1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công ty cổ phần ở việt nam

93 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù các cơ quan quản lý trong CTCP vẫn là Đại hội đồng cổ đông, HĐQT và cơ quan điều hành là Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, nhưng đã có sự khác biệt trong việc thành lập ra các cơ quan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Hà Nội, ngày 30 tháng 08 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRẦN NGỌC ANH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Luật học này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình trong suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Dung – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và nghiên cứu Luận văn của mình

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật kinh tế và cán bộ Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ

Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 30 tháng 08 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRẦN NGỌC ANH

Trang 4

WTO World Trade Organisation

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN

1.2.1 Hệ thống các quy định pháp luật về kiểm tra, giám sát trong

quản lý nội bộ công ty cổ phần

1.2.4 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về kiểm tra,

giám sát trong quản lý nội bộ công ty cổ phần tại Việt Nam

24

Trang 6

CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ THỰC TRẠNG THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

27

2.1 Các quy định về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ

công ty cổ phần

27

2.1.1 Các quy định về việc kiểm tra và giám sát của Đại hội đồng cổ

đông đối với Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc trong công ty cổ phần

27

2.1.2 Các quy định về việc kiểm tra và giám sát của Hội đồng quản

trị đối với hoạt động điều hành của Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc trong công ty cổ phần

29

2.1.3 Các quy định về việc kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát hoặc

của thành viên độc lập Hội đồng quản trị và Ban kiểm toán nội

bộ đối với Hội đồng quản trị

31

2.1.4 Các quy định về việc cổ đông kiểm tra, giám sát hoạt động

quản lý của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc trong công ty cổ phần

37

2.2 Thực trạng thi hành các quy định về kiểm tra, giám sát

trong quản lý nội bộ công ty cổ phần ở Việt Nam

38

2.2.1 Những thành công và nhược điểm của quá trình thi hành các

quy định về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ trong công

ty cổ phần ở Việt Nam

39

2.2.2 Nguyên nhân của những nhược điểm trong quá trình thi hành

các quy định về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công ty

cổ phần ở Việt Nam

53

Trang 7

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

57

3.1 Các nguyên tắc của việc hoàn thiện pháp luật về kiểm tra,

giám sát trong quản lý nội bộ công ty cổ phần ở Việt Nam

57

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm tra, giám sát trong

quản lý nội bộ công ty cổ phần ở Việt Nam

60

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm tra,

giám sát trong quản lý nội bộ công ty cổ phần ở Việt Nam

64

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, nước ta đang chứng kiến sự bứt phá của nền kinh tế chuyển đổi và sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng và quy mô của các công ty Trong làn sóng cạnh tranh dữ dội của nền kinh tế, quản lý nội bộ công ty trở thành một yếu tố quan trọng giúp cho công ty có thể tồn tại vững bền và phát triển không ngừng Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa quản lý nội bộ công ty với sự phát triển kinh tế Quản lý nội bộ công ty nói chung quan niệm một cách đơn giản nhất là một hệ thống các cơ chế và sự thực thi, thông qua đó công ty được điều hành và kiểm soát

Trên thế giới, quản lý nội bộ công ty là đề tài thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học Cùng với sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và quy mô của các doanh nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt sự hình thành của các công ty lớn với sự tham gia của nhiều chủ sở hữu khác, thực tiễn ở nhiều nước cũng như ở nước ta, doanh nghiệp được tổ chức dưới hình thức CTCP đang thể hiện được những ưu điểm, có độ hấp dẫn lớn khi ngày càng được các nhà đầu tư lựa chọn làm hình thức kinh doanh của mình Thực tiễn cũng chỉ ra rằng quản lý nội bộ công ty tốt là một trong những điều kiện tạo nên ưu điểm, tạo nên sự hấp dẫn đó của loại hình CTCP Đây vừa là điều kiện cần đối với CTCP do tính chất đại chúng của nó, vừa là điều kiện đủ nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định và hiệu quả của CTCP Bởi vậy, như một tất yếu, quản lý nội bộ công ty ngày càng thu hút được sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp cũng như các nhà làm luật về doanh nghiệp

Trong CTCP, cơ chế kiểm tra, giám sát đóng vai trò hết sức quan trọng Một CTCP hoạt động minh bạch, hoặc có mong muốn hoạt động minh bạch thì cần phải có sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý, cơ quan điều hành và cơ quan kiểm soát Việc kiểm tra, giám sát này vừa giúp kịp thời ngừng ngay các sai phạm, để không đi quá xa; vừa

Trang 9

hỗ trợ tích cực cho hoạt động kinh doanh được hiệu quả, thu hút các nhà đầu

tư trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế, đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh của CTCP

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội đất nước và nhu cầu mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng cao, pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP đang bộc lộ nhiều vấn đề chưa hoàn thiện Nhiều vụ việc tranh chấp nội bộ, nhiều hành vi lợi dụng vai trò, ảnh hưởng của người quản lý để trục lợi, làm thiệt hại đến lợi ích của cổ đông vẫn xảy ra thường xuyên, mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những bất cập và thiếu sót của hệ thống pháp luật và sự bị động của các cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám không hiệu quả Chính vì vậy, việc đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP ở Việt Nam nhằm đưa ra những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật là vô cùng cấp thiết

Nhận thức được tầm quan trọng đó, tác giả luận văn chọn vấn đề “Thực trạng

pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công ty cổ phần ở Việt Nam” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, tại Việt Nam có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới đề tài quản lý nội bộ CTCP, trong đó bao gồm cả hoạt động kiểm tra và giám sát Ở cấp độ luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, có thể kể đến các công trình như:

- “Pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” – Luận văn Thạc sĩ Luật học của Đỗ Thị

Vân Nhung tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012 Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản trị công ty, quản trị công ty niêm yết và pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam Đồng thời, luận văn cũng phản ánh thực trạng pháp luật về quản trị công ty niêm yết và một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, tạo

Trang 10

niềm tin vững chức cho cổ đông, thu hút nhà đầu tư nước ngoài và phát triển nền kinh tế Việt Nam

- “Mô hình quản trị Công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay - Thực trạng

và phương hướng hoàn thiện” – Luận văn Thạc sĩ Luật học của Phan Thị Bảo

Yến tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014 Luận văn tập trung đi sâu vào nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp luật quy định về mô hình quản trị CTCP, đối chiếu tính thống nhất giữa các văn bản này cũng như so sánh với các thông lệ quản trị, các mô hình quản trị khác trên thế giới; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về mô hình quản trị CTCP để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về mô hình quản trị CTCP ở Việt Nam

- “Hoàn thiện pháp luật về quản trị nội bộ công ty cổ phần” – Luận văn

Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Thùy Linh tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014 Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản

về quản trị nội bộ CTCP; phân tích, đánh giá thực trạng và chỉ ra những điểm còn vướng mắc, cần sửa đổi của các quy định pháp luật về quản trị nội bộ CTCP ở Việt Nam hiện nay để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản trị nội bộ CTCP ở Việt Nam

- “Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp (2014)” – Luận văn Thạc sĩ Luật học của Lưu Thị Dung tại Trường Đại học

Luật Hà Nội năm 2015 Luận văn nghiên cứu để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quản lý nội bộ CTCP, các quy định của Luật Doanh nghiệp (2014) về

tổ chức quản lý nội bộ CTCP để từ đó đề xuất các kiến nghị góp phần triển khai có hiệu quả các quy định của pháp luật doanh nghiệp về tổ chức quản lý nội bộ CTCP ở Việt Nam

Ngoài ra, ở cấp độ báo, tạp chí cũng đã có các công trình nghiên cứu về

vấn đề này; có thể kể đến các bài viết như: “Tiếp cận quản trị nội công ty cổ phần trên phương diện kết hợp hài hòa lợi ích các bên” của tác giả Cao Đình

Trang 11

Lành đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8, năm 2008; “Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần” của tác giả Nguyễn

Thị Lan Hương đăng trên Chuyên mục Luật học số 27, thuộc Tạp chí Khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011; v.v Tuy nhiên, các bài báo này được công bố khi Luật Doanh nghiệp (2014) chưa được ban hành, vì thế chưa

đề cập đến những điểm mới của Luật Doanh nghiệp (2014) về quản lý nội bộ

CTCP Trong thời gian gần đây, bài báo “Hoàn thiện quy định về cơ chế giám sát hoạt động quản lý, điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014” của tác giả Trần Ngọc Dũng đăng trên Tạp chí Nhà nước và

pháp luật, số 5, năm 2016 đã phân tích một số bất cập của các quy định về cơ chế giám sát hoạt động quản lý, điều hành trong CTCP theo Luật Doanh nghiệp (2014) và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định này

Nhìn chung, các đề tài và tài liệu trên đã đề cập ở mức độ khác nhau về

cơ chế kiểm tra và giám sát trong quản lý nội bộ CTCP

Tuy nhiên, từ khi Luật Doanh nghiệp (2014) được ban hành cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện vấn đề kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP ở Việt Nam theo những điểm mới quan trọng trong Luật Doanh nghiệp (2014) Vì vậy, tác giả luận văn

mạnh dạn chọn đề tài: “Thực trạng pháp luật về kiểm tra, giám sát trong

quản lý nội bộ công ty cổ phần ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

cao học Luật nhằm bổ khuyết cho việc nghiên cứu vấn đề nêu trên Qua việc nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn cũng đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP và nâng cao hiệu quả của việc thi hành các quy định pháp luật

về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, cũng như đưa ra các kiến nghị góp phần

Trang 12

thi hành có hiệu quả pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả luận văn đề ra và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP và pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP

- Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP hiện nay tại Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công

ty cổ phần

4 Đối tượng và phạm vi của việc nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ chế pháp lý điều chỉnh việc kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật Đồng thời, luận văn tìm hiểu các quy định pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP theo một số thông lệ quốc tế tốt

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP Trên cơ sở đó, tác giả luận văn phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành, so sánh với các thông

lệ quản trị quốc tế, từ đó đưa ra phương hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Để nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin Đồng thời, tác giả luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể, thích hợp như: phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,

Trang 13

phương pháp thống kê và phương pháp so sánh Những phương pháp nghiên

cứu hiện đại này bảo đảm độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu của luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Thứ nhất, tác giả luận văn làm rõ các vấn đề cơ bản về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP và pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản

lý nội bộ CTCP

Thứ hai, trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật, tác giả luận văn chỉ ra những điểm hợp lý, những điểm bất cập của pháp luật hiện hành về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP

Thứ ba, tác giả luận văn đưa ra phương hướng và một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và đưa ra kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP

7 Bố cục của luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn bao gồm nhiều vấn đề khác nhau Tuy nhiên, do giới hạn của một luận văn thạc sĩ, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản để giải quyết được mục tiêu tổng quát và mục tiêu

cụ thể của đề tài luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Những vấn đề chung về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội

bộ công ty cổ phần và pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công ty cổ phần

Chương 2 Quy định về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công ty

cổ phần theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam

Trang 14

Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công ty cổ phần ở Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Những vấn đề chung về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công ty cổ phần

1.1.1 Khái quát về công ty cổ phần và cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ của công ty cổ phần

CTCP là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Có thể thấy đây là loại hình doanh nghiệp duy nhất

mà vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau Trong khi đó, ở các loại hình doanh nghiệp khác, ví dụ như công ty TNHH hai thành viên trở lên, vốn điều lệ của công ty không bắt buộc phải chia thành các phần bằng nhau Vốn điều lệ của công ty được hình thành từ các phần vốn góp của các thành viên CTCP là một loại hình công ty đối vốn điển hình, theo đó cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác mà không phải chịu sự hạn chế như trong công ty TNHH hay công ty hợp danh (trừ một số ngoại lệ) CTCP có quyền phát hành các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) để huy động vốn Đây cũng là loại hình doanh nghiệp có khả năng huy động vốn lớn nhất trong các mô hình doanh nghiệp hiện nay Với các đặc trưng như trên có thể thấy, CTCP là một loại hình doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu kinh doanh ở quy mô lớn

Với khả năng huy động vốn lớn cùng với chế độ trách nhiệm hữu hạn, hậu quả sẽ rất lớn nếu CTCP phá sản Do đó, CTCP muốn phát triển lớn mạnh và trường tồn thì nhất thiết phải được quản lý chuyên nghiệp, tách bạch

“quyền sở hữu” công ty và “quyền quản lý” công ty.1 Khác với công ty

1 Bob Tricker (2012), Kiểm soát quản trị, Nhà xuất bản Thời đại, tr 28

Trang 16

TNHH, CTCP là một loại hình doanh nghiệp, trong đó, số cổ đông tối thiểu là

ba và không giới hạn số lượng cổ đông tối đa Trong những CTCP có số lượng cổ đông lên đến hàng ngàn người, các cổ đông - chủ sở hữu của CTCP không thể tự mình cùng tham gia quản lý công ty Do vậy, việc quản lý CTCP phải được trao lại cho các cơ quan quản lý, điều hành khác như HĐQT, Giám đốc hay Tổng giám đốc v.v Nghịch lý của CTCP là những người sở hữu công

ty thì không quản lý tài sản, trong khi những người trực tiếp quản lý tài sản thì lại không phải chủ sở hữu của công ty Giải quyết nghịch lý này để đảm bảo rằng hoạt động của CTCP thuận lợi, quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông không bị xâm hại, người quản lý không trục lợi bất chính từ quá trình quản lý chính là vai trò của quản lý nội bộ CTCP

So với Luật Doanh nghiệp (2005), vấn đề quản lý nội bộ CTCP trong Luật Doanh nghiệp (2014) có nhiều thay đổi Mặc dù các cơ quan quản lý trong CTCP vẫn là Đại hội đồng cổ đông, HĐQT và cơ quan điều hành là Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, nhưng đã có sự khác biệt trong việc thành lập

ra các cơ quan này cũng như sự tồn tại hay không của Ban kiểm soát.2

Theo quy định tại Điều 134, Luật Doanh nghiệp (2014), CTCP được lựa chọn việc quản lý theo một trong hai mô hình sau:

- Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp CTCP có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát (sau đây gọi là “Mô hình thứ nhất” hoặc “Mô hình quản lý có Ban kiểm soát”)

- Đại hội đồng cổ đông, HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên của HĐQT phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc

2 Điều 95, Luật Doanh nghiệp (2005) và Điều 134, Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 17

quản lý điều hành CTCP (sau đây gọi là “Mô hình thứ hai” hoặc “Mô hình quản lý không có Ban kiểm soát”)

Sự khác biệt lớn nhất liên quan đến vấn đề quản lý CTCP giữa Luật Doanh nghiệp (2005) và Luật Doanh nghiệp (2014) là việc Luật Doanh nghiệp (2014) dành cho các nhà đầu tư quyền được lựa chọn mô hình quản lý tùy vào nhu cầu và hoàn cảnh cụ thể của mình Mô hình thứ nhất thường được gọi là mô hình “hội đồng kép”, có nghĩa là CTCP được quản lý và kiểm soát bởi hai cơ quan quản lý chính là HĐQT và Ban kiểm soát mà mọi thành viên của HĐQT và Ban kiểm soát đều do Đại hội đồng cổ đông bầu ra Trong Mô hình thứ hai, Ban kiểm toán nội bộ là một cơ quan trực thuộc HĐQT và thành viên Ban kiểm toán nội bộ do HĐQT chỉ định Mô hình thứ hai thường được gọi là mô hình “hội đồng đơn”

1.1.2 Đặc điểm của việc kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công

ty cổ phần

Kiểm tra, giám sát là hoạt động thiết yếu của quản lý nội bộ CTCP Do vậy, ngoài những đặc điểm vốn có của hoạt động kiểm tra, giám sát thông thường thì kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP cũng có một số đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, kiểm tra, giám sát được thực hiện bởi tập thể bao gồm các cơ quan trong CTCP và các cổ đông Việc kiểm tra, giám sát trong quản lý nội

bộ CTCP được thực hiện bởi Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Ban kiểm soát hoặc thành viên độc lập trong HĐQT, và các cổ đông trong CTCP Việc này góp phần giúp cho các cổ đông trong Đại hội đồng cổ đông, các thành viên của HĐQT, của Ban kiểm soát kiểm tra, đánh giá đúng và nắm bắt chính xác hơn các hoạt động quản lý, điều hành của các chức danh trong CTCP Đồng thời, việc giám sát này cũng cho thấy thực trạng và hiệu quả của việc các chức danh quản lý, điều hành trong CTCP thực hiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, của Điều lệ, nội quy, nghị quyết của CTCP Việc giám

Trang 18

sát của tập thể và các cổ đông trong CTCP sẽ phản ánh rõ nét, kịp thời, chính xác các hành vi vi phạm quy định về quản lý, điều hành trong CTCP

Thứ hai, yêu cầu kiểm tra, giám sát phải được thể hiện bằng văn bản Văn bản là một trong những hình thức được rất nhiều các hoạt động pháp luật phải sử dụng đến Nó được coi là hình thức pháp lý quan trọng để dựa vào đó các bên trong quan hệ có thể sử dụng để làm công cụ phục vụ cho các hoạt động của mình khi thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với bên kia Trong CTCP, việc tiến hành kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý của tập thể và các cổ đông

là nhằm nhận định những thành công, phát hiện ra những sai phạm, thiếu sót trong hoạt động quản lý, điều hành CTCP Do vậy, hoạt động này phải được thực hiện bằng những hình thức, phương pháp theo đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục mà pháp luật về doanh nghiệp đã quy định Vì vậy, yêu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý, điều hành trong CTCP phải được thực hiện bằng văn bản chứ không phải bằng hình thức khác như bằng lời nói, hành vi Điều

đó có tác dụng đảm bảo cho các đối tượng bị kiểm tra, giám sát có thể biết được mục đích của việc kiểm tra, giám sát và hoạt động kiểm tra, giám sát có được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và điều lệ của CTCP hay không Yêu cầu kiểm tra, giám sát được thể hiện bằng văn bản còn có tác dụng là những căn cứ để xử lý những thiếu sót, bất cập của hoạt động quản lý trong CTCP Điều đó sẽ khắc phục được việc kiểm tra, giám sát tùy tiện hay

sự lợi dụng kiểm tra, giám sát vì mục đích vụ lợi của các tập thể và cá nhân gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của CTCP

Thứ ba, cơ quan thực hiện kiểm tra, giám sát phải có báo cáo kết quả giám sát bằng văn bản Việc cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát phải có báo cáo về kết quả kiểm tra, giám sát bằng văn bản thể hiện tính chuyên nghiệp, có trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát trong quản lý nội

bộ CTCP Đồng thời, thông qua những bản báo cáo bằng văn bản thì các bộ phận trong bộ máy kiểm tra, giám sát có cơ sở để giải quyết những sai sót

Trang 19

trong quá trình kiểm tra, giám sát của các chủ thể thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, tránh tình trạng giám sát không đúng các quy định mà pháp luật

đã đề ra cũng như không theo đúng Điều lệ, nội quy, nghị quyết của CTCP Các văn bản thể hiện kết quả kiểm tra, giám sát còn có tác dụng góp phần vào việc xây dựng cơ chế hợp lý để các cổ đông trong CTCP có thể kiểm soát các hoạt động kiểm tra, giám sát của Đại hội đồng cổ đông, của HĐQT, của Ban kiểm soát hoặc thành viên độc lập trong HĐQT

Thứ tư, kết thúc việc kiểm tra, giám sát, chủ thể giám sát thường nêu ra những nhận xét, đánh giá, kết luận và đề xuất các giải pháp khắc phục các sai sót, bất cập, vi phạm pháp luật, Điều lệ, nội quy của CTCP, qua đó nhằm đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh của CTCP đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tiếp theo

1.1.3 Yêu cầu và ý nghĩa của việc kiểm tra giám sát trong quản lý nội

bộ công ty cổ phần

Yêu cầu đầu tiên đối với việc kiểm tra, giám sát là hệ thống bộ máy thực hiện công việc này gọn nhẹ, vận hành tốt Nếu yêu cầu này được đáp ứng tốt sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí đáng kể cho CTCP Đồng thời, hoạt động của CTCP sẽ linh hoạt và vận hành nhịp nhàng, nhanh chóng, mang lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, việc gọn nhẹ ở đây không có nghĩa là giảm nhẹ CTCP luôn phải đảm bảo có những bộ phận cần thiết, phù hợp với cơ chế chế ước và giám sát chặt chẽ giữa cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý, cơ quan điều hành và cơ quan kiểm soát trong CTCP

Yêu cầu thứ hai là về việc công khai và minh bạch hóa thông tin CTCP phải công khai hóa các thông tin quan trọng, như: thông tin chung về công ty, thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, về sở hữu, về cách thức quản lý nội bộ công ty, v.v Công khai hóa đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin theo cách dễ tiếp cận với chi phí hợp lý sẽ thúc đẩy, cải thiện độ minh bạch trong quản lý nội bộ công ty Việc công khai và minh bạch thông

Trang 20

tin có ý nghĩa rất quan trọng: (i) Tạo khả năng và điều kiện cho các cổ đông, nhất là cổ đông thiểu số, trong việc thực hiện quyền giám sát, qua đó bảo vệ được lợi ích hợp pháp của họ ở CTCP; (ii) Giúp củng cố niềm tin của nhà đầu

tư và các bên có liên quan vào thị trường vốn, ngăn ngừa và làm giảm những ứng xử và hành vi lạm dụng phi pháp, làm hại đến lợi ích của CTCP và cổ đông; (iii) Giúp cổ đông hiểu được cơ cấu, chính sách hoạt động của CTCP để

tự bảo vệ quyền lợi của mình

Yêu cầu thứ ba là phải đảm bảo nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong CTCP vừa tách biệt lại vừa phải phối hợp chặt chẽ với nhau Cơ chế kiểm tra và giám sát của CTCP gồm nhiều bộ phận hợp thành Để đảm bảo hoạt động kiểm tra, giám sát được tiến hành trôi chảy và hiệu quả đòi hỏi phải

có sự phân công rành mạch về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý, cơ quan điều hành và cơ quan kiểm soát trong CTCP Các cơ quan trên phải được trao quyền và mức độ tự chủ để quản lý, điều hành công ty, mặt khác chính những cơ quan đó cũng cần được kiểm tra, giám sát đủ mức để họ không lạm dụng quyền và vị thế được giao

để tư lợi, làm hại đến lợi ích của CTCP và cổ đông Luật Doanh nghiệp (2014) đã quy định tương đối đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ của Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban kiểm soát hoặc thành viên độc lập trong HĐQT và Ban kiểm toán nội bộ trong CTCP, đảm bảo cho các cơ quan này có thể vừa phối hợp hoạt động vừa có khả năng kiểm tra, giám sát lẫn nhau Tuy nhiên, phụ thuộc vào điều kiện riêng của từng CTCP, Điều lệ công ty nên bổ sung các quy định để phát huy hiệu quả của cơ chế này trong hoạt động quản lý nội bộ CTCP

Yêu cầu thứ tư là việc kiểm tra, giám sát phải hướng tới quyền lợi của các cổ đông Cổ đông là người góp cổ phần vào CTCP, là chủ sở hữu CTCP Trong CTCP, cổ đông lớn có ảnh hưởng nhiều hơn tới quá trình ra quyết định của CTCP, được hưởng lợi nhiều hơn từ kết quả kinh doanh của công ty, họ

Trang 21

có thể là người có động lực giám sát và thực hiện giám sát hiệu quả đối với những người quản lý, điều hành CTCP Cơ chế kiểm tra, giám sát trong quản

lý nội bộ CTCP cần hướng tới bảo vệ hài hòa lợi ích của các cổ đông để tạo

sự tin tưởng của các nhà đầu tư khi góp cổ phần vào CTCP, từ đó tăng khả năng thu hút vốn từ các chủ đầu tư

Việc kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP có ý nghĩa giúp (i) Bảo đảm cho các cơ quan, cá nhân tiến hành việc quản lý, điều hành CTCP hoạt động theo đúng pháp luật, Điều lệ và nội quy của CTCP; (ii) Bảo đảm cho hoạt động quản lý, điều hành CTCP được diễn ra trôi chảy, thông suốt, đem lại lợi ích chính đáng cho công ty và (iii) Ngăn ngừa, xử lý các biểu hiện lạm quyền, các hoạt động tư lợi của các cơ quan, cá nhân có quyền hành trong CTCP

1.2 Tổng quan pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội

Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành các văn bản luật chuyên ngành liên quan đến cơ chế kiểm tra và giám sát hoạt động quản lý trong CTCP, như: Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Dầu khí; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; Luật Chứng khoán; Luật Kinh doanh bảo hiểm v.v Ngoài ra, Quốc

Trang 22

hội của Việt Nam còn ban hành các đạo luật sửa đổi, bổ sung các đạo luật trên, như:

- Nghị định số 96/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/10/2015 về việc hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp (2014) Các luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng khi có sự khác nhau giữa các quy định của Luật Doanh nghiệp (2014) so với các luật này về việc quản lý CTCP;

- Nghị định số 71/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6/6/2017 hướng dẫn

về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng Nghị định bao gồm 8 chương, 38 Điều hướng dẫn các vấn đề liên quan đến quản trị công ty đối với công ty đại chúng;

- Thông tư số 95/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 22/9/2017 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 6/6/2017 của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng Thông

tư bao gồm hai phụ lục về Điều lệ mẫu áp dụng đối với công ty đại chúng và Quy chế nội bộ về quản trị công ty của CTCP;

- Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11 của Quốc hội ngày 29/11/2006 về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Các văn bản dưới luật khác của các luật chuyên ngành đã nêu ở trên;

- Các văn bản dưới luật sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản dưới luật

kể trên được Quốc hội thông qua sau khi Nghị định số 96/2015/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành

1.2.1.2 Các điều ước quốc tế

Các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên ngày càng trở thành một nguồn quan trọng của pháp luật về doanh nghiệp Các cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam cũng điều chỉnh các vấn đề về quản lý hoạt động

Trang 23

của CTCP, đặc biệt là tỷ lệ biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông của CTCP có vốn đầu tư nước ngoài.3 Cụ thể, các cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam

áp dụng cho các CTCP có vốn đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực cụ thể cho phép áp dụng tỷ lệ biểu quyết trên cơ sở đa số phiếu để đưa ra tất cả các quyết định, bao gồm cả tỷ lệ đa số đơn giản là 51% mà không có sự phân biệt giữa quyết định thường và quyết định đặc biệt và giữa biểu quyết tại cuộc họp

và biểu quyết dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản Các thay đổi tại Luật Doanh nghiệp (2014) so với Luật Doanh nghiệp (2005) đã gần hơn so với quy định tại các cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam Theo đó, các quyết định thông thường và biểu quyết dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản trong CTCP có thể áp dụng tỷ lệ 51%.4 Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp (2014) vẫn yêu cầu tỷ lệ 65% trong trường hợp CTCP biểu quyết các vấn đề quan trọng thuộc quyết định đặc biệt.5

Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật Doanh nghiệp (2014) về cơ chế kiểm tra và giám sát trong quản lý nội bộ CTCP thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.6

1.2.2 Nội dung của pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội

bộ công ty cổ phần

Pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP quy định những vấn đề liên quan đến sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý, cơ quan điều hành và cơ quan kiểm soát trong CTCP Cơ chế kiểm tra, giám sát này xác định quyền hạn, nghĩa vụ giữa những đối tượng khác nhau trong CTCP, bao gồm Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban kiểm soát hoặc thành viên độc

3 Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp, Nhà xuất bản Dân trí, tr 42

4 Điều 144, Khoản 2, Luật Doanh nghiệp (2014)

5 Điều 144, Khoản 1, Luật Doanh nghiệp (2014)

6 Điều 6, Khoản 1, Luật Điều ước quốc tế (2016)

Trang 24

lập trong HĐQT và Ban kiểm toán nội bộ, các cổ đông và những người liên quan khác của CTCP Đồng thời, pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản

lý nội bộ CTCP cũng lập ra nguyên tắc, quy trình, thủ tục nhất định nhằm ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ, giảm thiểu những rủi ro không cần thiết cho CTCP

Ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khối doanh nghiệp cả nước về số lượng và quy mô, đặc biệt là sự hình thành các công ty lớn, quản lý nội bộ doanh nghiệp, đặc biệt là cơ chế kiểm tra và giám sát, đang ngày càng thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng doanh nghiệp và các

cơ quan xây dựng pháp luật Các quy định về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP hiện đang được quy định chủ yếu và bao quát trong Luật Doanh nghiệp (2014) và đã khắc phục những hạn chế trong Luật Doanh nghiệp (1999), Luật Doanh nghiệp (2005) về kiểm tra, giám sát trong CTCP Đồng thời, Luật Doanh nghiệp (2014) cũng đã tiệm cận được những nguyên tắc về quản trị doanh nghiệp của OECD được áp dụng rộng rãi trên thế giới

Nhìn chung, pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP bao gồm bốn nhóm quy định cơ bản sau đây:

Nhóm thứ nhất bao gồm các quy định về việc kiểm tra, giám sát của Đại hội đồng cổ đông đối với HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong CTCP

Nhóm thứ hai bao gồm các các quy định về việc kiểm tra, giám sát của HĐQT đối với hoạt động điều hành của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong CTCP

Nhóm thứ ba bao gồm các quy định về việc kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát hoặc của Thành viên độc lập trong HĐQT và Ban kiểm toán nội bộ đối với HĐQT

Trang 25

Nhóm thứ tư bao gồm các quy định về việc cổ đông kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý của HĐQT, giám đốc hoặc tổng giám đốc trong CTCP

1.2.3 Bộ máy thực hiện việc kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ trong công ty cổ phần

1.2.3.1 Đại hội đồng cổ đông

Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP.7 Khác với Hội đồng thành viên trong công ty TNHH, Đại hội đồng cổ đông trong CTCP không bao gồm mọi cổ đông mà chỉ bao gồm các cổ đông có quyền biểu quyết, cụ thể là các cổ đông phổ thông và các cổ đông ưu đãi biểu quyết

Với đặc trưng số lượng cổ đông không hạn chế, các cổ đông của CTCP không thể tham gia việc quản lý công ty một cách thường xuyên Do đó, Đại hội đồng cổ đông thực hiện chức năng của mình thông qua các cuộc họp Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông có thể là cuộc họp thường niên hoặc cuộc họp bất thường Về nguyên tắc, pháp luật về doanh nghiệp dành cho các bên quyền tự quyết định về cuộc họp thường niên của Đại hội đồng cổ đông thông qua Điều lệ của CTCP Tuy nhiên, Đại hội đồng cổ đông ít nhất mỗi năm phải họp một lần

Địa điểm tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông phải nằm trên lãnh thổ Việt Nam Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính Theo đề nghị của HĐQT, cơ quan đăng ký kinh doanh có thể gia hạn, nhưng không quá sáu tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính.8

Tuy vậy, có một sự thay đổi liên quan đến địa điểm họp Đại hội đồng

cổ đông giữa Luật Doanh nghiệp (2005) và Luật Doanh nghiệp (2014) Theo

7 Điều 135, Khoản 1, Luật Doanh nghiệp (2014)

8 Điều 136, Khoản 2, Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 26

đó, địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông phải ở trên lãnh thổ Việt Nam Trường hợp cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tổ chức đồng thời ở nhiều địa điểm khác nhau thì địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông được xác định là nơi chủ tọa tham dự họp.9

Nếu theo Luật Doanh nghiệp (2005), việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông chỉ ở một địa điểm tập trung trên lãnh thổ Việt Nam, thì với quy định của Luật Doanh nghiệp (2014), các bên có quyền tiến hành cuộc họp tại nhiều địa điểm khác nhau, giúp các bên thuận lợi hơn trong việc tiến hành cuộc họp, đặc biệt là các CTCP có số lượng cổ đông lớn và nằm dàn trải ở nhiều địa phương khác nhau

Để có thể tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông ở nhiều địa điểm khác nhau, có thể tiến hành thông qua hình thức hội nghị truyền hình trực tuyến (tên tiếng Anh là “video conference”) hoặc các hình thức tương tự Mặc

dù Điều 143, Luật Doanh nghiệp (2014) không định nghĩa thế nào là biểu quyết tại cuộc họp, nhưng với việc mở ra khả năng tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông đồng thời ở nhiều địa điểm khác nhau thì biểu quyết thông qua quyết định sẽ không chỉ là hình thức biểu quyết truyền thống mà sẽ có khả năng áp dụng cách thức như biểu quyết thông qua internet hoặc các phương thức tương tự khác

Trong báo cáo năm 2017 về quản trị doanh nghiệp ở Châu Á, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra khảo sát về bốn hình thức thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông, gồm:

- Biểu quyết thông qua người đại diện: 14/14 quốc gia áp dụng;

- Biểu quyết bằng thư tín: 7/14 quốc gia áp dụng;

- Biểu quyết bằng E-Mail và các phương tiện điện tử khác: 6/14 quốc gia

áp dụng; và

9 Điều 136, Khoản 1, Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 27

- Biểu quyết bằng điện thoại/hội nghị truyền hình trực tuyến: 4/14 quốc gia áp dụng (Indonesia, Malaysia, Pakistan và Việt Nam) Đặc biệt, Việt Nam

và Malaysia là hai quốc gia trong 14 quốc gia được khảo sát là áp dụng cả bốn hình thức biểu quyết trên.10

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết và là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong CTCP Do đó, để cho cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông có hiệu lực thì phải thỏa mãn một số điều kiện theo quy định của pháp luật Về nguyên tắc, Điều lệ của CTCP có thể quy định tỷ lệ cổ đông dự họp cụ thể để tiến hành Đại hội đồng cổ đông Tuy vậy, phải bảo đảm tỷ lệ tối thiểu mà Luật Doanh nghiệp yêu cầu Trong trường hợp Điều lệ của CTCP không quy định khác thì mới áp dụng điều kiện

do Luật Doanh nghiệp quy định Cụ thể, cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.11

Thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông được quy định chi tiết tại Điều

135, Khoản 2, Luật Doanh nghiệp (2014) Tương tự như Hội đồng thành viên trong công ty TNHH, với bản chất là cơ quan có thẩm quyền cao nhất với cơ chế không thường trực, thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông thể hiện thông qua việc quyết định những chính sách lớn của CTCP

1.2.3.2 Hội đồng quản trị

HĐQT là cơ quan quản lý của CTCP, có toàn quyền nhân danh công ty

để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của CTCP không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.12

10 OECD (2017), Survey of Corporate Governance Frameworks in Asia,

https://www.oecd.org/daf/ca/OECD-Survey-Corporate-Governance-Frameworks-Asia.pdf, ngày truy cập 7/7/2018

11 Điều 141, Khoản 1, Luật Doanh nghiệp (2014)

12 Điều 149, Khoản 1, Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 28

Thành viên HĐQT là người quản lý doanh nghiệp và phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc đối tượng không được quản lý doanh nghiệp;

- Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh của công ty và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều

lệ công ty quy định khác.13

Các điều kiện nêu trên được áp dụng trong các CTCP nếu Điều lệ công

ty không có quy định khác Ngoài ra, đối với công ty con mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì thành viên HĐQT không được là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Giám đốc, Tổng Giám đốc và người quản lý khác của công ty; không được là người có liên quan của người quản

lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ.14

Theo quy định tại Điều 134 Luật Doanh nghiệp (2014), tùy theo nhu cầu và hoàn cảnh của mình mà các bên có thể lựa chọn cấu trúc quản lý nội

bộ theo Mô hình thứ nhất hoặc Mô hình thứ hai Trong trường hợp các bên lựa chọn Mô hình thứ hai - mô hình không có Ban kiểm soát - thì trong CTCP bắt buộc phải có ít nhất 20% số thành viên HĐQT là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT Trong trường hợp này, các thành viên độc lập sẽ thực hiện các chức năng của Ban kiểm soát như trong Mô hình thứ nhất Do vậy, nhằm đảm bảo rằng các thành viên độc lập này không mang tính hình thức, ngoài việc đáp ứng các điều kiện của một thành viên HĐQT,

họ còn phải đáp ứng thêm một số điều kiện khác Cụ thể là:

13 Điều 151, Khoản 1, Luật Doanh nghiệp (2014)

14 Điều 151, Khoản 1, Điểm d, Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 29

- Không phải là người đang làm việc cho CTCP, công ty con của CTCP; không phải là người đã từng làm việc cho CTCP, công ty con của CTCP ít nhất trong ba năm liền trước đó;

- Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ CTCP, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên HĐQT được hưởng theo quy định;

- Không phải là người có vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của CTCP;

là người quản lý của CTCP hoặc công ty con của CTCP;

- Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số

cổ phần có quyền biểu quyết của CTCP;

- Không phải là người đã từng làm thành viên HĐQT, Ban kiểm soát của CTCP ít nhất trong 5 năm liền trước đó.15

Nói một cách khái quát, các điều kiện được quy định tại Điều 151, Khoản 2, Luật Doanh nghiệp (2014) là các điều kiện để bảo đảm tính độc lập của các thành viên đối với CTCP Điều này là phù hợp khuynh hướng chung của quản trị hiện đại trên thế giới.16

1.2.3.3 Ban kiểm soát hoặc Thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị và Ban kiểm toán nội bộ

Mặc dù không hoàn toàn đồng nhất, nhưng nếu tạm coi CTCP là một

“Nhà nước” thu nhỏ, thì Đại hội đồng cổ đông đóng vai trò là cơ quan lập pháp – nơi quyết định phương hướng phát triển và những vấn đề trọng đại khác của CTCP; HĐQT là cơ quan quản lý; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được coi là cơ quan hành pháp – nơi điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày; Ngoài ra còn có Ban kiểm soát hoặc Thành viên độc lập trong HĐQT

15 Điều 151, Khoản 2, Luật Doanh nghiệp (2014)

16 Bob Tricker (2012), Kiểm soát quản trị, Nhà xuất bản Thời đại, tr 107

Trang 30

và Ban kiểm toán nội bộ đóng vai trò của cơ quan tư pháp – có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động của HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

Luật Doanh nghiệp (2014) dành cho các bên quyền được lựa chọn mô hình quản lý tùy vào nhu cầu và hoàn cảnh cụ thể của mình Theo đó, cơ quan

có chức năng kiểm soát chính của CTCP có thể là Ban kiểm soát hoặc là thành viên độc lập trong HĐQT và Ban kiểm toán nội bộ

Đối với CTCP lựa chọn Mô hình thứ nhất, Ban kiểm soát có quyền giám sát HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành hoạt động của CTCP Ban kiểm soát kiểm tra, giám sát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của CTCP, kiểm tra tính hợp pháp và hợp lý, tính trung thực và mức cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong công tác tổ chức kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính; thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo định kỳ của CTCP, báo cáo đánh giá công tác của HĐQT lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên; xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của CTCP, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của CTCP bất cứ khi nào, nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông

Đối với CTCP lựa chọn Mô hình thứ hai, thành viên độc lập trong HĐQT và Ban kiểm toán nội bộ sẽ có vai trò tương tự như của Ban kiểm soát trong việc bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu, kiểm soát hoạt động của bộ máy quản lý, điều hành CTCP Việc lần đầu tiên ghi nhận khái niệm về thành viên độc lập trong HĐQT trong Luật Doanh nghiệp (2014) cho thấy pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam đã bắt kịp với mô hình quản lý nội bộ CTCP của nhiều quốc gia phát triển trên thế giới và thông lệ quản trị quốc tế

Trang 31

1.2.4 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công ty cổ phần tại Việt Nam

Kiểm tra, giám sát là một hoạt động thiết yếu trong quản lý nội bộ CTCP Do đó, quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về CTCP

Ở Việt Nam, CTCP ra đời muộn hơn so với các quốc gia khác trên trên thế giới Tuy nhiên, mốc đánh dấu sự ra đời của CTCP đầu tiên ở Việt Nam là vào năm 1990, khi Quốc hội khóa VIII thông qua hai đạo luật quan trọng, là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân Hai văn bản pháp lý đầu tiên này là cơ sở rất quan trọng cho việc hình thành và phát triển hệ thống các CTCP ở Việt Nam Từ năm 1995 trở đi, loại hình CTCP được thành lập nhiều hơn ở Việt Nam cùng với quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện thì nhiều nội dung trong hai đạo luật trên chưa đầy đủ, có nhiều bất cập, không đáp ứng được việc điều chỉnh hoạt động của CTCP trên thực tế Do vậy, trên cơ sở hợp nhất và sửa đổi, bổ sung Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh nghiệp (1999) được Quốc hội Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2000

Năm 2005, do yêu cầu của việc hội nhập kinh tế quốc tế, Luật Doanh nghiệp đã được ban hành mới, thay thế Luật Doanh nghiệp (1999) và được coi là một mốc đánh dấu rất quan trọng trong sự phát triển của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam Nó được coi là sản phẩm của kinh nghiệm lập pháp trong 15 năm, kể từ năm 1990 từ những điều khoản sơ khai về CTCP trong Luật Công ty (1990) Luật Doanh nghiệp (2005) bao gồm 172 Điều, trong đó có 54 Điều quy định về CTCP

Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của Luật Doanh nghiệp (1999) và Luật Doanh nghiệp (2005), đồng thời khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của các quy định hiện hành và thể chế hóa các

Trang 32

vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, ngày 26/11/2014 Luật Doanh nghiệp (mới) chính thức được Quốc hội Việt Nam thông qua và ban hành Hiện nay, Luật Doanh nghiệp (2014) đã trở thành một công cụ đắc lực để các CTCP kinh doanh an toàn hơn, qua đó tăng cường thu hút và huy động nhiều nguồn lực

và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh nhằm phát triển nền kinh tế của đất nước

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Như vậy, qua Chương 1 về Những vấn đề chung về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP và pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP, tác giả luận văn đã trình bày, phân tích và có được những kết quả nghiên cứu sau:

Thứ nhất, tác giả đã nêu khái quát về CTCP và phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của việc kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP Đồng thời, tác giả còn phân tích bộ máy thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát trong CTCP, hệ thống các quy định về kiểm tra, giám sát trong CTCP và quá trình phát triển của các quy định về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ trong CTCP Theo đó, chúng ta có thể hiểu, kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP là việc theo dõi, kiểm tra các cơ quan quản lý, điều hành, các cổ đông của công ty trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và việc các cá nhân, tổ chức của công ty chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, tuân thủ điều

lệ, nội quy của công ty cũng như nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, của HĐQT

Hoạt động kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP có những đặc điểm chủ yếu như: việc kiểm tra, giám sát được thực hiện bởi tập thể và các

cổ đông; yêu cầu kiểm tra, giám sát phải được thể hiện bằng văn bản; cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát phải có báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát bằng văn bản và khi kết thúc việc kiểm tra, giám sát thì chủ thể kiểm tra, giám sát thường nêu ra những nhận xét, đánh giá, kết luận và đề xuất các giải

Trang 33

pháp khắc phục các sai sót, bất cập, vi phạm pháp luật, điều lệ, nội quy của CTCP v.v

Thứ hai, cơ chế của việc kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP được thể hiện tại bộ máy kiểm tra, giám sát rất chặt chẽ, chi tiết Theo đó, Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong CTCP

Thứ ba, hệ thống các quy định về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội

bộ CTCP được thể hiện ở các văn bản luật và dưới luật rất chặt chẽ

Qua việc phân tích và chứng minh ở chương này chúng ta còn thấy được quá trình phát triển của các quy định pháp luật về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ CTCP được hình thành từ rất sớm

Trang 34

CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ THỰC TRẠNG THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG QUẢN LÝ NỘI BỘ

CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 2.1 Các quy định về kiểm tra, giám sát trong quản lý nội bộ công

ty cổ phần

2.1.1 Các quy định về việc kiểm tra, giám sát của Đại hội đồng cổ đông đối với Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong công ty cổ phần

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực của CTCP, có thẩm quyền quyết định cao nhất, bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết (cổ đông phổ thông và cổ đông có quyền ưu đãi biểu quyết).17Trong CTCP, Đại hội đồng cổ đông là cơ quan đại diện quyền lực của người góp vốn, là nơi phản ánh tập trung nhất quyền lực của các cổ đông Với ý nghĩa đó, Đại hội đồng

cổ đông có quyền quyết định hầu hết những vấn đề trọng đại của CTCP Theo quy định tại Điều 135, Khoản 2, Luật Doanh nghiệp (2014), Đại hội đồng cổ đông có quyền và nghĩa vụ sau:

- Thông qua định hướng phát triển của công ty

- Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần

- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, Kiểm soát viên

- Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác

17 Điều 135, Khoản 1, Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 35

- Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty

- Thông qua báo cáo tài chính hằng năm

- Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại

- Xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty

- Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty

- Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

Từ quy định nêu trên, có thể thấy pháp luật về doanh nghiệp không quy định cụ thể quyền kiểm tra, giám sát của Đại hội đồng cổ đông đối với HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Tuy nhiên, việc kiểm tra, giám sát của Đại hội đồng cổ đông vẫn được thể hiện qua những quy định về việc Đại hội đồng cổ đông thông qua việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, Kiểm soát viên hay xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc gây thiệt hại cho công ty và cổ đông trong công ty Ngoài ra, Đại hội đồng cổ đông còn có quyền xem xét và thông qua các báo cáo về sản xuất, kinh doanh, huy động vốn, phát hành chứng khoán v.v của HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, các báo cáo của Ban kiểm soát

Đại hội đồng cổ đông kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý, điều hành CTCP của HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, xem xét những thành tích hoặc thiệt hại mà các thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đã mang lại cho CTCP Nếu thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc vi phạm pháp luật về doanh nghiệp, Điều lệ, nội quy, nghị quyết của công ty, Đại hội đồng cổ đông có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm những chức danh quản lý của họ

Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng,

kể từ ngày kết thúc năm tài chính Đại hội đồng cổ đông thường niên thảo luận và thông qua các vấn đề sau đây: Báo cáo của HĐQT về quản trị và kết

Trang 36

quả hoạt động của HĐQT và từng thành viên HĐQT; Báo cáo của Ban kiểm soát về kết quả thi hành pháp luật, Điều lệ, nội quy của công ty, về kết quả hoạt động của HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc v.v.18 Như vậy, thông qua việc xem xét và thông qua các báo cáo của HĐQT về vấn đề quản lý công

ty, kết quả hoạt động của HĐQT và hoạt động của từng thành viên trong HĐQT hay báo cáo của Ban kiểm soát về kết quả kiểm tra việc thi hành pháp luật và Điều lệ, nội quy của công ty, về kết quả hoạt động của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc thì Đại hội đồng cổ đông có thể đối chiếu với hoạt động giám sát thực tế để đưa ra đánh giá là HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có báo cáo đúng hoặc hoạt động đúng trong thực tế so với các bản báo cáo hay không Để từ đó mà các cơ quan này có sự điều chỉnh, quản lý CTCP phù hợp hơn

Đại hội đồng cổ đông còn có quyền kiểm soát các giao dịch đặc biệt Đại hội đồng cổ đông có quyền phê duyệt các hợp đồng và giao dịch có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của CTCP, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác

Các quy định chi tiết của pháp luật về doanh nghiệp về quyền của Đại hội đồng cổ đông kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý, điều hành của HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc như trên đảm bảo cho việc kinh doanh sản xuất của CTCP đạt được hiệu quả cao Đồng thời, việc này sẽ giúp ngăn ngừa, khắc phục kịp thời những thiệt hại, những hậu quả xấu từ hoạt động quản lý, điều hành của HĐQT, của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đã gây ra cho CTCP

2.1.2 Các quy định về việc kiểm tra, giám sát của Hội đồng quản trị đối với hoạt động điều hành của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong công

ty cổ phần

18 Điều 136, Khoản 2, Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 37

HĐQT là cơ quan quản lý của CTCP, có toàn quyền nhân danh công ty

để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi của CTCP, trừ những vấn

đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Vì HĐQT là cơ quan do Đại hội đồng cổ đông bầu ra nên có thể coi HĐQT là cơ quan đại diện quyền sở hữu, thay mặt chủ sở hữu thực hiện chức năng quản lý CTCP HĐQT thường không can thiệp vào hoạt động hằng ngày của CTCP mà chỉ quyết định các vấn đề lớn như chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và hằng năm, quyết định giải pháp phát triển thị trường của CTCP

HĐQT có quyền kiểm tra, giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh của CTCP.19

Khi hoạt động của những người quản lý, điều hành được kiểm tra, giám sát chặt chẽ sẽ giúp ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng lạm quyền hay thực hiện những giao dịch trái pháp luật Khi thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, HĐQT phải tuân theo đúng pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của Đại hội đồng cổ đông.20

Nếu HĐQT thực hiện việc kiểm tra, giám sát không đúng quyền và nghĩa vụ của mình, ví dụ như bao che cho Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc điều hành công việc kinh doanh của CTCP không đúng quy định, thì sẽ phải chịu trách nhiệm đền bù thiệt hại cho CTCP Pháp luật quy định như vậy là nhằm bảo đảm tính trách nhiệm và tính hiệu quả của hoạt động của HĐQT, tránh tình trạng HĐQT kiểm tra, giám sát một cách qua loa, đại khái,

vô trách nhiệm, không đúng quy định của pháp luật

Ngoài ra, HĐQT có quyền kiểm soát các giao dịch đặc biệt khi chấp thuận hoặc không chấp thuận các hợp đồng và giao dịch có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% (Luật Doanh nghiệp (2005) quy định bằng hoặc lớn hơn 50%) tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất hoặc một tỷ lệ

19 Điều 149, Khoản 2, Điểm k Luật Doanh nghiệp (2014)

20 Điều 149, Khoản 4, Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 38

khác được quy định tại Điều lệ công ty.21 Trong trường hợp này, người đại diện theo pháp luật phải gửi đến các thành viên HĐQT, niêm yết tại trụ sở chính, chi nhánh của CTCP dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch HĐQT quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết; thành viên có lợi ích liên quan không có quyền biểu quyết

2.1.3 Các quy định về việc kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát hoặc của thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị và Ban kiểm toán nội bộ đối với Hội đồng quản trị

2.1.3.1 Trường hợp công ty cổ phần lựa chọn Mô hình quản lý có Ban kiểm soát

Việc tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát chỉ được đặt ra trong trường hợp CTCP lựa chọn Mô hình quản lý thứ nhất Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên, nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá năm năm và Kiểm soát viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.22 Chức năng chính của Ban kiểm soát là giám sát hoạt động của HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, các cổ đông và người lao động trong CTCP Ban kiểm soát không có thẩm quyền ra quyết định mà chỉ có thẩm quyền kiến nghị với Đại hội đồng cổ đông Việc thực hiện quyền giám sát của Ban kiểm soát trong CTCP tập trung vào các quan hệ tài chính Ban kiểm soát có quyền thẩm định tính đầy đủ, hợp pháp và trung thực của báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của CTCP và báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT Trên cơ sở thẩm định, Ban kiểm soát có quyền nêu nhận xét và kiến nghị của mình lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.23 Ngoài ra, khi Ban kiểm soát phát hiện có thành viên HĐQT, Giám đốc

21 Điều 149, Điểm h, Luật Doanh nghiệp (2014)

22 Điều 163, Khoản 1 Luật Doanh nghiệp (2014)

23 Điều 165 Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 39

hoặc Tổng giám đốc vi phạm quy định tại Điều 160 của Luật Doanh nghiệp (2014) như: không thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liên quan, Điều lệ công ty, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông; không thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng hoặc tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty; không trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức

vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức,

cá nhân khác; hay không báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ phần chi phối v.v thì Ban kiểm soát phải thông báo ngay bằng văn bản với HĐQT, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.24

Quyền được cung cấp thông tin của Ban kiểm soát trong CTCP là khá rộng, không chỉ hạn chế trong các quan hệ tài chính Ban kiểm soát có quyền xem xét sổ kế toán, các tài liệu khác của CTCP và các công việc quản lý, điều hành hoạt động của CTCP khi xét thấy cần thiết, hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, hoặc theo yêu cầu của các cổ đông chiếm giữ từ 10% vốn điều lệ trở lên Việc xem xét của Ban kiểm soát không được cản trở hoạt động bình thường của HĐQT và không gây ra gián đoạn việc điều hành hoạt động kinh doanh của CTCP Ngoài ra, Ban kiểm soát cũng có quyền tiếp cận các hồ

sơ, tài liệu lưu giữ tại trụ sở chính của CTCP, tại chi nhánh và địa điểm khác

và đến các địa điểm nơi người quản lý và nhân viên của công ty làm việc Ban kiểm soát trong CTCP có quyền sử dụng tư vấn độc lập để thực hiện các nhiệm vụ được giao.25

24 Điều 165, Khoản 8, Luật Doanh nghiệp (2014)

25 Điều 165 và Điều 166 Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 40

Khi thực hiện việc kiểm tra, giám sát HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kiểm soát viên có trách nhiệm phải tuân thủ đúng pháp luật, Điều

lệ công ty, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và đạo đức nghề nghiệp trong thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao; không được thực hiện việc kiểm tra, giám sát một cách tùy tiện, chủ quan Kiểm soát viên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của CTCP Đồng thời, Kiểm soát viên phải trung thành với lợi ích của CTCP và cổ đông; không sử dụng thông tin,

bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.26 Nếu Kiểm soát viên vi phạm các nghĩa vụ và trách nhiệm nêu trên mà gây thiệt hại cho công ty hoặc người khác thì Kiểm soát viên phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường thiệt hại đó Mọi thu nhập và lợi ích khác mà Kiểm soát viên có được phải hoàn trả cho công ty.27

2.1.3.2 Trường hợp công ty cổ phần lựa chọn Mô hình quản lý không

có Ban kiểm soát

Trong trường hợp CTCP lựa chọn Mô hình quản lý không có Ban kiểm soát, HĐQT phải có ít nhất 20% số thành viên là thành viên độc lập và phải

có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT Khi đó, các giấy tờ, giao dịch của CTCP phải ghi rõ “thành viên độc lập” trước họ, tên của thành viên HĐQT tương ứng.28

Các thành viên độc lập trong HĐQT thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành CTCP Điều lệ công

ty quy định cụ thể số lượng, quyền, nghĩa vụ, cách thức tổ chức và phối hợp hoạt động của các thành viên độc lập trong HĐQT Thành viên độc lập trong

26 Điều 168, Khoản 1, 2, 3, 4, Luật Doanh nghiệp (2014)

27 Điều 168, Khoản 5, Luật Doanh nghiệp (2014)

28 Trương Thanh Đức (2017), Luận giải về Luật Doanh nghiệp 2014, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 292

Ngày đăng: 30/07/2019, 18:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kim Chi (2015), Pháp luật về bảo vệ cổ đông nhỏ ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo vệ cổ đông nhỏ ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chi
Năm: 2015
2. Nguyễn Văn Cừ (2016), Cơ chế ngăn ngừa khả năng lạm quyền của Hội đồng quản trị và người quản lý trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp (2014), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Chuyên đề Môi trường pháp lý cho doanh nghiệp/2016, Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế ngăn ngừa khả năng lạm quyền của Hội đồng quản trị và người quản lý trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp (2014)
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ (2016), Cơ chế ngăn ngừa khả năng lạm quyền của Hội đồng quản trị và người quản lý trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp
Năm: 2014
3. Lưu Thị Dung (2015), Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp (2014), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp (2014)
Tác giả: Lưu Thị Dung (2015), Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp
Năm: 2014
4. Trần Ngọc Dũng (2016), Hoàn thiện quy định về cơ chế giám sát hoạt động quản lý, điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/2016, Viện Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định về cơ chế giám sát hoạt động quản lý, điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Năm: 2016
5. Trương Thanh Đức (2017), Luận giải về Luật Doanh nghiệp 2014, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận giải về Luật Doanh nghiệp 2014
Tác giả: Trương Thanh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2017
6. Phạm Hoài Huấn (2016), Tranh chấp điển hình trong quản trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp điển hình trong quản trị doanh nghiệp
Tác giả: Phạm Hoài Huấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
7. Phạm Trí Hùng & Nguyễn Trung Thẳng (2012), CEO và Hội đồng quản trị, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CEO và Hội đồng quản trị
Tác giả: Phạm Trí Hùng & Nguyễn Trung Thẳng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2012
8. Nguyễn Thị Lan Hương (2011), Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần, Tạp chí Luật học số 27, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Năm: 2011
9. Tổ chức Tài chính Quốc tế IFC (2011), Cẩm nang quản trị công ty, Nhóm Ngân hàng Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang quản trị công ty
Tác giả: Tổ chức Tài chính Quốc tế IFC
Năm: 2011
10. Nguyễn Thị Thùy Linh (2014), Hoàn thiện pháp luật về quản trị nội bộ công ty cổ phần, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quản trị nội bộ công ty cổ phần
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Linh
Năm: 2014
11. Đỗ Thị Vân Nhung (2012), Pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Đỗ Thị Vân Nhung
Năm: 2012
12. Phan Nữ Hiền Oanh (2014), Kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phan Nữ Hiền Oanh
Năm: 2014
13. Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp, Nhà xuất bản Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về doanh nghiệp
Tác giả: Trương Nhật Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2016
14. Bob Tricker (2012), Kiểm soát quản trị, Nhà xuất bản Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát quản trị
Tác giả: Bob Tricker
Nhà XB: Nhà xuất bản Thời đại
Năm: 2012
15. Phan Thị Bảo Yến (2014), Mô hình quản trị Công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.II. CÁC TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình quản trị Công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Phan Thị Bảo Yến
Năm: 2014
16. Ái Chân (2011), Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết: Nhiều sai phạm dẫn đến thua lỗ kéo dài,http://www.sggp.org.vn/cong-ty-co-phan-bong-bach-tuyet-nhieu-sai-pham-dan-den-thua-lo-keo-dai-329351.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết: Nhiều sai phạm dẫn đến thua lỗ kéo dài
Tác giả: Ái Chân
Năm: 2011
17. Đỗ Mến (2016), Hồi kết cho tranh cãi tại Prosimex?, http://baodauthau.vn/phap-luat/hoi-ket-cho-tranh-cai-tai-prosimex-22568.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi kết cho tranh cãi tại Prosimex
Tác giả: Đỗ Mến
Năm: 2016
18. Nhóm phóng viên Truyền hình Pháp luật (2018), Nghi vấn hàng chục triệu cổ phần của cổ đông Nam Á Bank 'bỗng dưng' đổi chủ,https://tvphapluat.vn/video/nghi-van-hang-chuc-trieu-co-phan-cua-co-dong-nam-a-bank-bong-dung-doi-chu-10403/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi vấn hàng chục triệu cổ phần của cổ đông Nam Á Bank 'bỗng dưng' đổi chủ
Tác giả: Nhóm phóng viên Truyền hình Pháp luật
Năm: 2018
23. Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Namhttp://xdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/Nghien-cuu-trao-%C4%91oi.aspx?ItemID=17III. CÁC TÀI LIỆU BẰNG TIẾNG ANH Link
26. Singapore Companies Act (Chapter 50), https://sso.agc.gov.sg/Act/CoA1967IV.CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT 27. Luật Các tổ chức tín dụng (2010) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w