1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số qua thực tiễn tỉnh Hòa Bình

109 125 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu về lí luận và đánh giá về thực trạng, những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế trong việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh Hòa Bình hiện nay. Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng quan về việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Luận văn đã luận giải khái quát những nội dung lý luận cơ bản về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Mô tả, phân tích, đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình. Phân tích một số quan điểm chỉ đạo cơ bản của Đảng, Nhà nước và tỉnh Hòa Bình về chính sách dân tộc, luận chứng những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh. Từ cơ sở đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện chinh sách văn hóa đối với các đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI KHÁNH LINH

THùC HIÖN CHÝNH S¸CH V¡N HãA

§èI VíI §åNG BµO D¢N TéC THIÓU Sè -

QUA THùC TIÔN TØNH HßA B×NH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI KHÁNH LINH

THùC HIÖN CHÝNH S¸CH V¡N HãA

§èI VíI §åNG BµO D¢N TéC THIÓU Sè -

QUA THùC TIÔN TØNH HßA B×NH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính

Mã số: 83 80 101 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ MINH HÀ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Bùi Khánh Linh

Trang 4

VĂN HÓA ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 9 1.1 Một số khái niệm và nội dung cơ bản 9

1.1.1 Khái niệm về văn hóa 9 1.1.2 Khái niệm về chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số 14 1.1.3 Khái niệm về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân

tộc thiểu số 20 1.1.4 Các hình thức thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân

tộc thiểu số 23

1.2 Nội dung của việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng

bào dân tộc thiểu số 25

1.2.1 Chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số 25 1.2.2 Việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu

số theo quy định của pháp luật 31

1.3 Những yêu cầu của việc thực hiện chính sách văn hóa đối với

đồng bào dân tộc thiểu số 34

1.3.1 Việc thực hiện chính sách về văn hóa đối với đồng bào dân tộc

thiểu số cần phải đảm bảo cơ sở về vật chất và môi trường phù hợp 34 1.3.2 Việc thực hiện chính sách về văn hóa đối với người dân tộc thiểu

số phải đảm bảo các điều kiện về pháp lý 36 1.3.3 Việc thực hiện chính sách về văn hóa đối với người dân tộc thiểu

số phải bảo đảm đúng đối tượng thụ hưởng 37 1.3.4 Việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu

số phải đảm bảo được phát huy giá trị tốt đẹp, và bản sắc của các dân tộc, hạn chế, đẩy lùi được những lạc hậu, hủ tục 39

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VĂN HÓA

ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH 41 2.1 Khái quát chung về tình hình tự nhiên – kinh tế xã hội tỉnh

Hòa Bình 41

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư của tỉnh Hòa Bình 42 2.1.2 Tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội 45

2.2 Tình hình chung về thực hiện chính sách văn hóa đối với

đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 50

2.2.1 Tình hình thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc

thiểu số từ phía các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 50 2.2.2 Tình hình thực hiện chính sách văn hóa từ phía đồng bào dân tộc

thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 62

2.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào

dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 65

2.3.1 Những thành tựu và nguyên nhân 65 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 80

2.4 Bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách văn hóa

đối với đồng bào dân tộc thiểu số 84 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VIỆC THỰC

HIỆN CHÍNH SÁCH VĂN HÓA ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 87 3.1 Quan điểm thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào

dân tộc thiểu số 87 3.2 Các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện chính sách văn hóa

đối với đồng bào dân tộc thiểu số 90

3.2.1 Các giải pháp chung để hoàn thiện chính sách văn hóa đối với

đồng bào dân tộc thiểu số 90 3.2.2 Các giải pháp cụ thể để thực thi chính sách văn hóa đối với đồng

bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình 92

KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân tộc là vấn đề mang tính chất thời sự đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Vì vậy, các vấn đề dân tộc luôn mang tính lý luận và tính thực tiễn sâu sắc Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức tạp đối với toàn cầu nói chung và mỗi quốc gia nói riêng Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo là vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng nhằm chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta và chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc ta

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Các dân tộc có ngôn ngữ, đặc trưng văn hóa và trình độ phát triển khác nhau, có tính khác biệt và từ đó tạo nên sự phong phú, đa dạng Đặc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc

ở nước ta là sự cố kết dân tộc, hoà hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và đã được thử thách trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước qua mấy nghìn năm lịch sử cho đến ngày nay Nhưng bản thân nó cũng sẽ tạo nên

sự phân biệt nếu quan hệ dân tộc không được giải quyết tốt Chính vì vậy, quản lý nhà nước về dân tộc là vấn đề cấp thiết luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặt lên hàng đầu

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh đòi hỏi chúng ta phát huy cao độ khối đoàn kết dân tộc để có thể đứng vững và phát triển Do vậy, nhận thức đúng đắn vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới có tầm quan trọng rất lớn Đảng và Nhà nước đã có những chính sách cụ thể nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, củng cố tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

Trang 7

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập nhiều lĩnh vực với thế giới (về văn hóa, kinh tế, xã hội…) Quá trình đó, chúng ta vẫn phải giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc đặc biệt là bản sắc đặc trưng của các dân tộc thiểu số Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, có tác động không nhỏ đến nền văn hóa của mỗi quốc gia, theo hướng chung của thế giới, vẫn giữ gìn và phát huy được những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam Đảng và Nhà nước ta có những nhận thức mới về vai trò của văn hóa Các văn kiện Đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới nhất quán khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,

là động lực, là mục tiêu của sự phát triển Theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc quan tâm đến xây dựng chính sách dân tộc về văn hóa có ý nghĩa rất quan trọng nhằm nâng cao đời sống tinh thần, bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc ở nước ta

Hòa Bình là tỉnh miền núi phía Bắc của đất nước, với lịch sử phát triển lâu đời, được coi là trung tâm hình thành và phát triển của nền văn minh Việt Nam cổ đại Hiện nay, theo thống kê, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có 7 dân tộc chính cùng chung sống lâu đời (trong tổng số trên 83 vạn dân), đông nhất là dân tộc Mường chiếm 63,3%; dân tộc Kinh chiếm 27,73%; dân tộc Thái chiếm 3,9%; dân tộc Dao chiếm 1,7%; dân tộc Tày chiếm 2,7%; dân tộc Mông chiếm 0,52%; các dân tộc khác chiếm 1,18% Cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của đất nước, đồng bào các dân tộc tỉnh ta luôn đoàn kết, chịu thương chịu khó, có ý chí phấn đấu vươn lên trong phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, mỗi dân tộc đều thể hiện được nét bản sắc văn hoá riêng biệt, độc đáo tạo nên nền văn hoá đa dạng, phong phú, đặc sắc và hấp dẫn trên đất Hòa Bình

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, bằng nhiều chính sách, chương trình mục tiêu, cùng sự nỗ lực phấn đấu của cấp uỷ Đảng, chính

Trang 8

quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tình hình văn hóa vùng đồng bào các dân tộc Hòa Bình nói riêng và tỉnh Hòa Bình nói chung đã có nhiều thay đổi, khởi sắc Tuy đã đạt được nhiều tiến bộ nhưng do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn nên nhìn chung đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế Mặc dù được sự quan tâm nhưng do điều kiện khó khăn nên việc thực hiện các chính sách quản lý gặp nhiều vướng mắc cần phải được tổng kết, nghiên cứu, đánh giá từ đó phát huy được tối đa các giá trị văn hóa, để chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước thực

sự đi vào đời sống của đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh Hòa Bình góp phần vào sự nghiệp bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, tác giả đã lựa

chọn đề tài: “Thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu

số - qua thực tiễn tỉnh Hòa Bình” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chính sách dân tộc về văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong đoàn kết các dân tộc, bình đẳng dân tộc và khẳng định sự ưu tiên trong chính sách phát triển văn hóa vùng dân tộc thiểu số Trong đó, việc bảo tồn phát triển các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc có đóng góp to lớn trong xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đặc biệt, việc thực hiện chính sách này

ở những vùng dân tộc thiểu số là rất cần thiết Ngoài các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về chính sách dân tộc, còn có nhiều quyết định, chương trình, đề án khoa học, đã quan tâm và nghiên cứu về vấn đề văn hóa dân tộc thiểu số dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình đã được nghiên cứu như:

- Công trình “Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân

tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2002) của Viện nghiên

cứu chính sách dân tộc miền núi Nội dung trình bày những vấn đề lý luận, nhận thức về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Những

Trang 9

định hướng cơ bản trong việc quy hoạch dân cư, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội Trong đó có những kiến nghị các giải pháp giải quyết kịp thời những vấn đề về kiện toàn hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, sớm

ổn định và cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc Đây là tài liệu tham khảo bổ ích thiết thực cho các cơ quan làm công tác văn hóa dân tộc miền núi và vùng dân tộc thiểu số

- Công trình “Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam”

(2005), của TS Lê Ngọc Thắng, Nhà xuất bản Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Nội dung cuốn sách tác giả trình bày một cách hệ thống các vấn đề lý luận

về dân tộc, vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc; các quan điểm

cơ bản của vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và Đảng ta Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và yếu kém trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tác giả đề ra định hướng chính sách dân tộc, đặc biệt là chính sách trên lĩnh vực văn hóa trong thời gian tới

- Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến

năm 2020”, của Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Đây là sự kiện quan trọng

tiếp tục thể hiện chính sách của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII

Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa dân tộc, có những tác phẩm

tiêu biểu như: “Tìm hiểu văn hóa dân tộc” (2006), Đặng Việt Bích, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội “Văn Hóa Việt Nam giàu bản sắc” (2010), Nguyễn Đắc Hưng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội “Truyền thống văn hóa các dân tộc

thiểu số Việt Nam” (2006), Vũ Ngọc Khánh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

“Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ văn hóa một số dân tộc thiểu số ở

Việt Bắc” (2010), Nguyễn Văn Lộc, Nxb Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên

Trang 10

“Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam – Các tỉnh phía Bắc” (2012),

Hoàng Lương, Nxb Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội… đã trình bày nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam, nghiên cứu đặc điểm, vai trò bản sắc văn hóa trong đời sống hiện nay, đặc biệt

là đời sống văn hóa khi đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa

Ngoài ra dưới góc độ là các công trình nghiên cứu cụ thể về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số có thể kể đến các công trình như:

- Luận văn “Thực hiện chính sách dân tộc ở vùng núi phía Bắc nước ta

trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2003) – Luận văn

tốt nghiệp lớp cao cấp lý luận chính trị của Bế Thu Hương

- Luận án “Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2006) – Luận án Tiến sĩ Triết

học của Nguyễn Thị Phương Thủy

- Luận án “Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt

Nam” (2014) - Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Lâm Thành

Nghiên cứu những công trình đã công bố có liên quan đến đề tài thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào các dân tộc thiểu số cho thấy, mặc

dù đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này được các tác giả nghiên cứu và công bố nhưng hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu mang tính tổng thể dưới góc độ luật học về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số được công bố ở Việt Nam hiện nay Hầu hết các tác giả đều tập trung vào vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh chung của xã hội, hoặc nói đến chính sách dân tộc chung, chưa đề cập đến chính sách dân tộc trên trên những lĩnh vực cụ thể, đặc biệt

là về văn hóa

Trang 11

Riêng tỉnh Hòa Bình, các công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào từng nét văn hóa đặc trưng của một dân tộc cụ thể, chưa trình bày một cách một cách toàn diện và đầy đủ về chính sách dân tộc về văn hóa trên địa bàn tỉnh

Vì vậy, đề tài tôi chọn sẽ không trùng lặp với các đề tài, công trình nghiên cứu đã công bố Những tài liệu trên giúp ích cho việc tham khảo, đối chứng,

so sánh trong quá trình nghiên cứu đề tài của tác giả luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu về lí luận và đánh giá về thực trạng, những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc

về văn hóa trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách dân tộc về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Luận giải khái quát những nội dung lý luận cơ bản về thực hiện chính sách dân tộc, trong đó có đề cập đến vấn đề chính sách về dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc về văn hóa nói riêng trong việc thực hiện chính sách dân tộc nói chung

Mô tả, phân tích, đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc về văn hóa và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện chính sách dân tộc về văn hóa ở tỉnh Hòa Bình

Phân tích một số quan điểm chỉ đạo cơ bản của Đảng, Nhà nước và tỉnh Hòa Bình về chính sách dân tộc, luận chứng những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách dân tộc về văn hóa trong tỉnh

Từ cơ sở đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện chinh sách văn hóa đối với các đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình hiện nay Trên cơ sở có tham khảo nhũng mô hình thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh lân cận Từ đó rút ra được những nội dung và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài có phạm vi nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ khi có Nghị định về Công tác dân tộc (năm 2011) đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Được thực hiện dựa trên những nguyên lý, lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa và chính sách dân tộc, đồng thời đề tài

có kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn có liên quan

Phương pháp nghiên cứu: Tiến hành đi thực tế tại các đơn vị trực tiếp làm công tác dân tộc tại địa bàn Trên cơ sở đó thu thập thông tin, số liệu thống kê, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, phân tích về tình hình văn hóa, ưu điểm cũng như khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc về văn hóa của Đảng và Nhà nước ta

6 Ý nghĩa và những đóng góp mới của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học

Trang 13

về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về việc thực hiện chính sách văn hóa đối với

đồng bào dân tộc thiểu số

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào

dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo việc thực hiện chính sách

văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VĂN HÓA

ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Một số khái niệm và nội dung cơ bản

1.1.1 Khái niệm về văn hóa

Trên thế giới, có hơn 400 khái niệm về văn hóa theo những cách tiếp cận khác nhau Theo từ điển Tiếng việt, Văn hóa là:

1 Những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử 2 Đời sống tinh thần của con người 3 Tri thức khoa học, trình độ học vấn 4 Lối sống, cách ứng xử với trình độ cao, biểu hiện văn minh 5 Nền văn hóa một thời kỳ lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung [47, tr.275]

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [36, tr.376] Hội nghị quốc tế ở Mehico do UNESCO (1982) cho rằng:

Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng [28, tr.22]

Trang 15

Năm 2002, Tổ chức văn hóa - giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã

đưa ra định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp những

đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”

Dưới góc độ xã hội học, văn hóa không chỉ là sản phẩm sáng tạo của con người, mà luôn xem xét với tư cách là một quá trình, một trạng thái động, tiếp biến Văn hóa (gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) có một ý nghĩa,

vị trí quan trọng như một giá trị cốt lõi trong đời sống xã hội của mỗi cộng đồng dân cư, mỗi dân tộc Văn hóa trở thành nền tảng cho sự phát triển trong mối quan hệ tương tác giữa văn hóa với kinh tế, văn hóa với chính trị

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết:

Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise [23, tr.5]

Có thể xác định được bản chất của văn hóa thông qua các nội dung sau: Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng,

lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người Đó là những giá trị cần thiết cho hoạt động tinh thần, những tiêu chí, nguyên tắc chi phối hoạt động nói chung và hoạt động tinh thần nói riêng, chi phối hoạt động ứng xử, những tri thức, kỹ năng, giá trị khoa học, nghệ thuật được con người sáng tạo và tích lũy trong lịch sử của

Trang 16

mình; là nhu cầu tinh thần, thị hiếu của con người và những phương thức thỏa mãn nhu cầu đó

Nói đến văn hóa là nói đến khía cạnh ý thức hệ của văn hóa, tính giai cấp của văn hóa và trên cơ sở đó hiểu rõ sự vận động của văn hóa trong xã hội

có giai cấp Với cách tiếp cận như vậy, có thể quan niệm: nền văn hóa là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế – chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử, trong đó ý thức hệ của giai cấp thống trị chi phối phương hướng phát triển và quyết định hệ thống các chính sách, pháp luật quản lý các hoạt động văn hóa

Mọi nền văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng có tính giai cấp

và gắn với bản chất của giai cấp cầm quyền Văn hóa luôn có tính kế thừa, sự

kế thừa trong văn hóa luôn mang tính giai cấp và được biểu hiện ở nền văn hóa của mỗi thời kỳ lịch sử trên cơ sở kinh tế, chính trị của nó

Một nền kinh tế lành mạnh được xây dựng trên những nguyên tắc công bằng, thật sự vì đời sống của người lao động sẽ là điều kiện để xây dựng một nền văn hóa tinh thần lành mạnh, và ngược lại, một nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở bất bình đẳng của chế độ tư hữu với sự phân hóa sâu sắc thì

sẽ khó có được nền văn hóa lành mạnh

Như vậy trên cơ sở các khái niệm trên về văn hóa ta có thể rút ra khái

niệm văn hóa được sử dụng cho luận văn này như sau: văn hóa là toàn bộ sáng

tạo của một cộng đồng xã hội tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn, được đúc kết bằng hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, có sức mạnh chi phối đời sống tâm lý và mọi hoạt động của những con người trong cộng đồng xã hội ấy

Từ khái niệm trên về văn hóa ta cùng nhau xác định được các đặc trưng của văn hóa:

Đặc trưng thứ nhất là văn hóa trước hết phải có tính hệ thống để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác và cao hơn nữa là để phân biệt đất nước này với đất nước khác

Trang 17

Như có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Nó là nền tảng của xã hội – có lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam ta dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hóa (nền văn hóa)

Đặc trưng thứ hai của văn hóa là tính giá trị Đây là một đặc trưng rất quan trọng Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”, tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người

Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục

vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thấm mĩ theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có đươc cái nhìn hiện chứng - và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được nhưng xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời

Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của nó Về mặt lịch đai, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn lịch sử Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế

Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy

Trang 18

trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

Mỗi xã hội, mỗi cộng đồng đều định hình các chuẩn mực trong việc ứng xử với môi trường, ứng xử xã hội, một nhân tố quan trọng đảm bảo tính

kỷ cương, nề nếp, sự ổn định của cộng đồng ấy Giá trị, bảng giá trị văn hoá

có tính chất hướng dẫn các hành vi của con người, tuy nhiên nó chưa mang tính bắt buộc, còn chuẩn mực ứng xử thì chính là giá trị nhưng đã nâng thành quy chuẩn mang tính bắt buộc, nếu ai suy nghĩ và hành động trái hay vượt ra ngoài các chuẩn mực đó thì bị dư luận xã hội lên án Nhưng chuẩn mực ấy nếu được ghi trong luật tục, hương ước và cao hơn trong luật pháp thì ai làm trái sẽ bị xử phạt với những mức độ khác nhau Như vậy, trong chuẩn mực, tục lệ, luật tục, luật pháp đều chứa đựng các giá trị văn hoá nhất định

Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo, nhân tạo) với các giá trị tư nhiên (thiên tạo) Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng, đẽo gỗ…) hoặc tinh thần (như việc đặt tên truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên)

Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó

Đặc trưng thứ tư là văn hóa còn có tính lịch sử Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạo cho văn hóa tính bề dày một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị

Trang 19

Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiêm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…

Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách

1.1.2 Khái niệm về chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Trước khi tìm hiểu về khái niệm chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta cần phải xác định được khái niệm dân tộc thiểu số Đây là khái niệm nhằm xác định ngoại diên phạm vi của vấn đề nghiên cứu

Cho đến thời điểm hiện nay, xét trên bình diện quốc tế, mặc dù quyền của người dân tộc thiểu số đã được khẳng định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (ICCPR - Điều 27) và Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm 1992, nhưng vẫn chưa có một định nghĩa nào về "dân tộc thiểu số".(Trên thực tế, một số văn kiện về quyền con người của châu Âu, cụ thể như Công ước châu Âu về bảo vệ người thiểu số (Điều 2) hay Văn kiện Cô-pen-ha-gen, thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi khu vực)

Nếu hiểu theo nghĩa rộng, khái niệm Dân tộc được hiểu đó là một quốc gia (Nation) dân tộc-là một cộng đồng chính trị- xã hội, bao gồm tất cả các dân tộc (cả dân tộc đa số và dân tộc thiểu số) sinh sống trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia thống nhất

Trang 20

Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì khái niệm Dân tộc (Ethnic) lại đồng nghĩa với cộng đồng tộc người, cộng đồng này có thể là bộ phận chủ yếu hay thiểu

số của một dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ quốc gia hoặc ở nhiều quốc gia khác nhau nhưng được liên kết với nhau bằng ngôn ngữ, văn hóa và

ý thức tự giác tộc người Đây cũng là cách tiếp cận khái niệm dân tộc trong khuôn khổ của luận văn

Mỗi tộc người không chỉ có những đặc trưng riêng mà cả các đặc điểm chung với tộc người khác:

Thứ nhất là lịch sử của tộc người: là quá trình hình thành và phát triển

của mỗi tộc người qua nhiều giai đoạn khác nhau Nghiên cứu lịch sử tộc người có thể qua ký ức lịch sử (truyền thống, lịch sử, huyền thoại, những điều kiêng cữ, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo) hay lịch sử cư trú đến những đặc trưng về nhân chủng của tộc người

Thứ hai là cơ sở kinh tế của tộc người: ngay từ buổi ban đầu khi một

tộc người lớn hay nhỏ, cùng nói một ngôn ngữ, cùng sống trên một lãnh thổ, phải có chung một cộng đồng kinh tế - xã hội để duy trì và phát triển cuộc sống của cộng đồng Khi xuất hiện xã hội công nghiệp, sự hình thành kinh tế chung của một quốc gia là rõ ràng, thông qua kế hoạch kinh tế chung của nhà nước, đồng thời chịu sự chi phối của thị trường mang tính khu vực hay toàn cầu Có thể thấy, do có nhà nước với lãnh thổ riêng, mỗi dân tộc quốc gia có một cộng đồng kinh tế chung Hiện nay, không một quốc gia nào mà nền kinh

tế không bị phụ thuộc vào các nước khác Sự lệ thuộc vào nhau về kinh tế đã trở thành phổ biến trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc

Do đó, sự hiện diện của các mối liên hệ kinh tế bên trong là một trong những điều kiện bắt buộc của sự ra đời mỗi tộc người Còn ngày nay, cơ sở kinh tế tộc người là nhân tố cố kết tộc người trong bối cảnh hội nhập nền kinh

tế mang tính toàn cầu

Trang 21

Thứ ba là sinh hoạt văn hóa của tộc người: Trong số những dấu hiệu

quan trọng phân định các tộc người, có đặc trưng văn hóa đã được các cư dân sáng tạo nên trong quá trình phát triển lịch sử của mình và được truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác Từ đó, các tộc người mới chọn lọc ra những yếu tố

gì được coi là thân thương, thiêng liêng, là đặc trưng để phân biệt bản thân với các tộc người khác

Đặc trưng sinh hoạt văn hóa tộc người được thể hiện ở chủ yếu ở một

số nội dung văn hóa lớn như ngôn ngữ, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần

Thứ tư là ý thức tự giác tộc người: Những đặc trưng về nguồn gốc lịch

sử, lãnh thổ, các mỗi liên hệ kinh tế bên trong và đặc biệt là đặc trưng văn hóa hoàn toàn tồn tại trong đặc tính của bất kỳ tộc người nào Ý thức tự giác tộc người bao gồm tất cả các yếu tố nói trên Ý thức đó nhất thiết cần phải được xem xét trong việc xác định tộc người của mỗi con người riêng biệt hay là của

cả một nhóm người trọn vẹn, nghĩa là trong việc xác định họ thuộc thành phần của tộc người này hay tộc người khác Bởi vậy, trong điều tra dân số của nhiều nước, thành phần dân tộc của một người nào đó được ghi nhận chủ yếu trên cơ sở tự báo

Khái niệm "dân tộc thiểu số" hay dân tộc ít người là quan niệm về mối tương quan về số lượng dân số giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia (nation) Trong đó dân tộc thiểu số được hiểu là chiếm số dân ít hơn 50% so với dân tộc đông nhất (dân tộc đa số) Tại Điều 5 Nghị định về công tác dân tộc quy định: dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc

đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" và

"Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số cả nước, theo điều tra dân số quốc gia [4]

Từ sự phân tích, tổng hợp những thuộc tính có liên quan đến dân tộc thiểu số ở trên chúng ta có thể hiểu khái niệm "dân tộc thiểu số" ở Việt Nam

Trang 22

như sau: dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít hơn với dân tộc đa số trong

phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có những đặc điểm riêng về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số còn lại 53 dân tộc được gọi là dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu số ở Việt Nam có số dân không đồng đều, có những dân tộc có trên 1 triệu người như dân tộc Tày, Thái, Mường, Mông, Khơme, nhưng lại có dân tộc rất ít người như dân tộc Mảng, Chứt, Lô Lô, Bố Y, La Hủ, Brâu Khu vực cư trú của đồng bào chủ yếu ở miền núi, cao nguyên như Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn-Tây Nguyên, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo trên một địa bàn chiếm tới 3/4 lãnh thổ quốc gia, là những khu vực còn nhiều khó khăn nhưng có vị trí chiến lược cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng

Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có những bản sắc văn hóa riêng, các dân tộc thiểu số đều có ngôn ngữ riêng, chữ viết riêng, trang phục riêng, phong tục tập quán riêng hết sức đa dạng

Từ đó cho thấy văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hoá Việt Nam, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, mang tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của mỗi dân tộc Vì vậy, dân tộc quốc gia cần phải có những chính sách cụ thể phát huy được các bản sắc riêng của dân tộc thiểu số, để bản sắc đó không bị phai

mờ đi theo thời gian

Vì lý do đó nên Hiến pháp Việt Nam rất coi trọng các chính sách văn hóa đối với dân tộc thiểu số để phát huy được tốt nhất bản sắc của họ

Hiến pháp Việt Nam năm 1980 đã từng quy định:

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt nam, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ

Trang 23

Nhà nước bảo vệ, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị, chia rẽ dân tộc

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình

Nhà nước có kế hoạch xoá bỏ từng bước sự chênh lệch giữa các dân tộc về trình độ phát triển kinh tế và văn hoá (Điều 5)

Tinh thần này được tiếp tục phát huy trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định:

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam

Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình

Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số (Điều 5)

Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân

Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục (Điều 30)

Trang 24

Hiến pháp năm 2013 quy định:

1 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam

2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc

3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình

4 Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước [45, Điều 5]

1 Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

2 Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

3 Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân [45, Điều 60]

Nhà nước Việt Nam thực hiện quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đất nước ta đã có nhiều đổi thay, tuy nhiên trong quá trình đó Đảng và Nhà nước ta nhận thấy các chính sách văn hóa phải được cụ thể hóa trong pháp luật thì những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc mới được tiếp nối, được kế thừa và phát triển một cách tốt nhất

Trang 25

Như vậy có thể hiểu, chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc

thiểu số là các quy định của pháp luật của Nhà nước và chính sách của Đảng

về bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển về văn hóa giữa các dân tộc, đảm bảo việc giữ gìn, xây dựng và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc, nhằm mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1.1.3 Khái niệm về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Việc thực hiện tốt chính sách dân tộc về văn hóa đóng một vai trò không nhỏ, nó không những để giữ gìn văn hóa của mỗi dân tộc mà còn góp phần cải thiện, nâng mức sống đối với đồng bào các dân tộc, từng bước xóa

bỏ sự chênh lệch giữa các dân tộc về trình độ phát triển do lịch sử để lại; giữ vững ổn định trật tự an toàn xã hội, củng cố vững chắc an ninh quốc phòng, từng bước đổi mới bộ mặt nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số

Chính sách văn hóa phải được thực hiện bằng pháp luật, do đó việc thực hiện chính sách văn hóa cũng là việc thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về chính sách văn hóa đối với các dân tộc thiểu số Trước khi nghiên cứu khái niệm thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số cần hiểu rõ khái niệm thực hiện pháp luật

Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật đã trở thành một trong những công cụ hiệu quả nhất để Nhà nước quản lý xã hội Song pháp luật chỉ phát huy được vai trò của mình khi nó được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và đặc biệt được áp dụng một cách đúng đắn, chính xác vào cuộc sống

Vai trò của pháp luật đã được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013: "Nhà

nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…” [45, Điều 8]

Thực hiện pháp luật là một khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý,

Trang 26

được đề cập trong các giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, như giáo trình của trường Đại học Luật

Hà Nội định nghĩa: “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích

nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [48, tr.344]

Theo quan điểm của các tác giả khoa Luật, trường Đại học Quốc gia Hà

Nội thì "Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho

những quy định pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [33, tr.265]

Các quan điểm trên tuy có những điểm khác nhau nhưng bên cạnh đó chúng còn có những đặc điểm chung cơ bản:

Thực hiện pháp luật là hoạt động của các chủ thể pháp luật với mục đích

là làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực của cuộc sống

Thực hiện pháp luật về bản chất đó là sự chuyển hóa các quy tắc xử sự, các mệnh lệnh, chỉ dẫn của các quy phạm pháp luật thành những hành động hoặc không hành động của các chủ thể pháp luật, được tiến hành thông qua các hành vi hợp pháp của họ, nhằm đạt được mục đích của pháp luật đã đề ra Hành vi đó có thể được thực hiện phụ thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân riêng

lẻ, nhưng cũng có thể chỉ phụ thuộc vào ý chí của nhà nước Cũng có thể do kết quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc tâm lý sợ bị

áp dụng các biện pháp cưỡng chế

Chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số do Nhà nước ban hành dưới hình thức các quy định pháp luật thì cần phải hiện thực hóa nó vào trong đời sống nhằm ưu tiên thúc đẩy sự phát triển toàn diện về văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 27

Từ sự phân tích lý giải trên, có thể đưa ra khái niệm sau:

Thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số là tổng thể các hoạt động có mục đích, có chủ định của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các cá nhân để hiện thực hóa các quy phạm pháp luật và các chính sách khác của Nhà nước về văn hóa đi vào cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số

Việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số có một số điểm cơ bản sau:

Một là, thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

phải là hành vi xác định hay xử sự thực tế của con người Như chúng ta đã biết nhà nước ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo chiều hướng mà nhà nước mong muốn, và tất cả các quan hệ xã hội đều được thể hiện qua cách xử sự của con người với nhau, vì thế bằng cách quy định quyền

và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về quyền, nhà nước có thể tác động lên các quan hệ xã hội điều chỉnh theo hướng mà nhà nước mong muốn Hay nói cách khác là làm cho các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước đối với các chủ thể trở thành hiện thực, tức là biến các quy định của pháp luật từ trong văn bản thành cách xử sự thực tế của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật này Vì vậy, các hành vi trái pháp luật về quyền không được coi là Thực hiện pháp luật

Hai là, thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

phải là xử sự của các chủ thể có năng lực hành vi pháp luật, tức là xử sự của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật, bằng hành vi của chính mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình

Ba là, thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

cần tuân thủ theo pháp luật nhưng vẫn phải gìn giữ được những giá trị văn hóa truyền thống

Trang 28

1.1.4 Các hình thức thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Theo khoa học pháp lý có hai quan điểm, quan điểm thứ nhất chia các hình thức thực hiện pháp luật thành: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Quan điểm thứ hai chia thành hai hình thức là chấp hành pháp luật và áp dụng pháp luật Trong phạm vi nghiên cứu

đề tài việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hai hình thức là chấp hành pháp luật về chính sách văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số và áp dụng pháp luật về chính sách văn hóa của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được chú trọng hơn cả Bởi trong chấp hành pháp luật đã bao gồm cả ba hình thức trên và tính pháp lý của nó Theo đó:

- Chấp hành pháp luật về chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số đó chính là nhận lấy trách nhiệm để thực hành những điều mà pháp luật về chính sách văn hóa quy định Chấp hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định cho mình bằng hành động tích cực Hoạt động chấp hành pháp luật trong chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số có chủ thể là đồng bào dân tộc thiểu số Đây là những nhóm người chiếm tỉ lệ thiểu số trong tổng số

54 dân tộc thiểu số Việt Nam Như vậy, ở Việt Nam người Kinh chiếm tỉ lệ đa

số thì 53 dân tộc còn lại là các dân tộc thiểu số Nhóm các dân tộc thiểu số có quy mô dân số tương đối khác nhau, có những dân tộc có trên dưới 1 triệu người như Mường, Thái, Tày, Nùng… nhưng cũng có nhưng dân tộc chỉ có trên dưới 10 nghìn người Đặc biệt trình độ phát triển của các dân tộc thiểu số

là không đồng đều, nền văn hóa của các dân tộc rất đa dạng và có nét bản sắc riêng biệt Chính vì vậy, việc chấp hành chính sách về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay là khác nhau Mỗi dân tộc có những nét đặc trưng riêng, bản sắc riêng trong quá trình thực hiện chính sách văn

Trang 29

hóa của mình Về nội dung của việc chấp hành chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay cũng tương đối đa dạng Phần lớn các dân tộc thiểu số đều có sự chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện chính sách văn hóa của dân tộc mình

- Áp dụng pháp luật về chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay cũng được tiến hành rất đồng bộ và cụ thể Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua

cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định pháp luật hoặc chính hành vi của mình căn cứ vào những qui định của pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt một quan hệ pháp luật Như vậy áp dụng pháp luật trong chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số có chủ thể là các

cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì chủ thể được giao nhiệm vụ bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng đó là các cơ quan quản lý văn hóa như: Bộ văn hóa thể thao,

du lịch, các Sở văn hóa Thể thao và du lịch địa phương, ngoài ra còn có các

cơ quan khác như các Trung tâm bảo tồn văn hóa dân gian, Các tổ chức khác

do nhà nước thành lập để hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc thiểu số… Các cơ quan này thực hiện quyền lực nhà nước trong việc áp dụng chính sách pháp luật về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Hình thức áp dụng pháp luật về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu

số do các cơ quan nhà nước tiến hành như hoạt động ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, có thể kể đến như: Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội;

Trang 30

các đề án xã hội hóa, đề án phát triển văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình vùng dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2020; triển khai Đề án Phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020; Thông tư 12/2014/TT-BVHTTDL ngày 10/101/2014 của Bộ Văn hóa thể thao, du lịch về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng

01 năm 2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc

Tóm lại, chủ thể chấp hành pháp luật là đồng bào dân tộc thiểu số, các

tổ chức xã hội , chủ thế áp dụng pháp luật là cơ quan hành chính nhà nước các cấp như Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân

xã, các sở, ban, ngành có chức năng về văn hóa, các cán bộ, công chức có thẩm quyền về văn hóa

1.2 Nội dung của việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Trước khi đi vào nội dung cụ thể của việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số thì chúng ta phải điểm qua một vài chính sách lớn về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1 Chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Quan điểm này đánh dấu sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6-1991) đã xác định nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế

Trang 31

độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Nhận thức toàn diện và sâu sắc về phương hướng, đặc trưng, nhiệm vụ

và giải pháp để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc là một trong những yêu cầu cấp thiết để tạo nên sự thống nhất và đồng thuận xã hội, tạo động lực cho việc triển khai các nghị quyết của Đảng về lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ đổi mới hiện nay Đồng thời, đây cũng là cơ sở để chúng ta kế thừa những quan điểm và thành tựu lý luận này

để xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

Những nội dung chủ yếu của chính sách dân tộc về văn hóa:

Một là, tôn trọng và vinh danh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp

của các dân tộc Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm phát triển văn hoá dân tộc, góp phần để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo đảm toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia

Hai là, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của các dân

tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt chú trọng địa bàn các dân tộc có nguy cơ bị biến dạng văn hoá cao (chữ viết, ngôn ngữ, trang phục, các

lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, ẩm thực,…) Phát huy vai trò của các chủ thể văn hoá trong phát triển văn hoá truyền thống của các dân tộc

Ba là, động viên và khuyến khích nhân dân các dân tộc sưu tầm, nghiên

cứu và sáng tạo các giá trị văn hóa mới Công việc này cần được thực hiện sâu rộng và thường xuyên trong nhân dân các dân tộc trở thành một hoạt động tích cực góp phần giảm dần sự biến mất, mai một những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, giữa các vùng, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc

Trang 32

Bốn là, tăng cường giao lưu, hưởng thụ văn hóa các dân tộc giữa các

vùng miền trong nước đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa tiến bộ của nhân loại Qua việc mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác Giao lưu văn hóa như là một tất yếu khách quan bởi chính nhờ giao lưu hội nhập mà bản sắc văn hóa dân tộc được

bổ sung những yếu tố ngoại lai để làm phong phú bản sắc của mình Đồng thời, qua đó, cũng góp phần làm phong phú văn hóa thế giới khi chính các nền văn hóa ngoại lai cũng tiếp nhận những giá trị tinh hoa văn hóa Việt Nam

Cùng với xu thế hội nhập và phát triển, những luồng văn hoá khác nhau xâm nhập vào đời sống xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số, đáng chú ý là nguy

cơ phai mờ, biến dạng bản sắc dân tộc Do vậy, việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục thực hiện thường xuyên và lâu dài

Trong công cuộc đổi mới, các nội dung, nhiệm vụ của chính sách dân tộc về văn hóa đã được Đảng và Nhà nước ta thể chế hóa trong các văn bản chủ yếu sau:

Về công tác văn hóa ở vùng dân tộc trong thời kỳ đổi mới, trong đó có các văn kiện quan trọng là: Nghị quyết 22 NQ/TW ngày 27 tháng 11 năm

1989 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI về một số chủ chương chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi

Nghị quyết này đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng ta đối với văn hóa các dân tộc là:

Tôn trọng và phát huy những phong tục tập quán và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Nền văn minh của miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác và góp

Trang 33

phần phát triển văn hóa chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong công tác thông tin tuyên truyền, cần tăng cường các phương tiện thông tin đại chúng kể cả các phương tiện hiện đại như máy thu thanh cát sét, máy thu hình, để cải tiến và nâng cao chương trình phát thanh truyền hình ở địa phương; phổ biến các văn hóa phẩm và tài liệu có nội dung thiết thực, phù hợp với yêu cầu và truyền thống của đồng bào các dân tộc Chú trọng sử dụng ngôn ngữ dân tộc (và chữ viết nếu có) trong công tác thông tin tuyên truyền

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa VII,

ngày 14/3/1993 về văn hóa, văn nghệ xác định: “Có chính sách toàn diện bảo vệ

và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam”

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là công cụ thúc đẩy sự phát triển kinh tế

xã hội Nghị quyết còn nhấn mạnh:

Bảo tồn, phát huy và phát triển nền văn hóa các dân tộc thiểu số… Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và

sử dụng thành thạo tiếng nói chữ viết của dân tộc mình… Đầu tư và

tổ chức điều tra sưu tầm, nghiên cứu phổ biến các giá trị văn hóa nghệ thuật của các dân tộc thiểu số Chính sách bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa dân tộc hướng cả vào văn hóa vật thể và phi vật thể Tiến hành sớm việc kiểm tra, sưu tầm, chỉnh lý vốn văn hóa truyền thống (bao gồm văn hóa bác học và văn hóa dân gian) của người Việt và các dân tộc thiểu số [12]

Quyết định số 25/TTg ngày 19/01/1993 về một số chính sách nhằm xây

Trang 34

dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, quy định về kinh phí đối với việc sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, bảo quản lâu dài phổ biến các sản phẩm văn hóa tinh thần như: Văn học dân gian, các điệu múa, các làn điệu âm nhạc của các dân tộc, giữ gìn các nghề thủ công truyền thống, các loại nhạc dân tộc

Luật di sản văn hóa ra đời ngày 01/01/2001 là cơ sở pháp lý quan trọng

để di sản văn hóa phi vật thể vận hành theo đúng lộ trình và phát huy có hiệu quả vấn đề bảo tồn – phát huy Luật di sản đã chọn chương III từ điều 17 đến điều 27 để đề cập đến di sản văn hóa phi vật thể từ trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan Nhà nước đến các nguyên tắc bảo vệ và phát huy Đối với vấn đề bảo vệ và phát huy đội ngũ nghệ nhân văn hóa phi vật thể Điều 26 đã nhấn

mạnh: “Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ

sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp

có giá trị đặc biệt” [22]

Nghị quyết Hội nghị lần 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc: Tổng kết công tác dân tộc hơn 15 năm thực hiện từ khi có Nghị quyết 22 những thành tựu, những yếu kém, và đưa ra những nhiệm vụ cho công tác dân tộc thời kỳ mới Trong đó:

Phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình; 100% được nghe đài phát thanh; các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn và phát triển [14]

Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2010 (Ban hành kèm theo quyết định số 1913/QĐ-BVHTTDL ngày 22/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Nhằm cụ thể hoá, thể chế hoá các quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển văn hoá, xác lập những mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu; là cơ sở hoạch định quy hoạch, kế hoạch để từng bước thực

Trang 35

hiện việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012 -2015, với mục tiêu chung là: Nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia, đóng góp vào sự nghiệp phát triển văn hóa Bảo tồn các di sản văn hóa và phục vụ việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng và Nhà nước Tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, thể thao cơ sở, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Xóa các điểm trắng về văn hóa, xây dựng những điểm sáng về văn hóa trên các mặt, trên các lĩnh vực của đời sống tinh thần

Đề án Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020 Với mục tiêu: Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm phát triển văn hóa dân tộc, góp phần để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia; Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế; tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới;

Những Chỉ thị, Nghị quyết và Quyết định của Đảng và Chính phủ dẫn

ra trên đây đã khẳng định và nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số

Ngoài các Nghị quyết và Quyết định trên, Đảng và Nhà nước còn ban hành hàng loạt các văn bản khác như: Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 về các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005; Quyết

Trang 36

định số 31/2003/QĐ-TTg ngày 26/02/2003 về việc bổ sung xây dựng một số làng, bản, buôn văn hóa ở các vùng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2001-2005; Quyết định

số 124/2003/QĐ-TTg ngày 17/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam

Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách nhằm ưu tiên, phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt: các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các khu vực khác trong cả nước đang ngày càng có xu hướng gia tăng cách biệt, vùng miền núi và dân tộc thiểu số đang còn những khó khăn, thách thức rất lớn, trong đó văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số đang đặt

ra vấn đề giải quyết hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, giữa kinh tế và văn hoá

1.2.2 Việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật

Thực tế cho thấy, bảo đảm bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để văn hóa dân tộc thiểu số được thực hiện

Cụ thể hóa quan điểm, chính sách của Đảng về quyền con người trong

đó có người dân tộc thiểu số và các chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy sự phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Nhà nước đã ban hành pháp luật về văn hóa nhằm bảo đảm các quyền của mọi người dân trên mọi miền đất nước, đặc biệt đối tượng là người dân tộc thiểu số Điều đó có ý nghĩa quyết định đến sự tác động nhằm thay đổi thực trạng đời sống của đồng bào dân tộc thiểu

số theo chiều hướng tiến bộ nhằm thúc đẩy sự phát triển góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của các dân tộc

Việc thực hiện pháp luật về chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số thì nội dung của quá trình này thể hiện ở 2 vấn đề:

Trang 37

1.2.2.1 Việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Việc thực hiện chính sách về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

là một giai đoạn thực hiện các mục tiêu của các văn bản pháp luật trên cơ sở các giải pháp đã định trước để đưa những nguyên tắc, quy phạm của pháp luật

đi vào thực tiễn đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trở thành những hành

vi pháp luật thực tế hợp pháp

Chủ thể chịu trách nhiệm chính trong thực hiện chính sách về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số là chính quyền các cấp, từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã, các cơ quan chức Căn cứ vào mục tiêu, thời hạn, nguồn lực

về tài chính do ngân sách nhà nước cấp hay cả nguồn lực huy động từ xã hội

mà tiến hành phân công những mảng công việc cho các tổ chức, các ngành hữu quan, cá nhân chủ trì, đối tượng thụ hưởng phối hợp thực hiện mang lại những kết quả cụ thể về văn hóa

- Nhà nước đại diện cho nhân dân ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cho hoạt động văn hóa Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân ban bố Hiến pháp và các đạo luật liên quan trực tiếp đến văn hóa Ví dụ: Luật Di sản văn hóa (2001)… Chính phủ xây dựng các nghị định hướng dẫn Luật và các chỉ thị, nghị quyết, nghị định liên quan đến hoạt động văn hóa Bộ Văn hóa ban hành nhiều thông tư, quy chế tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho Văn hóa phát triển

- Tổ chức và điều hành các thiết chế văn hóa, các tổ chức văn hóa hoạt động theo các chương trình, kế hoạch quốc gia Nhà nước trực tiếp tổ chức và điều hành các thiết chế văn hóa công lập như: Hệ thống nhà văn hóa, các đội thông tin lưu động, chiếu bóng lưu động, hệ thống bảo tàng, hệ thống thư viện, rạp hát, chiếu phim, công viên văn hóa Nhà nước cấp phép để các thành phần kinh tế ngoài công lập tham gia các hoạt động văn hóa trong xã hội và theo các chương trình, kế hoạch quốc gia

Trang 38

- Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và hoạt động như: Tuyển chọn cán

bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chương trình chuẩn, đánh giá cán bộ, cất nhắc các vị trí quản lý, lãnh đạo Nhà nước chủ trương đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động văn hóa

- Sử dụng lực lượng ở cả 4 cấp chính quyền tổ chức kiểm tra, thanh tra các hoạt động văn hóa để giáo dục, răn đe, cưỡng chế lập lại trật tự trong hoạt động văn hóa

- Đẩy mạnh các quan hệ hợp tác, giao lưu trao đổi văn hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới thông qua các hiệp định hợp tác văn hóa

- Triển khai công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về văn hóa giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số và các chủ thể thực hiện chính sách về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số hiểu biết pháp luật về quyền để có thể tự điều chỉnh hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội

1.2.2.2 Việc thực hiện chính sách văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số

Bên cạnh việc thực hiện chính sách văn hóa của các cơ quan nhà nước đối với văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số thì chính đồng bào dân tộc thiểu số cũng tích cực chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật có liên quan đến vấn đề này

Với tư cách là chủ thể thực hiện và chủ thể chịu sự quản lý nhà nước về thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số thì những đồng bào dân tộc thiểu số đã chủ động chấp hành pháp luật một cách đầy đủ

Những năm qua, thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn cả nước nói chung đã nêu cao tinh thần đoàn kết, tích cực phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân, đảm bảo an ninh trật tự, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trên địa bàn

Con em các đồng bào dân tộc thiểu số đã được đi học đúng độ tuổi, tình trạng bỏ học, không được đi học ngày càng giảm

Trang 39

Đồng bào dân tộc thiểu số đã lập ra các nhóm, hội hoạt động về nghệ thuật để phục dựng, lưu giữ lại các làn điệu dân ca, các lễ nghi truyền thống…

Biết tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật thông qua các tủ sách pháp luật tại các Ủy ban nhân dân xã và thông qua các đội tuyên truyền viên pháp luật được thành lập ở các xóm, làng…

Nhờ có các chính sách, pháp luật về văn hóa mà đồng bào dân tộc thiểu

số đã bài trừ được các mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu

Việc chấp hành chính sách của Nhà nước về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số cho thấy chủ thể tích cực và chủ động của người dân trong quá trình này Nếu không thực hiện chính sách này đảm bảo thì người dân sẽ không thụ hưởng các sinh hoạt văn hóa Người dân là chủ thể có những khó khăn nhất định như trình độ nhận thức không đồng đều, nhiều người còn chưa biết chữ Chính vì vậy, khả năng tham gia vào việc thực hiện chính sách văn hóa của những nhóm dân tộc thiểu số không giống nhau

1.3 Những yêu cầu của việc thực hiện chính sách văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Tại Điều 2 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: "Nhà nước cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,

do Nhân dân, vì Nhân dân" [33] Với chức năng quản lý xã hội, nhà nước

phải quản lý bằng pháp luật Để quản lý xã hội bằng pháp luật, việc tổ chức thực hiện chính sách văn hóa là một yếu tố đặc biệt quan trọng

1.3.1 Việc thực hiện chính sách về văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số cần phải đảm bảo cơ sở về vật chất và môi trường phù hợp

Như chúng ta đã biết, việc thực hiện bất kỳ chính sách pháp luật nào đều phải đòi hỏi tính đến các điều kiện về vật chất Điều này nhằm đảm bảo tính hiệu quả thực tế của chính sách, chính sách lúc này không chỉ nằm trên giấy mà đã được triển khai trên thực tế Đối với chính sách về văn hóa đối với

Trang 40

đồng bào dân tộc thiểu số cũng là một lĩnh vực riêng cần phải tôn trọng, đó là môi trường, là vật chất để thực hiện

Vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số đang còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, bị chia cắt lớn; cơ

sở vật chất hạ tầng lạc hậu, kinh tế chậm phát triển; địa bàn rộng, mật độ dân

cư thưa thớt, không tập trung, đồng bào chủ yếu sống xa trung tâm, tiếng nói, tập quán không giống nhau; đời sống vật chất và tinh thần còn thấp kém, nguy

cơ tụt hậu và mất dần bản sắc văn hóa ở một số dân tộc là đáng lo ngại

Việc xây dựng thể chế và thiết chế văn hoá đã chú ý đến những yêu cầu của thời kỳ mới Các thiết chế văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường cơ sở vật chất, tổ chức và hoạt động bước đầu đã có sự đổi mới, phát huy được hiệu quả Ở các làng, bản, thôn… vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được Nhà nước quan tâm hỗ trợ để xây dựng các Nhà văn hoá làm nơi sinh hoạt, tổ chức các hoạt động văn hoá - văn nghệ và hội họp chung của cộng đồng

Công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá dân tộc, đặc biệt

là văn hoá của các dân tộc thiểu số có bước phát triển mới về quy mô cũng như chiều sâu nhờ có các Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc Nhiều dự án lớn về sưu tầm, tư liệu hoá di sản văn hoá được thực hiện

Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về văn hóa nói chung, văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng; Đời sống văn hoá cơ sở

đã có bước phát triển, ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, đời sống văn hoá tuy còn thấp so với đô thị và đồng bằng, nhưng đã có những cải thiện rõ rệt

Công tác đào tạo đội ngũ những người hoạt động văn hoá, nghệ thuật vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa được chú trọng bước đầu; Một số di sản văn hoá của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số được tôn vinh

Ngày đăng: 30/07/2019, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Việt Bích (2006), Tìm hiểu văn hóa dân tộc, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa dân tộc
Tác giả: Đặng Việt Bích
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2006
2. Trần Văn Bính (2010), Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới, những thời cơ và thách thức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới, những thời cơ và thách thức
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
3. Nông Quốc Chấn, Tô Văn Đeng (1995), Ba mươi lăm năm gìn giữ và phát huy vốn di sản văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba mươi lăm năm gìn giữ và phát huy vốn di sản văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nông Quốc Chấn, Tô Văn Đeng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1995
4. Chính phủ (2011), Nghị định số 05/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
5. Cù Huy Chử (1994), Kế thừa giá trị truyền thống văn hóa dân tộc trong việc xây dựng nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Viện văn hóa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế thừa giá trị truyền thống văn hóa dân tộc trong việc xây dựng nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam hiện nay
Tác giả: Cù Huy Chử
Năm: 1994
6. Nguyễn Văn Cương (2000), Văn hóa Mai Pha ở Hòa Bình, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Mai Pha ở Hòa Bình
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Năm: 2000
7. Đinh Xuân Dũng (2010), Phát triển văn hóa thời kỳ đổi mới, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2010
8. Lê Tiến Dũng (2011), Văn hóa cội nguồn sức mạnh Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa cội nguồn sức mạnh Việt Nam
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2011
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1998
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2011
18. Bế Viết Đẳng (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
19. Đặng Thành Đạt (2007), Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Trung Quốc và Việt Nam thời hiện đại
Tác giả: Đặng Thành Đạt
Năm: 2007
20. Phạm Duy Đức (2009), Phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Tác giả: Phạm Duy Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
21. Phạm Duy Đức (2010), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 những vấn đề phương pháp luận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020 những vấn đề phương pháp luận
Tác giả: Phạm Duy Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w