pháp luật trong hoạt động kinh doanh còn yếu; bên cạnh đó, hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp, chồng chéo, việc áp dụng các văn bản pháp luật cũng không hề dễ dàng do có nhiều văn bản
Trang 1TRẦN THỊ THU TRANG
PH¸P LUËT VÒ Hç TRî PH¸P Lý CHO DOANH NGHIÖP NHá Vµ VõA Vµ THùC TIÔN
THùC HIÖN T¹I TØNH L¹NG S¥N
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ THU TRANG
PH¸P LUËT VÒ Hç TRî PH¸P Lý CHO DOANH NGHIÖP NHá Vµ VõA Vµ THùC TIÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 8 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Bảo Ánh
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Thu Trang
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ L LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA VÀ PHÁP LUẬT VỀ H TR PHÁP L CHO DOANH
1.1 Nhận thức chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa và hỗ trợ pháp lý cho
1.3 inh nghiệm từ một số nư c trên thế gi i về hỗ trợ pháp lý cho
Chương 2: TH C TIỄN TH C HIỆN PHÁP LUẬT VỀ H TR PHÁP
LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH L NG S N 34
2.2 Những thành tựu đạt được của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Lạng Sơn 39 2.3 Những tồn tại, hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lạng Sơn 45 2.4 Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lạng Sơn 49
Chương 3: QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
VÀ CÁC GIẢI PHÁP N NG CAO HIỆU QUẢ C NG TÁC
H TR PHÁP L CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một bộ phận cấu thành trong hệ thống doanh nghiệp của một quốc gia Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, DNNVV có vị trí đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân, chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp cả nư c, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát tri n, xóa đói giảm nghèo…, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động m i, sử dụng t i 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GD Sự đóng góp này đã hỗ trợ l n cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát tri n khác, tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư, có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư đ hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh
Đối v i tỉnh Lạng Sơn, trong những năm qua v i chính sách mở cửa thông thương Việt Nam - Trung Quốc, đồng thời Lạng Sơn lại có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường bộ và đường sắt, v i 02 cửa khẩu quốc tế, 02 cửa khẩu quốc gia và 09 cửa khẩu phụ nên trở thành đầu mối giao lưu thương mại quan trọng của
cả nư c v i Trung Quốc, vì vậy tại địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xuất hiện ngày càng nhiều DNNVV và tập trung vào ngành nghề vận chuy n hàng hóa, dịch vụ du lịch, xây dựng… hiện nay, cùng v i quá trình đổi m i kinh tế của đất nư c, các cấp đảng
ủy, chính quyền tỉnh Lạng Sơn đã và đang tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát tri n của DNNVV
Tuy nhiên, do những hạn chế xuất phát từ đặc đi m chung của DNNVV cũng như những khó khăn về đặc đi m riêng của địa bàn miền núi biên gi i, nên các DNNVV ở Lạng Sơn còn có nhiều hạn chế như quy mô nhỏ, yếu kém trong năng lực sản xuất, cạnh tranh và những trở ngại trong môi trường kinh doanh, nên các doanh nghiệp này đang phải đối mặt v i nhiều khó khăn và thách thức
Đặc biệt là các DNNVV tại Lạng Sơn còn hạn chế về kiến thức pháp lý, nhận thức của nhiều chủ doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp về vai trò của
Trang 8pháp luật trong hoạt động kinh doanh còn yếu; bên cạnh đó, hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp, chồng chéo, việc áp dụng các văn bản pháp luật cũng không hề
dễ dàng do có nhiều văn bản cùng điều chỉnh về một vấn đề, thậm chí lại do nhiều
cơ quan khác nhau ban hành; mặt khác các cơ quan chức năng nhà nư c chưa chú trọng đến công tác pháp chế, hỗ trợ doanh nghiệp một cách đúng mức và kịp thời, đội ngũ cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn ít về số lượng, chưa thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật và kỹ năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Từ những khó khăn, hạn chế trên cho thấy rất cần những giải pháp đ hỗ trợ pháp lý cho DNNVV tại địa bàn tỉnh Lạng Sơn nhằm thúc đẩy sự phát tri n của các doanh nghiệp này, nhưng cho đến nay chưa có một đề tài nghiên cứu một cách đầy
đủ và sâu sắc về cả lý luận và thực tiễn về vấn đề này, vì vậy tác giả quyết định lựa
chọn đề tài "Pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và thực
tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn" làm luận văn thạc sĩ v i mong muốn nghiên cứu
tìm ra được những giải pháp thích hợp đ DNNVV nói chung và các DNNVV tại Lạng Sơn nói riêng có định hư ng phát tri n toàn diện đ có th tận dụng được thế mạnh, tiềm năng của loại hình doanh nghiệp này, từ đó khai thác các nguồn lực một cách có hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế gi i
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề hỗ trợ pháp lý cho DNNVV mặc dù chưa tìm thấy một nghiên cứu nào chính xác về vấn đề này, tuy nhiên, có một số công trình nghiên cứu đã liên
quan như sau: u t v u v v V t N , của
Nguyễn Ngọc Quý (Luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội); D
v v V t N tr bố ả ủ ả t t ầu, của Nguyễn Thị
Hải Ninh (Luận văn thạc sĩ, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính
trị); G ả t tr ể v v V t N , của Vũ Thị Thanh hương (Luận văn thạc sĩ, Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh); Cơ s
ý u v t ự t ễ quả ý ướ đố vớ ạt độ ủ trê
Trang 9đị b tỉ Lạ Sơ , của Linh Thị Hiền (Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh); G ả â u quả ô t quả ý ướ đố vớ
ạt độ ủ trê đị b tỉ Lạ Sơ , của Nguyễn Hồng Hạnh
(Luận văn thạc sĩ, Đại học thủy lợi); Doa v v V t N
v u ầu ỗ trợ ý, của Tô Hoài Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật; T ự trạ ỗ trợ ý v ột số ả , của Luật gia Trần
Vũ Hải, Trường Đại học luật Hà Nội; Hỗ trợ ý v v
ầ t ự t ơ , của Hòa Hậu, Tạp chí Doanh nghiệp Việt Nam; D V t
N , v trò, vị tr ủ v v t ờ ộ , của Đỗ Anh tuân,
phó chủ tịch Hiệp hội DNNVV Đà Nẵng; D v v ủ V t Nam
tr đ u ộ t quố t , của TS Lê Xuân Bá, TS Trần im Hào,
TS Nguyễn Hữu Thắng; G ả ứu v v , t ự trạ , của
Đậu Anh Tuấn, hạm Ngọc Thạch, phòng Thương mại, Công thương Việt Nam
Dư i góc độ khoa học, các công trình nói trên hết sức có giá trị đối v i những người đã và đang nghiên cứu về công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV Tuy nhiên, hầu hết các công trình này chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề hỗ trợ pháp lý cho DNNVV nói chung mà chỉ m i đề cập đến vấn đề thực trạng DNNVV và các giải pháp đ phát tri n DNNVV trong tình hình, bối cảnh thế gi i hiện nay Như vậy có
th khẳng định cho đến nay, đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu đến vấn đề
hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là rất cần thiết Đ thực hiện đề tài, tác giả đã có kế thừa và chọn lọc những ý tưởng có liên quan giúp cho việc tìm tòi, đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác hỗ trợ pháp lý đối v i hoạt động của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn năm 2017, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo nâng cao công tác hỗ trợ pháp lý đối v i hoạt động của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Công tác hỗ trợ pháp lý đối v i hoạt động của các DNNVV tại Lạng Sơn
- Những thành tựu và tồn tại hạn chế của DNNVV trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Thực trạng và giải pháp công tác hỗ trợ pháp lý đối v i hoạt động của các DNNVV tại Lạng Sơn
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Về thời gian: Đánh giá hiện trạng công tác hỗ trợ pháp lý đối v i hoạt động của DNNVV trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn năm 2017 và giải pháp nâng cao hiệu quả thời gian tiếp theo
5 Phương pháp nghiên cứu
hương pháp chủ yếu là duy vật biện chứng, dựa vào sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: hỏng vấn điều tra, phân tích, tổng hợp, so sánh đ phân tích luận giải nhằm giải quyết vấn đề một cách khách quan toàn diện Đồng thời, đề tài có kế thừa và sử dụng có chọn lọc những đề xuất và các số liệu trong một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác trong một số luận văn, đề tài đã nghiên cứu trư c đây có nội dung liên quan và trong một số báo cáo chính thức của
cơ quan nhà nư c có thẩm quyền
Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp đ phân tích những vấn đề lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn điều tra, so sánh các số liệu, thực trạng về DNNVV và công tác hỗ trợ pháp lý DNNVV tại Lạng Sơn nhằm đưa ra những đánh giá khách quan về thuận lợi, khó khăn, hạn chế của công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV tại tỉnh Lạng Sơn
Chương 3, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp đ nhận định những quan đi m đ phát tri n DNNVV từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV tại tỉnh Lạng Sơn
Trang 116 nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 ngh a khoa học
ết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần hoàn thiện công tác hỗ trợ pháp lý đối v i hoạt động của các DNNVV, góp phần thúc đẩy sự phát tri n của DNNVV trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
2 ngh a thực tiễn
Những kiến nghị của Luận văn góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nư c ta, đặc biệt là của tỉnh Lạng Sơn trong công tác hỗ trợ pháp lý đối v i các DNNVV
7 Kết quả dự kiến đạt đƣợc
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý đối
v i hoạt động của các DNNVV;
- Đánh giá thực trạng công tác hỗ trợ pháp lý đối v i hoạt động của các DNNVV;
- Đề xuất các giải pháp phù hợp v i thực tiễn tỉnh Lạng Sơn trong việc đổi
m i và hoàn thiện pháp luật về nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý đối v i hoạt động của các DNNVV, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý đối v i hoạt động của DNNVV trong thời gian t i
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
C ươ 1: Một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa và pháp luật
về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
C ươ 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Lạng Sơn
C ươ 3: Quan đi m phát tri n doanh nghiệp nhỏ và vừa và các giải pháp
nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lạng Sơn
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ L LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
VÀ PH P LU T V HỖ TRỢ PH P LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 Nhận thức chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1.1 K v v
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nư c, trong đó số doanh nghiệp vừa chỉ chiếm 2,2%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29,6% và còn lại 68,2% là siêu nhỏ Trên thực tế, DNNVV đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân DNNVV là nơi tạo
ra việc làm chủ yếu và tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát tri n, xóa đói giảm nghèo… Hàng năm các DNNVV đã tạo ra trên một triệu lao động m i; sử dụng t i 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GD cho đất nư c1
Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò rất quan trọng, nhất là tạo
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo… Vậy DNNVV được hi u như thế nào?
Theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp của nư c Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014 thì: "Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh" Như vậy, thuật ngữ "doanh nghiệp" được dùng đ chỉ một chủ th kinh doanh độc lập, được thành lập và hoạt động dư i nhiều mô hình cụ th v i tên gọi khác nhau Những chủ th này có những đặc trưng pháp lý và trong việc thành lập và hoạt động, nó phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định
Doanh nghiệp là các tổ chức có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận hoặc mục
1 http://doanhnghiepvn.vn/vai-tro-vi-tri-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-thoi-hoi-nhap-d66705.html
Trang 13đích khác Trư c khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ được ban hành thì những quy định pháp luật về DNNVV đã được quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-C , ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát tri n DNNVV Tuy nhiên, trong những năm qua DNNVV đã phát tri n rộng khắp cả nư c và được coi là yếu tố quan trọng, không th thiếu trong nền kinh tế nư c ta hiện nay, do đó
đ th chế hóa các chủ trương, đường lối, quan đi m của Đảng về phát tri n kinh tế
tư nhân, thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền kinh tế của doanh nhân và doanh nghiệp; đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật Ngày 12 tháng 6 năm 2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội nư c Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Hỗ trợ DNNVV Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 Đồng thời, ngày 11/3/2018 Chính phủ ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-C quy định chi tiết một số điều Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa
và nhỏ thay thế Nghị định số 56/2009/NĐ-CP Qua đó, chúng ta có th hi u chính xác khái niệm về DNNVV như sau:
Tại Điều 4 của Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 quy định: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hi m xã hội bình quân năm không quá 200 người
và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây:
Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng;
Tổng doanh thu của năm trư c liền kề không quá 300 tỷ đồng
Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ"
Tại Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định cụ th
về tiêu chí DNNVV như sau:
"Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hi m xã hội bình quân
Trang 14năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hi m xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hi m xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định trên
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hi m xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định trên
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hi m xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định trên
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hi m xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định trên"
Như vậy, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định theo những tiêu chí cụ th DNNVV được hi u là doanh nghiệp có quy mô nhỏ Quy mô của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào tiêu chí về số nhân công, vốn đăng ký, doanh thu các tiêu chí này luôn không đồng nhất giữa các quốc gia, từng chương trình và từng thời kỳ phát tri n khác nhau trong một quốc gia
1.1.1.2 Đặ đ ể ủ v v
Trư c hết DNNVV cũng mang đầy đủ các đặc đi m của doanh nghiệp nói
chung, đó là: doanh nghiệp phải có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định
Trang 15(trụ sở chính), phải thực hiện thủ tục thành lập theo quy định của pháp luật, mục tiêu
thành lập doanh nghiệp là đ trực tiếp và chủ yếu thực hiện các hoạt động kinh doanh
N ữ đặ đ ể u đã êu trê t ì DNNVV ó đặ đ ể r ê
ư s u:
Một , DNNVV có quy mô nhỏ, ít vốn, doanh thu thấp; sử dụng ít lao
động, trình độ quản lý doanh nghiệp và chất lượng nhân sự, người lao động của doanh nghiệp cũng như chi phí đào tạo lao động không cao
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có đặc đi m là dễ thành lập, chỉ cần một số vốn nhỏ, mặt bằng kinh doanh không l n, các điều kiện cơ sở vật chất đơn giản là có th vận hành, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định, có th dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuy n hư ng kinh doanh…
Thực tế cho thấy số lượng và chất lượng lao động trong DNNVV thấp Đặc biệt trong các doanh nghiệp nhỏ, nhân công thường là người trong gia đình, một người đảm nhiệm nhiều vai trò Nguồn nhân lực của doanh nghiệp về cơ bản là trình độ đào tạo còn khá thấp, phần đông được đào tạo ở những ngành nghề ít liên quan đến kinh doanh, họ thiếu tri thức về chiến lược, thị trường, kiến thức về quản
lý doanh nghiệp
Bên cạnh đó tri thức của DNNVV còn thấp, khi khởi nghiệp, phần l n chủ doanh nghiệp đều dựa trên kiến thức, kinh nghiệm sản xuất, dịch vụ, hệ thống quản trị mang tính ư c đoán, thiếu căn cứ rõ ràng, việc điều hành doanh nghiệp phần l n đều nhằm mục tiêu cụ th , ngắn hạn Cấu trúc của DNNVV hầu hết là giản đơn, chủ yếu thực hiện chức năng kế toán, các chức năng quản trị khác chưa được hình thành hoặc hình thành nhưng chưa chuyên môn hóa, chưa phân công rõ ràng, sự phân quyền rất hạn chế, quyền hạn quản trị tập trung gần như tuyệt đối vào chủ doanh nghiệp
Trình độ quản lý doanh nghiệp còn thấp được th hiện qua kiến thức về pháp lý của các chủ doanh nghiệp Qua nghiên cứu cho thấy các chủ doanh nghiệp không quan tâm đến vấn đề pháp lý của doanh nghiệp mà thông qua một dịch vụ pháp lý của văn phòng luật sư, các tổ chức, cá nhân khác thực hiện dịch vụ thành lập doanh nghiệp Từ đó, các chủ doanh nghiệp không nắm bắt, nhận thức chưa đầy
đủ những quy định trong quá trình thành lập doanh nghiệp
Trang 16Các chủ DNNVV thường không có kiến thức về pháp luật nói chung và kiến thức pháp luật trong lĩnh vực doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh, do vậy, trong quá trình hoạt động doanh nghiệp, các chủ doanh nghiệp thường không quan tâm đến những vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như pháp luật liên quan đến tài chính, pháp luật liên quan đến quản trị doanh nghiệp và pháp luật liên quan đến giao dịch của doanh nghiệp Từ lý do đó, các DNNVV thường thực hiện không đúng quy định của pháp luật dẫn đến các hoạt động của doanh nghiệp vi phạm pháp luật
Các DNNVV thường không có các chuyên gia pháp lý hoặc luật sư đ
hư ng dẫn, thực hiện những hoạt động của doanh nghiệp, nguyên nhân là tri thức của chủ DNNVV còn hạn chế và chủ doanh nghiệp phải chi phí cho các hoạt động
tư vấn đối v i doanh nghiệp nên thường bỏ qua giai đoạn này Mặt khác, khi chủ doanh nghiệp thực hiện không đúng các quy định của pháp luật thường phải chi phí rất cao cho việc khắc phục hậu quả như bị phạt hành chính, chi phí cho luật sư Đặc trưng của các DNNVV là chưa sử dụng các dịch vụ liên quan đến pháp lý một cách thường xuyên hoặc có sử dụng nhưng không triệt đ , không hiệu quả, ngại sử dụng các dịch vụ pháp lý vì nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là nguyên nhân chi phí kinh tế cho dịch vụ này 2
Hai là DNNVV chủ yếu được thành lập trong một số ngành, nghề lĩnh vực
như sản xuất thủ công đồ tiêu dùng, sinh hoạt hoặc trong lĩnh vực thương mại thì chủ yếu là du lịch, vận tải…
Như đã phân tích ở trên cho thấy, việc đầu tư sản xuất thủ công không đòi hỏi vốn đầu tư l n cũng như trình độ kỹ thuật lao động cao vì vậy các DNNVV chủ yếu tập trung vào các mặt hàng tiêu dùng, các khâu sản xuất đơn giản
Một trong những mặt hàng mà các DNNVV tập trung sản xuất đó là các thiết bị trung gian nhỏ lẻ đ cung cấp cho các doanh nghiệp l n, các DNNVV có th
bổ trợ cho các ngành công nghiệp l n v i tư cách là người cung cấp nguyên liệu đầu vào, cung cấp dịch vụ, hoặc là trung gian tiêu thụ sản phẩm đầu ra, hay cũng có
2 http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=310
Trang 17th v i tư cách là người gia công một vài công đoạn sản phẩm của doanh nghiệp
l n… đây có th coi là một đặc đi m quan trọng, đột phá góp phần phát tri n kinh tế cho đất nư c Những năm trư c đây mô hình DNNVV chưa phát tri n thì các doanh nghiệp l n hầu như đều phải nhập khẩu các loại thiết bị trung gian, nguyên liệu đầu vào như vậy vừa tốn kém về kinh phí, vừa mất thời gian và nhiều thủ tục, giấy tờ
Hiện nay, tình hình kinh tế của nư c ta đang được nâng lên từng bư c, đặc biệt là trong xu thế hội nhập quốc tế, nhu cầu du lịch của nhân dân trong nư c cũng như du khách quốc tế vào Việt Nam ngày càng cao Đáp ứng yêu cầu, thị hiếu của thị trường, các DNNVV kinh doanh về du lịch, vận tải đã phát tri n một cách chóng mặt, việc đầu tư đối v i lĩnh vực này cũng không đòi hỏi quá cao về vốn đầu tư, mặt bằng doanh nghiệp mà việc hoàn vốn lại nhanh chóng
Đây là một đặc đi m th hiện sức sống tự phát và mãnh liệt, nếu khu vực kinh tế nhà nư c được ra đời một cách nhân tạo, bằng sự nỗ lực của nhà nư c, thì kinh tế tư nhân, mà đa số là DNNVV xuất hiện một cách tự nhiên, xuất phát từ chính nhu cầu đa dạng của con người trong nền kinh tế
1.1.1.3 u đ ể , ượ đ ể ủ v v
* u đ ể ủ v v
Ở nhiều quốc gia trên thế gi i, đặc biệt là những quốc gia đang phát tri n, DNNVV luôn là nền tảng của nền kinh tế, thường chiếm trên 98% số lượng doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm cho 50 - 70% lực lượng lao động, đóng góp từ 35 - 40% giá trị GD hàng năm
Trư c hết phải khẳng định, DNNVV đã tạo ra nhiều việc làm v i chi phí thấp và tăng nguồn tiết kiệm, đầu tư cho dân địa phương, đồng thời phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế Các doanh nghiệp này thường phân tán nên có th đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa chưa phát tri n kinh tế,
v i các đối tượng có trình độ thấp Do tính linh hoạt, uy n chuy n dễ thích ứng v i các thay đổi của thị trường nên khi có biến động, các DNNVV vẫn có th tồn tại mà không phải sử dụng đến biện pháp cắt giảm lao động Nhân sự các doanh nghiệp
Trang 18này thường là người địa phương k cả từ người sử dụng lao động và người lao động nên quỹ tiết kiệm và đầu tư của địa phương đó được bổ sung
Có th nói ưu đi m của DNNVV trong nền kinh tế là không th phủ nhận
và được th hiện ở các khía cạnh sau:
- Có khả năng huy động mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các DNNVV mang tính tư hữu cao, chủ yếu do các cá nhân có vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào v i quy mô tùy ý nên có khả năng huy động các nguồn vốn tiết kiệm từ người thân, bạn bè… Bên cạnh đó, việc phát tri n trải rộng rãi trên nhiều địa bàn nên có th tận dụng được mọi nguồn nhân lực lao động ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi thành phần, điều đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng giá trị xuất khẩu và làm dịch chuy n cơ cấu kinh tế theo hư ng công nghiệp hóa, hiện đại hóa DNNVV được hình thành và hoạt động phù hợp v i nhu cầu thực tế trên mỗi địa bàn, do đó
có th tận dụng được các nguồn lực sẵn có như tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động…v i chi phí thấp
- Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định xã hội, DNNVV có th tạo ra công ăn, việc làm cho số lượng l n người lao động vì đa số DNNVV không đòi hỏi nhân công có trình độ chuyên môn cao mà tận dụng nguồn nhân lực tại địa phương v i chi phí lao động thấp, điều này là lợi thế nhưng cũng là nhược đi m của DNNVV, điều này đã góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội, đặc biệt là đối v i lao động thiếu kỹ thuật DNNVV có th bư c vào thị trường m i
mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp l n và sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất hoặc các khoảng trống vừa và nhỏ của thị trường Ngoài ra DNNVV
ra đời xuất phát từ chính nhu cầu thiết yếu của con người nên đó là một trong những nguyên nhân làm cho DNNVV thích ứng cao trong mọi điều kiện
- Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, môi trường kinh doanh thực sự mang tính cạnh tranh cao diễn ra không chỉ giữa các DNNVV mà các doanh nghiệp
l n cũng phải chịu sức ép nâng cao hiệu quả kinh doanh hơn Các DNNVV đã làm tăng tính mềm dẻo, linh hoạt cho các doanh nghiệp khác, buộc các doanh nghiệp
Trang 19phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình V i tính tự chủ cao, họ sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh và tìm cách khai thác mọi cơ hội đ phát tri n góp phần làm nền kinh tế hoạt động năng động và hiệu quả hơn Mặt khác, quá trình phát tri n DNNVV cũng là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm, mở rộng thị trường đ phát tri n thành các doanh nghiệp l n
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa linh hoạt, dễ thích ứng v i sự thay đổi của môi trường, v i bộ máy quản lý gọn nhẹ và mối quan hệ trực tiếp v i người tiêu dùng và thị trường đã tạo điều kiện cho các DNNVV trong việc dễ dàng thích ứng v i sự thay đổi của thị trường, dễ dàng đổi m i trang thiết bị, đổi m i công nghệ, hoạt động hiệu quả v i chi phí cố định thấp và không có hoặc ít xung đột giữa người sử dụng lao động v i người lao động Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định ít, do đó dễ tiến hành đổi m i trang thiết bị khi điều kiện cho phép, bên cạnh đó quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ không l n, số lượng lao động không nhiều, sự phân công lao động không quá rõ rệt, nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp3
* N ượ đ ể ủ v v
Có th phân tích về nhược đi m, hạn chế của DNNVV qua hai khía cạnh, từ những điều kiện khách quan và những mặt hạn chế xuất phát từ đặc đi m riêng của các DNNVV, được th hiện qua các nội dung sau:
- Hạn chế đầu tiên và l n nhất của DNNVV nằm trong chính đặc đi m của
nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường hay tiến hành đổi m i, nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ m i, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn l n,
từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường Nguồn vốn hoạt động của các DNNVV có th được huy động từ nhiều nguồn khác nhau như nguồn tự có, từ người thân, bạn bè, vay từ các tổ chức tín dụng… Tuy nhiên, thông thường các DNNVV chưa đủ mạnh, đủ uy tín và niềm
3 Vũ Thị Thanh hương (2008), G ả t tr ể v v V t N , Luận
văn thạc sĩ, Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 20tin đ có th dễ dàng vay vốn ở các ngân hàng thương mại và huy động vốn trên thị trường chứng khoán, điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát tri n, mở rộng thị trường của DNNVV
- hả năng xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, đa số các DNNVV được hình thành bằng nguồn vốn tự có, vì thế mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp bao giờ cũng vì lợi ích của chính họ Đây là tình huống xảy ra khi hoạt động của doanh nghiệp chỉ đạt được bằng con đường làm tổn hại đến lợi ích của các doanh nghiệp khác, của xã hội, thực tế những xung đột như vậy rất hay xảy
ra bởi lợi ích trư c mắt của doanh nghiệp không phải bao giờ cũng trùng v i lợi ích lâu dài của xã hội
Những bi u hiện của xung đột lợi ích này khá phong phú và đa dạng như: ý thức chấp hành pháp luật kém, thiếu quan tâm đến môi trường, không công khai minh bạch tình hình hoạt động của doanh nghiệp, khó tìm kiếm sự hợp tác trong doanh nghiệp , sự phong phú, đa dạng của các xung đột phụ thuộc vào sự yếu kém của doanh nghiệp, mà trư c hết là yếu kém của chủ doanh nghiệp và hạn chế của pháp luật, bao gồm cả hệ thống pháp luật hiện hành và sự ki m soát việc thi hành pháp luật của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, vì thế cần xây dựng một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh nhằm hạn chế các tiêu cực, kích thích các doanh nghiệp phát tri n
- Sự từ chối những lĩnh vực kinh doanh không đem lại lợi nhuận cao, hàng hóa công cộng là hàng hóa mà sự tiêu dùng của người này không loại trừ sự tiêu dùng của người khác, tiêu bi u của loại hàng hóa này là cơ sở hạ tầng, các khu vui chơi công cộng, có th gọi chung đó là những lĩnh vực hoạt động công ích inh doanh ở những lĩnh vực này không đem lại lợi nhuận hoặc lợi nhuận thường không cao, vì thế đây là mảng nhu cầu mà các DNNVV đã đ trống trên thị trường4
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
hái niệm hỗ trợ pháp lý cho DNNVV là thuật ngữ chưa được làm rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008
4 Vũ Thị Thanh hương (2008), G ả t tr ể v v V t N , Luận
văn thạc sĩ, Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 21của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 của Thủ tư ng Chính phủ phê duyệt chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn năm 2010 - 2014
Tuy nhiên, nghiên cứu nội dung các quy định pháp lý hiện hành và căn cứ
trên thực tiễn, có th đưa ra khái niệm hỗ trợ pháp lý cho DNNVV như sau: Hỗ trợ
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có một số đặc đi m cơ bản sau đây:
T ứ ất, Nhà nư c chỉ hỗ trợ pháp lý cho một số đối tượng nhất định (hạn
chế về đối tượng được hỗ trợ pháp lý)
Theo pháp luật hiện hành thì do năng lực tài chính và các điều kiện khác của Nhà nư c ta là còn hạn chế nên chỉ có một số đối tượng nhất định (là các doanh nghiệp) m i được hỗ trợ pháp lý, còn các chủ th khác tuy có hoạt động sản xuất kinh doanh trên thương trường nhưng không được Nhà nư c hỗ trợ pháp lý
T ứ , Nhà nư c chỉ hỗ trợ chứ không làm thay thị trường trong việc đáp
ứng các nhu cầu về mặt pháp lý của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh là hoạt động do doanh nghiệp tiến hành và trư c hết
là vì lợi ích của mình Doanh nghiệp phải tự mình và bằng năng lực kinh tế, tài chính, khoa học công nghệ và các khả năng khác mà mình có được đ giải quyết các vấn đề phát sinh Trong lĩnh vực pháp luật cũng vậy, các doanh nghiệp phải tự mình giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh từ hoạt động kinh doanh của mình Nhà
nư c chỉ hỗ trợ một phần cho doanh nghiệp trong việc giải quyết các công việc đó
mà không bao biện làm thay toàn bộ Ví dụ, khi phát sinh tranh chấp v i nhau thì các doanh nghiệp có th thuê luật sư đ được tư vấn hoặc tham gia tố tụng Nhà
nư c không cử luật sư cũng như không hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp đ giải quyết các vụ tranh chấp này Tóm lại, về cơ bản, giải quyết tranh chấp trong kinh
Trang 22doanh là việc của doanh nghiệp, và cần phải được giải quyết bằng cơ chế thị trường; Nhà nư c không có trách nhiệm tham gia giúp doanh nghiệp giải quyết toàn bộ các công việc pháp lý phát sinh từ việc giải quyết các tranh chấp đó
T ứ b , nội dung hỗ trợ pháp lý phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ
th của đất nư c
Việc hỗ trợ đến đâu, dư i hình thức nào và v i mức độ ra sao là phụ thuộc vào khả năng tài chính và các điều kiện kinh tế - xã hội cụ th khác của đất nư c trong từng thời kỳ mà không th đóng khung một cách cứng nhắc vì điều đó sẽ gây khó khăn cho Nhà nư c5
T ứ tư, mục đích của hỗ trợ pháp lý cho DNNVV
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là nhằm định hư ng, nâng cao nhận thức,
ý thức chấp hành pháp luật, giúp doanh nghiệp hoạt động và phát tri n dựa trên một nền tảng pháp lý ổn định, chắc chắn, bền vững, lâu dài
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nư c, DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng đối v i việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế -
xã hội của đất nư c hi doanh nghiệp tham gia thị trường thì rất nhiều rủi ro pháp
lý mà doanh nghiệp thường sẽ gặp phải như: Rủi ro trong việc tranh chấp giữa các thành viên công ty; rủi ro trong việc tranh chấp v i chính người lao động của doanh nghiệp mình; rủi ro trong việc tổ chức vận hành hoạt động và cơ cấu nội bộ của công ty; rủi ro trong hoạt động kinh doanh; rủi ro trong vay vốn tín dụng, … và thực tế là ngay cả khi doanh nghiệp phá sản thì cũng có rủi ro là "chết nhưng không được chôn"
Do vậy, việc được biết các thông tin pháp lý, các kiến thức pháp luật về kinh doanh đối v i doanh nghiệp là rất cần thiết Rất nhiều doanh nghiệp khi tham gia thị trường, nhưng không nắm rõ quy định của Luật Doanh nghiệp, sự quan trọng của Bản điều lệ doanh nghiệp, dẫn đến việc tranh chấp thường xảy ra trong nội bộ doanh nghiệp; doanh nghiệp không nắm rõ quy định pháp luật về đấu thầu, nên thường thua thiệt trong hoạt động đấu thầu; doanh nghiệp không nắm rõ quy định pháp luật thương mại quốc tế, nên bị Chính phủ nư c ngoài bắt giữ tàu bi n, phong
5 http://moj.gov.vn/qt/cacchuyenmuc/pldn/Pages/dien-dan-hdpl.aspx?ItemID=34
Trang 23tỏa tài khoản ở nư c ngoài… đấy là những vấn đề pháp lý rất cần được Nhà nư c đặc biệt quan tâm hỗ trợ, bởi bản thân doanh nghiệp, nhất là DNNVV như ở Việt Nam khó có th tự mình thực hiện được và nhất là trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay, doanh nghiệp cần hơn hết là sự hỗ trợ về mặt pháp lý từ Nhà nư c đ tăng cường năng lực cạnh tranh của mình Đây chính là mục đích của công tác hỗ trợ pháp lý là tăng cường sự hi u biết của các DNNVV trong kinh doanh nhằm tự bảo vệ mình trư c các rủi ro pháp lý trong kinh doanh, cũng như dễ dàng hơn trong các giao dịch hành chính đối v i cơ quan nhà nư c6
1.2 Pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
háp luật về hỗ trợ pháp lý là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà
nư c ban hành quy định về hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV do các cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền thực hiện dư i các hình thức, nội dung cụ th và trong một thời hạn nhất định nhằm cung cấp thông tin, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và tư vấn pháp luật cho DNNVV
V i đặc đi m của DNNVV ở Việt Nam có quy mô nhỏ và đang phải đối mặt v i nhiều khó khăn, thách thức, việc tiếp cận pháp lý gặp rất nhiều vư ng mắc, doanh nghiệp khó khăn trong việc thuê chuyên gia tư vấn về pháp lý do quy mô nhỏ, hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp Đ tạo điều kiện hỗ trợ cho DNNVV phát tri n trong nhiều năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho DNNVV, trong đó có các văn bản:
Nghị định số 90/2001/NĐ-C ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát tri n DNNVV Đây là văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra định nghĩa chính thức về DNNVV và các chính sách trợ giúp của Nhà nư c đối v i DNNVV Nghị định đã quy định khái niệm, tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam, khẳng định tầm quan trọng của DNNVV trong chiến lược phát tri n kinh tế xã hội của đất nư c, các biện pháp, chính sách hỗ trợ DNNVV
Nghị định số 56/2009/NĐ-C ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát tri n DNNVV (đây là Nghị định thay thế cho Nghị định 90/2001/NĐ-C ) Nghị định này quy định
6 ho-tro-phap-ly-cho-doanh-nghiep
Trang 24http://luatsu-vn.com/giai-phap-de-phat-huy-vai-tro-cua-cac-to-chuc-tu-van-phap-ly-cho-doanh-nghiep-trong-viec-hỗ trợ DNNVV như: http://luatsu-vn.com/giai-phap-de-phat-huy-vai-tro-cua-cac-to-chuc-tu-van-phap-ly-cho-doanh-nghiep-trong-viec-hỗ trợ tài chính; mặt bằng sản xuất; đổi m i, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến mở rộng thị trường; tham gia kế hoạch mua sắm, cưng ứng dịch vụ công; về thông tin và tư vấn; trợ giúp phát tri n nguồn nhân lực; vườn ươm doanh nghiệp; tuy nhiên không có điều khoản nào quy định về hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp và giải quyết kiến nghị khó khăn, vư ng mắc cho doanh nghiệp
Nghị quyết số 22/NQ-C ngày 05/5/2010 về việc tri n khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-C nhằm tri n khai thực hiện tích cực, đồng bộ các chính sách trợ giúp phát tri n và phát huy mọi khả năng và nguồn lực đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV
Đến ngày 07/9/2012, Thủ tư ng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1231/QĐ-TTg về phê duyệt ế hoạch phát tri n DNNVV giai đoạn 2011-2015, xác định quan đi m, mục tiêu, giải pháp hỗ trợ DNNVV về hoàn thiện khung pháp lý về gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp; hỗ trợ tiếp cận tài chính, tín dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DNNVV; hỗ trợ đổi m i công nghệ và áp dụng công nghệ m i trong các DNNVV; phát tri n nguồn nhân lực cho các DNNVV, tập trung vào nâng cao năng lực quản trị cho các DNNVV; đẩy mạnh hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai cho các DNNVV; cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV và xúc tiến mở rộng thị trường cho DNNVV; xây dựng hệ thống tổ chức trợ giúp phát tri n DNNVV; quản
lý thực hiện ế hoạch phát tri n DNNVV Tuy đi m danh nhiều giải pháp hỗ trợ DNNVV nhưng văn bản này chưa nêu giải pháp về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV
V i công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng được Chính phủ quy định tại Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong đó quy định cụ th nội dung, hình thức và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong tri n khai thực hiện
hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Tri n khai Nghị định 66/2008/NĐ-C được Thủ tư ng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp kèm theo Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 (giai đoạn 2010-2014) và Quyết định số 2139/QĐ-TTg
Trang 25ngày 28/11/2014 (giai đoạn 2015-2020), trong đó có 03 dự án gồm: Dự án 1 Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin pháp lý cho doanh nghiệp; Dự án 2 Hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp trên một số hoạt động cụ th ; Dự án 3 Tăng cường năng lực cho cơ quan tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Đ tiếp tục tri n khai Nghị định số 66/2008/NĐ-C ngày 28/5/2008 của Chính phủ và Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 của Thủ tư ng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã ban hành nhiều văn bản như Chỉ thị, Quyết định,
ế hoạch tri n khai các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT-BTC-BT ngày 12/10/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hư ng dẫn lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 2746/QĐ-
BT ngày 22/11/2010 về Quy chế quản lý thực hiện Chương trình 585; Quyết định
số 354/QĐ-BTP ngày 22/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về kế hoạch tổng th tri n khai Chương trình 585 (giai đoạn 2010-2014)
M i đây nhất, Luật hỗ trợ DNNVV ngày 12 tháng 6 năm 2017 có hiệu lực
từ ngày 01/01/2018 đã quy định, hỗ trợ DNNVV trên các mặt như tiếp cận tín dụng; thuế - kế toán; mặt bằng sản xuất kinh doanh; công nghệ, hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ
sở kỹ thuật, khu làm việc chung; mở rộng thị trường; phát tri n nguồn nhân lực; hỗ trợ các DNNVV được chuy n đổi từ hộ kinh doanh, DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị… Ngoài những hỗ trợ trên trong Luật hỗ trợ DNNVV đã bổ sung những thiếu sót trong công tác hỗ trợ cho DNNVV bằng việc đã quy định rõ về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trong Luật Theo
đó, pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV có những nội dung cơ bản sau:
1.2.1 Quy định về hệ thống cơ quan, tổ chức hỗ trợ pháp lý cho DNNVV
V i mục tiêu hư ng đến các DNNVV được hỗ trợ pháp lý bằng nhiều hình thức như cung cấp thông tin, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tư vấn pháp luật hay xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu về pháp luật… Luật hỗ DNNVV năm 2017
đã đặt ra các quy định cụ th cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện các hoạt động trên đ hỗ trợ pháp lý
Trang 26cho DNNVV Giúp các DNNVV có th tiếp cận thông tin về chủ trương, chính sách, các kế hoạch, chương trình, dự án về hoạt động hỗ trợ cho DNNVV Qua đó, nhằm nâng cao nhận thức pháp lý, ý thức pháp luật của các DNNVV chấp hành đúng các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nư c Đồng thời, khuyến khích các
tổ chức đại diện của doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý tham gia thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV
1.2.2 Xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về pháp luật
Cơ sở dữ liệu về pháp luật là cơ sở dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật
và cơ sở dữ liệu về vụ việc, vư ng mắc pháp lý được các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương cấp tỉnh xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật đ hỗ trợ pháp
lý cho DNNVV Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật dư i dạng văn bản điện tử do Chính phủ thống nhất quản lý, bao gồm các cơ sở dữ liệu thành phần: Cơ
sở dữ liệu văn bản pháp luật Trung ương và Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật địa phương theo hoản 2 Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2015 của
Chính phủ về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật quy định
Theo đó, Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng các dữ liệu về các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản giải đáp pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực, phạm vi do mình phụ trách và đăng tải trên trang thông tin chính thức của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh
Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô được quyền tiếp cận, sử dụng, khai thác miễn phí thông tin đăng tải trên cơ sở dữ liệu và có quyền yêu cầu Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh cập nhật toàn văn nội dung văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực pháp luật mà chưa được đăng tải trên trang thông tin chính thức của Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật mà chưa được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh thì doanh nghiệp có quyền đề nghị cập nhật văn bản đó
Trang 27V i hình thức hỗ trợ này rất phù hợp v i mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành đất nư c Đồng thời khắc phục được những bất cập cho các DNNVV trong việc tiếp cận thông tin pháp lý, các văn bản hư ng dẫn thi hành luật do các Bộ, ngành, địa phương ban hành Quy định này cũng góp phần thực hiện nội dung mà Việt Nam cam kết về bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch của
Tổ chức Thương mại Thế gi i (WTO) trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
1.2.3 Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ pháp lý để cung cấp thông tin, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tư vấn pháp luật
V i mục tiêu của chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin pháp lý cho doanh nghiệp, bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ pháp chế doanh nghiệp sẽ tạo ra bư c chuy n biến trong việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện tốt các Luật đã và sẽ ban hành trong thời gian sắp t i và đáp ứng nhu cầu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Trong đó tùy vào từng thời gian cụ th , chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp sẽ tập trung giải quyết các vấn đề ưu tiên trong thông tin pháp lý mà DNNVV ở địa phương gặp khó khăn
Căn cứ vào tình hình thực tiễn ban hành và tri n khai văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nư c và nhu cầu hỗ trợ pháp lý của DNNVV trong từng thời kỳ, tại các ngành, lĩnh vực kinh doanh mà Chương trình hỗ trợ cho doanh nghiệp sẽ được xây dựng và thực hiện các cấp V i Chương trình hỗ trợ pháp lý trong phạm vi ngành, địa phương thì Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xây dựng về phê duyệt Chương trình hỗ trợ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực hoặc địa phương do mình quản lý; v i chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành các Bộ, UBND cấp tỉnh đề xuất hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực hoặc địa phương do mình quản lý gửi
Bộ Tư pháp tổng hợp vào chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành
Sau khi chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã được cơ quan nhà
nư c có thẩm quyền phê duyệt, các Bộ, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện chương trình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình Các tổ chức đại
Trang 28diện của doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân có chức năng cung cấp dịch vụ pháp
lý được khuyến khích tham gia thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo các chương trình hỗ trợ
T ứ ất, cung cấp thông tin, xây dựng tài liệu gi i thiệu, phổ biến các văn
bản quy phạm pháp luật Tại Điều 8 Nghị định số 66/2008/NĐ-C quy định: "các
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp nhận các tài liệu gi i thiệu, phổ biến theo chương trình hỗ trợ đồng thời các tổ chức đại diện doanh nghiệp hoặc trực tiếp dùng kinh phí của doanh nghiệp xây dựng tủ sách pháp luật tại doanh nghiệp
T ứ , bồi dưỡng kiến thức pháp luật
Đ đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp trong
điều kiện hiện nay, tại Điều 9 Nghị định số 66/2008/NĐ-C quy định "C Bộ tổ ứ
Trang 29tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức đại diện của doanh nghiệp thực hiện việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp UBND cấp tỉnh chỉ đạo, xây dựng kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hàng năm trên địa bàn mình quản lý, tổ chức các l p tập huấn bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ pháp chế các sở, ngành làm công tác có liên quan đồng thời bối dưỡng kiến thức pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Các DNNVV được quyền tham dự các l p bồi dưỡng kiến thức pháp luật
do Bộ, ngành và địa phương tổ chức
Đồng thời, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho mạng lư i tư vấn viên pháp luật
T ứ b , tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp lý cho DNNVV có th là cung cấp các nội dung của pháp luật
đ tháo gỡ, thực hiện những hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến những
vư ng mắc mà doanh nghiệp đang gặp và cần xử lý Tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp cũng có th là đưa ra những phương hư ng giải quyết vư ng mắc trên cơ sở quy định của pháp luật và kinh nghiệm của người tư vấn nhằm giúp đỡ giải quyết những vư ng mắc của doanh nghiệp đ doanh nghiệp tự lựa chọn cách thức giải quyết Tư vấn pháp lý cho DNNVV có th là tư vấn về việc thành lập, thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, tài chính, các quy định về thuế, quy định về quản trị doanh nghiệp, cũng có th là thực hiện việc xây dựng các quy định, văn bản nội bộ của doanh nghiệp
Hoạt động tư vấn pháp luật, bao gồm đối thoại, giải quyết các vư ng mắc pháp lý cho doanh nghiệp và các hoạt động tư vấn pháp luật khác phù hợp v i các quy định của pháp luật trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ
Đối thoại là một trong những phương thức đ tăng cường sự gắn bó giữa doanh nghiệp v i chính quyền, giúp cho các chủ trương, chính sách của Trung ương, địa phương bám sát hoạt động của doanh nghiệp Qua các buổi đối thoại DNNVV đã bày tỏ suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của mình một cách dân chủ,
Trang 30thẳng thắn trư c các vấn đề bức xúc, lo lắng liên quan đến lợi ích chính đáng mình: trình tự, thủ tục thực hiện các quyền liên quan đến đất đai, tiếp cận vốn ưu đãi hỗ trợ khởi nghiệp…
Giải đáp các vư ng mắc pháp luật được quy định tại Điều 10 Nghị định
66/2008/NĐ-C quy định: Doanh ó qu êu ầu ơ qu u ê
Đ khuyến khích các hộ kinh doanh chuy n thành doanh nghiệp tại Điều 16 Luật hỗ trợ DNNVV đã quy định về tư vấn, hư ng dẫn miễn phí về hồ sơ, thủ tục thành lập doanh nghiệp; tư vấn, hư ng dẫn miễn phí về các thủ tục hành chính thuế
và chế độ kế toán trong thời hạn 3 năm k từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp lần đầu
V i DNNVV khởi nghiệp sáng tạo tại Điều 17 Luật hỗ trợ DNNVV cũng quy định tự vấn về sở hữu trí tuệ; hỗ trợ thông tin, truyền thông
V i DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị tại Điều 18 Luật hỗ trợ DNNVV đã quy định một số nội dung hỗ trợ pháp lý như tư vấn về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng, chất lượng phát tri n sản phẩm theo cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; cung cấp thông tin về nhu cầu kết nối, sản xuất, kinh doanh
Trang 31Nhằm hỗ trợ kịp thời những vư ng mắc về pháp luật, Nhà nư c ban hành các quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, các Bộ liên quan giải đáp, hình thức giải đáp, thời hạn trả lời yêu cầu cho doanh nghiệp Cụ th các doanh nghiệp có quyền yêu cầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh giải đáp pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp bằng các hình thức giải đáp bằng văn bản, giải đáp thông qua mạng điện tử, giải đáp trực tiếp hoặc thông qua điện thoại và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Trong trường hợp phức tạp việc giải đáp chưa thỏa đáng yêu cầu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có quyền yêu cầu Bộ, ngành có liên quan giải đáp thêm7
1.3 Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và ài học cho Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm từ m t số nước trên thế giới về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
xã hội Nhật Bản như giải quyết việc làm cho phần l n lực lượng lao động, chiếm 71% tổng số lao động cả nư c, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và nguồn thu của ngân sách là khoảng 40%
Trong từng thời kỳ phát tri n của nền kinh tế đất nư c, Chính phủ Nhật bản
đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ pháp lý đối v i DNNVV nhằm tạo điều kiện phát tri n loại hình doanh nghiệp này, những chính sách thay đổi đã đặt DNNVV vào vị trí phù hợp nhất và khẳng định tầm quan trong trong nền kinh tế Xét một cách tổng quát, các chính sách phát tri n DNNVV của Nhật Bản tập trung vào các
7 Vũ Thị Thanh Hương (2018), Hỗ trợ ý v v v t ự t ễ t tạ đị
b tỉ Quả N , Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội
Trang 32mục tiêu chủ yếu là thúc đẩy sự tăng trưởng và phát tri n của các DNNVV; tăng cường lợi ích kinh tế và xã hội của các doanh nghiệp và người lao động tại các DNNVV; khắc phục những bất lợi mà các DNNVV gặp phải và hỗ trợ pháp lý cho các DNNVV Từ năm 1999, Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản về DNNVV hỗ trợ cho việc cải cách cơ cấu đ tăng tính thích nghi của DNNVV v i những thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội, tạo thuận lợi cho việc tái cơ cấu và hỗ trợ pháp lý trong kinh doanh, hạn chế sự phá sản của DNNVV, khuyến khích mạnh mẽ việc thành lập các doanh nghiệp m i, trợ giúp về công nghệ và đổi m i Đối v i từng thời đi m cụ th cũng có những chính sách tài chính, chính sách phát tri n và hình thành tổ chức khác nhau
Đ hỗ trợ pháp lý cho DNNVV thì ngoài luật cơ bản, Nhật Bản còn có khoảng 70 đến 80 chính sách, luật hỗ trợ cho DNNVV Hiện nay, ở Nhật Bản có khoảng 8.000 chuyên gia làm công tác hư ng dẫn kinh doanh cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp được hỗ trợ cách vận hành, thực hiện thủ tục kế toán hợp lý, hỗ trợ các chính sách hỗ trợ đào tạo Trong đó Luật khuyến khích hiện đại hóa doanh nghiệp vừa và nhỏ là động lực chính thúc đẩy doanh nghiệp phát tri n Theo các chuyên gia hỗ trợ DNNVV ở Nhật Bản, hiện nay tại Nhật có cơ quan hỗ trợ đặt ở 9 khu vực khác nhau, có 47 đi m tư vấn, và thành lập các hiệp hội công thương, phòng thương mại và công nghiệp v i tổng khoảng 2.500 địa chỉ đ sẵn sàng trợ giúp DNNVV
Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng có chính sách hỗ trợ về tài chính nhằm giúp các DNNVV tháo gỡ những khó khăn, cản trở việc tăng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, các biện pháp hỗ trợ này được thông qua các chế tài thuộc chính phủ Đối v i các DNNVV thực hiện đổi m i công nghệ sẽ được hưởng chính sách
hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát tri n, các khoản trợ cấp, bảo lãnh vay vốn
và đầu tư trực tiếp cho DNNVV được tiến hành theo các quy định của Luật xúc tiến các hoạt động sáng tạo của DNNVV Việc quản lý kinh doanh, công nghệ và tiếp cận DNNVV luôn được Chính phủ Nhật Bản quan tâm bằng việc thực hiện các chương trình đào tạo, hỗ trợ về mặt pháp lý cho DNNVV
Trang 33Xác định được tầm quan trọng và sự đóng góp trong việc phát tri n kinh tế -
xã hội của các DNNVV nên Chính phủ Nhật Bản đã quan tâm toàn diện về mọi mặt đối v i DNNVV, tạo mọi điều kiện thuận lợi về tài chính cho sự phát tri n của các doanh nghiệp này, đặc biệt là sự hỗ trợ pháp lý, đảm bảo chặt chẽ mọi thủ tục pháp
lý trong việc thành lập doanh nghiệp Đồng thời, trình độ nhận thức cao và kiến thức pháp luật của người dân Nhật Bản nói chung và các chủ doanh nghiệp nói riêng là điều quan trọng góp phần tạo nên sự tồn tại và phát tri n mạnh mẽ của các
Vào những năm đầu của thập niên 80, Hàn Quốc ban hành Luật Hỗ trợ thành lập DNNVV (1986) cùng v i Đạo luật cơ bản về DNNVV trư c đó (năm 1966) đã mở ra cơ hội cho các DNNVV trong nư c được phát huy tiềm lực của mình, đóng góp cho nền kinh tế quốc gia Sau những biến động của kinh tế thế gi i, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ Hàn Quốc cũng đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp v i tình hình thế gi i cũng như v i từng doanh nghiệp Dựa vào từng mục tiêu
mà các chính sách hỗ trợ của Nhà nư c đặt ra, Chính phủ Hàn Quốc ban hành các luật và văn bản dư i luật v i mục đích hỗ trợ và phát tri n cho các DNNVV Tuy được quy định độc lập ở từng văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, nhưng giữa chúng có một mối liên hệ chặt chẽ, bổ trợ nhau và không th tách rời Hơn nữa, các chính sách hỗ trợ DNNVV được quy định nhất quán, thống nhất và phù hợp v i các quy định hiện hành tại các đạo luật cơ bản như Luật Doanh nghiệp, Đạo luật Thuế
8 http://vneconomy.vn/doanh-nhan/bi-quyet-phat-trien-doanh-nghiep-vua-va-nho-nhin-tu-nhat-ban-20170303125549774.htm
Trang 34Đ dễ điều hành, quản lý và cung cấp các chính sách hỗ trợ DNNVV, Hàn Quốc cũng chia DNNVV ra thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ
và doanh nghiệp vừa Cùng v i những văn bản pháp luật có mục tiêu rất cụ th và chi tiết, việc phân loại các DNNVV dựa trên quy mô và ngành nghề kinh doanh cũng rất cụ th , chi tiết như trên đã giúp các doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng một cách hiệu quả các quy định của pháp luật và chính sách hỗ trợ, giúp Hàn Quốc mau chóng đạt được mục tiêu đề ra
Trong quá trình hội nhập và phát tri n kinh tế không ngừng, phát tri n hệ thống DNNVV là mục tiêu trọng tâm của Hàn Quốc Theo đó, các chính sách hỗ trợ
do Chính phủ ban hành đã và đang được tri n khai thực hiện thông qua việc tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp về hành lang pháp lý, trợ giúp doanh nghiệp tiếp cận v i các nguồn lực trọng yếu như nhân lực, thị trường, công nghệ và tài chính Tùy vào từng giai đoạn phát tri n của nền kinh tế trong nư c và những biến chuy n của kinh tế thế gi i, Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng hợp lý từng lộ trình phát tri n và hỗ trợ một cách linh hoạt giúp các DNNVV áp dụng một cách linh hoạt, chủ động và đạt hiệu quả cao Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nư c
có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế gi i hiện đại, và là quốc gia duy nhất vươn lên thành công, từ quốc gia chủ yếu nhận viện trợ nư c ngoài sang một trong những quốc gia giàu nhất khu vực chỉ trong vài chục năm9
1.3.1.3 Đ L (Tru Quố )
Có th nói rằng, chính sách hỗ trợ pháp lý DNNVV của Đài Loan khá thành công mà kết quả cuối cùng là những đóng góp to l n của DNNVV trong quá trình phát tri n của hòn đảo này hông th tách rời những chính sách về DNNVV của Đài Loan ra khỏi khuôn khổ chính sách phát tri n kinh tế, xã hội chung Toàn bộ hệ thống chiến lược, chính sách kinh tế cũng như môi trường pháp lý của Đài Loan luôn dành sự phát tri n thuận lợi nhất cho sự phát tri n của DNNVV
Hiện nay, số lượng các công ty DNNVV của Đài Loan chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp cả nư c và thu hút 81% người lao động Chính bởi tầm quan
9 http://nguoibaovequyenloi.com/User/ThongTin_ChiTiet.aspx?MaTT=252016682885826&MaMT=25
Trang 35trọng như vậy mà việc thúc đẩy các doanh nghiệp này phát tri n có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối v i sự phát tri n của toàn bộ nền kinh tế
Thực tế, ngược v i các nư c phát tri n, kinh tế Đài Loan phụ thuộc nhiều hơn vào ngành công nghiệp chế tạo Tỷ lệ sản phẩm của ngành này trong xuất khẩu chiếm t i 82% Do vậy, đ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế hiện nay, chính phủ Đài Loan đầu tư cho các DNNVV nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, nhất là trong lĩnh vực chế tạo công nghệ cao
Gần đây, nhiều tập đoàn l n của Đài Loan đang hình thành văn hóa hợp tác,
hỗ trợ các DNNVV Các tập đoàn l n đặt ra quy chế cùng sở hữu thành quả đ lợi ích được chia sẻ đều đến các DNNVV là các đối tác của họ, thậm chí còn đầu tư phát tri n công nghệ đ các DNNVVnâng cao năng lực cạnh tranh
Như vậy, các doanh nghiệp l n cũng đang thay đổi theo chiều hư ng tích cực v i nhiều biện pháp hỗ trợ các DNNVV Nếu ví các tập đoàn l n là đầu tàu kinh tế thì có th coi các DNNVV như những toa tàu nối tiếp không th tách rời sau
đó Bởi vậy việc thúc đẩy mối quan hệ này chính là nền tảng đ có nhiều phát minh
m i, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Đài Loan nói chung trên trường quốc tế
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt nam
Từ việc phân tích về sự phát tri n và các chính sách hỗ trợ pháp lý cho DNNVV ở các nư c nói trên, có th thấy công tác hỗ trợ pháp lý đối v i DNNVV ở các nư c đều phụ thuộc vào nền kinh tế, tùy theo tình hình kinh tế - xã hội mà các nền kinh tế sử dụng linh hoạt chính sách hỗ trợ đ phát tri n DNNVV một cách hiệu quả Như vậy, có th rút ra một số bài học kinh nghiệm thiết thực trong công tác hỗ trợ pháp lý đối DNNVV tại Việt Nam như sau:
Một việc xây dựng các đạo luật tại các nư c có mục đích rất rõ ràng là
thúc đẩy DNNVV khởi nghiệp và tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh, còn tại Việt Nam hệ thống pháp luật hiện nay đang ngày càng trở nên phức tạp, chồng chéo Việc chúng ta học hỏi công tác lập pháp ở các hệ thống pháp luật khác nhau
đã làm cho hệ thống văn bản trở nên phức tạp, hỗn độn và chồng chéo Tư duy thích
Trang 36điều hành bằng văn bản của nhiều cơ quan nhà nư c hơn là giải quyết công việc bằng chỉ đạo cụ th cho từng trường hợp đã làm cho hệ thống văn bản càng trở nên
đồ sộ Cơ chế đảm bảo thực thi các quy định của pháp luật hiện nay cũng có nhiều vấn đề Nhiều văn bản luật có tính chất tuyên ngôn, định hư ng, khuyến khích, chứ không đưa ra các nghĩa vụ cụ th nên các DNNVV không biết áp dụng thế nào
Do vậy Việt Nam cần ban hành những văn bản pháp luật mang tính hệ thống và bao quát tất cả những vấn đề nhằm giúp hỗ trợ DNNVV từ giai đoạn ý tưởng, đến khởi nghiệp và hoạt động Trong đó, việc ban hành một văn bản luật về
hỗ trợ DNNVV là hết sức cần thiết nhằm luật hóa những chính sách hỗ trợ, tăng cường sự quan tâm của Nhà nư c về lĩnh vực này, v i những quy định thiết thực như xây dựng quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, đơn giản hóa thủ tục trong việc tiếp cận nguồn vốn khởi nghiệp và tái đầu tư kinh doanh, lãi suất cho vay thấp, hỗ trợ trong chuy n giao công nghệ, miễn, giảm thuế trong những năm đầu khởi nghiệp, hỗ trợ mặt bằng, hỗ trợ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao…
Trư c xu thế hội nhập và những kinh nghiệm của các nư c tiên tiến trên thế
gi i, Chính phủ Việt Nam đã ban hành một số văn bản về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như Nghị định 66/2008/NĐ-C ngày 28/5/2008 về Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đặc biệt là ngày 12/6/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội nư c Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Hỗ trợ DNNVV, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 Đồng thời, ngày 11/3/2018 Chính phủ ban hành Nghị định
số 39/2018/NĐ-C quy định chi tiết một số điều Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ thay thế Nghị định số 56/2009/NĐ-CP Việc ban hành các văn bản nay cho thấy Việt Nam đã và đang khẳng định được vị thế về thương mại trên trường quốc tế
Hai là việc xây dựng một cơ quan chuyên trách trong việc hỗ trợ DNNVV
cũng cần phải đặt ra, nhằm giúp Chính phủ theo dõi sát sao việc thực hiện pháp luật, đồng thời chủ động thực hiện những công việc cần thiết làm tăng tính hiệu quả của pháp luật và chính sách hỗ trợ
Công tác pháp chế của các cơ quan nhà nư c thường bị buông lỏng Thậm chí ở những nơi có bộ phận pháp chế thì tầm ảnh hưởng cũng không nhiều trong các
Trang 37quyết định pháp luật của tổ chức, đơn vị đó Mặc dù Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 quy định khá cụ th về tổ chức pháp chế trong các cơ quan cấp Bộ,
cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp Tỉnh và trong doanh nghiệp nhà nư c nhưng trong quá trình tri n khai còn nhiều vư ng mắc Vấn đề quan trọng nhất là chất lượng cán bộ pháp chế, đặc biệt là ở địa phương hiện nay Tìm cử nhân luật đưa vào vị trí cán bộ pháp chế không khó, nhưng tìm được cử nhân luật đáp ứng được yêu cầu công việc thì lại không dễ Bên cạnh đó, có những lĩnh vực rất chuyên sâu cần kiến thức chuyên ngành không phải luật như kinh tế, môi trường, y tế, giáo dục… thì trình độ một cử nhân luật thông thường không th một s m một chiều đáp ứng được
Công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trong thời gian trư c đây không được chú trọng Vấn đề minh bạch thông tin điều hành luôn là sự cản trở trong quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam Đội ngũ cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn ít về số lượng, chưa thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật và kỹ năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, đa số cán bộ làm việc kiêm nhiệm, do đó, chất lượng công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV hiện nay chưa cao, trong khi đó kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV còn hạn chế, thiếu tập trung, chưa được thực hiện một cách đồng bộ trên cả nư c, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này
Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nư c và các tổ chức đại diện cho DNNVV, các tổ chức dịch vụ pháp lý chưa được đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả, dẫn đến tình trạng bỏ trống nhiều địa bàn hoặc không đáp ứng được yêu cầu hỗ trợ pháp
lý cho DNNVV Tuy thời gian gần đây có nhiều chuy n biến, nhưng về cơ bản vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu Mức độ quan tâm đến việc hỗ trợ, giải đáp thắc mắc của các cơ quan nhà nư c là không giống nhau và cũng không thường xuyên
Ba là giáo dục cũng cần được thay đổi nhằm khuyến khích, động viên và cổ
vũ tinh thần tự do sáng tạo của mỗi cá nhân từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Cần phải thay đổi tư duy của mỗi cá nhân trong xã hội về mục đích hư ng nghiệp, cần phải xóa bỏ tư tưởng đi học là đ làm cán bộ, công chức nhà nư c Thực tế tại những quốc gia tiến tiến trên thế gi i, các cơ sở giáo dục như trường đại học, cao
Trang 38đẳng, học viện luôn đóng vai trò quan trọng trong việc ươm mầm và phát tri n những hạt giống về khởi nghiệp, ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường học sinh đã được phân loại theo năng lực, sở trường đ hư ng nghiệp cho tương lai Do vậy, các doanh nghiệp chủ động hợp tác v i các cơ sở đào tạo đ lựa chọn nguồn nhân lực, lao động ngay từ giai đoạn ban đầu nhằm đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, đồng thời cũng giải quyết được tình trạng thất nghiệp hoặc không có khả năng làm việc sau khi ra trường của sinh viên
Thực tế cho thấy tại Việt Nam về tư duy giáo dục đào tạo còn nặng nề về kiến thức lý luận, chưa có nhiều chương trình về thực hành cũng như hư ng nghiệp cho học sinh, sinh viên do vậy bản thân các sinh viên sau khi tốt nghiệp cũng chưa định hư ng và xác định được năng lực, sở trưởng của mình nên dẫn đến tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng Mặt khác, nhu cầu về lao động có trình độ, được đào tạo của các doanh nghiệp chưa được đáp ứng Từ đó cho thấy giữa cung và cầu trong việc đào tạo và sự dụng lao động không có sự cân bằng, do chưa có định
hư ng rõ ràng trong công tác giáo dục đào tạo ở nư c ta
Từ những bài học kinh nghiệm của các nư c trên thế gi i cho thấy, đ đáp ứng nhu cầu về lao động và vấn đề việc làm cho sinh viên các cơ sở giáo dục đào tạo cần chủ động hợp tác v i các doanh nghiệp trong việc định hư ng nghề nghiệp cho sinh viên
Bố tại các nư c việc quản lý các luật sư, công ty luật và công ty tư vấn
đầu tư rất chặt chẽ và việc song hành v i các công ty luật của các thương nhân khi thành lập doanh nghiệp là phổ biến, còn đối v i Việt Nam hiện nay, số lượng các luật gia độc lập là không ít, nhưng thường tập trung tại các thành phố l n như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, còn những địa phương khác thì hạn chế hơn Chính
vì vậy, việc doanh nghiệp muốn tìm kiếm sự hỗ trợ về pháp lý của những luật gia không phải lúc nào cũng dễ thực hiện, đặc biệt là thêm rào cản về chi phí và quan niệm chưa đúng của chủ doanh nghiệp Cùng quan niệm là chỉ nên tìm sự giúp đỡ của luật sư khi có kiện tụng hoặc khi gặp rắc rối về hình sự Một điều bất ngờ là nhiều luật sư cũng quan niệm như vậy, nên rất ít chú trọng đến kỹ năng tư vấn pháp
lý, đặc biệt tư vấn về các giao dịch kinh doanh
Trang 39Trình độ các luật gia rất không đồng đều dẫn đến rất khác nhau trong năng lực của các công ty luật hay tổ chức tư vấn Điều đó gây khó khăn cho việc tiếp cận và lựa chọn luật gia tư vấn của doanh nghiệp Nhiều trường hợp các luật gia không đủ năng lực nhưng vẫn nhận vụ việc dẫn đến không hoàn thành hoặc hiệu quả hoàn thành thấp đã làm ảnh hưởng đến uy tín của gi i tư vấn nói chung và luật gia nói riêng
Nhiều công ty tư vấn hoặc luật sư cũng đặt nặng vai trò là người thực hiện thủ tục thông qua "chạy chọt" dựa vào các mối quan hệ hơn là thực hiện các quyền cho doanh nghiệp một cách nghiêm túc Cách làm này có th giúp cho tổ chức tư vấn hoặc luật sư có được thù lao, nhưng nó dẫn đến nhiều hệ lụy là làm xói mòn nền pháp chế, làm xói mòn ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và làm doanh nghiệp hi u sai về các tổ chức tư vấn
Tó ạ , mục tiêu hỗ trợ pháp lý cho DNNVV tại các nư c đều nhằm vào
việc trợ giúp những bất lợi, cùng v i sự tạo điều kiện phát tri n cho các DNNVV, giúp họ khai thác tốt các tiềm năng kinh tế, đặc biệt là tiềm năng trong nư c Việc
hỗ trợ các doanh nghiệp phải có hiệu quả, nghĩa là phải đ tự doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, nhà nư c chỉ giữ vai trò hỗ trợ về mặt pháp lý Việc phát tri n DNNVV không chỉ cần có chương trình, chính sách hỗ trợ, có quan đi m, chiến lược đúng đắn mà còn cần đến sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp v i nhau Chính phủ phải tạo điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý cho doanh nghiệp, đồng thời có định hư ng phát tri n DNNVV
rõ ràng, phù hợp v i từng giai đoạn và phải khuyến khích, điều tiết hợp lý bằng hệ thống chính sách linh hoạt và phù hợp v i yêu cầu của giai đoạn đó 10
10 giai-phap
Trang 40Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 832.075,82 ha; địa hình ở Lạng Sơn chủ yếu là đồi, núi thấp, độ cao trung bình là 252m so v i mực nư c bi n; nền nhiệt không quá cao, mùa đông tương đối dài và khá lạnh
Ngoài những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa nhân văn phong phú Lạng Sơn còn có đường biên gi i v i Trung Quốc dài 231,740 km, có
2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng) 2 cửa khẩu quốc gia (Chi Ma, Bình Nghi) và 7 cặp chợ biên gi i đã tạo điều kiện cho Lạng Sơn trở thành đi m giao lưu, trung tâm buôn bán thương mại quan trọng của các tỉnh trong cả nư c v i Trung Quốc, qua đó sang các nư c Trung Á, châu Âu Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi nhà nư c đang thực hiện chính sách đầu tư phát tri n các khu kinh tế cửa khẩu, thì Lạng Sơn càng có điều kiện đ phát tri n các ngành kinh tế, đặc biệt kinh tế thương mại - du lịch - dịch vụ hu kinh tế