Tình hình nghiên cứu đề tài Hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam đang ngày càng mở rộng và phát triển và là một lĩnh vực với rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu nên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Dung
HÀ NỘI – NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Dung
HÀ NỘI – NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn Tác giả luận văn
Vũ Duy Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn 6
7 Cơ cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀTHƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 8
1.1 Tổng quan về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 8
1.1.1 Khái niệm thương nhân nước ngoài 8
1.1.2 Đặc điểm của thương nhân nước ngoài 9
1.2 Pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 12
1.2.1 Quy định pháp luật về các hình thức hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam 12
1.2.2.Thẩm quyền cho phép thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 17
1.2.3 Thủ tục đăng ký hoạt động thương mại tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài 18
1.2.4 Quyền và nghĩa vụ của thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 23
1.2.5 Chấm dứt hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam 25
Kết luận Chương 1 29
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 31
Trang 52.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về cấp phép thành lập, hoạt động, quyền và nghĩa vụ, chấm dứt hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam 31 2.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về cấp phép thành lập thương nhân nước ngoài tại Việt Nam 32 2.1.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam 34 2.1.3 Thực tiễn áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ của thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 37 2.1.4 Thực tiễn áp dụng các quy định về chấm dứt hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam 39 2.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam 40 2.2.1 Những tác động tích cực trong việc áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 40 2.2.2 Những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 45
Kết luận Chương 2 54
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 55
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 55 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 57 3.2.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam.
57
3.2.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 61 3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 64 3.3.1 Giải pháp cho hoạt động thương mại của Văn phòng đại diện, Chi nhánh thương nhân nước ngoài 64
Trang 63.3.2 Giải pháp cho hoạt động thương mại của Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài 67 3.3.3 Một số giải pháp khác cho hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam 70
Kết luận Chương 3 72
KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa đang phát triển ngày càng mạnh mẽ, đem lại nhiều cơ hội và thách thức cho mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Xu hướng toàn cầu hóa thể hiện rõ nét ở việc bên cạnh các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn với khả năng tài chính vững mạnh không ngừng
mở rộng thị trường sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng muốn phát triển, đưa thương hiệu, sản phẩm của mình ra nhiều khu vực trên thế giới thông qua hoạt động đầu tư, thương mại tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau Các doanh nghiệp trên đều được coi là các thương nhân nước ngoài và hoạt động thương mại tại các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam Từ thực tiễn đó, các quốc gia sở tại đã ban hành nhiều chính sách, quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài, quản lý hiệu quả cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho các thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại quốc gia đó
Bắt kịp với xu hướng phát triển kinh tế thế giới, sau hơn 10 năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã trở thành một thị trường đầy tiềm năng với hơn 90 triệu dân cùng chính sách mở cửa kinh tế rộng rãi Điều này đã thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới đến đầu tư tại Việt Nam Bên cạnh đó, hoạt động thương mại tại Việt Nam cũng diễn ra cực kỳ sôi động, kéo theo một lượng lớn các nhà đầu tư, thương nhân nước ngoài đến Việt Nam hoạt động thương mại
Hiện nay, Việt Nam có những chính sách mới nhằm thu hút thương nhân nước ngoài bằng cách ban hành các văn bản pháp luật có quy định về việc mở rộng quyền lợi, hỗ trợ và khuyến khích thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam Những chính sách này đã phát huy hiệu quả,
Trang 8đưa Việt Nam trở thành một điểm đến đầu tư ưa thích của các thương nhân nước ngoài ở rất nhiều quốc gia trên thế giới Điều này đã có đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế đất nước, mở rộng quan hệ thương mại với các quốc gia khác trên thế giới, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước…
Tính đến thời điểm hiện tại, hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam chủ yếu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật sau đây: Luật Thương mại của Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 36/2005/L-QH11 ngày 14/06/2005 (Luật Thương mại 2005); Luật Đầu tư của Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 (Luật Đầu tư 2014); Luật Doanh nghiệp của Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 (Luật Doanh nghiệp 2014); Nghị định số 07/2016/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam ngày 25/01/2016; Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư… Các văn bản pháp luật trên đã góp phần điều chỉnh, kiểm soát hoạt động thương mại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thương nhân nước ngoài và thúc đẩy phát triển đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên, quy định pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam vẫn còn có nhiều vướng mắc và bất cập, điều này thể hiện ở việc các quy định của pháp luật vẫn còn gây nhiều khó khăn cho hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tạo rào cản đối với hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài
và có kẽ hở pháp lý để xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật Do vậy, yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, khắc phục được những thiếu sót còn tồn tại để kiểm soát tốt hơn, hạn chế các hành vi vi
Trang 9phạm pháp luật nhưng vẫn tạo điều kiện tốt nhất để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Chính vì những lý do trên, tôi xin phép được lựa chọn đề tài “Thực trạng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam” để làm Luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam đang ngày càng mở rộng và phát triển và là một lĩnh vực với rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu nên đã có một số đề tài nghiên cứu của các tác giả liên quan đến lĩnh vực này như: Luận văn Thạc sĩ Luật học năm 2006 tại Đại học Luật Hà Nội của tác giả Trần Thị Hồng Nhung về “Các quy định về thương nhân theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005”; Luận văn Thạc sĩ Luật học năm 2017 tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm
2017 của tác giả Huỳnh Phan Thiên Phúc về “Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay”; Tác phẩm “Bình luận các vấn đề mới của Luật Thương mại trong điều kiện hội nhập” tại Nhà xuất bản Tư pháp năm 2007 của tác giả Lê Hoàng Oanh…
Các tài liệu trên đã có những phân tích và nghiên cứu liên quan đến các quy định pháp luật cũng như thực trạng áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đang hợp tác sâu rộng với các quốc gia trên thế giới và văn bản pháp luật liên quan có những sự sửa đổi, bổ sung thì cần phải có sự đánh giá, nghiên cứu các quy định mới cũng như những hạn chế, bất cập, hạn chế trong việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành vào thực tiễn, để từ đó có những đề xuất, biện pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
Trang 103 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là trình bày các vấn đề lý luận chung về quy chế thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành và dựa trên thực tiễn áp dụng pháp luật để xác định những tác động tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam cũng như hạn chế, bất cập trong công tác quản lý, thực thi các quy định pháp luật đó Từ đó, Luận văn nêu ra những giải pháp, kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ làm rõ các khái niệm, đặc điểm và các hình thức thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam; làm rõ thực trạng pháp luật về hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; làm rõ thực tiễn thực hiện pháp luật bao gồm những tác động tích cực
và hạn chế bất cập trong áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam và có những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam trong Mục 3 Chương I Luật Thương mại 2005 có quy định chung về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam; Luật Đầu tư
2014 có quy định về điều kiện cấp phép đầu tư tại Việt Nam cho thương nhân nước ngoài; Luật Doanh nghiệp 2014 về điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập,
Trang 11cơ cấu tổ chức hoạt động của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Nghị định số 07/2016/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam ngày 25/01/2016; Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư liên quan đến hoạt động cấp phép đầu tư của thương nhân nước ngoài… Những quy định pháp luật này là những quy định cơ bản nhất điều chỉnh hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam và cần phải có sự nghiên cứu, đánh giá
kĩ lưỡng; đồng thời, Luận văn cũng sẽ nghiên cứu thực trạng pháp luật về hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam để từ đó có những giải pháp phù hợp nhằm phát huy những mặt tích cực đã đạt được, thay đổi và hoàn thiện những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong quá trình áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam nhằm đưa ra được những đánh giá một cách chính xác,khách quan về mặt tích cực và những bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật của Việt Nam đối với hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài vàđưa ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn về kinh tế - xã hội của Việt Nam
Bên cạnh đó, Luận văn cũng tập trung nghiên cứu tác động của các văn bản pháp luật hiện hành vẫn còn hiệu lực pháp lý, cụ thể là từ thời điểm Luật Thương mại được ban hành năm 2005 đến thời điểm hiện tại để đánh giá quá trình áp dụng pháp luật trong hơn 12 năm qua và đưa ra được những kiến nghị phù hợp để thay đổi các quy định pháp luật cho phù hợp với thời điểm hiện tại khi Việt Nam đang mở cửa thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích để làm rõ những khía cạnh pháp lý mà văn bản pháp luật Việt Nam có quy định để từ đó xác định được những đặc điểm hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; phương pháp thống kê để đưa
ra những số liệu chính xác trong việc áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam; phương pháp tổng hợp để đưa ra những kết luận, đánh giá bao quát nhất dựa trên những kết quả nghiên cứu của Luận văn; phương pháp nghiên cứu thực tiễn là phương pháp được sử dụng trong việc áp dụng pháp luật vềhoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, dựa trên những kết quả thực tế đạt được, những mặt tích cực và hạn chế, bất cập còn tồn tại để từ đó có những đề xuất, kiến nghị phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Hiện nay, với sự phát triển của quá trình toàn cầu hóa, rất nhiều thương nhân nước ngoài tìm đến Việt Nam như một thị trường đầy tiềm năng, vì vậy, việc nghiên cứu, tổng hợp và phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam là điều rất cần thiết Luận văn sẽ cung cấp những thông tin một cách tổng quát về các hình thức hoạt động thương mại tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định và thẩm quyền cho phép hoạt động, các quyền và nghĩa vụ và quy trình chấm dứt hoạt động thương mại tại Việt Nam Đây là cơ sở cho các thương nhân nước ngoài đang có nhu cầu tham gia vào thị trường Việt Nam, muốn tìm hiểu quy định pháp luật của Việt Nam và lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp
Trang 13Mặt khác, với việc phân tích những điểm tích cực và hạn chế, bất cập trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể nhận ra những ưu điểm cần phát huy và những nhược điểm cần phải thay đổi Đồng thời, với việc nêu ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, Luận văn sẽ giúp cho các cơ quan nhà nước dễ dàng hơn trong công tác quản lý và đưa ra các chính sách khuyến khích hoạt động thương mại để đưa Việt Nam thực sự trở thành một thị trường công bằng, hấp dẫn và tiềm năng đối với các thương nhân nước ngoài tại nhiều quốc gia trên thế giới
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được cơ cấu thành ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về thương nhân nước ngoài và pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀTHƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
1.1.1 Khái niệm thương nhân nước ngoài
Thương nhân nước ngoài là những tổ chức, cá nhân đến các quốc gia khác trên thế giới để đầu tư, kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận và mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế cho quốc gia sở tại Do có khả năng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách và có khả năng thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển nên các quốc gia trên thế giới luôn có chính sách khuyến khích thương mại cho thương nhân nước ngoài
Bên cạnh lợi ích lớn đem lại cho nền kinh tế, thương nhân nước ngoài cũng đem lại những khó khăn, thách thức cho nền kinh tế khi cạnh tranh thị trường trực tiếp thương nhân của nước sở tại Do vậy, cũng cần có một cơ chế
để tạo điều kiện, bảo vệ quyền và lợi ích được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về thương mại giữa các quốc gia có quan hệ kinh tế cho thương nhân nước ngoài khi tham gia hoạt động thương mại Nếu không có sự điều chỉnh kịp thời của các quy định pháp luật của nước sở tại thì mục đích thu hút nguồn đầu tư nước ngoài không những khó đạt hiệu quả mà còn đem lại nhiều khó khăn cho công tác quản lý của các cơ quan nhà nước cũng như hạn chế quyền tự do hoạt động kinh doanh của các thương nhân nước ngoài
Nhằm phân biệt giữa thương nhân nước ngoài và thương nhân trong nước để có các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển và thu hút đầu tư, pháp luật Việt Nam đã có quy định về khái niệm thương nhân
Trang 15nước ngoài được ghi nhận trong Luật Thương mại 2005, cụ thể: Thương nhân
nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận 1
Với quy định trên, khái niệm “thương nhân nước ngoài” và “thương nhân Việt Nam” được phân định rõ ràng dựa trên tiêu chí quốc tịch của thương nhân đó được công nhận bởi pháp luật nước ngoài hoặc bởi pháp luật Việt Nam
1.1.2 Đặc điểm của thương nhân nước ngoài
Từ khái niệm thương nhân nước ngoàitrong Luật Thương mại nêu trên,
có thể thấy đặc điểm của thương nhân nước ngoài bao gồm:
Thứ nhất, thương nhân nước ngoài là tổ chức, cá nhân kinh doanh có tư
cách thương nhân theo pháp luật nước ngoài
Các quốc gia trên thế giới đã có các quy định pháp luật riêng về khái niệm của thương nhân Chẳng hạn, theo Bộ luật Thương mại của Cộng Hòa
Pháp, “Thương nhân là người thực hiện hành vi thương mại thường xuyên,
như một nghề nghiệp” 2
; Theo Bộ luật Thương mại Hoa Kỳ, “Thương nhân là những người thực hiện các nghiệp vụ đối với một loại nghề nghiệp nhất định
là đối tượng của hợp đồng thương mại 3 ” Quy định của Bộ luật Thương mại
Cộng Hòa Pháp và Bộ luật Thương mại Hoa Kỳ là ví dụ tiêu biểu cho thấy các quốc gia trên thế giới có quy định pháp luật riêng về thương nhân của quốc gia đó tùy theo đặc điểm về kinh tế, xã hội và chính trị Do vậy, đặc điểm của thương nhân nước ngoài nhìn chung sẽ chỉ có hai đặc điểm cơ bản sau:
1
Khoản 1 Điều 16 Luật Thương mại 2005
2 Điều L121-1 Bộ luật Thương mại Cộng Hòa Pháp
3 Huỳnh Phan Thiên Phúc (2005), Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.9
Trang 16- Thương nhân nước ngoài phải là tổ chức, cá nhân và có đủ tư cách pháp lý
Do thương nhân nước ngoài của quốc gia nào được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định hoặc pháp luật của quốc gia đó công nhận nên thương nhân nước ngoài phải là những chủ thể có đủ điều kiện pháp lý nhất định theo quy định pháp luật của từng quốc gia.Việc đăng ký, thành lập doanh nghiệp sẽ được pháp luật của mỗi nước quy định nhưng chủ thể được công nhận theo pháp luật nước ngoài bắt buộc phải là cá nhân, tổ chức vì đây là những chủ thể duy nhất có thể đáp ứng được yêu cầu về mặt pháp lý của pháp luật nước ngoài
- Thương nhân nước ngoài phải hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên Đây là đặc điểm cơ bản của thương nhân nước ngoài do thương nhân nước ngoài hoạt động nhân danh chính mình và tự do trong việc hoạt động thương mại, không bị phụ thuộc bởi bất cứ chủ thể nào khác Bên cạnh đó, hoạt động thường xuyên thể hiện rõ việc tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại như một nghề nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận cho chính bản thân mình
Thứ hai, về quốc tịch, thương nhân nước ngoài được xác định quốc tịch
dựa trên pháp luật của nơi đăng ký kinh doanh hoặc pháp luật nơi công nhận
Đây là tiêu chí để phân biệt giữa thương nhân nước ngoài và thương nhân Việt Nam.Với các thương nhân được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận thì mới được coi là đủ điều kiện trở thành thương nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó, các chủ thể nước ngoài đến thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh tại Việt Nam, theo pháp luật Việt Nam thì vẫn được coi là thương nhân Việt Nam Trong thực tế, có rất nhiều chủ thể nước ngoài đến thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam nên việc xác định quốc tịch dựa trên pháp luật của nơi đăng ký kinh doanh hoặc nơi công nhận là quy chế phù hợp với sự phát triển và mở rộng thị trường, thu
Trang 17hút đầu tư đối với các chủ thể nước ngoài muốn hoạt động thương mại tại Việt Nam Điều này có thể dẫn đếnkhả năng xảy ra tình trạng nhầm lẫn, áp dụng sai chính sách ưu tiên, khuyến khích hoạt động và đãi ngộ quốc gia đối với các thương nhân nước ngoài và thương nhân trong nước hoạt động thương mại tại Việt Nam4
Thứ ba, thương nhân nước ngoài có nhiều hình thức hiện diện thương
mại tại nước sở tại
Khác với thương nhân Việt Nam, thương nhân nước ngoài có nhiều sự lựa chọn hơn về mặt hình thức hoạt động trong hoạt động thương mại do mục đích chính của thương nhân nước ngoài là mở rộng thị trường ra thế giới và trụ sở chính nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam nên cần thiết lập một hiện diện thương mại tại các quốc gia mà mình muốn quảng bá thương hiệu, xúc tiến thương mại hoặc thực hiện dự án đầu tư5
Vì vậy, thương nhân nước ngoài được mở rộng hơn về hình thức hoạt động thương mại, có thể lựa chọn các hình thức như mở các Chi nhánh, Văn phòng đại diệnvà thành lập các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để tham gia hoạt động thương mại trực tiếp tại thị trường Việt Nam
4
Trần Thị Hồng Nhung (2006), Các quy định về thương nhân theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005,
Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.42
5 Huỳnh Phan Thiên Phúc (2005), Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.10
Trang 181.2 Pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
1.2.1 Quy định pháp luật về các hình thức hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Hiện nay, quá trình tìm hiểu, tham gia thị trường của thương nhân nước ngoài khi hoạt động thương mại tại Việt Nam có thể chia làm ba hình thức và được pháp luật Việt Nam công nhận6
là:
Đặt Văn phòng đại diện tại Việt Nam;
Đặt Chi nhánh tại Việt Nam;
Thành lập tại Việt Nam doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật Việt Nam quy định
Cả ba hình thức này đều có đặc điểm chung là do thương nhân nước ngoài thành lập với mục đích giúp thương nhân nước ngoài mở rộng thị trường, phát triển mạng lưới hoạt động nhằm tạo ra nguồn thu, lợi nhuận cho bản thân., tùy theo mục đích hoạt động thương mại ở thị trường Việt Nam mà thương nhân nước ngoài có thể lựa chọn một trong các hình thức hoạt động nêu trên để hoạt động theo đúng nhu cầu và mong muốn của mình
Để tạo điều kiện tốt nhất cho các thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam, pháp luật Việt Nam đã có những quy định pháp luật
cụ thể nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật liên quan đến các hình thức hoạt động thương mại trên để giúp cho các thương nhân nước ngoài có nhiều
cơ hội để lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp nhất với điều kiện thực tế cũng như khả năng tài chính, nhu cầu tiếp cận và tìm hiểu thị trường khi tham gia đầu tư, hoạt động thương mại tại Việt Nam Đồng thời, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể đặt ra các cơ chế quản lý phù hợp nhằm kiểm tra,
6
Khoản 2 Điều 16 Luật Thương mại 2005
Trang 19kiểm soát tình hình hoạt động thương mại tại Việt Nam của các thương nhân nước ngoài, tránh việc gây tổn hại đến nền kinh tế cũng như tạo điều kiện tối
đa bằng việc đưa ra các chính sách nhằm thu hút đầu tư, thể hiện rõ tính minh bạch của pháp luật Việt Nam
1.2.1.1 Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài
Văn phòng đại diện là một hình thức hoạt động thương mại tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài và được pháp luật Việt Nam công nhận Văn phòng đại diện là đơn vị do thương nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam có chức năng chính là mở rộng quy mô hoạt động, tìm hiểu thị trường và quảng bá thương hiệu của thương nhân nước ngoài đối với thị trường trong nước Thành lập Văn phòng đại diện có thể coi như là bước mở đầu để một thương nhân nước ngoài xác định tiềm năng của thị trường và lên kế hoạch
mở rộng quy mô hoạt động sau này
Hình thức Văn phòng đại diện chỉ mang tính chất tìm hiểu thị trường nên Văn phòng đại diện thường có quy mô nhỏ, hoạt động thương mại bị hạn chế, không được hoạt động sinh lợi trên thị trường và phụ thuộc vào thương nhân nước ngoài dựa trên thỏa thuận đã có Thương nhân nước ngoài phải được cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện dựa trên những điều kiện nhất định theo pháp luật Việt Nam
Nhận định được tầm quan trọng của Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài khi hoạt động thương mại tại Việt Nam, Luật Thương mại
2005 đã đưa ra khái niệm: “Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài
tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép” 7
7
Khoản 6 Điều 3 Luật Thương mại 2005
Trang 20Do Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc, không có sự độc lập, phụ thuộc về tài chính và hoạt động trong phạm vi được ủy quyền của thương nhân nước ngoài nên Văn phòng đại diện hoàn toàn không có tư cách pháp nhân, là đại diện theo ủy quyền của thương nhân nước ngoài và có quyền và nghĩa vụ bị hạn chế, chỉ được hoạt động thương mại trong một phạm vi nhất định dựa trên thỏa thuận ủy quyền của thương nhân nước ngoài đó Vì vậy, thương nhân nước ngoài phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động thương mại của Văn phòng đại diện
1.2.1.2 Chi nhánh của thương nhân nước ngoài
Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là một hình thức hoạt động thương mại tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài và được
pháp luật Việt Nam công nhận Luật Thương mại 2005 đã quy định “Chi
nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài được thành lập và hoạt động thương mại tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”8
Hình thức Chi nhánh được thành lập với mục đích hoạt động vì mục đích sinh lợi trực tiếp tại thị trường Việt Nam nên phạm vi hoạt động của Chi nhánh được mở rộng rất nhiều so với Văn phòng đại diện, tuy nhiên, cũng giống như Văn phòng đại diện, Chi nhánh vẫn là đơn vị phụ thuộc vào thương nhân nước ngoài dựa trên thỏa thuận đã có Thương nhân nước ngoài cũng cần phải được cấp Giấy phép thành lập Chi nhánh dựa trên những điều kiện nhất định theo pháp luật Việt Nam Tuy Chi nhánh của thương nhân nước ngoài không có tư cách pháp nhân nhưng khác với Văn phòng đại diện chỉ có chức năng giới hạn chủ yếu là thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác cho thương nhân, Chi nhánh được
8
Khoản 7 Điều 3 Luật Thương mại 2005
Trang 21quyền hoạt động kinh doanh sinh lời theo các quy định pháp luật9 như: giao kết hợp đồng tại Việt Nam, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại khác phù hợp với quy định pháp luật10
Vì Chi nhánh của thương nhân nước ngoài có quyền tiến hành các hoạt động thương mại, kinh doanh sinh lời tại thị trường Việt Nam nên để bảo đảm cho việc cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chi nhánh cũng như thể hiện rõ chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài thì hoạt động thương mại của Chi nhánh thương nhân nước ngoài phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà Việt Nam là thành viên
1.2.1.3 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một hình thức hoạt động thương mại tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài được pháp luật Việt Nam công nhận Luật Thương mại 2005 đã quy định thương nhân nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật Việt Nam công nhận11 Khái niệm của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được quy định trong Luật Đầu tư 2014,
theo đó, “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà
đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông” 12
Bên cạnh các quy định
pháp luật của Việt Nam, các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là
cơ sở để Việt Nam xây dựng và điều chỉnh khung pháp lý phù hợp nhằm tạo điều kiện cho thương nhân nước ngoài đến thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam để hoạt động kinh doanh thương mại nên Doanh nghiệp có vốn đầu tư
9Huỳnh Phan Thiên Phúc (2005), Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.12
10 Điều 19 Luật Thương mại 2005
11 Khoản 2 Điều 16 Luật Thương mại 2005
12 Khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư 2014
Trang 22nước ngoài cũng chịu sự điều chỉnh của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Hình thức Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác với Văn phòng đại diện và Chi nhánh Với đặc điểm là đơn vị độc lập và được góp vốn thành lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật Việt Nam và được coi như thương nhân Việt Nam, hình thức Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tự do hoạt động thương mại theo pháp luật Việt Nam và được hưởng các quyền lợi như thương nhân Việt Nam
Theo khái niệm tại Luật Đầu tư 2014, có thể hiểu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một loại hình tổ chức kinh tế, trong đó có một hoặc nhiều chủ thể nước ngoài và trong nước cùng nhau góp vốn, quản lý, hoạt động kinh doanh thương mại vì mục tiêu lợi nhuận Tùy theo cách thức góp vốn và phạm vi chịu trách nhiệm đối với hoạt động của doanh nghiệp mà thương nhân nước ngoài có thể thành lập theo pháp luật Việt Nam các hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp
2014
Khác với Chi nhánh và Văn phòng đại diện, Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài có tư cách pháp nhân, thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì được coi như thương nhân Việt Nam13 và được hưởng các quyền, nghĩa vụ, chính sách áp dụng như thương nhân Việt Nam khi hoạt động thương mại trên thị trường
Với việc quy định hình thức hoạt động thương mại là thành lập Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này trong Luật Thương mại 2005, các cơ
13
Khoản 4 Điều 16 Luật Thương mại 2005
Trang 23quan nhà nước có thẩm quyền có thể tạo cơ sở cho các quy định chặt chẽ hơn liên quan đến việc quản lý nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế14
Trong đó,về mặt quản lý chung, Chính phủ là cơ quan thống nhất quản
lý việc cho phép thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam Bên cạnh đó, việc quản lý hoạt động, cho phép thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có sự phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Thương mại
(nay là Bộ Công Thương) Cụ thể, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chịu
trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép cho thương nhân
nước ngoài đầu tư vào Việt Nam; Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước
Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép thành lập Văn phòng đại diện, thành lập Chi nhánh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam trong trường hợp thương nhân nước ngoài chuyên thực hiện các
hoạt động thương mại liên quan đến mua bán hàng hóa Ngoài ra, Bộ, cơ
quan ngang Bộ cũng có thẩm quyền chịu trách nhiệm trước Chính phủ cấp
giấy phép cho thương nhân nước ngoài trong trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định15
Trang 24Các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thương mại 2005 cũng đã quy định, thẩm quyền cho phép thương nhân nước ngoài với từng hình thức hoạt động thương mại có sự phân chia để để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của thương nhân nước ngoài trên địa bàn Cụ thể như sau:
- Đối với hình thức Văn phòng đại diện, thẩm quyền cấp Giấy phép thành lập
Văn phòng đại diện thuộc về Sở Công thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu
công nghệ cao nơi thương nhân dự kiến đặt trụ sở Văn phòng đại diện16
- Đối với hình thức Chi nhánh, thẩm quyền cấp Giấy phép thành lập Chi
nhánh thuộc về Bộ Công Thương trong trường hợp việc thành lập Chi nhánh
chưa được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành17
- Đối với hình thức Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Cơ quan đăng ký
kinh doanh ở cấp tỉnh là Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và
Trang 25Thứ nhất, đối với hình thức Văn phòng đại diện, thương nhân nước
ngoài cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ19 bao gồm: Đơn đề nghị cấp Giấy phép Văn phòng đại diện, Bản sao Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương, Văn bản cử/bổ nhiệm người đứng đầu Văn phòng đại diện, Văn bản chứng minh tình hình tài chính, Bản sao hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân của người đứng đầu Văn phòng đại diện, Tài liệu về địa điểm dự kiến đặt trụ sở
Sau đó, thương nhân nước ngoài cần nộp hồ sơ trực tiếp hoặc chuyển
qua đường bưu điện đến Sở Công thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu
công nghệ cao nơi thương nhân dự kiến đặt trụ sở Văn phòng đại diện Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cơ quan tiếp nhận hồ
sơ sẽ kiểm tra và yêu cầu bổ sung hồ sơ nếu cần thiết Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ tiến hành cấp hoặc không cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện và phải gửi văn bản phản hồi ghi rõ lý do trong trường hợp không cấp Giấy phép
Đối với trường hợp thương nhân nước ngoài có nội dung hoạt động của Văn phòng đại diện không phù hợp với cam kết của Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài không thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên hoặc văn bản pháp luật chuyên ngành chưa có quy định, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải gửi văn bản lấy ý kiến của Bộ quản lý chuyên ngành trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp
lệ Sau đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Bộ quản lý chuyên ngành phải có văn bản trả lời về việc đồng ý hay không đồng ý cấp phép Sau khi nhận được
ý kiến phản hồi từ Bộ quản lý chuyên ngành, trong thời hạn 05 ngày làm việc,
Cơ quan tiếp nhận hồ sơ tiến hành cấp hoặc không cấp Giấy phép thành lập
19 Điều 10 Nghị định 07/2016/NĐ-CP về Quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Trang 26Văn phòng đại diện và phải gửi văn bản phản hồi ghi rõ lý do trong trường hợp không cấp Giấy phép20
Thứ hai, đối với hình thức Chi nhánh, thương nhân nước ngoài phải
chuẩn bị đầy đủ hồ sơ21giống như hình thức Văn phòng đại diện và phải bổ sung thêm bản sao Điều lệ hoạt động của Chi nhánh
Sau đó, thương nhân nước ngoài cần nộp hồ sơ trực tiếp hoặc chuyển
qua đường bưu điện đến Bộ Công Thương Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ kiểm tra và yêu cầu
bổ sung hồ sơ nếu cần thiết Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ tiến hành cấp hoặc không cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện và phải gửi văn bản phản hồi ghi rõ
lý do trong trường hợp không cấp Giấy phép
Đối với trường hợp thương nhân nước ngoài có nội dung hoạt động của Văn phòng đại diện không phù hợp với cam kết của Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài không thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải gửi văn bản lấy ý kiến của Bộ quản lý chuyên ngành trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Sau đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Bộ quản lý chuyên ngành phải có văn bản trả lời về việc đồng ý hay không đồng ý cấp phép Sau khi nhận được ý kiến phản hồi từ Bộ quản lý chuyên ngành, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ tiến hành cấp hoặc không cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện và phải gửi văn bản phản hồi ghi
rõ lý do trong trường hợp không cấp Giấy phép22
Trang 27Thứ ba, đối với hình thức Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
khác với Văn phòng đại diện và Chi nhánh, thương nhân nước ngoài phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư 2014 và Luật Doanh nghiệp 2014 và chia làm các bước cơ bản sau23
:
- Bước 1: Thương nhân nước ngoài xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Theo Luật Đầu tư 201424, trường hợp nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bao gồm:
Dự án tư của nhà đầu tư nước ngoài;
Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế sau:
Có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có
đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh
tế là công ty hợp danh;
Có tổ chức kinh tế nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên;
Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên
Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư25chuyển lên Cơ quan đăng
ký đầu tư theo Mục 1.2.2 bao gồm:
Văn bản đề nghị thực hiện dự án đầu tư;
Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân; bản sao Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư là tổ chức;
23 “Thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, tại địa chỉ cong-ty/tu-van-thanh-lap-cong-ty-tai-nuoc-ngoai/tu-van-thanh-lap-cong-ty-tai-viet-nam/thanh-lap-cong-ty- co-von-dau-tu-nuoc-ngoai-tai-viet-nam , truy cập ngày 12/08/2018
https://globallinks.asia/vi/thanh-lap-24 Điều 23, Điều 36 Luật Đầu tư 2014
25
Điều 33 Luật Đầu tư 2014
Trang 28 Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các nội dung: nhà đầu tư thực hiện dự
án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của
dự án;
Bản sao một trong các tài liệu sau: báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư; cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ; cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính; bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư; tài liệu thuyết minh năng lực tài chính của nhà đầu tư;
Đề xuất nhu cầu sử dụng đất; trường hợp dự án không đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì nộp bản sao thỏa thuận thuê địa điểm hoặc tài liệu khác xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án đầu tư;
Giải trình về sử dụng công nghệ đối với dự án quy định tại điểm b khoản 1 Điều 32 của Luật này gồm các nội dung: tên công nghệ, xuất
xứ công nghệ, sơ đồ quy trình công nghệ; thông số kỹ thuật chính, tình trạng sử dụng của máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ chính;
Hợp đồng BCC đối với dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC
Về mặt thời gian:
Đối với dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư sẽ
có 15 đến 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ
Đối với dự án đầu tư thuộc diễn quyết định chủ trương đầu tư: 05 đến
10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư
- Bước 2: Thương nhân nước ngoài thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp, xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh
Trang 29Hồ sơ thành lập doanh nghiệp bao gồm26:
Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp;
Điều lệ Doanh nghiệp;
Danh sách thành viên đối với Công ty TNHH, Danh sách cổ đông đối với Công ty Cổ phần;
Bản sao hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dânhoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của thành viên, cổ đông là
cá nhân;
Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức và văn bản ủy quyền; hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dânhoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo ủy quyền của thành viên là
tổ chức;
Đối với thành viên là tổ chức nước ngoài thì phải có bản sao Giấy chứng nhân đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu tương đương phải được hợp pháp hóa lãnh sự;
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư
Về mặt thời gian: 03 ngày làm việc kể từ nhận đủ hồ sơ hợp lệ
- Bước 3: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiến hành các thủ tục công khai thông tin trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, khắc dấu và công bố mẫu dấu
1.2.4 Quyền và nghĩa vụ của thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
Thương nhân nước ngoài phải tuân thủ các quy định pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ khi thực hiện hoạt động thương mại tại Việt Nam
26
Điều 22, Điều 23 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 30Các quyền và nghĩa vụ này đã được quy định cụ thể trong Luật Thương mại
2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành với từng hình thức hoạt động thương mại là Văn phòng đại diện, Chi nhánh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Thương nhân nước ngoài có các quyền cơ bản sau: Hoạt động thương
mại phù hợp với Giấy phép thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam
và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động thương mại; Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc theo quy định của pháp luật Việt Nam; Mở tài khoản bằng đồng Việt Nam,ngoại tệ tại ngân
hàng được phép hoạt động tại Việt Nam; Có con dấu mang tên Văn phòng
đại diện, Chi nhánh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định
của pháp luật Việt Nam; Giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội
dung hoạt động quy định trong Giấy phép thành lập đối với Chi nhánh và
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài
theo quy định của pháp luật Việt Nam đối với Chi nhánh và Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài; Quyền phân phối bán hàng hóa, quyền xuất nhập
khẩuđối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các quyền khác theo
quy định của pháp luật 27
Bên cạnh các quyền được quy định theo pháp luật Việt Nam, thương nhân nước ngoài có các nghĩa vụ cơ bản sau:
Đối với Văn phòng đại diện: Không được thực hiện hoạt động sinh lợi
trực tiếp tại Việt Nam; Chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi mà Luật này cho phép; Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết của thương nhân nước ngoài, trừ trường
27 Điều 17, Điều 19, Điều 21 Luật Thương mại 2005; Điều 5 Nghị định 09/2018/NĐ-CP về Quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Trang 31hợp Trưởng Văn phòng đại diện có giấy uỷ quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài hoặc các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 17 của Luật này; Nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam; Báo cáo hoạt động của Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam; Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật 28
Đối với Chi nhánh và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:
Thực hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật Việt Nam; Báo cáo hoạt động, cung cấp tài liệu, hoặc giải trình những vấn đề có liên quan theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam; Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật 29
1.2.5 Chấm dứt hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Cũng giống như thương nhân Việt Nam, thương nhân nước ngoài khi không tiếp tục hoạt động thương mại hoặc không được phép tiếp tục hoạt động thương mại tại Việt Nam thì phải thực hiện việc chấm dứt hoạt động thương mại Việc chấm dứt hoạt động của thương nhân nước ngoài phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về quy trình, thủ tục và thực hiện các nghĩa vụ liên quan khi tiến hành ngừng hoạt động thương mại
1.2.5.1 Các trường hợp chấm dứt hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Theo quy định của Luật Thương mại 2005và Nghị định
07/2016/NĐ-CP, các trường hợp chấm dứt hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam bao gồm các nguyên nhân chính sau:
28 Điều 18 Luật Thương mại 2005
29 Điều 20 Luật Thương mại 2005, Điều 40 Nghị định 08/2018/NĐ-CP về sửa đổi Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Công Thương
Trang 32Thứ nhất, thương nhân nước ngoài có đề nghị đến cơ quan nhà nước có
thẩm quyền về việc chấm dứt hoạt động hoặc không đề nghị gia hạn thời gian hoạt động ghi trong giấy phép Đây là trường hợp thương nhân nước ngoài chủ động chấm dứt hoạt động và hoàn toàn xảy ra do ý chí của thương nhân
đó Vì vậy, khi hết thời hạn hoạt động, thương nhân nước ngoài sẽ chủ động ngừng hoạt động thương mại trên thị trường Việt Nam30
Thứ hai, thương nhân nước ngoài không còn đáp ứng được yêu cầu đối
với việc cấp Giấy phép thành lập, hoạt động hoặc vi phạm pháp luật hoặc không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng ý gia hạn giấy phép thành lập Đối với trường hợp này, thương nhân nước ngoài bắt buộc phải chấm dứt hoạt động theo quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
do vi phạm các điều kiện để hoạt động thương mại ở Việt Nam31
Thứ ba, thương nhân nước ngoài bị tuyên bố phá sản Sau khi tuyên bố
phá sản, thương nhân nước ngoài phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính để xử
lý các khoản nợ bằng cách xử lý tài sản và phải đưa ra được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong một thời hạn cam kết cụ thể32
Thứ tư, thương nhân nước ngoài chấm dứt hoạt động theo quy định của
pháp luật nước ngoài nơi thương nhân đó thành lập hoặc đăng ký kinh doanh đối với hình thức Văn phòng đại diện, Chi nhánh Do Văn phòng đại diện, Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc và không có tư cách pháp nhân nên hoạt động của Văn phòng đại diện và Chi nhánh hoàn toàn phụ thuộc vào thương nhân nước ngoài Vì vậy, khi thương nhân nước ngoài chấm dứt hoạt động, Văn
30 Điểm a, Điểm b Điều 23 Luật Thương mại 2005; Khoản 1, Khoản 3 Điều 35 Nghị định 07/2016/NĐ-CPvề Quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
31
Điểm c Khoản 1 Điều 23 Luật Thương mại 2005; Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6 Điều 35 Nghị định
07/2016/NĐ-CPvề Quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
32 Điểm d Khoản 1 Điều 23 Luật Thương mại 2005
Trang 33phòng đại diện và Chi nhánh tại Việt Nam cũng phải chấm dứt hoạt động thương mại tại Việt Nam33
Đối với hình thức Văn phòng đại diện và Chi nhánh, thương nhân
nước ngoài phải nộp hồ sơ chấm dứt hoạt động Văn phòng đại diện, Chi nhánh trực tiếp, qua đường bưu điện hoặc trực tuyến tới Cơ quan cấp giấy
phép Hồ sơ bao gồm các giấy tờ cơ bản sau: Thông báo về việc chấm dứt
hoạt động do đại diện có thẩm quyền của thương nhân nước ngoài ký; Bản sao văn bản của Cơ quan cấp giấy phép không gia hạn Giấy phép thành lập hoặc bản sao Quyết định thu hồi Giấy phép thành lập; Danh sách chủ nợ và
số nợ cần thanh toán; Danh sách người lao động và quyền lợi tương ứng; Bản chính Giấy phép thành lập34 Cơ quan cấp giấy phép sẽ kiểm tra và yêu cầu bổ sung nếu hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ trong vòng 03 ngày làm việc Sau
đó, trong vòng 05 ngày làm việc, Cơ quan cấp giấy phép có trách nhiệm công
bố trên trang thông tin điện tử của mình về việc chấm dứt hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh35
Bên cạnh đó, Văn phòng đại diện và Chi nhánh cũng phải có nghĩa vụ niêm yết công khai về việc chấm dứt hoạt động tại trụ
sở Văn phòng đại diện, Chi nhánh36
Trang 34Đối với hình thức Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thương
nhân nước ngoài sẽ thực hiện trình tự, thủ tục giải thể theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 Cụ thể, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải thông qua Quyết định giải thể và gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, Cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp và đăng lên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, đồng thời niêm yết công khai tại trụ sở chính trong thời hạn 07 ngày làm việc Sau đó, Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo tình trạng doanh nghiệp lên Cổng thông tin quốc gia về đăng
ký doanh nghiệp kèm quyết định giải thể và phương án giải quyết nợ Sau 180 ngày kể từ ngày nhận Quyết định giải thể mà không nhận được ý kiến phản hồi hoặc sau 05 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cập nhật tình trạng pháp lý của Doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp37
Sau khi thực hiện đầy đủ các quy trình, thủ tục trên, thương nhân nước ngoài sẽ chính thức chấm dứt hoạt động thương mại tại Việt Nam Việc quy định quy trình, thủ tục chấm dứt hoạt động thương mại tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài là cần thiết và giúp cho các cơ quan nhà nước xác định thương nhân nước ngoài nào đã chấm dứt hoạt động trên thực tế, kiểm soát hoạt động của thương nhân nước ngoài trên thị trường và xác định các nghĩa vụ của thương nhân nước ngoài phải thực hiện sau khi tiến hành chấm dứt hoạt động thương mại trên thị trường Việt Nam
1.2.5.3 Nghĩa vụ của thương nhân nước ngoài khi chấm dứt hoạt động thương mại tại Việt Nam
Khi chấm dứt hoạt động thương mại tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài phải thực hiện các nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ và các nghĩa vụ khác với Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan như thực hiện hợp đồng, nợ
37 Điều 202 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 35thuế, giải quyết quyền lợi hợp pháp cho người lao động38 Bởi lẽ, khi chấm dứt hoạt động thương mại tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài có thể vẫn còn các khoản nợ đối với các chủ thể khác khi tiến hành hoạt động thương mại trên thị trường; Chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam; Người lao động của thương nhân nước ngoài bị mất việc làm…
Do vậy, khi chấm dứt hoạt động thương mại tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài phải có nghĩa vụ giải quyết các vấn đề trên bằng cách thanh toán toàn bộ các khoản nợ với các chủ thể bên ngoài, nộp và thực hiện đầy đủ các quy định về thuế theo pháp luật Việt Nam và giải quyết vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, có các chính sách hỗ trợ theo quy định của
Bộ luật Lao động 2012 Trường hợp thương nhân nước ngoài không thực hiện được các nghĩa vụ trên thì hoàn toàn phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam
Kết luận Chương 1
Trong Chương 1, Luận văn đã trình bày một cách tổng quan những quy định pháp luật liên quan đến hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài trong Luật Thương mại 2005, Luật Đầu tư 2014, Luật Doanh nghiệp
2014 Trong đó bao gồm khái niệm, đặc điểm của thương nhân nước ngoài, các hình thức hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, thẩm quyền cấp phép và thủ tục cấp phép cho thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam, các quyền và nghĩa vụ của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam và thủ tục chấm dứt hoạt động thươmg mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam Tuy hệ thống quy định pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam đã có nhiều Nghị định hướng
38 Khoản 2 Điều 23 Luật Thương mại 2005; Khoản 2 Điều 38 Nghị định 07/2016/NĐ-CP về Quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Trang 36dẫn thi hành tại thời điểm hiện tại, thay thế những quy định cũ và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay nhưng bên cạnh những điểm tích cực trên, thực tiễn áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế, bất cập cần phải thay đổi Trong phạm vi Chương 2, Luận văn sẽ đề cập đến thực tiễn áp dụng pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
Trang 37CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG NHÂN NƯỚC
NGOÀI HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về cấp phép thành lập, hoạt động, quyền và nghĩa vụ, chấm dứt hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Sau hơn 10 năm gia nhập WTO (2007-2018), nền kinh tế Việt Nam đã
có những bước tiến vượt bậc với tốc độ tăng trưởng bình quân là 6,29%/năm
Từ một quốc gia nghèo với GDP đầu người là 100USD năm 1989, Việt Nam
đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình với GDP đầu người là 2.400USD Thay đổi rõ rệt nhất kể từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng mạnh Theo đó, năm 2006, Việt Nam chỉ thu hút được 10 tỷ USD vốn FDI, nhưng đến năm 2007 đã lên tới 21,3 tỷ USD và đạt 64 tỷ USD vào năm 200839, đến năm 2017, vốn FDI đã đạt được 36 tỷ USD40
Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia vào hàng loạt các hiệp định song phương, đa phương với các quốc gia trên thế giới như Việt Nam – EU (EVFTA), Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)… và mới đây nhất là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)41
Như vậy, các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam được ban hành đã phát huy được hiệu quả rõ rệt Với việc quy định các quy trình, thủ tục về thành lập, hoạt động và chấm dứt hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam một
Trang 38http://trungtamwto.vn/tin-cách có hệ thống, chi tiết, dễ tiếp cận và bộ máy Cơ quan quản lý Nhà nước
có đầy đủ thẩm quyền và năng lực, thương nhân nước ngoài hiện nay đã có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận, tìm hiểu thị trường, tiến hành các hoạt động kinh doanh thương mại theo các hình thức Văn phòng đại diện, Chi nhánh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo đúng quy định pháp luật
2.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về cấp phép thành lập thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Với việc Luật Thương mại 2005 quy định trách nhiệm của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư là cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc
cấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo quy
định của pháp luật Việt Nam và trách nhiệm của Bộ Công Thương là cơ quan
trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép thành lập các loại hình thức hoạt động thương mại, thẩm quyền cấp phép thành lập các hình thức hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài đã được tập trung vào các Cơ quan chuyên trách là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương Đồng thời, hệ thống cơ quan của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Công Thương được chuyên môn hóa từ Trung ương đến địa phương đã giúp cho việc cấp phép thành lập được kiểm soát chặt chẽ, hỗ trợ thương nhân nước ngoài có nhu cầu hoạt động ở mọi tỉnh thành trên cả nước về mặt trình
tự, thủ tục pháp lý liên quan và trực tiếp thực hiện những chính sách của Nhà nước về tạo điều kiện, thu hút đầu tư của Việt Nam đối với thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam.Thời gian cấp phép thành lập thương nhân nước ngoài cũng đã được quy định rõ ràng tại các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp để rút ngắn thời gian cấp phép thành lập, quy định trách nhiệm đối với các Cơ quan Nhà nước
có liên quan để bảo đảm đúng tiến độ cấp phép cho thương nhân nước ngoài
Trang 39Bên cạnh Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Công Thương, các Bộ, cơ quan
ngang Bộ chuyên ngành cũng có thẩm quyền quản lý đối với việc cấp phép thành lập nếu quy định pháp luật chuyên ngành quy định Quy định này là hoàn toàn hợp lý với thực tiễn vì một số chuyên ngành đặc biệt như lĩnh vực hoạt động của thương nhân nước ngoài có liên quan đến các ngành đặc biệt như lĩnh vực y tế, quốc phòng an ninh, thì cần phải có sự phối hợp giữa nhiều Bộ để đánh giá, xác định tư cách, chuyên môn của thương nhân nước ngoài trong lĩnh vực đó có đủ điều kiện hay không và những tác động đối với kinh tế - xã hội nếu thương nhân nước ngoài hoạt động trong những lĩnh vực đặc biệt
Ví dụ, một Ngân hàng thương mại nước ngoài muốn thành lập Chi nhánh tại Việt Nam thì cần phải áp dụng pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực Ngân hàng như Luật Ngân hàng và các Tổ chức tín dụng; Thông tư số 40/2011/TT-NHNN Quy định về việc cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động Ngân hàng tại Việt Nam Cụ thể, Ngân hàng thương mại nước ngoài phải nộp đầy đủ hồ sơ theo yêu cầu đến Ngân hàng nhà nước để được cấp Giấy phép thành lập Chi nhánh tại Việt Nam
Như vậy, có thể thấy quy định pháp luật của Việt Nam đã tương đối đầy đủ và rõ ràng, tạo được nhiều thuận lợi cho các thương nhân nước ngoài thực hiện các thủ tục đăng ký hoạt động, xin cấp giấy phép thành lập
Hiệu quả của những quy định pháp luật liên quan đến thẩm quyền cấp phép thành lập được thể hiện rõ bằng việc các thương nhân nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam ngày càng phát triển về mặt số lượng cũng như số vốn đầu tư được thống kê trong các báo cáo số liệu Cụ thể, theo số liệu của
Trang 40Bộ Kế hoạch và Đầu tư42, từ đầu năm 2018 đến tháng 05/2018, tổng vốn lũy
kế thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài và Việt Nam đã đạt 6.750 triệu USD, trong đó, cao nhất là tháng 03/2018 với 2.180 triệu USD và gần đây là tháng 05/2018 với 1.650 triệu USD Tổng vốn thực hiện lũy kế trong 05 tháng đầu năm 2018 đã lớn hơn so với cùng kỳ năm 2017 là 6.150 triệu USD Đây là tín hiệu khả quan cho việc phát triển thương mại, đầu tư vào thị trường Việt Nam của thương nhân nước ngoài vào Việt Nam
Cùng với sự phát triển của tổng vốn thực hiện, số liệu về đăng ký cũng đạt kết quả ấn tượng với đăng ký cấp mới là 4.657,37 triệu USD; đăng ký tăng thêm là 2.492,68 triệu USD và góp vốn, mua cổ phần là 2.750,13 triệu USD Đặc biệt, tháng 04 và tháng 05/2018 có vốn đăng ký cấp mới cao nhất
từ đầu năm 2018 với số liệu lần lượt là 1.432,22 triệu USD và 1.103,53 triệu USD Về tổng số dự án, từ đầu năm 2018 đến tháng 05/2018, tổng dự án cấp mới đã đạt mức 1.076 dự án, tổng dự án tăng thêm đạt 393 lượt dự án và góp vốn mua cổ phần đạt 2.341 dự án
Điều này cho thấy thị trường Việt Nam trong năm 2018 đang có những bước tiến vượt bậc trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhờ có các quy định pháp luật về cấp phép thành lập và Nhà nước cần tiếp tục phát huy những điểm mạnh trên để đưa Việt Nam trở thành thị trường hấp dẫn về thu hút đầu tư nước ngoài
2.1.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Đối với hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật Việt Nam đã quy định các hình thức hoạt động thương mại tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài, bao gồm: Văn phòng đại diện, Chi nhánh, Doanh
42 Cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, (2018), tại địa chỉ
http://www.mpi.gov.vn/Pages/default.aspx , truy cập ngày 12/05/2018;