào thực tiễn được một thời gian và cũng đã bộc lộ một số vấn đề cần hoàn thiện, tác giả quyết định lựa chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình

3 Mục đích, đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Luận văn hướng đến cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật vô hiệu trong kinh doanh thương mại; cung cấp những quy định của pháp luật về hợp đồng

vô hiệu trong kinh doanh thương mại, đặc biệt là các quy định của pháp luật hiện hành góp phần giúp các chủ thể tham gia hợp đồng trong kinh doanh thương mại phòng tránh

được phần nào rủi ro trong quan hệ hợp đồng Trong luận văn này tác giả tập trung tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích và đánh giá vào các vấn đề sau: i) Các quy định của pháp luật

Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại, tập trung chủ

yếu là BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và một số văn bản pháp luật có liên quan; ii)

Thực tiễn áp dụng các quy định về hợp đồng thương mại tại Tòa kinh tế - Tòa án nhân thành phố Hà Nội Thông qua nghiên cứu và bình luận một số bản án, quyết định cụ thể của Tòa án dựa trên các quy định của pháp luật được áp dụng (tại thời điểm xét xử),

đồng thời có sự so sánh và đánh giá sự tương thích với quy định của pháp luật hiện hành

4 Các phương pháp nghiên cứu của luận văn

Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –

Trang 11

Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó một số phương pháp khác cũng được tác giả kết hợp sử dụng đó là: Phương pháp phân tích: Được sử dụng để làm rõ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu; Phương pháp tổng hợp: Được

sử dụng để khái quát hóa nội dung cần nghiên cứu, đưa ra hướng nghiên cứu logic để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu; Phương pháp so sánh: Sử dụng để so sánh các quy định của pháp luật giai đoạn trước với pháp luật hiện hành từ đó cho thấy sự hoàn thiện của các quy định pháp luật qua từng giai đoạn; Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu, từ đó, phân tích, tổng hợp và đánh giá số liệu để đưa ra nhận định phù hợp làm cơ sở thực hiện cho việc đưa ra các kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật Một số phương pháp khác như: Diễn giải, quy nạp, bình luận cũng được tác giả kết hợp sử dụng để hoàn thiện luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Dưới góc độ khoa học, những kết quả nghiên cứu mới của luận văn sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại; đưa ra những đánh giá, nhận định về tính hợp lý, logic, tính khả thi của các quy định này và nêu quan điểm về hướng sửa đổi,

bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại ở nước ta hiện nay

Dưới góc độ thực tiễn, luận văn cung cấp một số vấn đề về tình hình áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng vô hiệu tại Tòa kinh tế - TAND thành phố Hà Nội

Từ đó chỉ ra những vướng mắc, khó khăn trong quá trình vận dụng quy định pháp luật và gợi mở những kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện/áp dụng pháp luật góp phần hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại đáp ứng nhu cầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

6 Bố cục (các chương) của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại;

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và thực tiễn áp dụng tại Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;

Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh

doanh thương mại

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1.1 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái niệm

Vô hiệu theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không có hiệu quả” 1 Từ

đó có thể suy ra, HĐ vô hiệu là HĐ không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý Trong khoa học pháp lý, HĐ vô hiệu dùng để chỉ tình trạng một HĐ trái với ý chí của các bên hoặc trái với điều kiện có hiệu lực của pháp luật Khi một HĐ bị tuyên bố vô hiệu có nghĩa HĐ không có giá trị ngay từ thời điểm giao kết HĐ Như trên

đã nói HĐ trong lĩnh vực KDTM là một loại HĐ dân sự đặc thù, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Đây là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó, HĐ dân

sự là cái chung và HĐ KDTM là cái riêng Với tư cách là cái chung và cái riêng, HĐ dân

sự và HĐ trong KDTM đều tồn tại khách quan và độc lập tương đối với nhau; những thuộc tính vốn có của HĐ dân sự được biểu hiện cụ thể trong HĐ trong KDTM, đồng thời HĐ trong KDTM cũng có những đặc thù riêng của nó Ở Việt Nam, BLDS được coi

là “luật mẹ” hay “luật gốc” điều chỉnh những vấn đề chung nhất trong dân sự Trong khi

đó, hiện nay các luật chuyên ngành kinh tế không có quy định về vấn đề này do vậy, để xác định HĐ vô hiệu trong KDTM, chúng ta cần căn cứ vào quy định tại Điều 117 và Điều 122 BLDS 2015 Theo đó, có thể hiểu HĐ vô hiệu trong KDTM là HĐ không tuân thủ đầy đủ điều kiện có hiệu lực của HĐ Khi HĐ vi phạm một hay nhiều điều kiện có hiệu lực của HĐ thì HĐ đó bị coi là vô hiệu

Tóm lại, HĐ vô hiệu trong KDTM là những HĐ trong KDTM mà các chủ thể tham gia HĐ không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định Hậu quả là

HĐ không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập HĐ

1.1.2 Dấu hiệu và xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

1.1.2.1 Dấu hiệu nhận biết hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

Thứ nhất, không đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định của pháp luật đối

với HĐ có hiệu lực, bao gồm:

i) Điều kiện về chủ thể tham gia HĐ Bản chất của HĐ là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể trong HĐ nhưng không phải bất cứ ai cũng có quyền tham gia vào bất kỳ HĐ nào mà chỉ có các chủ thể được pháp luật cho phép mới có thể tham gia Khi các chủ thể tham gia HĐ thì phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với HĐ được xác lập Đồng thời, về mặt ý chí, chủ thể tham gia HĐ hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, đe dọa hay lừa dối

ii) Mục đích và nội dung của HĐ vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức

xã hội Mặc dù, khi tham gia HĐ các bên chủ thể hoàn toàn được tự do thể hiện ý chí của

1Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng, (2011), Giao dịch về QSDĐ vô hiệu pháp luật và thực tiễn xét xử, Nxb

Thông tin và truyền thông, Hà Nội, tr.29

Trang 13

mình, tự do trong việc quyết định nội dung, hình thức của HĐ, tự do lựa chọn đối tác… Nhưng sự tự do đó không mang tính tuyệt đối mà bị ràng buộc trong khuôn khổ pháp luật cho phép Sự ràng buộc này chính là sự hạn chế tự do của các chủ thể khi tham gia thiết lập HĐ, nếu chủ thể tham gia không tuân thủ các quy định hạn chế đó sẽ dẫn tới HĐ

bị vô hiệu – điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 Quy định tại Điều 123 BLDS 2015 thì đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Quy định này chưa được hướng dẫn hay giải thích cụ thể, chi tiết, vậy nên, thực tế áp dụng các thẩm phán, trọng tài viên thường căn cứ vào án lệ hoặc tư duy theo logic của mình để giải thích và áp dụng

iii) Chủ thể tham gia HĐ không tự nguyện Sự tự nguyện tham gia HĐ là một yếu

tố cơ bản và không thể thiếu được trong HĐ Vì vậy, các chủ thể tham gia HĐ phải thể hiện ý chí đích thực của mình Mọi thỏa thuận không phản ánh đúng ý chí của các bên đều có thể dẫn đến sự vô hiệu của HĐ Ý chí đích thực trong HĐ thể hiện là, khi tham gia HĐ các chủ thể có quyền thể hiện mong muốn của mình ra bên ngoài trong khuôn khổ pháp luật cho phép mà không bị sự ép buộc của bất kỳ một yếu tố nào khác

iv) Hình thức của HĐ không đúng với quy định của pháp luật Thông qua HĐ các chủ thể cũng như những người khác có thể biết được nội dung của HĐ giữa các bên Việc quy định một số loại HĐ phải tuân thủ các quy định về hình thức dựa trên cơ sở là đối tượng của các loại HĐ này có giá trị lớn hoặc có tính năng đặc biệt, nên hình thức của HĐ là căn cứ xác định chính xác nội dung các cam kết, thỏa thuận của các bên Mặt khác, những quy định đó còn là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc chuyển dịch các tài sản này

Thứ hai, các bên tham gia HĐ phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định Khi HĐ

vô hiệu, quay lại tình trạng ban đầu, các bên tham gia HĐ hoàn lại cho nhau những gì đã nhận Về mặt lý thuyết, đây là sự tổn thất của các bên, vì các bên không đạt được mục đích như đã mong muốn mà quay lại tình trạng như trước khi tham gia HĐ Tuy nhiên,

về mặt thực tế có trường hợp khi tuyên bố HĐ vô hiệu, có bên được hưởng lợi, có bên bị thiệt hại, có thể nói đây là vấn đề phức tạp nhất khi giải quyết hậu quả pháp lý HĐ vô hiệu trong thực tế

1.1.2.2 Xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

Về nguyên tắc, để một HĐ phát sinh hiệu lực pháp lý thì HĐ đó phải thỏa mãn các điều kiện do luật định BLDS đưa ra những điều kiện chung nhất về điều kiện có hiệu lực của các GDDS, trên cơ sở đó luật chuyên ngành có thể có những quy định bổ sung cụ thể hóa về điều kiện có hiệu lực đối với từng loại HĐ cụ thể Điều 116 BLDS 2015 quy

định: “GDDS là hợp đồng, hoặc…, nghĩa vụ dân sự” Như vậy, HĐ (dân sự) trong mọi

trường hợp được coi là GDDS Do vậy điều kiện có hiệu lực của GDDS cũng là điều kiện có hiệu lực của HĐ (dân sự), những quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS sẽ được áp dụng khi giao kết và thực hiện HĐ (dân sự) Cũng từ đó, khi xem xét hiệu lực của HĐ trong KDTM – một loại HĐ dân sự đặc thù, ta cũng áp dụng các điều kiện có hiệu lực của GDDS, bởi luật chuyên ngành không có quy định về vấn đề này Theo đó, các điều kiện dẫn đến sự vô hiệu của HĐ trong KDTM, đó là – dựa theo Điều 117 BLDS 2015:

Trang 14

Thứ nhất, chủ thể không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự

phù hợp với HĐ được xác lập

Để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật HĐ, khi quy định về các loại HĐ cụ thể trong lĩnh vực KDTM, LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành khác không lặp lại những quy định chung về HĐ đã được ghi nhận trong BLDS Quy định về từng loại HĐ

cụ thể trong lĩnh vực thương mại, LTM và các luật chuyên ngành tập trung quy định về tính chất, chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ trong từng quan hệ HĐ cụ thể Đây cũng là đặc điểm chung nhất của LTM và các luật chuyên ngành về vấn đề này Do đó, để xác định

tư cách chủ thể tham gia HĐ trong KDTM, các bên cần nghiên cứu kỹ các quy định có liên quan của luật chuyên ngành

Thứ hai, chủ thể tham gia HĐ không tự nguyện Tự nguyện được hiểu là “tự

mình muốn làm, không phải bị thúc ép, bắt buộc”2 Tính tự nguyện trong HĐ là khả năng

về ý chí và biểu lộ ý chí ra bên ngoài của các chủ thể khi tham gia HĐ, là phạm trù chủ quan thuộc khả năng xử sự của quyền chủ thể được pháp luật công nhận và cho phép Yếu tố tự nguyện đóng vai trò rất quan trọng và có thể coi là yếu tố đặc trưng của pháp luật dân sự nói chung và HĐ nói riêng Để xác định một chủ thể tham gia HĐ có hoàn toàn tự nguyện hay không, điều kiện cần là được pháp luật cho phép tham gia HĐ và điều kiện đủ là hành vi tham gia HĐ của các chủ thể tham gia phải là thể hiện ý chí đích thực của họ trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm đạt được mục đích nhất định

Thứ ba, mục đích và nội dung của HĐ vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã

hội “Mục đích” hiểu theo nghĩa thông thường là “cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho được” – Từ điển Tiếng Việt Theo pháp luật dân sự Việt Nam thì mục đích của HĐ được hiểu là lợi ích mà các bên đã vạch ra sẵn trong ý nghĩ của mình và mong muốn đạt được khi tham gia HĐ Nội dung, theo nghĩa thông thường là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện Nội dung được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả các điều kiện có liên quan đến giao dịch như điều kiện về chủ thể, về đối tượng, số lượng, về HĐ có điều kiện hoặc các nguyên tắc của HĐ Theo nghĩa hẹp thì nội dung gồm tổng hợp các điều khoản mà các bên thỏa thuận hoặc tuyên bố nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Mục đích, nội dung của HĐ là sự thể hiện hành vi có ý thức của con người khi xác lập, thực hiện HĐ và được pháp luật công nhận và bảo vệ Do vậy, nó là điều kiện cần và

đủ của mọi GDDS cũng như của HĐ hay HĐ trong KDTM Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trực tiếp tham gia HĐ, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, lợi ích Nhà nước cũng như lợi ích chung của cộng đồng, pháp luật quy định những hành vi nhất định mà các chủ thể không được thực hiện – điều cấm của luật Do vậy các bên khi tham gia HĐ cần tôn trọng và tuân thủ Bên cạnh các quy định cấm của luật thì những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng các bên cũng phải tôn trọng và thực hiện đúng để tránh sự vô hiệu cho HĐ đã xác lập

2 Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng, tlđd 1, tr.55

Trang 15

Thứ tƣ, hình thức HĐ không đúng quy định trong trường hợp luật quy định hình

thức là điều kiện có hiệu lực của HĐ Hình thức của HĐ là cách thức biểu hiện ra bên ngoài, là phương thức thể hiện ý chí của các chủ thể trong HĐ Hình thức của hợp đồng nói chung có thể được thể hiện dưới dạng lời nói, hành vi hoặc văn bản Những quy định

cụ thể về hình thức này (nếu có) phần lớn là được quy định tại các luật chuyên ngành Chính vì vậy, để HĐ không bị vô hiệu về mặt hình thức thì các bên cần tìm hiểu các quy định cụ thể có liên quan của luật chuyên ngành và tuân theo đúng các quy định đó Trường hợp luật không có quy định điều kiện về hình thức, các bên sẽ có thể tùy nghi lựa chọn hình thức cho HĐ mà mình tham gia

Ngoài ra, đối với HĐ thương mại quốc tế, các quy định điều chỉnh quan hệ HĐ này còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia với tư cách thành viên Chẳng hạn như: Hiệp định thương mại Việt Nam – Hòa Kỳ (BTA), Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO (GATS), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (FTA), Công ước Viên năm 1980 về

HĐ MBHH quốc tế (CISG) Những quy định trong các điều ước quốc tế trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh các quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại nói chung và HĐ thương mại quốc tế nói riêng Do đó, khi đánh giá hiệu lực pháp lý của những HĐ này phải lưu ý quan tâm đến các văn bản pháp luật có liên quan đó

Tóm lại, các điều kiện có hiệu lực của HĐ được quy định trong BLDS là những điều kiện cơ bản, bắt buộc đối với các chủ thể khi xác lập, thực hiện HĐ Các điều kiện nêu trên là một thể thống nhất, hoàn chỉnh và khi xem xét không được xem nhẹ điều kiện nào Căn cứ vào nội dung của từng điều kiện cụ thể có thể thấy: điều kiện có hiệu lực của giao dịch đều là ý chí của Nhà nước kết hợp với ý chí của chủ thể trong HĐ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể Vì vậy, nếu thiếu một hoặc các điều kiện này thì

HĐ có thể bị tuyên bố là vô hiệu Trong một HĐ, các điều kiện này có mối liên hệ gắn

bó với nhau và bổ trợ cho nhau Do đó, khi xem xét, đánh giá một HĐ về nguyên tắc không được tách các điều kiện đó ra mà phải đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng với nhau để giúp ta thấy được tính hợp pháp hay không hợp pháp của HĐ Trên cơ sở đó,

ta xác định được HĐ vô hiệu hay hợp pháp

1.1.3 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

Về phương diện lý thuyết, khi các bên tham gia HĐ nhằm thiết lập một quan hệ

mà ở đó mỗi bên đều đạt được một mục đích nhất định Từ mục đích đó, các bên tham gia HĐ sẵn sàng gánh chịu những trách nhiệm và được hưởng những quyền lợi nhất định, nhưng vì HĐ vô hiệu không xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên chưa thực hiện, thì các bên không được tiếp tục thực hiện; nếu đang được thực hiện, các bên không được tiếp tục thực hiện và giải quyết hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu; trường hợp các bên đã thực hiện xong những gì đã thỏa thuận thì cũng giải quyết hậu quả của

HĐ vô hiệu Giải quyết hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu là buộc các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trong trường hợp các bên không trả cho nhau bằng hiện vật thì hoàn trả cho nhau bằng tiền, bên có lỗi gây thiệt hại phải

Trang 16

bồi thường do pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa thuận trước về hậu quả, như phạt, phạt cọc khi một bên có lỗi và phải chịu thiệt hại tương ứng với lỗi của họ gây ra Do đó,

HĐ vô hiệu chỉ có thể làm phát sinh hậu quả về trách nhiệm dân sự hoặc BTTH ngoài

HĐ Đây cũng chính là tính chất đặc trưng của chế tài trong quan hệ pháp luật dân sự

Trên thực tế, khi TA giải quyết vụ việc xin tuyên bố HĐ vô hiệu thì thường là trường hợp các bên đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần những gì mà họ đã thỏa thuận với nhau Do vậy, rất ít trường hợp khi TA tuyên bố HĐ vô hiệu có thể khắc phục hậu quả đúng như nhà làm luật quy định

Tóm lại, khi HĐ vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm HĐ được xác lập Khi HĐ vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường Việc giải quyết hậu quả của GD dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định – Điều 131 BLDS 2015

1.2 Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

1.2.1 Khái niệm

Pháp luật điều chỉnh HĐ trong lĩnh vực thương mại được hiểu là tổng thể quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình ký kết và thực hiện HĐ trong lĩnh vực thương mại Theo đó, pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM bao gồm tổng thể các quy phạm do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các vấn đề về HĐ và HĐ vô hiệu phát sinh trong hoạt động KDTM giữa các thương nhân với nhau và giữa các thương nhân với các chủ thể khác Ví dụ như: vấn đề HĐ vô hiệu, thẩm quyền tuyên bố HĐ vô hiệu, thời hiệu yêu cầu tuyên bố HĐ vô hiệu, xử lý hậu quả của HĐ vô hiệu…

1.2.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển

Pháp luật về HĐ trong KDTM nói chung và pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM nói riêng ở nước ta đã có quá trình phát triển qua nhiều giai đoạn với những đặc điểm khác nhau về điều kiện kinh tế, xã hội Đến năm 1986 đất nước ta bắt đầu bước vào giai đoạn mới: chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế thị trường, HĐ kinh tế giữ vai trò vô cùng quan trọng Yếu tố mệnh lệnh hành chính trong quan hệ kinh tế không còn phù hợp nữa Vì thế HĐ kinh tế được trả lại giá trị đích thực của nó Ngày 25/09/1989 Pháp lệnh HĐ kinh tế được ban hành Lần đầu tiên các quy định về HĐ kinh

tế vô hiệu được ghi nhận một cách có hệ thống trong một văn bản pháp luật khi nền kinh

tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế

Tiếp tục đề cập đến vấn đề có hiệu lực của HĐ và HĐ vô hiệu, BLDS 1995 đã khắc phục được những nhược điểm của Pháp lệnh HĐ kinh tế, đồng thời chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 BLDS quy định rõ ràng các điều kiện có hiệu lực của HĐ thông qua việc quy định các điều kiện có hiệu lực của GDDS Điều 131 Bộ luật này quy định các điều kiện đó là: i) Người tham gia GDDS có năng lực hành vi dân

Trang 17

sự; ii) Mục đích của nội dung GDDS không trái pháp luật, đạo đức xã hội; iii) Người tham gia GD hoàn toàn tự nguyện; iv) Hình thức của GD phù hợp với các quy định của pháp luật

Ngày 10/05/1997 Quốc hội nước ta đã thông qua LTM năm 1997, tuy nhiên, LTM không đề cập đến vấn đề HĐ vô hiệu, mà chỉ có các quy định liên quan đến HĐ trong KDTM như: chủ thể, đối tượng, nội dung, quyền và nghĩa vụ các bên trong HĐ Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 14/6/2005 Quốc hội đã thông qua BLDS năm 2005 (hiện nay là BLDS 2015) và LTM năm 2005 Với sự ra đời của LTM 2005 và BLDS 2005 đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật về HĐ và là sự thống nhất pháp luật về HĐ ở Việt Nam Kế thừa, phát triển

và bổ sung các quy định của BLDS 2005, BLDS 2015 đã có những quy định tiến bộ rất đáng ghi nhận liên quan đến vấn đề này Theo đó, các quy định về HĐ trong KDTM đã

có những thay đổi cơ bản cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung pháp lý Sự thống nhất pháp luật về HĐ thể hiện ở các khía cạnh cơ bản: i) BLDS là sự quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc, điều chỉnh các quan hệ tài sản nói chung; ii) LTM năm 2005 là nguồn luật quan trọng điều chỉnh các GD thương mại giữa các nhà kinh doanh với nhau

và với các bên có liên quan nhằm triển khai hoạt động kinh doanh; iii) Bên cạnh các quy định trong BLDS và LTM, một số HĐ đặc thù trong thương mại, đầu tư còn được điều chỉnh bởi quy định trong các luật chuyên ngành đó; iv) Nguyên tắc áp dụng pháp luật được xác định rõ trong LTM năm 2005 là: Hoạt động thương mại phải tuân theo LTM và pháp luật có liên quan Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó Hoạt động thương mại không được quy định trong LTM và trong các luật khác thì áp dụng quy định của BLDS

Như vậy có thể thấy rằng, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật HĐ vô hiệu trong KDTM đã trải qua nhiều thời kỳ tương ứng với điều kiện, hoàn cảnh và tình hình phát triển kinh tế - xã hội mỗi giai đoạn Hiện nay, vấn đề HĐ vô hiệu chủ yếu được quy định tại BLDS 2015 – văn bản “gốc” điều chỉnh quan hệ HĐ nói chung và hướng tới không có sự phân biệt giữa HĐ dân sự và HĐ trong KDTM

1.2.3 Nội dung cơ bản pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐ được chế định trong nhiều văn bản khác nhau Ngoài những quy định về HĐ trong BLDS, LTM, còn có thể tìm thấy nhiều quy định liên quan đến HĐ trong các văn bản pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực trong KDTM như: tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, vận chuyển, đầu tư, đất

đai… Nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh HĐ trong lĩnh vực thương mại bao gồm:

- Những quy định về bản chất, chủ thể của HĐ trong lĩnh vực KDTM;

- Những quy định về điều kiện, thủ tục giao kết và thực hiện HĐ trong lĩnh vực KDTM;

- Các điều kiện có hiệu lực của HĐ và các quy định về các trường hợp HĐ vô hiệu;

- Những quy định về sửa đổi, bổ sung, thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ, chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo HĐ, chấm dứt, thanh lý HĐBH;

- Những quy định về trách nhiệm vật chất (chế tài thương mại) do vi phạm HĐ trong lĩnh vực thương mại;

Trang 18

- Các biện pháp bảo đảm thực hiện HĐ

Như vậy có thể thấy các quy định về HĐ vô hiệu trong KDTM là một phần trong chế định HĐ Và nội dung cơ bản của pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM bao gồm: 1) những quy định về điều kiện có hiệu lực của HĐ trong KDTM; 2) các trường hợp HĐ vô hiệu trong KDTM; 3) các quy định về xử lý hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu trong KDTM; 4) Quy định về thẩm quyền và thời hiệu xử lý HĐ vô hiệu trong KDTM

1.2.4 Nguồn luật và vấn đề áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng trong kinh doanh thương mại

Thứ nhất, áp dụng pháp luật quốc gia Các quy định về HĐ vô hiệu trong KDTM

phần lớn được quy định tại BLDS 2015 Còn các luật chuyên ngành quy định các vấn đề liên quan khác như: chủ thể tham gia HĐ, hình thức hợp đồng, đối tượng HĐ… Do vậy,

để xem xét vấn đề hiệu lực của HĐ trong KDTM thì chúng ta luôn luôn phải nghiên cứu luật chuyên ngành trước sau đó là các quy định của BLDS Xuất phát từ mối quan hệ giữa HĐ và HĐ trong KDTM là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng cũng như sự thống nhất trong điều chỉnh quan hệ HĐ ở Việt Nam hiện nay, việc áp dụng quy định pháp luật để điều chỉnh quan hệ HĐ trong KDTM được thực hiện theo nguyên tắc chung,

đó là: những quy định về HĐ dân sự trong BLDS là căn cứ chung, mang tính nguyên tắc cho HĐ KDTM; những quy định về HĐ trong KDTM ở các văn bản pháp luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng trước BLDS Tóm lại, BLDS là văn bản “gốc” điều chỉnh

HĐ vô hiệu nói chung và HĐ vô hiệu trong KDTM nói riêng BLDS quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc, điều chỉnh các quan hệ HĐ khi LTM hay luật chuyên ngành không

có quy định thì sẽ áp dụng BLDS để điều chỉnh

Thứ hai, áp dụng điều ước quốc tế Khi áp dụng điều ước quốc tế đối với các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, cần phân biệt hai trường hợp: i) Đối với những Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên, nếu điều ước đó có quy định khác với pháp luật Việt Nam, thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế - khoản 1 Điều 5 LTM năm 2005; ii) Đối với những điều ước quốc tế mà Việt Nam chưa là thành viên, thì các bên trong HĐ có quyền thỏa thuận áp dụng những nội dung không trái với những nguyên tắc

cơ bản của pháp luật Việt Nam

Thứ ba, áp dụng thói quen thương mại Thói quen thương mại cũng là nguồn quy

phạm điều chỉnh quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại Theo LTM, khoản 3 Điều 3 thì thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐ thương mại Cũng theo quy định tại Điều 12 Luật này về Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên thì trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi

là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật Như vậy, trường hợp các bên ký kết HĐ không thỏa thuận cụ thể thì có thể áp dụng theo thói quen trong hoạt động thương mại đã hình thành giữa các bên

Trang 19

Thứ tư, áp dụng tập quán thương mại Tập quán thương mại là nguồn luật rất

quan trọng điều chỉnh các quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là trong thương mại quốc tế Tập quán thương mại thường được áp dụng để điều chỉnh các quan

hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại, khi các mối quan hệ này không được điều chỉnh bởi

HĐ giữa các bên hoặc điều ước quốc tế và luật pháp của các quốc gia Trong mối quan

hệ với HĐ, tập quán được áp dụng theo nguyên tắc: nếu pháp luật quốc gia không có quy định, các bên không có thỏa thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì tập quán được áp dụng nhưng không trái với những nguyên tắc của pháp luật

Thứ năm, áp dụng án lệ Việc án lệ được công nhận và áp dụng tại Việt Nam là

một điểm mới rất tiến bộ và đáng ghi nhận của BLDS 2015 Theo đó, Điều 6 BLDS 2015

quy định: “Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân

sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự”

“Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”

1.2.5 Pháp luật một số nước về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

Thứ nhất, hệ thống các nước theo truyền thống luật Châu Âu lục địa – Civil Law

Pháp luật các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa như Pháp, Đức và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này (Bỉ, Tây Ban Nha, một số nước ở châu Mỹ Latin…) Ở hệ thống các nước này phân biệt khá rõ ràng GDDS và GD thương mại nhưng chỉ coi hành vi thương mại là một dạng đặc biệt của hành vi dân sự3

mà không phân biệt HĐ đó được ký kết vì mục đích kinh doanh hay vì mục đích sinh

hoạt, tiêu dùng

Thứ ba, các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Liên bang Nga, Trung Quốc

Ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi, cũng đã có sự thống nhất pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐ Đây là xu thế phát triển tất yếu của hệ thống pháp luật về HĐ bởi các HĐ không có sự khác biệt về bản chất, cho dù nó được giao kết phục vụ hoạt động KDTM

hay đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng

Nhìn chung xu hướng chung trên thế giới và Việt Nam hiện nay là không phân biệt rạch ròi HĐ thương mại với HĐ (dân sự) trong các văn bản pháp luật (các khái niệm

HĐ thương mại với HĐ dân sự chỉ mang tính học thuật chứ không phải là thuật ngữ

3 Nguyễn Thị Dung (2012), Giáo trình một số hợp đồng đặc thù trong hoạt động thương mại và kỹ năng đàm phán,

soạn thảo, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.25

Trang 20

chính thức được sử dụng trong pháp luật thực định) Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa

là không nghiên cứu về nó và trên thực tế ngày càng nhiều các nhà luật học đã và đang bắt đầu có những nghiên cứu chuyên biệt về loại HĐ này nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của toàn xã hội nói chung và các nhà kinh doanh nói riêng Điều đó càng khẳng định vai trò không thể phủ nhận của HĐ thương mại đối với đời sống kinh tế trên phạm vi toàn cầu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Ngày nay trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế nước ta phải phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi tính dân tộc, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo

vệ môi trường để tạo nên uy tín và sức mạnh cho nước ta trên trường thế giới Tham gia sân chơi trong khu vực và thế giới đòi hỏi nền kinh tế nước nhà phải vững mạnh, hệ thống pháp luật liên quan cần phải thông thoáng, nhưng chặt chẽ để các nhà đầu tư trong

và ngoài nước yên tâm, thu hút đầu tư và hơn hết các cá nhân, tổ chức, pháp nhân hoạt động thương mại cần thiết phải bản lĩnh, thông minh và không chỉ dừng lại ở biết luật mà còn hiểu đúng, hiểu sâu và nắm bắt kịp thời, chính xác các quy định pháp luật hiện hành

để thu lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho chính bản thân Công cụ thể xác lập quyền, nghĩa

vụ của các chủ thể hoạt động thương mại là HĐ Do đó, HĐ phải tuân thủ theo quy định của pháp luật để có hiệu lực ràng buộc các bên kết ước, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của những chủ thể kinh doanh chân chính

Do vậy, xuất phát từ sự quan trọng của HĐ trong kinh doanh và thực tiễn trong việc lợi dụng HĐ để tuyên vô hiệu, gây hoang mang, bất ổn định của những doanh nghiệp kinh doanh chân chính, nên việc phân tích và nghiên cứu các trường hợp HĐ vô hiệu trong KDTM là vô cùng cần thiết Và qua chương 1 của cuốn luận văn tác giả giải

quyết hai vấn đề cơ bản nhất: i) Đưa ra những vấn đề cơ bản của HĐ vô hiệu trong

KDTM và giải quyết mối quan hệ giữa HĐ dân sự và HĐ trong KDTM Từ đó giải thích tại sao BLDS là nguồn căn cứ/văn bản “gốc” để điều chỉnh HĐ trong KDTM

vô hiệu; ii) Đánh giá những quy định pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM qua các thời kỳ phát triển và hoàn thiện của hệ thống pháp luật Nêu, phân tích và đánh giá những vấn đề cơ bản nhất của pháp luật hiện hành về HĐ vô hiệu trong KDTM Đồng thời có sự nghiên cứu và so sánh với hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới

Trang 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA KINH TẾ -

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

2.1.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh thương mại

Căn cứ theo Điều 117 BLDS năm 2015 và các quy định liên quan khác, có thể xác định HĐ trong KDTM có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, chủ thể tham gia HĐ phải có năng lực chủ thể để thực hiện các nghĩa

vụ theo HĐ Năng lực chủ thể ở đây bao gồm cả năng lực pháp luật và năng lực hành vi phù hợp với loại HĐ được xác lập

Nếu như các BLDS trước đây chỉ quy định: “Người tham gia GD có năng lực

hành vi dân sự” thì BLDS 2015 đã bổ sung cụm từ “chủ thể có năng lực pháp luật dân sự”, “phù hợp với GDDS được xác lập” Trong hai cụm từ được sửa đổi, bổ sung đó thì

việc thay thế “người” bằng “chủ thể” đơn thuần chỉ là kỹ thuật, không làm thay đổi nội dung Và việc thêm “ năng lực pháp luật dân sự”, theo tác giả là không cần thiết bởi:

năng lực pháp luật dân sự của cá nhân hay pháp nhân đều chỉ là khả năng có quyền và

nghĩa vụ dân sự và “không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên

quan có quy định khác” – Điều 18, Điều 86 BLDS 2015; khả năng này của mỗi loại chủ

thể trong cùng một môi trường pháp lý, môi trường xã hội là như nhau Hơn nữa, hiện nay, với một chính sách, pháp luật rất cởi mở thì nhiều rào cản – đặc biệt với pháp nhân, liên quan đến năng lực pháp luật của chủ thể đã được dỡ bỏ Do vậy, việc đưa cụm từ này vào hầu như không làm thay đổi nội dung, cũng không có nhiều ý nghĩa thực tiễn

Tuy nhiên, với sự bổ sung “ phù hợp với GDDS được xác lập” là có ý nghĩa cả

về pháp lý và thực tiễn, tạo sự thống nhất giữa các quy định liên quan đến năng lực hành

vi Có thể thấy, năng lực hành vi của chủ thể là yếu tố quan trọng, là điều kiện không thể thiếu để HĐ có hiệu lực Khi một chủ thể không có năng lực hành vi phù hợp với HĐ mà mình sẽ xác lập mà vẫn xác lập thì HĐ vi phạm điều kiện có hiệu lực dẫn đến HĐ bị vô hiệu

Về năng lực pháp luật của cá nhân, đây là khả năng của cá nhân có quyền dân sự

và nghĩa vụ dân sự có được từ khi cá nhân sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết Bao gồm: Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản; Quyền

sở hữu và các quyền khác đối với tài sản, quyền thừa kế và Quyền tham gia vào quan hệ dân sự và có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ đó

Quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân, căn cứ vào BLDS 2015 thì người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên và người thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân Theo quy định tại khoản 2 Điều 86 BLDS 2015 thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải

Trang 22

đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký

Năng lực hành vi dân sự của pháp nhân Về nguyên tắc, thời điểm tổ chức, doanh nghiệp hay pháp nhân được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải căn cứ vào quy định của pháp luật Pháp luật doanh nghiệp được coi là nguồn pháp lý chủ yếu điều chỉnh/quy định năng lực hành vi dân sự của doanh nghiệp/pháp nhân Bên cạnh đó, doanh nghiệp/pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực nào thì sẽ chịu thêm sự điều chỉnh của văn bản pháp luật của lĩnh vực đó

Như vậy, năng lực pháp luật và năng lực hành vi là hai yếu tố của chủ thể khi tham gia quan hệ HĐ, chúng có nội hàm khác nhau, ảnh hưởng đến tính có hiệu lực của

HĐ là rất khác nhau

Thứ hai, chủ thể tham gia HĐ hoàn toàn tự nguyện BLDS 2015 kế thừa hoàn

toàn quy định này từ BLDS 2005 Ý chí của chủ thể, sự tự do tự nguyện tham gia HĐ là rất quan trọng, nó vừa là quyền con người, quyền công dân vừa là một điều kiện quan trọng để HĐ có hiệu lực pháp lý Có thể thấy các quy định tại Điều 126, Điều 127 BLDS

2015 là biểu hiện của trường hợp vô hiệu do vi phạm điều kiện này

Thứ ba, mục đích và nội dung của HĐ không vi phạm điều cấm của luật, không

trái đạo đức xã hội Điều cấm của luật là những quy định quy luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Còn chuẩn mực xã hội là những chuẩn mực ứng

xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Để có được quy định này chúng ta đã phải đi một chặng đường không hề ngắn Trước khi BLDS đầu tiên được dự thảo, cũng như khi BLDS 1995 có hiệu lực, chúng ta đều cho rằng, mục đích và nội dung của GDDS không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì GD mới được coi là hợp pháp, nếu vi phạm điều cấm của pháp luật thì GDDS sẽ vô hiệu Với những quy định đó, tất yếu sẽ là, nếu các chủ thể không thực hiện đúng quy định của pháp luật hoặc luật không có quy định nào cho phép hoặc có quy định cấm đoán mà các chủ thể vẫn xác lập, thực hiện GD thì GD đó đều bị coi là trái pháp luật Như vậy, không gian dành cho các chủ thể trong xác lập GD rất hạn chế, chỉ trong phạm vi pháp luật cho phép Nhưng từ khi BLDS năm 2015 được ban hành và có hiệu lực thì không gian dành cho các chủ thể

muốn xác lập GD mới thực sự rộng mở bằng quy định: “mục đích và nội dung của GDDS

không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”

Điều kiện này chứa đựng hai cặp yếu tố:

i) Cặp yếu tố “mục đích và nội dung của GDDS” là cặp yếu tố có tính cốt lõi của

GD Mục đích là cái mà các bên trong GD hướng tới và Điều 118 đã định nghĩa rất cụ

thể: “Mục đích của GDDS là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập GD

đó” Còn nội dung của GD chính là thỏa thuận của các bên về quyền, nghĩa vụ trong GD

mà các bên phải thực hiện hoặc quyền của những chủ thể tham gia nhằm đạt được mục đích khi xác lập, tham gia GD BLDS 2015 kế thừa hoàn toàn nội dung này trong BLDS 2005

ii) Cặp yếu tố thứ hai được quy định rõ ràng, dứt khoát nhằm xác định, chỉ dẫn một hành lang pháp lý để các bên xử sự trong quá trình xác lập, thực hiện GD, đó là GD

“không vi phạm điều cấm của luật ” So với BLDS 2005 thì Bộ luật 2015 đã có sự sửa

Trang 23

đổi quan trọng, dù chỉ bỏ một chữ “pháp” trong thuật ngữ “pháp luật” tại Điều 123 của

Bộ luật, điều này đem đến một nội hàm mới về cả pháp lý và thực tiễn

Dưới góc độ pháp lý thì những vấn đề có ý nghĩa quan trọng phải được luật điều chỉnh và tư duy này đã được thể hiện nhất quán trong rất nhiều điều luật Theo đó, kể từ thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực, chỉ những điều cấm quy định trong văn bản luật chứ không phải văn bản dưới luật (nghị định, thông tư…) mới là căn cứ pháp lý để xác định

GD có vi phạm điều kiện này hay không Dưới góc độ thực tiễn thì lợi ích của người dân nói chung, lợi ích chính đáng của các bên trong HĐ nói riêng phải được bảo đảm một cách chắc chắn bởi cơ quan quyền lực cao nhất, có như vậy mới không còn nguy cơ bị méo mó bởi những văn bản dưới luật của cơ quan hành pháp hoặc cơ quan tư pháp, có tác dụng tăng niềm tin khi các bên tham gia HĐ, góp phần thúc đẩy quan hệ HĐ

Đây là một trong những điều kiện quan trọng, có thể coi là quan trọng nhất Bởi

lẽ, mục đích, nội dung của HĐ chính là “linh hồn” của HĐ, nó không chỉ tác động trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia HĐ mà có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể khác, dù họ không tham gia HĐ, nếu các bên tham gia HĐ không lấy pháp luật, đạo đức xã hội làm chuẩn, làm cơ sở trong quá trình xác lập HĐ

Thứ tƣ, hình thức của HĐ là điều kiện có hiệu lực của HĐ trong trường hợp luật

có quy định Hình thức của HĐ trong KDTM phải phù hợp với quy định của pháp luật Đối với một số HĐ trong KDTM đặc biệt mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản mới có hiệu lực pháp luật (HĐ MBHH quốc tế, HĐ quảng cáo, HĐ tín dụng ) hoặc công chứng, chứng thực hay đăng ký (HĐ bảo lãnh, HĐ thế chấp QSDĐ ) thì việc lập

HĐ bằng văn bản và công chứng, chứng thực hay đăng ký là điều bắt buộc

Đối với điều kiện này, BLDS 2015 đã bỏ chữ “pháp” trong thuật ngữ “pháp luật”

so với BLDS 2005 – khoản 2 Điều 119, còn những nội dung khác BLDS 2015 vẫn giữ nguyên BLDS 2015 gần như kế thừa quy định về hình thức của GD được quy định tại Điều 124 BLDS 2005, khoản 1 Điều này chỉ bổ sung cho cụ thể hơn, và khoản 2 bỏ chữ

“pháp” để vừa đảm bảo tính nhất quán giữa các quy định, vừa khẳng định chỉ khi “luật

quy định GD dân sự phải được thể hiện bằn văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký” thì các bên mới bắt buộc phải tuân theo quy định đó

Như vậy, hình thức của HĐ phải được thể hiện dưới hình thức văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký chỉ khi có luật định, khi đó nó mới trở thành điều kiện bắt buộc về hình thức của HĐ Vì vậy, dù HĐ đó quan trọng hay không quan trọng mà không có luật nào quy định HĐ phải công chứng, chứng thực, đăng ký thì các bên không thực hiện công chứng, chứng thực, đăng ký HĐ vẫn có hiệu lực Quy định này đã thể hiện rõ hơn triết lý “việc dân sự cốt ở hai bên”, nội dung của HĐ, sự tự nguyện của các chủ thể mới là yếu tố quan trọng, còn hình thức của HĐ chỉ có ý nghĩa trong một chừng mực nhất định Chúng ta sẽ thấy rõ hơn về điểm này khi nghiên cứu các trường hợp HĐ

vô hiệu, nhất là quy định HĐ vi phạm điều kiện về hình thức Ngoài ra, HĐ trong KDTM khi được giao kết phải đảm bảo các nguyên tắc về quyền tự do, bình đẳng, tự nguyện, thiện chí, hợp tác và trung thực

Trang 24

2.1.2 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

Tại Điều 122 BLDS 2015 đã quy định như sau: "GDDS không có một trong các

điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác." Quy định này chứa đựng hai nội dung rất quan trọng: i) nội dung

thứ nhất hoàn toàn kế thừa quy định của BLDS 2005: "GDDS không có một trong các

điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu" Đây là một quy định

có tính khẳng định, xét dưới góc độ triết học nó thể hiện mối quan hệ không thể tách rời giữa nội dung và hình thức của sự vật Vì vậy, trên nguyên tắc, quy định này không gây

ra băn khoăn, tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở nội dung này như quy định trong BLDS 2005, theo tác giả là có phần cứng nhắc vì chưa đáp ứng được sự đa dạng, tính mềm dẻo trong quan hệ dân sự, chưa coi bản chất sự vật, ý chí của các bên tham gia GD mới là yếu tố

cốt lõi; ii) nội dung thứ hai của điều kiện này là "trừ trường hợp Bộ luật này có quy định

khác" là nội dung mới được bổ sung, hé mở sẽ có quy định mới trong các quy định tiếp

theo của Bộ luật, đồng thời, từ quy định này khi sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng luật mới cần có sự cân nhắc theo hướng hạn chế những trường hợp quy định hình thức là điều kiện bắt buộc đối với loại GD

Dưới đây là các trường hợp HĐ vô hiệu được nghiên cứu và phân tích dựa trên các quy định trong BLDS 2015 Bộ luật không thiết kế theo hướng liệt kê, do đó, không được nhầm lẫn cho rằng Bộ luật đã quy định đầy đủ tất cả các trường hợp GD/HĐ vô hiệu mà cần phải thấy đó chỉ là các trường hợp có tính phổ biến, điển hình

Thứ nhất, HĐ vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội – dựa

theo Điều 123 BLDS 2015

Nếu như BLDS 1995 dựa trên nguyên tắc công dân được làm những gì pháp luật cho phép, thì khi BLDS 2005 được thông qua một tư duy mới đã bắt đầu nảy nở với ý tưởng là công dân được làm những gì pháp luật không cấm Tư tưởng này đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa rõ nét trong BLDS 2015

Khi một bên hoặc cơ quan có thẩm quyền cho rằng, HĐ vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì phải chỉ rõ điều cấm nào của luật, quy định nào không cho phép các bên xác lập HĐ, nếu vi phạm thuộc lĩnh vực đạo đức cũng phải chỉ rõ vi phạm chuẩn mực nào trong lĩnh vực đạo đức Nếu không chỉ ra các căn cứ pháp lý cụ thể thì không áp dụng điểm c khoản 1 Điều 117, Điều 123 của Bộ luật để tuyên vô hiệu HĐ

Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân HB ký HĐ mua bán Rùa nước ngọt đốm đen với

Doanh nghiệp X – quốc tịch nước ngoài HĐ mua bán này vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật Cụ thể là vi phạm điểm c khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014, mua bán động vật thuộc danh mục cấm kinh doanh theo Phụ lục I, phần III mục 1 tiểu mục 1.3 Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ký tại Washington D.C ngày 01/3/1973

Thứ hai, HĐ vô hiệu do giả tạo – dựa theo Điều 124 BLDS 2015

Điều 124 BLDS 2015 quy định: “1 Khi các bên xác lập GDDS một cách giả tạo

nhằm che giấu một GDDS khác thì GDDS giả tạo vô hiệu, còn GDDS bị che giấu vẫn có

Trang 25

hiệu lực, trừ trường hợp GD đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan; 2 Trường hợp xác lập GDDS giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì GDDS đó vô hiệu”

Theo đó, sẽ có hai dạng HĐ bị coi là giả tạo: i) Dạng giả tạo thứ nhất: hai bên tạo

ra hai HĐ nhưng thực chất chỉ có một HĐ là có thực còn một HĐ là giả Như vậy, khi một HĐ được coi là giả tạo thì dù biểu hiện về hình thức là một HĐ, có đủ các yếu tố cấu thành của HĐ, nhưng các bên không có ý định thực hiện HĐ, không phát sinh quyền, nghĩa vụ thực sự cho các bên, việc tạo ra HĐ này chỉ nhằm che giấu một HĐ có thực khác, nên theo quy định tại Điều 124 BLDS 2015 thì HĐ này bị vô hiệu, còn HĐ có thực

bị che giấu vẫn có hiệu lực

Ví dụ: Do cần tiền gấp để đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, nên anh Trịnh

Quyết Tuấn đã ký HĐ chuyển nhượng nhà đất với Công ty TNHH Minh Nhật – chính là Công ty đã môi giới cho anh Tuấn đi xuất khẩu lao động Sau khi sang Nhật, do không được sắp xếp công việc như thỏa thuận từ trước nên anh Tuấn trở về nước và khởi kiện đòi lại nhà đất đã chuyển nhượng với lý do HĐ chuyển nhượng vô hiệu Theo đó, thực chất giữa các bên đã xác lập một HĐ khác là HĐ vay tiền với số tiền là 200 triệu đồng Nhưng do Công ty Minh Nhật lo sợ anh Tuấn không thể trả nợ nên đã yêu cầu ký HĐ chuyển nhượng nhà đất nói trên cũng với giá chuyển nhượng bằng đúng khoản tiền mà Công ty nộp vào cho anh Tuấn là 200 triệu đồng – thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực của nhà đất mà anh Tuấn sở hữu Như vậy, HĐ chuyển nhượng nhà đất vô hiệu do giả tạo, HĐ vay tài sản mới là ý chí thực của các bên và do đó mới là HĐ có hiệu lực

ii) Dạng HĐ thứ hai: Các bên chỉ xác lập một HĐ đối với tài sản đó, nhưng thực chất hai bên không có ý định thực hiện HĐ này Dù HĐ được xác lập theo đúng quy định của pháp luật nhưng không làm phát sinh quyền nghĩa vụ của hai bên, các bên không thực hiện những thỏa thuận được ghi trong HĐ Việc xác lập HĐ chỉ nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba, trong trường hợp này HĐ cũng bị vô hiệu

Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân A làm ăn thua lỗ và có nhiều khoản nợ sắp đến thời

hạn phải trả Chủ doanh nghiệp A tìm cách ký các HĐ mua bán tài sản nhằm tẩu tán tài sản của mình để tránh bị các chủ nợ “siết nợ” Khi này HĐ mua bán các tài sản của chủ doanh nghiệp A sẽ có thể bị tuyên vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với các chủ nợ

Một trong những yếu tố quan trọng để nhận biết được bản chất, xác định đúng đường lối giải quyết là phải thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, khi đã có đủ tài liệu, chứng cứ thì việc đánh giá tài liệu, chứng cứ phải được quan tâm đặc biệt Vì các tranh chấp loại này thường có nhiều tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn nhau, bước tiếp theo là áp dụng đúng quy định của pháp luật Khi đã có căn cứ xác định HĐ giả tạo thì áp dụng Điều 124, các điều quy định về hậu quả HĐ vô hiệu để giải quyết

Thứ ba, HĐ vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự xác lập, thực hiện – dựa theo Điều 125 BLDS 2015

Khoản 1 Điều 125 quy định: "1 Khi GDDS do người chưa thành niên, người mất

năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc

Trang 26

người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, TA tuyên bố GD đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật GD này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này" Như phần trên đã phân tích, do đối tượng này có những hạn

chế, khi họ tham gia HĐ luôn ở thế bất lợi, nên luật quy định phải có người giám hộ, người đại diện cho họ tham gia HĐ thì HĐ đó mới hợp pháp Tuy nhiên, trong quy định

này có hai điểm cần chú ý: Một là, dù các đối tượng trên trực tiếp tham gia HĐ là vi

phạm một trong những điều kiện có hiệu lực của HĐ nhưng nó không đương nhiên vô hiệu, mà nó chỉ được xem xét, xác định vô hiệu khi người đại diện của đối tượng này có yêu cầu, nếu người đại diện biết mà không yêu cầu xem xét thì HĐ vẫn được thực hiện;

Hai là, mặc dù khoản 1 Điều 125 quy định: "Khi GD dân sự do người chưa thành

niên ", nhưng không phải cứ người chưa thành niên tham gia HĐ là vi phạm quy định

này, bởi lẽ có những loại HĐ mà Bộ luật cho phép người chưa thành niên tham gia HĐ, không bắt buộc phải có người đại diện, như quy định tại Điều 21, đặc biệt, quy định tại khoản 4 Điều này Do đó, khi xác định HĐ có vi phạm khoản 1 Điều 125 hay không phải đối chiếu, xem xét các quy định khác trong BLDS, luật khác có liên quan

Tại khoản 1 Điều 125 khi quy định các trường hợp TA xác định vô hiệu khi có

yêu cầu, nhưng vẫn "trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này” Theo đó, những trường hợp được loại trừ, không áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 125, đó là: "a)

GDDS của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó; b) GDDS chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện GD với họ; c) GDDS được người xác lập GD thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự"

Xuất phát từ việc bảo vệ những đối tượng yếu thế khi họ gặp bất lợi, bởi những đối tượng có lợi thế hơn tạo ra thì việc tuyên bố HĐ vô hiệu là cần thiết, nhưng nếu HĐ

đó không những không gây bất lợi cho họ mà còn tạo ra cho họ lợi ích thì không đặt vấn đề

vô hiệu Điều đó có nghĩa là, khi một người trưởng thành, bình thường đã thực hiện HĐ với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự mà HĐ đó chỉ phát sinh quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì

HĐ đó vẫn hợp pháp, không bị coi là vi phạm những điều kiện có hiệu lực của HĐ, chủ thể

là người đã thành niên, người bình thường không có quyền yêu cầu tuyên bố HĐ vô hiệu

Quy định tại điểm b khoản 2 Điều 125 sẽ ngăn chặn những chủ thể đã ký HĐ với những đối tượng yếu thế lợi dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117 để yêu cầu tuyên bố

GD vô hiệu Sự sửa đổi, bổ sung này là rất hợp lý, cần thiết, phù hợp cả lý luận và thực tiễn

Đối với trường hợp khi thực hiện HĐ thì chủ thể HĐ thuộc đối tượng là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện nhưng quá trình thực hiện HĐ hoặc sau khi đã thực hiện HĐ thì chủ thể này đã thành niên (đối với trường hợp khi HĐ còn vị thành niên) hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự

Trang 27

(đối với đối tượng là người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự) thừa nhận hiệu lực của HĐ thì HĐ đó có hiệu lực pháp luật Như vậy, khi chủ thể đã trưởng thành, đã khôi phục năng lực hành vi dân sự cân nhắc được và mất về những lợi ích liên quan đến HĐ thì luật dành quyền quyết định cho chủ thể, tôn trọng lựa chọn, quyết định của chủ thể Quy định này thể hiện sự nhất quán về vấn đề có tính nguyên tắc trong quan hệ dân sự là quyền tự do, tự nguyện, định đoạt của chủ thể

Suy ngẫm về quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều này nếu chỉ thấy nội dung trực tiếp phải áp dụng là chưa đủ, mà cần nhận ra những thông điệp ẩn chứa trong quy định đó thì mới mang nhiều ý nghĩa cho cuộc sống Có thể thấy, quy định quá rõ ràng có tác dụng ngăn ngừa việc áp dụng pháp luật một cách máy móc, cứng nhắc như đã từng xuất hiện Song, sâu xa hơn nó nhắc nhở người áp dụng pháp luật phải trên cơ sở mục đích, bản chất của quy định, lợi ích cần bảo vệ, sự công bằng có thể đem đến cho mỗi chủ thể đưa ra phán quyết, chứ không nên áp dụng bất kỳ một quy định nào một cách cứng nhắc, máy móc Và như vậy, dù không có quy định cụ thể này cũng cần có lựa chọn khi xử lý những trường hợp nói trên như quy định này, điều đó cũng có nghĩa là, đối với những trường hợp khác mà luật chưa có quy định rõ như trường hợp này thì cũng cần có

tư duy áp dụng tương tự, đó mới là điều cần thiết trong bản lĩnh và tư duy áp dụng pháp luật

Ví dụ HĐ vô hiệu do người chưa thành niên xác lập: Nguyễn Văn A (12 tuổi)

bố mẹ bị mất do tai nạn có để lại cho em một ngôi nhà 3 tầng tại mặt đường Hai Bà Trưng, Hà Nội; 1 nhà xưởng may gia công quần áo và các máy móc thiết bị kèm theo Công ty B do đang có nhu cầu tìm mua nhà xưởng để sản xuất kinh doanh, qua người quen giới thiệu, Giám đốc Công ty B tìm gặp A để đề nghị giao kết HĐ mua bán lại nhà xưởng và toàn bộ trang thiết bị máy móc mà A được thừa kế từ bố mẹ Do A là người chưa thành niên đang sinh sống với bác ruột (là người giám hộ theo quy định của pháp luật), nên HĐ mua bán ký giữa A với công ty B sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật nếu việc mua bán này không được người giám hộ của A biết, xác lập, thực hiện hay đồng ý

Thứ tư, HĐ vô hiệu do bị nhầm lẫn - dựa theo Điều 126 BLDS 2015

Tại khoản 1 Điều 126 BLDS đã quy định như sau: "1 Trường hợp GDDS được

xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập GD thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu TA tuyên bố GDDS vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này"

Khi các bên cùng nhau thỏa thuận xác lập HĐ là để mỗi bên đạt được những mục đích nhất định đáp ứng những yêu cầu của mình Nhưng do những nguyên nhân khách quan dẫn đến trong quá trình đàm phán đã có sự tiếp nhận sai lệch ý chí thực của nhau, hiểu không đúng những nội dung được đưa ra trao đổi, bàn bạc Nếu HĐ được thể hiện bằng hình thức văn bản thì những nội dung, những điều khoản, hay chỉ một vài điều khoản cơ bản, chủ chốt đã không phản ánh đúng ý chí thực của một bên hoặc cả hai bên, chỉ đến khi HĐ đã được xác lập hoặc khi thực hiện mới phát hiện ra sự nhầm lẫn đó

Mặt khác, đối với một HĐ có nhiều nội dung, nhiều điều khoản trong đó có điều khoản thể hiện không đúng ý chí thực của một hay cả hai bên, song, nội dung bị nhầm

Trang 28

lẫn chỉ thuộc phạm vi tiểu tiết, không có tính chất cơ bản, không ảnh hưởng đáng kể đến quyền, nghĩa vụ của hai bên, không xâm phạm lợi ích của người khác thì HĐ đó không

bị vô hiệu hoặc nếu phải xác định vô hiệu thì chỉ phần đó của HĐ bị vô hiệu Việc xác định toàn bộ HĐ vô hiệu trong những trường hợp nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập HĐ thì HĐ đó mới bị vô hiệu

Đối với những trường hợp sự nhầm lẫn là nghiêm trọng, thuộc nội dung cơ bản của HĐ, nhưng khi nhận ra sự nhầm lẫn, hai bên đã trao đổi, bàn bạc khắc phục sự nhầm lẫn đó hoặc có sự điều chỉnh cho phù hợp để mỗi bên đều đạt được mục đích khi xác lập

HĐ thì HĐ đó cũng không bị vô hiệu

Khi HĐ vừa được xác lập, đang thực hiện thì phát hiện ra nhầm lẫn dẫn đến tranh chấp, cũng có thể nhầm lẫn được phát hiện nhưng nhầm lẫn đó không cơ bản hoặc nhầm lẫn thuộc phạm vi cốt lõi của HĐ nhưng các bên đã trao đổi khắc phục sự nhầm lẫn đó,

đã thực hiện xong HĐ mới xảy ra tranh chấp Nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp có thể là do nhầm lẫn, nhưng cũng có thể nhầm lẫn chỉ là nguyên cớ (vì khi phát hiện nhầm lẫn đã khắc phục ) còn nguyên nhân thực dẫn đến tranh chấp lại có thể bởi các thực tế khác, như quá trình thực hiện đã có sự vi phạm Do đó, khi có tranh chấp cần phải xem xét có thuộc trường hợp vô hiệu do nhầm lẫn không? Có phải không đạt được mục đích của việc xác lập HĐ? Nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp là gì? Xác định bên nào có lỗi tùy từng trường hợp mà lựa chọn đường lối giải quyết phù hợp với thực tế đã diễn ra

Ví dụ: Công ty NH ký HĐ gia công số 241/HĐGC với Công ty Tocoro Mall

Trong HĐ có điều khoản ghi chú đặc biệt “…sản phẩm da tổng hợp PO hoặc sản phẩm giả da tổng hợp PO” Đến ngày giao hàng, công ty NH không nhận hàng và từ chối thanh toán với lý do chất chống cháy phủ trên vải không đạt chất lượng vì bị dính và không khô Tranh chấp xảy ra, kết quả là hai bên tham gia HĐ mua bán đã có sự nhầm lần do lỗi đánh máy HĐ, theo đó, các bên đã bị nhầm lẫn về đối tượng của HĐ là sản phẩm da tổng hợp PU hoặc sản phầm giả da tổng hợp PU chứ không phải “…sản phẩm da tổng hợp PO hoặc sản phẩm giả da tổng hợp PO” như trong HĐ đã ký (sự nhầm lẫn này dẫn đến việc sử dụng chất chống cháy không phù hợp) Hợp đồng gia công đã ký bị vô hiệu do nhầm lẫn

Thứ năm, HĐ vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép - dựa theo Điều 127 BLDS 2015

Theo quy định tại Điều 127 có thể hiểu lừa dối trong HĐ là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của HĐ nên đã xác lập HĐ đó Còn đe dọa, cưỡng ép trong HĐ

là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện HĐ nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình Có thể thấy, thuật ngữ lừa dối, đe dọa, cưỡng

ép đã được giải thích một cách rõ ràng trong Bộ luật

Ví dụ về HĐ vô hiệu do lừa dối: Công ty TNHH xuất nhập khẩu X chuyên nhập

khẩu và cung cấp thiết bị y tế ký HĐ mua bán một lô thiết bị y tế bao gồm: Máy siêu âm, chụp cắt lớp PES cho Bệnh viện đa khoa C Trước khi ký kết HĐ, Công ty X có cung cấp thông tin về nguồn gốc sản phầm cho Bệnh viện: toàn bộ sản phẩm được nhập mới từ Đức HĐ được ký kết, tuy nhiên sau khi nhận hàng và kiểm tra thông tin trên sản phẩm,

Trang 29

Bệnh viện C phát hiện bên bán đã cố ý đưa thông tin không đúng sự thật về xuất sứ của sản phẩm Toàn bộ sản phầm đều đã qua sử dụng và có nguồn gốc từ Trung quốc Việc X cố

ý đưa ra các thông tin sai sự thật về đối tượng của HĐ mua bán khiến bên mua đồng ý giao kết HĐ là lừa dối và không phù hợp với sự tự nguyện ý chí trong HĐ của bên mua

Thứ sáu, HĐ vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi

của mình - dựa theo Điều 128 BLDS 2015

Trong kinh doanh thương mại thì đây là trường hợp ít xảy ra – nói đúng ra là bên không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình gặp khó khăn trong việc chứng minh, nhưng không phải không có khả năng diễn ra trong thực tế, nên Bộ luật quy định cũng là cần thiết Nhưng muốn yêu cầu của mình được chấp nhận thì chủ thể phải thực hiện một việc không hề dễ dàng là xuất trình được chứng cứ chứng minh trước cơ quan tài phán là khi xác lập HĐ mình ở trong trạng thái không nhận thức, làm chủ được hành

vi, nếu không chứng minh được sẽ không được cơ quan tài phán chấp nhận

Ví dụ: Ông Phạm Văn B, là đại diện theo pháp luật của Công ty V Công ty Q

được đề nghị cung cấp dịch vụ san lấp mặt bằng cho dự án bất động sản do V làm chủ đầu tư Hai bên đang trong quá trình đàm phán để ký kết HĐ nhưng chưa đi đến thống nhất Trong một bữa tiệc liên hoan, lợi dụng tình trạng không tỉnh táo của ông B do sử dụng rượu, ông Chu Văn S là đại diện theo pháp luật của Công ty Q đã đưa HĐ để ông B

ký vào bản HĐ dịch vụ với giá dịch vụ rất cao HĐ dịch vụ đã ký đã vô hiệu theo Điều 128 BLDS 2015, theo đó ông B do tác động của rượu nên không tỉnh táo, không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình khi ký kết HĐ

Thứ bảy, HĐ vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức - dựa theo Điều

129 BLDS 2015 Quy định tại Điều 129 BLDS cho thấy có 3 nội dung cơ bản:

Nội dung thứ nhất: Vừa thể hiện tính nguyên tắc, vừa phản ánh sự nhất quán

giữa quy định tại khoản 2 Điều 117 của Bộ luật là GDDS vi phạm điều kiện có hiệu lực

về hình thức của GD thì GD đó vô hiệu Dù câu thứ nhất của Điều này có nội dung:

"GDDS vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây ", cách thể hiện theo hướng khẳng định chỉ loại trừ hai trường hợp ngoại lệ,

nhưng cũng không nên cho rằng ngoài hai trường hợp được nêu tại khoản 1, 2 Điều 129, các trường hợp khác (không thuộc hai trường hợp ngoại lệ) dù đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ

mà vi phạm điều kiện về hình thức là đương nhiên vô hiệu

Nội dung thứ hai: Khi luật quy định một loại HĐ nào đó bắt buộc phải thể hiện

bằng văn bản, các bên dù đã thể hiện bằng văn bản, nhưng hình thức thể hiện đó không đúng với hình thức văn bản mà luật đã quy định, mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong HĐ thì HĐ đó sẽ được công nhận có hiệu lực khi có yêu cầu

Nội dung thứ ba: khi luật quy định HĐ không những phải được thể hiện bằng

văn bản mà bắt buộc phải công chứng, chứng thực thì mới coi là hoàn thiện điều kiện có hiệu lực về hình thức, nhưng các bên đã không thực hiện công chứng, chứng thực HĐ, song một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ của HĐ thì HĐ đó

sẽ được công nhận có hiệu lực khi có yêu cầu Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực

Trang 30

Ví dụ: theo quy định của Luật Nhà ở 2014 thì HĐ mua bán nhà phải thực hiện

việc công chứng hoặc chứng thực thì HĐ mới hoàn thiện về hình thức Đây là quy định bắt buộc về hình thức HĐ mua bán nhà trong Luật Nhà ở Hai bên sau khi lập HĐ mua bán nhà bằng văn bản đã không công chứng, cũng không chứng thực HĐ, song bên mua

đã giao 2/3 số tiền mua nhà cho bên bán, bên bán đã nhận 2/3 giá trị HĐ và giao nhà cho bên mua, theo quy định của khoản 3 Điều 129 Bộ luật thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, TA ra quyết định công nhận hiệu lực của HĐ đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện công chứng, chứng thực

Thứ tám, hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được - Điều 408

BLDS 2015

So với Bộ luật cũ thì BLDS 2015 có 2 điểm mới đáng chú ý trong quy định này: i) Điều luật thay từ “giao kết” bằng từ “ký kết” Quy định này phù hợp hơn ở chỗ “giao kết” mang ý nghĩa rộng hơn, bao quát tất cả các trường hợp HĐ được hình thành kể cả bằng hình thức lời nói, văn bản thường hay giao dịch điện tử Còn “ký kết” là cụm từ mang nghĩa hẹp chỉ áp dụng đối với trường hợp giao kết bằng hình thức văn bản có chữ

ký, thậm chí còn hạn chế cả hình thức chấp nhận khác thể hiện trên văn bản như điểm chỉ hoặc đóng dấu ; ii) Điều luật bỏ đi cụm từ “vì lý do khách quan” Tức là luật mới thừa nhận dù vì lý do khách quan hay chủ quan thì nếu ngay từ khi giao kết, đối tượng của HĐ không thể thực hiện được thì HĐ vô hiệu Quy định này là hợp lý bởi lẽ lý do khách quan hay chủ quan chỉ ảnh hưởng đến trách nhiệm phát sinh từ hệ quả của HĐ vô hiệu chứ không ảnh hưởng tới hiệu lực của HĐ

Ví dụ: Thực hiện phương án cổ phần hoá theo quyết định của Bộ Công thương và

hướng dẫn của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, Công ty Điện lực X lập danh sách đăng

ký mua cổ phần Ông A - là cán bộ công nhân viên đăng ký mua 2900 cổ phiếu giá ưu đãi Sau đó, A chuyển nhượng cho ông B quyền mua 2900 cổ phiếu với giá 44.000 đ/1

cổ phiếu Sau đó, do có chỉ đạo của Chính phủ về việc tạm dừng cổ phần hoá đối với Công ty X nên công ty X không thể phát hành cổ phiếu, do vậy việc chuyển nhượng giữa các bên không hoàn tất được HĐ giữa A và B vô hiệu theo khoản 1 Điều 408 BLDS 2015

Bên cạnh các trường hợp vô hiệu nêu trên, chủ thể kinh doanh cần lưu ý vấn đề

HĐ vô hiệu do chủ thể HĐ không bảo đảm điều kiện về đăng ký doanh nghiệp/kinh doanh và HĐ vô hiệu do người đại diện không đúng thẩm quyền ký kết cũng như một số trường hợp HĐ vô hiệu khác:

i) Các BLDS trước đây và hiện hành đều không quy định cụ thể về trường hợp

HĐ không bảo đảm điều kiện về đăng ký doanh nghiệp/kinh doanh Tuy nhiên, với các quy định của pháp luật trước đây có thể suy ra trường hợp vô hiệu này từ các quy định của pháp luật có liên quan như: LDN 2014, LTM 2005 Một trong các bên ký kết HĐ không có đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong HĐ sẽ làm cho HĐ vô hiệu Việc không có đăng ký doanh nghiệp để thực hiện công việc đã thoả thuận trong HĐ thể hiện chủ thể HĐ không có năng lực chủ thể để thực hiện các nghĩa vụ HĐ trong kinh doanh Tuy nhiên, đăng ký doanh nghiệp chỉ đòi hỏi bắt buộc với chủ thể là thương nhân Vì vậy, nếu pháp luật quy định để thực

Trang 31

hiện công việc đã thỏa thuận trong HĐ đòi hỏi cả hai bên phải có đăng ký doanh nghiệp (HĐ đại lý; HĐ đại diện cho thương nhân) mà một trong các bên không có đăng ký doanh nghiệp thì HĐ bị coi là vô hiệu toàn bộ Nếu pháp luật quy định chỉ cần một bên

có đăng ký doanh nghiệp (bên bán trong HĐ mua bán; bên cung ứng dịch vụ trong HĐ dịch vụ; bên nhận thầu trong HĐ xây dựng; bên vận chuyển trong HĐ vận chuyển) mà bên đó không có đăng ký doanh nghiệp thì HĐ đó cũng bị coi là vô hiệu toàn bộ

Trước khi Hiến pháp 2013, LDN 2014, BLDS 2015 được ban hành và có hiệu lực, thì các bên còn phải lưu ý và quan tâm đến cả vấn đề ngành nghề trong Giấy phép đăng

ký kinh doanh Hiện nay, mối quan hệ giữa đăng ký doanh nghiệp và hiệu lực của HĐ theo các quy định pháp luật hiện hành thì yêu cầu đăng ký ngành nghề trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ mang tính chất quản lý hành chính nên không ảnh hưởng tới hiệu lực của HĐ Quy định mới này của LDN 2014 là rất tiến bộ và cần thiết, bảo đảm hơn cho quyền tự do kinh doanh của cá nhân và doanh nghiệp

ii) Pháp luật không quy định trường hợp HĐ “vô hiệu” do được ký kết bởi người đại diện không có/đúng thẩm quyền Quy định tại các Điều 142, 143 BLDS 2015 không nói rõ hướng tuyên “vô hiệu” đối với trường hợp này mà chỉ là hợp đồng “không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện” Tuy nhiên, thực tế cho thấy các

TA xử lý theo hướng HĐ/GD vô hiệu nhưng không đưa ra được cơ sở pháp lý cho việc khẳng định GD/HĐ vô hiệu (Bản án số 1422/2011/DS-ST ngày 18/11/2011 của TAND thành phố Hồ Chí Minh; Quyết định số 03/2013/HNGĐ-GĐT ngày 10/01/2013 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC…) Còn tại các Trung tâm Trọng tài thì theo hướng thỏa thuận trọng tài “vô hiệu” theo khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 20104

iii) Một số trường hợp vô hiệu khác: hợp đồng cần có sự chấp thuận của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị nhưng không tuân thủ; hợp đồng cho thuê lại tài sản khi chưa được bên cho thuê đồng ý…5

Ví dụ: ngày 15/02/2017, bà Nguyễn Thị Thiên Trinh có ký HĐ thuê nhà với Công

ty TNHH Dịch vụ Hà Hoa Công ty cho bà Trinh thuê 01 căn nhà số 21A BTX, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Thời gian thuê từ ngày 01/03/2017 đến 01/03/2020, giá thuê 02 năm đầu là 1800 USD/tháng, giá thuê những năm tiếp theo 2000 USD/tháng Đến 01/09/2017, do tình hình kinh doanh gặp khó khăn nên bà Trinh không thể tiếp tục thuê căn nhà nói trên Vì vậy bà Trinh quyết định cho Công ty TNHH một thành viên Quốc Đạt thuê lại căn nhà nêu trên làm mặt bằng kinh doanh Sau đó, Công ty Quốc Đạt

đã sửa chữa lại toàn bộ căn nhà thuê để phù hợp với công việc kinh doanh của mình Công ty Hà Hoa biết sự việc, tranh chấp xảy ra TA xác định HĐ cho thuê lại giữa bà Trinh và Công ty Quốc Đạt vô hiệu căn cứ vào các quy định tại Điều 122 và Điều 475 BLDS 2015 Theo đó, HĐ cho thuê lại giữa bà Trinh và Công ty Quốc Đạt vô hiệu do chưa có sự đồng ý của Công ty Hà Hoa

2.1.3 Về xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

4 Sẽ được phân tích sâu ở Chương 3 của Luận văn – Bình luận vụ án số 02

5 Không thuộc các trường hợp đã nêu và phân tích ở trên – căn cứ Điều 122 BLDS 2015 – sẽ được phân tích sâu ở Chương 3 của Luận văn

Trang 32

Giữa HĐ có hiệu lực và HĐ vô hiệu có hậu quả khác nhau, trách nhiệm giữa các bên trong HĐ là khác nhau Đối với HĐ có hiệu lực thì các bên bắt buộc phải thực hiện theo những gì mà hai bên thỏa thuận trong HĐ, nếu bên nào đơn phương đình chỉ, không thực hiện những nội dung đã thỏa thuận trong HĐ sẽ phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại đã gây ra cho phía bên kia do việc đình chỉ đó, đồng thời còn có thể bị phạt do vi phạm Vậy thì đối với trường hợp HĐ vô hiệu thì hậu quả pháp lý của HĐ sẽ như thế nào?

Điều 131 BLDS 2015 đã quy định về hậu quả của GD dân sự vô hiệu Dựa theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 131 này có thể thấy khi HĐ không có hiệu lực sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm HĐ được xác lập Điều đó có nghĩa là, nếu việc xác lập HĐ nhằm phát sinh quyền, nghĩa vụ thì khi HĐ vô hiệu những thỏa thuận về quyền, nghĩa vụ trong HĐ không có giá trị pháp

lý, không ràng buộc các bên Khi HĐ vô hiệu thì không phải vô hiệu ở thời điểm HĐ bị tuyên bố vô hiệu mà HĐ bị vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập HĐ Điều đó có nghĩa là, nếu các bên chưa thực hiện HĐ thì không được thực hiện nữa, nếu HĐ đã được thực hiện tức các bên đã thực hiện quyền, nghĩa vụ thì sẽ khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi thiết lập HĐ, hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Việc BLDS 2005 và BLDS

2015 đều quy định “…các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau

những gì đã nhận…” là rất chuẩn xác, vừa mang tính bao quát, vừa hàm chứa tính cụ

thể Quy định này chứa đựng hai nội dung rất rõ ràng, đó là: (1) khôi phục lại tình trạng ban đầu, tức mọi thứ trở lại tình trạng đúng như trước thời điểm xác lập GD, hai bên phải khôi phục lại như cũ; (2) hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, chứ không phải là những vật

đã nhận, những tài sản đã nhận hay đối tượng HĐ đã nhận

Chúng ta phải hiểu rằng việc Bộ luật quy định: “Khi GD dân sự vô hiệu thì các

bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả” là quy định có

tính nguyên tắc chung, không nên hiểu và áp dụng một cách máy móc như trước đây đã từng xuất hiện Việc xử lý hậu quả của GD phải phù hợp với tính chất của GD

Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân X ký HĐ thuê tài sản của Công ty M, HĐ thỏa

thuận thời hạn thuê là 2 năm, tính từ thời điểm bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê Giá cả và phương thức thanh toán hai bên thỏa thuận mỗi năm bên thuê phải trả cho bên cho thuê 120.000.000 đồng, tiền thuê được trả trước 1 năm; thời hạn giao tiền: Trong thời hạn 10 ngày của tháng đầu tiên, kể từ ngày nhận được tài sản thuê Trên thực tế bên cho thuê đã giao tài sản, đã nhận đủ 120.000.000 đồng tiền thuê của một năm, hai bên đã thực hiện HĐ được 5 tháng, bên thuê đã và đang khai thác công dụng của tài sản thuê thì HĐ thuê tài sản bị tuyên vô hiệu Vậy khi này “những gì đã nhận” giữa các bên là như thế nào?

Nếu hiểu và áp dụng một cách máy móc quy định này sẽ là buộc bên thuê trả lại đối tượng của HĐ thuê và những gì đã nhận cho bên cho thuê, còn bên cho thuê phải trả cho bên thuê 120.000.000 đồng để nhận lại tài sản từ bên thuê và giấy tờ liên quan đã giao cho bên thuê Tuy nhiên, trong trường hợp này không thể xử lý buộc bên cho thuê phải trả lại 120.000.000 đồng và nhận lại tài sản, giấy tờ liên quan, còn bên thuê trả lại tài sản đã thuê, giấy tờ liên quan và được nhận lại số tiền thuê đã trả là 120.000.000

Trang 33

đồng, mà cần xử lý theo hướng tuyên bố HĐ cho thuê vô hiệu, bên thuê trả tài sản cho bên cho thuê…, còn bên cho thuê chỉ phải trả lại cho bên thuê 70.000.000 đồng Sở dĩ khẳng định như vậy bởi: nếu phân tích về mặt lý thuyết có thể thấy rằng, bên cho thuê giao tài sản là đã đồng ý để bên thuê tiêu dùng một phần giá trị của tài sản, bên thuê đã

sử dụng, đã tiêu dùng phần giá trị này, khi HĐ bị tuyên bố vô hiệu, bên thuê không thể hoàn trả cho bên cho thuê phần đã sử dụng, đã tiêu dùng, phần đó tương đương giá trị là 50.000.000 đồng Vì lẽ đó, bên cho thuê không phải trả lại cho bên thuê 50.000.000 đồng Nói khác đi 50.000.000 đồng được coi là phần bên thuê đã nhận, đã tiêu dùng không trả lại được cho bên cho thuê nên đã hoàn trả bằng giá trị cho bên cho thuê Dựa trên cơ sở lý luận đó, với những diễn biến thực tế của vụ án nên chỉ buộc bên cho thuê trả lại cho bên thuê số tiền 70.000.000 đồng, chứ không phải là 120.000.000 đồng Đây

là số tiền bên cho thuê nhận trước theo thỏa thuận, vì bên thuê chưa tiêu dùng, đã hoàn trả (nằm trong chính đối tượng thuê) phần giá trị của tài sản thuê, thì bên cho thuê phải trả lại phần giá trị đó cho bên thuê Trường hợp hai bên vừa bắt đầu thực hiện HĐ (một bên vừa nhận được tài sản thuê, một bên vừa nhận tiền cho thuê trả trước) HĐ cho thuê

bị tuyên bố vô hiệu thì sẽ thực hiện đúng như quy định là một bên nhận lại tài sản cho thuê, bên kia nhận lại số tiền thuê trả trước là 120.000.000 đồng

Nếu như BLDS 2005 quy định “…nếu không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì

phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản GD, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật”, thì BLDS 2015 đã bỏ quy định tịch thu tài sản GD, bỏ việc

tịch thu hoa lợi, lợi tức thu được Thay vào đó BLDS 2015 đã sửa đổi, bổ sung và quy

định tại khoản 3 Điều 131 như sau: “Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không

phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó” Từ quy định này có hai vấn đề cần lưu ý: một là, từ

nay trở đi khi giải quyết HĐ vô hiệu không được tịch thu tài sản HĐ, không tịch thu hoa

lợi, lợi tức thu được từ HĐ vô hiệu; hai là, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ đối tượng của HĐ

bên nào sẽ được hưởng phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để quyết định

Cũng theo quy định tại khoản 3 Điều 131 thì bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó Tức là, bên đã nhận đối tượng của HĐ, trong thời gian HĐ chưa bị tuyên bố vô hiệu, thời gian chưa giao trả tài sản mà phát sinh hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của HĐ thì bên đang quản lý, chiếm hữu hoa lợi, lợi tức đó

sẽ được hưởng, nếu là người ngay tình

Tuy nhiên, phải hiểu “bên ngay tình trong việc thu hoa lợi…” là như thế nào? Thế

nào là ngay tình và không ngay tình “trong việc” thu hoa lợi? Ở đây nhà làm luật muốn đặt trong mối quan hệ giữa hoa lợi, lợi tức với người thu hoa lợi (chứ không phải trong mối quan hệ chiếm hữu vật đã sinh ra hoa lợi…) để xét có ngay tình hay không ngay tình? Nếu xét trong mối quan hệ giữa hoa lợi với hành vi thu hoa lợi đó thì người này luôn luôn ngay tình, không bao giờ là không ngay tình Mặt khác, cũng chính Bộ luật đã

có một số sửa đổi, bổ sung với quan điểm rất mới liên quan đến chiếm hữu, như quy định tại Điều 194 là:

Trang 34

“1 Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh

2 Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền

3 Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật này

và luật khác có liên quan”

Trên thực tế, hoa lợi, lợi tức có thể phát sinh từ đối tượng của HĐ bị vô hiệu (mua vườn cây ăn trái, cây ra hoa đậu quả…) Vật mới được hình thành này là sự phát triển tự nhiên có mối quan hệ hữu cơ với vật ban đầu, nên thông thường chủ sở hữu vật ban đầu

sẽ là chủ sở hữu hoa lợi đó nếu không có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Nhưng cũng có thể trong thời gian HĐ chưa bị tuyên vô hiệu thì người đang chiếm hữu, quản lý đối tượng của HĐ thực hiện một HĐ cho thuê đối với đối tượng này và thu được một khoản tiền cho thuê Nếu cho rằng, việc cho thuê là không ngày tình để cho rằng khoản tiền nhận được từ việc cho thuê là không ngay tình thì cũng không đúng với quy định tại khoản 3 Điều 131, vì việc không ngay tình của việc cho thuê (nếu có) thì đó là không ngay tình đối với GD cho thuê sẽ được xử lý trong mối quan hệ này (quan hệ pháp luật thuê

tài sản), chứ không thuộc phạm vi không “ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức”

Như vậy, không thể xét ngay tình hay không ngay tình trong mối quan hệ giữa hoa lợi và thu hoa lợi, lợi tức được vì thế cần hiểu và nhận thức quy định trên cơ sở logic của vấn đề được đặt ra đối với HĐ vô hiệu để giải thích thì mới đúng ý đồ của nhà làm

luật Do đó, quy định “bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả

lại hoa lợi lợi tức đó” phải được hiểu trong mối quan hệ hình thành, tạo ra việc chiếm

hữu vật đã sinh ra hoa lợi, lợi tức việc chiếm hữu hoa lợi, lợi tức đó mới ngay tình; người thu hoa lợi, lợi tức mới được hưởng hoa lợi, lợi tức, còn nếu khi thực hiện HĐ là không ngay tình (ví dụ thực hiện thủ đoạn lừa dối, đe dọa, cưỡng bức để xác lập HĐ, thì việc chiếm hữu đối tượng của HĐ là không ngay tình, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ đối tượng của HĐ mà người này đang chiếm hữu cũng không ngay tình), thì bên không ngay tình không được hưởng hoa lợi, lợi tức và phải hoàn trả Trong trường hợp này, bên không ngay tình khi xác lập HĐ, việc chiếm hữu vật của chủ thể này cũng không ngay tình, sau

đó HĐ này bị tuyên bố vô hiệu thì bên không ngay tình ngoài việc phải hoàn trả những gì

đã nhận còn phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức đó

Khi bên tham gia GD là không ngay tình, việc chiếm hữu vật cũng không ngay tình, nên việc thu hoa lợi, lợi tức là không ngay tình, áp dụng khoản 3 Điều 131 buộc bên thu hoa lợi, lợi tức hoàn trả hoa lợi, lợi tức đó là hoàn toàn cần thiết và đúng như quy định của khoản 3 Điều 131 Dù quy định tại khoản 3 Điều này không đề cập gì thêm, nhưng nếu phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp dừng ở đây thì có thể sẽ không đúng Bởi lẽ, để có được hoa lợi đó, phần giá trị lớn hơn kể từ khi hoa lợi đó được sản

Trang 35

sinh ra có phần chi phí, công sức của người thu hoa lợi6 Do đó, khi buộc họ trả lại hoa lợi cần xem xét công sức, chi phí hợp lý mà họ đã bỏ ra để buộc bên được nhận hoa lợi này thanh toán công sức, chi phí hợp lý này cho họ nếu có yêu cầu

Khi GD vô hiệu không chỉ khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau

những gì đã nhận mà “bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường” Bên bị coi là có lỗi

được đề cập trong quy định này chính là bên có những hành vi (hành động hoặc không hành động) làm cho HĐ vô hiệu Tùy theo hành vi của mỗi bên trong quá trình xác lập, thực hiện HĐ để xác định bên nào là bên có lỗi Trên thực tế có trường hợp lỗi làm cho

HĐ vô hiệu là do một bên nhưng cũng có trường hợp cả hai bên đều có lỗi Nếu hai bên cùng có lỗi phải thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ mức độ lỗi của mỗi bên làm cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường của mỗi bên đối với thiệt hại đã xảy ra Thực tiễn xét xử cho thấy, có những Hội đồng xét xử chưa chú ý đúng mức vấn đề này, thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ, xác định mức độ lỗi không chính xác Những sai sót này thường dẫn đến hậu quả bản án, quyết định bị sửa, hủy để giải quyết lại Do đó, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư tham gia tố tụng cần chú ý đến vấn đề này7

Cả ba BLDS đều quy định giống nhau là “bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi

thường” nhưng việc xác định thế nào là thiệt hại thì không phải ngay từ đầu đã có nhận

thức thống nhất Trong suốt thời gian BLDS năm 1995 có hiệu lực đã có sự “loay hoay”, lúng túng trong xác định thiệt hại khi GD vô hiệu đối với một vài loại GD, ví dụ như trường hợp HĐ “mua bán” nhà, đất vô hiệu, sự lúng túng trong xác định thiệt hại đã từng được phản ánh trong thực tiễn xét xử Nhưng cũng chính từ thực tiễn đã định hình được thiệt hại đối với các loại HĐ đó, việc xác định thiệt hại ngày một toàn diện, hợp lý, phù hợp với thực tế cuộc sống

Nếu như các bộ luật trước đây chúng ta xác định thiệt hại trong GD chỉ có thiệt hại vật chất, thì nay theo quy định BLDS 2015 nếu vi phạm HĐ mà gây thiệt hại tinh thần thì phải bồi thường (khoản 3 Điều 419)

Tuy nhiên, quy định về hậu quả của việc hủy bỏ HĐ tại Điều 427 cũng chỉ đề cập BTTH tinh thần tại khoản 5 Điều này đối với trường hợp hủy bỏ HĐ do vi phạm nghĩa

vụ, không có điều khoản nào quy định rõ về BTTH HĐ do vô hiệu Quy định tại Điều

131 về hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu cũng không đề cập BTTH tinh thần? Phải chăng nhà làm luật theo hướng khi GD, HĐ vô hiệu không được BTTH tinh thần? Nếu đúng là như vậy thì không logic và không hợp lý, vì khi vi phạm HĐ dẫn đến thiệt hại tinh thần được bồi thường thì khi GD, HĐ vô hiệu mà có thiệt hại tinh thần do lỗi của

bên kia thì cũng phải được bồi thường Trong khi luật chưa thể hiện rõ, các TA cần

coi đây là nhiệm vụ được trao cho án lệ Bởi lẽ, tuy Bộ luật không có quy định rõ về vấn đề này, nhưng cũng không có quy định nào cấm, do đó, trong trường hợp GD,

HĐ vô hiệu mà có thiệt hại tinh thần, có yêu cầu giải quyết, đã xuất trình được tài liệu, chứng cứ thì TA, Trọng tài cần chấp nhận Tại khoản 5 Điều 131 có bổ sung các

6 Tưởng Duy Lượng (2018), Giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả giao dịch vô hiệu theo quy định của

BLDS 2015, Tòa án nhân dân, (01), tr.7-12

7 Tưởng Duy Dượng, tlđd 10, tr.11

Trang 36

trường hợp việc giải quyết hậu quả của GDDS liên quan đến quyền nhân thân mà BLDS hoặc luật khác có liên quan quy định, thì đồng thời phải giải quyết vấn đề này

i) Thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố HĐ vô hiệu là 2 năm đối với trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện, được tính

từ ngày người đại diện của những người kể trên biết hoặc phải biết người được đại diện

tự mình xác lập, thực hiện HĐ Do những chủ thể nói trên đang trong tình trạng không có hoặc không đủ năng lực nhận thức, làm chủ hành vi của mình nên mọi GD phải do người đại diện của họ thực hiện Do đó, thời hiệu 2 năm phải tính từ ngày người đại diện của những chủ thể này biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện

GD Đây là sự thay đổi hợp lý của Bộ luật mới

ii) Thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố HĐ vô hiệu là 2 năm đối với trường hợp HĐ do

bị nhầm lẫn, lừa dối được tính từ ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết

HĐ được xác lập do bị nhầm lẫn, bị lừa dối

iii) Thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố HĐ vô hiệu là 2 năm đối với trường hợp HĐ

do bị đe dọa, cưỡng ép được tính từ ngày người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép

iv) Thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố HĐ vô hiệu là 2 năm đối với trường hợp HĐ được xác lập vào thời điểm người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình được tính từ ngày người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập HĐ

Thời điểm tính thời hiệu 2 năm đối với trường hợp này từ ngày xác lập HĐ liệu đã hợp lý? Quy định này chỉ phù hợp trong trường hợp ngay trong ngày xác lập HĐ chủ thể này đã trở lại tình trạng bình thường Chúng ta biết có những người “phê thuốc”, ngộ độc rượu có thể sau hai ba ngày, có trường hợp cá biệt còn lâu hơn, nên thời hiệu 2 năm tính

từ ngày xác lập HĐ theo tác giả là chưa phù hợp thực tế

v) Thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố HĐ vô hiệu là 2 năm đối với trường hợp HĐ do không tuân thủ quy định về hình thức thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu là từ ngày HĐ được xác lập Hết thời hiệu 2 năm mà không có yêu cầu tuyên bố HĐ vô hiệu thì HĐ có hiệu lực Nói khác đi hết thời hạn hai năm thì những vi phạm về điều kiện có hiệu lực thuộc các trường hợp nêu trên sẽ không còn là căn cứ để xác định HĐ vô hiệu

Riêng đối với HĐ vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội;

HĐ vô hiệu do giả tạo được quy định tại Điều 123, Điều 124 của Bộ luật thì thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố HĐ vô hiệu không bị hạn chế về thời gian Nói cách khác, đối với

Trang 37

hai trường hợp HĐ vô hiệu được quy định tại Điều 123, 124 của Bộ luật thì bất kể HĐ mới được xác lập hay được xác lập đã nhiều năm (trên hai năm trở lên) mà đương sự có yêu cầu TA tuyên bố HĐ đó vô hiệu thì về nguyên tắc là được chấp nhận

Như vậy, BLDS quy định thời hiệu theo hướng liệt kê những trường hợp thuộc một trong hai loại này nhưng cách liệt kê này có hạn chế là Bộ luật chỉ liệt kê được một

số trường hợp và chưa “quét” hay bao quát hết các trường hợp HĐ vô hiệu Chẳng hạn, đối với HĐ vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 408 BLDS 2015), đoạn 3 khoản 1 Điều 59 BLDS 2015 Theo tác giả, chúng ta cần phải xem xét từng trường hợp cụ thể để xác định thời hiệu, (ví dụ: “HĐ vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được” nên áp dụng thời hiệu không giới hạn) cũng có thể áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện chung của Bộ luật Tố tụng dân sự

Vì có trường hợp thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố HĐ vô hiệu bị giới hạn nên chúng ta cần bàn về hậu quả của trường hợp hết thời hiệu yêu cầu TA can thiệp Theo quy định, khi thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố HĐ vô hiệu đã hết thì bên có quyền yêu cầu

“mất quyền” yêu cầu – Điều 150 BLDS và TA phải từ chối giải quyết yêu cầu Vấn đề đặt ra là: khi thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố GD vô hiệu đã hết thì số phận của GD này như thế nào? GD còn có hiệu lực ràng buộc giữa các bên không? Đây là khoảng trống

mà pháp luật trước đây còn bỏ ngỏ Tuy nhiên, điều này đã được khắc phục tại khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 và đó là giải pháp thuyết phục khi pháp luật chính thức công nhận

HĐ có hiệu lực pháp luật khi hết thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố HĐ vô hiệu Bởi lẽ, để

có thể tuyên bố một HĐ là vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa thì TA cần phải xác định

là nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa thực sự tồn tại và việc xác định này hiện nay không thể được tiến hành vì hết thời hiệu Do không có cơ sở để khẳng định là các điều kiện để tuyên bố

HĐ vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa đã hội đủ thì chúng ta buộc phải suy luận rằng

HĐ được giao kết không có nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa Vì vậy, HĐ này được coi là hợp pháp nếu các điều kiện khác để HĐ có hiệu lực được thỏa mãn

Hai là, quy định về thẩm quyền tuyên bố HĐ vô hiệu

Hiện nay, trên cơ sở quyền tự do HĐ, HĐ KDTM vô hiệu được giải quyết với sự tách biệt rõ hai quan hệ pháp luật: i) xử lý hành chính hoặc hình sự đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật; ii) giải quyết tranh chấp về tài sản liên quan đến HĐ KDTM vô hiệu

Như vậy, về bản chất, ở góc độ quan hệ tài sản không đặt ra vấn đề "xử lý" hay

"tuyên bố" HĐ vô hiệu Chính vì vậy, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại (kể cả TA, Trọng tài) không chủ động tuyên bố hay xử lý HĐ vô hiệu mà chỉ giải quyết tranh chấp về HĐ vô hiệu khi có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp của một hoặc các bên

Khi HĐ vô hiệu, các bên có thể tự giải quyết với nhau bằng cách thỏa thuận không tiếp tục HĐ Trong thực tế, khi một trong những điều kiện để HĐ có hiệu lực không được hội đủ thì không hiếm trường hợp các bên đã cùng nhau bỏ HĐ (không tiếp tục HĐ) và không cần đến sự can thiệp của cơ quan tài phán Trong trường hợp các bên không thống nhất được với nhau về cách thức xử lý HĐ vô hiệu và một bên muốn xác định HĐ vô hiệu thì phải được TA tuyên bố HĐ vô hiệu – xem điều 132 BLDS 2015

Trang 38

Điều luật chỉ đề cập đến TA trong việc tuyên bố GD vô hiệu nhưng thực tế cả Trọng tài cũng có thẩm quyền tuyên bố HĐ vô hiệu Cũng đã có trường hợp phán quyết của trọng

tài bị hủy với lý do: “HĐ dịch vụ tư vấn vô hiệu vì vi phạm điều cấm của pháp luật nên

không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài” Cũng tồn tại một số quan điểm của

các luật gia cũng như nhà làm luật cho rằng: thẩm quyền tuyên bố HĐ vô hiệu chỉ thuộc

về TA Bởi lẽ, pháp luật hiện hành không có quy định về thẩm quyền của Trọng tài trong vấn đề này Tuy nhiên theo tác giả, việc HĐ vô hiệu không làm mất đi thẩm quyền của Trọng tài Tại Quyết định số 1948/2011/QĐKDTM-ST ngày 07/11/2011 của TAND

thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm này Cụ thể: “ Việc công ty Đông Hải

cho rằng chỉ có TA mới có thẩm quyền giải quyết HĐ vô hiệu theo quy định BLDS là không có căn cứ như đã nhận xét ở trên Những lý do mà Công ty Đông Hải đưa ra về vấn đề HĐ vô hiệu là: “Công ty AIC không đủ điều kiện kinh doanh ngành nghề; vi phạm điều cấm của pháp luật; GD vô hiệu Những nội dung tranh chấp này trọng tài đã giải quyết, Hội đồng phiên họp xét đơn yêu cầu không xem xét lại”” 8 Lưu ý là trong trường hợp yêu cầu tuyên bố vô hiệu là quyền của một bên thì trên cơ sở nguyên tắc tự định đoạt được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, TA không được tự tuyên bố

HĐ vô hiệu nếu không được một bên yêu cầu Do đó, TA và Trọng tài đều có thể có thẩm quyền trong vấn đề HĐ vô hiệu

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại tại Tòa kinh tế -Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

2.2.1 Công tác giải quyết, xét xử các vụ án kinh doanh thương mại giai đoạn năm 2011 – 2017

Bảng 2 Bảng số liệu các vụ án KDTM được giải quyết, xét xử của TA kinh tế

Qua bảng số liệu về thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án KDTM cho thấy, các tranh chấp án KDTM chủ yếu là tranh chấp về các HĐ tín dụng; MBHH; cung ứng dịch vụ… Với sự tiếp tục gia tăng các tranh chấp với tính chất và diễn biến ngày càng phức

8 Đỗ Văn Đại (2014), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội

Trang 39

tạp thì nhìn chung, TA kinh tế - TAND thành phố Hà Nội cũng như toàn ngành TA nói chung đều nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường kinh tế an toàn và tin cậy góp phần phát triển kinh tế của Thủ đô cũng như cả nước nói chung TA đã tăng cường công tác hòa giải để việc giải quyết vụ án nhanh chóng, dứt điểm, hạn chế mâu thuẫn tranh chấp giữa các bên Thực hiện đúng các quy định của pháp luật, các Thẩm phán đã không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng hồ sơ vụ án, làm rõ yêu cầu của đương sự trong vụ án, tăng cường phối hợp với các cơ quan hữu quan trong quá trình giải quyết vụ án giúp cho việc giải quyết được nhanh chóng, dứt điểm và đúng thời hạn

Tỉ lệ án hòa giải thành tăng do TA chú trọng và đẩy mạnh công tác hòa giải đối với án KDTM, lao động Ví dụ: năm 2013 Tòa hòa giải thành chiếm 32% (khoảng 124/388 vụ án), năm 2014 là khoảng 35% (214/610 vụ) Nhìn chung công tác giải quyết, xét xử án KDTM của Tòa Kinh tế qua các năm đều tăng về số vụ án thụ lý cũng như số

vụ án giải quyết, Tòa kinh tế đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và có những kết quả rất đáng ghi nhận

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn những tồn tại, hạn chế trong công tác xét xử Vẫn còn tồn tại án quá hạn, lấy ví dụ: năm 2013 án quá hạn là 10 vụ, năm

2014 để quá hạn 11 vụ Án bị hủy (khoảng 2%) và bị sửa (khoảng 1,7%) vẫn còn tồn tại; hay có 11 vụ án Tòa kinh tế tuyên không rõ ràng gây khó khăn trong quá trình thi hành

án (số liệu năm 2014) Tỷ lệ án bị hủy (do lỗi chủ quan) và sửa còn chưa giảm Các vụ án

bị hủy nguyên nhân chủ yếu là do sai sót trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự hoặc xác minh thu thập chứng cứ không đầy đủ, áp dụng không đúng các quy định của pháp luật nội dung về đường lối giải quyết

Ngoài ra còn do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan khác như: do số lượng các vụ án đều gia tăng theo từng năm với diễn biến và tính chất ngày càng phức tạp, trong khi đó một số quy định của pháp luật còn nhiều bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn nhưng chậm được sửa đổi bổ sung hoặc chưa được hướng dẫn áp dụng Các vụ án

để quá hạn một phần do nhiều cấp, ngành lưu giữ chứng cứ không cung cấp cho TA kịp thời, không trả lời xác minh của TA theo quy định của pháp luật; bên cạnh đó có nhiều

vụ án có yếu tố nước ngoài, việc ủy thác tống đạt, triệu tập và thu thập chứng cứ mất rất nhiều thời gian hoặc không có kết quả cũng làm chậm quá trình giải quyết vụ án

Mặt khác, biên chế cán bộ, Thẩm phán không được bổ sung dẫn đến công việc quá tải Trang thiết bị phục vụ công tác còn thiếu Chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành TA chưa thực sự tương xứng với tính chất đặc thù công việc

2.2.2 Bình luận một số bản án

Vụ án 1: Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức(?)

Nội dung tóm tắt của vụ việc: Ngày 24/8/2005, Công ty TODIXAS gửi đơn khởi kiện Công ty Thùy Anh tới TAND thành phố Hà Nội Tại Bản án KDTM sơ thẩm số 43/2006/KDTM-ST ngày 24/5/2006 TAND thành phố Hà Nội quyết định: Chấp nhận yêu cầu đơn phương hủy bỏ HĐ ngày 01/8/2001… Buộc Công ty TNHH Thùy Anh phải bàn giao toàn bộ nhà xưởng theo HĐ ngày 01/8/2001 và phải thanh toán cho Công ty

Trang 40

Điện máy, xe đạp, xe máy tiền thuê nhà xưởng từ tháng 7/2004 đến tháng 4/2006 là 308.000.000 đồng…

Bản án sơ thẩm bị kháng cáo, Bản án phúc thẩm sau đó bị kháng nghị Tại Quyết định kháng nghị số 07/KN-VKSTC-V12 ngày 28/4/2008, Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị Bản án KDTM phúc thẩm số 214/2006/KDTM-PT ngày 21/11/2006 Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án KDTM sơ thẩm số 43/2006/KDTM-ST ngày 24/5/2006 của TAND thành phố Hà Nội và Bản án KDTM phúc thẩm nêu trên, giao hồ

sơ vụ án cho Tòa cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung, với nhận định (tóm tắt):

Tại Điều 2 của “HĐ thuê nhà xưởng để sản xuất” ngày 01/8/2001 có nội dung:

“Diện tích cho thuê được thỏa thuận theo đơn giá 7.000 đ/m 2 /tháng X 2.000m 2 = 14.000.000 đ” Với thỏa thuận như trên thì đây là HĐ cho thuê đất Việc TA sơ thẩm và cấp

phúc thẩm nhận định diện tích đất, nhà xưởng mà Công ty Điện máy, xe đạp, xe máy ký HĐ cho Công ty Thùy Anh thuê thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên cho thuê là không đúng;

Tại thời điểm Công ty Điện máy, xe đạp, xe máy ký “HĐ cho thuê nhà xưởng để sản xuất” (ngày 01/8/2001 và cho đến nay) Công ty này không có đủ các điều kiện về QSDĐ để ký HĐ cho thuê đất hoặc cho thuê lại đất theo các quy định của pháp luật và Công ty này không thực hiện đúng “Trách nhiệm của người sử dụng đất” được quy định tại Điều 41 Nghị định số 17/1999/NĐ-CP của Chính Phủ Như vậy, “HĐ thuê nhà xưởng

để sản xuất” ngày 01/8/2001 giữa Công ty Điện máy, xe đạp, xe máy và Công ty Thùy Anh là trái pháp luật Việc cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm không tuyên bố HĐ thuê đất này là HĐ vô hiệu và xử lý hậu quả của HĐ vô hiệu là không đúng

Trong trường hợp “HĐ thuê nhà xưởng để sản xuất” ngày 01/8/2001 là HĐ thuê

nhà như Bản án sơ thẩm và phúc thẩm nhận định thì HĐ này phải đảm bảo hình thức và nội dung của HĐ thuê nhà theo quy định của pháp luật…” HĐ thuê nhà xưởng để sản

xuất giữa Công ty Điện máy, xe đạp, xe máy và Công ty Thùy Anh ngày 01/8/2001 có thời hạn 05 năm nhưng không có chứng nhận của Công chứng Nhà nước, không có chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền và cũng không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Như vậy, HĐ cho thuê nhà xưởng nêu trên bị vô hiệu ngay tại thời điểm ký kết Do vậy, việc TA cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc Công ty Thùy Anh phải trả 308 triệu đồng tiền thuê nhà xưởng còn thiếu cho Công ty Điện máy, xe đạp, xe máy là không có căn cứ và trái pháp luật

Ngày 15/5/2008 Công ty Điện máy, xe đạp, xe máy có đơn khiếu nại Quyết định kháng nghị số 07/KN-VDSTC-V12 ngày 28/4/2008 của Viện trưởng VKSNDTC

Hội đồng Thẩm phán TANDTC xét thấy: Tiêu đề của HĐ được hai bên thống

nhất là “HĐ thuê nhà xưởng để sản xuất” có nội dung: “…HĐ thuê diện tích 2.000m 2 đất trong đó có một nhà hai tầng và 3 dãy nhà xưởng…” Công ty Điện máy, xe đạp, xe máy

– TODIXAS đã bàn giao tài sản cho thuê theo Biên bản bàn giao ngày 29/8/2001 gồm khu nhà hai tầng (tổng diện tích xây dựng và sử dụng 342,72m2), hai dãy nhà xưởng (tổng diện tích xây dựng 620,67m2), lán chống không tường bao (diện tích xây dựng 341,90m2), lán làm thêm (diện tích xây dựng 57,20m2), nhà văn phòng kho làm việc

Ngày đăng: 30/07/2019, 19:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm