1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CÔNG tác làm mẹ AN TOÀN tại 4 xã MIỀN núi của HUYỆN MINH hóa TỈNH QUẢNG BÌNH năm 2016

99 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ phụ nữ được khám thai, tỷ lệ sàng lọc và chẩnđoán trước sinh và chăm sóc bà mẹ và trẻ em sau sinh được nâng cao… Tuynhiên, công tác LMAT, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình KHHG

Trang 1

CAO SỸ PHƯỢNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LÀM MẸ AN TOÀN TẠI 4 XÃ MIỀN NÚI CỦA HUYỆN MINH HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2016

LUẬN ÁN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II

Chuyên ngành: Quản lý Y tế

THÁI BÌNH - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

CAO SỸ PHƯỢNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LÀM MẸ AN TOÀN TẠI 4 XÃ MIỀN NÚI CỦA HUYỆN MINH HÓA

Trang 3

Để kết thúc khóa học CKII và hoàn thành luận án này, tôi xin chânthành biết ơn sâu sắc:

Ban giám hiệu nhà trường; Phòng Đào tạo sau Đại học; Quý Thầy CôKhoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y - Dược Thái Bình Đã tạo điều kiệnthuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiệnluận án này

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng đến Thầy giáo hướng

dẫn: PGS.TS Vũ Phong Túc và TS Đỗ Ngọc Dung đã truyền đạt cho tôi

nhiều kiến thức về nghiên cứu khoa học, tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốtquá trình học tập, nghiên cứu và hoàn ành luận án về quản lý y tế này

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Y tế Quảng Bình; Lãnh đạoTrung tâm Y tế dự phòng huyện Minh Hóa đã quan tâm, tạo điều kiện thuậnlợi cho tôi được đi học

Tôi xin chân thành cảm ơn: các đồng nghiệp, cán bộ khoa Chăm sócsức khỏe sinh sản Trung tâm Y tế dự phòng huyện Minh Hoá; Trạm y tế các

xã, thị trấn đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình lấy mẫu để thựchiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè và ngườithân đã động viên, chia sẽ và giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ

Thái Bình, tháng 10 năm 2016

Cao Sỹ Phượng

Trang 4

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu và kết quả nêu trong luận án này là trung thực

và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Thái Bình, tháng 10 năm 2016

Tác giả luận án

Cao Sỹ Phượng

Trang 5

AIDS Acquired Immunodeficiency Syndrome

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phảiCBYT Cán bộ y tế

CSYT Cơ sở y tế

CTVDS Cộng tác viên dân số

HIV Human Immunodeficiency Virus

Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở ngườiKHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình

LMAT Làm mẹ an toàn

MMR Maternal Motality Rate

Tỷ suất tử vong mẹNKĐSS Nhiễm khuẩn đường sinh sản

TYT Trạm y tế

WHO World Health Organization

Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 6

1.2 Chăm sóc sức khỏe sinh sản và làm mẹ an toàn 5

1.2.1 Tử vong mẹ và tử vong sơ sinh 5

1.2.2 Kiến thức và thực hành của phụ nữ về làm mẹ an toàn 8

1.3 Y tế tuyến xã và vai trò của Y tế thôn 10

1.4 Một số nghiên cứu về LMAT 12

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 21

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 24

2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 24

2.2.3 Biến số sử dụng trong nghiên cứu 26

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin 29

2.2.5 Xử lý số liệu30

2.2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU31

3.1 Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ có con nhỏ về LMAT 313.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31

3.1.2 Kết quả thực hiện làm mẹ an toàn của phụ nữ có con dưới 2 tuổi333.2 Kiến thức và vai trò quản lý của cán bộ y tế thôn về làm mẹ an toàn 393.2.1 Thông tin chung của cán bộ y tế39

3.2.2 Kiến thức và vai trò của CBYT thôn/bản về làm mẹ an toàn 42Chương 4: BÀN LUẬN 49

KẾT LUẬN 72

KHUYẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 3.1 Nhóm tuổi của bà mẹ có con dưới 2 tuổi theo nhóm xã 31

Bảng 3.2 Tỷ lệ dân tộc của bà mẹ có con dưới 2 tuổi theo nhóm xã 31

Bảng 3.3 Tỷ lệ nghề nghiệp của bà mẹ có con dưới 2 tuổi theo nhóm xã 32

Bảng 3.4 Tỷ lệ trình độ học vấn của bà mẹ có con dưới 2 tuổi theo nhóm xã 32

Bảng 3.5 Tỷ lệ điều kiện kinh tế của bà mẹ có con dưới 2 tuổi nhóm xã 33

Bảng 3.6 Số lần sinh con của bà mẹ có con dưới 2 tuổi theo xã 33

Bảng 3.7 Tỷ lệ bà mẹ có khám thai trong lần mang thai vừa qua 34

Bảng 3.8 Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 2 tuổi có khám thai trong lần mang thai vừa qua 35

Bảng 3.9 Tỷ lệ nhân viên y tế khám thai cho bà mẹ có con dưới 2 tuổi 35

Bảng 3.10 Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 2 tuổi có tiêm phòng uốn ván trong lần mang thai vừa qua 36

Bảng 3.11 Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 2 tuổi có uống viên sắt trước sinh và uống Vitamin A sau sinh 37

Bảng 3.12 Nơi sinh con gần đây nhất của bà mẹ có con dưới 2 tuổi 37

Bảng 3.13 Tỷ lệ CBYT chăm sóc sau sinh cho bà mẹ có con dưới 2 tuổi 38

Bảng 3.14 Tỷ lệ trình độ chuyên môn của NYYT thôn 40

Bảng 3.15 Tỷ lệ thâm niên công tác của NYYT thôn 41

Bảng 3.16 Tỷ lệ thâm niên CBYT thôn đến thăm phụ nữ trước sinh 42

Bảng 3.17 Tỷ lệ CBYT được tập huấn LMAT đến thăm phụ nữ trước sinh 43

Bảng 3.18 Tỷ lệ CBYT được tập huấn LMAT biết quản lý phụ nữ có thai 43

Bảng 3.19 Tỷ lệ CBYT tư vấn phụ nữ trước sinh 44

Bảng 3.20 Tỷ lệ CBYT tư vấn phụ nữ thai nghén có nguy cơ 44

Bảng 3.21 Tỷ lệ CBYT tư vấn phụ nữ sau sinh 45

Bảng 3.22 Tỷ lệ CBYT nhận biết phụ nữ thay đổi khi có thai 45

Bảng 3.23 Tỷ lệ CBYT nhận biết số lần phụ nữ đi khám thai 46

Bảng 3.24 Tỷ lệ CBYT thôn biết về thời điểm khám thai 46

Bảng 3.25 Tỷ lệ CBYT biết số lần tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai 47

Bảng 3.26 Tỷ lệ CBYT thôn biết về dấu hiệu chuyển dạ 47

Bảng 3.27 Tỷ lệ CBYT thôn biết về dấu hiệu nguy hiểm trong chuyển dạ cần phải chuyển tuyến trên 48

Trang 8

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 2 tuổi đi khám thai 34

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ CBYT tư vấn cho bà mẹ có con dưới 2 tuổi 36

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ CBYT chăm sóc sau sinh cho bà mẹ có con dưới 2 tuổi 38

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ giới tính của CBYT thôn 39

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ độ tuổi của CBYT thôn 39

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ dân tộc của CBYT thôn 40

Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ tập huấn LMAT của CBYT thôn 41

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ CBYT thôn quản lý PNCT 42

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân(CSSKND) nói chung của Việt Nam được cải thiện và nâng cao, đặc biệt làcông tác làm mẹ an toàn (LMAT), chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ

em được cải thiện rõ rệt, có sự can thiệp của nhân viên y tế trước sinh, trongkhi sinh và sau khi sinh Tỷ lệ phụ nữ được khám thai, tỷ lệ sàng lọc và chẩnđoán trước sinh và chăm sóc bà mẹ và trẻ em sau sinh được nâng cao… Tuynhiên, công tác LMAT, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ)cũng đang đối diện với nhiều tạo davà tỷ suất tử vong trẻ em cũng còn nhiềukhác biệt giữa các vùng, miền trong cả nước Tử vong mẹ và tử vong trẻ sơsinh ở khu vực miền núi vẫn còn cao, tỷ lệ quan hệ tình dục không an toàn,mang thai ngoài ý muốn và phá thai, mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục

ở vị thành niên/thanh niên ngày càng tăng [2], [6], [18], [23], [39]

Sáng kiến LMAT từ khi được khởi đầu năm 1987 đã đạt được nhữngthành công đáng kể trong việc cảnh báo cả thế giới về mức độ tử vong sảnkhoa Sự thừa nhận về tầm quan trọng của chương trình LMAT đối với sứckhỏe của trẻ sơ sinh ngày càng tăng do vậy tiếp tục làm giảm tỷ lệ tử vong vàbệnh tật ở mẹ và trẻ sơ sinh Cải thiện sức khỏe của sản phụ và trẻ sơ sinhđược xem là yêu cầu cơ bản tiên quyết đối với sức khỏe gia đình và sự pháttriển kinh tế xã hội Bên cạnh đó, đầu tư vào chăm sóc sức khỏe bà mẹ làmột trong những can thiệp y tế có hiệu quả nhất đối với lợi ích sức khỏecộng đồng, nhất là tại vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn [10],[13], [14], [22]

Theo số liệu của Chi cục Thống kê tỉnh Quảng Bình cho biết huyệnMinh Hóa có diện tích 1412 km2, dân số 52 851 người, có 15 xã và 1 thị trấn,

số hộ nghèo chiếm 65,4% (thống kê 2014) và là nơi cư trú chủ yếu của các

Trang 10

dân tộc thiểu số như Khùa, Mày, Sách Rục, Thổ và Arem, địa hình huyệnMinh Hóa đi lại khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa một số thôn ở xa hầu như bị

cô lập với trung tâm xã bởi ngập lụt Tình hình bệnh tật và tử vong mẹ và trẻ

em chiếm tỉ lệ khá cao, tỷ lệ tai biến sản khoa còn cao, nhiều phong tục lạchậu còn chưa được giải quyết như đẻ tại nhà, năm 2010 ở xã Dân Hóa vẫncòn trường hợp mẹ tử vong đã chôn sống con theo, tỷ lệ trẻ em suy dinhdưỡng cao nhất trong cả tỉnh, quản lý thai nghén còn là vấn đề khó khăn nhất

Với mục đích góp phần nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sứckhỏe bà mẹ trẻ em, thực hiện LMAT cho người dân vùng khó khăn của huyệnMinh Hóa và của tỉnh Quảng Bình qua đó làm cơ sở cho việc lập kế hoạchhiệu quả cho các hoạt động can thiệp, việc khảo sát thực trạng công tácLMAT tại 4 xã có ý nghĩa quan trọng và cần thiết Chính vì lý do trên, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng công tác làm mẹ an toàn tại 4

xã miền núi của huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình năm 2016” với 2 mục

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

Hội nghị Thượng đỉnh về Dân số và Phát triển tại Cai rô Ai Cập (ICPD)năm 1994 đã xác định công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) gồm 7nội dung chính (1) Làm mẹ an toàn (LMAT) và chăm sóc sơ sinh (CSSS), (2)

Kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ), (3) Giảm phá thai và phá thai an toàn(PTAT), (4) Dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn đường sinh sản (NKĐSS), (5)CSSKSS vị thành niên, (6) Dự phòng và điều trị vô sinh, (7) CSSKSS chonam giới, người cao tuổi và phòng chống ung thư đường sinh sản

Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản, được tiến hành rất sớm trên thế giới,chủ yếu ở các quốc gia phát triển như Mỹ và châu Âu Ở Việt Nam, do chịuảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa phương Đông, đặc biệt là Nho giáo chonên các vấn đề về sinh sản, tình dục, quan hệ nam nữ ít được đề cập Vì vậy,nghiên cứu về sức khỏe sinh sản là lĩnh vực mới được nghiên cứu ở nước ta

Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960, nhận thức sâu sắc về tầm quantrọng của vấn đề dân số trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Chính phủViệt Nam đã luôn dành sự quan tâm thích đáng cho công tác Dân số - Kếhoạch hóa gia đình Đặc biệt từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV củaBan chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, trên cơ sở đặt “Công tác Dân số -

kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đấtnước”, vấn đề này được coi như một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàngđầu, một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người,từng gia đình và toàn xã hội

Trang 12

Công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình đã huy động được sức mạnhtổng hợp của toàn Đảng, toàn dân và tranh thủ được sự giúp đỡ ngày càngtăng và có hiệu quả của cộng đồng quốc tế Bằng những giải pháp hữu hiệu,các hoạt động tuyên truyền, giáo dục được mở rộng và từng bước nâng caochất lượng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, chú trọng đến các vùng sâu,vùng xa, vùng nghèo, do đó nhận thức của các tầng lớp nhân dân về kế hoạchhóa gia đình, sức khỏe sinh sản ngày càng được nâng cao, tỷ lệ giảm sinh rấtnhanh Tuy nhiên, những mục tiêu của chương trình Dân số - kế hoạch hóagia đình mới chỉ chú trọng về số lượng như giảm tỷ lệ sinh, tăng tỷ lệ sử dụngcác biện pháp tránh thai (chỉ tập trung vào phụ nữ và biện pháp đặt vòng) màchưa chú trọng vào chất lượng dân số Vấn đề giáo dục tình dục, tư vấn kếhoạch hóa gia đình chưa được tập trung và đầu tư đúng mức, kỹ năng tư vấncòn đơn giản Vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên chưa được chú ý quantâm đúng mức

Do lối sống truyền thống của người Á Đông và do nhận thức chưa đầy

đủ về quy mô gia đình nhỏ, đồng thời cũng do chưa tuyên truyền, phổ biếnrộng khắp về tác dụng, tính ưu việt của các biện pháp tránh thai hiện đại như

là một phương pháp kế hoạch hóa gia đình Do đó, Việt Nam là một trongnhững quốc gia có tỷ lệ phụ nữ nạo phá thai cao nhất thế giới Các bệnh lâynhiễm qua đường tình dục, nhiễm khuẩn HIV/AIDS còn nhiều tồn tại, ảnhhưởng trực tiếp tới sức khỏe bà mẹ trẻ em Điều đáng lo ngại hiện nay là tìnhtrạng nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên ngày một phổ biến, tình hình nhiễmkhuẩn đường sinh sản và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ngày càngtăng… Ngoài những vấn đề nêu trên, vấn đề sức khỏe sinh sản ở Việt Namcòn phải đối mặt với vấn đề vô sinh, ung thư vú và ung thư đường sinh sản.Những vấn đề đó cần được các cơ sở y tế quan tâm tạo điều kiện chăm sóc tốthơn nhằm nâng cao sức khỏe cho phụ nữ

Trang 13

Triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn

2001-2010, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc thực hiện cácmục tiêu của Chính phủ đề ra cho lĩnh vực này Tử vong bà mẹ và tử vong sơsinh giảm một cách đáng kể, tuy nhiên công tác LMAT và CSSS vẫn cònnhiều bất cập, đặc biệt là sự chênh lệch giữa các vùng miền về tình trạng sứckhỏe bà mẹ và trẻ em

Ngày 14 tháng 11 năm 2011, tại Quyết định số 2013/QĐ-TTg, Thủtướng Chính Phủ đã phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản ViệtNam giai đoạn 2011-2020 Là một bộ phận của Chiến lược bảo vệ và chămsóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, Chiến lược Dân số và SKSS ViệtNam có nhiều mục tiêu quan trọng, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống củanhân dân, góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đấtnước đến năm 2020 Việc thực hiện thành công Chiến lược Dân số và SKSSđồng thời cũng đóng góp vào việc hoàn thành các Mục tiêu phát triển thiênniên kỷ (MDG) vào năm 2015 Việt Nam đã cam kết với cộng đồng quốc tế

Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản từtrước tới nay luôn được mọi người quan tâm và coi đó là một việc làm cầnthiết Bởi lẽ, sức khỏe của nhân dân nói chung, người phụ nữ nói riêng làhết sức quan trọng, nó ảnh hưởng tới mọi yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hộicủa đất nước

1.2 Chăm sóc sức khỏe sinh sản và làm mẹ an toàn

1.2.1 Tử vong mẹ và tử vong sơ sinh

Tử vong mẹ

Tỷ số tử vong mẹ (TVM) trong những năm gần đây đã giảm mạnh, từmức 233/100.000 trẻ đẻ sống năm 1990 xuống còn 69/100.000 trẻ đẻ sốngnăm 2009 Tuy nhiên, các kết quả điều tra cũng cho thấy vẫn còn sự chênh

Trang 14

lệch rất lớn về tỷ số TVM giữa các vùng miền Kết quả điều tra tử vong mẹ ởViệt Nam 2006-2007 do Viện Chiến lược và Chính sách y tế - Bộ Y tế thựchiện cho thấy tỷ số TVM ở khu vực miền núi (108/100.000 trẻ đẻ sống) vẫncao hơn khoảng 3 lần so với vùng đồng bằng (36/100.000 trẻ đẻ sống) Tương

tự, điều tra TVM tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do Trường Đạihọc Y khoa Thái Bình tiến hành cho thấy tỷ số TVM là 119/100.000 trẻ đẻsống, cao gần gấp khoảng hai lần so với toàn quốc, trong đó cao nhất là vùngTây Bắc (242/100.000 trẻ đẻ sống), tiếp đến là Tây Nguyên (108/100.000 trẻ

đẻ sống) và Đông Bắc (86/100.000)

Theo ước tính năm 2005, tỷ suất tử vong mẹ (MMR) trên phạm vi toànthế giới vẫn còn rất cao (MMR=400) Con số này cao nhất ở khu vực cậnSahara (MMR=900), tiếp đến là châu Phi (MMR=820), khu vực Nam Á(MMR=490) Tại các khu vực đang phát triển tỉ lệ này vẫn cao hơn tỉ lệchung trên thế giới (MMR=450) Tỷ suất tử vong mẹ tại khu vực Đông Nam

Á (MMR=300) thấp hơn so với tỷ suất chung của khu vực các nước đangphát triển

Nguyên nhân gây ra tử vong mẹ bao gồm cả nguyên nhân trực tiếp vàgián tiếp trong đó các nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ chiếm 80% cáctrường hợp tử vong mẹ trên thế giới Các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tửvong mẹ là các tai biến sản khoa trong giai đoạn thai sản (thời kỳ mang thai,chuyển dạ và sau sinh), do can thiệp sản khoa, chẩn đoán sai, điều trị khôngđúng Cụ thể như băng huyết, nhiễm trùng, tiền sản giật/sản giật, đẻ khó, nạohút thai không an toàn, chửa ngoài tử cung, tắc mạch ối và các trường hợp tửvong có liên quan đến gây mê do mổ lấy thai,… trong đó nguyên nhân gây tửvong mẹ nhiều nhất là băng huyết Đây là nguyên nhân chính gây ra tử vong

mẹ ở các nước đang phát triển, chiếm hơn 25% tổng số ca tử vong Nhiễm

Trang 15

khuẩn sau đẻ là nguyên nhân quan trọng xếp thứ 2 của chết mẹ ở các nướcđang phát triển, chiếm đến 20% tổng số ca chết mẹ.

Tử vong sơ sinh

Bên cạnh tử vong mẹ, tử vong sơ sinh cũng đang là một vấn đề hết sứcđáng báo động Theo ước tính của WHO, năm 2000 trên toàn thế giới có hơn 4triệu trường hợp tử vong sơ sinh, trong đó có trên 2,5 triệu trường hợp tử vong

sơ sinh ở châu Á Tại 12 nước khu vực Đông và Đông Nam Á, ước tính mỗinăm có khoảng 647.000 trẻ tử vong trong giai đoạn sơ sinh

Một nửa trong số đó là tử vong trong vòng 24h đầu và 75% xẩy ra trongtuần đầu sau sinh Tổng số tử vong sơ sinh chiếm đến 2/3 số tử vong trẻ dưới 2tuổi Cũng tương tự như nhiều nước đang phát triển khác trên thế giới, ở phầnlớn các nước trong khu vực Đông và Đông Nam Á, tỷ lệ giảm tử vong sơ sinhcũng xảy ra rất chậm trong khi tỉ lệ tử vong trẻ trên 1 tháng tuổi giảm một cáchđáng kể Vì thế để đạt được mục tiêu thiên niên kỷ cũng vẫn là điều khó khănvới nhiều nước trong khu vực

Bên cạnh đó, chỉ ở một số ít nước đang phát triển có các hệ thống đăng

ký khai sinh là có đủ thông tin cung cấp cho việc ước lượng chính xác tử vong

sơ sinh, hoặc những thành tố trước, sau của nó Ở những nước không có đủthông tin cho việc ước lượng tử vong sơ sinh thì con số báo cáo thường thấphơn con số thực tế dẫn đến việc không đánh giá đúng tầm quan trọng của tửvong sơ sinh và thiếu sự quan tâm thích đáng

Tương tự như trên, các nguyên nhân tử vong thời kỳ sơ sinh ở khu vựccác nước đang phát triển thường được đo lường một cách nghèo nàn, nên cácnguyên nhân thường được xác định chỉ tập trung vào ngạt khi sinh, cácnhiễm khuẩn nặng, các biến chứng của đẻ non và uốn ván, bên cạnh đó phải

Trang 16

kể đến kiến thức về chăm sóc trẻ nói chung, trẻ sơ sinh nói riêng còn cónhững hạn chế.

1.2.2 Kiến thức và thực hành của phụ nữ về làm mẹ an toàn

Vấn đề làm mẹ an toàn là một trong những nội dung được các nhàhoạch định chính sách và chuyên môn quan tâm và đề xuất nhiều giải pháp từthập kỷ trước Mục tiêu của làm mẹ an toàn là làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnhtật của bà mẹ và trẻ sơ sinh Vấn đề giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh cũng

đã được thế giới công nhận là một trong 6 mục tiêu phát triển của thế kỷ 21.Sáng kiến làm mẹ an toàn đã được hơn 100 quốc gia và các tổ chức quốc tếchọn làm chương trình hành động Tuy nhiên, qua các công trình nghiên cứu

về sức khoẻ bà mẹ có liên quan đến thai nghén và sinh đẻ cho thấy, tỷ lệ đượcchăm sóc trước, trong và sau khi sinh khác nhau tuỳ theo từng vùng, từngnước

Tỷ lệ phụ nữ biết các dấu hiệu nguy hiểm đối với bà mẹ có thai và thainhi còn thấp, dấu hiệu đau bụng có tỷ lệ người biết cao nhất mới đạt 45,1%,tiếp đến là dấu hiệu chảy máu âm đạo: 37,5%, các dấu hiệu khác chỉ dưới20% phụ nữ biết Đáng lưu ý là có tới 31,2% không biết bất kỳ dấu hiệu nguyhiểm nào ở phụ nữ có thai (PNCT) Vẫn còn khoảng 10% PNCT không đikhám thai, 23,7% không uống viên sắt trong lần mang thai gần nhất, tỷ lệ phụ

nữ khám thai đủ ba lần tại khu vực miền núi mới đạt 72%, trong đó tỷ lệkhám thai đủ 3 lần trong 3 thai kỳ mới đạt 60%, tỷ lệ PNCT được tư vấn vềxét nghiệm HIV tự nguyện hay đã đi xét nghiệm HIV tự nguyện cũng còn rấtthấp (26,4% và 13,9%) Các phụ nữ không đi khám thai đưa ra lý do chủ yếu

là họ thấy không cần thiết phải khám thai (35,7%), tiếp đến là không biết phải

đi khám thai (29,5%), xấu hổ khi đi khám thai (17,6%) Điều này cho thấycông tác truyền thông cho phụ nữ về lợi ích của khám thai và nơi khám thaichưa được thực hiện tốt tại khu vực miền núi

Trang 17

Việt Nam xác định việc chăm sóc trước sinh là một trong những nhiệm

vụ cơ bản của y tế cơ sở Chiến lược Quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn2001-2010 đề ra đến năm 2010 cả nước đạt 90% số phụ nữ có thai được khámthai trước sinh và 60% số phụ nữ có thai được khám thai ít nhất 3 lần

Việc đáp ứng đầy đủ các nội dung CCDV chăm sóc trước sinh ở nước

ta thực sự còn gặp nhiều khó khăn Nghiên cứu của Phan Lạc Hoài Thanh(2005) qua phỏng vấn những người không khám thai hoặc khám thai không

đủ ba lần cho thấy: có 66,2% số đối tượng đưa ra lý do vì bận không bố tríđược thời gian; 28,4% thấy không cần thiết, ngại đi xa và có tới 5,4% thai phụđến trạm xá nhưng không gặp cán bộ y tế Tỷ lệ các bà mẹ không hiểu về sựcần thiết phải uống bổ sung viên sắt khi mang thai còn cao (40,9%); tuynhiên, đáng chú ý là việc đưa ra lý do TYT xã không có viên sắt (49,1%) Bêncạnh đó, việc thực hành các bước khám thai của cán bộ y tế ở tuyến cơ sở cònchưa đầy đủ, chất lượng chưa cao, thiếu hụt tư vấn cho phụ nữ về các vấn đềthai nghén

Kết quả phỏng vấn kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn 240 bà

mẹ sinh con tại nhà ở Nepal năm 2006 cho thấy, có 140 bà mẹ (58,3%) chủđịnh sinh ở nhà và 100 (41,7%) không chủ định sinh ở nhà nhưng do một số

lý do đã khiến họ phải thực hiện cuộc sinh đẻ tại nhà Trong số 240 ca sinh,chỉ có 6,2% được đỡ bởi CBYT trong khi đó có 38 (15,8%) bà mẹ đã sinhmột mình 57,9% trẻ sơ sinh được bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và 85,4%được bú trong vòng 24 giờ

Một nghiên cứu tương tự tại Nigeria được thực hiện vào năm 2008 chothấy, trong số 300 bà mẹ sinh tại nhà được phỏng vấn, 66,7% trường hợp chủđịnh sinh tại nhà và 33,3% còn lại không chủ định 13,4% cuộc sinh đượcCBYT đỡ và 15,7% trường hợp sinh một mình 65,3% trẻ sơ sinh được bútrong vòng một giờ sau sinh và 95,7% trong vòng 24 giờ

Trang 18

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các kết quả thống kê cho thấycác nội dung làm mẹ an toàn ở nước ta đã được thực hiện tốt thông qua cácchỉ số như số lần khám thai, tỷ lệ phụ nữ sinh con được cán bộ y tế đỡ Tỷ lệphụ nữ có thai được quản lý thai (khám thai ít nhất 1 lần) tăng từ 75,6% năm

2000 lên 94,2% năm 2008 Tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai 3 lần trở lên trongthai kỳ đã tăng từ 69,7% lên 86,5% và tỷ lệ phụ nữ đẻ được CBYT đỡ năm

2008 là 94,7%

Theo số liệu Niên giám thống kê y tế năm 2010, 93,5% phụ nữ có thaiđược tiêm chủng uốn ván từ 2 lần trở lên, 97,09% đẻ được CBYT chăm sóc

và 87,78% được khám sau sinh

Tuy vậy, các chỉ số này rất khác nhau giữa các vùng, tốt hơn ở khu vựcthành thị so với các vùng sâu, vùng xa nơi có điều kiện kinh tế xã hội còn khókhăn Tỷ lệ khám thai ít nhất 3 lần trong thời gian mang thai ở những khu vựcvùng sâu, vùng xa có tăng lên trong những năm gần đây song cũng chỉ đạtkhoảng 50%

1.3 Y tế tuyến xã và vai trò của Y tế thôn

Mạng lưới y tế cơ sở là nền tảng của hệ thống y tế quốc gia mà CBYTthôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công tác CSSK ban đầu.Cán

bộ y tế thôn xóm là những người trực tiếp sống với dân trong cộng đồng, họrất gần gũi và hiểu rõ các thành viên trong cộng đồng CBYT thôn có nhiệm

vụ chủ yếu và trọng tâm là thực hiện các hoạt động truyền thông giáo dục sứckhỏe (TT-GDSK) cho nhân dân về vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân, phòngchống các bệnh tật, tai nạn, ngộ độc phổ biến xảy ra, phát hiện sớm các bệnhthường gặp trong cộng đồng, sơ cứu ban đầu

Y tế thôn chịu sự trực tiếp quản lý và chỉ đạo chuyên môn của các trạm

y tế xã Thủ tướng Chính phủ đã có những quy định về tổ chức về chế độ

Trang 19

chính sách đối với y tế cơ sở Theo đó, các TYT xã được xác định là đơn vị kỹthuật đầu tiên tiếp xúc với dân, nằm trong hệ thống y tế Nhà nước, có nhiệm

vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện dịchsớm, chữa các bệnh và đỡ đẻ thông thường, vận động nhân dân thực hiện cácbiện pháp KHHGĐ, vệ sinh phòng bệnh, tăng cường sức khỏe

Các TYT xã giữ vai trò thực sự quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầuchăm sóc SKSS cho người dân Một điều đã được minh chứng là năng lựccung cấp dịch vụ, tính sẵn có và khả năng tiếp cận của dịch vụ với người dân

là những thành tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp dịch vụ tạicác cơ sở y tế trong đó có các TYT xã

Nằm trong hệ thống chăm sóc SKSS của cả nước, các TYT xã cónhững khó khăn riêng trong việc đáp ứng các dịch vụ y tế nói chung và dịch

vụ chăm sóc SKSS nói riêng Như được trình bày trong Báo cáo công tác y tếnăm 2008 của Bộ Y tế, chính sách đãi ngộ, tuyển dụng đối với cán bộ y tế cònnhiều bất cập, dẫn tới khó khăn trong thu hút cán bộ phục vụ tại vùng khókhăn, tuyến cơ sở Bên cạnh đó, nhu cầu đầu tư cho y tế lớn, yêu cầu của nhândân ngày càng cao nhưng nguồn lực đầu tư cho y tế còn hạn chế Điều nàynằm chung trong tình trạng ở Việt Nam, số lượng cán bộ y tế mặc dù tăngtrong những năm gần đây nhưng vẫn còn thấp, phân bố chưa đồng đều giữacác vùng lãnh thổ

Nhân lực của TYT xã giai đoạn trước năm 2001 được xác định tạiQuyết định số 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 03/02/1994 là

từ 3-6 định biên, từ 4 người trở lên phụ thuộc vào dân số hoặc vùng núi, hoặcvùng cao của từng xã.Từ năm 2001 đến nay, bố trí nhân lực và các hoạt độngcủa TYT xã được quy định trong Chuẩn Quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2001-

2010, trong đó đáng chú ý là: TYT xã tối thiểu có 5 cán bộ, tối đa có 10 cánbộ; cần có bác sỹ hoặc y sỹ đa khoa (đồng bằng phải có bác sỹ); nữ hộ sinh

Trang 20

hoặc y sỹ sản, nhi (đồng bằng phải có nữ hộ sinh trung học hoặc y sỹ sản,nhi); y tá (đồng bằng phải có y tá trung học trở lên)

Sau một thời gian triển khai thực hiện, nhiều TYT xã đã được xây dựngmới hoặc nâng cấp, cán bộ y tế được bổ sung Theo thông báo của Bộ Y tế,năm 2007 cả nước đã có 10.834 TYT, chiếm 98,8% tổng số xã/phường/thịtrấn Về số lượng cán bộ y tế, toàn quốc có 52.540 người hiện đang công táctại các TYT xã, bình quân 4,9 người/trạm Tỷ lệ TYT xã có bác sỹ là 67,4%;

tỷ lệ TYT xã có y sỹ sản, nhi hoặc nữ hộ sinh đạt 93,6% Có thể nói đội ngũCBYT thôn là mạng lưới hỗ trợ quan trọng của Trạm y tế xã, phường để làmcác hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Vì vậy, CBYT thôn cónhiệm vụ rất cần thiết trong việc CSSK ban đầu cho cộng đồng, nhất là ởnhững vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Đồng thời đây cũng là đội ngũtuyên truyền rất hiệu quả về vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, sinh đẻ

có kế hoạch… Đặc biệt, tại những nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,đội ngũ CBYT thôn là lực lượng quan trọng giúp người dân tiếp cận với cácdịch vụ y tế tuyến trên

1.4 Một số nghiên cứu về LMAT

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hương “Đánh giá hiệu quả triển khai

mô hình “Cô đỡ thôn bản người dân tộc thiểu số” tại huyện Đồng Văn tỉnh HàGiang trong 3 năm (2010-2012)” cho thấy người dân ở các thôn bản nơi vùngcao nguyên đá Đồng Văn tỉnh Hà Giang cũng có nhu cầu được chăm sóc sứckhỏe bà mẹ trẻ em và KHHGĐ rất cao Tuy nhiên hoạt động của hệ thốngcung cấp dịch vụ bảo vệ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em ở nơi đây vẫn chưađược hoàn chỉnh do vậy đã bộc lộ những hạn chế ngày càng rõ rệt Đội ngũcán bộ y tế thiếu nhiều, đặc biệt là cán bộ biết tiếng địa phương, am hiểuphong tục tập quán của người dân tộc Trong khi đó mặt bằng dân trí tại các

xã vùng sâu vùng xa như ở đây lại thấp hơn so với các địa phương khác Việc

Trang 21

điều động và tuyển dụng cán bộ y tế có trình độ tay nghề cao trong lĩnh vựcCSSKSS đến các thôn bản này hoạt động là một điều không dễ dàng, trongkhi khả năng thích ứng với điều kiện kinh tế, chính sách đãi ngộ với bác sỹ cótrình độ chuyên môn tay nghề cao tình nguyện đến những nơi này công tác lạichưa được nhà nước quan tâm, mặt khác những cán bộ là người dân tộc kinhlại rất khó tiếp cận được với phong tục tập quán cũng như thói quyen sinhhoạt của đồng bào Điều này, không đáp ứng được nhu cầu của người dân vềchăm sóc sức khỏe sinh sản cho các dân tộc tại địa phương Chính vì nhiều lý

do như vậy cho nên việc đào tạo đội ngũ CĐTB đã đem lại những thành công

và lợi ích đáng kể CĐTB đã có những đóng góp tích cực đối với cộng đồng

Họ rất nhiệt tình trong công việc, đã tích cực tư vấn cho người dân thay đổihành vi LMAT, chủ động đi khám thai và đẻ tại cơ sở y tế Do vậy tỷ lệ tửvong mẹ, sơ sinh và tai biến sản khoa đã giảm đi đáng kể ở các địa bàn cóCĐTB Mô hình CĐTB ngày càng được cộng đồng chấp nhận vì sự phù hợpvới phong tục tập quán và văn hóa của địa phương Từ đó nhu cầu CĐTB đãđược khẳng định rõ ràng ở các khu vực khó khăn [12]

Nghiên cứu của Đặng Cẩm Tú năm 2011 tại Hà Nam, Lào Cai vàQuảng Bình là những tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc Bộ, miền núi phía Bắc vàBắc trung Bộ về Thực trạng thái độ nuôi con bằng sữa mẹ của phu nữ tại batỉnh: Lào Cai, Hà Nam và Quảng Bình năm 2011” cho thấy tỷ lệ phụ nữ cócon dưới 36 tháng tuổi, đang mang thai và chưa mang thai có thái độ cao vềviệc nuôi con bằng sữa mẹ nhất là những thái độ về lợi ích của sữa mẹ đối vớicon [26]

Công bố của Trịnh Hữu Vách và CS năm 2012 về tình hình khám thaicủa thai phụ tại 3 tỉnh có tỷ suất tử vong mẹ cao nhất cho biết tỷ lệ phụ nữbiết đúng số lần khám thai cần thiết còn thấp chiếm 56,2%, tỷ lệ phụ nữ đãkhám thai đủ 3 lần trở lên trong lần mang thai gần đây nhất chưa đạt tới

Trang 22

43,0%, với những người không đi khám thai họ hiểu sai là không cần đi khámthai hoặc không biết phải đi khám thai chiếm 63,3% [29].

Nghiên cứu của Trần Chí Liêm với đề tài đánh giá kiến thức của cán

bộ y tế và trang thiết bị tại trạm y tế xã về chăm sóc sơ sinh tại tỉnh QuảngNinh cũng cho biết sự bất cập và hạn chế không đáp ứng yêu cầu ChuẩnQuốc gia [16]

Mặt khác, trong nghiên cứu của Phạm Vân Thúy cho biết thiếu máu,thiếu sắt, thiếu kẽm, thiếu vitamin A ở trẻ 12 đến 72 tháng tuổi rất phổ biến ởcác nước đang phát triển và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gâytăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, đặc biệt đối với trẻ em Nghiên cứu cắt ngang

mô tả trên 586 trẻ Xác định tỷ lệ thiếu máu, thiếu sắt, thiếu kẽm và vitamin

A ở trẻ 12-72 tháng tuổi năm 2010, tại 19 tỉnh/thành của Việt Nam Tỷ lệ trẻ

em suy dinh dưỡng (SDD) thể thấp còi là 23,2%, SDD thể gày còm là 6,3%;7% số trẻ bị thừa cân/ béo phì Tỷ lệ thiếu máu là 9,1%, thiếu sắt là 12,9%; tỷ

lệ thiếu kẽm là 51,9%, tỷ lệ thiếu kẽm ở nông thôn cao hơn có YNTK so vớikhu vực thành thị; tỷ lệ thiếu vitamin A là 10,1% Tỷ lệ thiếu máu, thiếu sắtthuộc mức YNSKCĐ nhẹ theo phân loại của WHO Tỷ lệ thiếu máu và tìnhtrạng sắt của trẻ < 18 tháng cao nhất so với các nhóm tuổi khác Tỷ lệ trẻ bịthiếu kẽm thuộc mức YNSKCĐ nặng, thiếu kẽm ở nông thôn cao hơn cóYNTK so với thành thị Tỷ lệ thiếu vitamin A là 10,1% thuộc mức YNSKCĐmức trung bình Cần đẩy mạnh giáo dục kiến thức về dinh dưỡng hợp lý chocác bà mẹ có con nhỏ, nhằm phòng chống suy dinh dưỡng và thiếu vi chất chotrẻ em, nhất là cho trẻ dưới 18 tháng tuổi Tỷ lệ thiếu máu 9,1%, thiếu sắt12,9% thuộc mức YNSKCĐ nhẹ, theo phân loại của WHO Tỷ lệ thiếu máu

và tình trạng sắt của trẻ thay đổi theo tuổi, với độ tuổi < 18 tháng có nguy cơthiếu máu và thiếu máu thiếu sắt cao nhất so với các nhóm tuổi khác Tỷ lệ trẻ

bị thiếu kẽm là 51,9% thuộc mức YNSKCĐ nặng, và tỷ lệ thiếu kẽm ở nông

Trang 23

thôn cao hơn có YNTK so với thành thị Tỷ lệ thiếu vitamin A là 10,1% thuộcmức YNSKCĐ trung bình [24], [25].

Thái Lan Anh năm 2009 nghiên cứu can thiệp trên cộng đồng so sánhtrước sau có đối chứng với 257 trẻ 3 - <6 tháng tuổi, được chia làm 2 nhóm(nhóm can thiệp 128 trẻ, nhóm đối chứng 129 trẻ), tại 4 xã thuộc huyện KiếnThụy - Hải Phòng, thời gian can thiệp 9 tháng, với tiêu chuẩn lựa chọn: trẻ sơsinh đủ tháng, không có dị tật bẩm sinh hoặc bệnh mạn tính, trẻ không suydinh dưỡng nặng, hemoglobin máu > 80 g/L, retinol huyết thanh > 0,35mmol/L Nhóm can thiệp được uống vitamin A liều cao định kỳ 3 tháng, khởiđầu liều vitamin A 50.000 IU, khi trẻ trên 6 tháng tuổi liều vitamin A 100.000

IU, trẻ trên 12 tháng tuổi liều vitamin A 200.000 IU Nhóm đối chứng uốngvitamin A theo chương trình vitamin A quốc gia một năm 2 lần Chỉ số huyếthọc, retinol huyết thanh, ferritin huyết thanh thu thập tại điều tra ban đầu vàsau 9 tháng can thiệp Sau can thiệp, hiệu quả bổ sung sớm và ngắn vitamin Alàm tăng hàm lượng Hb và MCV ở nhóm can thiệp (111,2 ± 9,6 g/L; 81,80 ± 6,28fL) so với nhóm đối chứng (107,9 ± 9,9 g/L; 79,96 ± 6,59 fL), đặc biệt ởnhóm trẻ thiếu máu, làm giảm tỷ lệ thiếu máu (nhóm can thiệp tới 46,1%;nhóm đối chứng tới 20,5%) với RR (95% CI) = 0,66 (0,50-0,86) Không có sựkhác nhau về hàm lượng ferritin, dự trữ sắt ở 2 nhóm nghiên cứu (p>0,05) Bổsung sớm vitamin A liều cao 3 tháng một lần làm tăng hàm lượng Hb, MVC,qua đó làm giảm tỷ lệ thiếu máu với hiệu quả bảo vệ trong phòng chống thiếumáu là 32,5% Kiến nghị: Nên áp dụng bổ sung sớm vitamin A liều cao 3tháng một lần cho trẻ nhỏ ở vùng thiếu máu phổ biến, đặc biệt ở trẻ thiếuvitamin A kèm thiếu máu Cần có nghiên cứu đánh giá xem sau ngừng canthiệp hiệu quả của bổ sung đối với thiếu máu [1]

Nghiên cứu của Phạm Hồng Hải về thực trạng sử dụng dịch vụ chămsóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ người Dao tại một số xã tỉnh Bắc Cạn cho

Trang 24

thấy dịch vụ chăm sóc trước sinh tại xã còn tồn đọng cả năm công đoạn.Trong đó, tồn đọng lớn nhất (nút cổ chai) là sử dụng hiệu quả Có sự chênhlệch lớn giữa số lượng và chất lượng của hiệu quả đầu ra (Sử dụng - sử dụng

đủ - sử dụng hiệu quả) Vẫn còn tình trạng trẻ đẻ tại nhà, đặc biệt là đẻ tại nhàkhông có y tế giúp Dịch vụ chăm sóc trong và sau sinh tại xã còn tồn đọng ở

4 công đoạn, nút cổ chai là sử dụng hiệu quả Tỷ lệ sử dụng hiệu quả là 0%

Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ đúng lịch chiếm tỷ lệ cao trên 95%.Dịch vụ chăm sóc trẻ em tại xã còn tồn đọng ở 5 công đoạn, tồn đọng lớn nhất(nút cổ chai) là sử dụng hiệu quả Tỷ lệ sử dụng hiệu quả bằng 0% là do điểmdây chuyền lạnh không đạt yêu cầu [9]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Chinh về tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ

và kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con < 5 tuổi được thực hiện trên 273trẻ < 5 tuổi và các bà mẹ của chúng, tại xã Bình hòa, huyện Châu Thành, tỉnh

An Giang, năm 2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy có 22,7% trẻ bị suy dinhdưỡng, trong đó trẻ suy dưỡng độ 1 chiếm 69,4%, độ 2 là 27,0% và độ 3 là3,7%; trẻ ở nhóm tuổi từ 36 tháng đến 5 tuổi bị suy dinh dưỡng với tỷ lệ35,5% Tỷ lệ suy dinh dưỡng cao ở trẻ < 5 tuổi liên quan đến thực trạng kiếnthức và thực hành của các bà mẹ Có 15,8% bà mẹ có con <5 tuổi ở xã Bìnhhòa thiếu kiến thức cơ bản về phòng chống suy dinh dưỡng và hơn một nửa số

bà mẹ chưa biết đầy đủ các nguyên nhân chính gây suy dinh dưỡng trẻ em [2].Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tâm cho biết một số yếu tố về phía cungcấp dịch vụ ảnh hưởng đến hiệu quả của can thiệp làm mẹ an toàn tại 5 tỉnh

Hà Giang, Hòa Bình, Phú Thọ, Kon Tum và Ninh Thuận giai đoạn

2006-2010 Thiết kế nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu 10 cán bộ y tế tại trạm y tế

xã và 10 cán bộ y tế tuyến tỉnh trong nội dung đánh giá hiệu quả can thiệp của

dự án tại 5 tỉnh trên Kết quả đánh giá cho thấy cho thấy thiếu nhân lực y tế vàtrang thiết bị có ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình can thiệp làm mẹ

Trang 25

an toàn tại 5 tỉnh: nhân lực y tế thiếu ở các tỉnh Kon Tum và Ninh Thuận tỷ lệbác sĩ rất thấp 5/100.000 dân, Hòa Bình tỷ lệ bác sĩ là 20/100.000, Hà Giang

là 9 bác sĩ/100.000, Phú Thọ là 19 bác sĩ/100.000 Trang thiết bị của các trạm

y tế của 5 tỉnh cũng chưa được trang bị đầy đủ: 27,1% phòng khám thai đạtchuẩn, 20% phòng kế hoạch hóa gia đình đạt chuẩn, 44,8% phòng truyềnthông đạt theo chuẩn và chỉ có 6,2% số trạm y tế là có ít nhất 4 phòng khám.Thực trạng thiếu nhân lực y tế và trang thiết bị đã có ảnh hưởng đến việc triểnkhai dịch vụ làm mẹ an toàn tại các tỉnh trên [19]

Trang 26

Nghiên cứu của Phạm Khánh Tùng năm 2015 về đánh giá kiến thức,thực hành phòng uốn ván sơ sinh được thực hiện với 974 bà mẹ có con dưới 1tuổi tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông năm 2012 Kết quả cho thấy: Tỷ lệcác bà mẹ có kiến thức đúng, đầy đủ về phòng uốn ván sơ sinh đạt rất thấp(6,9%) Tỷ lệ tiêm mũi vacxin phòng uốn ván thứ 2 của bà mẹ qua phỏng vấn(thông tin nhớ lại) đạt 79%, từ phiếu tiêm chủng cũng rất thấp (4% bà mẹ còngiữ phiếu tiêm chủng), từ sổ quản lý đối tượng tiêm chủng là (32,7%) Vềthực hành phòng uốn ván sơ sinh của các bà mẹ, tỷ lệ đạt chỉ có 28,4% Trình

độ học vấn thấp, thu nhập của gia đình thấp, nghề nghiệp là nông dân, thì kiếnthức phòng uốn ván sơ sinh của các bà mẹ càng thấp (p<0,05); các bà mẹ biếtngày giờ tiêm chủng, được cán bộ y tế nhắc nhở sau lần tiêm chủng, hoặc đượccán bộ y tế, y tế thôn vận động tiêm chủng, thực hành đẻ sạch tốt, có tỷ lệ tiêmmũi vacxin phòng uốn ván thứ 2 đạt cao hơn các nhóm khác (p<0,05) [28]

Nghiên cứu của Hạc Văn Vinh công bố năm 2010 về kiến thức khá, thái

độ đúng và thực hành đúng của phụ nữ có con dưới 5 tuổi về làm mẹ an toàn(Chăm sóc trước, trong và sau sinh) tại 4 xã nghiên cứu thuộc huyện Võ Nhaicòn hạn chế 2) Nguồn thông tin giáo dục truyền thông chủ yếu là từ cácphương tiện thông tin đại chúng: ti vi, đài, báo, cán bộ y tế xã, cộng tác viêndân số xã, y tế bản; nội dung truyền thông chủ yếu là dân số- kế hoạch hoá giađình và tiêm chủng, còn ít nội dung liên quan đến làm mẹ an toàn [30]

Trang 27

Nghiên cứu của Lê Minh Chính về điều kiện sống và thực trạng côngtác chăm sóc sức khỏe sinh sản ở hai bản người dân tộc mông tại huyện Đồng

Hỷ và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, năm 2011 cho thấy đồng bào dân tộcMông vùng cao tỉnh Thái nguyên còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống,điều kiện sinh sống thiếu thốn mọi mặt Tại 2 bản nghiên cứu có tới gần 100%

là hộ nghèo và cận nghèo Các điều kiện về nhà ở, các công trình vệ sinh cònthiếu và kém vệ sinh Thói quen không dùng hố xí chiếm 46,4% hộ gia đình.Phụ nữ tuổi sinh đẻ có tỷ lệ mù chữ 27,1%, tiểu học 47,1% và trung học cơ sở24,7% Thực hiện khám thai định kỳ đúng và đủ số lần chiếm tỷ lệ 20,4% Tỷ

lệ PNCT uống viên sắt đủ chỉ có 17,1% và tiêm phòng UV đủ mũi là 48,1%.Kiến thức của phụ nữ về CSSKSS và LMAT với tỷ lệ từ dưới 25,0% có hiểubiết đúng Tỷ lệ phụ nữ sử dụng các dịch vụ về CSSKSS và KHHGĐ ở mức

20 - 30% [3]

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà công bố nhằm mô tả xu hướng sửdụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ tại hai tỉnhNinh Thuận và Kon Tum giai đoạn 2002 - 2012 Kết quả: tỷ lệ phụ nữ mangthai được khám thai đủ 3 lần ở Kon Tum có xu hướng cải thiện (tăng từ 57%năm 2002 lên 72,3% năm 2012) và có xu hướng giảm ở Ninh Thuận (77,5%năm 2002 giảm xuống 48,6% năm 2012) Tỷ lệ phụ nữ đẻ tại cơ sở y tế(CSYT) không thay đổi nhiều ở cả 2 tỉnh (Ninh Thuận từ 93,7 - 100% và KonTum từ 66,1 - 73,9%) Tỷ lệ đẻ tại nhà có sự trợ giúp của cán bộ y tế (CBYT)

ở Ninh Thuận (63,4% năm 2006 và 68,8% năm 2012) cao hơn Kon Tum(39,4% năm 2006 và 47,7% năm 2012) Tỷ lệ phụ nữ đẻ được chăm sóc tuầnđầu sau sinh có xu hướng giảm ở cả 2 tỉnh (Ninh Thuận giảm từ 91,5% năm

2002 xuống 82,8% năm 2012 và Kon Tum giảm từ 81,3% năm 2009 xuống64,9% năm 2012) [8]

Trang 28

Nguyễn Thu Hiền và CS công bố nghiên cứu năm 2011 với mục tiêu

mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ y tế làm mẹ an toàn của các bà mẹ ở 3 tỉnhmiền núi Tây Bắc Đối tượng: Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi là người nghèodân tộc thiểu số ở 3 tỉnh Điện Biên, Lai Châu và Sơn La, thời gian nghiên cứu

từ 1/2011 đến 12/2011 Kết quả: Tỷ lệ khám thai tại trạm y tế cao (82,2%), tỷ

lệ khám thai đủ 3 lần thấp (38,7%); vẫn còn 12,6% các bà mẹ không đượckhám thai lần nào Tỷ lệ bà mẹ được tiêm phòng uốn ván = 02 mũi khá cao(66,8%), vẫn còn 10,1% bà mẹ không được tiêm phòng uốn ván Tỷ lệ bà mẹđược uống viên sắt đạt mức trung bình (53,2%); tỷ lệ đẻ tại nhà khá cao(59,2%), đẻ tại trạm y tế thấp (17,3%), tỷ lệ bà mẹ đẻ tại nhà được cán bộ y tế

đỡ thấp (22,9%) và được cung cấp gói đẻ sạch là 53,4% Tỷ lệ các bà mẹ đượcthăm khám trong tuần đầu sau đẻ khá cao (75,2%) Kết luận: Cần tăng cườngcông tác truyền thông giáo dục sức khỏe về làm mẹ an toàn cho phụ nữ trong

độ tuổi sinh đẻ, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế đặc biệt ở tuyến xã [11]

Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà năm 2012 mô tả cắt ngang được thựchiện sau 1 năm kết thúc khóa đào tạo CĐTB 18 tháng nhằm đánh giá kiếnthức và kỹ năng về LMAT của CĐTB tại 3 tỉnh Hà Giang, Ninh Thuận vàKon Tum Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phiếu phát vấn tự điền đểđánh giá kiến thức và phương pháp quan sát để đánh giá kỹ năng Kết quả chothấy, sau 1 năm kết thúc đào tạo trở về địa phương thực hiện nhiệm vụ, kiếnthức và kỹ năng của CĐTB về LMAT tương đối tốt, tuy nhiên tỷ lệ trả lờiđúng tất cả các câu hỏi cũng như thực hiện đúng hoàn toàn các kỹ năng cònchưa cao Vì vậy, hàng năm các tỉnh rất cần tổ chức đào tạo lại cho CĐTB đểtăng cường hiệu quả làm việc sau đào tạo [7]

Trang 29

Trần Thị Khuyên năm 2009 công bố kết quả nghiên cứu kiến thức, thái

độ và thực hành của các bà mẹ về làm mẹ an toàn tại thị xã Lai Châu năm

2009 cho thấy: 72% bà mẹ ở xã đạt chuẩn quốc gia và 25% ở xã không đạtchuẩn quốc gia cho là trong thời gian mang thai nên khám thai từ 3 - 4 lần trởlên; 3,7% bà mẹ xã đạt chuẩn và 12% ở xã không đạt chuẩn cho rằng khôngcần tiêm phòng; 85,7% bà mẹ xã đạt chuẩn và 1% ở xã không đạt chuẩn cókiến thức khi có thai phải ăn đủ chất; 77,7% bà mẹ xã đạt chuẩn và 22% ở xãkhông chuẩn cho là khi có thai phải ăn đủ bữa 73,2% bà mẹ xã đạt chuẩn và20% xã không chuẩn nhận thức đúng là không nên có thai quá sớm hoặc quámuộn, 46% bà mẹ xã đạt chuẩn và 4% xã không chuẩn cho là nhiều hơn 4 contrở lên sẽ có nhiều nguy cơ khi mang thai 62,7% bà mẹ xã đạt chuẩn và 23%

bà mẹ xã không đạt chuẩn có thực hành khám thai 3 - 4 lần trở lên Đặc biệt55% bà mẹ xã không đạt chuẩn không khám thai khi mang thai 4,5% bà mẹ

xã đạt chuẩn và 10% bà mẹ xã không đạt chuẩn không tiêm phòng uốn vánkhi mang thai Có 12% bà mẹ xã đạt chuẩn và 76% bà mẹ xã không đạt chuẩnkhông uống viên sắt Có 46% bà mẹ xã không đạt chuẩn sinh con tại nhà dongười nhà đỡ hoặc tự đỡ [15]

Nghiên cứu của Trần An Dương về kiến thức làm mẹ an toàn của 413

bà mẹ đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi của 60 xã thuộc 2 tỉnh Bến Tre vàKon Tum, cho thấy tỷ lệ đối tượng biết các dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai,khi chuyển dạ và sau khi sinh rất thấp, tỷ lệ biết dấu hiệu cao nhất tương ứnglà: 29,9%; 40,2% và 75,5% Các tỷ lệ này ở Bến Tre cao hơn ở Kon Tum.Phần lớn (87,5% - 97,9%) đối tượng đến cơ sở y tế Nhà nước khi có dấu hiệunguy hiểm xảy ra trong lúc mang thai và sau khi sinh, không có sự khác biệtgiữa 2 tỉnh trong nghiên cứu [6]

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Bà mẹ đang nuôi con nhỏ

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi

- Người dân không mắc bệnh tâm thần

- Sống trên địa bàn huyện thời gian ít nhất là 12 tháng

- Đồng ý tự nguyện tham gia trong nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bà mẹ nuôi con từ 2 tuổi trở lên, có tiền sử mắc bệnh tâm thần hoặckhông có khả năng giao tiếp, thời gian sống tại địa phương dưới 12 thánghoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu ở bất cứ giai đoạn nào

Nhân viên y tế thôn/bản

Là những người trong mạng lưới y tế thôn/bản (Nhân viên y tế thôn cóthâm niên công tác từ 2 năm trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu)

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành ở 4 xã miền núi thuộc huyện Minh Hóa tỉnhQuảng Bình Bao gồm 4 xã/thị trấn như sau: Thị trấn Quy Đạt, xã Yên Hóa,

xã Thượng Hóa và xã Trọng Hóa

Huyện Minh Hóa là huyện miền núi, vùng cao nằm về phía Tây Bắc tỉnhQuảng Bình Phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào với 89 kmđường biên giới, phía Bắc giáp huyện Tuyên Hóa, phía Nam và Đông Nam

Trang 31

giáp huyện Bố Trạch Minh Hóa có dân tộc Kinh chiếm đa số và các dân tộc ítngười Bru - Vân Kiều, Chứt… tập trung ở các xã biên giới (Dân Hóa, TrọngHóa, Thượng Hóa và Hóa Sơn).

Theo niên giám thống kê năm 2014 của Chi cục Thống kê tỉnh QuảngBình cho thấy Huyện Minh Hóa có diện tích 1.413 km2, dân số trung bình là49.211 người, mật độ dân số là 35 người/km², số Trạm y tế xã/phường là 159,

tỷ số bác sĩ bình quân trên 1 vạn dân là 8,63, tỷ lệ trạm y tế xã/phường/thị trấn

có bác sĩ chiếm 94,9%, tỷ lệ trạm y tế xã/phường/thị trấn có nữ hộ sinh chiếm100%, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin là74,3%, tỷ lệ trẻ sơ sinh có trọng lượng dưới 2500 gram chiếm 1,81%, tỷ lệ trẻ

em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 19,0%

4 xã nghiên cứu được chúng tôi chia làm 2 nhóm để nghiên cứu và phântích theo đặc điểm không gian, địa hình là Nhóm xã gần trung tâm huyện vànhóm xã xa trung tâm huyện

Nhóm xã có địa điểm gần trung tâm huyện:

- Thị trấn Quy Đạt: Nằm ở phía đông của huyện Minh Hóa Tiếp giápvới các xã xung quanh: Phía đông giáp các xã Yên Hóa, phía nam giáp xãQuy Hóa, phía tây giáp xã Xuân Hóa, phía bắc giáp xã Yên Hóa Theo số liệuUBND Thị trấn năm 2015: dân số Thị trấn Quy Đạt là 6328 người, có 1630

hộ gia đình, trong đó 118 hộ dân tộc thiểu số, số phụ nữ có con dưới 2 tuổi là

202 người

- Xã Yên Hóa gần với Thị trấn Quy Đạt xã có các tuyến đườngnối đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 1A chạy qua xã Yên Hóa Dân số xã là

4381 người, 1046 hộ gia đình và số phụ nữ có con dưới 2 tuổi là 215 người

Nhóm xã có địa điểm xa trung tâm huyện:

- Xã Thượng Hóa là một xã biên giới với CHDCND Lào, xã nằm ở phíanam của huyện Minh Hóa, tiếp giáp về phía Tây Nam huyện Nakai tỉnh

Trang 32

Khammuane của CHDCND Lào Phía Nam và Đông là huyện Bố Trạch tỉnhQuảng Bình Phía Đông Bắc là xã Tân Hóa, phía Bắc giáp xã Trung Hóa, phíaTây Bắc giáp xã Hóa Sơn Dân số là 3476 người, 741 hộ gia đình, trong đó

859 người dân tộc thiểu số, số phụ nữ có con dưới 2 tuổi là 169 người

- Xã Trọng Hóa là một xã miền núi, nằm ở rìa Tây Bắc huyện Minh Hóa,trên dãy Giăng Màn một phần của dãy Trường Sơn Phía Bắc xã Trọng Hóa làcác xã của huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình Phía Tây là biên giới ViệtNam-Lào, tiếp giáp huyện Bualapha tỉnh Khammuane Phía Đông Đông Namcủa xã Trọng Hóa là xã Hóa Thanh, phía Nam là xã Dân Hóa Dân số là 3982người, 741 hộ gia đình, trong đó 3903 người dân tộc thiểu số, số phụ nữ cócon dưới 2 tuổi là 253 người

Trang 33

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3/2016 đến tháng 10/2016

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo nghiên cứu dịch tễ học mô tả có phân tích.Nghiên cứu được tiến hành dựa vào một cuộc điều tra cắt ngang, từ đónhằm mô tả kết quả thực hiện làm mẹ an toàn của bà mẹ nuôi con nhỏ vàđánh giá kiến thức và vai trò quản lý của cán bộ y tế thôn về công tác làm mẹ

an toàn tại 4 xã của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu

* Cỡ mẫu

+ Cỡ mẫu với phụ nữ nuôi con nhỏ

Cỡ mẫu được tính theo công thức:

2

2 2 / 1

) 1

(

d

p p

Trong đó:

- n: Cỡ mẫu cần phỏng vấn bà mẹ đang nuôi con nhỏ

- Z2

( 1-α/2): Hệ số tin cậy (với độ tin cậy 95% thì z = 1,96)

- p: Tỷ lệ bà mẹ đang nuôi con nhỏ có kiến thức đúng về làm mẹ antoàn Qua tham khảo các nghiên cứu có liên quan có kết quả thay đổi và chưa

có nghiên cứu nào toàn diện về vấn đề này tại địa điểm nghiên cứu, vì vậychúng tôi đã chọn ước tính p=0,5

- d: Sai số mong muốn (ước tính d = 0,05)

Thay vào công thức, ta có cỡ mẫu được chọn vào nghiên cứu là 384 bà

mẹ nuôi con nhỏ

Trang 34

Từ cỡ mẫu nói trên, tại mỗi xã chúng tôi phỏng vấn 96 bà mẹ có connhỏ tương ứng với các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ Trong thực

tế triển khai nghiên cứu chúng tôi xác định cỡ mẫu với bà mẹ có con nhỏ là

385 người

+ Cỡ mẫu với nhân viên y tế thôn:

Toàn bộ nhân viên y tế thôn của 4 xã trong nghiên cứu, chúng tôi chọnchủ đích là 40 nhân viên y tế thôn tham gia nghiên cứu

+ Chọn mẫu với phụ nữ có con nhỏ

Tại mỗi xã lập danh sách phụ nữ có con nhỏ dưới 2 tuổi được phân loạitheo từng thôn/bản, theo danh sách thôn/bản chúng tôi đã chọn một thôn/bảnbất kỳ để tiến hành cuộc điều tra phỏng vấn phụ nữ có con nhỏ Do địa hìnhnghiên cứu miền núi và giao thông không thuận lợi nên việc xác định hộ giađình của phụ nữ có con nhỏ chúng tôi chọn theo phương pháp thuận tiện, các

hộ gia đình tiếp theo chúng tôi lựa chọn gia đình phụ nữ có con nhỏ gần nhất

và thuận tiện cho việc đi lại nhất

Nếu có hộ gia đình từ chối, hoặc phụ nữ có con nhỏ nằm trong tiêuchuẩn loại trừ thì sang điều tra viên sẽ di chuyển sang hộ gia đình liền kề tiếptheo gần nhất cho đến khi đủ số lượng phụ nữ tương ứng với cỡ mẫu đã tính

Căn cứ để xác định hộ gia đình có phụ nữ có con nhỏ dưới 2 tuổi:

Trang 35

- Căn cứ theo Danh sách tại sổ quản lý phụ nữ có con nhỏ của cán bộphụ trách dân số của UNND xã.

- Ngoài ra, khi đến hộ gia đình có thể căn cứ vào giấy khai sinh hoặc sổ

hộ khẩu để xác định số tháng tuổi của trẻ nhỏ tương ứng tiêu chuẩn lựa chọn

- Trong nghiên cứu này, trẻ được xác định là dưới 2 tuổi bao gồmnhững trẻ sinh trong khoảng thời gian sau ngày điều tra của hai năm trước

+ Chọn mẫu với nhân viên y tế thôn:

- Chọn toàn bộ nhân viên y tế thôn của 4 xã/thị trấn của huyện Minh

Hóa Việc chọn xã đầu tiên và các xã tiếp theo tương ứng với cuộc điều traphỏng vấn với bà mẹ có con nhỏ

- Trong trường hợp nhân viên y tế thôn đi vắng thì hẹn gặp lại vào thờiđiểm khác để tiến hành phỏng vấn

2.2.3 Biến số sử dụng trong nghiên cứu

* Nội dung nghiên cứu của Mục tiêu 1- Kiến thức, thái độ và thực hành

về làm mẹ an toàn của bà mẹ nuôi con nhỏ:

+ Thông tin chung về đối tượng

 Tuổi của bà mẹ

 Dân tộc

 Trình độ học vấn của bà mẹ

 Nghề nghiệp chính của bà mẹ

 Tình hình kinh tế gia đình của bà mẹ

+ Kết quả thực hiện làm mẹ an toàn

 Số lần sinh con của bà mẹ

 Số lần khám thai của bà mẹ

 Thời điểm khám thai của bà mẹ

Trang 36

 Nơi khám thai nhiều nhất của bà mẹ

 Cán bộ y tế khám thai chính cho bà mẹ

 Nội dung tư vấn khi khám thai cho bà mẹ

 Số bà mẹ được tiêm phòng uốn ván

 Số bà mẹ được uống viên sắt

 Số bà mẹ được cấp Vitamin A uống sau sinh

 Nơi đẻ của bà mẹ

 Người đỡ đẻ cho bà mẹ

 Những tai biến xẩy ra cho bà mẹ

 Số bà mẹ được chăm sóc sau sinh

 Thời điểm chăm sóc sau sinh của bà mẹ

 Số lần chăm sóc sau sinh của bà mẹ

 Cán bộ y tế chăm sóc chính cho bà mẹ

* Nội dung nghiên cứu của Mục tiêu 2 - Kiến thức và vai trò quản lý của

nhân viên y tế thôn về công tác làm mẹ an toàn:

+ Thông tin chung vềđối tượng:

 Tuổi của NVYT thôn

 Thành phần dân tộc của NVYT thôn

 Giới tính của NVYT thôn

 Trình độ học vấn cao nhất của NVYT thôn

 Trình độ chuyên môn cao nhất của NVYT thôn

 Thâm niên công tác của NVYT thôn

 Việc được tập huấn về chuyên môn đảm nhận của NVYT thôn

Trang 37

+ Kiến thức chuyên môn của đối tượng:

 Hiểu biết về đặc điểm có thai của phụ nữ

 Hiểu biết về số lần khám thai

 Hiểu biết về thời điểm khám thai

 Hiểu biết về số lần tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai

 Hiểu biết về dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai

 Hiểu biết về dấu hiệu chuyển dạ

 Hiểu biết về dấu hiệu nguy hiểm trong chuyển dạ

 Hiểu biết về dấu hiệu nguy hiểm trong chuyển dạ cần chuyển đến CSYT

 Hiểu biết về dấu hiệu nguy hiểm của bà mẹ sau sinh

 Hiểu biết về dấu hiệu nguy hiểm của sơ sinh sau đẻ

 Hiểu biết về thời điểm bú mẹ sau sinh

 Hiểu biết về khái niệm bú mẹ hoàn toàn

 Hiểu biết về thời gian bú mẹ hoàn toàn

 Hiểu biết về thời gian cho trẻ ăn dặm

 Hiểu biết về thức ăn cho trẻ khi ăn dặm

+ Vai trò của đối tượng:

 NVYT thôn kiêm nhiệm các chức danh khác tại thôn xóm

 Lý do chính NVYT thôn tham gia công tác hiện tại

 NVYTT biết về số phụ nữ đang mang thai của địa bàn phụ trách

 Cách thức của NVYT thôn khi phát hiện phụ nữ mang thai

 CBYT thôn đã thăm phụ nữ trước sinh trong năm trước

 Nội dung đã tư vấn của NVYT thôn cho phụ nữ mang thai nói chung

Trang 38

 Nội dung đã tư vấn của NVYT thôn cho phụ nữ mang thai có dấu hiệunguy cơ

 NVYT thôn đã thăm phụ nữ sau sinh trong năm trước

 Nội dung NVYT thôn đã tư vấn khi thăm phụ nữ sau sinh

 NVYT thôn hài lòng với công việc đảm nhiệm

 NVYT thôn không hài lòng với công việc đảm nhiệm

 NVYT thôn đã tham gia đỡ đẻ trong năm trước

 NVYT thôn đã sử dụng gói đỡ đẻ sạch khi đỡ đẻ

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin

- Phỏng vấn trực tiếp với các đối tượng là bà mẹ đang nuôi con nhỏbằng bộ công cụ điều tra phỏng vấn đã chuẩn bị sẵn

- Người dẫn đường cho điều tra viên là trưởng thôn hoặc chi hội trưởngphụ nữ thôn Những người được lựa chọn biết hộ đầu tiên trong thôn Khôngchọn NVYT thôn hoặc CTVDS làm người dẫn đường để tránh các sai lệch cóthể ảnh hưởng tới kết quả phỏng vấn

- Trong trường hợp đối tượng đi vắng, phỏng vấn viên phải hẹn giađình quay lại để phỏng vấn nếu đối tượng không đi xa, nếu quay lại lần thứ 3vẫn không gặp thì phải phỏng vấn thêm đối tượng mới cho đủ 7 người/xã

- Nếu đối tượng từ chối hợp tác trả lời thì điều tra viên chuyển sang đốitượng khác để phỏng vấn

- Trong quá trình phỏng vấn chỉ có hai người (điều tra viên và đốitượng phỏng vấn), và ngồi đối diện nhau, không có người thứ ba, trừ khi đốitượng phỏng vấn là người dân tộc ít người cần phải có thêm phiên dịch

Trang 39

2.2.5 Xử lý số liệu

Tiến hành xử lý thô trước khi nhập số liệu vào máy tính, loại bỏ các bộphiếu phỏng vấn không đạt yêu cầu Nhập số liệu vào máy tính 2 lần bằngphần mềm EPI DATA ENTRY 3.1 và phân tích, xử lý số liệu theo phần mềmthống kê SPSS 16.0

Các thông số thống kê, phân tích trong nghiên cứu: các thông số đượcthể hiện dưới dạng bảng số lượng và tỷ lệ phần trăm, trình bày qua bảng vàbiểu đồ

2.2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Các thông tin sổ sách điều tra sẽ được sự đồng ý của Giám đốc Trungtâm y tế dự phòng huyện Minh Hóa

- Đảm bảo quyền “tự nguyện tham gia” của các đối tượng, những đốitượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích và nội dung triểnkhai nghiên cứu, chỉ đưa vào nghiên cứu những đối tượng tự nguyện, nếu từchối hoặc bỏ cuộc thì loại khỏi nghiên cứu

- Các điều tra viên được tập huấn về kỹ năng giao tiếp Khi điều traxong các điều tra viên sẵn sàng tư vấn cho đối tượng tham gia phỏng vấn

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ có con nhỏ về LMAT

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Nhóm tuổi của bà mẹ có con dưới 2 tuổi theo nhóm xã

Độ tuổi

Trung tâm (n=192)

Xa trung tâm (n=193)

Tổng số (n=385)

20-24 46 24,1 60 31,1 106 27,525-29 73 38,0 61 31,6 134 34,830-34 45 23,4 43 22,3 88 22,935-39 21 10,9 24 12,4 45 11,7

≥ 40 tuổi 7 3,6 5 2,6 12 3,1

Tỷ lệ nhóm tuổi của bà mẹ có con dưới 2 tuổi ở nhóm tuổi 25-29 chiếm

tỷ lệ cao nhất là 34,8%, tiếp theo là nhóm tuổi 18-24 chiếm 27,5% Nhóm tuổi

từ 30-34 và 35-39 có tỷ lệ tương ứng là 22,9% và 11,7% Nhóm tuổi từ 40tuổi trở lên chỉ chiếm 3,1%

Bảng 3.2 Tỷ lệ dân tộc của bà mẹ có con dưới 2 tuổi theo nhóm xã

Xã Dân tộc

Trung tâm (n=192)

Xa trung tâm (n=193)

Tổng số (n=385)

Kinh 187 97,4 66 34,2 253 65,7Mày, Khùa, Rục… 5 2,6 127 65,8 132 34,3

Bà mẹ có con dưới 2 tuổi thuộc dân tộc thiểu số chủ yếu ở các xã miềnnúi xa trung tâm huyện chiếm 65,8%, dân tộc kinh chiếm 34,2% Tại các xãgần trung tâm huyện Minh Hóa thì dân tộc kinh chiếm đa số là 97,4% so vớidân tộc thiểu số chỉ chiếm 2,6% Tỷ lệ dân tộc kinh của bà mẹ ở 4 xã là65,7% và dân tộc thiểu số là 34,3%

Ngày đăng: 29/07/2019, 17:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Phạm Hồng Hải và Cs. (2011), “Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ người Dao tại một số xã miền núi thuộc huyện Bạch Thông, Bắc Kạn”, Tạp chí Y học thực hành, Số 4(760), Tr. 45-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sócsức khỏe sinh sản của phụ nữ người Dao tại một số xã miền núi thuộchuyện Bạch Thông, Bắc Kạn”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Phạm Hồng Hải và Cs
Năm: 2011
10. Lương Xuân Hiến và Cs. (2009), “Kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của bà đỡ thôn bản/y tế thôn bản ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai”, Tạp chí Y học thực hành, Số 6(666), Tr. 73-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinhsản của bà đỡ thôn bản/y tế thôn bản ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai”, "Tạpchí Y học thực hành
Tác giả: Lương Xuân Hiến và Cs
Năm: 2009
11. Nguyễn Thu Hiền và Nguyễn Văn Sơn (2011), “Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế làm mẹ an toàn tại 3 tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam”, Tạp chí Y học thực hành, Số 10(788), Tr. 130-132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụngdịch vụ y tế làm mẹ an toàn tại 3 tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam”, "Tạpchí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Thu Hiền và Nguyễn Văn Sơn
Năm: 2011
12. Nguyễn Thị Thanh Hương và Nguyễn Quang Mạnh (2013), “Hiệu quả mô hình cô đỡ thôn bản người dân tộc thiểu số tại huyện Đồng Văn Hà Giang trong 3 năm 2010-2012”, Tạp chí Y học thực hành, Số 12(899), Tr. 86-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quảmô hình cô đỡ thôn bản người dân tộc thiểu số tại huyện Đồng Văn HàGiang trong 3 năm 2010-2012”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương và Nguyễn Quang Mạnh
Năm: 2013
13. Nguyễn Tuấn Hưng và Nguyễn Đức Vinh (2011), “Khảo sát thực trạng hệ thống tổ chức và nhân lực các cơ sở cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản toàn quốc năm 2010”, Tạp chí Y học thực hành, Số 791, Tr. 45-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạnghệ thống tổ chức và nhân lực các cơ sở cung cấp dịch vụ sức khỏe sinhsản toàn quốc năm 2010”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Tuấn Hưng và Nguyễn Đức Vinh
Năm: 2011
14. Nguyễn Tuấn Hưng và Cs. (2012), “Một số nhận xét kết quả công tác làm mẹ an toàn trong toàn quốc năm 2011”, Tạp chí Y học thực hành, Số 5(821), Tr. 144-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét kết quả công táclàm mẹ an toàn trong toàn quốc năm 2011”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Tuấn Hưng và Cs
Năm: 2012
15. Trần Thị Khuyên và Cs. (2013), “Kiến thức, thái độ và thực hành về làm mẹ an toàn của các bà mẹ tại thị xã Lai Châu năm 2009”, Tạp chí Y học thực hành, Số 5(869), Tr. 157-161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và thực hành về làmmẹ an toàn của các bà mẹ tại thị xã Lai Châu năm 2009”, "Tạp chí Y họcthực hành
Tác giả: Trần Thị Khuyên và Cs
Năm: 2013
16. Trần Chí Liêm và Cs. (2009), “Đánh giá kiến thức cán bộ y tế và trang thiết bị tại trạm y tế xã về chăm sóc trẻ sơ sinh”, Tạp chí Y học thực hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức cán bộ y tế và trangthiết bị tại trạm y tế xã về chăm sóc trẻ sơ sinh”
Tác giả: Trần Chí Liêm và Cs
Năm: 2009
18. Vũ Xuân Phú và Cs. (2011), “Tình hình sức khỏe sinh sản và sức khỏe trẻ em tại Hòa Bình: Kết quả cơ bản”, Tạp chí Y học thực hành, Số 6(771), Tr. 117-121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sức khỏe sinh sản và sức khỏetrẻ em tại Hòa Bình: Kết quả cơ bản”," Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Vũ Xuân Phú và Cs
Năm: 2011
19. Nguyễn Thị Thanh Tâm, Nguyễn Viết Tiến và Đào Văn Dũng (2015),“Tác động của tình trạng nhân lực và trang thiết bị đến việc triển khai công tác làm mẹ an toàn tại 5 tỉnh Việt Nam giai đoạn 2006-2010”, Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXV, số 4(164), Tr. 112- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của tình trạng nhân lực và trang thiết bị đến việc triển khaicông tác làm mẹ an toàn tại 5 tỉnh Việt Nam giai đoạn 2006-2010”, "Tạpchí Y học dự phòng
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Tâm, Nguyễn Viết Tiến và Đào Văn Dũng
Năm: 2015
20. Lê Thiện Thái (2012), “Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010-2011”, Tạp chí Y học thực hành, Số 4(816), Tr. 99-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thứcvà thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con nhỏdưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010-2011”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Lê Thiện Thái
Năm: 2012
21. Lê Thiện Thái (2012), “Mô tả kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010-2011”, Tạp chí Y học thực hành, Số 4(816), Tr. 139-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàncủa nam giới có vợ 15-49 tuổi có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọnăm 2010-2011”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Lê Thiện Thái
Năm: 2012
22. Nguyễn Đức Thanh và Cs. (2009), “Thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ 15-49 tuổi ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai”, Tạp chí Y học thực hành, Số 6(666), Tr. 71-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành chăm sóc sức khỏe sinhsản của phụ nữ 15-49 tuổi ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai”, "Tạp chí Y họcthực hành
Tác giả: Nguyễn Đức Thanh và Cs
Năm: 2009
23. Lê Minh Thi (2006), “Tập quán chăm sóc sau sinh của phụ nữ và các yếu tố văn hóa- xã hội liên quan tại huyện Ân Thi, Hưng Yên”, Tạp chí Y tế Công cộng, Số 6, Tr. 20-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán chăm sóc sau sinh của phụ nữ và các yếutố văn hóa- xã hội liên quan tại huyện Ân Thi, Hưng Yên”, "Tạp chí Y tếCông cộng
Tác giả: Lê Minh Thi
Năm: 2006
24. Phạm Vân Thúy (2014), “Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai tại một số xã huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình năm 2012”, Tạp chí Y tế Công cộng, Số 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai tại một số xãhuyện Quỳnh Phụ, Thái Bình năm 2012”, "Tạp chí Y tế Công cộng
Tác giả: Phạm Vân Thúy
Năm: 2014
26. Đặng Cẩm Tú, Khương Văn Duy và Nguyễn Thị Hòa Bình (2012),“Thực trạng thái độ nuôi con bằng sữa mẹ của phu nữ tại ba tỉnh: Lào Cai, Hà Nam và Quảng Bình năm 2011”, Tạp chí Y học thực hành, Số 4(817), Tr. 119-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thái độ nuôi con bằng sữa mẹ của phu nữ tại ba tỉnh: Lào Cai,Hà Nam và Quảng Bình năm 2011”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Đặng Cẩm Tú, Khương Văn Duy và Nguyễn Thị Hòa Bình
Năm: 2012
27. Nguyễn Song Tú, Trần Thúy Nga, Frank Wieringa, Lê Danh Tuyên và Hoàng Văn Phương (2016), “Thực trạng thiếu Vitamin A tiền lâm sàng ở phụ nữ có thai và một số yếu tố liên quan tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXVI, số 8(181), Tr. 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thiếu Vitamin A tiền lâm sàng ởphụ nữ có thai và một số yếu tố liên quan tại huyện Phú Bình, tỉnh TháiNguyên”, "Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Nguyễn Song Tú, Trần Thúy Nga, Frank Wieringa, Lê Danh Tuyên và Hoàng Văn Phương
Năm: 2016
28. Phạm Khánh Tùng và Cs. (2015), “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh uốn ván sơ sinh của bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện Tuy Đức, Đắc Nông, năm 2012”, Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXV, số 9(169), Tr. 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành và một số yếutố liên quan đến phòng bệnh uốn ván sơ sinh của bà mẹ có con dưới 1 tuổitại huyện Tuy Đức, Đắc Nông, năm 2012”, "Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Phạm Khánh Tùng và Cs
Năm: 2015
29. Trịnh Hữu Vách và Trịnh Thị Thắm (2012), “Tình hình khám thai của thai phụ tại 3 tỉnh có tỷ suất tử vong mẹ cao nhất”, Tạp chí Y học thực hành, Số 7(830), Tr. 142-144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình khám thai củathai phụ tại 3 tỉnh có tỷ suất tử vong mẹ cao nhất”, "Tạp chí Y học thựchành
Tác giả: Trịnh Hữu Vách và Trịnh Thị Thắm
Năm: 2012
30. Hạc Văn Vinh và Cs. (2010), “Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ (15-49) có con dưới 5 tuổi về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Y học thực hành, Số 9(732), Tr. 119-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hànhcủa phụ nữ (15-49) có con dưới 5 tuổi về chăm sóc sức khỏe sinh sản tạihuyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Hạc Văn Vinh và Cs
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w