Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên tỉnh Bắc Ninh hiện nay dưới góc độ lý luận và thực tiễn. Qua việc nghiên cứu, người tôi nhận thấy rằng cho đến nay chưa có bất kỳ một công trình nghiên cứu nào về vấn đề hỗ trợ tư pháp cho thanh thiếu niên do vậy đối với một số quy định pháp luật về hỗ trợ tư pháp còn nhận thức chưa được đúng đắn, còn nhiều bất cập, hạn chế. Do vậy khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Thông qua việc nghiên cứu đề tài, người nghiên đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THANH QUỲNH
VAI TRÒ CỦA HỖ TRỢ TƢ PHÁP ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THANH QUỲNH
VAI TRÒ CỦA HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để cho tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thanh Quỳnh
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 3
6 Ý nghĩa và điểm mới của luận văn 3
7 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN 5
1.1 Một số khái niệm cơ bản về vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên 5
1.1.1 Khái niệm hỗ trợ tư pháp 5
1.1.2 Khái niệm vai trò 7
1.1.3 Khái niệm vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên 7
1.2 Vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên 10
1.3 Các yếu tố đảm bảo vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên 12
1.3.1 Yếu tố tâm - sinh lý của thanh thiếu niên 12
1.3.2 Nền tảng giáo dục của nhà trường 15
1.3.3 Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật 15
1.3.4 Chất lượng đội ngũ cán bộ hỗ trợ tư pháp 17
1.3.5 Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp 17
Trang 5Chương 2 : THỰC TRẠNG CỦA VAI TRÒ HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI
THANH THIẾU NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 19
2.1 Các điều kiện tác động đến vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 19
2.1.1 Điều kiện về vị trí địa lý 19
2.1.2 Điều kiện về kinh tế, xã hội và văn hóa 20
2.2 Thực trạng vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 21
2.2.1 Thực trạng của quy định pháp luật về vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên 21
2.2.2 Thực trạng vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 35
2.3 Đánh giá vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 42
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 42
2.3.2 Những hạn chế, bất cập 48
2.3.3 Những nguyên nhân, tồn tại 53
Chương 3 : QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 57
3.1 Quan điểm nâng cao vai trò hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên phải theo tinh thần của Hiến pháp 57
3.1.1 Hỗ trợ tư pháp phải đảm bảo trong bối cảnh cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân 57
3.1.2 Trong bối cảnh cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền cố gắng xây dựng, thiết lập và hoàn thiện Tòa chuyên trách hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên 58
Trang 63.1.3 Hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên phải nằm trong tổng
thể hỗ trợ tư pháp đối với toàn thể công dân 59
3.1.4 Cần có sự quan tâm của các cấp, ngành của toàn xã hội trong việc nâng cao vai trò hỗ trợ tư pháp cho thanh thiếu niên 60
3.2 Một số giải pháp tăng cường vai trò hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên 61
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật để nâng cao vị trí, vai trò của việc hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên 61
3.2.2 Xây dựng được hệ thống tư pháp thân thiện với thanh thiếu niên (người chưa thành niên) 65
3.2.3 Xây dựng đội ngũ cán bộ tham gia vào quá trình tố tụng 66
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCA : Bộ Công an
BLĐTBXH : Bộ Lao động thương binh xã hội BLHS : Bộ Luật hình sự
NCTN : Người chưa thành niên
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân Tối Cao
TTLT : Thông tư liên tịch
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thanh thiếu niên có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển của mỗi dân tộc Thanh thiếu niên - là thế hệ tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, có vai trò xung kích quan trọng trong các cuộc cách mạng của dân tộc Chính vì thế, vấn đề chăm sóc, giáo dục, cải tạo thế hệ trẻ và hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên là người chưa thành niên từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều chính sách pháp luật
về hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên Điều đó được thể hiện trong các quy định của Hiến pháp và pháp luật nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của đối tượng thanh thiếu niên
Trên cơ sở kế thừa các giá trị cơ bản qua các bản Hiến pháp về quyền công dân, quyền con người, cũng như các văn bản quy định về lực lượng đảm nhận nhiệm vụ hỗ trợ tư pháp như Luật Công an nhân dân 2014 thì nhiều quy định về nội dung hỗ trợ tư pháp được ban hành như Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19) ngày 10/9/2003 của Bộ trưởng Bộ Công An hướng dẫn hoạt động
hỗ trợ tư pháp của lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc công an nhân dân; Thông tư số 13/2016/TT-BCA ngày 10/3/2016 về quy định thực hiện nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa của lực lượng công an nhân dân Theo đó, các văn bản trên tạo điều kiện cho hoạt động hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên có hiệu quả Tuy nhiên, một số quy định còn bất cập, công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật chưa được quan tâm đúng mức cũng như tình trạng vi phạm pháp luật của đối tượng thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh còn diễn ra nhiều Hơn nữa, cho đến nay chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào
về vấn đề hỗ trợ tư pháp cho thanh thiếu niên nên một số quy định pháp luật
Trang 9về hỗ trợ tư pháp còn nhận thức không đúng, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến hỗ trợ tư pháp cho thanh thiếu niên là thật sự cần thiết, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện chế định hỗ trợ tư pháp cho thanh thiếu niên và giải quyết những vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật Với những lý do trên tác giả đã
lựa chọn đề tài “Vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên tỉnh Bắc
Ninh hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên là một trong những vấn đề cơ bản và cần thiết Tuy nhiên, hiện nay chưa có một nghiên cứu riêng một cách hệ thống và chuyên sâu đối với đề tài này Có một số công trình khoa học đề cập đến thanh thiếu niên nhưng dưới góc độ khác nhau như: Luận văn thạc sĩ năm 1997 “Tình trạng phạm tội của thanh thiếu niên hiện nay ở Hà Nội” của Trần Đức Châm, Trường Đại học xã hội và nhân văn; luận văn thạc sĩ năm 2010 “Giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên ở thành phố
Hà Nội hiện nay thực trạng và giải pháp” của Trần Phúc Lộc, khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội; luận văn thạc sĩ năm 2010 “Ý thức pháp luật của thanh thiếu niên trong thời kì hiện nay” của Đinh Thị Ánh Hồng, khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội; Tuy nhiên, vấn đề hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu và quan tâm đúng mức Các công trình mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về tình trạng phạm tội của thanh thiếu niên hoặc giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên mà chưa đề cập tới việc hỗ trợ tư pháp cho đối tượng thanh thiếu niên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng luận cứ khoa học nhằm đề cao vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh
Trang 10- Nhiệm vụ của luận văn:
Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
+ Làm rõ nội hàm lý luận về vai trò hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên; + Nêu và đánh giá thực trạng vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh;
+ Đưa ra quan điểm và giải pháp tăng cường vai trò hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với đề tài “Vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên tỉnh Bắc
Ninh hiện nay”, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích việc hỗ trợ tư pháp cho
thanh thiếu niên dưới góc độ đối tượng thanh thiếu niên phạm tội theo pháp luật Hình Sự Việt Nam, mà không nghiên cứu hỗ trợ tư pháp cho thanh thiếu niên với tư cách đối tượng bị vi phạm hành chính hoặc bị vi phạm khác
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận nghiên cứu luận văn là chủ nghĩa duy vật lịch sử,
chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Đảng và Nhà nước về pháp luật;
- Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp
6 Ý nghĩa và điểm mới của luận văn
- Luận văn nghiên cứu và phân tích sâu sắc, toàn diện về ý nghĩa, mục đích các vấn đề lý luận về vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên;
- Luận văn nghiên cứu và phân tích đề tài trên cơ sở các chính sách, định hướng của Nhà Nước và những quan điểm mới nhất về hỗ trợ tư pháp áp dụng đối với thanh thiếu niên trong giai đoạn hiện nay;
- Luận văn đánh giá thực trạng của vai trò hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ đó đưa ra quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao vai trò hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài nghiên cứu được đề cập trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với
thanh thiếu niên
Chương 2: Thực trạng của vai trò hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu
niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường vai trò hỗ trợ tư pháp
đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỖ TRỢ TƯ PHÁP
ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN
1.1 Một số khái niệm cơ bản về vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên
1.1.1 Khái niệm hỗ trợ tư pháp
Để tiếp cận được một cách đầy đủ khái niệm hỗ trợ tư pháp, chúng ta cần xem xét và hiểu rõ hai khái niệm về tư pháp và hỗ trợ
* Khái niệm tư pháp
Khái niệm “Tư pháp” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, theo nghĩa rộng nhất, tư pháp là sự công bằng, công lý và các thiết chế nhằm duy trì, bảo đảm sự công bằng, bảo vệ nền công lý Trong tiếng Anh, tư pháp là
“Juristice” nghĩa là “công lý” hay “nền công lý” [29] Theo đó, tư pháp được
quan niệm như một ý tưởng cao đẹp và nền công lý, việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong xã hội phải đúng pháp luật, hợp lẽ công bằng và các chuẩn mực khác
Tư pháp cũng có thể hiểu là “nền tư pháp” mà ở đó bao gồm cả hệ thống pháp luật và các thiết chế nhằm duy trì, bảo đảm việc thi hành một cách nghiêm minh hệ thống pháp luật đó, phát huy hiệu quả thực tế của chúng trong đời sống xã hội
Theo nghĩa Hán - Việt thì tư pháp được hiểu là “giữ gìn pháp luật” hay
“bảo vệ pháp luật” [6] Theo đó trong điều kiện quyền lực nhà nước thống nhất,
tư pháp không thể hiểu là một quyền tách biệt, do một hệ thống cơ quan độc quyền nắm giữ mà tư pháp phải được hiểu theo ý nghĩa “bảo vệ pháp luật”
* Khái niệm hỗ trợ
Theo Đại từ điển tiếng Việt, hỗ trợ có nghĩa là “giúp đỡ nhau, giúp
thêm vào” [12]
Trang 13* Khái niệm hỗ trợ tư pháp
Từ hai khái niệm hỗ trợ và tư pháp, ta có thể hiểu hỗ trợ tư pháp là việc giúp đỡ trong xét xử một vụ việc, một hành vi vi phạm pháp luật, giúp cho quá trình xét xử được tiến hành một cách thuận tiện, nhanh chóng và có hiệu quả cao nhất
* Phân biệt hỗ trợ tư pháp với trợ giúp pháp lý
Từ khái niệm hỗ trợ tư pháp nêu trên chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa hỗ trợ tư pháp và trợ giúp pháp lý, cụ thể như sau:
Theo luật trợ giúp pháp lý năm 2006 thì “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật”
Như vậy, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ tư pháp có mục đích chung hướng tới nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của đối tượng được trợ giúp và hỗ trợ, nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật Tuy nhiên, trợ giúp pháp lý
và hỗ trợ tư pháp khác nhau một số điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, về đối tượng:
Đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý là các gia đình thuộc chính sách xã hội, các trường hợp gia đình có công với cách mạng, người thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo, trẻ em bị buộc tội từ 16 đến dưới 18 tuổi, người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn còn đối tượng hỗ trợ tư pháp là những người phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự
Thứ hai, về cơ quan thực hiện:
Cơ quan tiến hành hoạt động hỗ trợ tư pháp được hiểu là cơ quan pháp luật như: Công an, Viện kiểm sát, Tòa án Còn cơ quan thực hiện hoạt động
Trang 14trợ giúp pháp lý bao gồm trung tâm trợ giúp pháp lý hoặc các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý như tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tham gia tư vấn pháp luật
Thứ ba, về tính chất của hoạt động:
Tính chất của hoạt động trợ giúp pháp lý là hoạt động miễn phí Vì vậy người được hưởng trợ giúp pháp lý có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, hoặc tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có thể tham gia bất cứ vào giai đoạn nào của hoạt động Đối với hoạt động hỗ trợ tư pháp là hoạt động mang tính chất bắt buộc và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình
tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thực hiện thi hành án hình sự
1.1.2 Khái niệm vai trò
* Khái niệm vai trò
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, vai trò có nghĩa là: “tác dụng, chức năng
trong sự ảnh hưởng cái gì đó, giữ vai trò quan trọng” [12]
1.1.3 Khái niệm vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên
* Khái niệm thanh thiếu niên
Trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia chưa
có một định nghĩa thống nhất về thanh thiếu niên là người nằm ở độ tuổi nào
Vì vậy, chúng ta đánh giá và tiếp cận về khái niệm thanh thiếu niên dưới góc
độ các khái niệm liên quan
Ở cấp độ quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em thông qua ngày 20/11/1989: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [21, tr.1]
Ở Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt: “Vị thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ hay nói cách khác là người chưa đủ 18 tuổi” [12, tr.76]
Trang 15Dưới góc độ tiếp cận khác, theo Điều 1 Luật Giáo dục năm 2004, chăm sóc và bảo vệ trẻ em Việt Nam quy định rõ: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [16]; Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có quy định tương tự: “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi” [17, Điều 21];
Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 2015 cũng quy định: "Người lao động chưa
thành niên là người dưới 18 tuổi" [19, Điều 161]
Còn theo quy định tại Điều 1 Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thanh niên thì “Thanh niên Việt Nam tuổi từ 15 đến 30, tích cực học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc, thừa nhận Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt động trong một số tổ chức cơ sở của Đoàn và có lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp vào Đoàn” [7]
Theo quy định tại Bộ luật Hình sự hiện hành được Quốc Hội thông qua năm 1999 và được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cụ thể theo Điều 12 quy định như sau: “người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm [14]
Dưới góc độ các khái niệm liên quan nêu trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm và xác định thanh thiếu niên là người từ độ tuổi trong khoảng từ 10 đến 16 tuổi Đây là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành Sự chuyển tiếp này liên quan tới những thay đổi về sinh học, xã hội và tâm lý Sự kết thúc của tuổi thiếu niên là sự bắt đầu của một giai đoạn phát triển mới, được gọi là thanh niên
* Khái niệm thanh thiếu niên phạm tội
Đề cập đến cụm từ “người chưa thành niên phạm tội” là một vấn đề, một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới Theo đó, mỗi quốc gia đều giải quyết vấn đề này dựa trên những điều kiện kinh tế, chính trị, văn
Trang 16hóa, xã hội, tập quán và pháp luật của mỗi nước với mức độ, cách thức, tiến hành giải quyết khác nhau Nhưng tựu chung lại đều nhằm mục đích tôn trọng, bảo vệ các quyền của người chưa thành niên trong đó có đối tượng thanh thiếu niên Để làm sáng tỏ khái niệm thanh thiếu niên phạm tội, trước mắt cần phải làm sáng tỏ khái niệm người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự quốc tế Trước đây và hiện nay, một hoạt động mà các nước trên toàn cầu đang nỗ lực thực hiện là tìm mọi cách bảo đảm hệ thống tư pháp người chưa thành niên nói chung và đối tượng thanh thiếu niên nói chung theo đúng luật pháp quốc tế về quyền con người Theo thời gian, từ năm 1989 đến nay, ngày càng nhiều quốc gia đã đưa ra các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về tôn trọng và bảo vệ các quyền của người chưa thành niên nói chung và đối tượng thanh thiếu niên nói riêng vào trong các văn bản quốc gia, đồng thời việc tăng cường bảo vệ các quyền của thanh thiếu niên, quyền của người chưa thành niên cũng là một khía cạnh quan trọng trong hoạt động của các cơ quan và nhiều chương trình của Liên hợp quốc Bởi lẽ, người chưa thành niên trong pháp luật nói chung và trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng là một vấn đề được cả thế giới quan tâm
Dựa trên cơ sở kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, khảo sát về tâm lý, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh, phòng, chống tội phạm, cũng như căn cứ vào chính sách hình sự của Nhà Nước đối với người chưa thành niên, pháp luật Hình sự Việt Nam đã quy định khái niệm người chưa thành niên phạm tội chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ
18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự
Gần đây, GS.TSKH Lê Cảm và TS Đỗ Thị Phượng đưa ra khái niệm người chưa thành niên phạm tội tương đối đầy đủ và lập luận việc quy định trong pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm xác định tính chất tội phạm đối với hành vi do người chưa thành niên thực hiện và
Trang 17cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ
đã thực hiện trên cơ sở những đặc điểm về tâm - sinh lý của họ vào thời điểm
họ phạm tội Từ lý do trên, các tác giả đưa ra khái niệm: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm” [5, tr.9]
Từ khái niệm người chưa thành niên phạm tội, chúng ta có thể hiểu thanh thiếu niên phạm tội như sau: Thanh thiếu niên phạm tội là người từ đủ
14 tuổi đến đủ 16 tuổi đã có lỗi cố ý hoặc vô ý trong việc thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm
* Khái niệm vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên
Từ các khái niệm tư pháp hỗ trợ, khái niệm vai trò và khái niệm thanh thiếu niên phạm tội, chúng ta có thể hiểu vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên là những tác động của hoạt động hỗ trợ tư pháp là cần thiết cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án cho đối tượng thanh thiếu niên phạm tội, mang lại kết quả tốt nhất là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng thanh thiếu niên phạm tội
1.2 Vai trò của hỗ trợ tƣ pháp đối với thanh thiếu niên
Các biện pháp hỗ trợ tư pháp có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho hoạt động xét xử được diễn ra liên tục, ổn định, công khai, minh bạch Bên cạnh đó, các biện pháp hỗ trợ tư pháp cho thanh thiếu niên phạm tội (người chưa đủ 18 tuổi) còn giữ các vai trò như sau:
- Nâng cao chất lượng của hoạt động tư pháp, cụ thể:
Hỗ trợ tư pháp là một hoạt động nằm trong khuôn khổ hoạt động tư pháp Theo đó, hoạt động hỗ trợ tư pháp được thực hiện bởi lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc hệ thống tổ chức của Công an Nhân dân Việt Nam, ra đời trên cơ sở tổ chức của lực lượng cảnh sát bảo vệ theo Quyết
Trang 18định số 346/2003/QĐ-BCA ngày 18/4/2003 của Bộ trưởng Bộ Công An về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp Với chức năng bảo vệ và hỗ trợ tư pháp là cần thiết nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ trong việc dẫn giải, bảo vệ phiên tòa, bảo vệ nhà tạm giam, tạm giữ, nhất là đối tượng thanh thiếu niên phạm tội cần được áp dụng và đảm bảo sự an toàn về tính mạng, quyền và lợi ích của người chưa thành niên trên cơ sở quyền con người cũng như đảm bảo cho người tiến hành tố tụng, người tham gia và chất lượng của phiên tòa Vì vậy, với những đảm bảo nêu trên hỗ trợ tư pháp đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp nói chung, góp phần nâng cao nền tảng tư pháp ổn định, công bằng, dân chủ
- Góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ nhóm yếu thế trong xã hội;
Với những đảm bảo trong quá trình tham gia tố tụng từ quá trình xét
xử hội đồng xét xử phải có có hiểu biết về tâm lý thanh thiếu niên, phải có đại diện là giáo viên hoặc đoàn thanh niên đến giai đoạn thi hành án thì việc bảo vệ nhà tạm giam cũng được thực hiện theo chế độ riêng biệt để đảm bảo thanh thiếu niên được học tập, giao lưu, lao động và phát triển hoàn thiện nhân cách Như vậy, có thể thấy toàn bộ quá trình thực hiện hỗ trợ tư pháp thanh thiếu niên có những đảm bảo riêng để thực hiện các quyền con người, quyền công dân của bản thân mình, đó là chính sách riêng biệt đối với thanh thiếu niên mà Đảng và Nhà nước luôn đề cao để đảm bảo thanh thiếu niên phạm tội nhanh tái hòa nhập cộng đồng và sống có ích cho xã hội
- Góp phần xây dựng nền chính trị ổn định;
Hoạt động hỗ trợ tư phần cũng góp phần xây dựng nền chính trị ổn định Bởi lẽ, khi hoạt động hỗ trợ tư pháp được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, thanh thiếu niên được đảm bảo quyền lợi của mình thì tinh thần thượng tôn pháp luật mới phát huy được giá trị của nó Vì vậy, đảm bảo đúng
Trang 19quy định pháp luật, không xảy ra những hoạt động bạo động, biểu tình, mất trật tự, ngoan cố là góp phần nâng cao chất lượng hỗ trợ tư pháp nói riêng và nền chính trị nhà nước ổn định nói chung
- Góp phần cải cách tư pháp hòa nhập với xu thế pháp luật thế giới Với việc thực hiện các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và nhà nước được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của
Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” hoạt động hỗ trợ
tư pháp đã phần nào nâng cao tỉ lệ thi hành án theo đúng tinh thần cải cách tư pháp của Đảng và nhà nước đã đề ra, không những thế cơ quan hỗ trợ tư pháp của nước ta luôn có sự phối hợp với cơ quan hỗ trợ tư pháp nước ngoài trong những vụ án có yếu tố nước ngoài Điều này, góp phần nâng cao xu hướng hòa nhập và phối hợp với pháp luật thế giới trong quá trình chống tội phạm và nâng cao chất lượng hỗ trợ tư pháp
1.3 Các yếu tố đảm bảo vai trò của hỗ trợ tƣ pháp đối với thanh thiếu niên
1.3.1 Yếu tố tâm - sinh lý của thanh thiếu niên
Thanh thiếu niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý, chưa thể nhận thức đầy đủ Ở tuổi này, các em phát triển mạnh cá tính độc lập, muốn tách khỏi sự quản lý, kiểm soát của gia đình, phát triển mạnh cá tính và muốn tìm kiếm những mối quan hệ bạn bè cùng lứa Nhu cầu về tình bạn trở nên quan trọng và dễ chịu ảnh hưởng (tốt cũng như xấu) của một nhóm người trong xã hội Khi mong muốn điều gì, các em muốn được thỏa mãn nhu cầu ngay và có thể hành động bất chấp hậu quả, trong khi về mặt tư duy các em chưa phát triển đầy đủ khả năng phê phán Nhận thức của các em còn non nớt, thiếu chín chắn và đặc biệt dễ bị kích động, lôi kéo bởi những người xung quanh, nếu ở môi trường xấu và không được chăm sóc giáo dục chu đáo, thanh thiếu niên dễ bị ảnh hưởng thói hư tật xấu dẫn đến phạm pháp
Trang 20Thanh thiếu niên có những đặc điểm riêng về tâm - sinh lý mà thông thường và phổ biến là nhiệt tình, hành động bồng bột, nhẹ dạ, thiếu kinh nghiệm sống, dễ va vấp Sự hiểu biết về pháp luật rất hạn chế, nông cạn, thiếu chính xác và thiếu hệ thống Sự hiểu biết của họ về các mặt của cuộc sống xã hội cũng chưa đủ để có thể lựa chọn và quyết định cách xử sự phù hợp với chuẩn mực của xã hội, mà GS.TS Phạm Minh Hạc đã tổng kết về sự hình thành và phát triển nhân cách con người như sau: [8, tr.84]
Bảng tổng quan sự hình thành và phát triển nhân cách của con người Lứa
- Lĩnh hội nền tảng của tri thức và phương pháp, công cụ nhận thức;
- Ham tìm tòi khám phá;
- Hiếu động
- Phương pháp học tập và phẩm chất trí tuệ;
- Lẽ phải;
- Sử dụng công
cụ nhận thức phổ thông
- Dậy thì;
- Quan hệ tâm tình bạn bè;
- “Cải tổ nhân cách” và định hình bản ngã”;
- Muốn được đối xử như người lớn
- Mất thăng bằng tâm lý
- Xây dựng nhóm bạn bè tốt
- Hoàn thành thế giới quan;
- Định hướng chuẩn bị nghề nghiệp;
Ham hoạt động xã hội;
Tình bạn thân và mối tình đầu
- Ý thức công dân;
- Ý thức nghề nghiệp; Hoài bão xã hội; Tình bạn, tình yêu
Trang 21Từ bảng tổng quan sự hình thành và phát triển nhân cách của con người, cho thấy thanh thiếu niên chịu sự tác động rất lớn và chủ yếu của môi trường sống Sự hình thành và phát triển nhân cách đặc điểm nhân thân của thanh thiếu niên chịu sự chi phối và bị quy định bởi sự giáo dục của môi trường gia đình, nhà trường và xã hội Họ dễ tiếp thu những thói hư, tật xấu, dễ bị tha hóa về nhân cách và dễ bị kích động, lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, cũng như những hành động vi phạm pháp luật Tuy nhiên, nếu trong môi trường sống lành mạnh thì thanh thiếu niên sẽ có những điều kiện phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần để trở thành người
có ích cho xã hội [8, tr.459]
Như vậy, thanh thiếu niên là những người mà sự phát triển về thể chất
có sự không tương xứng với quá trình phát triển về nhân cách, năng lực trí tuệ, nhân sinh quan và thế giới để hình thành toàn bộ những đặc điểm tâm - sinh lý của một người bước vào độ tuổi thành niên Ở thanh thiếu niên đang diễn ra một sự biến đổi sâu sắc về sinh học, có những mâu thuẫn gay gắt trong
sự phát triển nhân cách - tâm lý Sự phát triển về thể chất và về các đặc điểm nhân thân khác của thanh thiếu niên chịu sự tác động có tính quyết định của môi trường sống và dẫn đến một thực tế là: Họ không biết, hiểu sai hoặc không chấp nhận các chuẩn mực hiện hành Vì vậy, pháp luật hình sự Việt Nam không coi người chưa thành niên nói chung và đối tượng thanh thiếu niên nói riêng phạm tội có năng lực trách nhiệm như người đã thành niên phạm tội Do đó, khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, trong mọi trường hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của người chưa thành niên nói chung và đối tượng thanh thiếu niên nó riêng, đồng thời cũng phải xác định được nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm
Trang 221.3.2 Nền tảng giáo dục của nhà trường
Nhà trường và giáo dục học đường là một trong những yếu tố tác động quan trọng nhất đối với quá trình phát triển nhân cách và định hướng lối sống của thanh thiếu niên Bởi trong cuộc đời mỗi người thì thời gian đi học chiếm phần lớn tuổi thanh thiếu niên Chính tại nhà trường và nhờ giáo dục học đường, thanh niên tiếp thu được nhiều tri thức về tự nhiên và xã hội, các kỹ năng sống, những bài học về đạo đức, pháp luật, tôn giáo, chính trị và văn hóa Đây là những hành trang giúp họ vững bước vào đời Tuy nhiên, những bất cập của nền giáo dục cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu của
xu hướng sống tiêu cực, không lành mạnh của thanh thiếu niên hiện nay
Một là, vấn đề áp lực học tập đối với thanh thiếu niên, nó ảnh hưởng
khá mạnh mẽ tới đời sống tâm lý và định hướng lối sống của những thanh thiếu niên
Hai là, trạng thái tâm lý căng thẳng do áp lực căng thẳng do áp lực học
đường sẽ càng gia tăng khi thanh thiếu niên cảm thấy và cho rằng nhà trường, thầy cô đối xử không công bằng hoặc có sự phân biệt đối xử
Ba là, hiện tượng tha hóa, biến chất, vi phạm đạo đức nghề nghiệp của
bộ phận giáo dục, làm vấn đục môi trường giáo dục nhà trường
Bên cạnh những hiện trượng tiêu cực nói trên, sự bất cập của chương trình giáo dục và trong nội dung của một số môn học cũng góp phần tạo nên những thất vọng cho thanh thiếu niên Do chính là sự thiếu vắng hay hết sức
sơ sài của các môn học về kỹ năng sống Đây là một trong những nguyên nhân làm phát sinh và lây lan các xu hướng lối sống tiêu cực trong thanh thiếu niên hiện nay
1.3.3 Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật
Công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo sự tuân thủ pháp luật cho thanh
Trang 23thiếu niên Tuy nhiên, hiện nay những bất cập trong công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật đã phần nào làm gia tăng thực trạng vi phạm pháp luật ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cụ thể là:
Thứ nhất, nhận thức chung của các cấp, các ngành trong công tác phổ
biến giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên còn nhiều hạn chế, còn cho đó là nhiệm vụ của ngành Tư pháp, một số đơn vị, địa phương nhận thức đây là công tác của Đoàn thanh niên Vì vậy, sự quan tâm và đầu tư cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên vẫn còn chưa đảm bảo
Thứ hai, việc phổ biến giáo dục pháp luật ở một số địa phương còn
mang tính phong trào, chưa đi sâu vào những nội dung thiết thực mà thanh thiếu niên cần Các mô hình, hình thức phổ biến giáo dục pháp luật chưa được chú trọng đổi mới, vận dụng phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của thanh thiếu niên Công tác đánh giá, tổng kết các mô hình, cách làm hay, hiệu quả trong phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên chưa chú trọng; có nhiều mô hình qua thực tiễn triển khai được đánh giá cao nhưng chưa được quan tâm tổng kết, thông tin, truyền thông để các cơ quan, đơn vị, địa phương bạn học tập, tham khảo, để qua đó nhân rộng nếu thất thiết thực, phù hợp với địa bàn
và điều kiện thực tế
Thứ ba, sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong phổ biến giáo
dục pháp luật cho thanh thiếu niên thiếu đồng bộ, trách nhiệm chưa rõ ràng, dẫn tới hiệu quả còn hạn chế
Thứ tư, thanh thiếu niên do có đặc điểm về lứa tuổi, thể chất đang ở độ
trưởng thành, nhận thức, tâm lý chưa hoàn toàn chín chắn, dễ bị lôi kéo, bị chi phối, kích động nên Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định
rõ đây là nhóm đối tượng đặc thù mà Nhà nước, xã hội cần quan tâm, đầu tư, đặc biệt với công tác giáo dục lối sống, đạo đức, pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế các địa phương còn gặp khó khăn về nguồn lực, nhất là về kinh phí
Trang 24Do đó, việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chủ yếu mới tập trung vào thanh thiếu niên là học sinh, chưa có điều kiện thực hiện liên tục, thường xuyên đối với thanh thiếu niên tư do, không có địa bàn ổn định, không có việc làm, trong khi đây là đối tượng có nguy cơ cao về vi phạm pháp luật, đòi hỏi cách tiếp cận, vận dụng các hình thức phổ biến giáo dục pháp luật phải sáng tạo, đặc thù
1.3.4 Chất lượng đội ngũ cán bộ hỗ trợ tư pháp
Hiện nay, chất lượng của đội ngũ cán bộ hỗ trợ tư pháp chưa được củng
cố, chưa có một trường lớp đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng hỗ trợ tư pháp mà từng cơ quan chỉ thực hiện tập huấn thường kỳ Đối tượng thanh thiếu niên là những người chưa phát triển hoàn thiện về nhân cách, việc
cư xử thường hành động theo lối tự phát, không kiểm soát Vì vậy, xảy ra các
vụ án mà đối tượng thanh thiếu niên phạm tội có xu hướng tăng cao Chính vì vậy, cần phải xây dựng một đội ngũ cán bộ thực hiện hỗ trợ tư pháp có hiểu biết sâu về tâm lý thanh thiếu niên, nhất là thanh thiếu niên phạm tội để đảm bảo hoạt động hỗ trợ được thực hiện theo đúng quy định pháp luật và đảm bảo
quyền lợi cho thanh thiếu niên
1.3.5 Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp
Trong thời kỳ đổi mới, sự quan tâm của các cấp ủy, chính quyền các cấp là cần thiết cho đối tượng thanh thiếu niên Tuy nhiên, hiện nay sự quan tâm của cấp ủy và chính quyền các cấp cũng chưa đúng mức, còn tồn tại những vấn đề nổi cộm như sau:
Thứ nhất, thiếu nhất quán trong cách xác định tuổi thanh thiếu niên ở
Việt Nam Thực tế cho thấy, đã có nhiều văn bản của cơ quan nhà nước trong việc xác định độ tuổi của trẻ em và người chưa thành niên Tuy nhiên, thực tế cho thấy vấn đề xác định độ tuổi cho đối tượng thanh thiếu niên chưa được các cấp ủy, chính quyền đưa ra thảo luận, xem xét dưới góc độ xây dựng dự thảo luật Bởi lẽ, khi chưa có cách hiểu chính xác về độ tuổi mà pháp luật quy
Trang 25định là thanh thiếu niên sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý khôn lường đưa thanh thiếu niên không hiểu biết vào vòng tù tội cũng như các doanh nghiệp
sử dụng lao động là thanh thiếu niên mà không biết mình phạm luật
Thứ hai, xét về nội dung, các nghị quyết, nghị định của Đảng cũng như
các văn bản pháp lý của Nhà nước chủ yếu tập trung vào giải quyết một số vấn đề bức thiết , cơ bản nhất đối với thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay, trong khi những vấn đề liên quan đến xây dựng đường lối, phát triển nhân cách, đạo đức, và phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên còn chưa được quan tâm đúng mức
Tóm lại, các nội dung được nêu trên là những yếu tố cơ bản cho việc cần thiết hỗ trợ tư pháp cho đối tượng thanh thiếu niên Bởi lẽ, hoạt động hỗ trợ tư pháp là hoạt động mang tính liên tục trong quá trình tham gia tố tụng
Vì vậy, đảm bảo hoạt động hỗ trợ tư pháp là góp phần đảm bảo quyền lợi cho đối tượng thanh thiếu niên trong quá trình tham gia pháp luật cũng như đảm bảo tinh thần thượng tôn pháp luật
Trang 26Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VAI TRÒ HỖ TRỢ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
2.1 Các điều kiện tác động đến vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
2.1.1 Điều kiện về vị trí địa lý
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc miền Bắc nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, vị trí thuận tiện đi đến sân bay Quốc tế Nội Bài, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh Bắc Ninh có các trục đường giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các Trung tâm kinh tế, văn hóa và thương mại của phía Bắc - Việt Nam: đường quốc lộ 1A, quốc lộ 1B mới, quốc lộ 18, 38 và tuyến đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc
Bắc Ninh có đường sông thuận lợi nối với các vùng lân cận, như cảng biển Hải Phòng và các trung tâm kinh tế lớn ở miền Bắc
Địa hình Bắc Ninh tương đồi bằng phẳng Tuy dốc từ bắc xuống nam
và từ tây sang đông, nhưng độ dốc không lớn Vùng đồng bằng chiếm gần hết diện tích tự nhiên toàn tỉnh Bắc Ninh là tỉnh có diện tích bé nhất cả nước với diện tích 8.260,88 ha Ước tính đến năm 2017 dân số tỉnh Bắc Ninh là 213.616 người trong đó dân số cơ học khoảng 287.583 người,
Theo sự sắp đặt hành chính hiện nay, Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm Thành phố Bắc Ninh và 7 huyện: Từ Sơn, Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Thuận Thành, Lương Tài và Gia Bình Ngày 25/12/2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành Quyết định số 2088/QĐ-TTg công nhận thành phố Bắc Ninh là đô thị loại I trực thuộc tỉnh
Trang 272.1.2 Điều kiện về kinh tế, xã hội và văn hóa
Bắc Ninh hiện nay là một trong những tỉnh tăng trưởng nhanh nhất miền bắc nhất là tốc độ tăng trưởng công nghiệp Năm 2010, BN tăng trưởng 17.86% cao nhất từ trước đến nay và tính chung trong giai đoạn
2006 - 2010 Bắc Ninh tăng trưởng 15.3% Đến năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt trên 32 ngàn tỷ, tăng 57,3% so với năm 2009
và trở thành tỉnh có qui mô công nghiệp đứng thứ 9 cả nước Bắc Ninh năm
2010 thu ngân sách đạt mốc 5000 tỷ, GDP bình quân đạt 1800USD/ 1 năm, ngang với Hải Phòng và chỉ kém Hà Nội Năm 2010, Bắc Ninh cũng đạt kim ngạch xuất khẩu là 3 tỷ USD, và là một tỉnh xuất siêu
Bắc Ninh có tiềm năng kinh tế và nền văn hóa phong phú đậm đà bản sắc dân tộc Nhắc đến Bắc Ninh, người ta nhắc đến những hoạt động văn hóa dân gian gắn liền với những lễ hội đền chùa và nền dân ca quan
họ mang đậm dấu ấn xứ Kinh Bắc Ngày 30/9/2009, Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Đây là vinh dự, tự hào không chỉ riêng của Bắc Ninh, Bắc Giang mà
nó còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam
Từ những yếu tố về mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa đã tác động và dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật tại tỉnh Bắc Ninh có xu hướng tăng cao nhất là cái tội phạm về sở hữu Mặc dù tỉnh Bắc Ninh chưa phải là địa bàn trọng điểm về các tội sở hữu nhưng với đặc điểm là tỉnh đồng bằng, giao thông thuận lợi, có đường thủy, đường sắt, đường bộ nối liền với các tỉnh, thành phố khác, giáp danh các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên
và thành phố Hà Nội, có nhiều làng nghề phát triển, tập trung nhiều khu công nghiệp lớn có vốn đầu tư nước ngoài, thu hút nhiều lao động trong và ngoài tỉnh Điều này đã dẫn đến trong những năm gần đây các hành vi vi phạm pháp luật thâm nhập và ngày càng gia tăng, nhất là các tội phạm về
Trang 28sở hữu, kinh tế, trật tự trị an… gây hậu quả lớn đối với việc phát triển kinh
tế, xã hội của tỉnh Bắc Ninh Trước thực tiễn trên, vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên trở nên cần thiết và cấp bách cần có sự điều chỉnh đúng đắn của quy định pháp luật, đảm bảo trật tự và an toàn xã hội
2.2 Thực trạng vai trò của hỗ trợ tƣ pháp đối với thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
2.2.1 Thực trạng của quy định pháp luật về vai trò của hỗ trợ tư pháp đối với thanh thiếu niên
* Quy định pháp luật về vai trò của hỗ trợ tư pháp trong việc có sự tham gia của người đại diện cho thanh thiếu niên trong quá trình lấy lời khai tại cơ quan tiến hành tố tụng
Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, việc lấy lời khai người bị tạm giữ hoặc hỏi cung bị can là thanh thiếu niên phải tuân thủ theo những quy định chung của BLTTHS trong quy định chung đối với việc lấy lời khai của người chưa thành niên phạm tội Tuy nhiên, do đặc điểm đặc thù của thanh thiếu niên nên việc lấy lời khai cần có người đại diện Theo đó, người đại diện phải có năng lực pháp luật và giấy tờ hợp lệ khi làm việc tại cơ quan điều tra Khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là thanh thiếu niên, cơ quan điều tra phải thông báo trước cho người đại diện hợp pháp của họ về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung
Trường hợp khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là thanh thiếu niên độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những điều kiện khác, cơ quan điều tra phải thông báo trước cho đại diện của gia đình để đảm bảo sự có mặt của họ Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can khi không có mặt đại diện gia đình hoặc đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng hoặc họ
từ chối tham gia Trường hợp đại diện gia đình của người bị tạm giữ, bị can
Trang 29không thể có mặt, để đảm bảo trình tự, thủ tục tố tụng được tiến hành kịp thời theo quy định, thì việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can vẫn được thực hiện nhưng cơ quan tiến hành tố tụng phải mời cán bộ thuộc một trong các cơ quan Lao động - thương binh và xã hội, Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên hoặc Luật sư tham gia lấy lời khai, hỏi cung
Bên cạnh đó, theo TTLT số BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên đã quy định cụ thể hơn về việc lấy khai Theo đó, việc lấy lời khai người người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là thanh thiếu niên có thể thực hiện tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó Nơi lấy lời khai hoặc hỏi cung cần được bố trí theo cách thức phù hợp để làm giảm bớt sự căng thẳng, sợ hãi của thanh thiếu niên Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng cần hạn chế đến mức thấp nhất số lần lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là thanh thiếu niên Điều tra viên, kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là thanh thiếu niên nên sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành của họ Thời gian lấy lời khai, hỏi cung cần được xác định trên độ tuổi, tình trạng tâm lý, sức khỏe cũng như khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, phát triển của thanh thiếu niên và yêu cầu điều tra Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải được tạm dừng ngay khi thanh thiếu niên có biểu hiện mệt mỏi, ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ
01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-Như vậy, quy định có sự tham gia của người đại diện trong quá trình lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là thanh thiếu niên nhằm đảm bảo cho sự hỗ trợ cần thiết cho thanh thiếu niên để việc giải quyết vụ án được khách quan, chính xác
Trang 30* Quy định pháp luật về vai trò của hỗ trợ tư pháp trong việc có sự tham gia của người bào chữa tại phiên tòa
Một trong những yếu tố quyết định để bảo đảm cho thanh thiếu niên phạm tội trong giai đoạn xét xử thì phải bảo đảm được quyền bào chữa và quyền tranh tụng tại các phiên tòa Đây là một trong những nguyên tắc hiến định được ghi nhận tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và quy định tại các Điều
11, 57, 217, 218 BLTTHS năm 2003, cụ thể như:
Tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013 có quy định:
“1 Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn
2 Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm
3 Tòa án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa
án nhân dân có thể xét xử kín
4 Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn
5 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
6 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
7 Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm”
Điều 11, 57, 217, 218 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định:
“Điều 11 Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo:
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
Trang 31Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này
Điều 57 Lựa chọn và thay đổi người bào chữa:
1 Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn
2 Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư
cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất
Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này,
bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
3 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình
Điều 217 Trình tự phát biểu khi tranh luận:
1 Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội
Trang 32Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ
đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa
2 Bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa
3 Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình; nếu có người bảo vệ quyền lợi cho họ thì người này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến
Điều 218 Đối đáp:
Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án
Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận
Các quy định này quy định nội dung thể hiện sự bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chính là biểu hiện của nền dân chủ và nhân đạo xã hội xã hội chủ nghĩa, là một bảo đảm cho hoạt động xét xử được tiến hành một cách khách quan, công bằng và nhân đạo
Trong những vụ án xét xử đối với đối tượng thanh thiếu niên phạm tội thì việc tham gia tố tụng của người bào chữa là bắt buộc Bị cáo là thanh thiếu
Trang 33niên có quyền tự bào chữa theo quy định chung đối với người chưa thành niên tại Điều 50 BLTTHS”
Điều 305 BLTTHS quy định về “bào chữa” đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên như sau:
1 Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
2 Trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình [15]
Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Bộ luật TTHS thì người bào chữa có thể là luật sư, người đại diện hợp pháp của bị cáo hoặc bào chữa viên nhân dân Việc tham gia tố tụng của người bào chữa có thể theo yêu cầu của bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ hoặc theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng Trong trường hợp người bào chữa tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng thì bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật TTHS
Có thể thấy rằng, sự tham gia của người bào chữa đối với các vụ án là thanh thiếu niên phạm tội đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng cho đối tượng thanh thiếu niên phạm tội nói riêng và trong công tác đấu tranh chống tội phạm nói chung Tuy nhiên, để có thể đảm bảo cho nhóm đối tượng này có một cuộc sống bình thường thì điều quan trọng hơn hết là tạo cho các em môi trường sống lành mạnh, coi trọng hơn nữa sự quan tâm, chăm
Trang 34sóc đến đời sống, tâm tư tình cảm của các em, có như vậy mới có thể đi đến xóa bỏ tình trạng thanh thiếu niên phạm tội, bởi xét cho cùng thì việc phạm tội của các em đều do sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp từ phía gia đình, nhà trường và xã hội đến quá trình hình thành nhân cách của nhóm đối tượng
* Quy định pháp luật về vai trò của hỗ trợ tư pháp trong hoạt động bảo vệ phiên tòa hình sự
Biện pháp bảo vệ phiên tòa được thực hiện thông qua lực lượng thuộc
hệ thống tổ chức của Công an nhân dân Việt Nam, ra đời trên cơ sở tổ chức của lực lượng cảnh sát bảo vệ, theo Quyết định số 346/2003/QĐ-BCA ngày 18/4/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Cục cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp Ngoài ra, trong quy định về vấn đề bảo vệ phiên tòa Bộ Công an vừa ban hành thông tư số 13/2016/TT-BCA ngày 10/3/2016 về nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa của lực lượng công an nhân dân Theo đó, thông tư quy định các nguyên tắc, nhiệm vụ, trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong thực hiện nhiệm
vụ bảo vệ phiên tòa của lực lượng công an nhân dân Đơn vị cảnh sát thi hành
án hình sự và hỗ trợ tư pháp các cấp trong công an nhân dân có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với công an các đơn vị, địa phương và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan thực hiện nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa
Cũng theo thông tư 13/2016/TT-BCA thì căn cứ vào đặc điểm, tính chất vụ án, nơi xét xử, số lượng bị cáo, người làm chứng, người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham gia phiên tòa để bố trí lực lượng bảo vệ phiên tòa cho phù hợp, việc bảo vệ phiên tòa chỉ được thực hiện khi có yêu cầu của Tòa án nhân dân
Biện pháp bảo vệ phiên tòa không đơn giản chỉ là bảo vệ tại phòng xử
án và trong thời điểm phiên tòa diễn ra mà còn mở rộng ra cả phạm vi ngoài
Trang 35phiên tòa và trước, sau khi phiên tòa diễn ra Biện pháp bảo vệ phiên tòa được biểu hiện qua một số hoạt động cụ thể sau:
- Nhắc nhở người đến dự phiên tòa ngồi đúng vị trí quy định
- Giám sát mọi hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người tham dự phiên tòa
- Nhắc nhở, chấn chỉnh người vi phạm trật tự nội quy phiên tòa
- Ngăn cản các hành vi gây mất an ninh, trật tự; gây rối, đe dọa, tấn công Hội đồng xét xử, hủy hoại, cướp hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc các bị cáo hành hung lẫn nhau
- Kiểm soát và hướng dẫn người được vào phòng xử án, nơi xét xử lưu động để dự phiên tòa theo đúng quy định trong trường hợp phiên tòa xét xử lưu động
- Ngăn cản hành vi của thân nhân, đồng bọn bị cáo tụ tập hò hét, gây rối, đập phá gây mất trật tự
- Buộc người vi phạm trật tự, nội quy phiên tòa rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ theo quyết định của Chủ tọa phiên tòa
- Tuyên truyền, yêu cầu mọi người tự giải tán, chấm dứt việc gây rối trật
tự khi xảy ra tình huống tụ tập đông người gây rối trật tự tại khu vực xét xử
- Kiểm soát người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy mời của Tòa án, các giấy tờ khác có liên quan
- Không cho người tham gia phiên tòa mang đồ vật cấm vào phòng xử án,
- Bắt giữ và xử lý kịp thời người có hành vi chiếm đoạt, hủy hoại tài liệu, hồ sơ, vật chứng đang sử dụng tại phiên tòa phục vụ cho việc xét xử
- Phòng ngừa, ngăn chặn bị cáo thông cung, tự sát, bỏ trốn hoặc có hành vi nguy hiểm
- Xử lý kịp thời trong trường hợp xảy ra các tình huống đặc biệt: như khủng bố, bắt cóc con tin, phát hiện có vật liệu nổ, bom, mìn, cháy, nổ (Cụ
Trang 36thể như: sơ tán mọi người ra khỏi khu vực nguy hiểm; thực hiện các biện pháp, sử dụng các phương tiện chữa cháy tại chỗ dập tắt đám cháy, báo tin cho lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, đồng thời báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của người có thẩm quyền; cấp cứu người bị thương (nếu có); bắt giữ ngay người có hành vi vi phạm pháp luật và bàn giao cho lực lượng chức năng giải quyết; phối hợp với Công an sở tại khoanh vùng bảo vệ hiện trường phục vụ công tác Điều tra vụ việc )
Bên ngoài phòng xử án, các hoạt động để bảo vệ phiên tòa cũng rất
- Ngăn chặn các hành vi cản trở, tấn công việc áp giải, hành hung hoặc đánh tháo bị cáo
- Hạn chế số lượng người vào phòng xử án khi cần thiết
- Duy trì an ninh, trật tự sau khi lực lượng tham gia phối hợp rời khỏi khu vực xét xử
- Bố trí lối đi dự phòng trong trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn cho Hội đồng xét xử và công tác áp giải bị cáo
- Những hoạt động cần thiết khác
Để thực hiện được những hoạt động trên, lực lượng thực hiện biện pháp bảo vệ phiên tòa phải khảo sát thực tế, nắm vững tính chất, đặc điểm của vụ án; mức độ tội phạm; số lượng bị cáo, người làm chứng và những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng và dự kiến số người tham dự phiên tòa; thời gian, địa điểm xét xử, khí hậu, thời tiết; tình hình an ninh chính trị và trật
Trang 37tự an toàn xã hội nơi diễn ra phiên tòa, dư luận xã hội (nhất là các phiên tòa xét xử các vụ án phức tạp liên quan đến an ninh trật tự, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, khiếu kiện đông người) và những yếu tố khác có liên quan đến công tác bảo vệ phiên tòa
Đối với vấn đề bảo vệ phiên tòa trong trường hợp thanh thiếu niên là người có tư cách tham gia tố tụng Ở đây, thanh thiếu niên có thể là bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, nhân chứng Do đặc điểm về tâm sinh
lý của người vị thành niên nên các hoạt động trong biện pháp bảo vệ phiên tòa cũng cần phải tăng cường bảo vệ trên cơ sở quyền con người, quyền trẻ
em bởi đây là đối tượng cần được chú ý đặc biệt khi thực hiện biện pháp bảo
vệ phiên tòa, nhất là trong trường hợp nguy hiểm có thể xảy ra như cháy nổ, gây rối tại phiên tòa hoặc có thể xảy ra trường hợp bắt cóc người tham gia tố tụng Vì vậy, trong suốt quá trình phiên tòa diễn ra, lực lượng hỗ trợ tư pháp phải luôn giám sát chặt chẽ mọi hành vi của đối tượng thanh thiếu niên với
tư cách là bị cáo, người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, nhân chứng để đảm bảo phiên tòa được diễn ra thuận lợi, và đảm bảo sự an toàn tuyệt đối cho đối tượng thanh thiếu niên với tư cách người tham gia tố tụng
* Quy định pháp luật về vai trò của hỗ trợ tư pháp trong hoạt động bắt giữ, áp giải bị can, bị cáo, người đã có quyết định thi hành án hình sự
là thanh thiếu niên
Thủ tục bắt giữ, áp giải bị can, bị cáo, người đã có quyết định thi hành án hình sự là thanh thiếu niên phải tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Theo đó, cần phải có lệnh bắt, lệnh trích xuất bị can, bị cáo và công văn yêu cầu bắt giữ, áp giải của cơ quan yêu cầu bắt giữ, áp giải theo kế hoạch
và phương án cụ thể do Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp duyệt; bố trí đủ lực lượng và trang bị phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ cần thiết để phục vụ công tác
Trang 38Các hoạt động của biện pháp bắt giữ, áp giải đối tượng thanh thiếu niên không hề đơn giản mà bao gồm nhiều hoạt động để vừa đảm bảo quyền con người, quyền trẻ em vừa phục vụ các hoạt động tư pháp Vì vậy, hoạt động bắt người, áp giải bị can, bị cáo, người có quyết định thi hành án hình sự là thanh thiếu niên phải đảm bảo các hoạt động theo quy định tại mục 7 Thông tư số 15/2003/TT-BCA ngày 10/9/2003 của Bộ trưởng Bộ Công An về hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân như sau:
- Bố trí lực lượng, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện và tiến hành bắt giữ, dẫn giải, áp giải bị can, bị cáo, người đã có quyết định thi hành án hình
sự, dẫn giải người làm chứng theo kế hoạch, phương án đã được phê duyệt;
- Phòng ngừa, ngăn chặn việc bỏ trốn, thông cung, tự sát, tiếp xúc trái phép hoặc hành vi chống đối của người bị bắt giữ, bị dẫn giải, áp giải;
- Phòng ngừa, ngăn chặn, giải tán hoặc bắt giữ những người có hành vi tấn công, đánh tháo người bị bắt giữ, bị dẫn giải, áp giải;
- Tổ chức truy bắt ngay bị can, bị cáo bỏ trốn khi bị bắt giữ, bị dẫn giải,
áp giải hoặc người bị kết án phạt tù, tử hình bỏ trốn;
- Chủ trì phối hợp với lực lượng khác trong ngành Công an, chính quyền địa phương tổ chức bắt giữ, áp giải bị can, bị cáo, người đã có quyết định thi hành án hình sự
Bên cạnh đó là rất nhiều hoạt động cụ thể khác, được thể hiện ngay từ những chi tiết nhỏ nhất như:
- Yêu cầu chủ nhà hoặc người có mặt tại nơi người cần dẫn giải đang
cư trú, làm việc, người quản lý nhà tạm giữ, trại tạm giam cho gặp người cần dẫn giải; kiểm tra, đối chiếu ảnh, các giấy tờ tùy thân, xác định đúng là người
có tên trong quyết định dẫn giải thì mới tiến hành các thủ tục tiếp theo;
Trang 39- Khám người, xác định đồ vật, tài sản người bị bắt mang theo, xử lý theo quy định của pháp luật đối với các đồ vật, tài sản đó; khóa tay người bị bắt và thực hiện việc áp giải; Trường hợp áp giải đối tượng nguy hiểm hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nếu xét thấy cần thiết thì xích chân để đảm bảo an toàn (việc xích chân phải được nêu trong kế hoạch);
- Giải thích cho người bị áp giải về quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình bị áp giải theo quy định của pháp luật, giải đáp thắc mắc của người bị áp giải (nếu có);
- Trong khi áp giải phải đảm bảo an toàn, vô hiệu hóa sự chống đối hoặc gây khó khăn cho việc áp giải, không để người bị áp giải ngồi sau lưng hoặc cạnh người điều khiển phương tiện, gần cửa lên xuống hoặc gần cửa sổ; không để vũ khí bên cạnh người bị áp giải; người bị áp giải ngồi ở giữa,
- Quản lý chặt chẽ người bị áp giải, cảnh giác, chủ động kịp thời xử lý những tình huống phức tạp có thể xảy ra; không tùy tiện giải quyết các yêu cầu của người bị áp giải;
- Lập biên bản giao, nhận người bị áp giải với cơ quan tiếp nhận người
bị áp giải theo mẫu quy định;
- Nếu người bị bắt, áp giải, dẫn giải cố tình chống đối thì khống chế, vô hiệu hóa hành vi chống đối, nếu phạm tội quả tang thì ngăn chặn ngay hành vi phạm tội, lập biên bản, giao hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật
Trên đây là các hoạt động khi tiến hành việc bắt, áp giải bị can, bị cáo, người có quyết định thi hành hình sự là thanh thiếu niên phạm tội Việc bắt,
áp giải bị can, bị cáo, người có quyết định thi hành án phạt tù, dẫn giải người làm chứng cần đảm bảo các yêu cầu về chính trị, nghiệp vụ, pháp luật; bảo đảm tuyệt đối an toàn tính mạng, sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ và quần