Trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các hình thức chế tài xử lý hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, tác giả đặt cho mình mục đích nhận thức toàn d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TẠ THỊ THANH HẰNG
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
Hà Nội – 2019
Trang 2TẠ THỊ THANH HẰNG
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan, đồng nghiệp nơi tôi công tác và các cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội, Phòng Đào tạo và Khoa Sau Đại học của nhà trường cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Luật Hà Nội
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo – TS Vũ Đặng Hải Yến đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi không tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tạ Thị Thanh Hằng
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI 6
1.1 Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 6
1.1.1 Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại và vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 6
1.1.2 Khái niệm chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 16
1.1.3 Đặc điểm của chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 18 1.2 Ý nghĩa của chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 19
1.3 Khái quát pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 21
1.3.1 Nguồn pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 21
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng quy định pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 24
1.3.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam 27
1.3.4 Những nội dung cơ bản của pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 33
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 35
2.1 Các căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 35
2.1.1 Hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 35
2.1.2 Lỗi của bên vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 39
2.1.3 Các căn cứ khác 41
2.2 Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 42
2.2.1 Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 42
Trang 62.2.2 Chế tài phạt vi phạm 44
2.2.3 Chế tài bồi thường thiệt hại 52
2.2.4 Chế tài tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng 55
2.2.5 Các hình thức chế tài khác do các bên thỏa thuận 58
2.3 Miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại 58
2.3.1 Trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận 59
2.3.2 Trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng 60
2.3.3 Trường hợp hành vi vi phạm của một bên xảy ra do lỗi của bên còn lại 62 2.3.4 Trường hợp vi phạm hợp đồng do thực hiện quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 64
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 67
3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam 67
3.1.1 Phù hợp với đường lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 67
3.1.2 Đảm bảo sự thống nhất của các văn bản pháp luật 68
3.1.3 Đảm bảo sự bình đẳng của các bên trong quan hệ hợp đồng 69
3.1.4 Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế của Việt Nam 69
3.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại tại Việt Nam 70
3.2.1 Hoàn thiện quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 70
3.2.2 Hoàn thiện quy định về chế tài phạt vi phạm 71
3.2.3 Hoàn thiện quy định về chế tài bồi thường thiệt hại 74
3.2.4 Hoàn thiện quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 77
KẾT LUẬN 78
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Luật Thương mại năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, Luật này ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang đàm phán gia nhập WTO, do đó, Luật Thương mại
2005 có vai trò là sứ mệnh lịch sử đưa Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới Sau hơn 10 năm thi hành đã đạt được những kết quả đáng kể, nhưng cũng
đã bộc lộ những bất cập cần được sửa đổi cho phù hợp với tình hình và bảo đảm sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật Chẳng hạn, trong quan hệ giữa các thương nhân, pháp luật thương mại có những quy định nhằm duy trì và bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng Khi một hợp đồng thương mại đã được giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu lực pháp luật thì các bên phải thực hiện các nghĩa vụ
mà mình đã thỏa thuận trong hợp đồng Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn đến hậu quả bên vi phạm phải chịu chế tài, bao gồm các chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại mà bên bị vi phạm có quyền được lựa chọn áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng chế tài Đó là các biện pháp tác động bất lợi về tài sản của bên có quyền lợi bị vi phạm đối với chủ thể có hành vi vi phạm cam kết hợp đồng trong thương mại Nếu một bên vi phạm hợp đồng thì phải gánh chịu những hậu quả pháp
lí (bất lợi) nhất định do hành vi vi phạm đó gây ra Tuy nhiên, thực tiễn xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng thương mại trong thời gian qua vẫn còn một số vấn đề
gây tranh cãi, một số quy định của Luật Thương mại 2005 gây “khó khăn” cho các
cơ quan giải quyết tranh chấp và các bên trong việc xác định hình thức xử lý đối với bên có hành vi vi phạm hợp đồng Những vấn đề này phần lớn xuất phát từ sự bất cập của các quy định về chế tài trong thương mại
Nhận thức rõ điều đó tác giả đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng pháp luật về chế
tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại” làm luận văn thạc sỹ Trên cơ
sở các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các hình thức chế tài xử lý hành
vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, tác giả đặt cho mình mục đích nhận thức toàn diện về các hình thức chế tài trong thương mại, đi sâu phân tích về một số bất cập của chế tài trong thương mại cần được nghiên cứu sửa đổi để từ đó
có các kiến nghị cần thiết đối với việc hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan
Trang 8đến các chế tài xử lý vi phạm hợp đồng trong thương mại nói riêng cũng như đạt được hiệu quả cao hơn trong quá trình điều chỉnh các vấn đề trong hoạt động thương mại nói chung
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam, hiện nay có một số công trình khoa học như:
- Tác giả Hoàng Thị Hà Phương với Luận văn thạc sỹ luật học năm 2012,
Trường Đại học Luật Hà Nội: “Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại – Những
vấn đề lý luận và thực tiễn”;
- Tác giả Quách Thúy Quỳnh với Luận văn thạc sỹ luật học năm 2005, Trường
Đại học Luật Hà Nội: “Pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong
kinh doanh – Thực trạng và phương pháp hoàn thiện”;
- Tác giả Phan Thùy Linh với Luận văn thạc sỹ luật học năm 2016, Trường
Đại học Luật Hà Nội: “Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại dưới góc độ so
sánh pháp luật Việt Nam và bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế”;
- Tác giả Đồng Thái Quang với bài viết: “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo
Luật thương mại 2005 – Một số vướng mắc về lý luận và thực tiễn” trên Tạp chí
Tóa án nhân dân kỳ II tháng 10/2014 (Số 20);
- Tác giả Dương Anh Sơn với bài viết: “Thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng” trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3 năm
2005;
- Tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga với bài viết: “Về việc áp dụng chế tài phạt
hợp đồng và bồi thường thiệt hại vào thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại” trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 9 năm 2006;
- Tác giả Đỗ Văn Đại với bài viết: “Phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật
thực định Việt Nam” trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 19 năm 2007;
- Tác giả Nguyễn Việt Khoa với bài viết: “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo
Luật Thương mại năm 2005” trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 15 năm 2011 v v
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến vấn đề chế tài
do vi phạm hợp đồng thương mại ở những mức độ và phạm vi khác nhau, vào
Trang 9những khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên, có thể thấy rằng, đến nay chưa có một công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu và tổng thể, hệ thống hóa được nội dung, thực trạng quy định của pháp luật và định hướng hoàn thiện chế định riêng về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Với tính mới, tính
cấp thiết nêu trên, tác giả nhận thấy nên và cần lựa chọn đề tài “Thực trạng pháp
luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại” để viết Luận văn
thạc sỹ trong giai đoạn hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề chung về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, không đi sâu vào hình thức chế tài cụ thể mà chỉ dừng lại ở việc đánh giá các thực trạng pháp luật để thấy được vị trí, vai trò và mối quan hệ của các hình thức chế tài xử lý vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại theo quy định của Luật Thương mại 2005, ngoài ra có sự đối chiếu với các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 Đồng thời so sánh các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại của Việt Nam với một số quốc gia cũng như điều ước quốc tế có liên quan trong một số trường hợp cần thiết để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà Luận văn đặt ra, tác giả sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, được vận dụng vào lý giải các vấn đề lý luận và pháp lý về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Việc nghiên cứu trước hết làm rõ các vấn đề khái quát, từ đó phân tích làm rõ thực trạng pháp luật để hệ thống hóa, đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các chế tài đối với vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch
sử, so sánh, thống kê, …vv Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành còn được
sử dụng gồm: phương pháp phân loại pháp lý, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp mô hình hóa và điển hình hóa, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích quy phạm
Trang 105 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam để từ đó
đề xuất các giải pháp cụ thể để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Để thực hiện được mục đích trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải quyết bao gồm:
- Nghiên cứu, làm rõ bản chất pháp lý, ý nghĩa của các chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại, cấu trúc pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại và quá trình hình thành và phát triển các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại tại Việt Nam
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về chế tài do
vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam
- Từ việc nghiên cứu những nội dung nêu trên, đưa ra những đề xuất kiến nghị
cụ thể về việc hoàn thiện pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại để đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, làm rõ
cả dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn pháp luật về vấn đề này
Từ các quy định về hình thức chế tài trong Luật Thương mại 2005, luận văn làm rõ bản chất pháp lý của chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, phân tích nguồn luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại cũng như yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng pháp luật về vấn đề này, và khái quát về quá trình hình thành và phát triển cũng như thực tiễn các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay
Từ kết quả nghiên cứu trên, luận văn đưa ra những kiến nghị cụ thể cho việc hoàn thiện các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu gồm ba Chương như sau:
Trang 11- Chương I: Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại và pháp
luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
- Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về chế tài
do vi phạm hợp đồng thương mại tại Việt Nam
- Chương III: Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế tài do vi phạm
hợp đồng thương mại tại Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC
THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
1.1.1 Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại và vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại
1.1.1.1 Khái quát về Hợp đồng và Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao
đổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều
tiết các quan hệ tài sản Hợp đồng là hình thức pháp lý thích hợp và có hiệu quả
trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hóa – tiền tệ Ngày nay, phần lớn các
quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng hợp đồng Vai trò và vị trí của chế định
hợp đồng ngày càng được khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật Trong hệ thống
pháp luật của một quốc gia, pháp luật về hợp đồng giữ một vị trí vô cùng quan
trọng Vai trò trung tâm của hợp đồng trong hệ thống kinh tế và pháp luật không
phải là ngẫu nhiên, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, nơi mà mọi hàng hóa,
dịch vụ…phải được tự do lưu thông trên thị trường thì vai trò của hợp đồng càng
được thể hiện rõ hơn, bởi lẽ trong các quan hệ hợp đồng thì ý chí của các bên mang
tính quyết định Về mặt nguyên tắc, pháp luật tôn trọng ý chí của các bên và chỉ can
thiệp trong trường hợp mà ở đó có sự giới hạn của pháp luật
Hợp đồng có bản chất là sự tự nguyện thỏa thuận và thống nhất ý chí nhằm
xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể
trong xã hội Hợp đồng là căn cứ pháp lý phổ biến nhằm phát sinh quyền và nghĩa
vụ giữa các bên Giao kết và thực hiện hợp đồng chính là cách thức cơ bản để thực
hiện hiệu quả các hoạt động kinh tế
Khi nghiên cứu hợp đồng và pháp luật hợp đồng cần lưu ý một số vấn đề sau
đây:
Trang 13Thứ nhất, hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham gia giao kết
Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường Chức năng cơ bản của hợp đồng quyết định bản chất và giá trị xã hội của
nó trong điều kiện kinh tế xã hội của một quốc gia Hợp đồng luôn gắn liền với sự
tự do thể hiện ý chí của các chủ thể Tự do ý chí trong giao kết hợp đồng được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở Pháp thế kỷ XVIII Lúc đầu nó được coi là nguyên tắc độc tôn ý chí Nguyên tắc này cho phép các cá nhân tự do quyết định trong việc giao kết hợp đồng và khẳng định quyền của mỗi cá nhân tham gia vào giao dịch chỉ phụ thuộc vào chính họ mà không phụ thuộc vào pháp luật Quan niệm này xuất phát từ việc cho rằng, nếu các cá nhân tự do giao kết thì sẽ đảm bảo được sự công bằng trong quan hệ hợp đồng Nguyên tắc tự do ký kết hợp đồng đưa đến một hệ quả là hợp đồng khi đã được ký kết thì có giá trị bắt buộc thực hiện Việc thay đổi hợp đồng cũng chỉ có thể được thực hiện bởi sự thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng và không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của họ cũng như không có quyền làm thay đổi ý chí của họ Khi nói đến hợp đồng ta hiểu các chủ thể trong đó bình đẳng cả về quyền và nghĩa vụ Nhưng trên thực tế các bên tham gia ký kết hợp đồng thường không ngang bằng nhau mà có một bên mạnh hơn và một bên yếu hơn
về kinh tế Do đó không có sự tự do ký kết hợp đồng mà thường là một bên phụ thuộc vào ý chí của bên kia, bằng việc thông qua hợp đồng do bên mạnh hơn định sẵn Chính vì vậy, hợp đồng không còn là kết quả của sự thể hiện ý chí chung của các bên nữa mà nó trở thành hình thức biểu hiện của sự bất bình đẳng giữa các bên với nhau Do đó, đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp đến các quan hệ này thông qua pháp luật và chế định hợp đồng ra đời giữ một vị trí rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ trong hợp đồng Sự thay đổi từ quan điểm đề cao lợi ích cá nhân sang đề cao lợi ích xã hội đã làm thay đổi nguyên tắc này
Thứ hai, hợp đồng là tập hợp những cam kết được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
Chế định hợp đồng luôn tôn trọng sự tự do của các bên giao kết, song sự tự
do đó phải giới hạn trong khuôn khổ pháp luật Nói cách khác, pháp luật chỉ bảo vệ những cam kết không xâm hại đến trật tự pháp luật, trật tự công cộng Xuất phát từ
Trang 14nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự là tôn trọng quyền tự do ý chí của mọi cá nhân và các chủ thể khác trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của mình, pháp luật các nước đều cho phép các chủ thể được hoàn toàn tự do giao kết hợp đồng, miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội Việc hình thành các hạn chế của nguyên tắc
tự do trong ký kết hợp đồng xuất phát từ quan điểm bảo vệ trật tự công và lợi ích chung của xã hội Vì vậy, pháp luật sẽ bảo vệ lợi ích và quyền của các bên song lợi ích này phải không được xâm hại đến trật tự và lợi ích công
Thứ ba, chế định hợp đồng mang tính bắt buộc song cũng hết sức linh hoạt, mềm dẻo
Điều này không dễ dàng đạt được nếu như quy định pháp luật không được xây dựng theo hướng đề cao tự do ý chí của các bên, pháp luật chỉ can thiệp ở giới hạn cần thiết Ở Việt Nam, khoa học pháp lý và pháp luật thực định đã sử dụng nhiều khái niệm pháp lý để chỉ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh như: hợp đồng kinh doanh, hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, hợp đồng kinh tế, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại…Pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại mà chỉ quy định khái niệm chung về hợp đồng Bộ
luật Dân sự năm 2005 định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 388) Với
phạm vi áp dụng của Bộ luật Dân sự 2005 (khoản 1 Điều 1), các quy định về hợp đồng dân sự được áp dụng cho hợp đồng nói chung (trong các lĩnh vực dân sự, lao động, thương mại và đầu tư kinh doanh) Bộ luật dân sự năm 2015 đã bỏ cụm từ dân sự trong khái niệm về hợp đồng Tại Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015 định
nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Trong khuôn khổ luận văn này, thuật ngữ hợp
đồng trong lĩnh vực thương mại dùng để chỉ hợp đồng được thiết lập trong hoạt động thương mại
Như vậy, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng Tuy nhiên, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có những đặc điểm riêng nhất định, khác với những hợp đồng dân sự thông thường theo cách hiểu truyền thống
Có thể xem xét hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong mối liên hệ với hợp đồng dân sự theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Từ cách tiếp
Trang 15cận này, những vấn đề cơ bản về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như: giao kết hợp đồng, nguyên tắc và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu…được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự và không có
sự khác biệt với các hợp đồng dân sự thông thường Song, xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động thương mại, một số vấn đề về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được quy định có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định dân luật truyền thống về hợp đồng (như chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng…)
Hiện nay, khái niệm hoạt động trong lĩnh vực thương mại được hiểu theo
nghĩa rất rộng, “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005), do đó có thể hiểu khái
quát hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là “sự thỏa thuận giữa các thương nhân
với nhau và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại” Hợp đồng trong lĩnh vực thương
mại là khái niệm được sử dụng trong luận văn này nhằm xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu mà không nhằm mục đích xây dựng một khái niệm pháp lý hoặc học thuật mới nào Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo cách hiểu này không bị giới hạn trong phạm vi hợp đồng kinh tế trước đây mà có thể là bất kỳ hợp đồng nào với một số đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được thiết lập giữa các chủ thể, trong đó có ít nhất một bên là thương nhân Theo quy định của
Luật Thương mại năm 2005, thương nhân bao gồm: tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động kinh doanh một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Có những quan hệ hợp đồng trong thương mại đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân, như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại…Có những hợp đồng trong lĩnh vực thương mại chỉ đòi hỏi ít nhất một bên là thương nhân, như: hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng dịch vụ xây dựng, hợp đồng bảo hiểm…Cá biệt, có những hợp đồng trong lĩnh vực thương mại không nhất thiết chủ thể hợp đồng phải là
Trang 16thương nhân, như: hợp đồng giao kết giữa các chủ thể kinh doanh là người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp (những người này không phải đăng ký kinh doanh, do đó họ không phải là thương nhân)
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được thiết lập theo cách thức mà hai bên thỏa thuận, có thể được thể hiện bằng hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể Trong một số trường hợp, pháp luật bắt buộc các bên
phải thiết lập hợp đồng bằng hình thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương với văn bản (hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương mại…)
Thứ ba, mục đích của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là lợi nhuận Mục
đích lợi nhuận là đặc trưng của các giao dịch thương mại Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một bên của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại không có mục đích lợi nhuận Những hợp đồng này, về nguyên tắc không đương nhiên chịu sự điều chỉnh bởi những quy định riêng của pháp luật thương mại Theo khoản 3 Điều 1
Luật Thương mại năm 2005, “hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên
trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này” thì sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật
Thương mại năm 2005
Thứ tư, một đặc trưng khác của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là tính bồi hoàn “Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại phải mang tính bồi hoàn Ngay cả khi trong hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả thì một bên trong hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có quyền yêu cầu thanh toán bằng tiền hoặc bằng các hình thức khác do việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng” [28-tr 4- 10]
Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 ra đời đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật về hợp đồng và là sự thống nhất pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam Các quy định về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại đã có những thay đổi cơ bản cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung pháp lý Luật Thương
Trang 17mại năm 2005 là nguồn quan trọng điều chỉnh các giao dịch thương mại giữa các thương nhân với nhau và với các bên có liên quan nhằm triển khai hoạt động kinh doanh…Luật Thương mại xây dựng trên cơ sở tiếp tục phát triển các tính chất nguyên tắc của Bộ luật Dân sự, cụ thể hóa các nguyên tắc này cho thích hợp để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh Bên cạnh các quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005, một số hợp đồng đặc thù trong lĩnh vực thương mại được điều chỉnh bởi quy định trong các luật chuyên ngành như: Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng, Bộ luật Hàng hải…Thông thường, ngoài việc phải tuân thủ các quy định chung về hợp đồng trong
Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại, mỗi hợp đồng cụ thể còn chịu sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành đó Nguyên tắc áp dụng pháp luật được xác định rõ trong Luật Thương mại 2005 là: Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan Hoạt động thương mại đặc thù trong luật khác thì áp dụng theo quy định của Luật đó Hoạt động trong lĩnh vực thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự
1.1.1.2 Vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo khía cạnh nội dung và thời gian thì
có thể hiểu như một bản “kế hoạch chung”, để cùng thực hiện những quyền và nghĩa vụ nhất định đối với nhau trong tương lai Các bên căn cứ vào mục đích giao kết, điều kiện, hoàn cảnh hiện tại và khả năng nhận thức, tư duy, dự đoán về điều kiện, hoàn cảnh tương lai để cùng thỏa thuận xác định, bố trí các quyền và nghĩa vụ đối với nhau Khi triển khai thực hiện hợp đồng, có thể vì các lý do khách quan hoặc chủ quan nào đó, một bên hoặc các bên của hợp đồng có thể thực hiện hành vi
vi phạm nghĩa vụ, dẫn đến mục đích giao kết hợp đồng không đạt được, có thể làm phát sinh thiệt hại đối với bên bị vi phạm hợp đồng Do đó, vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có thể hiểu là hành vi cụ thể, có tính sai phạm và trái với các quy định của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là thuật ngữ được xây dựng trên cơ sở thuật ngữ vi phạm hợp đồng
Trang 18và có bổ sung thêm các yếu tố đặc thù của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại so với hợp đồng nói chung [17 – tr 14]
Trong nhóm nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, ở Đức, Bộ luật Dân sự Đức không đưa ra khái niệm chung về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (hay vi phạm hợp đồng) Hiện Bộ luật Dân sự Đức chỉ quy định điều chỉnh các nhóm hành vi cụ thể được cho là vi phạm hợp đồng gồm chậm thực hiện nghĩa vụ và không có khả năng thực hiện nghĩa vụ Trong thực tiễn xét xử ở Đức, Tòa án còn khắc phục lỗ hổng pháp luật bằng việc gộp các hành vi ngoài hai nhóm chính hành vi vi phạm hợp đồng vừa nêu thành nhóm thứ ba là “chủ động vi phạm” Cũng nằm trong hệ thống pháp luật Civil Law, ở Pháp lại có một số điểm khác biệt Bộ luật Dân sự Pháp quy định chia vi phạm hợp đồng thành hai nhóm cơ bản là chậm thực hiện nghĩa vụ và không thực hiện nghĩa vụ Nhóm hành vi không thực hiện nghĩa vụ này bao hàm cả trường hợp không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ của hợp đồng
Tiếp cận theo góc độ khác, thuộc hệ thống pháp luật Common Law, pháp luật ở Anh và Hoa Kỳ phân biệt các hành vi vi phạm hợp đồng thành hai dạng chính
là vi phạm thực tế và vi phạm thấy trước Dạng vi phạm thực tế là việc bên có nghĩa
vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng khi đến hạn Dạng thứ hai, các hành vi vi phạm thấy trước là trường hợp bên có quyền xem hành
vi của bên có nghĩa vụ đã vi phạm hợp đồng khi chưa đến hạn thực hiện nhưng bên
có nghĩa vụ bằng hành vi của mình hoặc tuyên bố chính thức tới bên có quyền rằng
sẽ không thực hiện hợp đồng Căn cứ vào mỗi dạng và thực tế vi phạm, luật dân sự Anh, Hoa Kỳ lại đưa ra các giải pháp để bên có quyền lựa chọn để thực hiện quyền
tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình
Không tiếp cận khái niệm vi phạm hợp đồng dựa trên sự phân loại nghĩa vụ, Công ước viên 1980 (Công ước của Liên hiệp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế) dung hòa và tiếp cận ở góc độ chung nhất về vi phạm hợp đồng
Theo quy định tại các Điều 9, Điều 45, Điều 61 của Công ước viên 1980, “vi
phạm hợp đồng được hiểu là việc không thực hiện nghĩa vụ, bao gồm cả việc không thực hiện những nghĩa vụ được quy định rõ ràng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
và cả việc một trong hai bên không thực hiện nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ
Trang 19chính quy định của công ước này, từ các tập quán mà các bên đã thỏa thuận và từ cách thực hiện đã được các bên thiết lập trong mối quan hệ tương hỗ giữa họ”
Bị ảnh hưởng của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 và Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 đều đề cập đến vấn đề vi phạm hợp đồng thông qua điều khoản quy định về trách nhiệm do
vi phạm hợp đồng Theo đó, vi phạm hợp đồng được hiểu là “không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng”, việc vi phạm hợp đồng này sẽ làm pháp sinh trách nhiệm pháp lý của bên vi phạm Tương tự, Bộ luật Dân sự 1995 cũng như Bộ Luật Dân sự 2005 cũng chưa đưa ra quy định định nghĩa vi phạm hợp đồng Khái niệm vi phạm hợp đồng được suy luận và rút ra từ quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự (tại Điều 308 Bộ luật Dân sự 1995 và tại Điều 302 Bộ luật Dân sự 2005), gồm 02 trường hợp là: (1) không thực hiện; (2) thực hiện không đúng Trong đó, “không thực hiện” được hiểu là hành vi “không hành động” của bên vi phạm, tức là không làm gì để hợp đồng bị vi phạm, mặc kệ cho thiệt hại có thể gây ra cho bên kia “Thực hiện không đúng” có thể hiểu là đã có thực hiện, tuy nhiên khi xác định về tiêu chí hoàn thành lại không đạt so với điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng, còn gọi là “không đúng” với hợp đồng Cả hai trường hợp xảy ra đều gây ra hậu quả là bên có quyền không được hưởng đầy đủ các quyền đáng lẽ được hưởng theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, ngoài ra còn có thể bị thiệt hại do bên vi phạm gây ra
Khác với Bộ luật Dân sự, nhà làm luật Luật Thương mại 2005 đã đưa ra được định nghĩa về vi phạm hợp đồng tại khoản 12 Điều 3 như sau “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” Theo Luật Thương mại 2005, việc vi phạm hợp đồng lại được ghi nhận theo
03 trường hợp gồm: (1) không thực hiện; (2) thực hiện không đầy đủ; (3) thực hiện không đúng Mặc dù có tiến bộ khi có quy định định nghĩa nhưng Luật Thương mại
2005 lại làm phức tạp và gây ra trùng lặp nội dung trong định nghĩa do trường hợp
“thực hiện không đầy đủ” và trường hợp “thực hiện không đúng” xét về mặt nội dung gần như đồng nhất với nhau, bởi cả hai đều vi phạm các điều kiện để xác định nghĩa vụ đã được hoàn thành hay chưa Thiết nghĩ, Luật Thương mại 2005 chỉ cần
Trang 20để 02 trường hợp như quy định trong Bộ luật Dân sự đã đủ để phản ánh 02 nhóm trường hợp vi phạm hợp đồng Khảo sát các văn bản luật chuyên ngành khác cũng không có quy định định nghĩa về vi phạm hợp đồng, chỉ đề cập đến thuật ngữ vi phạm hợp đồng khi quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, ví dụ như trong Luật Xây dựng năm 2014
Đối với Bộ luật Dân sự 2015 được ban hành ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, tương tự Bộ luật Dân sự 2005, nhà làm luật vẫn chưa đưa ra được quy định riêng về vi phạm hợp đồng Nếu xét đến bản chất hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng thì buộc phải suy luận khái niệm vi
phạm hợp đồng từ quy định về vi phạm nghĩa vụ tại khoản 1 Điều 351 như sau “Vi
phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” Tương tự Luật Thương mại 2005, xét về mặt nội hàm, nhà làm luật đã làm
phức tạp định nghĩa và gây ra khó hiểu cũng như gây ra sự trùng lặp, nếu xét vi phạm bằng 03 trường hợp: (1) không thực hiện đúng về thời hạn; không thực hiện đầy đủ; (3) không thực hiện đúng nội dung Thực tế, với cách hiểu thông thường
“đúng nội dung” thì đã bao gồm cả vấn đề về “đúng thời hạn” và sự “đầy đủ nghĩa vụ”, mà sự “đầy đủ nghĩa vụ” cũng lại bao gồm cả “đúng nội dung” và “đúng thời hạn” Thiết nghĩ, quan niệm và các tiếp cận về vi phạm hợp đồng như Bộ luật Dân
sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 là đã đảm bảo tiêu chí đơn giản, đầy đủ, dễ hiểu và
dễ áp dụng
Các đặc điểm cơ bản của vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như sau:
Thứ nhất, vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là vi phạm phát sinh
từ việc thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Điều này đương nhiên đúng
bởi đây là cơ sở để các bên thực hiện nghĩa vụ đối với nhau, để xác định kết quả thực hiện và cơ sở kết luận bên nào đã có hành vi vi phạm
Thứ hai, vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có thể là vi phạm của một bên hoặc vi phạm của các bên đối với nhau, tức có thể xảy ra trường hợp mỗi bên đều có thể vi phạm Do mỗi bên của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có
một hoặc nhiều nghĩa vụ đối với bên kia, nên có thể xảy ra khả năng các bên đều có
Trang 21hành vi vi phạm hợp đồng đối với nhau Đặc điểm này cần đưa ra để sử dụng khi xem xét vấn đề miễn trách nhiệm đối với nhau do một bên có lỗi, hay đối trừ nghĩa
vụ, bên có quyền được phạt hợp đồng và nhiều vấn đề liên quan khác
Thứ ba, bên vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có thể vi phạm nhiều nghĩa vụ của hợp đồng Trong hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, các bên
của hợp đồng có thể có một hoặc nhiều nghĩa vụ đối với nhau Bên vi phạm có thể
vi phạm một hoặc nhiều hoặc toàn bộ các nghĩa vụ phải thực hiện đối với bên kia Đặc điểm này cần đưa ra để xem xét phạm vi, mức độ, tính chất của hành vi vi phạm
Thứ tư, hành vi vi phạm hợp đồng của người này có thể dẫn đến việc bên kia tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hoặc không thực hiện nghĩa vụ đối với người vi phạm Do đặc trưng của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là “các quyền và nghĩa
vụ của các bên có tính quan hệ, có tính phụ thuộc lẫn nhau” đã được phân tích, nên nếu xảy ra việc một bên vi phạm, việc thực hiện hợp đồng có thể bị đình trệ hoặc xáo trộn, khiến bên kia vì sự “trả đũa” hoặc “không muốn bị thiệt hại thêm” cũng tạm ngừng hoặc không thực hiện các nghĩa vụ ngược lại Đặc điểm này khá quan trọng khi xem xét vấn đề trách nhiệm của các bên đối với nhau, lỗi của các bên cũng như bên nào được quyền ngừng, không thực hiện nghĩa vụ như một biện pháp
để buộc bên kia thực hiện hợp đồng, và nhiều vấn đề liên quan khác
Thứ năm, việc vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có thể dẫn đến
hệ quả phải gánh chịu các chế tài theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật hoặc cả hai Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại thường có các chế tài theo thỏa
thuận trong hợp đồng hoặc theo luật định Khi có bên vi phạm hợp đồng, bên kia bằng quyền tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, có thể đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp chế tài đối với vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, khi yêu cầu áp dụng lại cần phải chứng minh căn cứ pháp lý và thực tế để áp dụng chế tài xác định đó Tùy vào loại chế tài mà có căn cứ áp dụng, phương thức chứng minh và nội dung thực hiện khác nhau, sẽ được làm rõ ở các phần sau
Trên cơ sở các nội dung trình bày, tác giả đưa ra khái niệm vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như sau: Vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là việc một hoặc các bên của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại không thực
Trang 22hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với nhau được xác lập trên cơ sở hợp đồng thương mại Bên vi phạm hợp đồng sẽ có thể phải chịu các chế tài theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật hoặc cả hai
1.1.2 Khái niệm chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là một loại chế tài phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, do đó để hiểu thế nào là chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cần hiểu khái niệm chế tài
Chế tài là một khái niệm mang tính chất pháp lý, hiểu theo nghĩa hẹp là một
bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh Các biện pháp tác động nêu ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật sẽ được áp dụng đối với tổ chức hay cá nhân nào vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước
đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật
Hiểu theo nghĩa rộng, chế tài là những hậu quả pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm pháp luật
Chế tài là điều kiện đảm bảo cần thiết cho những quy định của Nhà nước được thực hiện chính xác, triệt để Do vậy, các biện pháp nêu trong chế tài là những biện pháp cưỡng chế gây hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật Các hình thức chế tài rất đa dạng, có thể là những biện pháp cưỡng chế Nhà nước mang tính trừng phạt có liên quan tới trách nhiệm pháp lý, bao gồm: chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự; cũng có thể là những biện pháp chỉ gây cho chủ thể những hậu quả bất lợi như đình chỉ, bãi bỏ các văn bản sai trái của cơ quan cấp dưới, tuyên bố hợp đồng vô hiệu và các biện pháp khác
Chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là một hình thức chế tài, tuy nhiên, pháp luật các nước đều không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại hay chế tài thương mại Theo pháp luật Hoa Kỳ, vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa theo các điều kiện hợp đồng Điều kiện hợp đồng (conditions) là bất kỳ điều kiện nào đã được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng hoặc được xác định áp dụng bằng những cách khác, ví dụ từ những thông lệ,
Trang 23tập tục hoặc các quy phạm dự liệu khi các bên không thỏa thuận (gap filling rules) Mọi sai lệch so với các điều kiện này đều được coi là vi phạm hợp đồng Theo truyền thống thông luật, có thể chia vi phạm hợp đồng thành: từ chối thực hiện nghĩa vụ (anticipatory repudiation), không có khả năng thực hiện hợp đồng (disability of performance) và thực hiện không đầy đủ theo các điều kiện hợp đồng Pháp luật Hoa Kỳ không có khái niệm chế tài thương mại hay chế tài hợp đồng mà chỉ đưa ra các hình thức chế tài áp dụng cho vi phạm hợp đồng bao gồm: đền bù thiệt hại, đền bù thiệt hại đã được ước lượng trước, hủy bỏ hợp đồng, yêu cầu thực hiện hợp đồng và chế tài do Tòa án áp đặt nhằm sửa đổi hoặc xác định lại nội dung hợp đồng theo các nguyên tắc của luật công bình (injunction), trong đó chế tài bồi thường thiệt hại là chế tài được áp dụng phổ biến nhất
Pháp luật Việt Nam cũng chỉ đưa ra khái niệm “Vi phạm hợp đồng là việc
một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” (Khoản 12 Điều
3 Luật Thương mại năm 2005) và liệt kê các loại chế tài trong lĩnh vực thương mại, bao gồm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng; Phạt vi phạm; Buộc bồi thường thiệt hại; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực hiện hợp đồng; Hủy bỏ hợp đồng; và các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế (Điều 292 Luật Thương mại năm 2005)
Các hình thức chế tài được liệt kê nêu trên là các loại chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Như vậy, chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo quy định của Luật thương mại năm 2005
là trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, là sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi của bên có hành vi vi phạm hợp đồng
Một cách khái quát có thể hiểu: Chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là hình thức chế tài áp dụng đối với các chủ thể không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết theo hợp đồng, theo đó bên có hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại phải gánh chịu một hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm của mình gây ra
Trang 241.1.3 Đặc điểm của chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có một số đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh: chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại phát sinh trong lĩnh vực thương mại khi có hành vi vi phạm một hợp đồng thương mại có hiệu lực pháp luật Khác với các loại chế tài pháp lý nói chung được áp dụng đối với mọi hành vi vi phạm pháp luật, chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại chỉ được áp dụng đối với những hành vi vi phạm những điều khoản trong hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên tự nguyện quyết định việc giao kết những hợp đồng phù hợp với mục đích kinh doanh của mình Khi hợp đồng đã được ký kết hợp pháp, các bên sẽ ràng buộc với nhau về việc quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, bên vi phạm các nghĩa vụ này sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay những chế tài do
vi phạm hợp đồng
Thứ hai, về tính chất: chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
mang tính tài sản rõ rệt: chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản Yếu tố tài sản thể hiện ở cách thức bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi như: bên vi phạm phải dùng tiền hoặc tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ nộp phạt vi phạm, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy
đủ các cam kết theo hợp đồng Việc nộp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại này được thực hiện theo sự thỏa thuận của các bên và theo quy định của pháp luật; bên
vi phạm cũng phải có những chi phí cần thiết để thực hiện đúng hợp đồng hay chịu những hậu quả bất lợi nếu bên vi phạm đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng
Thứ ba, việc áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cũng mang tính mềm dẻo, linh hoạt và tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên
Khi bị vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, bên bị vi phạm có quyền áp dụng chế tài đối với bên vi phạm theo thỏa thuận trong hợp đồng và theo quy định pháp luật Như vậy, việc áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có thể được các bên thỏa thuận trước trong hợp đồng (ví dụ như phạt vi phạm hợp đồng, các trường hợp vi phạm dẫn đến hủy hợp đồng…) Hơn nữa, nếu
Trang 25xảy ra tranh chấp các bên có thể yêu cầu Tòa án hay Trọng tài (khi có thỏa thuận) giải quyết
Thứ tư, chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có hình thức
đa dạng và được áp dụng trực tiếp giữa các bên trong quan hệ hợp đồng Luật
Thương mại năm 2005 đã liệt kê có 6 hình thức chế tài cụ thể do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại và các hình thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định pháp luật Để đảm bảo nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do hợp đồng, khi các bên tự nguyện thiết lập quan hệ hợp đồng thì nghĩa vụ hợp đồng là nghĩa vụ trực tiếp giữa các bên Do đó, khi xảy ra vi phạm hợp đồng, bên vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm với bên bị vi phạm, tức trực tiếp gánh chịu hậu quả bất lợi, còn bên bị vi phạm sẽ trực tiếp được thụ hưởng những bù đắp vật chất mà bên vi phạm phải thực hiện
Thứ năm, mục đích của việc xây dựng và áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan
hệ hợp đồng Xây dựng chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
trước tiên là để ngăn ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm hợp đồng và khi xảy
ra vi phạm hợp đồng là nhằm khôi phục lại trạng thái ban đầu, bồi hoàn những tổn thất đã xảy ra và trừng phạt bên có hành vi vi phạm
1.2 Ý nghĩa của chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh, trong đó có quyền tự
do hợp đồng đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được giao kết hợp pháp phải trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, việc vi phạm các nghĩa vụ theo hợp đồng sẽ phải chịu những chế tài theo thỏa thuận giữa các bên và quy định của pháp luật Do đó, chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có ý nghĩa quan trọng, thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, các bên
đều hướng đến những lợi ích nhất định Lợi ích này trước hết là những lợi ích hợp pháp nhận được từ việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng như lợi nhuận mua, bán
Trang 26hàng hóa hay phí dịch vụ… Hành vi vi phạm hợp đồng sẽ trực tiếp ảnh hưởng, làm giảm sút những lợi ích trên của bên bị vi phạm và để bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm, pháp luật cho phép họ được tự mình hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các hình thức chế tài đối với bên vi phạm Về phía bên vi phạm hợp đồng, thông qua việc pháp luật quy định các căn cứ, nguyên tắc và cách thức áp dụng các hình thức chế tài để đảm bảo cho bên vi phạm hợp đồng không phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mà theo quy định của pháp luật, họ không phải gánh chịu
Thứ hai, chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ngăn ngừa
và hạn chế vi phạm hợp đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm của các bên trong việc
ký kết và thực hiện hợp đồng Với nguyên tắc lỗi suy đoán, pháp luật thương mại
hiện hành buộc các bên phải chịu trách nhiệm với mọi hành vi vi phạm hợp đồng thương mại đã ký kết có hiệu lực pháp luật, ngoại trừ các trường hợp miễn trách nhiệm mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên vi phạm hợp đồng Thông thường trong mọi trường hợp, bên vi phạm hợp đồng luôn bị đe dọa phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản Như vậy, các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có tác động mạnh vào ý thức của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng, ngăn ngừa và hạn chế việc vi phạm hợp đồng
Thứ ba, chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại góp phần đảm bảo trật tự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước đảm bảo cho các bên quyền tự do hợp đồng, tức các bên được tự do lựa chọn bán hàng, tự do quyết định việc giao kết hợp đồng cũng như nội dung giao kết Khi hợp đồng có hiệu lực pháp luật, các bên vẫn có thể thỏa thuận để thay đổi các nội dung trong hợp đồng, có thể đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng Điều này đảm bảo cho nền kinh tế vận hành và phát triển, tạo điều kiện cho các bên trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Tuy nhiên, việc thay đổi, đình chỉ hay hủy bỏ một hợp đồng đã ký kết phải xuất phát từ ý chí của các bên trong hợp đồng, nếu một bên vi phạm hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của bên kia, do đó sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi, Nếu không có các biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm hợp đồng, sẽ dẫn đến sự tùy tiện và không tôn trọng các cam kết theo hợp đồng, khi đó quyền tự do hợp đồng chỉ là hình thức và
Trang 27gây ra đảo lộn trật tự của nền kinh tế thị trường Do đó, chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại góp phần đảm bảo cho quyền tự do hợp đồng được thực hiện và đảm bảo trật tự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.3 Khái quát pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
1.3.1 Nguồn pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các quan hệ thương mại có phương thức hình thành chủ yếu là thông qua các quan hệ hợp đồng Pháp luật hợp đồng chính là nền tảng pháp lý của mọi sự thỏa thuận tự nguyện, luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ hợp đồng bình đẳng, an toàn, cùng có lợi giữa các tổ chức, cá nhân
Việc pháp luật quy định và từng bước mở rộng quyền tự do kinh doanh, tự
do hợp đồng đã tạo ra sức sống mới cho các doanh nghiệp và diện mạo mới cho nền kinh tế Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và ổn định các quan hệ kinh tế, bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Do đó, pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng mà còn nhằm duy trì trật tự cho cả nền kinh tế
Hiểu một cách khái quát: Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong
lĩnh vực thương mại là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh do vi phạm chế độ pháp lý
về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Cấu trúc pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
có sự khác nhau phụ thuộc vào hệ thống pháp luật đó thừa nhận những nguồn luật nào điều chỉnh lĩnh vực pháp luật này Ở các nước theo hệ thống thông luật (Common Law) như Anh, Mỹ, án lệ là nguồn luật quan trọng, thẩm phán có quyền giải thích và sáng tạo pháp luật Còn ở những nước theo hệ thống dân luật (Civil Law) như Pháp, Đức, thẩm quyền này của thẩm phán bị hạn chế, án lệ là nguồn luật
Trang 28không chủ yếu, khi xét xử chủ yếu dựa vào các quy định của luật, văn bản dưới luật, thậm chí Điều 5 Bộ luật Dân sự Pháp quy định “Cấm các thẩm phán đặt ra các quy định chung có tính chất quy chế để tuyên án đối với các vụ kiện được giao xét xử” [23]
Ở một số nước, nhất là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì tập quán thương mại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại Trong Bộ luật Thương mại Nhật Bản, khi xác định thứ tự áp dụng tập quán thương mại thậm chí còn được ưu tiên áp dụng trước các quy định của Bộ luật Dân sự và tập quán dân sự [9].Ở Việt Nam cũng đã công nhận tập quán là một nguồn phụ trợ của pháp luật và đóng một vai trò nhất định trong điều chỉnh các quan hệ thương mại, các văn bản như Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại đều có các quy định về áp dụng tập quán
Điều 3 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định nguyên tắc áp dụng tập quán và
áp dụng quy định tương tự của pháp luật như sau: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong
Bộ luật này” Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại năm 2005 cũng có quy định về
nguyên tắc áp dụng tập quán thương mại quốc tế: “Các bên trong giao dịch thương
mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đố không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”
Ở Việt Nam, nguồn luật chủ yếu và quan trọng nhất chính là hệ thống các văn bản pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, đây cũng chính là
bộ phận quan trọng nhất trong cấu trúc pháp luật điều chỉnh mỗi lĩnh vực kinh tế -
xã hội Hệ thống các văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói chung và chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng rất đa dạng, bao gồm từ các quy định cơ bản về quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp, đến các văn bản luật chuyên ngành và văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 29Trong hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh một vấn đề thì nguyên tắc luật chung và luật chuyên ngành (lex generalis và lex speccialis) được xem là một nguyên tắc áp dụng pháp luật cơ bản Các nước theo truyền thống dân luật chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguyên tắc này Ở hầu hết các nước theo truyền thống Civil Law,
Bộ luật dân sự được coi là một đạo luật xương sống áp dụng cho mọi giao dịch có tính chất bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể tham gia, trừ khi giao dịch đó đã được điều chỉnh bởi một đạo luật riêng Ví dụ, Bộ luật Dân sự Pháp, tại Điều 1107,
Thiên III “Hợp đồng hay nghĩa vụ của hợp đồng nói chung” quy định: “Mọi hợp
đồng, dù có hay không có tên gọi riêng, đều phải tuân theo các quy định chung tại thiên này Một số hợp đồng được quy định riêng tại các thiên dành cho từng hợp đồng này; các giao dịch thương mại được quy định riêng trong các đạo luật về thương mại” [23 – tr.307]
Hay mục 1 Chương I Bộ luật Thương mại Nhật Bản quy định: “Bộ luật Dân
sự là bộ luật điều chỉnh những quan hệ trong đời sống xã hội nói chung, còn Bộ luật Thương mại thì diều chỉnh các quan hệ trong đời sống của một doanh nghiệp Tuy nhiên, một số vấn đề thuộc về doanh nghiệp vẫn được quy định từng phần trong
Bộ luật Dân sự Như vậy, Bộ luật Dân sự là một đạo luật chung, còn Bộ luật Thương mại là một đạo luật chuyên ngành” [9 – tr.634]
Trong từng lĩnh vực thương mại cụ thể như kinh doanh bảo hiểm, tài chính ngân hàng, hàng hải, xây dựng sẽ có các văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh, đây chính là các luật chuyên ngành trong mối quan hệ với luật chung là Bộ luật dân sự Luật Thương mại là luật chuyên ngành trong mối quan hệ với Bộ luật Dân sự Trong mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành, luật pháp thừa nhận luật chuyên ngành có thể có những quy định không đồng nhất với luật chung, nhưng những quy định này phải đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật, không chồng chéo và gây khó khăn khi áp dụng Nguyên tắc luật chung - luật chuyên ngành không chỉ giải quyết vấn đề xác định các văn bản nào chứa đựng quy phạm điều chỉnh quan hệ đó mà còn đưa ra nguyên tắc áp dụng pháp luật Theo đó, trong một quan hệ cụ thể các quy định của luật chuyên ngành sẽ được ưu tiên áp dụng trước, những vấn đề nào luật chuyên ngành không quy định hoặc không quy định đầy đủ thì sẽ áp dụng luật chung
Trang 30Luật Thương mại Việt Nam cũng ghi nhận nguyên tắc trên, Điều 4 Luật Thương mại năm 2005 quy định:
“1 Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có
Thương mại năm 2005 quy định: “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì
áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”
Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam là một bộ phận của pháp luật hợp đồng và pháp luật thương mại nói chung Do
đó, nguồn pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại bao gồm: văn bản pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế và pháp luật nước ngoài (nếu các bên trong quan hệ hợp đồng có quyền và thỏa thuận lựa chọn áp dụng hoặc được điều ước quốc tế dẫn chiếu đến) Trong đó hệ thống các văn bản pháp luật quốc gia về hợp đồng và hoạt động thương mại là chủ yếu với luật chung là Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành là Luật Thương mại cùng các văn bản luật chuyên ngành khác về từng hoạt động thương mại đặc thù và các văn bản hướng dẫn thi hành
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng quy định pháp luật về chế tài
do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Xây dựng pháp luật là một trong những hình thức hoạt động cơ bản nhất của Nhà nước Việc tạo ra các văn bản quy phạm pháp luật phản ánh được những nhu cầu phát triển khách quan của xã hội là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của quản lý Nhà nước Xây dựng pháp luật là hoạt động mang
Trang 31tính sáng tạo, là quá trình nhận thức các quy luật xã hội đặc biệt là quy luật lợi ích, xác định tầm quan trọng của các quan hệ xã hội từ đó xác định phạm vi và phương pháp điều chỉnh đúng đắn đối với chúng Do đó, cần xác định được những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc xây dựng pháp luật Việc xây dựng pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại chịu ảnh hưởng của những yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, việc xây dựng các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại phụ thuộc vào những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Bản chất
của pháp luật là luôn mang tính giai cấp và tính xã hội, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội Vào từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển và vận động của kinh tế - xã hội mà những lợi ích pháp luật bảo vệ có sự thay đổi Ở Việt Nam, khi mới giành được độc lập, hậu quả sau chiến tranh rất nặng nề, cả nước chủ trương khắc phục hậu quả chiến tranh, thực hiện nền kinh tế tập trung có kế hoạch để phát huy sức mạnh tập thể và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam Do đó, các quan hệ kinh tế giai đoạn này chủ yếu là để thực hiện các kế hoạch kinh tế của Nhà nước, các quan hệ kinh tế tư nhân không phát triển, các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng kinh tế mang tính chất hành chính như một hình thức xử lý kỷ luật nhằm đảm bảo trật tự của nền kinh tế tập trung có kế hoạch Bước vào giai đoạn mới nền kinh tế, Việt Nam chủ trương thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, lợi ích pháp luật cần bảo vệ không còn là các kế hoạch kinh tế tập trung của Nhà nước mà là đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, trong đó ghi nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng cũng tức là pháp luật đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại giai đoạn này mang tính chất tài sản giữa các bên trong quan hệ hợp đồng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước khi các bên có yêu cầu
Thứ hai, việc xây dựng các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại phụ thuộc vào tính chất của hành vi vi phạm Cơ sở để xem
xét, đánh giá tính trái pháp luật của hành vi vi phạm là những cam kết trong hợp đồng có hiệu lực pháp luật và những quy định của pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Khi một hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được thiết lập, nghĩa
Trang 32vụ hợp đồng phát sinh và bắt buộc thực hiện đối với các bên, trừ khi các bên thỏa thuận thay đổi, đình chỉ hay hủy bỏ chúng Trong nhiều trường hợp, cam kết của các bên không đầy đủ dẫn tới những mâu thuẫn, bất đồng trong việc thực hiện nghĩa
vụ hợp đồng Những quy định của pháp luật trở thành cơ sở đánh giá tính trái pháp luật của hành vi Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi vi phạm nào cũng mang lại hậu quả bất lợi đối với bên vi phạm, chẳng hạn nghĩa vụ hợp đồng không thể thực hiện được do bất khả kháng - bên vi phạm hoàn toàn không có lỗi Do đó, khi xây dựng các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cần xây dựng các quy định về căn cứ áp dụng các hình thức chế tài cũng như những trường hợp bên vi phạm được miễn trách nhiệm (khi bên vi phạm không có lỗi) để đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên Mặt khác, việc xây dựng các quy định
về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cũng cần đảm bảo nguyên tắc mức bồi thường không vượt quá mức thiệt hại thực tế, trực tiếp của các bên trong hợp đồng và đảm bảo tính ngăn ngừa, trừng phạt hành vi vi phạm nhưng vẫn tạo điều kiện để các bên có thể được giải thoát khỏi hợp đồng nhằm đạt được hiệu quả kinh tế khác cao hơn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Thứ ba, xây dựng các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại còn phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu và khách quan khác như: điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng lập pháp hay ảnh hưởng của tư tưởng pháp luật
cũ và hệ thống pháp luật khác Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến không chỉ việc
xây dựng các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
mà còn ảnh hưởng đến việc xây dựng và hoàn thiện cả hệ thống pháp luật nói chung Vào mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn của lịch sử cùng với sự phát triển kinh tế -
xã hội là một trình độ và tư duy pháp lý tương ứng, nó vừa mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan Do đó, để xây dựng pháp luật cần nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc các quy luật, các hiện tượng xã hội, kinh tế, chính trị, tư tưởng của thực tiễn khách quan để từ đó rút ra những giá trị chuẩn mực từ trong nhu cầu của xã hội Bên cạnh đó cũng cần nghiên cứu sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội cùng loại của các nước khác trên thế giới từ đó chọn ra giải pháp xây dựng các quy định phù hợp
Trang 331.3.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam
1.3.3.1 Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong
cơ chế tập trung bao cấp
Sau khi giành được độc lập ở miền Bắc, chúng ta tiến hành khôi phục nền kinh tế, miền Băc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội với phương hướng phát triển nền kinh tế có kế hoạch và phát huy sức mạnh tập thể Do đó, thời kỳ này tồn tại hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ Trong giai đoạn này, không có khái niệm về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại mà tất cả các hợp đồng trong kinh doanh, thương mại đều được gọi chung là hợp đồng kinh tế Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hóa được ghi nhận tại Nghị định số 04/TTg ngày 4 tháng 1 năm 1960 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế, Nghị định số 54/CP ngày 10 tháng 3 năm 1975 của Chính phủ ban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế và các văn bản hướng dẫn thi hành
Đặc trưng cơ bản của các văn bản pháp luật thời kỳ này là: chủ thể tham gia các quan hệ hợp đồng chủ yếu là các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa; việc ký kết hợp đồng nhằm thực hiện chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước nên phải dựa trên những nguyên tắc bắt buộc và tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch được Nhà nước giao; khi hợp đồng kinh tế bị vi phạm thì Trọng tài kinh tế là cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Theo Nghị định số 04/TTg ngày 4 tháng 1 năm 1960 của Thủ tướng Chính phủ và nghị định số 54/CP ngày 10 tháng 3 năm 1975 của Chính phủ, các hình thức chế tài được áp dụng đối với các hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế bao gồm phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại:
- Phạt hợp đồng là một chế tài tiền tệ được áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng kinh tế nhằm củng cố kỷ luật hợp đồng và kỷ luật kế hoạch của Nhà nước Căn cứ để áp dụng hình thức chế tài này là có hành vi vi phạm và có lỗi
- Bồi thường thiệt hại là một chế tài tiền tệ dùng để bù đắp những thiệt hại thực tế cho bên bị vi phạm trong hợp đồng Căn cứ để áp dụng hình thức chế tài này
Trang 34là có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế, có lỗi của bên vi phạm
Chế tài phạt hợp đồng trong thời kỳ này thực chất không phải là một hình thức chế tài phát sinh trực tiếp giữa các bên trong quan hệ hợp đồng, mà mang đặc điểm của chế tài hành chính, thể hiện sự cưỡng chế của Nhà nước với bên vi phạm hợp đồng, nhằm giáo dục bên vi phạm và không liên quan đến bên bị vi phạm hợp đồng Điều này thể hiện là phạt hợp đồng có thể được áp dụng ngay cả khi chưa có hợp đồng, khi các bên từ chối, trì hoãn ký kết hợp đồng Do trong cơ chế tập trung bao cấp, việc từ chối, trì hoãn ký kết hợp đồng cũng chính là từ chối, trì hoãn thực hiện kế hoạch Nhà nước nên phải nộp phạt hợp đồng Tuy nhiên, mức phạt hợp đồng được quy định rất thấp, chỉ mang tính hình thức và tiền phạt hợp đồng được nộp vào ngân sách Nhà nước Mặt khác, căn cứ để tính tiền phạt hợp đồng là giá trị hợp đồng kinh tế, như vậy yếu tố ảnh hưởng đến mức tiền phạt là giá trị hợp đồng,
là chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước chứ không phải mức độ vi phạm của các bên
Cơ quan áp dụng các hình thức chế tài hợp đồng là cơ quan hành chính
“Theo Nghị định số 02/TTg ngày 14 tháng 11 năm 1960 của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng trọng tài kinh tế (sau đổi thành Trọng tài kinh tế) được thành lập với hai chức năng: quản lý công tác hợp đồng kinh tế và giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế Trọng tài kinh tế là cơ quan quản lý thuộc Chính phủ nên cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế mang dấu ấn lợi ích của cơ quan quản lý” [18 – tr.21-22] Đối với chế tài bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thuộc về bên bị vi phạm, nhưng nếu không chứng minh được thì Trọng tài kinh
tế có quyền quyết định, điều này khiến cho việc giải quyết tranh chấp kinh tế mang nặng tính chất hành chính
Trong cơ chế tập trung bao cấp, với vai trò là công cụ để thực hiện kế hoạch của Nhà nước, chế tài do vi phạm hợp đồng kinh tế tất yếu mang những đặc điểm trên Cho dù các hình thức chế tài mang nặng dấu ấn hành chính nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố kỷ luật hợp đồng và thực hiện các kế hoạch của Nhà nước
Trang 351.3.3.2 Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại từ khi ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 25 tháng 9 năm 1989 đến năm 2006
Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Việt Nam bước vào thời
kỳ đổi mới toàn diện đặc biệt là về kinh tế, nhằm mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Chúng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nội dung các quan hệ kinh tế trước kia đã thay đổi về chất Quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng của các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Do đó, pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại thời kỳ này cũng cần có sự thay đổi toàn diện
Quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nên kinh tế thị trường đã làm xuất hiện nhiều quan hệ kinh tế mới, các chủ thể tham gia đa dạng hơn và các tranh chấp trong kinh doanh cũng phức tạp hơn và có nhiều thay đổi Do
đó từ ngày 1 tháng 7 năm 1994, cơ quan có thẩm quyền ra phán quyết giải quyết các tranh chấp kinh tế và đảm bảo cho các chế tài hợp đồng được thực hiện là Tòa án, không còn là Trọng tài kinh tế Nhà nước như trước Trong bối cảnh các quan hệ kinh tế mới liên tục hình thành và phát triển, thì các văn bản pháp luật về kinh tế, về hợp đồng cũng không ngừng được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới: năm 1989 ban hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế; năm 1991 ban hành Pháp lệnh hợp đồng dân sự; năm 1995 ban hành Bộ luật Dân sự; năm 1997 ban hành Luật thương mại và nhiều văn bản luật và dưới luật khác quy định về các hợp đồng chuyên biệt
Tuy đã ban hành nhiều văn bản nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn nhưng
do trong giai đoạn đầu đổi mới kinh tế đất nước, kinh nghiệm lập pháp của chúng ta còn hạn chế nên các văn bản pháp luật về hợp đồng thời kỳ này vẫn còn thiếu tính
hệ thống, nhiều chồng chéo, trùng lặp và mâu thuẫn với nhau Các văn bản quy định
về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại thời kỳ này bao gồm: Luật thương mại năm 1997; Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, Nghị định số 17/HĐBT ngày 16 tháng 1 năm 1990 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định các vấn đề chung về hợp đồng Do có sự phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự nên phạm vi áp dụng của các văn bản này được quy định như sau:
Trang 36- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 được áp dụng để ký kết, thực hiện
và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế, là những hợp đồng có mục đích kinh doanh, được ký kết bằng văn bản, giữa các pháp nhân với nhau, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh và giữa các pháp nhân với người làm công tác khoa học - kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể không giới hạn về nội dung công việc thỏa thuận giữa các bên
- Bộ luật Dân sự năm 1995 được áp dụng để ký kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự bao gồm mọi hoạt động chứa đựng sự thỏa thuận nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên và không bị giới hạn bởi mục đích sinh hoạt tiêu dùng như trong Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991
Bên cạnh đó, Luật thương mại năm 1997 được áp dụng để ký kết, thực hiện
và giải quyết tranh chấp hợp đồng trong thương mại khi những hợp đồng này được
ký kết giữa các thương nhân với nhau trong quá trình thực hiện các hành vi thương mại Trong một số trường hợp, luật Thương mại cho phép ký kết hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng hành vi và một trong hai bên ký kết hợp đồng không phải là thương nhân
Tuy pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại thời
kỳ này còn thiếu tính hệ thống và nằm trong nhiều văn bản khác nhau dẫn đến những chồng chéo và mâu thuẫn nhưng đã có nhiều điểm mới, những thay đổi rõ rệt
so với thời kỳ trước nhằm đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại thời kỳ này không còn mang tính chất hành chính mà đã có sự thay đổi về chất, mang tính tài sản rõ nét Các hình thức chế tài thời kỳ này phát sinh trong lĩnh vực
ký kết hợp đồng, chỉ phát sinh trên cơ sở hợp đồng có hiệu lực pháp luật và khi có hành vi vi phạm hợp đồng, các hình thức chế tài được áp dụng trực tiếp giữa các bên trong quan hệ hợp đồng
Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại thời
kỳ này cũng đa dạng hơn và bồi thường thiệt hại là hình thức chủ yếu được áp dụng Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 cho phép áp dụng đồng thời hai chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, còn Luật
Trang 37Thương mại năm 1997 chỉ cho phép áp dụng đồng thời hai chế tài này khi các bên
có thỏa thuận trong hợp đồng Ngoài hai hình thức chế tài trên, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã có quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, nhưng chưa quy định cụ thể cách thức thực hiện và mối quan hệ với các hình thức chế tài khác Đối với chế tài hủy hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng, theo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế Tòa án chỉ xem xét việc hủy hợp đồng hay đình chỉ hợp đồng của các bên có đúng pháp luật hay không, để trên cơ sở đó quyết định nghĩa vụ nộp phạt, bồi thường của bên vi phạm Luật Thương mại năm 1997 đã có quy định cụ thể về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và mối quan hệ của chế tài này với các hình thức chế tài khác Bên cạnh đó, đã quy định cụ thể hơn về chế tài hủy hợp đồng, coi đây là hình thức chế tài được áp dụng trực tiếp giữa các bên, nếu việc vi phạm của một bên là căn cứ để hủy bỏ hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận
Pháp luật về hợp đồng trong thời kỳ này cũng đã có những quy định về miễn, giảm trách nhiệm đối với bên vi phạm, tuy nhiên các quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế chưa quy định cụ thể trường hợp nào được miễn, trường hợp nào được giảm trách nhiệm và mức độ giảm như thế nào, do đó gây khó khăn trong thực tiễn
áp dụng Còn Luật Thương mại năm 1997 mới chỉ quy định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm trong mua bán hàng hóa và dịch vụ mua bán hàng hóa, các trường hợp khác cũng chưa có quy định cụ thể
Nhìn chung pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong giai đoạn này tùy còn những điểm không thống nhất khi quy định về cùng một vấn đề nhưng cũng đã có nhiều tiến bộ và thay đổi phù hợp góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ kinh tế trong giai đoạn đầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.3.3.3 Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại từ năm
2006 (khi Luật Thương mại năm 2005 có hiệu lực) đến nay
Các văn bản pháp luật kinh tế thời kỳ đầu đổi mới, trải qua một thời gian thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập và hiệu quả áp dụng trong thực tế không cao Nhiều vấn đề do luật quy định đã trở nên lạc hậu không đáp ứng được trình độ phát triển của kinh tế và xã hội Việt Nam cũng như thực tiễn thương mại quốc tế Trong
Trang 38bối cảnh khi chúng ta đã ký kết Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, gia nhập WTO, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực trong lĩnh vực thương mại, sự tương thích của Luật Thương mại Việt Nam với các văn bản pháp luật quốc tế cũng cần được tiến hành nhanh chóng Do đó, năm 2005, hàng loạt các văn bản pháp luật trong lĩnh vực kinh tế được ban hành thay thế cho các văn bản đã không còn phù hợp, trong số
đó phải kể đến các văn bản quan trọng như: Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Thương mại năm 2005; Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2005
Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006, đồng thời Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại năm 1997 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 hết hiệu lực Các văn bản pháp luật mới này đã đánh dấu một sự thay đổi căn bản trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh doanh nói chung và quan hệ hợp đồng trong kinh doanh nói riêng Không còn có sự phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự, khái niệm hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 rất rộng bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi Do đó, phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại cũng được mở rộng
Luật Thương mại năm 2005 với nhiều sửa đổi, bổ sung so với Luật Thương mại năm 1997 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã khắc phục được sự không thống nhất và nhiều hạn chế trước đây Pháp luật về hợp đồng nói chung được quy định thống nhất trong Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Thương mại năm
2005 quy định về hoạt động thương mại của thương nhân trong đó có hợp đồng trong hoạt động thương mại và chế tài do vi phạm hợp đồng Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, các hình thức chế tài được mở rộng hơn, quy định cụ thể hơn và đề cập đến cả mối quan hệ giữa các hình thức này Tuy nhiên, thực tiễn các quan hệ thương mại luôn vận động và có nhiều thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO, tham gia vào sân chơi quốc tế, các quy định về chế tài
do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong Luật Thương mại 2005 đã bộc lộ những bất cập cần tiếp tục được nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung cho phù hợp Vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể trong Chương II của luận văn
Trang 391.3.4 Những nội dung cơ bản của pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cho phép các bên được quyền áp dụng các hình thức chế tài phù hợp khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra Đây chính là sự ghi nhận của Nhà nước và cũng thể hiện thái độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho đối tác trong hợp đồng và cho kinh tế - xã hội nói chung
Nội dung cơ bản của pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại bao gồm:
- Quy định về căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại: đây chính là những dấu hiệu cần và đủ để áp dụng chế tài hợp đồng đối với bên vi phạm hợp đồng;
- Quy định về các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại: trong đó quy định cụ thể về điều kiện, cách thức áp dụng từng loại chế tài cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên khi áp dụng hình thức chế tài đó và mối quan hệ giữa các hình thức chế tài này;
- Quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như sự vận hành và phát triển có định hướng của nền kinh tế thị trường do đó luôn được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn phát triển của các quan
hệ kinh tế cũng như định hướng phát triển kinh tế đất nước
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, mang tính chất mềm dẻo, linh hoạt và tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên Chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng cũng như đảm bảo trật tự vận hành và phát triển của nền kinh tế Chương I của luận văn đã nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận về chế tài do
Trang 40vi phạm hợp đồng thương mại cũng như pháp luật về vấn đề này Điều này có ý nghĩa quan trọng, đây là cơ sở để nghiên cứu thực trạng pháp luật một cách logic,
có hệ thống và đầy đủ, đó cũng là điều kiện để vận dụng một cách chính xác các quy định của pháp luật vào giải quyết những tình huống cụ thể trong thực tiễn