1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thực tiễn thi hành tại thành phố hà nội

97 176 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ được ghi nhận trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 và các văn bản pháp luật chuyên ngành như L

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

VŨ THỊ HẰNG HÀ

TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

(Định hướng ứng dụng)

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

VŨ THỊ HẰNG HÀ

TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

Tác giả luận văn

Vũ Thị Hằng Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô giáo của Trường Đại học Luật

Hà Nội đã dạy bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh – Giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình, tận tâm, đầy trách nhiệm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Để thực hiện luận văn, bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, tự nghiên cứu với tinh thần, nghị lực và ý chí vươn lên Tuy nhiên, không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Kính mong quý thầy, cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp tiếp tục đóng góp để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Vũ Thị Hằng Hà

Trang 5

VIAC Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG…… 8

1.1 Khái quát về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng 81.1.1 Khái quát về quan hệ tiêu dùng 81.1.2 Khái niệm trách nhiệm của doanh nghiệp với người tiêu dùng 111.1.3 Khái niệm trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng 131.1.4 Ý nghĩa của việc doanh nghiệp cung cấp thông tin cho người tiêu dùng 141.2 Khái quát những quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng 151.2.1 Quá trình phát triển pháp luật tại Việt Nam về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng 161.2.2 Khái quát quy định pháp luật của các nước trên thế giới về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng 171.2.3 Hệ thống các quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng 191.2.4 Nội dung cơ bản về nghĩa vụ cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 25

2.1 Quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam 252.1.1 Trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa 252.1.2 Trách nhiệm thông báo về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung 312.1.3 Trách nhiệm cung cấp thông tin về bảo hành hàng hóa 332.1.4 Trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa có khuyết tật và việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật 342.1.5 Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng 36

Trang 7

2.1.6 Chế tài xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với người tiêu dùng… 382.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hà Nội 422.2.1 Những kết quả đạt được trong việc cung cấp thông tin của doanh nghiệp cho người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hà Nội 422.2.2 Những vướng mắc và nguyên nhân trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng 53

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 60

3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng 603.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng tại thành phố Hà Nội 65

KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thông tin về hàng hóa, dịch vụ là yếu tố mà người tiêu dùng cần thiết nhất khi mua và sử dụng hàng hóa Bởi lẽ, trên thị trường, mỗi loại hàng hóa đều có rất nhiều sản phẩm đến từ những công ty khác nhau, có thành phần, định lượng khác nhau, xuất xứ khác nhau, giá thành khác nhau… Như vậy, để tìm được sản phẩm phù hợp nhất với điều kiện và nhu cầu sử dụng của mình, người tiêu dùng phải dựa trên những thông tin về hàng hóa do nhà sản xuất, cung ứng đưa ra để so sánh và chọn lọc Tuy nhiên thực tế hiện nay, quyền được cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng đang bị xâm hại nghiêm trọng Các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức và cách thức khác nhau để hướng người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm của mình ví dụ như: thông tin sai về xuất xứ hàng hóa, ghi sai hàm lượng dinh dưỡng, quảng cáo thổi phồng chức năng, công dụng của hàng hóa, tẩy xóa hạn

sử dụng in trên nhãn mác để lừa dối người tiêu dùng… Điển hình trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, các sai phạm về thông tin hàng hóa ngày càng trở nên phổ biến và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng Các tiểu thương, doanh nghiệp vì lợi nhuận mà sủ dụng chất bảo quản, chất cấm độc hại để chế biến thực phẩm trong khi đó đưa ra những lời quảng cáo như “rau hữu cơ”,

“hoa quả đạt chất lượng VietGAP” hay “thịt lợn sạch”… Tuy nhiên, nhiều loại thực phẩm thiết yếu mà người tiêu dùng sử dụng hàng ngày có chứa chất độc hại, sử dụng lâu dài sẽ dẫn đến nguy cơ bị mắc các bệnh như ung thư, suy gan, các bệnh về xương, răng,… Ví dụ như: cà phê bị nhuộm với bột đen từ pin, thịt lợn tiêm chất tạo nạc; giò chả “ướp” hàn the; rau phun kích thích tăng trưởng; măng tẩm lưu huỳnh; nội tạng động vật được tẩy trắng bằng hóa chất độc hại, gà tiêm thuốc tăng trọng, tôm bơm chất để tăng trọng lượng rồi đưa ra thị trường1 Thực trạng này cho thấy, hiện nay môi trường sống tại Việt Nam chưa đảm bảo an toàn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người tiêu dùng Thực tế này đặt ra trách nhiệm của các cơ quan quản lí nhà nước, các tổ chức xã hội đối với quyền lợi của người tiêu dùng Bên cạnh đó là trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cần được nâng cao

1

http://giadinh.net.vn/song-khoe/nhan-dien-cac-loai-thuc-pham-ngam-hoa-chat-doc-hai-20180420162515235.htm (ngày truy cập 15/08/2018)

Trang 9

Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch

vụ được ghi nhận trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 và các văn bản pháp luật chuyên ngành (như Luật trách nhiệm sản phẩm 2008, Luật An toàn thực phẩm 2012, Luật Quảng cáo 2005, Luật Cạnh tranh 2004 ) Pháp luật hiện hành về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp về hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam nói chung đã tạo hành lang pháp lý nhằm khắc phục tình trạng “bất cân xứng” về thông tin giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng; đồng thời, duy trì và thúc đẩy mối quan hệ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp hài hòa ổn định góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa thực sự là một công cụ bảo vệ tốt nhất quyền được thông tin về hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng Do vậy, việc nâng cao tính khả thi của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ nhằm bảo vệ hữu hiệu quyền được thông tin của người tiêu dùng là nhu cầu cấp bách đặt

ra hiện nay

Thành phố Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là

là trung tâm hàng hóa bán buôn và bán l lớn thứ hai cả nước Trong quý I năm

2018, tại Hà Nội ch số các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, XNK… đều tăng hơn so với cùng kì Cụ thể, ch số sản xuất công nghiệp của Hà Nội tăng 8,5 (quý I/2017 ch 5,1 ) Tổng mức bán l hàng hóa và doanh thu dịch vụ 3 tháng tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 617.490 t đồng, tăng 12,4 so cùng kỳ, quý 1/2017 tăng 7,1 2 Hà Nội có cơ sở

hạ tầng hiện đại, tập trung nhiều cơ quan đầu mối và cơ sở giao thông quốc tế, có nguồn nhân lực dồi dào… Hà Nội là trung tâm giao thương lớn của miền Bắc và cả nước Ngoài những lợi thế so với những địa phương khác về địa hình, cơ sở hạ tầng,

Hà Nội cũng có nhiều điểm bất lợi về công tác quản lý do dân số đông, pháp luật còn lỏng l o và ý thức tuân thủ pháp luật của người dân còn chưa cao dẫn đến công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa thực sự được hiệu quả Đặc biệt về trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, các vi phạm vẫn diễn ra một cách phổ biến và thường xuyên, khiến cho người tiêu dùng hoang mang,

lo sợ, không biết đặt niềm tin vào đâu Do đó, việc lựa chọn thành phố Hà Nội là

2

http://kinhtedothi.vn/kinh-te-ha-noi-tang-truong-cao-tren-moi-linh-vuc-313095.html (ngày truy cập

15/08/2018)

Trang 10

một địa điểm thích hợp để lựa chọn nghiên cứu thực tiễn về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp với người tiêu dùng

Xuất phát từ lí do đó, việc tác giả nghiên cứu chuyên sâu về “Trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hà Nội” là có ý nghĩa

cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong Giáo trình “Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của Trường Đại học Luật Hà Nội (2012) thì thông tin là một trong những yếu tố mà NTD quan tâm nhất khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, là điều đặc biệt quan trọng trong giai đoạn trước khi NTD xác lập quan hệ tiêu dùng với nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa;

Trong công trình nghiên cứu “The effect of information on product quality - The

evidence from restaurant hygiene grade cards”, Ginger Zhe Jin and Phillip Leslie

đã phân tích tác động của thông tin đối với sự lựa chọn của khách hàng Công trình này cung cấp một số vấn đề về thông tin về sản phẩm, thông tin về chất lượng sản phẩm Trong nghiên cứu “Consumer information - Product quality and seller Reputation” Carl Shapiro nêu bật những tác động của thông tin không chính xác về sản phẩm và chất lượng sản phẩm đối với sự vận hành bình thường của thị trường Tác giả của công trình này cũng đã phân tích các phương thức chuyển tải thông tin

về chất lượng và sự lựa chọn của NTD đối với sản phẩm Tuy nhiên, trong công trình này tác giả chưa đề cập đầy đủ trách nhiệm của nhà sản xuất, người bán đối với việc cung cấp thông tin không chính xác về chất lượng sản phẩm Trong công

trình “Information Quality Benchmarks: Product and Service Performance” nhóm

các nhà nghiên cứu gồm Beverly K Kahn, Diane M Strong, and Richard Y Wang

đã phân tích các loại thông tin về sản phẩm mà mô hình tác động của các loại thông tin này đối với sự lựa chọn của người tiêu dùng và của cả những người sản xuất, bán hàng

Đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu “Hoàn thiện pháp luật Bảo vệ quyền

lợi của người tiêu dùng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Đinh Thị

Mỹ Loan Đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ về quyền của NTD trong đó nhấn mạnh đến quyền được thông tin về hàng hóa, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với NTD Đề tài đánh giá sâu sắc ưu điểm và một số hạn chế của pháp luật về BVQLNTD và đã giới thiệu một số quy định của quốc tế về BVQLNTD; qua đó, đề

Trang 11

tài đưa ra nhiều giải pháp thiết thực trong việc xây dựng Luật Bảo vệ quyền lợi NTD;

Luận văn Thạc sỹ của Lê Mai Anh (2016), “Hoàn thiện pháp luật về nhãn

hàng hóa trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay” đã đưa ra các kiến nghị cụ thể về

phương hướng chung của việc hoàn thiện pháp luật về nhãn hàng hóa của Việt Nam

là xây dựng các quy định của pháp luật tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế, trên cơ

sở tiếp thu những ưu điểm của các quốc gia khác trong việc xây dựng pháp luật về nhãn hàng hóa Cần hoàn thiện các biện pháp tuyên truyền pháp luật về nhãn hàng hóa, cơ chế thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về nhãn hàng hóa, bổ sung

cơ chế thực thi quyền của người tiêu dùng trong pháp luật về nhãn hàng hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng; đề xuất những định hướng và giải pháp thích hợp cho việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ và thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp ở Việt Nam

Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định như sau:

- Nghiên cứu có hệ thống nhằm làm rõ cơ sở lý luận về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho NTD;

- Nghiên cứu và phân tích hệ thống pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD;

- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho NTD trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trên cơ sở đó, đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD trên địa bàn thành phố Hà Nội

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD; các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về trách nhiệm của

Trang 12

doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ; các đánh giá, tổng kết về tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội; từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD

Trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD là một vấn đề tương đối rộng, Tuy nhiên, như mục đích và phạm vi nghiên cứu được trình bày ở trên, trọng tâm nghiên cứu của luận văn là những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn áp dụng

- Về lý luận: luận văn tập trung nghiên cứu về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho NTD Trách nhiệm trong luận văn đề cập là trách nhiệm pháp lý (chứ không phải trách nhiệm xã hội) Thông tin

về hàng hóa rất đa dạng và phong phú, song luận văn ch đề cập đến thông tin về hàng hóa, dịch vụ (chứ không phải thông tin về hàng hóa nói chung)

- Về thực tiễn, luận văn chủ yếu tập trung vào nghiên cứu, đánh giá tính phù hợp, thống nhất và khả thi của các qui định pháp luật hiện hành về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó, dự báo những vấn đề pháp lý sẽ phát sinh và nhu cầu, định hướng hoàn thiện Những nội dung liên quan đến thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật luận văn cũng nghiên cứu nhưng giới hạn trong lãnh thổ Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-

Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ các chương của luận văn Đây

là phương pháp khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ luận văn để đánh giá khách quan sự hoàn thiện của pháp luật và hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp luật học,

Trang 13

phương pháp quy nạp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê được luận văn sử dụng nghiên cứu làm rõ nội dung đề tài Để hoàn thành mục đích nghiên cứu thì luận văn có sự kết hợp giữa các phương pháp trong từng phần của luận văn; trong đó, phương pháp phân tích và tổng hợp là những phương pháp được

sử dụng nhiều nhất trong luận văn Cụ thể:

Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, đối chiếu được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ và pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam và một số nước trên thế giới

Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh được sử dụng trong Chương 2 để làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn thành phố Hà Nội

Phương pháp quy nạp, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp được sử dụng trong Chương 3 khi trình bày các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là một công trình nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng hiện nay, đưa ra và phân tích những vấn đề có tính lý luận cho việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực này Việc nghiên cứu pháp luật bảo vệ người tiêu dùng sẽ góp phần hoàn thiện hơn pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng

Luận văn phân tích, đánh giá thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hà Nội

và thực trạng của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng; đưa ra các giải pháp để khắc phục nhằm nâng cao tính khả thi, tính minh bạch của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tạo hành lang pháp lý thuận lợi để

Trang 14

góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hoàn thiện

cơ chế và các thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được kết cấu gồm 03 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng;

Chương 2: Nhận diện trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam và thực tiễn thi hành ở thành phố Hà Nội;

Chương 3: Kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đối với trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp tại thành phố Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI

TIÊU DÙNG 1.1 Khái quát về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng

1.1.1 Khái quát về quan hệ tiêu dùng

Về bản chất, quan hệ tiêu dùng không phải quan hệ thương mại được điều

ch nh bởi Luật Thương mại mà là quan hệ dân sự được điều ch nh bởi Bộ luật dân

sự3, cho dù quan hệ này có chủ thể là thương nhân và mục đích tham gia vào các quan hệ tiêu dùng là để thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích vật chất (quan hệ tài sản) trong đó có mục đích lợi nhuận của thương nhân

Giống như các quan hệ pháp luật dân sự khác, về cơ bản, quan hệ pháp luật tiêu dùng được thiết lập đảm bảo các nguyên tắc cơ bản đã được đề cập tại Bộ luật Dân sự năm 2015 cụ thể:

nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản

- Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng

- Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực

- Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

- Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự

Quan hệ tiêu dùng có những đặc điểm sau:

Trang 16

Chủ thể của quan hệ tiêu dùng bao hàm hai chủ thể cơ bản là chủ thể thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ (sau đây gọi chung là “Người tiêu dùng”) và chủ thể cung ứng hàng hóa, dịch vụ

- Chủ thể thứ nhất: người tiêu dùng

Tại Việt Nam, khái niệm NTD đã được quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 và tiếp tục được ghi nhận trong Luật BVQLNTD năm

2010 Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD 2010 quy định: Người tiêu dùng là người

mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức Như vậy, NTD trong pháp luật Việt Nam có thể là pháp nhân hay thể

nhân, là đối tượng thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng vì nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt riêng, không vì mục tiêu thương mại So với pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam đã có sự mở rộng hơn về đối tượng được bảo vệ Rất nhiều nước trên thế giới ch chấp nhận NTD là cá nhân thì tại Việt Nam, các tổ chức mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cũng được coi là NTD Bên cạnh đó, NTD không nhất thiết phải là người mua hàng trực tiếp để sử dụng vào mục đích sinh hoạt cá nhân mà có thể là người thụ hưởng gián tiếp hàng hóa, dịch vụ do người khác mua Ví dụ: bố mua máy tính cầm tay phục vụ cho việc con trai học toán, người con trai được coi là người tiêu dùng sản phẩm

Theo pháp luật bảo vệ NTD, bên được hưởng sự ưu tiên so với chủ thể luật dân sự khác trong giao dịch với doanh nghiệp là NTD bởi trong quan hệ tiêu dùng,

họ có nhiều yếu thế hơn ví dụ như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu thế về khả năng đàm phám khi giao kết hợp đồng, yếu thế về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng Do đó, việc xác định chủ thể nào là NTD, chủ thể nào là đối tượng được bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD có vai trò vô cùng quan trọng dưới góc độ pháp lý

Thứ hai, về mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ:

Hầu hết các nước quy định việc NTD mua hàng hóa, dịch vụ phải nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cho cá nhân mà không phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc các hoạt động nghề nghiệp Một ngoại lệ khi Hàn Quốc quy định mục đích sử dụng hàng hóa dịch vụ, bao gồm cho tiêu dùng cá nhân và sản xuất

Việc mua các sản phẩm phục vụ tiêu dùng nhằm bán lại (ví dụ: mua vải từ các đầu mối rồi về bán l ), hoặc chế biến thành sản phẩn để bán (ví dụ: mua trứng

Trang 17

vịt tươi từ trại nuôi, đem muối sau đó đem bán thành phẩm trứng muối) không được coi là hành vi tiêu dùng

Bên cạnh đó, như đã nói ở trên, NTD có thể không có quan hệ trực tiếp với nhà cung cấp mà có thể là người thụ hưởng gián tiếp hàng hóa, dịch vụ do người khác mua, được tặng cho, cấp phát Ví dụ: Trong đợt thưởng tết của công ty, mỗi cá nhân đạt hạng nhân viên xuất sắc sẽ được tặng một bình hoa gốm, như vậy những nhân viên được nhạn thưởng không tham gia giao dịch mua bán nhưng vẫn là người tiêu dùng Như vậy, người tiêu dùng không tham gia vào chuỗi phân phối hàng hóa, dịch vụ, ch đóng vai trò là điểm cuối cùng và mục tiêu của chuỗi phân phối, đồng thời tạo cơ sở phân biệt quan hệ pháp luật tiêu dùng với các quan hệ pháp luật thương mại khác.4

Thứ ba, về phương diện tự do khế ước:

Từ nền công nghiệp hóa phát triển dẫn đến khả năng sản xuất và cung cấp sản phẩm dịch vụ ra thị trường một cách liên tục và hàng loạt Từ đó, các doanh nghiệp thiết lập nên những quy tắc bán hàng thống nhất, tiêu chuẩn hóa các điều khoản của các hợp đồng mua bán và áp dụng chung trong các giao dịch với nhiều NTD Tuy nhiên, những điều kiện chung này lại được soạn trước bởi các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ dùng để ký kết với nhiều khách hàng khác nhau nên thường mang lại nhiều rủi ro và thiệt thòi về lợi ích cho NTD Bởi lẽ, NTD không được tham gia đàm phán về những điều khoản có trong nội dung của loại hợp đồng này và do đó, những bất cập càng có nhiều cơ hội gia tăng Ví dụ: việc sử dụng hợp đồng mẫu mang lại nhiều thiệt thòi cho NTD; hàng hóa không được cung cấp đầy đủ thông tin về tính năng sử dụng hay yêu cầu an toàn

- Chủ thể thứ hai: người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Luật BVQLNTD 2010 đã định nghĩa cụ thể: Tổ chức, cá nhân kinh doanh

hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: thương nhân theo quy định của Luật thương mại và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh

4

Nguyễn Trọng Điệp - Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay – Luận văn tiến sĩ, Học viện khoa học xã hội,2014

Trang 18

Như vậy, theo quy định của Luật BVQLNTD 2010, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ có thể là thương nhân và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh

Theo quy định tại khoản 1 điều 6 Luật thương mại 2005: “Thương nhân bao

gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh”

Khái niệm “doanh nghiệp” được quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 là một tổ chức có tên riêng và tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng

ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi.5

Từ đó, ta có thể nhận thấy, mọi doanh nghiệp đều là thương nhân vì đều có đăng ký kinh doanh Còn một số thương nhân lại không phải là doanh nghiệp như

hộ kinh doanh, hợp tác xã Khái niệm thương nhân có nội hàm rộng hơn và bao hàm khái niệm doanh nghiệp.6

Bên cạnh đó, doanh nghiệp là một tổ chức và có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Vì vậy, khái niệm doanh nghiệp được đề cập đến trong luận văn này là một thương nhân, không phải là một cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp ở đây là một tổ chức cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường một cách độc lập, mang danh nghĩa của chính mình và vì lơi ích của bản thân mình và mang tính nghề nghiệp thường xuyên

1.1.2 Khái niệm trách nhiệm của doanh nghiệp với người tiêu dùng

Trong Từ điển Tiếng Việt, trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa như sau: nghĩa thứ nhất: phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; nghĩa thứ hai: sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của họ, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải

Trang 19

gánh chịu phần hậu quả7 Điểm chung của cả hai cách định nghĩa trên là đều xem xét trách nhiệm gồm hai thành phần cơ bản: một là những việc phải làm như là bổn phận, nhiệm vụ; hai là sự cam kết đối với kết quả sau khi thực hiện bổn phận, nhiệm

vụ và chịu trách nhiệm đối với kết quả đó Do đó, có thể hiểu: Trách nhiệm là phần việc, công việc được giao cho phải đảm bảo hoàn thành với kết quả tốt, nếu kết quả không tốt sẽ phải gánh chịu phần hậu quả.8

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm trách nhiệm pháp lý vẫn còn là một chủ đề

gây nhiều tranh cãi Tuy nhiên có thể hiểu “trách nhiệm pháp lý là những ràng buộc

mà chủ thể pháp luật phải tuân thủ và gắn liền với việc áp dụng các chế tài do pháp luật quy định khi chủ thể đó có hành vi vi phạm pháp luật”9 Có thể thấy, theo cách hiểu này trách nhiệm pháp lý vừa mang nghĩa tích cực, thể hiện sự tự giác, chủ động hoàn thành nghĩa vụ pháp lý theo yêu cầu của pháp luật, vừa mang nghĩa tiêu cực, thể hiện sự cưỡng chế của nhà nước đối với nghĩa vụ của chủ thể

Như vậy, qua những phân tích trên thì có thể hiểu rằng, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng là nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải có bổn phận tuân thủ theo quy định của pháp luật đối với NTD, nếu doanh nghiệp không hoàn thành hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trách nhiệm đối với NTD thì phải chịu những hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện rất nhiều loại trách nhiệm trong nhiều lĩnh vực khác nhau như trách nhiệm về thuế, trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc trong hoạt động thương mại, trách nhiệm về hóa đơn chứng từ Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với NTD không

ch được đề cập trong Luật BVQLNTD mà còn được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Do đó, khái niệm chung về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng không được quy định trong Luật BVQLNTD mà ch quy định cụ thể những trách nhiệm mà doanh nghiệp cần phải thực hiện Theo đó, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với NTD được quy định trong Luật BVQLNTD bao gồm các loại trách nhiệm như sau:

7 Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng 2002

8

http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010070/0/20945/Thuat_ngu_trach_nhiem_va_thuc_tien_phap_luat _ve_trach_nhiem_cua_nguoi_dung_dau_co_quan_hanh_chinh_nha (ngày truy cập 01/08/2018)

9 Hoàng Minh Chiến (chủ nhiệm đề tài) “Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam”, đề tài khoa học cấp trường, Đại học Luật Hà Nội, 2016, tr.8

Trang 20

- Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng

- Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng

- Trách nhiệm bồi thường khi có tranh chấp giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng

- Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện

- Trách nhiệm bồi thường do hàng hóa có khuyết tật gây ra

1.1.3 Khái niệm trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng

Ngày nay, chúng ta có thể nhận thấy thông tin luôn hiện hữu trong mọi khía cạnh của đời sống hàng ngày Thông tin là một nhu cầu cơ bản thuộc quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 Thông tin mang lại tri thức cho con người và từ đó định hướng cho hành vi của con người Mọi hoạt động giao tiếp của con người đều thông qua rất nhiều hình thức giao lưu thông tin phong phú và đa dạng như: chữ viết, âm thanh, hình ảnh… Trong nền kinh tế thị trường, thông tin là tin tức và dữ liệu có giá trị đối với người sử dụng Thông tin đáp ứng được nhu cầu của người tiếp cận, càng đầy đủ và có độ chính xác càng cao thì càng mang lại hiệu quả cho quyết định của người tiếp cận Từ đó, thông tin cũng được coi như tài sản,

có giá trị khai thác sử dụng, được mua bán và mang lại hiệu quả về mặt kinh tế và

xã hội Một thông tin có chất lượng phải hội tụ được sự kết hợp của nhiều yếu tố: tính chính xác, nội dung mang phạm vi bao quát, tính cập nhật và tần suất sử dụng

Theo giáo trình “Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” Trường Đại học Luật Hà Nội (2012) thì thông tin là một trong những yếu tố mà NTD quan tâm nhất khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, là điều đặc biệt quan trọng trong giai đoạn trước khi NTD xác lập quan hệ tiêu dùng với nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa

Thông tin về hàng hóa, dịch vụ là một khái niệm rộng, bao gồm ba nhóm: Nhóm 1: thông tin về nhà sản xuất, cung ứng (gồm tên, địa ch trụ sở, số điện thoại liên lạc, địa ch email…); Nhóm hai: thông tin về giao dịch (thông tin về hóa đơn, chứng từ liên quan đến giao dịch, thông tin về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao

Trang 21

dịch chung); Nhóm ba: thông tin về hàng hóa (giá cả, số lượng, chất lượng, hướng dẫn sử dụng, bảo hành hàng hóa, khả năng cung ứng linh kiện hàng hóa…)10

Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu, trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng là nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải tuân thủ theo quy định của pháp luật đối với NTD trong việc cung cấp những thông tin mà NTD có quyền được biết và muốn biết, nếu doanh nghiệp không hoàn thành hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trách nhiệm đối với NTD thì phải chịu những hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật Trong quan hệ tiêu dùng, doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho NTD, NTD có quyền được biết các thông tin trước, trong và sau khi giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

1.1.4 Ý nghĩa của việc doanh nghiệp cung cấp thông tin cho người tiêu dùng

Thứ nhất, việc doanh nghiệp cung cấp thông tin cho người tiêu dùng nhằm đảm bảo quyền được thông tin của NTD Đây là một lợi ích của NTD Doanh nghiệp là bên nắm mọi thông tin về hàng hóa như nguồn nhập khẩu, thành phần, định lượng, ch tiêu an toàn… trong khi đó, NTD có những nhu cầu khác nhau về từng loại sản phẩm tiêu dùng Mỗi một hàng hóa lại mang thông tin đặc trưng riêng, thể hiện bản chất và thuộc tính vốn có của hàng hóa đó, ví dụ: đối với các sản phẩm như thuốc lá, rượu bia, sữa công thức… thì thông tin về độ tuổi là một trong những thông tin quan trọng nhất mà NTD lưu tâm Từ những thông tin mà doanh nghiệp cung cấp, NTD có thể biết được rất nhiều thông tin từ một sản phẩm mà họ đang tìm kiếm, từ đó họ có thể nhận diện được thương hiệu hàng hóa, lựa chọn được sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng và đó như là một cam kết mà người tiêu dùng có thể an tâm để có thể sử dụng sản phẩm mà mình đã mua.11 Doanh nghiệp cung cấp thông tin cho NTD nhằm đảm bảo quyền được thông tin của NTD, đó là tiền để để đảm bảo các quyền khác của NTD cũng được doanh nghiệp thực hiện tốt

Thứ hai, doanh nghiệp cung cấp thông tin cho NTD một cách trung thực, đầy

đủ, doanh nghiệp đã làm tròn nghĩa vụ của mình với NTD theo quy định của pháp

Trang 22

luật Xuất phát từ sự “bất bình đẳng” về thông tin giữa NTD và doanh nghiệp, việc đảm bảo quyền được thông tin của NTD góp phần tạo ra sự cân bằng quan hệ giữa doanh nghiệp và NTD, nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo lập môi trường kinh doanh bình đằng trong nền kinh tế thị trường

Thứ ba, việc doanh nghiệp cung cấp thông tin cho NTD tạo ra lợi thế cạnh tranh, nâng cao uy tín trên thị trường, nắm bắt được điểm mạnh và điểm yếu của đối thủ Ví dụ: trên thị trường smart phone hiện nay, NTD hẳn đều biết trong mười năm

kể từ khi chiếc điện thoại thông minh đầu tiên ra đời, cuộc chiến giành thị phần giữa hai công ty lớn Apple và Samsung chưa bao giờ đi đến hồi kết Cả hai công ty luôn đưa ra những mẫu điện thoại tạo nên xu hướng, nghiên cứu đầu tư vào từng tính năng sử dụng để có thể dẫn trước đối thủ Mới đây, công ty Samsung tung ra quảng cáo về sản phẩm mới nhất của mình là điện thoại Galaxy Note9 Ngoài những tính năng vượt trội của dòng sản phẩm này, Samsung còn khéo léo quảng cáo về hiệu năng như sạc pin nhanh, camera sắc nét và bút S Pen có thể sử dụng đa dạng hơn Apple Pencil.12

Từ việc doanh nghiệp cung cấp thông tin cho NTD, NTD có thể so sánh với các sản phẩm khác tương tự đến từ các doanh nghiệp khác Khi sản phẩm của một doanh nghiệp thỏa mãn yêu cầu của NTD, họ sẽ luôn tin dùng sản phẩm của thương hiệu đó và còn giới thiệu cho những NTD khác Từ đó doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng lợi nhuận, tăng uy tín trên thị trường

Thứ tư, hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà nước cũng phụ thuộc vào việc cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với NTD Các cơ quan quản lý nhà nước căn cứ vào những thông tin mà doanh nghiệp đăng ký như ghi nhãn hàng hóa, công

bố về thành phần, chức năng, công dụng của hàng hóa…trước khi được đưa ra lưu thông trên thị trường Ngoài ra, những sản phẩm đang lưu thông cũng được tiến hành kiểm tra về chất lượng, các cơ quan quản lý sẽ thu thập mẫu sản phẩm sau đó gửi mẫu đến các trung tâm kiểm nghiệm do nhà nước ch định để phân tích, đánh giá Nếu kết quả không trùng khớp với những tiêu chí doanh nghiệp đã đăng ký và công bố, cơ quan nhà nước về quản lý chất lượng sẽ dựa vào đó để tiến hành xử phạt các vi phạm của doanh nghiệp

1.2 Khái quát những quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp

12

https://news.zing.vn/samsung-tung-quang-cao-note9-truc-tiep-dim-hang-apple-post867974.html (ngày truy cập 14/08/2018)

Trang 23

thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng

1.2.1 Quá trình phát triển pháp luật tại Việt Nam về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng

Tại Việt Nam, giai đoạn trước năm 1999, nhà nước chưa ban hành một văn bản pháp luật chuyên biệt điều ch nh về vấn đề bảo vệ NTD mà được quy định rải rác trong các văn bản luật thương mại hoặc dân sự Tại Điều 9 Luật Thương mại

1997 về Bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất, người tiêu dùng, lần đầu tiên quy định về nghĩa vụ của thương nhân trong việc cung cấp thông tin cho người tiêu

dùng, theo đó: “Thương nhân có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực về hàng hóa

và dịch vụ mà mình cung ứng” Bên cạnh đó, tại Điều 435 Bộ luật dân sự năm 1995

cũng đề cập đến trách nhiệm cung cấp thông tin: “Bên bán có nghĩa vụ cung cấp

cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này, thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện và nếu bên bán vẫn không thực hiện, thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại” Như vậy, trách nhiệm cung cấp

thông tin của doanh nghiệp trong giai đoạn này đã được pháp luật đề cập đến tuy nhiên vẫn còn chưa rõ ràng cụ thể về phương thức, loại thông tin và chưa có biện pháp đảm bảo thực hiện

Văn bản pháp luật đầu tiên có quy định cụ thể về bảo vệ NTD tại Việt Nam

là Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 Đây là một bước ngoặt quan trọng trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta, tạo nên hành lang pháp lý quan trọng trong Bảo vệ quyền lợi NTD Tại Điều 15 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999, trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh được quy định cụ

thể như sau: “…phải thông tin, quảng cáo chính xác và trung thực về hàng hóa,

dịch vụ; niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình cho người tiêu dùng” Bên

cạnh đó, tại Điều 8 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 có quy định thêm những thông tin mà NTD có quyền tiếp cận khi giao kết hợp đồng đó là: thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hóa, dịch vụ Ngoài Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999, trách nhiệm cung cấp thông tin cũng được quy định rải rác trong một số văn bản luật khác như Điều 442 Bộ luật dân sự 2005 về Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng hay Luật thương mại 2005

Sau hơn mười năm kể từ khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 được ban hành, tuy bước đầu đã ghi nhận được một số thành tựu nhưng bên cạnh đó,

Trang 24

quyền lợi NTD vẫn không được đảm bảo và hành vi vi phạm có chiều hướng gia tăng, hiệu quả thực thi chưa cao và chưa có chế tài cụ thể, đòi hỏi pháp luật phải được cải cách, sửa đổi để phù hợp với sự phát triển của xã hội Do đó, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Các quy định về nghĩa

vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ đã được quy định cụ thể, rõ ràng hơn Trong đó, tại Điều 12 của Luật BVQLNTD 2010 đã đưa ra những trách nhiệm cụ thể trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD như: ghi nhãn hàng hóa, niêm yết giá, hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung… Đến nay, nghĩa vụ cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp còn được quy định trong những văn bản pháp luật như Luật An toàn thực phẩm 2010, Luật Quảng cáo 2012, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử, Luật Giá 2012… đã góp phần xây dựng nên hành lang pháp lý vững chắc về vấn đề này

1.2.2 Khái quát quy định pháp luật của các nước trên thế giới về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng

- Về quyền được thông tin:

Quy định của các quốc gia đã phân tích ở trên về các quyền cơ bản của NTD

có một điểm chung nhất là hầu hết đều tôn trọng và cố gắng đi sát các quyền đề ra theo Các nguyên tắc ch đạo về bảo vệ NTD của Liên Hợp Quốc năm 1985 Ví dụ: Luật Bảo vệ NTD 1994 của Đài Loan quy định về nghĩa vụ của các bên liên quan

để đảm bảo, và thực hiện các quyền đó Ví dụ, Điều 4 & 5 của luật quy định rằng: + Các doanh nghiệp kinh doanh phải quan tâm đến sức khỏe, sự an toàn của NTD đối với những hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp, đồng thời phải giải thích cho NTD cách sử dụng hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo sự trung thực trong giao dịch, cung cấp cho NTD những thông tin đầy đủ, xác thực, và thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi NTD

+ Chính quyền, các doanh nghiệp kinh doanh và NTD phải cùng nhau nỗ lực tăng cường thông tin tiêu dùng và cung cấp các thông tin mà NTD sử dụng qua đó đảm bảo cách cư xử phù hợp và hợp lý của NTD được chấp nhận, để đảm bảo được lợi ích và sự an toàn của họ

Luật Bảo vệ Các quyền và lợi ích của NTD năm 1993 của Trung Quốc danh trọn một chương (Chương II – gồm 9 điều, từ Điều 7 đến Điều 15) để nêu rõ các quyền của NTD mà luật này bảo vệ Các quyền này được nêu khá cụ thể, chi tiết,

Trang 25

trong đó có: Quyền được nhận thông tin xác thực về tình trạng và điều kiện của mặt hàng mà họ mua bán sử dụng hoặc dịch vụ mà họ tiếp nhận;

- Về hành vi thương mại không công bằng: Có thể thấy rằng, chế định về hành

vi thương mại không công bằng được quy định khá phổ biến trong Luật Bảo vệ NTD của nhiều quốc gia Về cơ bản, có 3 dạng hành vi thương mại không công bằng bị cấm là: (1) Những hành vi cung cấp các thông tin sai sự thật, gây nhầm lẫn (về bất cứ vấn đề gì liên quan đến giao dịch tiêu dùng như liên quan đến nhân thân của thương nhân, liên quan đến bản thân hàng hoá, dịch vụ, liên quan đến bản chất giao dịch, liên quan tới các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến hợp đồng, liên quan đến giá cả, liên quan đến chế độ hậu mãi v.v.); (2) Những hành vi che giấu hoặc không cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết cho NTD khiến NTD không có đủ thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định liên quan đến giao dịch tiêu dùng; (3) Thực hiện các hành vi mang tính cưỡng bức, lạm dụng đối với NTD Đây đều là những hành vi làm cho quan hệ mua sắm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường trở nên bất công, xâm phạm trực tiếp quyền lợi của NTD

Nhật Bản: Phần II Luật Bảo vệ NTD Nhật Bản quy định về các biện pháp liên quan đến việc bảo vệ NTD

Theo đó, Luật đưa ra một số biện pháp như: phòng ngừa nguy hiểm; đảm bảo cân đo chính xác; xây dựng các tiêu chuẩn thích hợp; việc ghi nhãn hợp lý; đảm bảo cạnh tranh đúng đắn và tự do; đẩy mạnh các chương trình giáo dục và thông tin; phản ánh quan điểm của NTD; thiết lập các phương tiện thử nghiệm và thanh tra; thiết lập hệ thống xử lý khiếu nại Như vậy, Luật Bảo vệ NTD Nhật Bản tiếp cận các biện pháp bảo vệ NTD dưới dạng các chính sách, hay nói đúng hơn là các biện pháp bảo vệ NTD được thực hiện thông qua các hoạt động trong các lĩnh vực như: tiêu chuẩn, đo lường; nhãn hàng hóa; cạnh tranh; thông tin; thiết lập phòng thử nghiện; giải quyết khiếu nại Đây là những biện pháp bảo vệ NTD một cách toàn diện và hữu hiệu

- Về trách nhiệm sản phẩm: Nhìn vào xu thế quốc tế, có thể thấy rằng, ngày càng nhiều quốc gia quy định về vấn đề trách nhiệm sản phẩm Ở khu vực Châu Á, Nhật Bản đã ban hành đạo luật riêng về trách nhiệm sản phẩm từ năm 1994, Hàn Quốc ban hành đạo luật riêng về vấn đề này vào năm 2000 Ngay cả các quốc gia ASEAN xung quanh chúng ta, vấn đề này cũng đã được quy định tương đối chi tiết (trong đó phải kể đến các quy định về trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật

Trang 26

tại Chương V Luật Bảo vệ NTD của Philippines, các quy định về trách nhiệm sản phẩm trong Chương X của Luật Bảo vệ NTD của Malaysia)

- Về bảo hành: Châu Âu: Ch thị số 1999/44/EC của EU quy định rằng, việc đưa ra một chế độ bảo hành hợp lý cho các khiếm khuyết trong sản phẩm trong một khoảng thời gian nhất định cho một số hàng hoá, sản phẩm là điều hiển nhiên, do các chế độ bảo hành đó là các công cụ marketing hoàn toàn hợp pháp và sẽ giúp thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên các chính sách bảo hành đó phải có một số thông tin nhất định, bao gồm một tuyên bố rằng sự bảo hành đó không ảnh hưởng gì đến các quyền lợi hợp pháp của NTD

Luật Liên bang của Canada về bảo vệ NTD ch bao gồm các vấn đề như: an toàn sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn phương tiện giao thông cơ giới, cạnh tranh, dán nhãn, đo lường và khối lượng, ngân hàng và viễn thông Vấn đề bảo hành, cùng với các hành vi thương mại không công bằng, hay bảo vệ thông tin cá nhân, do Luật BV NTD của từng Bang và vùng lãnh thổ quy định

Luật BVNTD của Malaysia lại có một phần không nhỏ được dành riêng cho vấn đề bảo hành (từ Phần V đến Phần IX của Luật),

Chúng ta nên chọn cách tiếp cận ngắn gọn mà súc tích như của EU và Canada, hơn là cách tiếp cận quá chi tiết của Malaysia Cách tiếp cận theo hướng khung như của EU và Canada sẽ cho phép áp dụng luật một cách linh hoạt mềm d o trong từng trường hợp cụ thể cho phù hợp với tình hình Việt Nam

- Về chế tài xử phạt: Theo kinh nghiệm một số nước trên thế giới, để nâng cao

ý thức thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp ngoài biện pháp phạt tiền, cấm kinh doanh,… các nước này còn đưa ra những chế tài đặc thù như công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, truy thu lợi nhuận bất hợp pháp… Hoặc tại Nhật Bản, Hàn Quốc, doanh nghiệp muốn tăng tính cam kết của mình với người tiêu dùng thì doanh nghiệp cần ban hành chính sách đảm bảo thực thi trách nhiệm với người tiêu dùng sau đó ký với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để cơ quan này cùng giám sát việc thực thi trách nhiệm của doanh nghiệp

1.2.3 Hệ thống các quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng

Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa được ghi nhận trong Luật BVQLNTD 2010 và các văn bản pháp luật chuyên ngành (như Luật An toàn thực phẩm 2010, Luật Quảng cáo 2012, Luật Cạnh tranh

Trang 27

2004…) Pháp luật hiện hành về trách nhiệm cung cấp thông tin của nhà sản xuất, cung ứng về sản phẩm ở Việt Nam nói chung đã tạo hành lang pháp lý nhằm khắc phục tình trạng “bất cân xứng” về thông tin giữa nhà sản xuất, cung ứng và NTD; đồng thời, duy trì và thúc đẩy mối quan hệ giữa NTD và doanh nghiệp hài hòa ổn định, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội

Về trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa, rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành đã được ban hành như Nghị định 43/2017/NĐ-CP ngày 14/04/2017

về nhãn hàng hóa; Thông tư liên tịch ngày 27 tháng 10 năm 2014 hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm bao gói sẵn, Hà Nội; Thông tư 01/2018/TT-BYT ngày 18 tháng 01 năm 2018 quy định ghi nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc Bên cạnh đó còn có nhiều quy định liên quan đến thông tin về chất lượng, định lượng sản phẩm như: Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm; Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 Quy định xử phát hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 04 tháng 09 năm 2018 Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm

Ngoài những quy định trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nội dung này còn được quy định trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Hình

sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật Dược, Luật Điện lực, Luật Giao dịch điện

tử, Luật Công nghệ thông tin, Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm, Pháp lệnh Quảng cáo, các Nghị định về xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực cụ thể,…

1.2.4 Nội dung cơ bản về nghĩa vụ cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng

Thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quan hệ giữa doanh nghiệp

và NTD Bởi lẽ đa số những quyết định của người tiêu dùng được đưa ra là dựa trên các thông tin do doanh nghiệp cung cấp Tại Điều 12 Luật BVQLNTD 2010 quy định chi tiết về những trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ nhằm đảm bảo an toàn cho NTD, bao gồm:

1.2.3.1 Nghĩa vụ cung cấp thông tin của doanh nghiệp trước khi giao dịch với NTD

Trang 28

- Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật

- Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ

- Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa

- Thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung

Các thông tin được ghi trên nhãn hàng hóa có ý nghĩa quyết định hành vi của NTD Dựa vào những thông tin về thành phần sản phẩm, nguồn gốc xuất sứ, giá cả, định lượng… mà doanh nghiệp cung cấp, NTD có thể cân nhắc để lựa chọn được sản phẩm phù hợp với mục đích sử dụng, khả năng tài chính của mình Bên cạnh

đó, những thông tin về hạn sử dụng, cảnh báo an toàn và các biện pháp phòng ngừa giúp NTD lường trước được các loại rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, ví dụ như một số loại thuốc có gây tác dụng phụ, chống ch định cho những người có phản ứng với một số thành phần của thuốc, thuốc không dùng được cho phụ nữ có thai hoặc tr em ở một độ tuổi nhất định NTD thường không có đủ kiến thức, trình độ về mặt chuyên môn để có thể nhận biết được thông tin nào của sản phẩm có thể mang lại thiệt hại cho họ Vì vậy, Luật BVQLNTD yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ những thông tin về hàng hóa, dịch vụ của mình để giảm thiểu thiệt hại một cách tốt nhất cho NTD

Ngoài các thông tin cơ bản về hàng hóa, pháp luật còn yêu cầu doanh nghiệp phải thông báo trước cho NTD về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung Tuy nhiên, hợp đồng theo mẫu là hợp đồng mà các doanh nghiệp xây dựng từ trước

và áp dụng NTD không có khả năng đàm phán về các điều kiện mà vẫn phải tuân thủ theo các điều kiện trong hợp đồng Vì vậy, loại hợp đồng này mang rất nhiều rủi

ro tiềm ẩn cho NTD bởi các doanh nghiệp thường đưa ra những điều khoản có lợi cho họ Do đó, Luật BVQLNTD 2010 đã quy định rõ các doanh nghiệp phải thông báo trước cho NTD việc áp dụng hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong giao dịch giữa hai bên để NTD có thể cân nhắc các điều kiện mà doanh nghiệp đưa ra trong hợp đồng mẫu, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn nhất trong giao dịch

1.2.3.2 Nghĩa vụ cung cấp thông tin của doanh nghiệp trong giai đoạn giao dịch với NTD

Trang 29

- Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa

- Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa có bảo hành

Khi mua hàng hóa, NTD cần được doanh nghiệp hướng dẫn sử dụng sản phẩm bởi lẽ mỗi sản phẩm trên thị trường đều mang một đặc thù riêng biệt dẫn đến mục đích và cách thức sử dụng của từng loại hàng hóa đều khác nhau Hơn nữa, trong thời đại công nghệ khoa học tiên tiến, hướng dẫn sử dụng là công cụ hữu hiệu đối với NTD đặc biệt áp dụng với những sản phẩm công nghệ cao như dây chuyền sản xuất, ô tô, điện thoại, kính thực tế ảo… Ch khi được hướng dẫn sử dụng đầy đủ

từ nhà cung cấp, NTD mới có thể khai thác hết công năng của sản phẩm đó, đồng thời loại bỏ được những rủi ro khi sử dụng sản phẩm sai cách

Trong quá trình sử dụng, các sản phẩm có thể phát sinh lỗi mà nguyên nhân đến từ nhà sản xuất hoặc từ chính NTD Những sản phẩm thiết yếu, có giá trị lớn và liên tục được sử dụng sẽ càng gia tăng thiệt hại Việc đưa ra những thông tin về bảo hành hàng hóa mang lại niềm tin không nhỏ của NTD đối với hàng hóa và thương hiệu của hàng hóa trong việc xử lý những bất lợi gặp phải khi hàng hóa gặp rủi ro Bên cạnh đó, các linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa cũng là một thông tin

mà NTD rất quan tâm khi mua sản phẩm Khi một phần của hàng hóa bị hỏng, cần phải có các linh kiện, phụ kiện thay thế để sản phẩm đó được vận hành một cách bình thường Hoặc trong trường hợp hàng hóa đang được bảo hành, NTD cần có một linh kiện, phụ kiện tương tự để sử dụng tạm thời Đây là một quy định phổ biến đối với nhiều nước trên thế giới nhưng vẫn còn mới m với nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam Trên thực tế, có một số loại hàng hóa NTD có thể tự mua được linh kiện, phụ kiện trên thị trường Tuy nhiên những linh kiện, phụ kiện này thường không đảm bảo được những yêu cầu về thông số kỹ thuật, nguồn gốc, tính năng như những linh kiện, phụ kiện được cung cấp bới các công ty chính hãng Do đó, doanh nghiệp cần thông báo rõ cho NTD về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện khi giao dịch với NTD

1.2.3.3 Nghĩa vụ cung cấp thông tin của doanh nghiệp giai đoạn sau khi NTD giao dịch

- Cung cấp thông tin về việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật

Trong quá trình sản xuất, vận chuyển, đóng gói và lưu trữ hàng hóa rất dễ gây ra khuyết tật cho hàng hóa Mọi loại hàng hóa đều có thể có khuyết tật Việc sử

Trang 30

dụng hàng hóa có khuyết tật có thể gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của NTD ví dụ như lỗi về đường may của một chiếc áo gây ra việc rách sản phẩm Hoặc trong một số trường hợp tuy không trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng, tài sản nhưng lại gây ra sự hoang mang trong việc sử dụng đối với NTD Do đó, doanh nghiệp cần có trách nhiệm trong việc xử lí những hậu quả do sản phẩm khuyết tật mang lại đối với NTD Có rất nhiều cách thức để giải quyết như tạm dừng lưu thông hàng hóa trên thị trường, thông báo về lỗi của sản phầm, bảo hành để sửa chữa, khắc phục lỗi của sản phẩm, bồi thường thiệt hại cho NTD Như vậy, thu hồi hàng hóa có khuyết tật là một trong những trách nhiệm của doanh nghiệp khi sản phẩm

có khuyết tật Việc quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp thông tin về thu hồi hàng hóa có khuyết tật là một quy định rất thiết thực trong việc bảo vệ quyền lợi NTD

1.2.3.4 Nghĩa vụ cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của bên thứ ba Thông tin về hàng hóa, dịch vụ ngoài việc được cung cấp trực tiếp từ chính doanh nghiệp sản xuất, phân phối sản phẩm mà còn có thể xuất phát từ bên thứ ba đến NTD Chủ thể này có thể là một công ty truyền thông, công ty quảng cáo, đơn

vị phát hành báo, tạp chí, website bán hàng trực tuyến… Bên thứ ba là chủ thể nhận thông tin về hàng hóa, dịch vụ từ doanh nghiệp sản xuất và truyền tải lại thông tin

đó đến với NTD Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, để tăng sự thu hút của người tiêu dùng, bên thứ ba đã cung cấp những thông tin về hàng hóa bằng những chiêu trò thổi phồng, không chính xác gây nhầm lẫn cho NTD Ví dụ: quảng cáo thực phẩm chức năng nhưng gây nhầm lẫn có tác dụng như thuốc chữa bệnh

Trước khi Luật BVQLNTD 2010 ra đời, vi phạm trách nhiệm trong việc trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ ch áp dụng cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mà không hề nhắc đến bên thứ ba Do đó, trong suốt một thời gian dài, NTD bị che mắt bởi những quảng cáo hàng loạt do bên thứ ba tung ra nhưng không hề biết thông tin chính xác về hàng hóa, dịch vụ mà mình muốn mua

là gì Đến khi bị phát hiện, bên thứ ba lại trốn tránh trách nhiệm, đùn đẩy sang cho doanh nghiệp sản xuất mà không có sự kiểm chứng nào Quy định về trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của bên thứ ba nhằm siết chặt quản lý, tăng cường trách nhiệm liên đới trong việc kiểm chứng và truyền tải thông tin giữa doanh nghiệp với NTD Đây là một quy định mới nhưng vô cùng hữu ích trong việc bảo vệ quyền lợi NTD

Trang 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp là một trong những quy định vô cùng quan trọng trong Luật BVQLNTD 2010 Thông tin là một yếu tố vô cùng quan trọng, định hướng hành vi mua sắm, sử dụng hàng hóa của NTD, thông tin thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các nhà sản xuất, cung ứng; tạo lập được môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh trong nền kinh tế thị trường; bên cạnh đó còn giúp nâng cao hiệu quả quản lí Nhà nước trong việc quản lí hoạt động cung cấp thông tin hàng hóa Trong quan hệ tiêu dùng giữa doanh nghiệp với NTD thì NTD luôn là bên yếu thế do với các doanh nghiệp đặc biệt là yếu về khả năng nắm bắt thông tin về hàng hóa, dịch vụ Do vậy, pháp luật phải can thiệp vào mối quan hệ này nhằm hạn chế tình trạng “bất cân xứng về thông tin” giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế thế giới đều quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp về thông tin về hàng hóa cho người tiêu dùng, coi đó là một trong những cách thức đảm bảo quyền được thông tin cho người tiêu dùng Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề lý luận về trách nhiệm của doanh nghiệp, làm rõ trách nhiệm của doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý, là nền tảng cho việc tiếp tục nghiên cứu hệ thống pháp luật thực định; qua đó, có cái nhìn bao quát nhằm hướng tới việc hoàn thiện pháp luật

Trang 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam

2.1.1 Trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa

Tại Điều 3 của Nghị định số 43/2017/NĐ-CP của Chính phủ về nhãn hàng hóa có quy định một cách cụ thể về nghĩa của nhãn hàng hóa, nhãn gốc của hàng hóa, nhãn phụ, bao bì thương phẩm (bao bì trực tiếp, bao bì gián tiếp), tên và địa ch của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, định lượng của hàng hóa, ngày sản xuất, hạn sử dụng, hạn bảo quản, xuất xứ của hàng hóa, thành phần, thành phần định lượng, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản… là những nội dung trong trách nhiệm cung cấp thông tin của các tổ chức, cá nhân kinh doanh cần phải thực hiện đối với người tiêu dùng

Theo đó, tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 43/2017/NĐ-CP của Chính phủ về

nhãn hàng hóa thì “Nhãn hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ bản chụp của chữ,

hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao

bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa”

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 43/2017/NĐ-CP của Chính

phủ về nhãn hàng hóa, Ghi nhãn hàng hóa được giải thích như sau: “Ghi nhãn hàng

hóa là thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hóa lên nhãn hàng hóa để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh, thông tin, quảng bá cho hàng hóa của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát” Như vậy, nhãn hàng hóa là cơ sở để người tiêu

dùng có thể nằm bắt đươc những thông tin quan trọng về sản phẩm như tên và địa

ch của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, xuất xứ của hàng hóa, thành phần … trước khi quyết định mua và sử dụng hàng hóa

Nhãn hàng hóa bắt buộc phải thể hiện các nội dung sau: Tên hàng hóa; tên và địa ch của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; xuất xứ hàng hóa và các nội dung khác theo tính chất của mỗi loại hàng hóa Ví dụ, với nhóm hàng hóa là

Trang 33

lương thực, nhãn hàng hóa bắt buộc phải có định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, thông tin cảnh báo (nếu có); với rượu, phải có định lượng, hàm lượng etanol, hạn sử dụng (nếu có), hướng dẫn bảo quản (đối với rượu vang), thông tin cảnh báo (nếu có), mã nhận diện lô (nếu có); đối với thuốc lá, thông tin bắt buộc trên nhãn bao gồm: định lượng, ngày sản xuất, thông tin cảnh báo, hạn sử dụng và mã số, mã vạch… Nhãn hàng hóa phải ghi những cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của NTD và các biện pháp phòng ngừa Ví dụ: thuốc gây tác dụng phụ đối với những người mẫn cảm với một số thành phần của thuốc Những quy định mới trong Nghị định 43/2017/NĐ-CP đã khắc phục được nhiều lỗ hổng của Nghị định 89/2006/NĐ-CP, đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật và đưa ra những quy định cụ thể để doanh nghiệp có thể đảm bảo những nội dung về thông tin cần phải cung cấp cho NTD

Về nguyên tắc thì tất cả các loại hàng hóa thông thường đều phải ghi nhãn khi được phân phối, lưu thông trên thị trường Bên cạnh đó, pháp luật có quy định một số mặt hàng không bắt buộc phải ghi nhãn hàng hóa do tính chất đặc thù của hàng hóa đó bao gồm:

bì và bán trực tiếp cho người tiêu dùng

- Hàng hóa là nhiên liệu, nguyên liệu (nông sản, thu sản, khoáng sản), vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vôi, cát, đá, sỏi, xi măng, đất màu, vữa, hỗn hợp bê tông thương phẩm), phế liệu (trong sản xuất, kinh doanh) không có bao bì và bán trực tiếp theo thoả thuận với người tiêu dùng

Ngoài ra, hàng hóa được các tổ chức, cá nhân nhập khẩu từ nước ngoài để tiêu thụ tại Việt Nam thì việc ghi nhãn phải tuân thủ theo hợp đồng ghi nhãn hàng hóa ký với nhà cung cấp, hai bên phải đảm bảo điều kiện những thỏa thuận không làm sai lệch bản chất của hàng hoá, không vi phạm pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước nhập khẩu Đối với hàng hoá thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng; hàng hoá là chất phóng xạ, hàng hoá sử dụng trong trường hợp khẩn cấp nhằm khắc phục thiên tai, dịch bệnh; phương tiện giao thông đường sắt, đường thu , đường không; hàng hoá do các cơ quan nhà nước tịch thu đem bán đấu giá, thanh lý thì nhà nước

sẽ có quy định riêng về nhãn

Bên cạnh đó, những quy định cụ thể về vị trí, kích thước của hàng hóa, màu sắc của chữ ký, ký hiệu và ảnh trên nhãn hàng hóa, ngôn ngữ trình bày và trách

Trang 34

nhiệm ghi nhãn hàng hóa cũng được quy định một cách cụ thể trong Nghị định 43/2017/NĐ-CP

Nghị định 43/2017/NĐ-CP cũng bổ sung quy định "Nhãn hàng hóa không

được thể hiện những hình ảnh, nội dung liên quan đến tranh chấp chủ quyền và các nội dung nhạy cảm khác có thể gây ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội, quan hệ ngoại giao và thuần phong mỹ tục của Việt Nam" Đây là một quy định

mới xuất phát từ chính thực tiễn phát sinh trong thời gian gần đây

Đối với mặt hàng là thuốc và liên quan đến thuốc, Bộ Y tế đã ban hành

Thông tư số 01/2018/TT-BYT ngày 18 tháng 01 năm 2018 quy định ghi nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc Theo đó, thuốc được lưu thông trên thị trường bắt buộc phải được ghi nhãn bao bì thể hiện các nội dung sau: tên thuốc, dạng bào chế; thành phần, hàm lượng, khối lượng hoặc nồng độ của dược chất, dược liệu trong công thức thuốc; quy cách đóng gói; ch định, cách dùng, chống ch định của thuốc; số giấy đăng ký lưu hành hoặc số giấy phép nhập khẩu (nếu có); số lô sản xuất, ngày sản xuất, hạn dùng của thuốc, tiêu chuẩn chất lượng, điều kiện bảo quản thuốc; tên cơ sở sản xuất thuốc, địa ch cơ sở sản xuất thuốc; tên, địa ch của cơ sở nhập khẩu (đối với thuốc nhập khẩu); xuất xứ của thuốc; các dấu hiệu lưu ý và khuyến cáo khi dùng thuốc; quá liều và cách xử trí, 13

Việc ghi nhãn nguyên liệu làm thuốc phải kiểm soát đặc biệt (bao gồm cả bán thành phẩm thuốc) gồm: nguyên liệu là dược chất, dược liệu hoặc bán thành phẩm thuốc có chứa dược chất, dược liệu thuộc danh mục dược chất gây nghiện, hướng thần; tiền chất làm thuốc; nguyên liệu độc làm thuốc; dược liệu độc; nguyên liệu phóng xạ làm thuốc phải ghi trên nhãn bao bì ngoài các dòng chữ tương ứng như sau: “Nguyên liệu gây nghiện”, “Nguyên liệu hướng thần”, “Nguyên liệu tiền chất làm thuốc”, “Nguyên liệu độc”, “Dược liệu độc”, “Nguyên liệu phóng xạ” Các chữ “Nguyên liệu gây nghiện”, “Nguyên liệu hướng thần”, “Nguyên liệu tiền chất làm thuốc”, “Nguyên liệu độc”, “Dược liệu độc”, “Nguyên liệu phóng xạ” phải được in đậm trong khung và được in trên mặt chính của nhãn có ghi tên nguyên liệu nhằm mục đích cung cấp thông tin cho nhân viên y tế một cách chính xác nhất trong quá trình kê đơn và hướng dẫn sử dụng cho bệnh nhân; cảnh báo nguy cơ

13

thuoc-nguyen-lieu-lam-thuoc-va-to-huong-dan-su-dung-thuoc-3435.html (ngày truy cập 15/07/2018)

Trang 35

http://soyte.hanoi.gov.vn/vi/news/tin-tuc-chung/bo-y-te-ban-hanh-thong-tu-quy-dinh-ve-viec-ghi-nhan-sử dụng nhầm thuốc hoặc nguyên liệu làm thuốc, lưu ý đặc biệt khi bảo quản, vận chuyển và sử dụng thuốc

Theo quy định tại Điều 5 của Thông tư 01/2018/TT-BYT, thuốc, nguyên liệu làm thuốc được nhập khẩu vào Việt Nam mà nhãn gốc chưa thể hiện đầy đủ các nội dung so với nhãn đã được Bộ Y tế phê duyệt thì cơ sở nhập khẩu phải bổ sung nhãn phụ bằng tiếng Việt để bảo đảm phù hợp với nhãn đã được Bộ Y tế phê duyệt trước khi đưa thuốc ra lưu hành trên thị trường và phải giữ nguyên nhãn gốc và có yêu cầu cơ sở phải báo cáo về Bộ Y tế trong thời hạn 1 tháng kể từ thời điểm kết thúc thực hiện việc bổ sung hoặc thay thế tờ hướng dẫn sử dụng thuốc tại Việt Nam

Đối với mặt hàng là thực phẩm và liên quan đến thực phẩm, ngày

27/10/2014, Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 27 tháng 10 năm 2014 hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm bao gói sẵn Theo đó, việc ghi nhãn hoặc gắn trên nhãn các loại hình ảnh, hình vẽ, biểu trưng phải thể hiện đúng về bản chất, đặc tính và công dụng của sản phẩm Đối với những thông tin bắt buộc ghi trên nhãn sản phẩm, chiều cao chữ không được thấp hơn 1,2mm Đối với trường hợp một mặt của bao gói dùng để ghi nhãn không tính phần giáp mí nhỏ hơn 80 cm2 thì chiều cao chữ không được thấp hơn 0,9 mm Màu của chữ phải tương phản với màu nền của nhãn Nhãn hàng hóa phải bảo đảm tồn tại lâu dài, không được tẩy, xóa và không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Khuyến khích tổ chức, cá nhân ghi nhãn thông tin dinh dưỡng theo hướng dẫn của Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm quốc

tế.14

Ngoài các nội dung đã được quy định trong Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT, các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam cần tuân thủ thêm các điều kiện về ghi nhãn được quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP như sau:

- Thực phẩm dinh dưỡng y học phải ghi các cụm từ sau: “Thực phẩm dinh dưỡng y học” và “Sử dụng cho người bệnh với sự giám sát của nhân viên y tế”;

14

pham/2094.html (ngày truy cập 18/07/2018)

Trang 36

http://baohothuonghieu.com/banquyen/tin-chi-tiet/huong-dan-ve-viec-ghi-nhan-hang-hoa-doi-voi-thuc Thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt phải ghi cụm từ: “Sản phẩm dinh dưỡng (cho đối tượng cụ thể)” trên mặt chính của nhãn để phân biệt với thực phẩm thông thường

- Thực phẩm có chứa sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen có ít nhất một thành phần nguyên liệu biến đổi gen lớn hơn 5 tổng nguyên liệu được sử dụng để sản xuất thực phẩm phải ghi cụm từ “biến đổi gen” bên cạnh tên của thành phần nguyên liệu biến đổi gen kèm theo hàm lượng trên nhãn sản phẩm (trừ một số trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 10 Nghị định 15/2018/NĐ-CP)

Đối với sản phẩm nhập khẩu, các thông tin về tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi trên nhãn sản phẩm phải thể hiện: tên, địa ch của tổ chức, cá nhân sản xuất và tên, địa ch của tổ chức, cá nhân tự công bố hoặc đăng ký bản công bố sản phẩm

Thông tư cũng có quy định các trường hợp được miễn một số nội dung ghi nhãn bắt buộc gồm:

tiêu dùng cá nhân, quà tặng, quà biếu trong định mức được miễn thuế nhập khẩu; sản phẩm nhập khẩu của đối tượng được ưu đãi, miễn trừ ngoại giao; sản phẩm quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển, tạm nhập, tái xuất, gửi kho ngoại quan; sản phẩm

là mẫu thử nghiệm hoặc nghiên cứu; sản phẩm là mẫu trưng bày hội chợ, triển lãm; sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu ch dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ cho việc sản xuất nội bộ của tổ chức, cá nhân không tiêu thụ tại thị trường trong nước

- Ngoài gia vị và thảo mộc, đối với các bao gói nhỏ, có diện tích bề mặt lớn nhất nhỏ hơn 10 cm2, miễn áp dụng ghi thành phần cấu tạo, thời hạn sử dụng, hướng dẫn bảo quản, hướng dẫn sử dụng nếu có nhãn phụ hoặc bao bì ngoài đã thể hiện đầy đủ các nội dung đó

- Miễn ghi ngày sản xuất đối với dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm

Theo pháp luật quy định, trách nhiệm quản lý hoạt động ghi nhãn hàng hóa trên cả nước thuộc về Bộ khoa học và công nghệ bao gồm:

- Xây dựng và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyển ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn abnr quy phạm pháp luật về nhãn hàng hóa

Trang 37

- Tổ chức tuyên truyền và hướng dẫn những chính sách pháp luật, bồi dưỡng nghiệp vụ về nhãn hàng hóa

- Thực hiện tranh tra, kiểm tra việc chấp hành các văn bản quy phạm pháp luật về nhãn hàng hóa Chủ trì giải quyết và xử lý các hành vi vi phạm về nhãn hàng hóa

- Tổ chức xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về nhãn hàng hóa

Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện thống nhất quản lý về nhãn hàng hóa Ngoài ra, Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân t nh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện quản lý nhãn hàng hóa

Đối với giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ qua thương mại điện tử:

Thương mại điện tử là việc ứng dụng các phương tiện điện tử vào hoạt động kinh doanh Trong bối cảnh công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão hiện nay tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh trực tuyến được phổ biến, mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Việc kinh doanh thông qua hình thức thương mại điện tử giúp doanh nghiệp đưa thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến với NTD nhanh hơn, phổ biến hơn NTD có thể thông qua các phương tiện điện tử để tìm kiếm, lựa chọn, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng mà không cần phải đến địa điểm bán hàng như phương thức truyền thống Như vậy, đối với hình thức giao dịch này, việc mua hàng của NTD phụ thuộc hoàn toàn vào những thông tin mà doanh nghiệp đưa ra

Theo quy định tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử, người bán hàng trên website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật BVQLNTD khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng Doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ việc cung cấp thông tin trên website và chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của thông tin Ngoài việc cung cấp thông tin về các đặc tính, giá cả của hàng hóa, điều kiện giao dịch chung thì doanh nghiệp còn phải cung cấp thông tin cho NTD về vận chuyển và giao nhận hàng hóa, các phương thức thanh toán áp dụng cho hàng hóa bởi đặc thù của hình thức giao dịch này là NTD mua hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện tử, không thể giao nhận và thanh toán trực tiếp với người bán Đây là những quy định cơ bản và thiết thực

Trang 38

trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa NTD và doanh nghiệp qua website điện tử và các mạng mở khác

Tuy nhiên trên thực tế, những quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin trong những điều luật về thương mại điện tử vẫn ch dừng lại ở những quy định chung chung, chưa cụ thể Việc kê khai thông tin về hàng hóa của doanh nghiệp chưa được kiểm soát chặt chẽ, như thế nào là “trung thực, đầy đủ” Thông thường, NTD luôn gặp phải những rủi ro phổ biến khi giao dịch mua bán qua thương mại điện tử như hàng hóa không giống với hình ảnh đã được công

bố, nguồn gốc hàng hóa không được kiểm định, chất lượng hàng hóa không như quảng cáo, giới thiệu của nhà cung cấp, hóa đơn bán hàng và chứng từ còn sơ sài dẫn đến NTD và doanh nghiệp không có sự ràng buộc về mặt pháp lý nào sau khi mua hàng Ví dụ: Một công ty đăng bán sản phẩm bình nước giữ nhiệt trong đó giới thiệu trong kết cấu bình có kèm màng lọc để lọc lá trà, tuy nhiên khi NTD mua về thì không nhận được màng lọc được đi kèm với bình giữ nhiệt Bên cạnh đó, nhiều

cá nhân, công ty bán hàng qua website và các mạng xã hội chưa được cấp phép đầy

đủ nhưng vẫn tiến hành bán l , lợi dụng lừa đảo và trốn thuế Mặc dù vậy, Nghị định 52/2013/NĐ-CP mới ch đưa ra hình thức xử phạt hành chính và đình ch /tước quyền sử dụng giấy phép hoặc hủy bỏ đăng ký website cung cấp dịch vụ đối với doanh nghiệp vi phạm Quy định này còn quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe đối với doanh nghiệp vi phạm Đây là một số vấn đề nổi cộm trong giao dịch thương mại điện tử

2.1.2 Trách nhiệm thông báo về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

Trước khi Luật BVQLNTD 2010 ra đời, BLDS 2005 đã có một số quy định liên quan đến vấn đề hợp đồng theo mẫu Tuy nhiên, các quy định của BLDS còn thiếu tính cụ thể, chưa bảo vệ được quyền lợi của NTD khi giao kết, thực hiện các điều kiện giao dịch chung Luật BVQLTND 2010 và những văn bản pháp luật liên quan đến hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung ra đời đã tạo nên một hành lanh pháp lý khá đầy đủ và vững chắc, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể thực hiện tốt trách nhiệm của mình đối với NTD

Theo khoản 5 và khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010, Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh soạn thảo để giao dịch với nhiều người tiêu dùng; điều kiện giao dịch chung là những quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh công bố và áp dụng đối với người tiêu dùng

Trang 39

Luật Bảo vệ quyền lợi NTD quy định bắt buộc các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thông báo cho NTD biết về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch nhằm mục đích NTD có thể nắm bắt được thông tin tránh gây thiệt hại Tuy nhiên trên thực tế, để tối đa hóa lợi ích của mình, khi dự thảo hợp đồng mẫu, các tổ chức, cá nhân kinh doanh thường đưa ra những điều khoản có lợi cho mình, dẫn đến có nhiều khả năng gây bất lợi cho người tiêu dùng Các điều khoản trong hợp đồng giữa ngân hàng Techcombank và khách hàng là một ví dụ, bản hợp đồng này có quy định: “Hợp đồng này được điều ch nh bởi pháp luật Việt Nam Nếu có bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích từ ngữ trong hợp đồng này thì việc giải thích từ ngữ theo ý chí của ngân hàng sẽ được ưu tiên áp dụng” Hay như hợp đồng mua bán xe giữa Toyota với khách hàng ghi: “giá xe có thể thay đổi nếu chính sách thuế thay đổi hoặc t giá thay đổi …”

Đối với hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung, pháp luật quy định bắt buộc phải được lập thành văn bản, ngôn ngữ sử dụng trong đó là Tiếng Việt, có nội dung rõ ràng, dễ hiểu, cỡ chữ tối thiểu là 12, nền giấy và màu mực thể hiện nội dung của hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải tương phản với nhau

Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung khác với hợp đồng thông thường ở chỗ ch có duy nhất một bên tổ chức, cá nhân đưa ra các nội dung trong hợp đồng, NTD không được tham gia thỏa thuận mà bắt buộc phải đồng ý với những điều kiện trong hợp đồng đó Như vậy, khả năng đàm phán và thương lượng của NTD bị hạn chế và có thể phải chịu thiệt thòi trong quá tronhg mua bán sản phẩm với tổ chức, cá nhân kinh doanh Do đó, tại Điều 17 Luật bảo vệ quyền lợi

NTD có quy định: tổ chức, cá nhân kinh doanh khi giao kết hợp đồng giao kết hợp

đồng theo mẫu phải giành một khoảng thời gian hợp lý để NTD nghiên cứu hợp đồng Quy định này nhằm tránh rủi ro cho NTD có thể vướng phải những điều

khoản bất lợi trong hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung mà tổ chức, cá nhân kinh doanh đưa ra

Bên cạnh đó, hợp đồng theo mẫu phải được thương nhân lưu giữ cho đến khi hết hiệu lực Nếu hợp đồng bị mất hoặc do NTD giữ bí mật thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm cấp cho NTD bản sao của hợp đồng

Đối với điều kiện giao dịch chung, tại Điều 18 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD

2010 có quy định: tổ chức, cá nhân kinh doanh hoàng hóa, dịch vụ sử dụng điều kiện giao dịch chung có trách nhiệm thông báo công khai điều kiện giao dịch chung

Trang 40

cho NTD Điều kiện giao dịch chung phải xác định rõ thời điểm áp dụng và được niêm yết ở nơi thuận lợi tại địa điểm giao dịch mà NTD có thể nhìn thấy được

Theo quy định tại Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg ngày 05 tháng 09 năm

2018 sửa đổi Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2015 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thì những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung bao gồm:

- Cung cấp điện sinh hoạt

- Cung cấp nước sinh hoạt

- Bảo hiểm nhân thọ

2.1.3 Trách nhiệm cung cấp thông tin về bảo hành hàng hóa

Sau bán hàng, các doanh nghiệp thường cung cấp dịch vụ sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng hàng hóa, dịch vụ mà NTD đã mua và sử dụng, loại dịch vụ này được hiểu là bảo hành Bảo hành được các doanh nghiệp áp dụng đối với rất nhiều hàng hóa như đồ chơi tr em, điện thoại, ô tô, máy tính xách tay… và các loại dịch vụ như triệt lông vĩnh viễn, thẩm mĩ làm đẹp Các doanh nghiệp nước ngoài xem dịch

vụ bảo hành như một chiến lược kinh doanh hiệu quả, lâu bền Bởi lẽ, khi doanh nghiệp đưa ra dịch vụ hậu mãi tốt sẽ đảm bảo được quyền lợi của NTD và chiếm được niềm tin rất lớn của NTD vào thương hiệu của mình, tạo nên sức hút lớn đối với những sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Mặc dù vậy ở Việt Nam, các doanh nghiệp chưa đáp đứng được nhu cầu của NTD về dịch vụ bảo hành hàng hóa Nhiều doanh nghiệp không muốn thực hiện trách nhiệm của mình về việc bảo hành sản phẩm, e ngại phát sinh chi phí sửa chữa, thay thế linh kiện, phụ kiện nên dẫn đến việc NTD phải tự tìm đến những dịch vụ sửa chữa bên ngoài, chấp nhận

Ngày đăng: 30/07/2019, 18:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w