1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua thực tiễn áp dụng tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

105 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn làm rõ những nội dung quy định pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra những vi phạm cụ thể trong hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các hình thức xử lý vi phạm đối với từng loại vi phạm cụ thể; đánh giá tình hình thực tiễn tại huyện Việt Yên, đưa ra một số vi phạm cụ thể và biện pháp xử lý đối với các vi phạm, để từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi, áp dụng pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trên cơ sở những vấn đề lý luận cơ bản về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kết hợp những phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nayLuận văn làm rõ những nội dung quy định pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra những vi phạm cụ thể trong hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các hình thức xử lý vi phạm đối với từng loại vi phạm cụ thể; đánh giá tình hình thực tiễn tại huyện Việt Yên, đưa ra một số vi phạm cụ thể và biện pháp xử lý đối với các vi phạm, để từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi, áp dụng pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trên cơ sở những vấn đề lý luận cơ bản về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kết hợp những phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀO HÀ PHƯƠNG

VI PH¹M PH¸P LUËT Vµ Xö Lý VI PH¹M PH¸P LUËT

VÒ CÊP GIÊY CHøNG NHËN QUYÒN Sö DôNG §ÊT

QUA THùC TIÔN ¸P DôNG T¹I HUYÖN VIÖT Y£N, TØNH B¾C GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀO HÀ PHƯƠNG

VI PH¹M PH¸P LUËT Vµ Xö Lý VI PH¹M PH¸P LUËT

VÒ CÊP GIÊY CHøNG NHËN QUYÒN Sö DôNG §ÊT

QUA THùC TIÔN ¸P DôNG T¹I HUYÖN VIÖT Y£N, TØNH B¾C GIANG

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG THỊ BÍCH LIỄU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đào Hà Phương

Trang 4

PHÁP LUẬT VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ CẤP

GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ D NG ĐẤT 7 1.1 Khái niệm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và pháp luật

về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 7

1.1.1 Khái niệm, vai trò của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 7 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất 11

1.2 Pháp luật về vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật

trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 16

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật trong cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất 16 1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về xử lý vi phạm

trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 18 1.2.3 Nội dung pháp luật về xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất 22

1.3 Sơ lược sự ra đời và phát triển của pháp luật Việt Nam về

xử lý vi phạm pháp luật trong cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất 28 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI

PHẠM VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ D NG

ĐẤT QUA THỰC TIỄN ÁP D NG TẠI HUYỆN VIỆT

YÊN, TỈNH BẮC GIANG 35

Trang 5

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm

trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam 35

2.1.1 Các quy định pháp luật về hành vi vi phạm trong cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất 35 2.1.2 Các quy định pháp luật về các biện pháp xử lý vi phạm trong

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 38 2.1.3 Các quy định pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm trong cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 43 2.1.4 Các quy định pháp luật về thủ tục xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng

trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam 82

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 82 3.1.2 Hoàn thiện các quy định về hành vi vi phạm trong cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất 85 3.1.3 Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền xử lý các vi phạm trong

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 86

Trang 6

3.1.4 Hoàn thiện quy định về thủ tục xử lý vi phạm trong cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất 87

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 87

3.2.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 87

3.2.2 Nâng cao ý thức pháp luật cho người dân 89

3.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm 89

3.2.4 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền 90

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93

KẾT LUẬN 94

DANH M C TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 7

DANH M C CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

1 DĐĐT Dồn điền đổi thửa

2 GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

3 UBND Ủy ban nhân dân

4 VPHC Vi phạm hành chính

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,

là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng trong sự phát triển của xã hội, đất đai đóng vai trò kinh tế và chính trị hết sức to lớn Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau của đất nước, Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề đất đai và đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về quản lý và

sử dụng đất đai nhằm mục đích bảo vệ đất và sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả Luật Đất đai qua các thời kì đã xác định rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Để quản lý nhà nước về đất đai được chặt chẽ và thống nhất, một trong những khâu quan trọng đó là công tác cấp GCNQSDĐ Đây thực chất là một thủ tục hành chính nhằm thiết lập một hệ thống hồ sơ địa chính đầy đủ, là cơ sở để Nhà nước quản lý, nắm chặt toàn bộ diện tích đất đai và người sử dụng, quản lý đất theo pháp luật Thông qua việc cấp GCNQSDĐ, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất được bảo vệ, đồng thời đảm bảo chế độ quản lý Nhà nước về đất đai được chặt chẽ, đất được sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả

Tuy nhiên, trên thực tế công tác này vẫn còn chưa đạt được hiệu quả, vi phạm diễn ra còn đa dạng và xảy ra nhiều như vi phạm trong việc kê khai, lập

hồ sơ cấp GCNQSDĐ, vi phạm trong thẩm quyền cấp GCNQSDĐ gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất cũng như gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước

Nhằm bảo về quyền lợi của người dân, tránh thiệt hại cho Nhà nước, đồng thời thúc đẩy kinh tế phát triển thì công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ cần được chú trọng hơn nữa để đạt được hiệu quả cao Xuất phát

Trang 9

từ những lý do trên, học viên đã chọn đề tài luận văn thạc sỹ “Vi phạm pháp

luật và xử lý vi phạm pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua thực tiễn áp dụng tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” với mục đích

dựa trên những phân tích đánh giá những nội dung cơ bản về vi phạm và xử lý

vi phạm trong cấp GCNQSDĐ, những quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ, đồng thời gắn liền với thực tiễn áp dụng để so sánh và thấy được những bất cập, vi phạm trong công tác cấp GCNQSDĐ Từ

đó, góp phần cải thiện hơn nữa chất lượng công tác cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Pháp luật về cấp GCNQSDĐ được đề cập thường xuyên trong nghiên cứu

và giảng dạy, đặc biệt là ngành Luật Kinh tế Về cấp GCNQSDĐ, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau

Tác giả Đặng Anh Quân với bài viết “ Một số suy nghĩ về Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất” đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý năm 2006 Bài

viết đã chỉ ra được khá nhiều vấn đề liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Từ khái niệm cơ bản về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến thực trạng các quy định của pháp luật về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

đã được phân tích khá rõ ràng Cụ thể, bài viết đã đề cập đến các mẫu GCNQSDĐ qua từng thời kỳ khác nhau đó là giấy đỏ, giấy hồng và giấy tím Việc tồn tại cùng lúc ba loại giấy khác nhau đã dẫn đến khó khăn cho người dân trong việc sử dụng Đồng thời, bài viết cũng đã chỉ ra rằng việc mập mờ, không thống nhất thuật ngữ pháp lý đã gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy và càng khó khăn hơn cho người dân khi thực hiện thủ tục hành chính này Từ những phân tích bất cập, khó khăn trong cấp GCNQSDĐ, tác giả cũng đưa ra những bài học rút kinh nghiệm cần thiết để nâng cao chất lượng cấp GCNQSDĐ

Trang 10

Luận văn Thạc sĩ luật học “Thực thi pháp luật về cấp GCNQSDĐ trên

địa bàn quận Tây Hồ - thành phố Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Thảo hoàn

thành năm 2014 Luận văn đã hệ thống, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam, đánh giá các quy định pháp luật về cấp GCNQSDĐ, đồng thời chỉ ra những điểm mới trong Luật đất đai năm 2013

về vấn đề cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam Qua đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về cấp GCNQSDĐ trên địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, từ đó làm

rõ những hạn chế, bất cập và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấp GCNQSDĐ

Luận văn Thạc sĩ luật học “Thực trạng thi hành pháp luật về cấp

GCNQSDĐ trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” của Ngô Thúy

Hằng hoàn thành năm 2015 Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản

về thi hành pháp luật về cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu, nắm vững chính sách pháp luật đất đai, các quy định hiện hành về cấp GCNQSDĐ Đồng thời, tác giả cũng tìm hiểu công tác cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn quận Đống

Đa Đánh giá thực trạng xét và cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn quận Đống Đa Từ đó làm rõ những hạn chế, bất cập và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấp GCNQSDĐ ở quận Đống Đa, thành phố Hà Nội và cả nước

Pháp luật về cấp GCNQSDĐ, về vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam hiện nay được nhìn nhận, đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên đã đề cập và đưa ra những phân tích, đánh giá, bình luận liên quan tới công tác cấp GCNQSDĐ Tuy nhiên, các công trình này vẫn còn ở mức độ

và đánh giá chung về công tác cấp GCNQSDĐ mà chưa có đánh giá một cách

Trang 11

chuyên sâu về các vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ Luật Đất đai 2013 ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm, thiếu sót của Luật Đất đai 2003, chính vì vậy, cần thiết có một công trình nghiên cứu xem xét các vấn đề pháp lý dưới góc độ thực tiễn về vi phạm và

xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ của một địa phương cụ thể, để qua đó cung cấp những thông tin và những giải pháp cần thiết cho vấn đề này Trên

cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành tựu khoa học của các công trình nghiên cứu đã công bố, luận văn tiếp tục tìm hiểu, bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ

sở lý luận của pháp luật về cấp GCNQSDĐ, đồng thời chỉ ra những vi phạm trong cấp GCNQSDĐ và quy định của pháp luật về xử lý vi phạm đối với hoạt động này, từ những quy định đó có thể chỉ ra những hạn chế, nhược điểm của pháp luật, để từ đó đưa ra hướng giải quyết cũng như giải pháp để nâng cao hiệu quả trong hoạt động cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quan hệ pháp luật trong cấp GCNQSDĐ, trong xử lý các vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ và quy định pháp luật của Việt Nam về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ, đồng thời lồng ghép giữa vấn đề lý luận và thực tiễn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu, hệ thống hóa các quy định pháp luật về vi phạm và xử lý

vi phạm trong cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam giai đoạn sau khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành Nghiên cứu thực tiễn vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu với mục tiêu hệ thống, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản cũng như thực trạng của pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm

Trang 12

vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Từ những phân tích, đánh giá trên địa bàn cụ thể, làm rõ những bất cập, hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về vi phạm

và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam hiện nay

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về xử lý

vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ

Nghiên cứu làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật

về xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử

lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các vấn đề đã được đặt ra, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp sử dụng để nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam

Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp sử dụng để nghiên cứu thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp sử dụng để nghiên cứu

về các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam

Trang 13

Các phương pháp trên được áp dụng linh hoạt, kết hợp với nhau Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, các nội dung lý thuyết sẽ được gắn liền với thực tiễn từ đó đi đến đánh giá, kết luận của vấn đề nghiên cứu

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn có những đóng góp cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hệ thống, làm rõ những nội dung quy định pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, chỉ ra những vi phạm cụ thể trong hoạt động cấp GCNQSDĐ

và các hình thức xử lý vi phạm đối với từng loại vi phạm cụ thể

Thứ ba, đánh giá tình hình thực tiễn tại huyện Việt Yên, đưa ra một số vi phạm cụ thể và biện pháp xử lý đối với các vi phạm, để từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi, áp dụng pháp luật về cấp GCNQSDĐ

Thứ tư, trên cơ sở những vấn đề lý luận cơ bản về vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ, kết hợp những phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam hiện nay

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của xử lý vi phạm pháp luật về

cấp GCNQSDĐ

Chương 2: Thực trạng pháp luật vi phạm và xử lý vi phạm về cấp

GCNQSDĐ qua thực tiễn áp dụng tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm về cấp

GCNQSDĐ và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ

XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN

QUYỀN SỬ D NG ĐẤT

1.1 Khái niệm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

1.1.1 Khái niệm, vai trò của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

1.1.1.1 Khái niệm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà trao quyền sử dụng đất cho người dân thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển nhượng đất từ người khác Như vậy, tổ chức, cá nhân chỉ được quyền sử dụng đất khi Nhà nước cho phép, chỉ được thực hiện các quyền

và phải thực hiện các nghĩa vụ mà Nhà nước quy định Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai quy định rõ quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất Theo đó, người sử dụng đất sẽ có quyền được cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được coi là một trong những công cụ pháp lý quan trọng để Nhà nước thực hiện quyền quản lý, kiểm soát các quan hệ đất đai, nhà ở và các công trình xây dựng cũng như các tài sản khác gắn liền với đất

Luật Đất đai năm 2013 có đưa ra khái niệm về Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất [18, Điều 3, Khoản 16]

Trang 15

Từ quy định này, có thể thấy rằng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

là một loại giấy tờ pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với các chủ thể sử dụng đất cũng như thừa nhận quyền tài sản của người sử dụng đất đối với thửa đất đó Và một khi được Nhà nước cấp GCNQSDĐ thì họ được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình khai thác và sử dụng tài sản đó

Trải qua các thời kì lịch sử khác nhau, được ban hành bởi nhiều văn bản pháp luật về quản lý và sử dụng quyền sử dụng đất cũng như tài sản gắn liền với đất thì cũng tồn tại nhiều loại GCNQSDĐ khác nhau như:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của Luật Đất đai năm 1987 (mẫu giấy do Tổng cục quản lý ruộng đất ban hành)

Theo Quyết định số 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1999 của Tổng cục quản

lý ruộng đất quy định về việc ban hành quy định về cấp GCNQSDĐ thì tên gọi

và nội dung của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Tổng cục Quản lý ruộng đất phát hành, sử dụng chung cho tổ chức và cá nhân, có kích thước 19 x 27cm với nội dung sau:

Trang 1: Mặt chính của giấy chứng nhận, gồm có quốc huy; dòng chữ:

"Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); và số của giấy chứng nhận, và dấu của Tổng cục Quản lý ruộng đất

Trang 2 và 3: Là phần chính của giấy chứng nhận, ghi rõ tên người sử dụng đất; số hiệu, diện tích, mục đích và thời hạn sử dụng từng khu đất;

chữ ký của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, dấu của Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc huyện

Trang 4: Ghi những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận và những điều cần chú ý của người được cấp giấy

Việc viết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan quản lý đất đai tỉnh thực hiện theo quy trình thống nhất

Trang 16

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 (mẫu giấy này do Tổng cục địa chính ban hành, gọi là sổ đỏ) cấp cho người sử dụng đất ở khu vực nông thôn và người sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp Luật Đất đai năm 1987 hết hiệu lực vào ngày 14/10/1993

và thay thế bằng Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 cấp cho người sử dụng đất ở khu vực nông thôn được quy định tại Nghị định 64-

CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và Thông tư số 346/1998/TT-TCDC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính Theo đó, loại đất được cấp theo sổ đỏ khá

đa dạng bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất làm nhà ở thuộc nông thôn Sổ này có màu đỏ đậm và do UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp cho chủ sử dụng

Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp theo Nghị định 60-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị (mẫu do Bộ xây dựng ban hành, gọi là sổ hồng) cấp cho người sử dụng đất ở đô thị Trên sổ hồng thể hiện đầy đủ thông tin về quyền sử dụng đất như số thửa, số tờ bản đồ, diện tích, loại đất, thời hạn sử dụng… và quyền sở hữu nhà ở như diện tích xây dựng, số tầng, kết cấu nhà, diện tích sử dụng… Sổ này có màu hồng nhạt và do UBND tỉnh cấp, sau này

để đẩy nhanh tiến độ cấp sổ hồng, pháp luật cho phép UBND tỉnh được ủy quyền cho UBND quận, huyện, thị xã cấp sổ hồng cho chủ sở hữu trong phạm

vi địa bàn mình quản lý So với sổ đỏ, đa phần được cấp cho hộ gia đình nên khi chuyển nhượng hoặc thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền

sử dụng đất phải có chữ ký của tất cả các thành viên từ đủ 18 tuổi trở lên có tên trong sổ hộ khẩu gia đình thì sổ hồng khi chuyển nhượng giao dịch chỉ cần chữ ký của người hoặc những người đứng tên trên giấy chứng nhận

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 Để thống nhất

Trang 17

về loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 19/10/2009, Nghị định 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã ra đời cùng với những quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Theo đó, Nghị định 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ đã ghi nhận cụm từ

“giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” và đã quy định thống nhất tất cả các loại bất động sản vào một loại giấy chứng nhận chung cho cả nhà và đất, mẫu giấy này do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành gọi là “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” Đây chính là mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện hành

Ngày 29/11/2013, Luật Đất đai năm 2013 ra đời với nhiều nội dung mới Cụ thể, trong các khái niệm tại điều 3 Luật Đất đai năm 2013 đã sử dụng

khái niệm “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài

sản khác gắn liền với đất” thay thế cho khái niệm “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” Việc thay thế này nhằm thống nhất quản lý không chỉ đối với

quyền sử dụng đất mà còn đối với các tài sản khác gắn liền với đất

1.1.1.2 Vai trò của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Thứ nhất, GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp

pháp giữa nhà nước và người sử dụng đất GCNQSDĐ được Nhà nước sử dụng để cấp cho các chủ thể sử dụng đất, chủ sở hữu nhà hoặc các tài sản gắn liền với đất một cách hợp pháp khi họ đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật

Thứ hai, GCNQSDĐ là một trong những công cụ để Nhà nước quản lí

đất đai đối với các chủ thể sử dụng đất Cấp GCNQSDĐ là một trong những

cơ sở quan trọng giúp Nhà nước xây dựng, điều chỉnh chính sách đất đai cũng như thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Thông qua hoạt

Trang 18

động cấp GCNQSDĐ Nhà nước sẽ nắm được cụ thể, sát sao hiện trạng, nguồn gốc và diễn biến của quá trình sử dụng đất, nắm bắt được các thông tin cần thiết về tình hình sử dụng đất trên phạm vi toàn quốc

Thứ ba, GCNQSDĐ là cơ sở pháp lý quan trọng để xác nhận quyền sử

dụng đất hợp pháp của một chủ thể sử dụng đất trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trước các chủ thể khác trong quá trình sử dụng Sau khi được cấp GCNQSDĐ, người sử dụng đất thể hiện tư cách pháp lý của mình là người sử dụng đất hợp pháp trong quan hệ đất đai

Thứ tư, GCNQSDĐ giúp Nhà nước nắm bắt cụ thể hiện trạng, nguồn

gốc cũng như biến động của quá trình sử dụng đất Thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nhà nước từng bước hiện đại hóa trong công tác quản lý đất đai Trên cơ sở nhiều loại giấy tờ, do nhiều cơ quan cấp trong từng thời kỳ khác nhau, tiến tới Nhà nước chỉ quản lý bằng một hệ thống hồ

sơ thống nhất để thuận tiện cho công tác quản lý đất đai

Thứ năm, GCNQSDĐ là cơ sở pháp lý quan trọng trong giải quyết

tranh chấp đất đai Là yếu tố quan trọng để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc về Tòa án nhân dân hay UBND Trường hợp người

sử dụng đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các giấy

tờ hợp lệ theo quy định của Luật Đất đai thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân, nếu người sử dụng đất không có các loại giấy tờ đó thì thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về UBND

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

1.1.2.1 Khái niệm pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Cấp GCNQSDĐ là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý Nhà nước về đất đai, ngoài việc được quy định trong các văn bản pháp luật đất đai, các mối quan hệ phát sinh trong quá trình cấp GCNQSDĐ còn được

Trang 19

điều chỉnh bởi nhiều văn bản luật khác nhau như: Hiến Pháp, Bộ luật Dân sự,

Bộ luật Hình sự, Luật Nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản… Hoạt động cấp GCNQSDĐ cần phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật, chính vì vậy

cơ sở của việc cấp GCNQSDĐ chính là các văn bản của Nhà nước về quản lý

Có thể nói, cấp GCNQSDĐ chính là việc cơ quan nhà nước thông qua

hệ thống pháp luật và các thủ tục hành chính để xác lập và công nhận quyền

sử dụng đất hợp pháp cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1.1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thứ nhất, pháp luật về cấp GCNQSDĐ điều chỉnh các quan hệ phát

sinh trong quá trình cấp GCNQSDĐ

Một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai

đó là cấp GCNQSDĐ Mọi quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động này, đều chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau gồm: Hiến pháp, Luật Đất Đai, Luật Hành chính, Bộ luật Dân sự, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Bộ luật Hình sự …

Trang 20

Thứ hai, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về cấp GCNQSDĐ Trong

quan hệ này, có hai chủ thể tham gia với vị trí pháp lý khác nhau

Một bên tham gia quan hệ pháp luật có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ là Nhà nước, là đại diện chủ sở hữu Nhà nước thống nhất quản lý đất đai trên phạm vi toàn quốc Với chức năng quản lý, Nhà nước xây dựng một hệ thống các cơ quan quản lý hành chính về đất đai đồng thời ban hành hệ thống các quy định pháp luật về đất đai Thông qua hoạt động của các cơ quan, Nhà nước có thể quản lý một cách toàn diện về đất đai

Bên thứ hai tham gia quan hệ này là những tổ chức, cá nhân và những chủ thể khác khi được giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất Những chủ sử dụng đất này sẽ được cấp GCNQSDĐ khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật

Thứ ba, khách thể của pháp luật về cấp GCNQSDĐ Đối với Nhà nước,

khách thể là nguồn đất của quốc gia, được chia thành các nhóm đất khác nhau: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Đối với người sử dụng đất, khách thể chính là quyền sử dụng đất Với vai trò thống nhất quản lý đất đai trong cả nước, Nhà nước hướng tới mục tiêu đất được khai thác và sử dụng hiệu quả Người sử dụng đất không có mục đích quản lý như Nhà nước, nên họ hướng tới việc sử dụng đất và khai thác công năng của đất

Thứ tư, pháp luật về cấp GCNQSDĐ quy định cụ thể quyền và nghĩa

vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về cấp GCNQSDĐ Đối với Nhà nước, với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước có quyền và những trách nhiệm khi tham gia vào quan hệ pháp luật về cấp GCNQSDĐ Cụ thể, khi Nhà nước ban hành các quy định pháp luật chính là thể hiện quyền thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước về cấp GCNQSDĐ, đồng thời cũng chính Nhà nước phải có trách nhiệm trong việc hiện thực hóa các quy định mà mình đưa ra Đối với chủ thể là người sử dụng đất, được cấp GCNQSDĐ là quyền cơ bản trong quan hệ pháp luật về cấp

Trang 21

GCNQSDĐ Cùng với việc trao quyền cho người sử dụng đất, nghĩa vụ của

họ cũng được gắn liền và quy định một cách cụ thể

1.1.2.3 Nội dung của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Pháp luật về cấp GCNQSDĐ bao gồm những nội dung sau:

Thứ nhất, điều kiện để người sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ Nhà

nước cấp GCNQSDĐ với những trường hợp đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Cụ thể, người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều

100, 101 và 102 của Luật Đất đai năm 2013; người được giao đất, cho thuê đất sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành; người trúng đấu giá quyền sử dụng đất; người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa

kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ…

Thứ hai, thẩm quyền cấp GCNQSDĐ Theo quy định tại Điều 105 Luật

Đất đai năm 2013, thẩm quyền cấp GCNQSDĐ như sau:

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư

ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư;

tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam

Trang 22

Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ

Có thể thấy rằng, thẩm quyền cấp GCNQSDĐ đối với từng loại đất là khác nhau Điều này giúp cho việc quản lý đất đai được nhất quán và linh hoạt hơn

Thứ ba, trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ Luật Đất đai năm 2013 ra đời

và hệ thống văn bản hướng dẫn đã quy định cụ thể về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ Theo đó, ngày 27/8/2014 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định 1839/QĐ-BTNMT công bố thủ tục hành chính mới về lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngoài ra thành phần hồ sơ và các mẫu tờ khai cũng được quy định cụ thể tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hồ

sơ địa chính, theo đó quy định thành phần hồ sơ cho từng trường hợp

Thứ tư, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật về cấp

GCNQSDĐ Đối với từng chủ thể sử dụng đất khác nhau thì có quyền và nghĩa vụ khác nhau

Thứ năm, tranh chấp và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ Trong

quan hệ pháp luật về cấp GCNQSDĐ, xảy ra tranh chấp giữa các bên là việc xảy ra thường xuyên và đa dạng Luật Đất đai cũng có quy định về giải quyết tranh chấp và đối với từng tranh chấp khác nhau mà xác định được thẩm quyền để giải quyết tranh chấp đó Ngoài ra, Luật Đất đai cũng dành một mục cho xử lý vi phạm, quy định đầy đủ các hình thức xử lý vi phạm và thẩm quyền xử lý vi phạm

Trang 23

1.2 Pháp luật về vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

1.2.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật trong cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, là tiêu chuẩn của hành vi con người Hành vi là những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên ngoài của con người trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm

pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Quan hệ pháp luật đất đai là quan hệ vô cùng phức tạp cùng với sự phát triển, biến động từng ngày của nền kinh tế thị trường Tham gia vào mối quan hệ này gồm có các cơ quan quản lý đất đai và người sử dụng đất Khi tham gia vào mối quan hệ này, các chủ thể luôn hướng tới mục tiêu và lợi ích riêng Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch, bảo đảm

sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả Cơ quan quản lý đất đai chính là đại diện cho Nhà nước giữ vai trò quan trọng để đảm bảo quyền sở hữu toàn dân về đất đai và để thống nhất các nội dung quản lý nhà nước về đất được hoàn thiện hơn Tuy nhiên, trong quá trình tham gia quan hệ này, các chủ thể

đã vì lợi ích cá nhân và cố tình vi phạm pháp luật đất đai, cụ thể ở đây là trong hoạt động cấp GCNQSDĐ

Cấp GCNQSDĐ là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai Nhà nước thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật về nội dung và các thủ tục hành chính để xác lập và công nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, tổ chức Dù đã thiết lập cơ chế quản lý chặt chẽ, tuy nhiên, vi phạm vẫn

Trang 24

đa dạng và với số lượng không nhỏ Pháp luật đất đai chưa có định nghĩa cụ thể về vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ, từ những lý luận nêu trên, có thể đưa ra khái niệm như sau:

Vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ là hành vi của người quản lý

đất đai hoặc người sử dụng đất vi phạm các quy định về các quy định trong cấp GCNQSDĐ, trường hợp hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

1.2.1.2 Đặc điểm của vi phạm pháp luật trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Thứ nhất, về chủ thể của vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ

Trong quan hệ pháp luật về cấp GCNQSDĐ, tồn tại hai chủ thể đó là Nhà nước và chủ thể sử dụng đất Về phía Nhà nước, với chức năng quản lý và là đại diện chủ sở hữu, xây dựng hệ thống cơ quan quản lý về đất đai thống nhất trên toàn quốc, chủ thể của vi phạm có thể là các cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ Về bên còn lại, chủ thể của vi phạm đó là người sử dụng đất và những chủ thể khác có liên quan

Thứ hai, vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ có thể xảy ra do lỗi

chủ quan hoặc lỗi khách quan, những vi phạm này xảy ra rất đa dạng ở nhiều hình thức khác nhau và cũng vì những nguyên nhân khác nhau.Một số trường hợp do cơ quan có thẩm quyền đã không thực hiện đúng quy định của pháp luật đất đai, một số trường hợp khác do người sử dụng đất đã không tuân thủ, trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ

Thứ ba, vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ bao gồm nhiều loại vi

phạm khác nhau Trong quá trình cấp GCNQSDĐ, vi phạm xảy ra có thể xếp vào các loại vi phạm như: vi phạm hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm hình

sự, vi phạm kỉ luật… Từ những hành vi vi phạm đó, xem xét xử lý theo từng

mức độ cụ thể

Trang 25

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

1.2.2.1 Khái niệm của pháp luật về xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và

ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội Chính vì vậy, người vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành động và hậu quả mình gây ra cho xã hội Đồng thời, những hành vi vi phạm pháp luật phải chịu những biện pháp xử lý khác nhau cho từng hành vi vi phạm khác nhau Xử lý vi phạm pháp luật là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý do pháp luật quy định đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật

Xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ là một nội dung quan trọng trong xử lý vi phạm pháp luật đất đai Tuy nhiên, là một nội dung không thể thiếu trong pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai, xử

lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ là việc cơ quan có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật về xử phạt vi

phạm hành chính trong cấp GCNQSDĐ Theo đó, pháp luật về xử lý vi phạm

trong cấp GCNQSDĐ là tổng thể các quy định pháp luật quy định về các hành vi vi phạm và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

1.2.2.2 Đặc điểm của xử lý vi phạm pháp luật trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ có một số đặc điểm cụ

Trang 26

Thứ nhất, cơ sở để thực hiện hoạt động xử lý vi phạm pháp luật trong

cấp GCNQSDĐ Không có hành vi vi phạm thì không có trách nhiệm xử lý vi phạm Và hành vi vi phạm đó phải là vi phạm pháp luật về cấp GCNQSDĐ không phải hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực hoặc khách thể khác Mục đích trừng phạt của hoạt động xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ có tác dụng khi tác động đến chủ thể thực hiện hành vi vi phạm mà pháp luật quy định Chính vì vậy, không có vi phạm hành chính thì không có trách nhiệm hành chính, cũng như cơ sở của trách nhiệm hình sự là tội phạm, cơ sở của trách nhiệm dân sự là vi phạm quan hệ dân sự, cơ sở của trách nhiệm kỷ luật

là vi phạm kỷ luật

Thứ hai, do tính chất mức độ của hành vi vi phạm pháp luật về cấp

GCNQSDĐ khác nhau nên pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật được quy định ở nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như: Luật Hành chính, Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật nhà ở, Luật Dân sự, Luật Hình sự,

Luật Cán bộ công chức

Thứ ba, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ

quy định về thẩm quyền xử lý bao gồm các vi phạm thuộc thẩm quyền của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các vi phạm thuộc thẩm quyền của các cơ quan tư pháp

Thứ tư, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ quy

định về thủ tục xử lý bao gồm: hành chính, kỷ luật, dân sự, hình sự Cùng một

hành vi vi phạm đối với mỗi trường hợp cụ thể lại có tính chất, mức độ vi phạm khác nhau nên thiệt hại hay nguy cơ gây thiệt hại cho quan hệ pháp luật

về cấp GCNQSDĐ có sự khác nhau Do đó, các biện pháp xử lý được lựa chọn để áp dụng trong mỗi trường hợp cụ thể cũng khác nhau Ngoài ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vi phạm là một yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn biện pháp xử lý Bên cạnh đó, hoạt động xử lý vi phạm thể hiện phản

Trang 27

ứng của nhà nước đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm Các biện pháp

xử lý mang tính giáo dục đồng thời mang tính trừng phạt của nhà nước đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm Sự trừng phạt biểu hiện ở việc buộc chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần Đây là ý nghĩa quan trọng của các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ, là ý nghĩa đầu tiên trong việc áp dụng các biện pháp xử lý còn nhằm mục đích cao hơn là giáo dục ý thức pháp luật cho các chủ thể vi phạm, tác động tới ý thức tuân thủ pháp luật về của họ

Thứ năm, chủ thể bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật

Giữa cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ

và chủ thể bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm có thể tồn tại quan hệ trực thuộc Hành vi vi phạm có chỉ có thể xuất phát từ hai chủ thể trong quan hệ cấp GCNQSDĐ đó là cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ và chủ thể được cấp GCNQSDĐ Mà chủ thể được cấp GCNQSDĐ theo quy định pháp luật đất đai có thể là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào nếu đáp ứng các điều kiện được cấp GCNQSDĐ Và cá nhân đó có thể là một trong những người là cán

bộ, công chức trực thuộc cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ Nội dung xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ là sự hạn chế quyền và bổ sung thêm nghĩa vụ đối với chủ thể đã thực hiện hành vi

vi phạm Khi chủ thể này thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ về nguyên tắc Nhà nước buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhất định (hạn chế quyền hoặc tài sản) Việc làm này nhằm khôi phục lại trật tự pháp luật đất đai đã bị xâm hại đồng thời giáo dục chủ thể vi phạm thực vi phạm cũng như toàn thể cộng đồng tuân thủ pháp luật đất đai về cấp GCNQSDĐ Hoạt động xử lý vi phạm thể hiện phản ứng của nhà nước đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm Các biện pháp xử lý mang tính giáo dục đồng thời mang tính trừng phạt của nhà nước đối với chủ thể thực hiện

Trang 28

hành vi vi phạm Sự trừng phạt biểu hiện ở việc buộc chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần Đây là ý nghĩa quan trọng của các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ, là ý nghĩa đầu tiên trong việc áp dụng các biện pháp xử lý còn nhằm mục đích cao hơn là giáo dục ý thức pháp luật cho các chủ thể vi phạm, tác động tới ý thức tuân thủ pháp luật về của họ

1.2.2.3 Vai trò của xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Thứ nhất, xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ là biện pháp quan trọng

trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong hoạt động cấp GCNQSDĐ nói riêng và hoạt động quản lý đất đai nói chung Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm quản lý mọi hoạt động liên quan tới đất đai và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia Thông qua hoạt động phát hiện và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ, nhà nước điều tiết, ngăn chặn vi phạm trong cấp GCNQSDĐ một cách hiệu quả bằng quyền lực của mình trong quyền hạn mà pháp luật cho phép

Thứ hai, các biện pháp xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ là thái độ

của Nhà nước đối với đối tượng vi phạm; và việc áp dụng các biện pháp này không phải do một chủ thể áp dụng, để tránh hiện tượng mỗi chủ thể lại đưa

ra các biện pháp khác nhau, làm ảnh hưởng đến tính công bằng của pháp luật thì việc xác định rõ các biện pháp xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ là vô cùng quan trọng Ngoài ra, việc quy định ra các biện pháp xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ còn giúp người dân nhận thức được hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm trong cấp GCNQSDĐ – tính giáo dục

Thứ ba, xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ là công cụ góp phần bảo

vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm trong cấp GCNQSDĐ Quyền được cấp GCNQSDĐ hợp pháp cần được

Trang 29

tôn trọng và bảo vệ, vì quyền được sử dụng đất là một trong những quyền dân sinh cơ bản của công dân Khi quyền sử dụng đất được xác nhận bởi GCNQSDĐ thì người sử dụng đất hợp pháp mới an tâm sử dụng, khai thác quyền sử dụng đất dưới sự bảo hộ của nhà nước

Thứ tư, xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ là công cụ nhằm răn đe,

tác động tới ý thức tuân thủ pháp luật của mọi chủ thế khác trong xã hội nói chung Như đã phân tích, xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ sẽ hạn chế một

số quyền hạn và gia tăng nghĩa vụ của chủ thể vi phạm Các chủ thể tham gia vào mọi quan hệ xã hội đều hướng tới những mục đích nhất định Việc bị hạn chế một số quyền lợi nhất định cũng như phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định trong đó có nghĩa vụ tài chính sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới quyền lợi chính đáng của các chủ thể này

1.2.3 Nội dung pháp luật về xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

1.2.3.1 Quy định về hành vi vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ

Cấp GCNQSDĐ là vấn đề mang tính phức tạp về mặt pháp lý Do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, các vi phạm trong quá trình cấp GCNQSDĐ vẫn diễn biến hết sức phức tạp Ở đây, luận văn chỉ ra các loại hành vi vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ cụ thể như sau:

Thứ nhất, GCNQSDĐ đã cấp không đúng thẩm quyền tức là GCNQSDĐ

do những chủ thể không có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật đất đai

Thứ hai, cấp GCNQSDĐ không đúng trình tự, thủ tục theo luật định

Như đã phân tích, cấp GCNQSDĐ luôn luôn phải tuân thủ những trình tự, thủ tục theo luật định cơ bản gồm các giai đoạn: Nộp hồ sơ tới cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ; Tiếp nhận hồ sơ; Thẩm tra, xác minh điều kiện sử dụng đất; Xét duyệt và ban hành GCNQSDĐ Mỗi giai đoạn có những bước thực hiện xác định Vi phạm về thủ tục cấp GCNQSDĐ tức một trong các chủ

Trang 30

thể có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trình tự, thủ tục luật định dẫn tới hậu quả pháp lý nhất định như chậm ban hành hoặc ban hành GCNQSDĐ sai về nội dung

Thứ ba, cấp GCNQSDĐ không đúng thời hạn sử dụng đất Thời hạn

sử dụng đất được hiểu là khoảng thời gian mà người sử dụng đất được nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng, để ở, để trồng trọt… phát triển kinh

tế Như vậy, đó là một khoảng thời gian xác định được Luật định để thống nhất quản lý nhà nước về đất đai, tạo điều kiện để cơ quan nhà nước có thể kiểm soát, quản lý được người sử dụng đất trên phạm vi cả nước Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 xác định có 02 loại thời hạn sử dụng đất là

sử dụng đất có thời hạn và sử dụng đất lâu dài, ổn định và không có thời hạn

sử dụng đất Như vậy, cấp GCNQSDĐ không đúng thời hạn sử dụng đất tức

là GCNQSDĐ ghi nhận loại hoặc khoảng thời hạn sử dụng không sát với thực tiễn sử dụng

Thứ tư, cấp GCNQSDĐ không đúng nguồn gốc, mục đích sử dụng đất

Nguồn gốc sử dụng đất được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước ghi nhận nguồn gốc (nguyên nhân) hình thành nên quyền sử dụng đất của người được cấp giấy chứng nhận Cấp GCNQSDĐ không đúng nguồn gốc sử dụng đất tức nguồn gốc sử dụng đất được ghi nhận trong GCNQSDĐ không khớp với những thông tin thực tế về nguồn gốc thửa đất được cấp GCNQSDĐ

Thứ năm, GCNQSDĐ đã cấp không đúng đối tượng sử dụng đất Đối

tượng sử dụng đất là các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng đất và được nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng các quyết định hành chính Không đúng đối tượng sử dụng đất là việc cá nhân, tổ chức sử dụng đất trong khi không có quyền sử dụng đất đó theo quy định của pháp luật

Thứ sáu, GCNQSDĐ đã cấp không đúng diện tích đất là trường hợp

Trang 31

diện tích đất được thừa nhận và thể hiện trong GCNQSDĐ chênh lệch với diện tích đất được cấp trên thực tế

Thứ bảy, GCNQSDĐ đã cấp cho trường hợp không đủ điều kiện được

cấp Điều kiện được cấp GCNQSDĐ là những yêu cầu do pháp luật quy định cho những trường hợp cấp đất cụ thể cần được đáp ứng Các điều kiện này liên quan mật thiết đến tình trạng sử dụng hợp pháp của chủ thể yêu cầu cấp GCNQSDĐ như nguồn gốc thửa đất, tình trạng pháp lí của thửa đất, các giấy

tờ chứng mình quyền sử dụng đất hợp pháp… Vi phạm về điều kiện cấp GCNQSDĐ nghĩa là GCNQSDĐ được cấp cho chủ thể sử dụng đất trong khi chủ thể này chưa đáp ứng một trong các điều kiện luật định để được cấp GCNQSDĐ hợp pháp

Thứ tám, cấp GCNQSDĐ không đúng mục đích sử dụng đất Mục đích

sử dụng đất là những lợi ích mà người sử dụng đất hướng tới, mong muốn đạt được trong quá trình sử dụng đất Mục đích sử dụng đất rất đa dạng bao gồm: sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp; sử dụng đất để ở; sử dụng đất làm trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; sử dụng đất xây dựng cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; đất sử dụng làm nghĩa trang, nghĩa địa… Cấp GCNQSDĐ không đúng mục đích sử dụng nghĩa là mục đích sử dụng đất được chứng nhận trên GCNQSDĐ không đúng với mục đích sử dụng đất thực tế ví dụ GCNQSDĐ ghi là đất sử dụng sản xuất nông nghiệp nhưng thực tế đang được

sử dụng làm đất ở

Thứ chín, nhũng nhiễu, gây khó khăn trong cấp GCNQSDĐ Trong một

số trường hợp chậm cấp GCNQSDĐ, lỗi đa phần thuộc về cơ quan có thẩm quyền cấp giấy Nhiều trường hợp công chức phụ trách mảng cấp giấy chứng nhận cố tình gây khó khăn trong việc lập hồ sơ, kê khai thông tin cấp GCNQSDĐ, dẫn đến tình trạng người sử dụng đất chậm được cấp sổ đỏ, gây bức xúc trong dư luận

Trang 32

1.2.3.2 Quy định về các biện pháp xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trong pháp luật về xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ, các biện pháp xử

lý vi phạm được áp dụng bao gồm các biện pháp sau:

Thứ hai, biện pháp xử lý dân sự Trong pháp luật về xử lý vi phạm

trong cấp GCNQSDĐ, biện pháp xử lý dân sự là biện pháp được sử dụng khá phổ biến Đối với từng hành vi vi phạm khác nhau, biện pháp xử lý sẽ khác nhau Vi phạm pháp luật xảy ra dẫn đến thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Cụ thể, đối với những hành vi vi phạm về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nếu có thiệt hại xảy ra thì chủ thể vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định

Thứ ba, biện pháp xử lý kỷ luật Biện pháp này áp dụng đối với chủ thể

vi phạm là cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ Các hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức có thể bao gồm: cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, cách chức, giáng chức, buộc thôi việc Tùy theo tính chất mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật

Thứ tư, biện pháp xử lý hình sự Vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ

có thể bao gồm các hành vi như: hành vi sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức; hành vi làm giả con dấu của cơ quan,

tổ chức, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức… Xét trên tính chất

Trang 33

nguy hiểm và mức độ gây nguy hại cho xã hội thì sẽ chịu các hình thức xử lý như phạt tiền hoặc hình phạt tù

1.2.3.3 Quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Xử lý vi phạm pháp luật dựa trên nguyên tắc công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, đảm bảo công bằng, đúng quy định của pháp luật Đối với từng biện pháp xử lý khác nhau, thẩm quyền xử lý là khác nhau

Với biện pháp xử lý hành chính, thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm trong cấp GCNQSDĐ là: Ủy ban nhân dân các cấp và thanh tra chuyên ngành

về đất đai Việc xử lý vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, đảm bảo đúng quy định của pháp luật Trong việc xác định thẩm quyền xử lý, nếu thuộc thẩm quyền của người thi hành công vụ thì ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Trường hợp không thuộc thẩm quyền thì chuyển biên bản vi phạm hành chính đến người

có thẩm quyền ra quyết định xử phạt Nếu là lĩnh vực chuyên ngành thì nguyên tắc lĩnh vực quản lý của ngành nào thì ngành đó trực tiếp ra quyết định xử phạt

Với biện pháp xử lý dân sự, thẩm quyền xử lý thuộc về Ủy ban nhân các cấp và Tòa án nhân dân Trong hoạt động cấp GCNQSDĐ, ỦBND các cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm có tính chất dân sự, tùy theo tính chất mức độ của vụ việc mà thẩm quyền xử lý được quy định phù hợp cho UBND và Tòa án nhân dân

Với biện pháp xử lý kỷ luật, thẩm quyền xử lý thuộc về cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức và cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền

bổ nhiệm Trong hoạt động cấp GCNQSDĐ, các hành vi vi phạm của cán

bộ, công chức ngoài việc có thể phải chịu các biện pháp xử lý hành chính, dân sự, hình sự, còn phải chịu các hình thức xử lý kỷ luật Đối với các hành

Trang 34

vi vi phạm kỷ luật trong cấp GCNQSDĐ, thẩm quyền giải quyết thuộc về các cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức và đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm Các cơ quan, đơn vị này có trách nhiệm phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, nhằm giáo dục, răn đe và nâng cao ý thức của cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị

Với biện pháp xử lý hình sự, thẩm quyền xử lý thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân Tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm, vi phạm trong cấp GCNQSDĐ có thể bị xử lý hình sự

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân có trách nhiệm phối hợp trong giải quyết, xử lý tội phạm trong hoạt động cấp GCNQSDĐ

Một là, phạt tiền và ra quyết định xử phạt tại chỗ

Hai là, thực hiện theo các bước: đình chỉ vi phạm, lập biên bản, xem

xét và ban hành quyết định xử phạt, thi hành quyết định xử phạt

Đối với biện pháp xử lý dân sự, tùy theo mức độ thiệt hại mà hành vi vi phạm gây ra, thủ tục xử lý sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

Đối với biện pháp xử lý kỷ luật, khi cán bộ, công chức vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật cần tiến hành các thủ tục như sau:

Thứ nhất, thành lập Hội đồng kỷ luật Người có thẩm quyền xử lý kỷ

luật sẽ thành lập Hội đồng kỷ luật công chức vi phạm pháp luật Hội đồng kỷ

Trang 35

luật sẽ tiến hành họp để thống nhất về việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với công chức vi phạm

Thứ hai, họp Hội đồng kỷ luật Sau khi thành lập, Hội đồng tiến hành

họp kỷ luật công chức, có biên bản cuộc họp về việc thống nhất hình thức kỷ luật đối với công chức

Thứ ba, ra quyết định kỷ luật Sau khi họp Hội đồng kỷ luật công chức,

người có thẩm quyền kỷ luật công chức ra quyết định kỷ luật công chức

Đối với biện pháp xử lý hình sự, các hành vi với mức độ phải truy cứu

trách nhiệm hình sự sẽ phải chịu các biện pháp xử hình sự Thủ tục xử lý hình

sự được thực hiện theo các giai đoạn sau: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

1.3 Sơ lược sự ra đời và phát triển của pháp luật Việt Nam về xử lý

vi phạm pháp luật trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Hệ thống văn bản pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ là tập hợp các văn bản pháp quy – hình thức của pháp luật thành văn được thể hiện qua các văn bản chưa các quy phạm pháp luật do cơ quan

có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp sinh trong hoạt động cấp GCNQSDĐ Hệ thống văn bản này cũng như bao hệ thống văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực khác được hình thành và củng cố, hoàn thiện theo thời gian sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Cấp GCNQSDĐ là nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật đất đai, cho nên quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật về thu hồi đất gắn liền với sự hình thành, pháp triển pháp luật đất đai

Giai đoạn từ trước năm 1986

Trong giai đoạn này, chưa có một văn bản thống nhất chung để điều chỉnh quan hệ pháp luật đất đai, hầu hết các quy định còn nằm rải rác, tản mạn, các quy định về cấp GCNQSDĐ cũng chỉ được đề cập trong một số văn bản

Trang 36

pháp luật đất đai, tuy nhiên chưa được cụ thể Chính vì vậy, quy định về xử lý

vi phạm trong cấp GCNQSDĐ cũng chưa được quy định rõ ràng và thống nhất

Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi ban hành Luật Đất đai năm 1993

Đại hội Đảng lần thứ VI tháng 12 năm 1986 diễn ra đã đánh dấu bước ngoặt phát triển trong đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam Sự đổi mới trong

tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo nên diện mạo mới của đất nước và con người Việt Nam Sau sự chuyển biến mới này, ngày 29/12/1987, Luật Đất đai năm 1987 đã ra đời Đây là văn bản pháp luật đất đai đầu tiên thống nhất điều chỉnh các quan hệ pháp luật đất đai Luật Đất đai năm 1987

đã có những khái niệm về người sử dụng đất, nội dung cấp GCNQSDĐ được quy định và trở thành một trong các nội dung chính của nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai Tuy nhiên, những quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay cấp GCNQSDĐ vẫn còn mơ hồ, chưa được quy định rõ trong Luật Chính vì vậy, để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai, ngày 14/7/1989 Tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành Quyết định số 201-QĐ/ĐKTK về việc ban hành quy định cấp GCNQSDĐ và Thông tư số 302/TT-ĐKTK ngày 28/10/1989 về hướng dẫn thi hành Quyết định về cấp GCNQSDĐ Đây có thể coi là hai văn bản tạo sự chuyển biến cho công tác cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam Dù đã có Luật Đất đai 1987 và các văn bản quy định cụ thể hơn về cấp GCNQSDĐ, nhưng quy định về xử lý vi phạm đất đai nói chung và xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được quy định cụ thể Luật Đất đai năm 1987 cũng đã có một chương riêng để quy định về khen thưởng và xử phạt Theo đó, việc xử phạt được quy định tại điều 53, 54, 55 Luật Đất đai năm 1987

Cụ thể, người nào mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô, huỷ hoại đất đai hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai thì bị xử phạt hành chính bằng một hoặc nhiều hình thức sau đây: Cảnh cáo, phạt tiền từ

Trang 37

20% đến 30% giá trị thiệt hại do việc vi phạm gây ra, tịch thu toàn bộ tiền mua bán đất, thu hồi phần đất sử dụng trái pháp luật.Việc xử lý hành chính do

Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật.Nếu hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị xử phạt theo Bộ luật hình sự Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn giao đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy định của pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm làm thiệt hại đến tài nguyên đất đai, bao che cho người có hành vi

vi phạm pháp luật đất đai, thì bị xử lý bằng một trong những hình thức sau đây: Cảnh cáo, phạt tiền, cách chức, buộc thôi việc.Việc xử lý kỷ luật quy định trong Điều này do cơ quan chính quyền quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ Nếu hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm thì bị xử phạt theo Bộ luật hình sự Người nào có hành vi

vi phạm pháp luật đất đai mà gây thiệt hại cho người khác thì ngoài việc bị xử phạt như trên còn phải bồi thường cho người bị thiệt hại

Từ các quy định nêu trên có thể thấy được, quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong cấp GCNQSDĐ chưa được quy định cụ thể và rõ ràng Luật Đất đai 1987 mới chỉ có các quy định chung chung về xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai, chưa có các quy định xử lý rõ ràng cho vi phạm đối với từng nội dung quản lý nhà nước về đất đai

Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003

Sau 5 năm thực hiện Luật Đất đai năm 1987, Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai năm 1993 được thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Luật Đất đai năm 1993 ra đời là đạo luật quan trọng, quy định cụ thể các nội dung liên quan đến cấp GCNQSDĐ cũng như các nội dung về xử

lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ Theo đó, điều 85, 86 và 87 Luật Đất đai năm 1993 đã quy định: Người nào lấn chiếm đất, huỷ hoại đất, chuyển quyền

Trang 38

sử dụng đất trái phép hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn giao đất, thu hồi đất, cho phép chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy định của pháp luật, bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai, quyết định xử lý trái pháp luật hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trường hợp nếu người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai mà gây thiệt hại cho người khác thì ngoài việc bị xử lý theo quy định như trên thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại

Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2013

Luật Đất đai năm 2003 ra đời khắc phục cơ bản được những hạn chế của Luật Đất đai năm 1993 với nhiều nội dung về cấp GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất (Khoản 1 Điều 48); Bổ sung đối tượng được đăng ký cấp GCNQSDĐ; Sửa đổi việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; Bổ sung quy định về cấp giấy chứng nhận cho cơ sở tôn giáo; Quy định các điều kiện và nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất khi được cấp GCNQSDĐ hợp lý hơn Những đổi mới có sự tác động mạnh mẽ đến hiệu quả của công tác cấp GCNQSDĐ

Song song với sự đổi mới đó, các quy định về xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ cũng dần dần được cụ thể hóa hơn để việc xử lý vi phạm được thống nhất và hiệu quả Sau 10 năm ban hành và đưa vào thực tiễn, Luật Đất đai 1993 dù đã có sửa đổi so với Luật Đất đai năm 1987, tuy nhiên vẫn còn bộc

lộ nhiều điểm thiếu sót Chính vì vậy, Luật Đất đai năm 2003 đã ra đời và đã dành một mục riêng cho phần xử lý vi phạm Theo đó, các quy định của Luật

Trang 39

Đất đai năm 2003 về xử lý vi phạm giống với Luật Đất đai 1993, ngoài ra cũng sửa đổi và bổ sung thêm một số nội dung như: Xử lý đối với người vi phạm pháp luật về đất đai, xử lý đối với người quản lý vi phạm pháp luật về đất đai, Trách nhiệm của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, Xử lý trách nhiệm của thủ trưởng, công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn trong việc vi phạm trình tự thực hiện các thủ tục hành chính Có thể thấy rằng, việc bổ sung thêm các quy định

về xử lý vi phạm trong Luật Đất đai năm 2003 đã góp một phần không nhỏ vào công tác xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai nói chung và công tác cấp GCNQSDĐ nói riêng

Ngoài ra, trong hệ thống các quy định về xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ, cùng những quy định về xử lý vi phạm trong Luật Đất đai năm

2003, ngày 29/10/2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định 182/2004/NĐ-CP

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trong đó quy định chi tiết về các hình thức xử phạt và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai Theo đó, làm sai lệch giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất sẽ bị phạt tiền từ năm trăm nghìn (500.000) đồng đến hai triệu (2.000.000) đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất làm cho việc cấp GCNQSDĐ; chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất bị sai lệch mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự

Sau khi thi hành được một thời gian, Nghị định này đã được thay thế bằng Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ Với việc

kế thừa những nội dung của nghị định cũ, Nghị định 105/2009/NĐ-CP đã đưa

ra các hình thức xử phạt và mức xử phạt đối với từng hành vi khác nhau Tuy nhiên, so với Nghị định cũ, Nghị định mới đã bổ sung thêm nhiều nội dung

Trang 40

cũng như mức xử phạt của một số hành vi cũng tăng lên Cụ thể, đối với làm sai lệch giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất sẽ bị phạt tiền từ hai triệu (2.000.000) đồng đến mười triệu (1.000.000) đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất làm cho việc cấp GCNQSDĐ; chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất bị sai lệch mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Như vậy mức phạt đã được tăng lên so với quy định cũ

Giai đoạn từ năm 2013 đến nay

Kể từ khi được ban hành, Luật Đất đai 2003 đã phát huy tốt vai trò của mình, đã khắc phục những hạn chế mà Luật Đất đai 1993 để lại, đồng thời những điểm mới, bổ sung đã mang lại những hiệu quả nhất định Tuy nhiên, sau một thời gian dài thi hành, nó cũng đã bộ lộ những hạn chế, dẫn đến những bất cập xảy ra trong quan hệ pháp luật đất đai Nhận thức được vấn đề này, Luật Đất đai năm 2013 đã ra đời thay thế cho Luật Đất đai năm 2003

Ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực kể từ 01/7/2014 So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm

2013 có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều, đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003

Luật Đất đai năm 2013 ra đời mang nhiều nội dung mới về cấp GCNQSDĐ cũng như về xử lý vi phạm trong cấp GCNQSDĐ Theo đó, Luật Đất đai năm 2013 cũng dành mục riêng cho xử lý vi phạm, về cơ bản nội dung các quy định giống với Luật Đất đai 2003, ở Luật mới, chỉ sửa đổi bổ sung một số nội dung để việc xử lý vi phạm được chặt chẽ và thống nhất hơn

Thời điểm Luật Đất đai 2013 cũng là thời điểm Nghị định

105/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai hết hiệu lực Ngày 10/11/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định 102/2014/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 105/2009/NĐ-CP trước đó Theo đó, các quy định về xử phạt vi

Ngày đăng: 30/07/2019, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2014
4. Chính phủ (1993), Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc ban hành quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc ban hành quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
5. Chính phủ (1994), Nghị định 60-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 60-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1994
6. Chính phủ (2004), Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
7. Chính phủ (2009), Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
9. Chính phủ (2011), Nghị định 34/2011/NĐ-CP ngày 17/05/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 34/2011/NĐ-CP ngày 17/05/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
10. Chính phủ (2014), Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
11. Ngô Thúy Hằng (2015), Thực trạng thi hành pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thi hành pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Tác giả: Ngô Thúy Hằng
Năm: 2015
12. Khoa Luật – ĐHQGHN (2005), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Khoa Luật – ĐHQGHN
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
13. Đặng Anh Quân (2006), “Một số suy nghĩ về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, Tạp chí khoa học Pháp lý, 2(33) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, "Tạp chí khoa học Pháp lý
Tác giả: Đặng Anh Quân
Năm: 2006
14. Quốc hội (1987), Luật Đất đai ngày 29/12/1987 của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai ngày 29/12/1987 của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 2
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1987
15. Quốc hội (1993), Luật Đất đai số 24-L/CTN ngày 14/07/1993 của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai số 24-L/CTN ngày 14/07/1993 của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 3
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1993
16. Quốc hội (2003), Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
17. Quốc hội (2005), Bộ Luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
18. Quốc hội (2013), Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
19. Quốc hội (2015), Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
24. Phạm Thị Thảo (2014), Thực thi pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
Tác giả: Phạm Thị Thảo
Năm: 2014
27. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang (2013), Báo cáo số 143/ BC-UBND ngày 11/10/2013 về tình hình và kết quả cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.II. Tài liệu website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 143/ BC-UBND ngày 11/10/2013 về tình hình và kết quả cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w