Do vậy, để doanh nghiệp yên tâm, ổn định sản xuất, kinh doanh, Nhà nước hơn lúc nào hết cần đặc biệt quan tâm đến chính sách về các loại thuế đối với doanh nghiệp để họ có thể yên tâm h
Trang 1NGUYỄN THANH HƯƠNG
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT GIÁ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Định hướng ứng dụng
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THANH HƯƠNG
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT GIÁ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thanh Hương
Trang 4phương pháp nghiên cứu khoa học và góp ý về nội dung của Đề tài luận văn Với sự hướng dẫn tận tâm của Thầy, tôi đã hoàn thiện Luận văn thạc sỹ của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt các thầy cô giáo trong Khoa sau Đại học đã hết lòng chỉ bảo, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường để tôi có thêm những kiến thức chuyên sâu, những kỹ năng nghiên cứu khoa học giúp ích và tạo điều kiện tốt cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Nguyễn Thanh Hương
Trang 5
GTGT MST NNT NSNN SDĐPNN TNDN TTĐB UBND UBTVQH
XNK
Giá trị gia tăng
Mã số thuế Người nộp thuế Ngân sách nhà nước
Sử dụng đất phi nông nghiệp Thu nhập doanh nghiệp Tiêu thụ đặc biệt
Ủy ban nhân dân
Ủy ban thường vụ quốc hội Xuất nhập khẩu
Trang 62 Tình hình nghiên cứu đề tài………
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài………
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn………
5 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài………
6 Phương pháp nghiên cứu………
7 Bố cục của luận văn………
PHẦN NỘI DUNG………
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM……… 5
1.1 Lý luận chung về pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay………
1.2 Lý luận pháp luật về thuế trực thu đối với doanh nghiệp………
1.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp……… 9
1.2.2 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp……… 11
1.3 Lý luận pháp luật về thuế gián thu đối với doanh nghiệp………
1.3.1 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu……… 13
1.3.2 Thuế tiêu thụ đặc biệt……… 16
1.3.3 Thuế giá trị gia tăng……… 18
1.3.4 Thuế bảo vệ môi trường……… 19
1.3.5 Thuế tài nguyên……… 21
Kết luận chương 1………
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ TRỰC THU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM………
2.1 Thực trạng pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam……… 23
2.1.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp……… 23
1
2
2
3
3
3
5
5
5
8
9
11
13
13
16
18
19
21
22
23
23
23
Trang 7với doanh nghiệp……… 32 2.2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp áp
2.2.2 Ưu điểm và những hạn chế, bất cập của pháp luật về thuế sử dụng đất
Kết luận chương 2………
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ GIÁN THU ĐỐI VỚI
3.1 Thực trạng pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với doanh
3.3.1 Nội dung cơ bản của pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh
3.3.2 Ưu điểm và những hạn chế, bất cập của pháp luật thuế giá trị gia tăng
Trang 84.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật thuế đối với doanh nghiệp tại Công ty cổ
phần Vật Giá Việt Nam……… 72
4.1.1 Khái quát về tình hình thực hiện pháp luật thuế tại Công ty cổ phần Vật Giá Việt Nam……… 72
4.1.2 Những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật thuế tại Công ty cổ phần Vật Giá Việt Nam……… 74
4.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam……… 76
Kết luận chương 4……….………
KẾT LUẬN……… ………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………
72
72
74
76
85
86
87
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam được coi là một thành tố quan trọng trong hệ thống pháp luật kinh tế – tài chính Đặc biệt, trong quá trình đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới, vai trò của hệ thống thuế ngày càng trở nên rõ nét và thể hiện rõ chức năng của mình trong quản lý và điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Nhà nước sử dụng công cụ thuế nhằm tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ hiệu quả cho hoạt động của Nhà nước và xã hội Mỗi sắc thuế được ban hành nhằm đáp ứng các mục tiêu riêng và phù hợp với đối tượng mà Nhà nước cần quản lý và điều tiết
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO vào cuối năm
2006 Sự kiện này mang lại nhiều cơ hội và cả những thách thức không nhỏ đối với chúng ta Muốn tận dụng tốt các cơ hội, chúng ta phải nỗ lực ở nhiều vấn đề, trong
đó việc thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào những lĩnh vực, những vùng cần khuyến khích cũng là một vấn đề quan trọng Muốn vậy, chúng ta cần phải có một hệ thống pháp luật về thuế thoả đáng để các nhà đầu tư mạnh dạn bỏ vốn kinh doanh Trong bối cảnh lạm phát tăng cao như hiện nay, chi phí doanh nghiệp phát sinh là rất lớn Do vậy, để doanh nghiệp yên tâm, ổn định sản xuất, kinh doanh, Nhà nước hơn lúc nào hết cần đặc biệt quan tâm đến chính sách
về các loại thuế đối với doanh nghiệp để họ có thể yên tâm hoạt động Chính từ thực
tiễn này, tác giả đã chọn đề tài: “Thực trạng pháp luật về thuế đối với doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thi hành tại Công ty cổ phần Vật Giá
Việt Nam” để nghiên cứu và làm rõ hơn về thực trạng thực thi, áp dụng pháp luật
thuế tại các doanh nghiệp hiện nay, cụ thể là tại Công ty cổ phần Vật Giá Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thuế đối với doanh nghiệp đã được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu trước đây Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đều có xu hướng tập trung vào việc tìm hiểu lý thuyết về thuế hoặc lý luận pháp luật thuế,
Trang 10trong đó có một số vấn đề khá điển hình và mang tính thời sự như: Vấn đề chống chuyển giá, vấn đề ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Đặc biệt, trong thời gian gần đây mặc dù pháp luật về thuế đã có những thay đổi rất đáng kể nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật thuế đối với doanh nghiệp – với tư cách là một luận văn thạc sĩ luật học Vì vậy, luận văn
với đề tài: “Thực trạng pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện
nay và thực tiễn thi hành tại Công ty cổ phần Vật Giá Việt Nam” có thể xem là
một trong những đề tài góp phần làm rõ bức tranh thực tiễn thực hiện pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam thông qua việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về thuế và tìm hiểu thực tiễn quá trình áp dụng pháp luật thuế tại Công ty cổ phần Vật Giá Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là trên cơ sở những vấn đề lý luận
về pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay để đưa ra đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam trên cơ sở khảo sát thực tiễn thực hiện pháp luật thuế tại một doanh nghiệp cụ thể là Công ty cổ phần Vật giá Việt Nam
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về thuế đối với doanh nghiệp
và cơ chế điều chỉnh pháp luật thuế đối với doanh nghiệp;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thuế đối với doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện pháp luật thuế đối với doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp có tính thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế đối với doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là các quy định pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay và thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tại Công ty cổ phần Vật Giá Việt Nam
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào việc nghiên cứu, đánh giá nội
Trang 11dung các quy định của pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp hiện nay và thông qua tình hình áp dụng pháp luật thuế tại Công ty cổ phần Vật Giá Việt Nam để từ đó đưa ra các nhận xét và kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế đối với doanh nghiệp
5 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Để triển khai nghiên cứu đề tài, luận văn phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu có tính khái quát sau đây:
- Bản chất và đặc trưng của thuế áp dụng đối với doanh nghiệp và mô hình pháp luật thuế đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường?
- Thực tiễn thực hiện pháp luật thuế đối với doanh nghiệp và những hạn chế, bất cập của pháp luật thuế đối với doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam từ thực tiễn tại Công ty cổ phần giá Việt Nam?
- Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế đối với doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay?
6 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai thực hiện đề tài, luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu được áp dụng phổ biến trong khoa học xã hội và nhân văn như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, so sánh đối chiếu được sử dụng để làm rõ các vấn đề lý luận về thuế đối với doanh nghiệp và đánh giá thực trạng pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
- Phương pháp thống kê, khảo sát được sử dụng để xử lý các thông tin, số liệu thực tế về quá trình thực hiện pháp luật thuế tại doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần Vật Giá Việt Nam nói riêng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được thiết kế gồm 04 chương như sau:
Chương 1: Lý luận pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế trực thu đối với doanh nghiệp ở Việt Nam
Chương 3: Thực trạng pháp luật về thuế gián thu đối với doanh nghiệp ở Việt
Trang 12Nam
Chương 4: Thực tiễn thực hiện pháp luật thuế đối với doanh nghiệp tại Công
ty Cổ phần Giá Việt Nam và một số kiến nghị
Trang 13PHẦN NỘI DUNG Chương 1
LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM 1.1 Lý luận chung về pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Thuế là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng sức mạnh của nhà nước mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách nhà nước khi có
đủ những điều kiện nhất định Các khoản thu này không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế Đây là quan điểm toàn diện, hệ thống và đầy đủ nhất, thể hiện đúng bản chất của thuế, là cơ sở quan trọng để đi vào phân tích những đặc điểm của thuế Cụ thể, thuế có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, thuế là một phạm trù lịch sử gắn liền với nhà nước (từ phạm vi điều chỉnh đến hình thức thu thuế) bởi vì có sự xuất hiện, tồn tại, phát triển và mất
đi của thuế; mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì có chính sách thuế khác nhau Mọi
sự thay đổi của lịch sử sẽ dẫn đến sự thay đổi về thuế
Thứ hai, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc được đảm bảo thực hiện bởi các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao và sức mạnh cưỡng chế của nhà nước do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành
Thứ ba, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc vì không ai tự nguyện từ
bỏ quyền lợi của mình để nộp thuế cho nhà nước Hơn nữa, để nhà nước tồn tại, nguồn thu từ thuế phải thường xuyên và ổn định Nếu tự nguyện nộp thì không thể thường xuyên và ổn định được Tính bắt buộc được thể hiện dưới khía cạnh là bắt buộc đối với nhà nước, tức thu thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với cán bộ, cơ quan thu thuế Cán bộ cơ quan thu thuế không được quyền lựa chọn đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế,… Đối với người dân thì đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điệu kiện do pháp luật thuế quy định mà không phải quan hệ thanh toán trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng Tính bắt buộc
Trang 14của thuế là một trong những đặc tính quan trọng để phân biệt thuế với các khoản thu khác trên cơ sở tự nguyện hình thành nên ngân sách nhà nước
Thứ tư, thuế được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế hành chính
và cưỡng chế hình sự Hậu quả của việc cưỡng chế này có thể dẫn đến giảm hiệu quả, uy tín trong sản xuất kinh doanh, thậm chí là chấm dứt sự tồn tại của đối tượng
Thứ sáu, thuế có phạm vi tác động rộng bởi hầu như mọi đối tượng hàng hóa dịch vụ (được phép lưu thông và hợp pháp), mọi tổ chức, cá nhân (có tư cách chủ thể) đều chịu sự điều chỉnh của thuế
Căn cứ vào tính chất của từng sắc thuế, thuế được phân thành thuế trực thu
và thuế gián thu
Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp vào đối tượng nộp thuế, người có nghĩa vụ nộp thuế đồng thời là người chịu thuế, người phải trả tiền thuế và trực tiếp nộp thuế vào NSNN Hay nói cách khác là nhà nước đã tiến hành điều tiết một cách trực tiếp một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước Trong hệ thống pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, thuế trực thu tiêu biểu gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Về ưu điểm, chính sách về thuế trực thu công bằng hơn vì nhà nước hiểu rõ
và cá biệt hóa được người chịu thuế, trên cơ sở đó đảm bảo công bằng xã hội hơn cho việc điều tiết thu nhập Căn cứ này cũng là cơ sở để lý giải vì sao các loại thuế trực thu thường có mức thuế suất rất cao nhưng chế độ miễn giảm rất linh hoạt nhằm đảm bảo sự công bằng
Trang 15Về nhược điểm, thuế trực thu khó thu, người nộp thuế có xu hướng trốn thuế
vì họ cảm thấy gánh nặng về thuế khi phải trích một phần lợi ích của chính bản thân mình cho nhà nước Bên cạnh đó, việc theo dõi, quản lý thu thuế này là rất phức tạp, đòi hỏi cán bộ thuế phải có chuyên môn cao, có hệ thống xử lý thông tin liên thông Điều này cũng làm cho chi phí hành thu đối với loại thuế trực thu cũng tăng lên tương đối cao và khó khăn so với thuế gián thu Điều này đôi khi cũng làm cho việc tập trung thu nhập vào ngân sách nhà nước không đáp ứng kịp thời, đầy đủ
Thuế gián thu là loại thuế thu gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ Trong thuế gián thu, đối tượng nộp thuế không phải là người chịu thuế (người gánh chịu thuế là người tiêu dùng) Thuế gián thu không tách biệt ra khỏi giá cả hàng hóa
và dịch vụ mà nó cấu thành trong giá cả hàng hoá dịch vụ, làm cho người tiêu dùng lầm tưởng đó là giá mà họ trả để có được hàng hoá dịch vụ đó Trong thuế gián thu, đối tượng nộp thuế và người chịu thuế là khác nhau Thông thường, người chịu thuế chính là người tiêu dùng Trong một số trường hợp đặc biệt, đối tượng nộp thuế và người chịu thuế là một Ví dụ: Doanh nghiệp A nhập khẩu máy lạnh về để trang bị cho hệ thống văn phòng của mình Trong trường hợp này, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu là thuế gián thu nhưng chính doanh nghiệp A là người chịu thuế đồng thời là người nộp thuế Các loại thuế gián thu đối với doanh nghiệp tiêu biểu gồm: Thuế Xuất khẩu, nhập khẩu; Thuế Tiêu thụ đặc biệt; Thuế Giá trị gia tăng; Thuế bảo vệ môi trường; Thuế tài nguyên
Về ưu điểm, thuế gián thu dễ thu bởi vì đối tượng nộp thuế không phải là người chịu thuế (không có cảm giác gánh nặng về thuế)
Về nhược điểm, tỷ trọng tiền thuế gián thu trên thu nhập của người nghèo lại cao hơn tỷ trọng tiền thuế gián thu trên thu nhập của người giàu Đây là tính không công bằng của thuế gián thu Nhà nước không cá biệt hóa được người chịu thuế nên khó khăn trong việc thực hiện chính sách miễn giảm về thuế
Hệ thống pháp luật thuế đối với doanh nghiệp có những vai trò cơ bản như sau:
Trang 16Thứ nhất, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Thuế là một trong 3 nguồn thu chủ yếu và thường xuyên trong Ngân sách nhà nước, chiếm trên 90% tổng nguồn thu Ngân sách nhà nước Nhà nước quan tâm khi ban hành một sắc thuế thì
sẽ bổ sung bao nhiêu phần trăm cho nguồn thu ngân sách nhà nước, chi phí hành thu như thế nào Để thực hiện tốt vai trò này, cần phải đáp ứng những yêu cầu sau: Cần phải đảm bảo rằng các văn bản qui phạm pháp luật thuế đồng bộ, thống nhất và khoa học để có thể dễ dàng trong việc áp dụng thuế; thuế đưa ra phải bao quát hầu hết mọi hoạt động từ sản xuất kinh doanh, chế biến, sửa chữa, khai thác, xây dựng đến dịch vụ, từ nguồn thu nhập thường xuyên đến không thường xuyên, những hoạt động tiêu dùng của xã hội; Việc thu thuế cần phải đảm bảo việc nuôi dưỡng nguồn thu; bên cạnh đó, việc thu thuế phải đảm bảo tính công bằng Thuế là sản phẩm, là công cụ pháp lý giúp nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Thuế tạo nguồn thu để phục vụ nhu cầu đầu tư của đất nước Thuế là công cụ điều tiết giá cả thị trường, chống lạm phát hoặc giảm phát Thuế góp phần điều tiết và hướng dẫn tiêu dùng: để hạn chế tiêu dùng các sản phẩm và sử dụng các dịch vụ không cần thiêt, nhà nước đánh thuế rất cao và ngược lại Thuế được coi là công cụ quan trong để bảo vệ nền sản xuất trong nước, đồng thời khuyền khích nhà đầu tư đầu tư vào những ngành, những vùng miền nhà nước cần phát triển Thuế là công cụ điều tiết thu nhập và thực hiện công bằng xã hội
Thứ hai, thuế điều tiết thu nhập một cách hợp lý dựa trên thu nhập Các luật thuế được ban hành đều xác nhận động viên một phần thu nhập vào ngân sách nhà nước như một lý do cơ bản để ban hành sắc thuế đó
Thứ ba, thuế tạo công bằng xã hội Điều này được thể hiện ở việc nhà nước
sử dụng nguồn tài chính có được để xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội, thực hiện các chính sách xã hội như: đào tạo nghề cho trẻ em lang thang cơ nhỡ, chăm sóc cho người già không nơi nương tựa, chính sách xã hội đối với gia đình có công với cách mạng, gia đình neo đơn, hay các chương trình xây dựng hệ thống nước ngọt để cung cấp nước cho mùa khô, đào kênh rửa phèn, ngăn mặn…
1.2 Lý luận pháp luật về thuế trực thu đối với doanh nghiệp
Trang 171.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là loại thuế đánh trên thu nhập của các doanh nghiệp để động viên một phần thu nhập của họ vào Ngân sách nhà nước (NSNN) Ngoài ra, nhà nước cũng có thể sử dụng loại thuế này để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
Thuế thu nhập doanh nghiệp (hay còn gọi là thuế thu nhập công ty) xuất hiện lần đầu tên vào năm 1920 tại Hoa Kỳ và Đức, sau đó được phát triển và áp dụng rộng rãi ở các nước Châu Âu từ sau thế chiến thứ hai [1]
Ở các nước, mặc dù tên gọi của loại thuế này có thể khác nhau, chẳng hạn như thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức… nhưng xét về bản chất thì không có sự khác biệt Thực tế cho thấy có quốc gia quy định loại thuế này trong một luật riêng (ví dụ như Việt Nam), trong khi quốc gia khác lại quy định chung cùng với loại thuế trực thu khác như thuế thu nhập cá nhân… trong cùng một đạo luật, gọi là luật thuế thu nhập
Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, thuế TNDN dễ thu hơn so với thuế thu nhập cá nhân Việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp có thể dựa trên hồ sơ đăng ký kinh doanh và số lượng doanh nghiệp bao giờ cũng ít hơn số lượng cá nhân trong quốc gia cho nên dễ quản lý Ở các nước phát triển, thuế TNDN được xem như là một loại thuế thu trước của thuế thu nhập cá nhân Ở các quốc gia này, doanh nghiệp hầu hết là doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần cho nên người chịu thuế thực tế là chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc cổ đông Những người này chỉ nhận được lợi tức từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp đã nộp thuế TNDN cho nhà nước Khoản lợi tức nhận được từ thu nhập của doanh nghiệp sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân Để giảm tình trạng thuế chồng thuế thì các quốc gia có thể cho phép khầu trừ phần thuế TNDN đã đóng hoặc đánh thuế thu nhập cá nhân trên phần lợi tức này ở mức thuế suất thấp
Được xem là loại thuế trực thu nhưng đôi khi đối tượng chịu thuế TNDN có
1 Xem thêm: Viện Khoa học tài chính (Bộ Tài chính), Từ điển thuật ngữ Tài chính – tín dụng, NXB Tài chính, Hà Nội 1996, tr 340 – 341
Trang 18thể chuyển gánh nặng về thuế cho các đối tượng khác Thuế TNDN có thể chuyển cho cổ đông, cho người tiêu dùng hoặc cho cả người lao động trong doanh nghiệp Quá trình tự do hoá hoạt động đầu tư quốc tế và tự do hóa thương mại quốc tế đã làm cho hoạt động của các doanh nghiệp vượt ra khỏi phạm vi biên giới lãnh thổ quốc gia Việc phân định quyền đánh thuế trở nên cần thiết và các quốc gia có xu hướng hợp tác với nhau để phân định quyền đánh thuế và giảm tình trạng trốn thuế
Với tư cách là một loại thuế trực thu điển hình, thuế TNDN là công cụ quan
trọng để Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Nhà nước sử dụng thuế TNDN làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào NSNN được công bằng, hợp lý Mặc khác, các doanh nghiệp thua lỗ trong sản xuất kinh doanh vừa không phải đóng thuế TNDN, vừa có thể được chuyển lỗ sang các năm sau để có cơ hội phục hồi và giảm tình trạng phá sản doanh nghiệp Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của NSNN Phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh thu nhập chịu thuế Một khi nền kinh tế thị trường phát triển, tăng trưởng kinh tế được bảo đảm, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho NSNN thông qua thuế TNDN sẽ ngày càng dồi dào Mặt khác, so với các loại thuế khác, thuế TNDN dễ thu, ít tốn kém chi phí nên hiệu quả thu cũng cao hơn nhiều Ở các nước đang phát triển, tiền thu được từ thuế TNDN nhiều hơn nhiều so với thuế thu nhập cá nhân Còn ở các nước phát triển mặc dù thu từ thuế TNDN ít hơn so với thuế thu nhập cá nhân nhưng thuế TNDN giữ vai trò là loại thuế thu trước của thuế thu nhập cá nhân Thuế TNDN cũng là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền
mà nhà nước ưu tiên khuyến khích phát triển trong từng giai đoạn nhất định
Xét về phương diện lý thuyết, thuế TNDN có những ưu điểm và nhược điểm
Trang 19cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về ưu điểm: Thuế TNDN có ưu điểm quan trọng nhất mà các loại
thuế gián thu không có được, đó chính là tính công bằng trong điều tiết thu nhập của người chịu thuế Điều này thể hiện ở chỗ, thuế thu nhập doanh nghiệp đánh trên phần thu nhập chịu thuế phát sinh từ kinh doanh và từ các hoạt động khác của doanh nghiệp nên về nguyên tắc là chủ thể nào có thu nhập càng cao thì phải nộp thuế càng nhiều và ngược lại Đây chính là nhân tố cốt lõi đảm bảo tính công bằng của thuế thu nhập nói chung và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng Ngoài ra, một
ưu điểm khác nữa của thuế thu nhập doanh nghiệp cần được nhắc đến là: thuế thu nhập doanh nghiệp có tác động trực tiếp đến thái độ của doanh nghiệp tùy thuộc vào mức thuế suất cao hay thấp, do các mức thuế suất này có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người nộp thuế là doanh nghiệp Điều này có nghĩa là, doanh nghiệp sẽ
tự giác nôp thuế nếu mức thuế suất được cho là hợp lý và phù hợp với khả năng chịu thuế của doanh nghiệp Ngược lại, doanh nghiệp sẽ có xu hướng chống lại việc nộp thuế nếu mức thuế suất được cho là quá cao và gây bất lợi cho doanh nghiệp Đặc điểm này là yếu tố để Nhà nước thiết kế chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh một ngành nghề nào đó hoặc hạn chế doanh nghiệp kinh doanh một ngành nghề nào đó theo ý muốn của Nhà nước
Thứ hai, về nhược điểm: Thuế thu nhập doanh nghiệp có nhược điểm lớn
nhất là mục tiêu đánh thuế khá rõ ràng, lộ liễu và người nộp thuế luôn hiểu rõ rằng họ là người bị điều tiết thu nhập nên doanh nghiệp có xu hướng muốn trốn thuế hoặc tránh thuế để đỡ bất lợi Điều này dẫn đến nguy cơ thuế thu nhập doanh nghiệp thường có tỷ lệ trốn lậu cao và thường khó thu hơn so với các loại thuế gián thu Từ
đó, thuế thu nhập doanh nghiệp được coi là loại thuế có chi phí quản lý, hành thu khá tốn kém
1.2.2 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tuy không phải là loại thuế trực thu điển hình nhất (giống như thuế thu nhập doanh nghiệp hay thuế thu nhập cá nhân) nhưng thực tiễn cho thấy nó luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết thị
Trang 20trường bất động sản nói chung và thị trường quyền sử dụng đất nói riêng
Đối với chủ thể kinh doanh như doanh nghiệp, việc tiếp cận với nguồn lực đất đai để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh vốn dĩ là nhu cầu tất yếu và
do đó chủ thể này có thể phải kê khai, nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp – với
tư cách là người sử dụng đất vào hoạt động kinh doanh (phi nông nghiệp)
Kể từ khi Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được Quốc hội khoá XII thông qua tại Kỳ họp thứ 7 ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 cho đến này, việc kê khai, tính thuế và nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với các tổ chức, cá nhân (trong đó có doanh nghiệp) đã phát sinh và bộc
lộ nhiều vấn đề trong thực tiễn áp dụng, cả về mặt ưu điểm cũng như hạn chế, bất cập
Ở mức độ khái quát, có thể cho rằng việc nhà làm luật ban hành Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp nhằm đảm bảo các mục tiêu chủ yếu sau:
(i) Tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần hạn chế đầu cơ về đất và khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh;
(ii) Khắc phục những mặt hạn chế của chính sách thuế nhà, đất hiện hành Nâng cao tính pháp lý của pháp luật về thuế đất trên cơ sở bổ sung mới và kế thừa các quy định còn phù hợp;
(iii) Đơn giản hóa về kỹ thuật tính toán và hành thu, đảm bảo sự rõ ràng, dễ thực hiện, dễ quản lý;
(iv) Tiếp cận với thông lệ quốc tế về thuế đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế;
(v) Động viên hợp lý sự đóng góp của người sử dụng đất, nhất là những đối tượng sử dụng đất vượt hạn mức quy định vào NSNN
Xét về khía cạnh bản chất, nguyên tắc cơ bản nhất chi phối việc ban hành và thực thi Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là “người nào sử dụng nhiều đất thì người đó sẽ phải trả thuế nhiều hơn so người sử dụng diện tích đất ít hơn” Dựa trên nguyên tắc này, số thuế sử dụng đất phải nộp hàng năm sẽ được xác định dựa trên
Trang 21căn cứ là diện tích đất, giá đất và thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) tính trên giá đất Ngoài ra, việc thiết kế, ban hành và thực thi Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp còn hướng đến mục tiêu quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai, tránh tình trạng đầu cơ đất trong nền kinh tế và thông qua đó góp phần minh bạch hóa thị trường bất động sản Dựa trên nguyên tắc này, nhiều quốc gia đã quy định theo hướng áp dụng biểu thuế lũy tiến đối với phần diện tích đất sử dụng vượt hạn mức so với phần diện tích đất sử dụng trong hạn mức quy định
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định những trường hợp sử dụng đất tiết kiệm hơn thì người sử dụng đất sẽ được áp mức thuế thuận lợi hơn Trái lại, cùng là đất phi nông nghiệp nhưng sử dụng không đúng mục đích hoặc chưa sử dụng thì người sử dụng đất sẽ bị áp dụng mức thuế cao hơn Điều này cho thấy rằng mục tiêu quan trọng của thuế suất trong Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp chính là góp phần định hướng các nhà đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh, dự án nhà ở quan tâm đến việc thực hiện đầu tư theo tiến độ
1.3 Lý luận pháp luật về thuế gián thu đối với doanh nghiệp
1.3.1 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Trong xu thế hội nhập quốc tế nước ta đã và đang từng bước hòa mình để phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ đối ngoại Việc buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa nước ta với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới ngày càng đa dạng phong phú Mỗi quốc gia độc lập và có chủ quyền đều sử dụng một loại thuế thu vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới và cửa khẩu của quốc gia mình Thuế đánh vào hàng hóa trong các trường hợp này được gọi chung là thuế quan Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam thì thuế quan được gọi với tên chung là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và là loại thuế độc lập trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam cũng như các nước trên thế giới Đây là loại thuế tương đối đặc biệt bởi
lẽ, ngoài chức năng huy động nguồn thu cho NSNN thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước, điều tiết cán cân thương mại giữa các quốc gia
Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh
Trang 22vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu Thuế xuất khẩu là loại thế đánh vào những mặt hàng mà Nhà nước muốn hạn chế xuất khẩu Như vậy, thuế XNK là loại thuế gián thu đánh vào những mặt hàng được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới, kể cả thị trường trong nước vào khu phi thuế quan
và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước
Xét về phương diện lý thuyết, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hóa được đưa
qua biên giới một quốc gia hoặc đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan
và ngược lại Đây chính là dấu hiệu để phân biệt giữa thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với các loại thuế nội địa khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường…
Thứ hai, thuế XNK là một loại thuế gián thu Nhà nước sử dụng thuế XNK
để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa XNK Vì vậy, thuế XNK là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa XNK; người nộp thuế là người thực hiện hoạt động XNK hàng hóa; người chịu thuế
là người tiêu dùng hàng hóa XNK Nhà nước thu thuế XNK của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hóa XNK
Với ý nghĩa là một loại thuế đặc thù trong trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vai trò và ý nghĩa thiết thực Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa nhưng thuế nhập khẩu đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa với bên ngoài Ngày nay cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến tình trạng của loại thuế này theo hướng hạn chế vai trò của nó ở mỗi quốc gia Song về
cơ bản đây vẫn là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước nhất là đối với những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế
Trang 23hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường như Việt Nam [2]
Vai trò này của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
Một là, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đảm bảo nguồn thu cho NSNN Quản
lý nhà nước đối với thuế XNK nhằm đảm bảo nguồn thu thuế XNK được đầy đủ, chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định cho NSNN Thuế luôn là nguồn thu quan trọng và chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số thu NSNN của hầu hết các quốc gia Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân Nhờ đó, một bộ phận thu nhập của xã hội được tập trung vào NSNN để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, giúp nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Đảm bảo nguồn thu từ thuế XNK là vai trò quan trọng hàng đầu của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nhà nước cần phải tăng thu thuế XNK khẩu bằng mọi giá Một tỉ lệ thu thuế XNK hợp lý và ổn định sẽ vừa kích thích nền kinh tế phát triển, hiệu quả vừa đảm bảo nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Vì vậy, vai trò đảm bảo nguồn thu thuế XNK là một trong những vai trò quan trọng Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, với xu thế hội nhập và cắt giảm thuế quan thì nguồn thu từ thuế XNK ngày càng giảm, vì vậy việc quản lý thuế XNK và đảm bảo nguồn thu là rất khó
Hai là, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vai trò là công cụ để giúp Nhà
nước kiểm soát hàng hóa XNK qua biên giới Kiểm soát hàng hóa XNK là mục tiêu chủ chốt của mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế tự do hóa thương mại trên phạm vi khu vực và thế giới Thông qua việc quản lý thu thuế XNK cơ quan nhà nước sẽ quản lý được số lượng, loại hình hàng hóa thực XNK, từ đó kiểm soát được tất cả hàng hóa xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng để Nhà nước đưa ra chính sách pháp luật phù hợp đối với hoạt động XNK, cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào, cấm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào
2 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NBX Công an nhân dân, Hà Nội
2017
Trang 24Ba là, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có vai trò quan trọng trong việc
bảo hộ sản xuất trong nước Nhà nước sẽ sử dụng công cụ thuế nhập khẩu theo hướng có lợi cho nền kinh tế Thông qua các chính sách đối với hàng hóa XNK, Nhà nước tác động vào giá cả hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa, làm giảm khả năng cạnh tranh đối với hàng hóa được sản xuất trong nước Và để thay thế, người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng hàng hoá trong nước sản xuất Bảo hộ sản xuất trong nước nhằm hỗ trợ nền sản xuất phát triển, tạo công ăn việc làm và nguồn thu nội địa Bảo hộ cũng làm giảm tính cạnh tranh, lãng phí nguồn lực gây thiệt hại cho người tiêu dùng Chính vì vậy việc lựa chọn ngành nghề bảo hộ, thời gian bảo
hộ phù hợp là điều vô cùng quan trọng Tuy nhiên, về lâu dài thì đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế mới là yếu tố quyết định
Bốn là, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vai trò thực hiện các chính sách
đối ngoại của nhà nước trong mối quan hệ bang giao với các quốc gia Đây là một biện pháp quản lý tiến bộ thay vì sử dụng những biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu Trong điều kiện hiện nay, để thực hiện điều chỉnh cơ cấu XNK theo định hướng phát triển kinh tế xã hội thì Nhà nước sẽ sử dụng công cụ thuế quan theo hướng có lợi cho nền kinh tế là một chính sách phù hợp, góp phần cân bằng cán cân thương mại và ổn định được cán cân thanh toán quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với rất nhiều nước và vùng lãnh thổ, tham gia nhiều hiệp định thương mại, là thành viên của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Để xác định mức độ chịu thuế của các hàng hóa khác nhau, mỗi nước đều xây dựng một biểu thuế quan Biểu thuế quan là một bảng tổng hợp quy định một cách có hệ thống các mức thuế quan đánh vào các loại hàng hóa chịu thuế khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu Biểu thuế quan có thể được xây dựng dựa trên phương pháp tự định hoặc phương pháp thương lượng giữa các quốc gia
1.3.2 Thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là loại thuế tiêu dùng được áp dụng phổ biến
Trang 25ở các nước trên thế giới với những tên gọi khác nhau Đối với Việt Nam, tiền thân của thuế TTĐB hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành năm 1951 Luật thuế TTĐB ban hành lần đầu tiên vào năm 1990, ban đầu chỉ nhằm vào 06 mặt hàng: thuốc lá, rượu, bia, pháo, bài lá và vàng mã Kể từ khi ban hành đến nay, Luật thuế TTĐB đã qua nhiều lần bổ sung sửa đổi cho phù hợp với chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển Thuế TTĐB là thuế đánh vào một số hàng hoá và dịch vụ đặc biệt, nhằm điều tiết sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ Việc quy định các hàng hóa, dịch vụ nào thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB tùy thuộc vào chính sách điều tiết của từng nước, xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính sách điều tiết, hướng dẫn sản xuất tiêu dùng của Nhà nước, phong tục và tập quán tiêu dùng của một số loại hàng hóa, dịch vụ trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể Nhìn chung, các hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB thường có các tính chất sau: một số hàng hoá, dịch vụ có giá bán cao; cầu của những hàng hoá này thường kém co giãn so với giá cả; hàng hoá có thể có hại cho sức khoẻ, làm ảnh hưởng không tốt đến môi trường
Thứ nhất, thuế TTĐB có tính chất gián thu Tính chất gián thu của loại thuế
này thể hiện ở chỗ thuế TTĐB đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ chịu thuế TTĐB một cách gián tiếp thông qua giá cả của hàng hoá, dịch vụ
mà người đó tiêu dùng và người sản xuất và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB là người nộp thuế cho nhà nước thay cho người tiêu dùng Như vậy, người sản xuất, nhập khẩu hàng hoá, kinh doanh dịch vụ sẽ nộp thuế TTĐB và khoản thuế này được chuyển vào giá bán sản phẩm và chuyển sang cho người tiêu dùng cuối cùng phải gánh chịu
Thứ hai, thuế TTĐB là thuế tiêu dùng, nhưng khác với thuế TNDN và thuế
GTGT, thuế TTĐB có đối tượng chịu thuế hẹp, chỉ bao gồm một số hàng hoá, dịch
vụ Nhà nước cần điều tiết
Thứ ba, thuế TTĐB thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản xuất
vàhướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó nhằm điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ này Do đối tượng của Thuế TTĐB
Trang 26chỉ áp dụng với một số hàng hoá, dịch vụ nên các nước thường áp dụng mức thuế suất thuế TTĐB cao để hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng qua đó cũng điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng các hàng hoá dịch vụ có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội Ngoài ra, thuế TTĐB chỉ thu ở khâu sản xuất hoặc khâu nhập khẩu, cung ứng hàng hoá dịch vụ Khi hàng hoá và dịch vụ này chuyển qua khâu lưu thông thì không phải chịu thuế TTĐB
1.3.3 Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam Được gọi là thuế GTGT vì thực chất thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Tổng số thuế thu được ở mỗi khâu chính bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng Thuế GTGT do người tiêu dùng cuối cùng chịu, cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ là người nộp thuế vào NSNN thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào giá bán
mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hoá, dịch vụ
Ở Việt Nam, thuế GTGT được ban hành thành Luật và được Quốc hội Khoá
IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 (ngày 10/5/1997) và có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/1999, thay thế cho Luật thuế doanh thu Trong quá trình thực thi, Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời những vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn nước ta trong từng thời kỳ
Về khía cạnh lý thuyết, thuế GTGT có những dấu hiệu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất rộng Theo đó, mọi đối
tượng tồn tại trong xã hội, cho dù là tổ chức hay cá nhân, là người nghèo hay người giàu đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế xã hội Vì vậy mà việc xác định đối tượng chịu thuế, thuế suất luôn là vấn đề cần được quan tâm khi xây dựng luật thuế GTGT nhằm thực hiện công bằng xã hội, hướng dẫn tiêu dùng và khuyến khích sản xuất phát triển
Trang 27Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch
vụ Việc chỉ đánh thuế trên phần giá trị tăng thêm nhằm làm giảm bớt gánh nặng về thuế đối với người sản xuất, người cung cấp, người lưu thông và người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Vì vậy mà việc xác định chính xác GTGT là rất quan trọng và trong thực tế là rất khó khăn Nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa, dịch
vụ, số thuế phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đọan lưu thông khác nhau Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, nhập khẩu hàng hóa dịch vụ nhưng chỉ đánh trên giá trị tăng thêm của khâu sau so với khâu trước Tổng số thuế nộp ở các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu Và vì người tiêu dùng
là người chịu gánh nặng về thuế nên cũng giảm tình trạng trốn thuế, tránh thuế
Thứ ba, thuế GTGT có điểm cơ bản khác với thuế doanh thu là chỉ có người
bán hàng hóa lần đầu phải nộp thuế GTGT trên toàn bộ doanh thu bán hàng (hoặc cung ứng dịch vụ) Còn người bán hàng hóa ở các khâu tiếp theo đối với hàng hoá
đó, chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm Nói cách khác, thuế GTGT là loại thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ, trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá (hoặc dịch vụ) từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng, khi khép kín một chu kỳ kinh tế Ðến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng Thuế GTGT do người tiêu dùng chiụ nhưng không phải do người tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do người bán hàng hóa nộp thay vào kho bạc, do trong giá bán hàng hoá có cả thuế GTGT Vì qua từng công đoạn, thuế GTGT đã được người bán đưa vào giá hàng hoá, dịch vụ, cho nên thuế này được chuyển toàn bộ cho người mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ cuối cùng chịu
1.3.4 Thuế bảo vệ môi trường
Thuế BVMT là loại thuế gián thu đánh vào các sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng có thể gây tác động xấu đến môi trường Loại thuế này được phát triển dựa trên ý tưởng lấy từ thu nhập cuả người gây ô nhiễm và gây thiệt hại cho môi trường
để bù đắp cho các chi phí xã hội nhằm khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường Với
Trang 28tư cách là loại thuế gián thu, thuế BVMT chỉ nộp một lần đối với hàng hóa sản xuất hoặc nhập khẩu Thuế BVMT là công cụ hữu hiệu để ngăn chặn các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, điều hoà các quan hệ lợi ích giữa xã hội và doanh nghiệp, từ đó, làm lành mạnh các quan hệ xã hội, khuyến khích ý thức tiết kiệm, giảm bớt sự lãng phí trong quá trình khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tăng cường các biện pháp BVMT Hơn nữa, thuế BVMT cấu thành vào giá hàng hoá, dịch vụ nên có tác dụng kích thích và điều chỉnh sản xuất, tiêu dùng theo hướng BVMT, thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng sạch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người hoặc có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình sản xuất và sản phẩm mới giảm thiểu tác hại tới môi trường
Xét về khía cạnh lý thuyết, thuế bảo vệ môi trường có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, thuế bảo vệ môi trường là thuế gián thu Điều này được hiểu đó là
việc thuế bảo vệ môi trường đã được cộng thêm vào giá bán của sản phẩm, khi đó gánh nặng thuế sẽ chuyển từ nhà sản xuất kinh doanh – chủ thể nộp thuế sang người tiêu dùng
Thứ hai, đối tượng chịu thuế BVMT có tính đặc thù Đối tượng chịu thuế
môi trường là những sản phẩm mà việc sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng chúng gây tác hại lâu dài đến môi trường (khi chúng được sử dụng trong quá trình sản xuất, tiêu dùng hay hủy bỏ) Khái niệm sản phẩm ở đây được hiểu bao gồm hàng hóa và dịch vụ Với định nghĩa thuế BVMT tại khoản 1 Điều 2 Luật thuế BVMT năm 2010, có thể thấy rằng, đối tượng chịu thuế chỉ là hàng hóa, không bao hàm dịch vụ và chỉ khi sử dụng mà gây tác động xấu tới môi trường mới là đối tượng chịu thuế BVMT, tức là không bao hàm quá trình khi sản xuất ra các sản phẩm đó
Thứ ba, thuế môi trường là một trong các công cụ kinh tế quan trọng để quản
lí và BVMT của nhà nước Mỗi quốc gia khi ban hành thuế môi trường là đã nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề BVMT hiện nay Nghĩa vụ đóng thuế tạo động
cơ thúc đẩy người gây ô nhiễm tìm phương pháp giảm thiểu ô nhiễm mới Giảm thiểu ô nhiễm môi trường là mục tiêu của những nỗ lực làm thay đổi hành vi Thuế môi trường là công cụ đem lại hiệu quả nhất về chi phí trong việc giảm thiểu ô
Trang 29nhiễm môi trường so với việc ban hành các quyết định hành chính khác
Thứ tư, thuế môi trường góp phần tăng thu cho NSNN, làm giảm hiệu ứng
tiêu cực của hệ thống thuế nhu nhập hiện hành Điều này có nghĩa là nếu các nhà sản xuất và người tiêu dùng không chấm dứt hoàn toàn các hoạt động gây ô nhiễm thì sẽ bị đánh thuế và phải có nghĩa vụ nộp thuế, khi đó sẽ trở thành một nguồn thu cho ngân sách Bản chất của thuế môi trường là thuế gián thu cho nên nó sẽ không tạo phản ứng gay gắt từ người chịu thuế vì người nộp chỉ là người thay nhà nước thu từ những chủ thể chịu thuế, còn các chủ thể chịu thuế thường không biết mình là người phải gánh chịu thuế
1.3.5 Thuế tài nguyên
Ở mỗi quốc gia, tài nguyên thiên nhiên bao gồm tất cả các nguồn năng lượng, nguyên liệu, vật liệu tự nhiên có trên trái đất, trong không gian mà con người
có thể khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống, sự phát triển của mình và của xã hội Tài nguyên thiên nhiên là nguồn tài sản của quốc gia, thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý Đối với các quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nếu quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả thì nó là nguồn lợi lớn và lâu dài cho sự phát triển của quốc gia đó Ngược lại, nếu việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên bừa bãi, lãng phí, sẽ gây ra hậu quả xấu không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của quốc gia đó Để bảo đảm việc bảo vệ khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên đạt hiệu quả, tránh việc khai thác, sử dụng bừa bãi, lãng phí, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, các quốc gia thường sử sụng nhiều công cụ và biện pháp quản lý khác nhau Công
cụ tài chính là một trong những công cụ quan trọng để quản lý tài nguyên, trong đó
có việc thu thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, đó chính là thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên có bản chất là loại thuế gián thu đánh vào một số tài nguyên được khai thác bởi các tổ chức, cá nhân, thông qua đó nhằm mục đích khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bảo đảm nguồn thu cho NSNN để bảo vệ, tái tạo,
Trang 30tìm kiếm, thăm dò tài nguyên
Trong điều kiện các nguồn lực để phát triển kinh tế còn chưa đủ mạnh, tài nguyên là nguồn lực đóng vai trò quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế đất nước Trong thời gian qua, sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác, chế biến tài nguyên đã cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào đáng kể cho các ngành sản xuất khác, góp phần ổn định dần sản xuất trong nước, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Theo thống kê hàng năm, ngành công nghiệp khai khoáng đã đóng góp từ 10% - 12% GDP Chính sách thuế tài nguyên nói chung và việc quy định mức thuế suất thuế tài nguyên nói riêng là một trong những công cụ cho thấy được tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế nói riêng và phát triển bền vững nói chung Việc điều chỉnh chính sách thuế tài nguyên trong thời gian qua vừa nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, qua đó bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia; ổn định nguồn thu cho ngân sách, đồng thời đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân
Kết luận chương 1: Tóm lại, thuế đối với doanh nghiệp được hiểu là khoản trích nộp bằng tiền mà các doanh nghiệp phải đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhà nước Mục đích cơ bản của thuế là chia sẻ thu nhập của chủ thể nộp thuế với nhà nước để nhà nước thực hiện các chức năng của mình vì lợi ích của xã hội; thiết lập công bằng theo hướng bên có thu nhập cao hơn phải có trách nhiệm thuế lớn hơn; và định hướng tiêu dùng xã hội thông qua việc đánh thuế vào những tài sản đặc thù Theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, khái niệm thuế được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm những khoản thu được định danh là thuế do Quốc hội ban hành
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ TRỰC THU ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
2.1.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
Nói đến nội dung của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là nói đến các quy định về chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, chế độ miễn giảm thuế, hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ nhất, về chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này (gọi là doanh nghiệp), bao gồm: a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; c) Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã; d) Đơn vị
sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; đ) Tổ chức khác
có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập
Với quy định trên đây, dấu hiệu cơ bản để xác định một doanh nghiệp có phải là chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hay không chính là ở chỗ, doanh nghiệp có phát sinh thu nhập chịu thuế hay không và thu nhập đó phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam hay ở nước ngoài Sở dĩ như vậy là bởi vì, tại khoản 2 của điều luật nói trên, nhà làm luật quy định rằng:
“a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam;
b) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó;
Trang 32c) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú;
d) Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam”.3
Thứ hai, về đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
Mặc dù Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành không quy định rõ đối tượng chịu thuế là gì nhưng theo tinh thần được ghi nhận tại Điều 3 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp chính là thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
b) Thu nhập khác bao gồm: thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu
tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; thu nhập từ quyền sử dụng tài sản, quyền sở hữu tài sản, kể cả thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản, trong đó có các loại giấy tờ có giá; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; khoản thu từ nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; khoản thu từ nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác
Nhà làm luật cũng quy định: Trường hợp doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ở nước ngoài chuyển phần thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ngoài của doanh nghiệp về Việt Nam, nếu đã có Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam với nước đó thì thực hiện theo quy định của Hiệp định; nếu chưa
có Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà mức thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo quy định của pháp luật nước ngoài thấp hơn mức thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo quy định của pháp luật Việt Nam thì doanh nghiệp phải nộp phần thuế thu nhập chênh lệch cho Nhà nước Việt Nam
3 Khoản 2 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008
Trang 33Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế
trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước Thu nhập chịu thuế được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ các khoản chi được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh cộng thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được ở ngoài Việt Nam Riêng thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải xác định riêng để kê khai nộp thuế Thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư (trừ dự án thăm dò, khai thác khoáng sản), thu nhập từ chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư (trừ chuyển nhượng quyền tham gia dự án thăm dò, khai thác khoáng sản), thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản nếu lỗ thì số lỗ này được bù trừ với lãi của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế
Như vậy, để xác định thu nhập chịu thuế, doanh nghiệp phải xác định được hai yếu tố là doanh thu và chi phí được trừ Theo quy định tại Điều 8 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng Doanh thu được tính bằng đồng Việt Nam; trường hợp có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu bằng ngoại tệ Trong khi đó, theo quy định tại Điều 9 của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì các khoản chi phí được trừ bao gồm mọi chi phí (không bao gồm các khoản chi quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp)
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; khoản chi cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp; khoản chi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật Đối với hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo
Trang 34quy định của pháp luật
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp được nhà làm luật quy định tại Điều
10 luật thuế thu nhập doanh nghiệp, theo đó thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 22%, trừ trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này và đối tượng được ưu đãi về thuế suất quy định tại Điều 13 của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định hiện hành của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, nhà làm luật chủ trương áp dụng ba hình thức ưu đãi cho doanh nghiệp, bao gồm: ưu đãi về thuế suất; ưu đãi về thời gian miễn giảm thuế; ưu đãi về chuyển lỗ từ các năm trước của doanh nghiệp Các ưu đãi về thuế suất được quy định tại Điều 13 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, theo đó nhà nước áp dụng thuế suất 10%, 15%, 17% và 20% đối với từng loại thu nhập khác nhau cần được ưu đãi Ngoài ra, nhà làm luật cũng quy định hình thức ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế tại Điều 14 của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; ưu đãi về việc chuyển lỗ từ năm trước sang năm sau khi xác định thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp
2.1.2 Ưu điểm và những hạn chế, bất cập của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Không thể phủ nhận rằng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã có những tâc động rất tích cực đối với mục tiêu tạo nguồn thu ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Những kết quả tích cực của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với Nhà nước và nền kinh tế được thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, pháp luật thuế TNDN đã tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh
doanh phát triển, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, cải thiện môi trường kinh doanh và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của cộng đồng các doanh nghiệp trong nước
Luật Thuế TNDN được ban hành và áp dụng trên thực tế đã góp phần khắc phục được những điểm yếu cơ bản của Luật thuế lợi tức trước đây Điều này thể hiện ở chỗ: (i) Phạm vi điều chỉnh của Luật thuế TNDN đã được mở rộng theo hướng áp dụng cho cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số đối tượng khác như công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường
Trang 35trú tại Việt Nam, hộ gia đình nông dân sản xuất hàng hóa lớn, các cá nhân hành nghề độc lập…; (ii) Các khoản chi phí hợp lý được quy định một cách rõ ràng và phù hợp hơn với những điều kiện của nền kinh tế thị trường theo những thông lệ quốc tế; (iii) Một số khoản thu nhập có thể phát sinh trong nền kinh tế thị trường được bổ sung vào đối tượng chịu thuế, xóa bỏ sự phân biệt thuế suất và điều chỉnh sát với các mặt bằng thuế suất chung của thuế thu nhập công ty trên thế giới
Thứ hai, pháp luật thuế TNDN đã điều tiết được hầu hết các khoản thu nhập
từ hoạt động sản xuất, kinh doanh Điều này khiến cho số thu về thuế TNDN tăng trưởng hàng năm và chiếm tỉ trọng khoảng 15% tổng thu thuế và phí, từ đó tạo nguồn thu lớn, tập trung và ngày càng ổn định cho NSNN, góp phần bù đắp số giảm thu về thuế XNK do phải thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết quốc tế
Thứ ba, pháp luật thuế TNDN đã góp phần làm cho hệ thống thuế ở Việt
Nam từng bước tương đồng và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, đồng thời góp phần làm cho hệ thống thuế của Việt Nam từng bước hướng đến mục tiêu công bằng và bình đẳng trong nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp
Bằng những quy định mới của Luật thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thi hành, đạo luật này đã xóa bỏ hẳn sự đối xử phân biệt giữa các thành phần kinh
tế, ngành nghề sản xuất kinh doanh, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, thuế TNDN thể hiện rõ mục tiêu phân phối lại nhưng cũng đồng thời hàm chứa mục tiêu trợ giúp, nâng đỡ những cơ sở sản xuất kinh doanh có khó khăn do những điều kiện kinh tế, xã hội tự nhiên mang lại, trên cơ sở đó thực hiện mục đích công bằng xã hội kết hợp với công bằng kinh tế Từ đó góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, các khu vực hoạt động cũng như tạo điều kiện cho sản xuất và kinh doanh phát triển
Thứ tư, pháp luật thuế TNDN đã góp phần xử lý tốt mối quan hệ mang tính
hệ thống giữa các sắc thuế trong hệ thống thuế quốc gia Luật thuế TNDN được thiết kế trên cơ sở mối quan hệ phụ thuộc, bổ sung, bọc lót nhau, thể hiên sự nhất
Trang 36quán về mục tiêu điều tiết và múc động viên của cả hệ thống thuế Việc ban hành đồng thời Luật thuế GTGT và Luật thuế TNDN với những nội dung có liên quan cũng đã thể hiện sự vận dụng nguyên lý hệ thống nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống thuế nội địa Mối quan hệ giữa hai loại thuế cơ bản này đã được xử lý tốt hơn, biện chứng hơn so với việc xử lý mối quan hệ giữa thuế doanh thu và thuế lợi tức trước đây
So với thuế lợi tức, thuế TNDN thể hiện rõ mục tiêu đòn bẩy kinh tế nhằm khuyến khích các khu vực kinh tế, ngành nghề, lĩnh vực phát triển theo mục tiêu định hướng của nhà nước Đặc biệt, thuế TNDN chứa đựng nhiều nội dung miễn, giảm thuế theo mục tiêu và hoàn cảnh kinh tế Đặc tính đó thể hiện mối tương quan
hệ thống giữa thuế giái trị gia tăng – thuế TNDN nói riêng và thuế gián thu – thuế trực thu nói chung
Thứ năm, pháp luật thuế TNDN đã góp phần thúc đẩy quản lý, tăng cường
công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp Việc tính đúng tiền thuế TNDN trên nguyên tắc phải có hóa đơn, chứng từ và bằng cách đó thúc đẩy các doanh nghiệp, người kinh doanh phải chú trọng tổ chức thực hiện tốt hơn công tác mở sổ sách kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hỏa đơn, chứng từ Do làm tốt công tác kế toán, hóa đơn, chứng từ, các đối tượng nộp thuế theo kê khai đã lập và nộp tờ khai thuế tương đối đúng hạn và đầy đủ
Thứ sáu, pháp luật thuế TNDN đã củng cố công tác quản lý thu thuế, nâng
cao ý thức tự giác thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế Chẳng hạn, về đối tượng nộp thuế: Luật thuế TNDN hiện hành đã giới hạn phạm vi điều chỉnh về đối tượng nộp thuế chỉ còn là các doanh nghiệp Việc phân định đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật quản lí thuế Về thuế suất: Luật thuế TNDN đã quy định thống nhất mức thuế suất tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tích tụ vốn tái đâu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh Về thu nhập chịu thuế: Luật thuế TNDN hiện hành từng bước mở rộng phạm vi áp dụng đối với các chi phí được trừ
Trang 37khi tính thu nhập chịu thuế Các khoản chi phí không được trừ được quy định một cách chi tiết, rõ ràng
Bên cạnh những ưu điểm rất đáng kể như trên, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn còn bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập chủ yếu sau đây:
Một là, về phương thức đánh thuế thu nhập doanh nghiệp
Luật thuế TNDN chưa quy định một cách rõ ràng phương thức đánh thuế (theo tiêu chí thường trú hay nguồn phát sinh thu nhập) Mặc dù Luật thuế TNDN cũng đã bổ sung quy định về các văn phòng điều hành, chi nhánh cung cấp các dịch
vụ, địa điểm xây dựng, đại lý, gọi chung là cơ sở thường trú tại Việt Nam thuộc đối tượng nộp thuế tại Việt Nam nhưng trong một số trường hợp, một số công ty Việt Nam có đầu tư ra nước ngoài, việc kê khai thuế thu nhập ở nước ngoài chưa được quy đinh cụ thể, vì vậy chưa có căn cứ xử lý về mặt pháp lý
Hai là, về mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Mức thuế suất cơ bản theo Luật thuế TNDN hiện nay là 22% Đây là mức thuế suất trung bình so với khu vực Tuy nhiên, mức thuế suất này vẫn còn khá cao
so với một số nước và vùng lãnh thổ Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những rào cản đối với các doanh nghiệp trong việc tích tụ vốn và tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
Ba là, về thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
Pháp luật hiện hành quy định về phương pháp xác định doanh thu, chi phí được trừ, không được trừ làm cơ sở tính thuế TNDN chưa cụ thể, chưa đảm bảo tính thực thi Cụ thể là, các quy định về thời điểm xác định doanh thu; cách xác định doanh thu trong một số trường hợp cụ thể; các khoản chi phí được trừ và chưa được trừ chưa được quy định rõ ràng; một số khoản chi phí thực tế cần thiết cho sản xuất kinh doanh nhưng không được chấp nhận khi tính thuế Điều này vô hình chung đã khiến các doanh nghiệp phải chịu thuế nhiều hơn
Bốn là, về vấn đề chuyển lỗ khi xác định thu nhập tính thuế
Thực tế cho thấy quy định hiện nay về vấn đề chuyển lỗ tại Thông tư số
Trang 3878/2014/TT-BTC dường như đã thu hẹp quyền lợi của doanh nghiệp hơn so với quy định của Luật thuế TNDN Đây cũng là một điểm hạn chế, bất cập trong cách thức ban hành văn bản pháp luật, bởi vì Luật thuế TNDN là văn bản quy phạm pháp luật
có hiệu lực cao hơn và được ưu tiên áp dụng so với các văn bản pháp quy là Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về thuế thu nhập doanh nghiệp Mặt khác, thuế TNDN hiện nay đang được nhà làm luật thiết kế để phục vụ quá nhiều mục tiêu, trong đó có mục tiêu về chính sách xã hội, do đó làm mất tính trung lập của thuế Thực tế cho thấy thuế TNDN còn được lồng nhiều chính sách xã hội vào các điều khoản ưu đãi miễn, giảm thuế như quy định về miễn, giảm thuế cho các đối tượng là thương binh, người tàn tật, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ… Điều này dẫn đến sự phức tạp trong quản lý, làm giảm đi tính trung lập và bản chất kinh tế của thuế, dễ dẫn đến các hiện tượng lợi dụng để trốn thuế, lậu thuế
Năm là, pháp luật thuế TNDN hiện nay còn một số điều khoản chưa phù hợp
với thông lệ quốc tế và chưa đảm bảo tính tương thích với các nên kinh tế thị trường khác trong khu vực, chẳng hạn như: quy định về thuế suất ưu đãi cho các doanh nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm cao Hiện nay, có không ít các hành vi vi phạm
về lĩnh vực hóa đơn, chứng từ đã được nhận diện như: giả mẫu hóa đơn tự in của đơn vị khác; in hoặc sử dụng hóa đơn tài chính giả; bán hoặc mua bán hóa đơn khống chỉ để sử dụng; ghi hóa đơn có nội dung liên 1 khác liên 2 để trốn thuế; ghi gian lận nội dung kinh tế khi lập hóa đon, thông đồng với một số đơn vị lập hóa đơn
có giá trị cao hơn thực tế để thanh toán quyết toán tài chính và hạch toàn khống chi phí trong doanh nghiệp làm giảm tối thiểu mức thấp nhất nghĩa vụ nộp thuế TNDN; thành lập doanh nghiệp, mua bán hoá đơn nhưng không kinh doanh, sử dụng hóa đơn vào mục đích bất hợp pháp… Ngoài ra, môi trường quản lý thuế chưa tạo điều kiện cho công tác quản lý thu Đối với cơ quan thuế: năng lực, trình độ quản lý thuế còn những điểm chưa đáp ứng so với yêu cầu quản lý thuế hiện đại, khoa học Đối với người nộp thuế: tình trạng trốn thuế, lậu thuế, gian lận về thuế còn diễn ra, làm thất thu nguồn NSNN, không đảm bảo tính công bằng xã hội Một số hộ gia đình cá
Trang 39nhân kinh doanh cố ý, tìm mọi cách gian lận các khoản thuế phải nộp Đối với các
cơ quan chức năng và tổ chức liên quan: chưa thực sự coi công tác thuế là nhiệm vụ của địa phương mình Các cơ quan thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, có hiệu quả…
Sáu là, về một số khoản chi cụ thể được coi là chi phí được khấu trừ
Luật thuế TNDN hiện hành quy định về một số khoản chi cụ thể chưa hợp lý Chẳng hạn: quy định về phần giá trị hàng hóa tổn thất, các khoản chi khấu hao tài sản cố định, khoản chi nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa, khoản chi là tiền lương, tiền công và các khoản phải trả cho người lao động, phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới… Một trong những bất cập của pháp luật thuế TNDN hiện hành là liệt kê các tài sản cố định hiện hữu được để xác định trích khấu hao tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Ngoài ra, hạn chế của Luật thuế TNDN hiện hành là chưa có quy định cụ thể nào về việc xác định doanh thu, chi phí làm căn cứ cho thu nhập chịu thuế của các hình thức kinh doanh như: bán hàng đa cấp, bán hàng qua mạng
Bảy là, về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Việc xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập được ưu đãi thuế theo quy định của Luật thuế TNDN hiện hành là chưa hợp lý khi toàn bộ các khoản thu nhập khác đều không được ưu đãi thuế (trong đó có nhiều khoản thu nhập khác liên quan đến hoạt động kinh doanh được ưu đãi thuế) là bất hợp lý, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp Về ưu đãi thuế suất thuế TNDN: Luật thuế TNDN hiện hành quy định các doanh nghiệp nằm trong khu kinh tế cũng hưởng ưu đãi như là doanh nghiệp trên địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn
là chưa phù hợp Hiện nay, bên cạnh vai trò là đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN, phân phối thu nhập thì thuế TNDN còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thu hút và thúc đẩy đầu tư ở Việt Nam Thuế TNDN được áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, không những đảm bảo bình đẳng công bằng về chiều ngang mà còn cả công bằng về chiều dọc Về chiều ngang, bất kể một doanh nghiệp nào kinh doanh bất cứ hình thức nào nếu có thu nhập chịu thuế thì
Trang 40phải nộp thuế TNDN Về chiều dọc, cùng một ngành nghề không phân biệt quy mô kinh doanh nếu có thu nhập chịu thuế thì đều phải nộp thuế TNDN Với mức thuế suất thống nhất, doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn (theo số tuyệt đối) doanh nghiệp có thu nhập thấp
2.2 Thực trạng pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp áp dụng đối với doanh nghiệp
2.2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp áp dụng đối với doanh nghiệp
Giống như đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, nội dung của pháp luật thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp cũng bao gồm các vấn đề cơ bản như: chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, miễn giảm thuế và hoàn thuế
Thứ nhất, về chủ thể nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện pháp luật, nhà làm luật cũng xác định người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể như sau:
a) Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất ở là người nộp thuế;
b) Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế;
c) Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế Việc nộp thuế không phải là căn cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;