thể viết séc, do vậy nó liên quan tới việc xác định khối lượng tiền mà Ngân hàngTrung ương cần kiểm soát.Khối lượng tiền tệ bao gồm các khoản tiền có thể sử dụng ngay, không bị hạnchế tr
Trang 1HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ GIÁO VIÊN: LÊ THỊ CHÂU KHA CHỦ ĐỀ 5: TIỀN TỆ - NGÂN HÀNG VÀ
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Trang 2NHÓM 4
1 NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG 1751010218
2 HUỲNH LÊ MINH 1751010205
3 NGUYỄN VĂN HÙNG 1751010248
4 HOÀNG THANH THÙY 1751010203
5 PHẠM HOÀNG NGÂN 1751010154
6 NGUYỄN TRÍ ANH KHOA 1751010232
7 LÊ NGUYỄN KHÁNH LINH 1751010463
8 TRẦN NGỌC TUẤN 1751010225
Trang 3MỤC LỤC
I SƠ LƯỢC VỀ TIỀN TỆ
1 Khái niệm
2 Chức năng của tiền tệ
3 Các hình thái của tiền
4 Các thành phần của mức cung tiền
II NGÂN HÀNG
1 Qúa trình phát triển
2 Hệ thống ngân hàng Việt Nam
3 Kinh doanh và dự trữ của ngân hàng
III TIỀN NGÂN HÀNG VÀ SỐ NHÂN TIỀN TỆ
1 Cách tạo tiền ngân hàng
2 Số nhân của tiền
IV CÔNG CỤ LÀM THAY ĐỔI KHỐI LƯỢNG TIỀN
1 Hoạt động thị trường mở
2 Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc
3 Thay đổi chính sách chiết khấu
V KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
1 Khảo sát thị trường tiền tệ
Trang 4I SƠ LƯỢC VỀ TIỀN TỆ
1 Khái niệm
Hiện nay, các hoạt động giao dịch trong nền kinh tế đều được thực hiện thôngqua tiền Từ cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức hay chính phủ đều sử dụng phươngtiện này tùy theo mục đích của họ Trong thực tế, sự vận động của tiền tệ làmcho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thuận tiện hơn
Đối với nền kinh tế, tiền được chính phủ sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ
mô Trong lịch sử tiền tệ đã trải qua nhiều hình thức, nhiều giai đoạn phát triển
từ thấp đến cao Chúng ta cần xác định rõ bản chất của tiền tệ đang được sửdụng, từ đó có thể nắm giữ chúng như một công cụ phục vụ ý muốn phát triểnkinh tế của chúng ta
Sự ra đời của tiền tệ là một quá trình dài trong lịch sử kinh tế Một nền kinh tếkhông dùng tiền sẽ rất nhiều phiền toái, bởi vì một mặt người ta phải bỏ nhiềuthời gian và công sức cho việc trao đổi hàng hóa, mặt khác gây lãng phí của cảikhông ít Trong chế độ hàng đổi hàng, đòi hỏi phải có sự trùng hợp về sở thích,khi một người có lương thực muốn đổi lấy vải thì phải gặp một người có vảimuốn đổi lương thực Sự ra đời của tiền đã giúp cho việc khắc phục những điềubất tiện đó Nhưng điều đó chưa đủ nói hết vai trò quan trọng của tiền
Có nhiều cách định nghĩa về tiền Các nhà kinh tế có sự phân biệt rõ ràng giữatiền và thu nhập, nên tiền biểu thị khối lượng tài sản có thể sử dụng ngay để tiếnhành các giao dịch Theo cách tiếp cận nguồn gốc của nó từ quá trình trao đổi thìtiền là bất cứ phương tiện nào được thừa nhận chung để làm trung gian cho việcmua bán và trao đổi hàng hóa Nắm vững ý nghĩa của tiền là điều rất quan trọng
để nghiên cứu kinh tế vĩ mô, tuy nhiên nhiệm vụ này không đơn giản Điều đángnói là ở chỗ: Người ta cầm những tờ giấy không có giá trị thực, tuy nhiên chúng
ta có thể đi vào cửa hàng để đổi lấy hàng hóa có giá trị thực
Như vậy, tiền tệ là một cái gì đó cho phép người ta thực hiện giao dịch vớinhững thứ khác Nói cách khác, tiền là bất cứ một phương tiện nào thừa nhận đểlàm trung gian cho việc mua bán hàng hóa Đó là một sản phẩm, một công cụcủa xã hội loài người cũng như ngôn ngữ Khi một xã hội không có đồng tiền
Trang 5được chấp nhận chung cho các giao dịch cũng giống như một xã hội không cótiếng nói chung để giao tiếp.
2 Chức năng của tiền
Tiền tệ có ba chức năng cơ bản là phương tiện trao đổi, phương tiện cất giữ (bảotồn) giá trị và phương tiện đo lường (hoạch toán) giá trị
Khi tiền đóng vai trò phương tiện trao đổi, tiền được sử dụng trong giao dịchmua bán hàng hóa và dịch vụ, điều đó đòi hỏi người bán phải chấp nhận nó với
tư cách là phương tiện thanh toán trong các giao dịch trên thị trường Từ cácgiao dịch bình thường hay các hợp đồng giao dịch lớn giữa các tác nhân đềuthỏa thuận về phương tiện thanh toán Không có một phương tiện trao đổi đượcchấp nhận rộng rãi, lưu thông hàng hóa sẽ dựa vào chế độ hàng đổi hàng Chế độhàng đổi hàng đơn giản là sự trao đổi trực tiếp Trong điều kiện đó, dân cư sẽmất nhiều thời gian để thực hiện các giao dịch
Với chức năng là phương tiện bảo tồn giá trị, tiền là một hình thức để chuyểnsức mua từ hiện tại sang tương lai Nhờ chức năng này người dân có thể lựachọn giữ một số của cải trực tiếp bằng tiền Tuy nhiên, trong điều kiện có lạmphát, giá trị của tiền giảm theo thời gian, vì thế tiền trở thành phương tiện bảotồn giá trị không hiệu quả
Chức năng đơn vị hạch toán của tiền, chỉ ra sự tiện lợi khi có một phương tiệnđược chấp nhận rộng rãi để định giá và ghi sổ sách Tiền còn là cơ sở để hạchtoán các hoạt động kinh tế Nó còn là cơ sở để hạch toán mọi hoạt động kinh tế
từ sản xuất, lưu thông và tiêu dùng của mọi quốc gia
Trang 6nhận trong một nhóm người hay trong một địa phương, lại không thuận tiện choviệc di chuyển, và trong nhiều trường hợp khó phân chia thành nhiều đơn vị cầnthiết.
Tiền kim loại được sử dụng lần lượt đồng, bạc, vàng, do có nhiều ưu điểm hơncác kim loại khác
Nguyên tắc chung của tiền hàng hóa là giá trị của tiền bằng với giá trị của vậtdùng làm tiền
b Tiền quy ước (tiền pháp định)
Tiền quy ước hay tiền pháp định là loại tiền được lưu hành do quy định của nhànước Tiền được gọi là tiền quy ước bởi vì giá trị ghi trên bề mặt đồng tiền chỉ làgiá trị tượng trưng, tức là lớn hơn hay nhỏ hơn so với giá trị của vật dùng làmtiền Nó biểu thị cho một lượng giá trị nào đó mà mọi người thừa nhận chúng vàtin vào đó để sử dụng Sự khác nhau cơ bản giữa tiền hàng hóa và pháp định là ởchỗ đối với tiền pháp định giá trị của tiền tệ lớn hơn giá trị của vật dùng làmtiền, trong khi đó đối với tiền hàng hóa thì hai giá trị đó phải bằng nhau
Tiền quy ước cũng có hai dạng: Tiền kim loại và tiền giấy, cả hai loại này đangđược lưu hành trên thế giới Tiền kim loại, trước đây người ta sử dụng các loạikim loại quý như bạc, vàng về sau sử dụng loại kim loại rẻ hơn, tiền được sửdụng nhiều hơn Tại nước ta hiện nay, tiền xu các loại đang được sử dụng tronglưu thông, đây cũng cũng là dạng tiền kim loại như nhiều nước trên thế giớiđang sử dụng
Đối với tiền giấy có hai loại tiền giấy khả hoán và tiền giấy không khả hoán.Tiền giấy khả hoán xuất hiện vào thế kỉ XVII, lần đầu tiên do ngân hàngAmsterdam của Hà Lan thực hiện Đối với loại tiền này khi có một lượng tiềnnào đó bạn có thể đến nơi mà chính phủ quy định đổi lấy một lượng vàng hoặcbạc tương đương Lượng quy kim đó được căn cứ vào bản vị tiền tệ, là lượng màChính phủ dùng để định nghĩa giá trị một đơn vị tiền tệ của quốc gia Ví dụ ở
Mỹ vào năm 1775 người ta định nghĩa 1USD = 25,92 g bạc 99,99%; và vào năm
1900 định nghĩa 1USD = 1504,6 mg vàng 99,99% Nếu định nghĩa theo vàng thìgọi là chế độ bản vị vàng và theo bạc thì ta có chế độ bản vị bạc Việc sử dụng
Trang 7tiền khả hoán đòi hỏi chính phủ có một lượng dự trữ vàng hoặc bạc tương đươngvới lượng tiền phát hành Mục đích của chế độ phát hành này là muốn bảo đảmgiá trị của đồng tiền đang lưu hành Trong thực tế việc này không phải lúc nàocũng thực hiện được Cho đến giữa những năm 1930, hầu như các quốc gia đều
bỏ chế độ tiền giấy khả hoán chuyển sang sử dụng tiền giấy bất khả hoán
Tiền giấy bất khả hoán là loại tiền bắt buộc lưu hành, dân chúng không thể mangtiền giấy đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc
c Tiền qua ngân hàng
Tiền qua ngân hàng là tiền ký thác hay tiền ký thác không kỳ hạn sử dụng séchay tiền ghi nợ Loại tiền này được tạo ra từ tài khoản séc Từ nợ ở đây là chỉkhoản nợ của ngân hàng đối với người mở tài khoản séc tại ngân hàng Khi mởtài khoản séc tức là người ta đưa vào ngân hàng một lượng ký thác không kỳhạn Người chủ tài khoản có thể viết một tờ séc cho mình hoặc cho một ngườinào đó để yêu cầu ngân hàng thanh toán một lượng tiền khi tờ séc được xuấttrình và chưa quá hạn Lượng tiền ký thác không kỳ hạn đó chính là tiền quangân hàng Nhưng bản thân những tờ séc không phải là tiền, vì khi nhận tờ séc
từ tay một người nào đó thì người ta không thể dùng nó vào việc thanh toán nợhay mua bán hàng hóa
Trong ba hình thái tiền tệ nêu trên hiện nay chỉ phổ biến hai hình thái là tiền quyước và tiền qua ngân hàng Nền kinh tế càng phát triển, hệ thống ngân hàng cànghoàn thiện thì vai trò của ngân hàng càng quan trọng Ở nước ta, từ trước đếnnay sử dụng chủ yếu vẫn là tiền giấy, tiền qua ngân hàng còn chưa sử dụng phổbiến nhưng trong xu hướng chung thì loại tiền này sẽ được sử dụng nhiều hơn
5 Các thành phần của mức cung tiền
a Định nghĩa hẹp – Tiền giao dịch (M 1 )
Khối lượng tiền (M) theo quan điểm hẹp trước năm 1980 bao gồm tiền mặtngoài hệ thống ngân hàng và tiền gửi không kì hạn có thể viết séc Theo quanđiểm mở rộng từ năm 1980 đến nay có nhiều tài sản được hưởng lãi suất và có
Trang 8thể viết séc, do vậy nó liên quan tới việc xác định khối lượng tiền mà Ngân hàngTrung ương cần kiểm soát.
Khối lượng tiền tệ bao gồm các khoản tiền có thể sử dụng ngay, không bị hạnchế trong việc mua bán hàng hóa hay thanh toán nợ nần với nhau
M1 = Tiền mặt + Tiền ngân hàng
Tiền mặt bao gồm tiền giấy và tiền kim loại nằm ngoài ngân hàng Đây là lượngtiền được nắm giữ bởi hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và nước ngoài.Tiền ngân hàng là các khoản ký gửi sử dụng séc hay tài khoản séc
M3 = M2 + Những khoản gửi có thể chuyển thành tiền mặt nhưng chậm hoặcchịu mất mát như tiền gửi có kỳ hạn với số lượng lớn, hợp đồng mua dài hạn.M4 = M3 + Những tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền như chứngkhoán, thương phiếu, hối phiếu
Từ thập niên 1980 trở lại đây, người ta đề cập đến khối lượng tiền theo nghĩarộng M2, M3, M4 hay L
Trang 9 Cho vay lấy lãi
Cho phép bù trừ nợ nần, hối đoái trong các hội chợ quốc tế
b) Hệ thống ngân hàng hiện đại
- Ngân hàng trung gian: là các tổ chức thực hiện chức năng kinh doanh tiền
tệ bao gồm:
Ngân hàng thương mại
Là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng cácdịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứngcác dịch vụ thanh toán Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiềudịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
Ngân hàng đầu tư
Là một định chế đóng vai trò như một trung gian tài chính để thực hiện hàngloạt các dịch vụ liên quan tới tài chính như bảo lãnh: làm trung gian giữa các tổchức phát hành chứng khoán và nhà đầu tư, tư vấn giúp dàn xếp các thương vụmua lại và sáp nhập cùng các hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp khác và môi
giới cho khách hàng là các tổ chức, đối tượng khách hàng chính của ngân hàng
đầu tư là các tổ chức, công ty và chính phủ không phải là khách hàng cá nhân
Ngân hàng đặc biệt
Các tổ chức định chế tài chính ngoài ngân hàng
là các định chế (tức thể chế, tổ chức được thành lập theo luật) mà hoạt độngchủ yếu của chúng là đóng vai trò trung gian tài chính trong quá trình chuyểnvốn từ người cho vay sang người đi vay (ví dụ ngân hàng thương mại, tổ chức
Trang 10tín dụng) hoặc người tiết kiệm tới người đầu tư (ví dụ quỹ hưu trí, công ty bảohiểm)
- Ngân hàng trung ương:
Là cơ quan của chính phủ có chức năng giám sát sự hoạt động của hệ thốngngân hàng và có trách nhiệm thực hiện việc chỉ đạo chính sách tiền tệ
Ngân hàng trung ương ra đời xuất phát từ nhu cầu điều hòa khối tiền tệ, kiểmsoát các hoạt động của ngân hàng trung gian
Mặc dù là cơ quan của chính phủ nhưng ngân hàng trung ương là một định chếđộc lập với chính phủ ở một mức độ nhất định
Đây là hình thức để ngăn chặn tình trạng lạm dụng việc phát hành tiền, bù đắpcho việc thâm hụt ngân sách
Ngân hàng trung ương thực hiện các công việc chính cho chính phủ như:
Mở tài khoản, chuyển tiền, thu tiền, trả tiền cho chính phủ
Ứng trước tiền cho chính phủ bù đắp thâm hụt ngân sách, cho chính phủvay tiền khi cần thiết
Cố vấn cho chính phủ về tài chính tiền tệ như phát hành công trái, vaytiền nước ngoài, thay đổi tỷ giá hối đoái
Đối với ngân hàng trung gian:
Ngân hàng trung ương có quyền quyết định trong việc thành lập hay giảithể các ngân hàng trung gian
Kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của ngân hàng trung gian
Đưa ra khoảng dự trữ bắt buộc và giữ tiền dự trữ bắt buộc của ngân hàngtrung gian
2 Hệ thống ngân hàng Việt Nam
Theo từng thời kỳ, hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự thay đổi Hiệnnay, hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm:
(1) Ngân hàng nhà nước Việt Nam: thực hiện chức năng quản lý nhà nước vềhoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong cả nước, không làm nghiệp vụngân hàng với công chúng
Trang 11(2) Các tổ chức tín dụng: bao gồm ngân hàng chuyên doanh và các ngân hàngtrung gian (định chế tài chính ngoài ngân hàng).
Ngân hàng chuyên doanh bao gồm:
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng đầu tư và phát triển
Ngân hàng không chỉ bó hẹp trong hoạt động trung gian mà còn dùng sốvốn huy động được để đầu tư vào chứng khoán hay các lĩnh vực khác
Để đảm bảo cho các hoạt động của ngân hàng thì đòi hỏi phải có dự trữtùy ý và dự trữ bắt buộc
d = Tiền dự trữ/ Tiền ngân hàng
Trang 12 Tỷ lệ dự trữ là do ngân hàng trung ương quy định tùy theo từng loại tiềngửi, từng loại ngân hàng khác nhau.
III TIỀN NGÂN HÀNG VÀ SỐ NHÂN TIỀN TỆ
1.CÁCH TẠO TIỀN NGÂN HÀNG
Các ngân hàng biến tiền dự trữ thành tiền ngân hàng thông qua hai bước
- NHTW quy định số lượng dự trữ của hệ thống ngân hàng thông qua tỷ lệ dự
trữ bắt buộc (d ).
- Hệ thống ngân hàng lấy những dự trữ đó làm một đầu vào và biến chúngthành một khối lượng tiền qua ngân hàng lớn hơn nhiều Tiền mặt qua lưuthông cộng tiền qua ngân hàng này là mức cung tiền M1 Quá trình này gọi là
mở rộng tiền gửi ngân hàng theo cấp số nhân
Giả sử có một khách hàng đến ngân hàng gửi 1.000 VNĐ với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%.
Các thế hệ ngân hàng Tiền NH tăng
Trang 13Hệ thống ngân hàng và công chúng đã cùng nhau tạo ra khoảng 10 đồng tiềnngân hàng từ mỗi đồng tiền dự trữ mới được tạo ra cho các ngân hàng Với mỗiđồng tiền dự trữ mới gửi vào 1 ngân hàng nào đó toàn bộ hệ thống tạo rakhoảng 10 đồng tiền ngân hàng
Như vậy: Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc là d, 1 đồng tiền dự trữ mới gửi vào 1 ngân hàng toàn bộ hệ thống ngân hàng tạo ra được 1/d đồng tiền ngân hàng và 1/d
gọi là số nhân tiền
2 SỐ NHÂN CỦA TIỀN
- Số nhân của tiền (money multiplier – kM) là hệ số phản ánh khối lượngtiền được tạo ra từ một đơn vị tiền mạnh
- Tiền mạnh (high power money – H) là toàn bộ tiền giấy và tiền kim loạiđược phát hành vào nền kinh tế
H = tiền mặt ngoài NH + Dự trữ trong NH
- Khối lượng tiền M1 bao gồm hai phần
M1= tiền mặt ngoài NH + Tiền gửi sử dụng séc
- Với số nhân là k M thì M1=k M H
M1 = k M H
- Đặt m=tiền mặt ngoài NH / tiền NH
- Đặt d=dự trữ trong NH / tiền NH
- Số nhân của tiền sẽ được tính
Đặc điểm của số nhân của tiền
- Số nhân của tiền luôn luôn lớn hơn 1
- Số nhân của tiền tỉ lệ nghịch với tỉ lệ dự trữ
- Số nhân của tiền tỉ lệ nghịch với tỉ lệ tiền mặt ngoài NH
Các yếu tố làm thay đổi số nhân của tiền
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Trang 14- Cơ chế tác động: Khi ngân hàng trung ương mua (bán) chứng khoán thì sẽlàm cho cơ số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảmđi).
- Nếu thị trường mở chỉ gồm ngân hàng trung ương và các ngân hàng thươngmại thì hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các ngân hàngthương mại
- Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là một
công cụ rất năng động ,hiệu quả,chính xác của CSTT vì khối lượng chứngkhoán mua( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh,ít tốnkém về chi phí ,dễ đảo ngược tình thế.Tuy vậy, vì được thực hiện thông quaquan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thịtrường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phảI có sự phát triển đồng
bộ của thị trường tiền tệ, thị trường vốn
2.THAY ĐỔI TỈ LỆ DỰ TRỮ BẮT BUỘC
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa
tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ đểđảm bảo tính thanh khoản Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặcbằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ