Xuất phát từ nhận thức tầm quan trọng của giá trị nhãn hiệu đối với doanh nghiệp cũng như đối với nền kinh tế, tác giả chọn đề tài: “Thực trạng pháp luật Việt Nam về góp vốn vào công ty
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
HOÀNG THỊ THU MINH
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN VÀO CÔNG TY BẰNG GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
HOÀNG THỊ THU MINH
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN VÀO CÔNG TY BẰNG GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đồng Ngọc Ba Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đã được chỉ ra trong mục Danh mục tài liệu tham khảo, đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
HỌC VIÊN
Hoàng Thị Thu Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Đồng Ngọc Ba, người đã nhiệt tình trực tiếp chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới các thầy cô giáo, những người
đã cho tôi các kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học, Khoa Pháp luật Kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người
đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
HỌC VIÊN
Hoàng Thị Thu Minh
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật Dân sự DN: Doanh nghiệp DNNN: Doanh nghiệp nhà nước MTV: Một thành viên
LDN : Luật Doanh nghiệp LĐT : Luật Đầu tư
SHTT : Sở hữu trí tuệ TNHH: Trách nhiệm hữu hạn TSCĐ : Tài sản cố định
TSHH : Tài sản hữu hình TSTT : Tài sản trí tuệ TSVH : Tài sản vô hình
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4.1 Mục đích nghiên cứu 5
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN VÀO CÔNG TY BẰNG GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU 7
1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý về góp vốn vào công ty 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Bản chất pháp lý về góp vốn thành lập công ty 8
1.1.3 Phân loại tài sản góp vốn 10
1.2 Khái quát chung về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu 11
1.2.1 Khái niệm về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu 11
1.2.2 Định giá nhãn hiệu khi góp vốn 17
CHƯƠNG 2 22
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ G P VỐN VÀO C NG T ẰNG GIÁ TRỊ NH N HIỆU TẠI VIỆT NAM 22
2.1 Quy định pháp luật hiện hành về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu tại Việt Nam 22
Trang 72.1.1 Điều kiện góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu 23
2.1.2 Định giá tài sản góp vốn là giá trị nhãn hiệu 26
2.1.3 Hợp đồng góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu 29
2.1.4 Chuyển giao tài sản góp vốn là giá trị nhãn hiệu 31
2.2 Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu: 35
2.2.1 Những kết quả đạt được 35
2.2.2 Một số hạn chế của pháp luật hiện hành về góp vốn vào công tybằng giá trị nhãn hiệu và nguyên nhân 39
CHƯƠNG 3 54
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN VÀO CÔNG TY BẰNG GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ G P VỐN VÀO CỒNG T ẰNG GIÁ TRỊ NH N HIỆU 54
3.1 Thực trạng hoạt động góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu tại Việt Nam 54
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động về góp vốn vào công ty 61
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 61
3.2.2 Một số kiến nghị đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn bắng giá trị nhãn hiệu 66
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo quan niệm trước đây, tài sản hữu hình (TSHH) thường là bộ phận chủ yếu trong tổng số tài sản công ty và đóng vai trò quan trọng để thể hiện tình hình tài chính của công ty Do vậy, tài sản được đưa vào sử dụng làm vốn trước đây thường chỉ bao gồm tài sản hữu hình (TSHH) (tiền
tệ và vật chất) Ngày nay, nhận thức được tầm quan trọng của tài sản vô hình (TSVH), tài sản của mỗi công ty không chỉ còn là những tài sản hữu hình mà còn cả tài sản vô hình Trong số các tài sản vô hình đó, giá trị quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) được các nhà đầu tư quan tâm hơn cả
Khác với những tài sản thông thường, quyền SHTT là một loại tài sản đặc biệt- tài sản vô hình mà chúng ta khó có thể xác định được giá trị vật chất và tinh thần của nó Chính vì đặc điểm này mà hiện nay vẫn xảy ra nhiều vấn đề pháp lý xoay quanh giá trị quyền SHTT, một trong số đó là việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu để thành lập công ty
Ngày nay, việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu đã trở thành thông lệ phổ biến trên thế giới bởi vai trò hết sức đặc biệt của nó Nhãn hiệu được xem như là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp trong kinh doanh
Mặc dù việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu đã được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp (LDN) , Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) và là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định sự phù hợp với xu thế phát triển của xã hội Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng giá trị nhãn hiệu làm vốn góp thành lập công ty hiện nay chưa thực sự được cụ thể hóa và gây khó khăn khi thực hiện cho các công ty
Việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay đang gặp những vướng mắc không nhỏ mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự
Trang 9chưa thống nhất khi thực thi pháp luật trong việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu Trong khi nhiều văn bản luật thừa nhận việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu, thì một số văn bản dưới luật lại không thừa nhận nội dung trên
Pháp luật Việt Nam quy định về góp vốn kinh doanh bằng nhãn hiệu hàng hóa hiện nay đã có nhiều bước phát triển so với trước đây Sự ra đời của Hiến pháp 2013, Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014) và Bộ Luật dân
sự 2015 (BLDS 2015), được coi là nền tảng trực tiếp chứa đựng những quy phạm pháp lý cơ bản nhất của vấn đề này Tuy nhiên, do sự không rõ ràng trong lĩnh vực này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động góp vốn kinh doanh trong xã hội của cộng đồng doanh nghiệp Thực tế hiện nay chưa có
sự đồng thuận giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quy định về vốn góp bằng giá trị nhãn hiệu Do đó, điều này đặt ra cần thiết phải có quy định rõ ràng, cụ thể trong vấn đề trên và đặc biệt là phải có sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật
Một trong những nguyên nhân của hiện tượng trên là do các cơ quan hữu quan chưa tìm ra tiếng nói chung, chưa chỉ rõ bản chất của việc góp vốn kinh doanh bằng tài sản là giá trị nhãn hiệu hàng hóa, và cũng chưa có một nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về nội dung trên
Xuất phát từ nhận thức tầm quan trọng của giá trị nhãn hiệu đối với
doanh nghiệp cũng như đối với nền kinh tế, tác giả chọn đề tài: “Thực
trạng pháp luật Việt Nam về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu ở Việt Nam” với mong muốn đưa ra một cái nhìn đầy đủ, toàn diện
hơn và góp phần nâng cao hơn nữa việc thực thi pháp luật liên quan đến hoạt động góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu ở Việt Nam
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tài sản nhãn hiệu được coi là tài sản quý giá của công ty và đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của Công ty
Góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu là hình thức góp vốn kinh doanh đã khá phổ biến trên thế giới và được pháp luật nhiều nước ghi nhận, được biểu hiện qua không ít các công trình nghiên cứu của các chuyê gia nổi tiếng trong và ngoài nước
Các tài liệu nghiên cứu, bài báo, chuyên để của các học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài như:
“Intellectual Property rights, the WTO and Developing countries” (Quyền sở hữu trí tuệ, WTO và các nước đang phát triền) của C.M Correa (2000)
“Intellectual Property rights and economic growth” (Quyền sở hữu trí tuệ và tăng trưởng kinh tế) của Walter Park (1997)
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, giá trị quyền SHTT, đặc biệt là giá trị nhãn hiệu ngày càng được coi trọng và thể hiện rõ vai trò của nó Ý thức được vai trò quan trọng của nhãn hiệu, trên thực tế, trong những năm gần đây, đã có khá nhiều bài viết trên các báo trong nước liên quan đến vấn đề “góp vốn bằng nhãn hiệu” như sau:
- Sách “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế: những vẫn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Bá Diến (2009)
- Đề tài luận văn thạc sỹ: “Áp dụng pháp luật về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ” của Phạm Đức Quảng năm 2011 là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ”
Trang 11Đề tài luận văn thạc sỹ: “Góp vốn kinh doanh bằng tài sản trí tuệ trong pháp luật Việt Nam” của Tạ Thị Thanh Thủy năm 2012 là công trình nghiên cứu đưa ra cái nhìn khái quát về góp vốn bằng TSTT theo PLVN,
đã nêu lên được thực trạng góp vốn bằng TSTT ở Việt Nam và những kiến nghị nhằm mục đích hoàn thiện
Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam” của nghiên cứu sinh Lê Minh Thái năm 2017
Những kết quả mà các tác giả nghiên cứu được trong đề tài trên đã đưa ra cái nhìn khái quát về quyền SHTT, tuy nhiên chưa đi sâu vào phân tích về việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu, cũng như chưa đưa ra được những đánh giá về thực trạng pháp lý về hoạt động này ở Việt Nam
Trên cơ sở kế thứa những kết quả đã đạt được, tôi muốn tiếp tục nghiên cứu đề tài về góp vốn vào công ty bằng quyền SHTT, cụ thể hơn đó
là giá trị nhãn hiệu nhằm đưa ra các giải pháp hữu ích để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu trong nền kinh tế hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
- Các văn bản pháp luật về quyền SHTT và góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu tại Việt Nam;
- Các công trình nghiên cứu, quan điểm, bình luận của các tác giả trong và ngoài nước về góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu;
- Thực tiễn hoạt động góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu và các chế định pháp luật liên quan đến vấn đề này
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Việc góp vốn được giới hạn trong phạm vi góp vốn thành lập công ty bằng giá trị nhãn hiệu tại Việt Nam
Trang 12Luận văn nghiên cứu khái niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu, các phương pháp định giá, nghiên cứu một số vấn đề lý luận về pháp luật góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu Trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng giá trị nhãn hiệu ở Việt Nam
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu; nêu rõ thực trạng pháp luật về góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu và đưa ra cái nhìn tổng thể và giải pháp phù hợp để đảm bảo tính minh bạch, thống nhất và hiệu quả khi áp dụng pháp luật trong việc góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu và làm r các quy định về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
+ Đưa ra những phân tích và đánh giá những điểm chưa phù hợp và những vấn đề bất cập trong việc góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu
+ Thực tiễn hiện nay về vấn đề áp dụng pháp luật về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay
+ Đề xuất những kiến nghị, giải pháp phù hợp để giải quyết những bất cập trong vấn đề trên
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới, xây
Trang 13dựng, phát triển đất nước, cải cách hành chính xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê như sau:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng trong tất cả các chương để phân tích, đánh giá các tài liệu, số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu;
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh, đối chiếu, đánh giá các quy định pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT của Việt Nam so với Trung Quốc, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm làm luận cứ cho các
đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật
về góp vốn bằng quyền SHTT ở Việt Nam;
- Phương pháp chứng minh: Được dùng để chứng minh cho các luận điểm, luận cứ được đưa ra trong Luận văn;
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để tổng hợp các luận điểm, căn cứ lý luận được đưa ra trong Luận văn để đưa ra các kết luận của từng chương và kết luận chung của Luận văn
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu;
- Chương 2: Pháp luật Việt Nam về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu tại Việt Nam;
- Chương 3: Thực trạng hoạt động góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu và một số kiến nghị hoàn thiện và bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về góp vốn vào cồng ty bằng giá trị nhãn hiệu
Trang 14CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN VÀO
CÔNG TY BẰNG GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU 1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý về góp vốn vào công ty
Góp vốn nhằm tạo ra cơ sở đầu tiên cho bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào Vốn chính là điều kiện cần để doanh nghiệp tiến hành khởi sự các hoạt động sản xuất, kinh doanh Và đây cũng chính là nguồn gốc của mọi quyền lơi cũng như nghĩa vụ của các thành viên công ty sau này
Xét theo phương diện pháp lý, góp vốn thành lập công ty là hành vi pháp lý của các tổ chức/cá nhân trong giai đoạn “tiền doanh nghiệp” nhằm đưa tài sản của tổ chức, cá nhân vào thành tài sản của công ty để hưởng những lợi ích nhất định từ doanh nghiệp được hình thành
Việc "đưa vào sử dụng" là sự chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng của tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh Tài sản có thể là động sản hoặc bất động sản Quyền lợi có thể là văn bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, quyền tác giả, cam kết làm việc…Tài sản đưa vào sử dụng phải là tài sản hợp pháp, không thuộc các trường hợp cấm kinh doanh trên thị trường
Trang 15Việc chuyển đổi quyền sở hữu tài sản cụ thể lấy quyền lợi trong công
ty thường được quy đổi theo tỷ lệ nhất định - gọi là tỉ lệ vốn góp mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ Lợi ích mà người góp vốn nhận được là phần vốn góp hoặc cổ phần Các phần vốn góp
và cổ phần này không phải được hình thành từ thế giới vật chất như các TSHH (vật), cũng không phải là sản phẩm được hình thành từ hoạt động sáng tạo của trí tuệ (đối tượng của quyền SHTT)
Phần vốn góp hiểu là kết quả của sự chuyển một phần giá trị tài sản
cụ thể của người góp vốn vào công ty để đổi lấy một phần giá trị khác trừu tượng hơn
Tài sản góp vốn về nguyên tắc là tất cả các loại tài sản mà theo quan niệm của pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản [6, Điều 163] Tuy nhiên, pháp luật có thể qui định cụ thể về tài sản góp vốn đối với từng trường hợp cụ thể Theo khoản 1, Điều 35 LDN 2014: “Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền SHTT, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng đồng Việt Nam.”
Trang 16Thỏa thuận góp vốn thành lập công ty là thỏa thuận được thiết lập giữa người góp vốn hoặc cam kết góp vốn với công ty sẽ được thành lập và mang lại quyền lợi cho chính công ty được thành lập Tuy nhiên, công ty cũng được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý Trên phương diện kinh tế, công ty được xem là một thực thể kinh doanh, nhưng trên phương diện pháp lý, công ty được xem là hành vi pháp lý Do vậy, phần vốn góp cũng được hiểu theo hai phương diện trên
Xét trên phương diện kinh tế thì góp vốn là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm đảm bảo thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục đích
đã đăng ký của công ty nhằm thực hiện ý tưởng kinh doanh mang lại, và mục đích sau cùng là lợi nhuận Khi các thành viên, cổ đông góp vốn vào công ty, tài sản đó được chuyển dịch quyền sở hữu từ thành viên, cổ đông
đó sang công ty Việc dịch chuyển quyền sở hữu này có thể được thực hiện thông qua giao kết hợp đồng thành lập công ty của các cổ đông, thành viên góp vốn
Xét trên phương diện pháp lý, hành vi góp vốn này là căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của người góp vốn đối với tài sản góp vốn
cụ thể, đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu của công ty đối với tài sản góp vốn đó, và làm phát sinh quyền sở hữu của người góp vốn đối với phần vốn góp vào công ty theo tỷ lệ với các phần vốn góp khác hoặc quyền sở hữu của người góp vốn (người mua cổ phần) đối với một hoặc một số cổ phần của công ty Thông qua hành vi góp vốn, mối quan hệ pháp lý được tạo lập Nghĩa vụ đối ứng giữa người góp vốn thành lập công ty và công ty khác với nghĩa vụ đối ứng giữa các bên trong quan hệ mua bán hay cho thuê Hành vi góp vốn đổi lấy quyền lợi cũng khác với hành vi mua bán hay hành vi cho thuê tài sản ở chỗ khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hay quyền sử dụng tài sản cho công ty, thì người góp vốn không nhận được
Trang 17bất kể khoản tiền nào từ việc chuyển giao đó mà chỉ nhận lại được là một thứ quyền đặc biệt đó là quyền sở hữu, quyền lợi công ty Quyền lợi này có thể chuyển đổi thành tiền, tuy nhiên còn phụ thuộc vào từng hình thức công
ty và quy chế nội riêng có thể có những cách thức hưởng lợi khác nhau Quyền sở hữu công ty này là quyền sở hũu một phần tài sản của công ty tương ứng với tỷ lệ góp vốn và số cổ phần mà người đó nắm giữ
1.1.3 Phân loại tài sản góp vốn
Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối quan hệ xã hội nói chung
và quan hệ pháp luật nói riêng
Tài sản được đề cập tại Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”
Theo quy định tại Điều 35 LDN 2014, tài sản góp vốn vào doanh nghiệp có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam Trong
đó, quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ
Tuy nhiên, chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn Đây là quy định phù hợp với thực tiễn kinh doanh, hạn chế tình trạng các tổ chức, cá nhân sử dụng tài sản có nguồn gốc không rõ ràng, bất hợp pháp góp vốn vào công ty nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thiếu sự trong sạch để
Trang 18trục lợi, gây phương hại đến lợi ích kinh tế của các chủ thể khác cũng như lợi ích chung của toàn xã hội
Như vậy, tài sản góp vốn có thể là tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình và “về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thể trở thành tài sản góp vốn vào công ty nhưng một công ty có chấp nhận phần vốn góp không phải là tiền hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu về vốn và sử dụng vốn của công ty đó”
1.2 Khái quát chung về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu
1.2.1 Khái niệm về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu
1.2.1.1 Khái niệm nhãn hiệu và giá trị nhãn hiệu
Nhãn hiệu đã được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà sản xuất cũng như các thương nhân để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ đó với các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủ thể khác
Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ của nhãn hiệu được xem là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu Do vậy, nhãn hiệu
có một vai trò then chốt trong chiến lược quảng cáo và tiếp thị của công ty nhằm xây dựng hình ảnh và uy tín về các sản phẩm của công ty trong mắt người tiêu dùng
Chức năng của nhãn hiệu là phân biệt hàng hóa dịch vụ của các nhà sản xuất Một doanh nghiệp có thể sử dụng và đăng ký bảo hộ cho một
Trang 19hoặc nhiều nhãn hiệu khác nhau, phù hợp với nhu cầu kinh doanh từng chủng loại hàng hóa và từng khu vực cụ thể, miễn là chúng đáp ứng các tiêu chuẩn theo luật định
Giá trị nhãn hiệu
Khi sản phẩm của nhà sản xuất có được uy tín và thế mạnh trên thị trường và đã giành được một thị phần nhất định, khi đónhãn hiệu trở thành một tài sản cực kỳ có giá trị, tài sản đó còn lớn hơn cả tài sản hữu hình Thực tế cho thấy rằng, những sản phẩm có nhãn hiệu tốt thì giá bán được nâng lên cao hơn rất nhiều so với những sản phẩm có nhãn hiệu thông thường
Theo Viện nghiên cứu khoa học tiếp thị Hoa Kỳ: “Giá trị nhãn hiệu
là tổng hòa các mối liên hệ và thái độ của khách hàng và các nhà phân phối đối với một nhãn hiệu Nó cho phép công ty đạt được lợi nhuận và doanh
số lớn hơn từ sản phẩm so với trường hợp nó không có nhãn hiệu Điều này
sẽ giúp cho nhãn hiệu trở nên có thế mạnh ổn định và lợi thế khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh”
Theo Peter Farquhar: “Giá trị của nhãn hiệu là phần giá trị tăng thêm cho công ty và khách hàng của sản phẩm được gắn nhãn hiệu đó”
Khi sản phẩm, dịch vụ của DN ngày càng được nhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng thì cũng đồng nghĩa với việc doanh thu của DN
sẽ không ngừng tăng lên, thị phần DN ngày càng lớn, uy tín doanh nghiệp ngày càng được khẳng định Chính từ đó, nhãn hiệu của sản phẩm, dịch vụ không còn chỉ đơn thuần là dùng để phân biệt nữa mà giá trị của nó đã được định hình trong tâm trí người tiêu dùng, trong các đối thủ cạnh tranh
và nó có thể định giá được bằng tiền mặt
Có rất nhiều quan điểm và cách đánh giá khác nhau về giá trị nhãn hiệu Nhưng nói chung, giá trị nhãn hiệu được phân tích và đánh giá từ góc
Trang 20độ khách hàng Về cơ bản, giá trị nhãn hiệu được xem như một giá trị gia tăng góp vào giá trị của một sản phẩm Nói cách khác, giá trị nhãn hiệu chính là “giá trị cộng thêm” cho sản phẩm
Nhãn hiệu góp phần rất lớn trong việc tạo ra sức mạnh của sản phẩm
và đương nhiên sẽ tạo ra lợi nhuận, trong nhiều trường hợp, nhãn hiệu của công ty có thể đại diện cho gần như tất cả giá trị của công ty Bên cạnh đó, nhãn hiệu còn là nguồn lực của nền kinh tế quốc gia Khi nhãn hiệu có mặt trên thị trường quốc tế, quốc gia có thể thu được nhiều ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu Đồng thời, nhãn hiệu còn xây dựng sức mạnh tiêu thụ nội địa và đóng góp cho ngân sách quốc gia
1.2.1.2 Khái niệm góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu
Việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu đã được pháp luật thừa nhận Theo LDN 2014 quy định: “Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam” [3, Điều 35]
Góp vốn thành lập công ty bằng giá trị nhãn hiệu là việc các chủ thể quyền chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đối với tài sản nhãn hiệu của mình để góp vốn thành lập công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty
Như vậy, các đối tượng Sở hữu công nghiệp, cụ thể là giá trị nhãn hiệu là tài sản có giá trị trong kinh doanh Trên cơ sở góp vốn, quyền SHTT, cụ thể là nhãn hiệu được chuyển dịch từ chủ sở hữu quyền TSTT sang công ty
Thông qua hành vi góp vốn, mối quan hệ pháp lý được tạo lập, người góp vốn có nghĩa vụ chuyển giao những quyền tài sản của mình sang cho công ty
Trang 21Việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu cũng phải dựa trên đặc tính phi vật lý của tài sản, cụ thế đó là việc chuyển giao sẽ không thể xảy ra nếu như hai bên không tạo ra được một hình thức vật chất chứa đựng giá trị tài sản đem góp vốn Phần vốn góp vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu thì Nhãn hiệu phải được định giá và quy đổi thành tiền theo nguyên tắc nhất trí
Nếu như khoản 2, Điều 4 LDN 2005 quy định tài sản khác “các tài sản ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty” thì LDN 2014 đã bổ sung điều kiện của tải sản góp vốn phải là tài sản
có thể định giá được, chứ không phải là bất cứ tài sản nào được Điều lệ ghi nhận là có thể góp vốn
Tuy nhiên, trên thực tế, có thể thấy rằng rất khó để có thể xác định giá trị của một nhãn hiệu vì còn phụ thuộc vào thời gian, địa điểm và tính sinh lời của loại tải sản này Khi tiến hành xác lập quyền đối với tài sản này thì chủ sở hữu cũng không thể tính hết được tính hữu dụng và khả năng sinh lời trong tương lai của tài sản mà mình đang sở hữu Điều này có thể dẫn đến tranh chấp phát sinh sau này nếu như giá trị của tài sản được các bên thỏa thuận có sự chênh lệch lớn hơn so với giá trị thực của nhãn hiệu trên thị trường
1.2.1.3 Đặc trưng của góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu
Do những nét đặc thù của nhãn hiệu đã tạo nên những đặc điểm khác biệt của việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu với các việc góp vốn vào công
ty bằng các TSHH
Thứ nhất, về chủ thể góp vốn
Nếu chủ thể góp vốn kinh doanh bằng TSHH là chủ sở hữu các tài sản đó thì chủ thể góp vốn vào công ty là chủ sở hữu/ sử dụng của nhãn hiệu Sau khi chủ sở hữu/ sử dụng giá trị nhãn hiệu góp vốn bằng quyền tài
Trang 22sản nhãn hiệu của mình thì tài sản nhãn hiệu trở thành tài sản của Công ty Công ty có quyền của chủ sở hữu/sử dụng đối với nhãn hiệu đó
Thứ hai, trình tự thủ tục góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu
Để hoàn tất thủ tục góp vốn thành lập công ty, các tổ chức, cá nhân tiến hành thủ tục chuyển giao tài sản góp vốn sang cho doanh nghiệp Đối với TSHH, việc chuyển giao tài sản có thể là bàn giao tài sản cho doanh nghiệp Theo quy định pháp luật, nếu tài sản cần phải chuyển giao hoàn thành khi tiến hành các thủ tục đăng ký quyền sở hữu thì người góp vốn cần tiến hành các thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong khi đó, khác với TSHH, việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu ngoài việc tuân theo những quy định pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung còn phải tuân theo các quy định riêng về trình tự chuyển giao quyền của Luật SHTT Ngoài ra, đối với các trường hợp góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu không thành lập pháp nhân như thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh, thực hiện dự án đầu
tư thì thủ tục góp vốn cần phải tuân thủ các quy định của Luật đầu tư và Luật SHTT
Do đặc thù của nhãn hiệu là loại tài sản vô hình nên khi góp vốn các bên góp vốn và nhận góp vốn phải làm rõ những nội dung cơ bản sau:
- Thống nhất cách thức định giá (xác định giá trị) của giá trị nhãn hiệu
- Lập hợp đồng góp vốn quy định rõ nội dung liên quan đến việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu, các quyền và nghĩa vụ của bên chuyển giao
và doanh nghiệp với tư cách là người nhận chuyển giao nhãn hiệu
Thứ ba, về thời hạn góp vốn
Thời hạn góp vốn do các bên góp vốn tự thỏa thuận Tuy nhiên, đối với việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu, các bên phải xem xét đến yếu tố
Trang 23thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu Theo quy định của Luật SHTT, thời hạn bảo
hộ là 10 năm kể từ này nộp đơn đăng ký nhãn hiệu Do đó, các bên nên cân nhắc về thời hạn góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu để đảm bảo cho quyền lợi của công ty
Thứ tư, về phạm vi góp vốn
Khi góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu, chủ sở hữu chỉ có thể góp vốn bằng quyền tài sản/quyền nhân thân gắn với quyền tài sản đối với nhãn hiệu mà không được sử dụng quyền nhân thân đối với nhãn hiệu để góp vốn Quyền nhân thân đối với nhãn hiệu cũng giống như quyền nhân thân quy định tại Bộ luật dân sự 2015 đó là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác Đây là điểm khác cơ bản giữa góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu và góp vốn bằng TSHH khác Bởi lẽ, góp vốn bằng TSHH là chủ sở hữu sẽ phải chuyển giao tài sản cùng toàn bộ quyền đối với tài sản đó
Thứ năm, về hình thức góp vốn
Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn hai hình thức góp vốn: góp vốn theo hình thức chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu và góp vốn theo hình thức chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu:
Góp vốn theo hình thức chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu (Chuyển nhƣợng): Khi chủ sở hữu nhãn hiệu không còn muốn khai thác
các quyền sở hữu đối với nhãn hiệu của mình hoặc không còn đủ khả năng
để khai thác các quyền đó thì chủ sở hữu có quyền tiến hành việc góp vốn bằng quyền sở hữu nhãn hiệu Quyền sở hữu sẽ được dịch chuyển từ chủ sở hữu sang bên nhận góp vốn Kể từ thời điểm hoàn thành việc chuyển giao quyền sở hữu sang cho bên nhận góp vốn thì chủ sở hữu các đối tượng của quyền SHTT không còn bất cứ quyền gì (quyền sử dụng, quyền định đoạt)
Trang 24đối với TSTT đã được góp vốn Khi đó, bên nhận góp vốn sẽ trở thành chủ
để đảm bảo quyền lợi cho bên nhận góp vốn thì việc định đoạt nhãn hiệu đã được góp vốn bằng quyền sử dụng cũng bị hạn chế Cụ thể, trong thời gian thực hiện hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng nhãn hiệu thì chủ sở hữu nhãn hiệu không được chuyển nhượng quyền sở hữu đối tượng này cho bên thứ 3 nào khác
1.2.2 Định giá nhãn hiệu khi góp vốn
1.2.2.1 Nguyên tắc định giá nhãn hiệu khi góp vốn
Định giá là loại hoạt động chuyên môn vừa mang tính kinh tế - kỹ thuật, tính pháp lý, vừa mang tính xã hội Hoạt động định giá hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự hình thành, tồn tại và phát triển của thị trường
Theo quy định tại Điều 37, LDN 2014 về Định giá tài sản góp vốn:
“1 Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam
2 Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức thẩm định
Trang 25giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận
Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực
tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế
3 Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận
Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.”
Việc định giá nhãn hiệu cần tuân thủ nguyên tắc: phải được sự thông qua và nhất trí của các thành viên góp vốn
Việc định giá do doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức định giá
Trang 26chuyên nghiệp định giá thì phải được sự chấp thuận của người góp vốn và doanh nghiệp
Việc thẩm định khả năng sinh lợi và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn dựa vào những chỉ số như suất sinh lợi của vốn đầu tư, của tài sản, và của vốn chủ sở hữu; tất cả đều không xét đến các tài sản vô hình Tuy nhiên, sự chênh lệch ngày càng lớn giữa giá trị sổ sách và giá trị trên thị trường chứng khoán của các công ty đã khiến cho người ta ngày càng công nhận giá trị của tài sản vô hình
1.2.2.2 Phương pháp định giá nhãn hiệu
Nhìn chung, phần lớn các mô hình định giá nhãn hiệu dựa vào ba phương pháp chính sau đây:
Phương pháp chi phí: Phương pháp này được tìm ra dựa trên nguyên tắc thay thế Trong khi thực hiện phương pháp chi phí, chi phí của từng bước tạo ra tài sản phải được xác định, có sử dụng những lý thuyết và kiến thức được biết vào thời điểm định giá Có hai phương pháp định giá dựa trên chi phí:
- Phương pháp dựa trên chi phí quá khứ: Phương pháp này liên quan đến việc xác định và tổng hợp các chi phí quá khứ đã phát sinh trong quá trình xây dựng tài sản, tổng chi phí được coi như giá trị của tài sản đó Hạn chế của phương pháp này đó là không nhận thấy được giá trị tiềm năng trong tương lai của các TSTT, dẫn đến việc tính toán giá trị tài sản thiếu sự chính xác
- Phương pháp dựa trên chi phí thay thế tái tạo: Phương pháp này liên quan đến việc xác định và tổng hợp các chi phí cần thiết để tái tạo lại tài sản mà nó có khả năng tạo ra các lợi ích kinh tế trong tương lai giống như tài sản đang được định giá
Trang 27 Phương pháp thị trường: Là phương pháp dựa trên cơ sở phân tích mức giá của các TSTT tương tự với tài sản cần định giá đã giao dịch thành công hoặc đang mua, bán trên thị trường vào thời điểm định giá, hoặc gần với thời điểm định giá để ước tính giá trị thị trường của tài sản cần định giá Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, việc định giá TSTT còn rất mới mẻ, các doanh nghiệp còn rất nhiều bỡ ngỡ vì chưa có nhiều các giao dịch TSTT trên thị trường Do đó, việc áp dụng phương pháp này gặp rất nhiều khó khăn
Phương pháp tiếp cận thu nhập: Phương pháp này dựa trên nguyên tắc cơ bản là giá trị của một TSTT sẽ được tính ra từ các lợi ích kinh tế mà tài sản đó mang lại trong tương lai
Về cơ bản, theo phương pháp này, việc tính toán giá trị của nhãn hiệu được đánh giá trên cơ sở lợi ích kinh tế mà tài sản đó mang lại trong quá khứ, hiện tại hoặc dự kiến tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai Hai cách tiếp cận thông thường nhất là vốn hóa thu nhập và phân tích dòng tiền chiết khấu Đây là một phương pháp được đánh giá là đáng tin cậy trong định giá TSTT
Trên thế giới hiện nay, phương pháp định giá theo cách tiếp cận thu nhập được xem là phương pháp tốt nhất để định giá
Như vậy, mục đích chủ yếu của việc xác định giá nhãn hiệu là nhằm xác định chính xác, đầy đủ và khách quan giá trị của nhãn hiệu đó, từ đó giúp chủ sở hữu đưa ra quyết định tối ưu, trong đó có các quyết định về phương thức kinh tế hiệu quả nhất để sử dụng, bảo vệ hoặc trao đổi giá trị nhãn hiệu trên thị trường nhằm tối đa hóa giá trị tài sản
Về vấn đề thỏa thuận giá trị của nhãn hiệu đem góp vốn bắt buộc phải có bên thứ ba có chức năng định giá tham gia, việc góp vốn bằng giá
Trang 28trị nhãn hiệu cũng không nằm ngoài các quy định về góp vốn trong LDN
2014, bao gồm cả việc định giá nhãn hiệu
Trang 29CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ G P VỐN VÀO CÔNG TY ẰNG
GIÁ TRỊ NH N HIỆU TẠI VIỆT NAM
2.1 Quy định pháp luật hiện hành về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, việc góp vốn bằng quyền SHTT lần đầu tiên được đề cập tại Điều lệ đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định số 115/NĐ-
CP ngày 18/04/1977 của Hội đồng Chính phủ Sau đó, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 ra đời đã đề cập đến việc góp vốn thành lập
xí nghiệp liên doanh của bên Việt Nam và bên nước ngoài bằng một số đối tượng của quyền SHTT Tuy nhiên, quyền góp vốn bằng quyền SHTT tại thời kỳ này chỉ đề cập đến chủ thể là các nhà đầu tư nước ngoài, còn chủ thể là cá nhân, tổ chức Việt Nam không được ghi nhận quyền này
Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu hiện nay đã có nhiều bước phát triển so với trước đây Sự
ra đời của Hiến pháp 2013, LDN 2014 và BLDS 2015, được coi là nền tảng trực tiếp chứa đựng những quy phạm pháp lý cơ bản nhất của vấn đề này
Bên cạnh đó, Luật SHTT quy định về quyền sở hữu trí tuệ nói chung, việc khai thác thương mại các quyền này cũng như những đảm bảo đối với chủ thể quyền
Theo trình tự thời gian, có thể kể ra những văn bản điều chỉnh việc góp vốn công ty bằng giá trị nhãn hiệu như sau:
- Luật Sở hữu trí tuệ 2005
- Luật Doanh nghiệp 2014
- Bộ luật dân sự năm 2015
- Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 về đăng ký doanh nghiệp
Trang 30- Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 hướng dẫn luật sở hữu trí tuệ
- Nghị định 126/2017/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu
tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần
- Các văn bản, Công văn hướng dẫn của Bộ Tài chính, Tổng cục thuế về thực hiện góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ
- Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu
2.1.1 Điều kiện góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu
Hiện nay, do chưa có văn bản pháp luật nào cụ thể quy định về điều kiện về góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu nên vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau khi áp dụng Tuy nhiên, có thể thấy rằng, để góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu thì nhãn hiệu phải thỏa mãn những điều kiện sau:
Thứ nhất, nhãn hiệu phải thuộc quyền sở hữu của thành viên góp vốn, vì việc thực hiện hành vi góp vốn tức là thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình, nếu là tài sản thuộc sở hữu chung thì phải được sự thỏa thuận của các chủ sở hữu chung và là tài sản được lưu thông trong giao dịch dân
sự
Vậy, căn cứ vào đâu để chứng minh được nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu của thành viên góp vốn và làm thế nào để đánh giá chính xác được giá trị nhãn hiệu khi bản chất nhãn hiệu là tài sản vô hình
Về cơ bản, tài sản vô hình là tài sản không có đặc tính vật lý, có thể chuyển giao, khai thác giá trị sử dụng và trị giá được bằng tiền Như vậy có thể thấy, để có thể góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu thì phải “vật chất hóa” được giá trị của nhãn hiệu
Trang 31Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, nhãn hiệu đăng ký đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu bởi Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
là cơ sở pháp lý quan trọng bởi vì:
- Bản chất nhãn hiệu là một tài sản vô hình và do đó, sẽ rất khó để đánh giá chính xác giá trị của một nhãn hiệu nếu như không có các tiêu chí
để lượng hóa cụ thể
- Việc bên góp vốn xuất trình được tài liệu do cơ quan nhà nước ban hành chứng nhận quyền sở hữu có thể thấy rằng gần như là một sự đảm bảo mang tính pháp lý cao nhất trong các hoạt động liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ mà cá nhân/ tổ chức đó tham gia
- Tài liệu do cơ quan nhà nước ban hành chứng minh chủ sở hữu nhãn hiệu là cơ sở để tránh xảy ra những tranh chấp khi xác định chủ sở hữu về sau này
- Giá trị hiệu lực của tài liệu do cơ quan nhà nước ban hành cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá giá trị của quyền sở sở hữu nhãn hiệu,
cụ thể ở đây là thời gian hiệu lực của văn bằng bảo hộ
Theo quan điểm cá nhân tác giả, các chủ thể muốn góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu thì đối tượng góp vốn cần được cụ thể hóa dưới dạng thức văn bản, có sự thừa nhận của cơ quan có thẩm quyền, bởi vì:
- Để tránh tranh chấp xảy ra sau này, cần có sự xác định r ràng, rành mạch xem chủ sở hữu của nhãn hiệu đem góp vốn là ai Đây là điều là bắt buộc và cần thiết khi làm thủ tục đăng ký góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn bổ sung vào doanh nghiệp
- Khi đã có sự xác nhận của cơ quan nhà nước, việc định giá sẽ thuận lợi hơn cho các bên định giá trong việc xác định giá trị của nhãn hiệu
Trang 32Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt, cụ thể đối với những đối tượng sở hữu trí tuệ mà pháp luật không quy định về việc cấp “Giấy chứng nhận” như nhãn hiệu nổi tiếng thì theo ý kiến cá nhân tác giả, pháp luật không càn phải yêu cầu chủ sở hữu phải xuất trình giấy chứng nhận khi góp vốn thành lập doanh nghiệp bởi vì bản thân nhãn hiệu nổi tiếng dựa trên cơ
sở của quá trình sử dụng và phát triển nhãn hiệu chứ không theo cơ sở đăng
ký như các nhãn hiệu thông thường Do đó, việc góp vốn trong trường hợp này hoàn toàn do thỏa thuận của bên góp vốn và bên nhận góp vốn, thỏa thuận này cần lập thành văn bản
Thứ hai, nhãn hiệu được góp vốn là tài sản không bị tranh chấp, cầm
cố, thế chấp hay bảo lãnh
Khi góp vốn cần phải xem xét nhãn hiệu được góp vốn có đang bị tranh chấp, cầm cố, bảo lãnh hay không? Bởi vì, trường hợp nhãn hiệu đang bị tranh chấp thì việc xác định chủ sở hữu là rất khó và ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng tài sản góp vốn vào hoạt động kinh doanh
Thứ ba, nhãn hiệu đang còn hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam Đây là một yếu tố rất quan trọng, bởi vì nếu nhãn hiệu không còn hiệu lực, chủ sở hữu nhãn hiệu không tiến hành gia hạn nhãn hiệu, thì có trưởng hợp, chủ nhãn hiệu không tiếp tục theo đuổi nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu có thể bị hủy bỏ hiệu lực trên cơ sở không sử dụng trên 5 năm liên tục, thì nhãn hiệu sẽ không còn được khai thác và chủ sở hữu không còn quyền đồi với tài sản nhãn hiệu của mình Do đó, sẽ không đủ điểu kiện để góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu
Thứ tư, trước khi góp vốn các thành viên/cổ đông phải thực hiện thủ tục định giá nhãn hiệu
Như đã phân tích ở trên, nhãn hiệu là một tài sản vô hình, rất khó để định giá nếu như không có tiêu chí định giá cụ thể Do đó, trước khi góp
Trang 33vốn các thành viên/ cổ đông của công ty phải thực hiện thủ tục định giá nhãn hiệu để có thể đánh giá chính xác giá trị của nhãn hiệu khi đưa vào góp vốn
2.1.2 Định giá tài sản góp vốn là giá trị nhãn hiệu
Theo quy định tại Điều 37 LDN 2014 quy định về việc định giá tài sản cụ thể như sau:
“2 Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế 3 Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận
Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản
Trang 34góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế”
Trước đây, LDN 2005 quy định: “trường hợp góp vốn khi doanh nghiệp thành lập, việc định giá tài sản chỉ giữa trên nguyên tắc thống nhất ý chí của các thành viên tham gia góp vốn còn góp vốn khi doanh nghiệp hoạt động có thể do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá tài sản.”
Tuy nhiên có thể thấy rằng quy định này chưa hợp lý bởi vì khi mới thành lập doanh nghiệp, trường hợp các thành viên góp vốn không đủ kiến thức, kinh nghiệm, trình độ để có thể tự thỏa thuận định giá tài sản góp vốn dẫn đến định giá sai giá trị của nhãn hiệu thì như thể nào?
Khắc phục những bất cập của LDN 2005, LDN 2014 đã bổ sung quyền thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp và phải được đa số các thành viên góp vốn chấp thuận Tổ chức định giá chuyên nghiệp phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và phải có ít nhất 03 thẩm định viên có đủ kỹ năng thẩm định giá được cơ quan có thẩm quyền cấp thẻ hành nghề Căn cứ vào Nghị định 89/2013/NĐ-CP ngày 06/08/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giá về thẩm định giá, Thông tư số 28/2015/TT-BTC ngày 06/03/2015 và Thông tư số 126/2015/TT-BTC ngày 20/8/2015 ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam, Bộ Tài chính hàng năm sẽ công bố danh sách doanh nghiệp thẩm định giá và chi nhánh thẩm định giá có đủ điều kiện hoạt động thẩm định giá tài sản và danh sách thẩm định viên về giá có đủ điều kiện hành nghề thẩm định giá tài sản theo quy định pháp luật
LDN 2014 đã nâng cao vai trò của tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp khi tham gia thẩm định tài sản góp vốn nhưng vẫn đảm bảo kết quả
Trang 35thẩm định giá phải được các thành viên góp vốn chấp nhận Tự do ý chí vẫn là yếu tố đặt lên hàng đầu trong mối quan hệ hợp đồng giữa các bên tham gia góp vốn Do đó, trách nhiệm của bên góp vốn và bên nhận góp vốn cũng trở nên nặng nề khi giá trị được định giá và giá trị thực tế chênh lệnh nhau
Đối với góp vốn thành lập doanh nghiệp, trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố
ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế
Đối với góp vốn trong quá trình hoạt động, nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty
cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế
LDN 2014 đã bỏ quy định trách nhiệm liên đới của tổ chức thẩm định giá đối với trường hợp kết quả định giá có sự chệnh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế bởi vì quan hệ giữa tổ chức định giá và tổ chức, cá nhân thuê định giá là một mối quan hệ độc lập, không liên quan đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp cũng như các thành viên góp vốn với chủ nợ, khách hàng của doanh nghiệp Giống như việc định giá TSHH, việc định giá giá trị nhãn hiệu dựa trên các phương pháp chủ yếu như: chi phí, thu nhập và thị trường
Trang 36Tuy nhiên, khác với TSVH, định giá nhãn hiệu gặp rất nhiều khó khăn Theo hướng dẫn số 4 của Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế và tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam vẫn đang áp dụng ba phương pháp thẩm định giá: Phương pháp chi phí, phương pháp thu nhập và phương pháp thị trường
- Phương pháp tiếp cận thu nhập: theo phương pháp này TSTT sẽ được định giá dựa vào nguồn thu nhập ước tính mà chủ thể quyền SHTT có thể nhận được trong thời gian có hiệu lực của quyền SHTT
- Phương pháp tiếp cận chi phí: theo phương pháp này TSTT sẽ được định giá dựa vào cách tính chi phí cần thiết để ước tính các lợi ích trong tương lai của TSTT
- Phương pháp tiếp cận thị trường: TSTT được định giá theo phương pháp này dựa vào việc bên thứ ba sẵn sàng bỏ tiền ra để mua hoặc thuê tài sản SHTT Khi áp dụng phương pháp này cần phải đáp ứng các điều kiện: (i) cần phải có cơ sở hợp lý dựa vào để so sánh với các đối tượng của quyền SHTT tương tự và cùng nằm trong lĩnh vực kinh doanh Sự so sánh phải thực sự có ý nghĩa và không gây nhẫm lẫn; (ii) Dữ liệu sử dụng để tính toán phải chính xác; (iii) Dữ liệu giá cả phải còn hiệu lực và thời điểm định giá và đại diện cho thị trường vào thời điểm đó; (iv) Tiến hành những điều chỉnh phù hợp để khiến các đối tượng được so sánh và đối tượng cần định giá trở nên dễ so sánh hơn; (v) Khi sử dụng các giao dịch trước đó cần phải thực hiện những điều chỉnh cần thiết đối với sự thay đổi về thời gian, những biến động thay đổi trong nền kinh tế và trong các đối tượng của quyền SHTT
2.1.3 Hợp đồng góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu
Hiện nay, trong quan hệ hợp đồng, các quy định về hợp đồng được quy định tại BLDS 2015 là luật chung cho tất cả các loại hợp đồng chuyên
Trang 37biệt Dựa trên quy định chung đó, BLDS và nhiều văn bản pháp luật khác quy định riêng các hợp đồng chuyên biệt Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào quy định về hợp đồng góp vốn bằng quyền SHTT, cụ thể là góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu
Việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ đồng nghĩa với việc người góp vốn đã chuyển giao quyền tài sản (hoặc một phần quyền tài sản) cho bên nhận góp vốn nhưng không chuyển giao quyền nhân thân cho bên nhận góp vốn
Đối với việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu cũng phải tuân theo nguyên tắc trên, trong đó, bên góp vốn sẽ sử dụng quyền sử dụng nhãn hiệu
để đem góp vốn mà không chuyển giao, không làm thay đổi chủ sở hữu trên giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
Chính bởi bản chất của việc chuyển giao “không hoàn toàn” nêu trên
mà các bên cần lập Hợp đồng góp vốn quy định r ràng, đầy đủ về quyền
và nghĩa vụ của các bên tham gia góp vốn
Hợp đồng góp vốn được coi như là một phần trong hợp đồng thành lập công ty, về hình thức có thể được gọi là phụ lục, biên bản, thỏa thuận góp vốn
Hợp đồng góp vốn thành lập công ty là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền nghĩa vụ trong việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ Theo đó chủ sở hữu quyền sở hữu nhãn hiệu góp phần vốn của mình bằng tài sản nhãn hiệu để được hưởng một hoặc một số quyền lợi từ công ty mới được thành lập theo quy định
Hợp đồng góp vốn thành lập công ty được tạo lập dựa trên cơ sở tự
do ý chí của các bên Tuy nhiên, hợp đồng thành lập công ty tạo ra một
Trang 38pháp nhân có thể ảnh hưởng đến xã hội Do đó pháp luật thường đòi hỏi loại hợp đồng này phải thể hiện một số điều khoản bắt buộc Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể về hợp đồng thành công ty nhưng Điều lệ công
ty về bản chất chính là loại hợp đồng thành lập công ty
Nội dung cơ bản của Hợp đồng góp vốn vào công ty bằng giá trị nhãn hiệu gồm có:
- Thông tin về bên nhận góp vốn
- Thông tin về bên góp vốn
- Đối tượng đem góp vốn
- Quyền và nghĩa vụ của bên nhận góp vốn
- Quyền và nghĩa vụ của bên góp vốn
- Giá trị của hợp đồng góp vốn (Liên quan đến tỷ lệ góp vốn)
- Phương thức thanh toán theo hợp đồng
- Thời hạn của hợp đồng góp vốn
- Điều kiện chuyển giao
- Điều kiện chấm dứt hợp đồng
- Giải quyết tranh chấp
Việc lập hợp đồng góp vốn phải được quy định r ràng trong Điều lệ công ty Điều này là cần thiết để làm cơ sở giải quyết tranh chấp (nếu có)
và giải thích Hợp đồng (trong trường hợp nội dung Hợp đồng không rõ ràng) Hợp đồng góp vốn được lập giữa bên góp vốn và bên nhận góp vốn phải được đăng ký với cơ quan nhà nước về đăng ký kinh doanh
2.1.4 Chuyển giao tài sản góp vốn là giá trị nhãn hiệu
Theo quy định của Luật SHTT 2005, chủ thể quyền SHTT khi góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT có thể góp vốn bằng quyền sở hữu/quyền sử dụng đối với các đối tượng SHTT Sau khi đã tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh, để hoàn tất thủ tục góp vốn, thành viên góp vốn
Trang 39phải tiến hành chuyển giao quyền sở hữu/quyền sử dụng các đối tượng SHTT doanh nghiệp Chuyển nhượng quyền SHTT là việc chủ sở hữu quyền SHTT chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác Chuyển quyền sử dụng đối tượng SHTT là việc chủ sở hữu đối tượng SHTT cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng SHTT thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình
Căn cứ theo Điều 36 của LDN năm 2014 quy định về Chuyển quyền
sở hữu tài sản góp vốn như sau:
"1 Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công
ty theo quy định sau đây:
a) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản
đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;
b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản
Biên bản giao nhận phải ghi r tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc đăng ký của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn
Trang 40hoặc đại diện theo ủy quyền của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty;
c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty
2 Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp
3 Thanh toán mọi hoạt động mua, bán, chuyển nhượng cổ phần và phần vốn góp và nhận cổ tức của nhà đầu tư nước ngoài đều phải được thực hiện thông qua tài khoản vốn của nhà đầu tư đó mở tại ngân hàng ở Việt Nam, trừ trường hợp thanh toán bằng tài sản.”
Đặc điểm khác biệt của chủ sở hữu nhãn hiệu đó là chủ sở hữu này cùng một lúc sở hữu hai quyền, đó là quyền nhân thân và quyền tài sản Do
đó, quy định chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn nêu trên không thể áp dụng hoàn toàn với việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu
Trên thực tế, họ chỉ góp vốn bằng giá trị của quyền tài sản nên quyền
sở hữu không được chuyển giao hoàn toàn, mà chỉ chuyển giao một số quyền tài sản riêng rẽ, ví dụ dụ cấp quyền sử dụng nhãn hiệu Đây cũng là điểm khác biệt căn bản giữa góp vốn bằng tài sản thông thường và góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu
Trong trường hợp này, bên góp vốn và bên nhận góp vốn sẽ lập biên bản định giá tài sản góp vốn và Hợp đồng góp vốn Đây là cơ sở pháp lý để xác định việc chuyển giaogiá trị nhãn hiệu khi góp vốn vào công ty
Sau khi hoàn thiện các bước đã nêu ở trên, bên nhận góp vốn và bên góp vốn cùng đệ trình hồ sơ góp vốn thành lập công ty lên cơ quan nhà