1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ tác DỤNG PHỤC hồi CHỨC NĂNG vận ĐỘNG bàn TAY và bàn CHÂN BẰNG điện TRƯỜNG CHÂM TRÊN BỆNH NHÂN LIỆT nửa NGƯỜI DO NHỒI máu não

73 191 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 19,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HUỲNH ĐĂNG NINHđánh giá TáC DụNG PHụC HồI CHứC NĂNG VậN ĐộNG BàN TAY Và BàN CHÂN BằNG ĐIệN TRƯờNG CHÂM TRÊN BệNH NHÂN LIệT NửA NGƯờI DO NHồI MáU NãO ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYấN KHO

Trang 1

HUỲNH ĐĂNG NINH

đánh giá TáC DụNG PHụC HồI CHứC NĂNG

VậN ĐộNG BàN TAY Và BàN CHÂN BằNG ĐIệN TRƯờNG CHÂM TRÊN BệNH NHÂN LIệT NửA NGƯờI DO NHồI MáU NãO

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYấN KHOA CẤP II

HÀ NỘI - 2014

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Trang 2

đánh giá TáC DụNG PHụC HồI CHứC NĂNG VậN ĐộNG BàN TAY Và BàN CHÂN BằNG ĐIệN TRƯờNG CHÂM TRÊN BệNH NHÂN LIệT NửA NGƯờI DO NHồI MáU NãO

Chuyờn ngành : Y học cổ truyền

Mó số : CK 62 72 60 01

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYấN KHOA CẤP II

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Vũ Thường Sơn

2 PGS.TS Đặng Kim Thanh

HÀ NỘI - 2014DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BN : Bệnh nhõn

Trang 3

ĐTC : Điện trường châm

TBMMN : Tai biến mạch máu não

TBNMN : Tai biến nhồi máu não

Trang 4

1.1.1 Định nghĩa TBMMN 1

1.1.2 Phân loại 1

1.1.3 Nguyên nhân 1

1.2 Dịch tễ học TBMMN 2

1.2.1 Tình hình TBMMN trên thế giới 2

1.2.2 Tình hình TBMMN ở Việt nam 3

1.2.3 Sơ lược về hệ thống động mạch tưới máu não 4

1.2.4 Nhồi máu não 7

1.2.5 Sơ lược giải phẫu phần cơ chi trên 10

1.2.6 Giải phẫu định khu cẳng chân trước và bàn chân 11

1.2.7 Phục hồi liệt vận động cho bệnh nhân TBMMN 14

1.3 Tai biến mạch máu não theo Y học cổ truyền 15

1.3.1 Nguyên nhân 15

1.3.2 Cơ chế bệnh sinh 16

1.3.3 Triệu chứng lâm sàng 17

1.3.4 Điều trị 18

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 21

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 23

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 23

2.2.3 Phương tiện nghiên cứu 23

2.2.4 Phác đồ huyệt 26

2.2.5 Kỹ thuật châm 30

2.2.6 Quy trình nghiên cứu 31

Trang 5

2.2.9 Xử lý và phân tích số liệu 36

2.2.10 Kế hoạch nghiên cứu 36

2.2.11 Đạo đức trong nghiên cứu 37

CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nhồi máu não 39

3.1.1 Theo tuổi và giới 39

3.1.2 Theo tổn thương trên lâm sàng 40

3.1.3 Theo thời gian bị bệnh 40

3.1.4 Theo mức độ di chứng lúc vào của 2 nhóm 41

3.1.5 Theo thể bệnh của Y học cổ truyền 42

3.2 Đánh giá kết quả điều trị 43

3.2.1 Đánh giá theo y học hiện đại 43

3.2.2 Cận lâm sàng 46

3.3 Đánh giá theo y học cổ truyền 49

CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 54

4.1 Đặc điểm chung của 2 nhóm nghiên cứu và nhóm chứng 54

4.2 Kết quả nghiên cứu lâm sàng 54

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 55

ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới 39 Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân theo tổn thương định khu bên liệt trên lâm

sàng 40 Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo thời gian từ khi bắt đầu bị nhồi máu

não đến khi được điều trị phục hồi liệt vận động 40 Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo độ liệt (Rankin) lúc vào của 2 nhóm

châm 43 Bảng 3.9 Triển độ liệt Rankin trước-sau điều trị ở nhóm hào châm 44 Bảng 3.10 .So sánh tiến triển mức độ liệt Rankin giữanhóm điện trường

châm và hào châm 44 Bảng 3.11 Kết quả tiến triển vận động theo thang điểm Orgogozo nhóm

điều trị bằng điện trường châm 45 Bảng 3.12 Kết quả tiến triển vận động theo thang điểm Orgogozo nhóm

điều trị bằng hào châm 45 Bảng 3.13 Sự biến đổi biên độ (µV) của các đơn vị vận động nhóm

trường châm trên điện cơ đồ 46 Bảng 3.14 Sự biến đổi biên độ (µV) của các đơn vị vận động nhóm hào

châm trên điện cơ đồ 46

Trang 7

Bảng 3.16 Sự biến đổi tần số đơn vị vận động (ms) của nhóm trường châm 47 Bảng 3.17 Sự biến đổi tần số đơn vị vận động (ms) của nhóm hào châm.

48

Bảng 3.18 So sánh tỷ lệ tăng về tần số các đơn vị vận động(ms) giữa

nhóm trường châm và nhóm hào châm 48 Bảng 3.19 Sự biến đổi sức cơ bàn tay (mmHg) ở hai nhóm nghiên cứu.49 Bảng 3.20 Sự tiến triển mức độ liệt ở bệnh nhân thể trúng phong kinh

lạc nhóm trường châm 49 Bảng 3.21 Sự tiến triển mức độ liệt ở bệnh nhân thể trúng phong kinh

lạc nhóm hào châm 50 Bảng 3.22 Sự tiến triển mức độ liệt ở bệnh nhân thể trúng phong tạng

phủ nhóm trường châm 50 Bảng 3.23 Sự tiến triển mức độ liệt ở bệnh nhân thể trúng phong tạng

phủ nhóm hào châm 51 Bảng 3.24 Tiến triển vận động chi trên theo thể bệnh TPKL-TPTP ở

nhóm trường châm qua thang điểm Orgogozo 51 Bảng 3.25 Tiến triển vận động chi trên theo thể bệnh TPKL - TPTP ở

nhóm hào châm qua thang điểm Orgogozo 52 Bảng 3.26 Tiến triển vận động chi trên theo trạng thái hư-thực ở nhóm

trường châm qua thang điểm Orgogozo 52

Bảng 3.27 Tiến triển vận động chi trên theo trạng thái hư-thực ở nhóm hào

châm qua thang điểm Orgogozo 53

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là bệnh thường gặp của não, chiếm

vị trí hàng đầu trong các bệnh của hệ thần kinh trung ương và có nguy cơngày càng gia tăng Bệnh do nhiều nguyên nhân gây nên, gặp ở mọi lứa tuổi,không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, sắc tộc, địa dư, hoàn cảnh kinh tế - xãhội Bệnh có thể gây tử vong nhanh chóng hoặc để lại di chứng nặng nề suygiảm trí tuệ, nói khó, đặc biệt là di chứng vận động, không những ảnh hưởngtrực tiếp đến sức khoẻ lao động và cuộc sống người bệnh mà còn ảnh hưởngtới gia đình và xã hội [1] Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ tửvong do TBMMN đứng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư [2]

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới (Muray, 1996) năm 1990 uớctính có khoảng 2.100.000 nguời bị tử vong vì TBMMN tại châu Á, trong đó1.300.000 người ở Trung Quốc, 448.000 người ở Ấn Độ [3]

Thống kê tại Hoa Kỳ (2001), ước tính mỗi năm có khoảng 700-750.000người dân bị TBMMN trong đó có khoảng 130.000 người tử vong [2]

Ngày nay nhờ sự tiến bộ vượt bậc của YHHĐ trong chẩn đoán và điềutrị nên tỷ lệ tử vong do TBMMN ngày càng giảm đi nhưng tỷ lệ sống sót vớinhiều di chứng, đặc biệt là di chứng liệt vận động ngày càng tăng lên Điều đócũng có nghĩa là tỷ lệ tàn phế cũng tăng lên, gây ảnh hưởng nặng nề tới chấtlượng cuộc sống, bệnh nhân phải phụ thuộc trong sinh hoạt

Do vậy phục hồi chức năng đặc biệt là chức năng vận động cho bệnh nhânTBMMN nói chung, bệnh nhân NMN nói riêng trở thành một vấn đề khókhăn và cần thiết Phục hồi chức năng với nhiều phương pháp, YHHĐ có vaitrò quan trọng trong việc chẩn đoán, điều trị cũng như dự phòng cho bệnhnhân TBMMN Bên cạnh đó Y học cổ truyền cũng đã góp phần không nhỏtrong việc điều trị phục hồi di chứng TBMMN bằng nhiều phương pháp rấtphong phú, đa dạng như: châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt dưỡng sinh, vật lý trịliệu, thuốc đã được công nhận có hiệu quả

Châm cứu đã có lịch sử lâu đời, nhiều sách kinh điển của Trung y như:Linh khu, Châm cứu Giáp ất kinh, Châm cứu Đại Thành, đã đề cập đến kinhnghiệm chữa một số chứng bệnh có liệt biểu hiện là chân tay mềm rũ “vô lực”

Trang 9

hoặc tê bại, không có cảm giác, cơ bị teo, vận động hạn chế hoặc hoàn toànkhông cử động được mà trong thuật ngữ Đông y gọi là “nuy chứng” TrongThiên cửu châm sách Linh khu có giới thiệu hình thái và tác dụng của 9 loạikim, trong đó có Hào châm được sử dụng nhiều nhất Riêng hai loại kim số 8(Trường châm) và kim số 9 (Đại châm) đã được sử dụng nhiều trong 4 thập kỷnay.

Ở Việt nam, các phương pháp, kỹ thuật châm cứu đã được GS.NguyễnTài Thu nghiên cứu và sử dụng từ những năm 70 của thế kỷ 20 để điều trịnhững bệnh nhân bị tổn thương tủy sống, viêm não, TBMMN và các hộichứng liệt nửa người.Từ đó đến nay châm cứu đã và đang không ngừng đượccải tiến và hoàn thiện là phương pháp Tân châm đem lại nhiều kết quả khảquan hơn cho bệnh nhân liệt, nhưng di chứng liệt bàn tay, bàn chân trên bệnhnhân NMN vẫn còn là một vấn đề nan giải trong phục hồi chức năng vậnđộng cho bệnh nhân

Trong YHCT,phục hồi chức năng liệt có nhiều phương thức khác nhaunhư dùng thuốc,các bài thuốc,không dùng thuốc như xoa bóp,bấm huyệt,thủychâm.v.v.và cũng đã đạt nhiều kết quả tốt.Tuy vậy nhưng vấn đề phục hồichức năng các ngọn chi thường là rất khó khăn,chính vì vậy mà chúng tôimuốn đưa ra một phương pháp thường được sử dụng ở Viện Châm CứuTrung ương thấy có hiệu quả tốt trong phục hồi chức năng vận động bàn tay,bàn chân trên bệnh nhân NMN giai đoạn sau cấp bằng điện trường châm.Với mong muốn thừa kế và phát huy nền y học cổ truyền cũng như nhằmgóp phần chứng minh tác dụng của điện trường châm trong điều trị phục hồivận động các ngọn chi ở bệnh nhân liệt sau tai biến TBNMN, chúng tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động bàn tay, bàn chân

bằng điện trường châm trên bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não.”

với hai mục tiêu sau:

1 Đánh giá tác dụng phục hồi vận động bàn tay, bàn chân trên bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não sau giai đoạn cấp bằng phương pháp điện trường châm.

2 Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp điện

Trang 10

trường châm.

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về TBMMN theo y học Hiện đại

1.1.1 Định nghĩa TBMMN

Theo bảng phân loại bệnh tật quốc tế là thứ 10 (ICD-10), TBMMN là sựxảy ra đột ngột các thiếu sót chức năng thần kinh, thường là khu trú hay là lantoả, tồn tại quá 24 giờ hoặc gây tử vong trong 24 giờ và thường do nguyênnhân mạch não Các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn thương [4][5]TBMMN bao gồm: Nhồi máu não, chảy máu não, và chảy máu dưới nhện

1.1.2 Phân loại: TBMMN gồm hai loại chính

1.1.2.1 Nhồi máu não (thiếu máu não cục bộ): là tình trạng mạch máu não bị

tắc nghẽn làm cho khu vực mà mạch máu não cung cấp máu bị thiếu hụt gây

ra hiện tượng hoại tử và nhũn tế bào não

Tai biến nhồi máu não được phân biệt thành các loại như sau:

- Cơn thiếu máu não thoảng qua: Tai biến phục hồi trước 24 giờ, được

coi là yếu tố nguy cơ của tai biến nhồi máu não hình thành

-Tai biến nhồi máu não cục bộ hồi phục: Tai biến phục hồi trên 24 giờ,

không để lại di chứng hoặc di chứng không đáng kể

-Tai biến nhồi máu não cục bộ hình thành: Thời gian hồi phục kéo dài,

để lại nhiều di chứng nặng nề như liệt nửa người, thất ngôn.vv…

1.1.2.2 Chảy máu não: là máu thoát khỏi mạch máu và chảy vào nhu mô não.

Chảy máu não có thể xảy ra ở các vị trí khác nhau như: bao trong, nhân xám,thùy não, thân não, tiểu não

1.1.3 Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây ra TBMMN đó là:

- Tăng huyết áp, xơ vữa động mạch

Trang 12

- Huyết khối mạch, co thắt và nghẽn mạch.

- Bệnh tim, bệnh đái tháo đường

- Dị dạng động mạch não: túi phình động mạch, dị dạng thông độngtĩnh mạch

1.2 Dịch tễ học TBMMN

1.2.1 Tình hình TBMMN trên thế giới.

Từ nhiều thập kỷ cho đến nay TBMMN vẫn là một vấn đề thời sự cấpthiết Đối với các nước phát triển, TBMMN là nguyên nhân gây tử vong đứnghàng thứ ba sau bệnh ung thư và tim mạch.[5] Tỷ lệ mắch bệnh ở các nướcphát triển rất cao.Trong vòng 50 năm trở lại đây, tỷ lệ tử vong đã và đanggiảm ở các nước Pháp, Anh, Bắc Âu, Mỹ và Nhật Bản Nước có tỷ lệ tử vonggiảm nhanh nhất là Nhật Bản 7% tiếp đến Hoa Kỳ 5% Đến năm 1990 Hoa

Kỳ đã công bố tỷ lệ tử vong giảm 27% so với thập kỷ trước.[31]

Theo Chorpa, Ấn Độ có tỷ lệ mới mắc ở người trẻ chiếm 11-30% cáctrường hợp TBMMN.[58] Ở Pháp tỷ lệ mới mắc ở người trẻ chiếm 10-30/100.000 dân chiếm 5% toàn bộ các loại TBMMN Dưới 45 tuổi, tỷ lệ tai biếnxuất huyết tương đương với trên 45 tuổi và thiếu máu cục bộ não nhiều hơn 5lần so với xuất huyết não.[5]

Tại Châu Á, TBMMN có tầm quan trọng đặc biệt, một mặt vì số dân ởChâu Á chiếm quá nửa dân số trên thế giới, mặt khác TBMMN cũng là loạiphổ biến nhất của bệnh lý mạch máu [3] Theo tài liệu của WHO năm 1990ước tính có 2,1 triệu người tử vong vì TBMMN tại Châu Á, bao gồm 1,3 triệungười Ở Trung Quốc 448 nghìn người, ở Ấn Độ 390 nghìn người và ở cácnơi khác trừ Nhật Bản.[32] Một nghiên cứu khác tại khu vực Châu Á và ĐôngNam Á thực hiện trong thời gian từ ngày 1 tháng 10 năm 1996 đến 31 tháng 1

Trang 13

năm 1997 dưới sự chỉ đạo của Tiểu bang về TBMMN của Hiệp hội Thần kinhhọc các nước Đông Nam Á Kết quả bước đầu cho thấy: số bệnh nhânTBMMN vào điều trị nội trú bao gồm các nước Trung Quốc 40%, Triều Tiên16%, Ấn Độ 11%, Philippin 10%, Indônêxia 8%, Việt Nam 7%, Thái Lan

6%, Malaxia 20% Trong đó nhồi máu não gặp ở 65,4% số bệnh nhân, chảy

máu não là 21,3%, chảy máu dưới nhện là 3,1% và khoảng 10% là TBMMNkhông rõ loại [3]

1.2.2 Tình hình TBMMN ở Việt nam.

Ở Việt Nam theo Nguyễn Văn Đăng, trong công trình nghiên cứu dịch

tễ học TBMMN 1989-1994 của bộ môn thần kinh trường đại học Y Hà Nội,

tỷ lệ hiện mắc ở miền Bắc và miền Trung là 116/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc

là 28,25/100.000.[5] Ở miền Nam trong thời gian 1994 -1995 trường đại học

y dược TP Hồ Chí Minh đã điều tra dịch tễ học trong cộng đồng dân ở một sốvùng thuộc 3 tỉnh (Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Kiên Giang) tỷ lệhiện mắc TBMMN là 415/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc chung giữa các vùng

là 161/100.000, trong đó nhóm trên 46 tuổi là 697/100.000 Tỷ lệ tử vong ởThành Phố Hồ Chí Minh là 28%, Tiền Giang là 44%, Kiên Giang là 39%.Nguyễn Minh Hiện và cộng sự trong 10 năm từ 1991 - 2000 tại Quân Yviện 103 có 1379 bệnh nhân TBMMN: Trong đó nhồi máu não có 981 bệnhnhân (71,1%) chảy máu não có 398 bệnh nhân (28,9%) Số lượng bệnh nhânTBMMN có xu hướng tăng dần và năm 2000 bệnh nhân TBMMN gấp đôinăm 1991 [6] Phạm Khuê (1998) đã nhận thấy tỷ lệ TBMMN tăng nhanhsong song với tuổi thọ trung bình Ở lứa tuổi 55 đến 64 tỷ lệ đó là 0,3% tănglên đến 0,8% ở lứa tuổi từ 75 trở lên

Trang 14

1.2.3 Sơ lược về hệ thống động mạch tưới máu não

Hình 1.1: Vòng mạch đa giác Willis[7]

Não được cấp máu bởi 2 động mạch chính: Động mạch cảnh trong vàđộng mạch thân nền

1.2.3.1 Động mạch cảnh trong.

- Động mạch cảnh trong được xuất phát từ động mạch cảnh gốc tại xoangcảnh đi thẳng lên sọ Khi vào hộp sọ nó chạy ngoằn ngoèo trong ống động

Trang 15

mạch nằm trong phần đá xương thái dương Ra khỏi ống động mạch ở lỗ rách

nó chui vào lòng xoang tĩnh mạch hang, chạy dọc xoang từ sau ra trước Rakhỏi xoang tới phía trong của mỏm yên trước tách ra các nhánh cùng Trướckhi tách ra các nhánh cùng nó cho 1 ngành bên là động mạch mắt đi vào hốcmắt cấp máu cho nhãn cầu Các ngành cùng của động mạch cảnh trong là:+Động mạch não trước: cấp máu cho mặt trong (liên bán cầu) vỏ não củathuỳ trán và đỉnh nên khi tắc bệnh lý ở chân ưu thế hơn ở tay

+Động mạch não giữa: cấp máu cho mặt ngoài bán cầu đại não nên khitắc bệnh lý ở tay ưu thế hơn chân, đồng thời có các nhánh sâu tưới máu chocác nhân xám trung ương Lưu ý nhánh động mạch Charcot tưới máu cho baotrong hay gây tai biến, khi tổn thương thường gây liệt cả tay và chân 1 bên.+Động mạch thông sau: Tiếp nối với động mạch não sau của động mạchthân nền, cấp máu chủ yếu cho mặt dưới bán cầu đại não

+Động mạch mạc trước: cấp máu cho 1 số vùng nhân xám dưới vỏ vàđám rối mạch mạc bên

1.2.3.3 Tuần hoàn bàng hệ của não.

Sự tưới máu cho não được đảm bảo nhờ tuần hoàn bàng hệ Trong nhu

mô não giữa các khu vực trung tâm và ngoại vi có rất ít hoặc không có nhữngnhánh mạch nối có tầm quan trọng về lâm sàng Ngược lại ngoài sọ và trong

Trang 16

sọ mạng nối các mạch lại rất quan trọng và phát tiển đến mức khi có một sự tắcmạch, kể cả các mạch lớn vùng cổ có thể không gây các triệu chứng lâm sàng.Mạng nối này được chia thành 3 phần khác nhau:

Ngoài sọ: Sự nối thông giữa 2 động mạch cảnh trong và cảnh ngoài quađộng mạch võng mạc trung tâm

Đáy sọ: giữa động mạch cảnh trong và động mạch đốt sống thân nền qua

đa giác Willis

Bề mặt của não: các động mạch tận thuộc hệ động mạch cảnh trong và

hệ thống đốt sống thân nền vùng vỏ hình thành một mạng lưới chằng chịt trên

bề mặt vỏ não Mạng nối này được coi là nguồn tưới máu bù quan trọng giữakhu vực động mạch não trước vào não giữa, động mạch não giữa và não sau,động mạch não trước và não sau

Bình thường các mạch nối này ở tình trạng ảo, không có dòng máu quathực sự Hệ thống bàng hệ hầu như không hoạt động Mỗi động mạch chỉ tướimáu cho khu vực nó phụ trách Chỉ khi có bệnh lý (tắc, hẹp) do sự chênh lệch

về huyết áp trên chỗ tắc huyết áp hạ - máu được tưới bù từ khu vực có áp lựccao vào khu vực có áp lực thấp thông qua tuần hoàn bàng hệ.[5]

Không có sự nối tiếp giữa những ngành nông và ngành sâu của 1 độngmạch não và cũng không có sự nối tiếp giữa những ngành sâu của các độngmạch não với nhau Giữa 2 khu vực nông và sâu (chất trắng dưới vỏ) hìnhthành 1 đường viền ranh giới không có mạch nối quan trọng và được gọi là

“Vùng tới hạ” là vùng nhũn não lan toả

Bình thường lưu lượng máu não là 50-55 ml/l00g/phút TBNMN sẽ xảy

ra khi lưu lượng máu não giảm dưới 1 8 - 2 0 ml/l00g/phút

Trang 17

1.2.4 Nhồi máu não

1.2.4.1 Định nghĩa.

Là thiếu máu cục bộ não (nhồi máu não) xảy ra khi 1 động mạch máunão bị nghẽn tắc Khu vực tưới bởi động mạch đó không được nuôi dưỡng sẽ

bị huỷ hoại, nhũn ra [8]

1.2.4.2 Nguyên nhân nhồi máu não

* Có 3 nguyên nhân lớn: Huyết khối mạch, co thắt mạch và nghẽn mạch

- Huyết khối mạch (thrombosis): do tổn thương thành mạch tại chỗ, tổnthương đó lớn dần lên rồi gây hẹp và tắc mạch phần lớn do vữa xơ động mạch

- Co thắt mạch (vasoconstriction) làm cản trở lưu thông máu

- Nghẽn mạch (embolisme) là cục tắc từ 1 mạch ở xa não (tim, các mạchlớn ở cổ) bong ra rồi đi theo đường tuần hoàn lên não, đễn chỗ lòng mạch nhỏhơn sẽ nằm lại và gây tắc mạch

1.2.4.3 Lâm sàng và chẩn đoán

+ Nhồi máu não (nhũn não, nghẽn mạch não ): Chia thành hai thể tắcmạch và lấp mạch Thường ở các nhánh nông và trên nhánh này tuần hoàn cóthể bị nghẽn ở bất cứ vị trí nào Do đó tuỳ theo vị trí tổn thương mà có nhữnghội chứng lâm sàng của vỏ não khác nhau

- Triệu chứng:

+ Tiền chứng: Thường có triệu chứng báo động Ví dụ nếu ở bán cầu ưuthế bị xâm phạm sẽ mất lời nói vận động kiểu Broca, nếu là khu vực chi phốicảm giác sẽ rối loạn cảm giác

+ Giai đoạn khởi đầu: Trên lâm sàng có thể có hôn mê liệt nửa người đốivới trường hợp tắc mạch thì triệu chứng khởi đầu thường từ từ

Trang 18

+ Giai đoạn toàn phát: Có thể hôn mê vừa hoặc nhẹ, rối loạn thực vật ởmức độ trung bình.

+ Tiến triển: Qua giai đoạn cấp tính (từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 10)bệnh sẽ phục hồi dần dần và thường để lại di chứng Phải đề phòng các biếnchứng bội nhiễm do nằm lâu

- Các thể lâm sàng:

+ Nhũn vùng động mạch não giữa nông: Vùng tổn thương vỏ não thuỳtrán đỉnh và thái dương, liệt nửa người ở ngọn chi và mặt Nếu ở bán cầu ưu thế

sẽ có mất lời nói, nếu ở bán cầu bên kia sẽ có hội chứng Anton - Babinski

+ Nhũn vùng động mạch não giữa sâu: Vùng tổn thương ơ khu vực baotrong, một phần nhân đuôi và nhân đậu, có triêu chứng liệt nửa người toàn bộ,đồng đều và không kèm theo rối loạn cảm giác Nếu ở bán cầu não ưu thế sẽmất lời Có thể chuyển thành liệt co cứng nửa người

+ Nhồi máu não toàn bộ động mạch não giữa: Hôn mê sâu với nhiều rốiloạn thực vật, liệt nửa người, rối loạn cảm giác, mất lời, bán manh

+ Nhũn vùng động mạch não trước: Liệt một chân hoặc liệt nửa người,

rõ nhất ở chân, tổn thương ở thuỳ trán và thể trai có thể liệt măt

+ Nhũn vùng động mạch não sau: Tổn thương ở mặt trong thuỳ tháidương, thuỳ chẩm và đồi thị dẫn đến giảm cảm giác nửa người, hội chứng đồithị và bán manh

+ Nhũn thân não:

+ Nhũn khu vực động mạch mạc trước:

+ Tắc đông mạch bên của hành tuỷ [5] [8]

Trang 19

* Cận lâm sàng

- Chụp cắt lớp vi tính sọ não (CT- Scaner): Thấy vùng não bị thiếu máu

có tỷ trọng giảm hơn so với vùng não bình thường

Điện cơ: Dubois Raymond (1851) đã đề ra phương pháp ghi điện cơ Khi

có hiện tượng khử cực và tái cực sẽ sinh ra sự thay đổi về điện Bằng cáchchọc kim trực tiếp vào cơ ta có thể ghi lại những thay đổi điện cơ Sau khi đãphóng đại nhiều lần rồi chuyển thành tín hiệu quang học và âm thanh ta đượcnhững kết quả có thể nhìn thấy trên màn huỳnh quang và trên giấy ghi đểnhận định so sánh

Khi bệnh nhân liệt do nhồi máu não, các vận động tự chủ giảm, các đơn

vị vận động ít hoạt động thì điện cơ thể hiện bằng hình ảnh đường đi với biên

độ thâp, tần số thấp, sóng kịch phát hoặc đa pha Khi bệnh nhân có hồi phục

về vận động, hình ảnh đường đi sẽ là các sóng có biên độ cao hơn, tần số đơn

vị vận động xuất hiện nhiều hơn hoặc hình ảnh giao thoa là hoạt động cơ trởlên tốt hơn hoặc bình thường.[8] [9]

Trang 20

1.2.5 Sơ lược giải phẫu phần cơ chi trên

Hình 1.2: Các cơ riêng biệt của cẳng tay (phía sau)

Các cơ duỗi cổ tay và ngón tay [7]

Hình 1.3 Các cơ riêng biệt của cẳng tay (phía trước)

Các cơ gấp cổ tay và ngón tay [7]

Trang 21

1.2.6 Giải phẫu định khu cẳng chân trước và bàn chân

1.2.6.1 Giải phẫu định khu cẳng chân trước

* Cơ chày trước

Nguyên ủy: 2/3 trên mặt ngoài xương chày, màng gian cốt Bám tận: gân

cơ chui qua mạc hãm các gân duỗi xuống bám vào xương chêm trong và nềnxương đốt bàn chân I Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh mác sâu.Động tác: duỗi bàn chân và hơi nghiêng vào trong

* Cơ duỗi dài các ngón chân

Nguyên ủy: lồi cầu ngoài xương chầy, 2/3 trên mặt trong xương mác

và màng gian cốt Đường đi và bám tận: cơ xuống 1/3 dưới cẳng chânchuyển thành gân, rồi chia làm bốn gân nhỏ chui qua mạc hãm các gânduỗi đi tới bốn ngón chân II, III, IV, V Mỗi gân chia làm ba chẽ: chẽ giữabám vào đầu gần đốt giữa, hai chẽ bên chập thàiih một gân bám vào đầugần đốt xa Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh mác sâu Động tác:duỗi các ngón chân và duỗi bàn chân

* Cơ duỗi dài ngón chân cái

Nguyên ủy: 2/3 dưới mặt trong xương mác, màng gian cốt Bám tận:chui qua mạc bám các gân duỗi, xuống bám vào nền đốt xa ngón I Thần kinhchi phối: thần kinh mác sâu Động tác: duỗi ngón chân I

* Cơ mác ba

Nguyên ủy: 1/3 dưới mặt trong xương mác và màng gian cốt Bám tận:nền đốt bàn chân V Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh mác sâu Độngtác: duỗi bàn chân, dạng và xoay bàn chân ra ngoài.[7]

Các cơ và dây thần kinh cẳng chân được trình bày trên hình 1.4[10]

1.2.6.2 Giải phẫu định khu bàn chân.

* Cơ duỗi ngắn các ngón chân

Nguyên ủy: mặt ngoài xương gót Bám tận: cơ chia thành bốn bó, rồi tạothành bốn gân Ba gân bên ngoài bám vào mặt ngoài ba gân cơ duỗi dài ngón

Trang 22

chân II, III, IV, riêng bó trong rất lớn được gọi là cơ duỗi ngắn ngón cái bámtận vào nền đốt gần ngón I Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh mác sâu.Động tác: duỗi và hơi kéo ra ngoài các ngón chân I - IV.

* Cơ dạng ngón cái

Nguyên ủy: phía trong củ xương gót Đường đi và bám tận: cơ đi dọctheo bờ trong bàn chân đến bám vào nền đốt gần ngón chân cái Thần kinh chiphối: nhánh của thần kinh gan chân trong Động tác: gấp đốt gần ngón châncái và dạng ngón chân cái

Hình 1.4: Các cơ và thần kinh cẳng chân[10]

Trang 23

* Cơ gấp ngắn các ngón chân.

Nguyên ủy: lồi củ trong xương gót Bám tận: cơ chia làm bốn gân đi vàobốn ngón chân II, III, IV và V Mỗi gân lại chia làm hai chẽ để bám vào nềnđốt giữa các ngón này Động tác: gấp các ngón chân II, III, IV và V Thầnkinh chi phối: nhánh của thần kinh gan chân trong

* Cợ dạng ngón chân út

Nguyên ủy: Mặt dưới xương gót Bám tận: mỏm trâm xương đốt bànchân V Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh gan chân ngoài Đông tác:gấp và dạng ngón chân út

* Cơ vuông gan chân

Nguyên ủy: mặt dưới xương gót Bám tận: bám vào gân cơ gấp ngónchân dài Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh gan chân ngoài Động tác:tăng cường và chỉnh lại hướng cho cơ gấp dài ngón chân

* Các cơ giun

Nguyên ủy: ba cơ giun ngoài bám vào hai mặt bên gân cơ gấp dài ngónchân Cơ giun trong bám vào mặt trong gân gấp ngón II Bám tận: mặt trongđốt gần ngón chân tương ứng và cho các chẽ đến bám vào gân duỗi của bốnngón chân ngoài Thần kinh: cơ giun I do thần kinh gan chân trong, cơ giun

II, III, IV do nhánh của thần kinh gan chân ngoài chi phối

* Cơ gấp ngắn ngón chân cái

Nguyên ủy: mặt dưới xương chêm trong Bám tận: gân cơ tách đôi làmhai, giữa hai bó có gân cơ gấp dài ngón chân cái chạy qua Bó trong bám tậncùng gân cơ dạng ngón chân cái Bó ngoài bám tận cùng gân cơ khép ngóncái Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh gan chân trong Động tác: gấpđốt gần ngón chân cái

Trang 24

* Cơ khép ngón chân cái.

Nguyên ủy: đầu chéo bám vào xương hộp, xương chêm ngoài và xươngđốt bàn chân II, III; đầu ngang bám vào khớp đốt bàn ngón chân III, IV và V.Bám tận: hai đầu chụm lại bám tận ở nền xương đốt ngón gần của ngón I Thầnkinh chi phối: nhánh của thần kinh gan chân ngoài Động tác: khép ngón chân cái

* Cơ gấp ngắn ngón chân út

Nguyên ủy: củ xương hộp, nền xương đốt bàn chân V Bám tận: nền đốtgần ngón chân út Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh gan chân ngoài.Động tác: gấp đốt gần ngón chân út

* Cơ đối chiếu ngón út

Nguyên ủy: cùng với cơ gấp ngắn ngón út Bám tận: bờ ngoài xương đốtbàn chân V.Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh gan chân ngoài Độngtác: khép ngón út

* Các cơ gian cốt mu chân

Nguyên ủy: hai mặt đối lập xương bàn chân ở khoảng gian cốt I, II, III,

IV Bám tận: Cơ gian cốt mu chân I bám vào mặt trong nền đốt gần ngónchân I; cơ gian cốt mu chân II, III, IV bám vào mặt ngoài nền đốt gần cácngón chân II, III, IV Thần kinh chi phối: nhánh của thần kinh gan chân ngoài.Động tác: giạng ngón chân

* Các cơ gian cốt gan chân (ba cơ)

Nguyên ủy: mặt trong các xương đốt bàn chân III, IV và V Bám tận:mặt trong nền đốt gần các ngón chân III, IV, V Thần kinh chi phối: nhánhcủa thần kinh gan chân ngoài Động tác: khép ngón III, IV, V.[8][33]

1.2.7 Phục hồi liệt vận động cho bệnh nhân TBMMN

Phục hồi liệt vận động cho bệnh nhân TBMMN đã và đang được nhiềuchuyên ngành y học quan tâm Các tác giả trong và ngoài nước chuyênngành phục hồi chức năng đã nghiên cứu nhiều mẫu bệnh nhân liệt nửangười do TBMMN

Trang 25

Loewen - S.C.Anderson - B.A., 1990 tại trung tâm vật lý và thần kinhhọc Canada đã sử dụng thang điểm Barthel để đánh giá sự thay đổi của quátrình phục hồi chức năng của chân và tay ở những bệnh nhân sau nhồi máunão Kết quả là không có sự rõ rệt sau 3 ngày, 1 tuần mà sau 1 tháng mới có

sự thay đổi rõ rệt ở mẫu vận động khi đi lại.[34]

Một nghiên cứu của Lin - F và cộng sự năm 1999 cho thấy kết quả khitiến hành điều trị phục hồi chức năng bàn tay sau TBMMN thấy rằng trongtổng số 282 bệnh nhân được nghiên cứu ở nhóm được can thiệp tập luyện sau

5 tuần và sau 3 tháng, 6 tháng thì có sự khác biệt rõ rệt về cải thiện chức năngsinh hoạt hàng ngày, tác giả cho rằng càng phải tiến hành phục hồi chức năngsớm cho bàn tay.[35]

Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự tại khoa phục hồichức năng bệnh viên Bạch mai đã tiến hành nghiên cứu phục hồi chức năng vậnđộng cho 75 bệnh nhân TBMMN kết quả phục hồi tốt, khá đạt 80%.[11]

1.3 Tai biến mạch máu não theo Y học cổ truyền

TBMMN thuộc chứng trúng phong của đông y,chỉ vào loại bệnh độtnhiên ngã ra, cứng đờ hoặc một bên liệt, không cử động được hoặc tay chânkhông co lại được hoặc hôn mê không biết gì hoặc chết hoặc không chết,thông thường gọi đó là trúng phong [14]

1.3.1 Nguyên nhân

Nguyên nhân của trúng phong gồm 2 loại Nội nhân và Ngoại nhân

+ Nội nhân: Do tinh thần bị kích thích, vì vui mừng quá, buồn rầu quá,hoặc luôn luôn bị căng thẳng làm cho âm dương, khí huyết trong cơ thể bị rốiloạn mất thăng bằng mà phát sinh ra bệnh này

Theo Trương Cảnh Nhạc, Lưu Hàn Giang, Diệp Thiên Sỹ cho nguyênnhân của bệnh trúng phong là do dương khí trong cơ thể biến động Can làtạng thuộc phong, nếu tinh huyết suy kém, thuỷ không nuôi dưỡng được mộc

Trang 26

nên phần dương của Can mạnh quá sinh nội phong, nội phong nổi lên thườnggây thành trúng phong hoặc do huyết ráo sinh nhiệt, nhiệt được khí phong đưalên làm đường lạc, các khiếu nghẽn lấp rồi cũng ngã lăn ra thành trúng phong.Thuật ngữ Đông y thường chỉ chứng trạng bệnh lý này dưới một danh từ làcan phong nội động.

Chu Đan Khê cho rằng ở người ăn quá nhiều chất béo bổ, ít vận động lâungày dẫn đến Tỳ hư mà sinh ra thấp trong cơ thể Thấp kéo dài ngưng tụ lại sinhđàm, đàm lâu hoá nhiệt, hoả nhiệt cũng sẽ sinh phong làm cho phong đàm nhiềulên trên che lấp các tâm khiếu mà đưa tới trúng phong [16] [17]

+ Ngoại nhân:

Do ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, môi trường thay đổi đột ngột trạng tháilàm việc, nghỉ ngơi từ chỗ nóng vào chỗ lạnh và ngược lại Do sinh hoạt bấtthường như uống rượu, hút thuốc, tắm, làm việc quá căng thẳng

Tất cả các yếu tố trên khi cơ thể không thích nghi kịp thời sẽ dẫn đếntrúng phong [18]

1.3.2 Cơ chế bệnh sinh

Những nhân tố trên, thực tế không phải đơn độc mà gây bệnh được,thường ảnh hưởng lẫn nhau gây bệnh, trong đó sự kích thích và căng thẳng tinhthân là một trong những yếu tố trọng yếu gây ra bệnh [12] [19]

Bệnh trúng phong phần nhiều do chính khí hư, Can phong nội độngthuộc nhân tố nội tại gây nên Trên thực tế thường thấy trên cơ sở nội phongmạnh đồng thời ngoại phong tác động vào gây sự mất thăng bằng âm dương,trong ngoài, mà sinh bệnh

Chương “Phong luận”, Kỳ Bá giải thích nguyên nhân gây nên chứng liệt

là do ngoại phong xâm nhập cơ thể làm vệ khí có chỗ không dẫn được, mạchđạo không thông lợi được dẫn đến liệt [15]

Trang 27

Sách “Kim quỹ yếu lược” chương mạch - chứng và cách chữa bệnhtrúng phong cho rằng: Phong gây bệnh làm liệt nửa người, khi chính khí hưthì tà khí thừa cơ xâm nhập [14].

Liệt nửa người còn gọi là chứng “Thiên khô”, phong đàm chạy vào kinhlạc huyết mạch bị bế tắc, huyết ứ khí trệ, huyết không tuần hoàn được nên taychân bị tê liệt [15]

1.3.3 Triệu chứng lâm sàng

Lâm sàng thường chia trúng phong thành 2 thể

-Trúng phong kinh lạc: : mức độ nhẹ, liệt nửa người không có hôn mê.Bỗng nhiên da thịt tê dại, đi lại nặng nhọc khó khăn, mắt miệng méo, nóingọng, tê liệt nửa người, rêu lưỡi trắng, mạch huyền tế hay phù sác

-Trúng phong tạng phủ: bệnh đột ngột, người bệnh bỗng lăn ra mê manbất tỉnh, nói ú ớ hoặc không nói được, thở khò khè, miệng méo mắt lệch, têliệt nửa người, nếu nặng có thể tử vong.Trong trúng phong tạng phủ có chứng

- Trạng thái thực: Bệnh mới, khí huyết còn mạnh, bệnh nhân liệt nửangười, chât lưỡi đỏ, rêu lưỡi dày, đại tiện táo, tiểu tiện vàng, chân tay ấm,mạch phù, huyền, hữu lực

Trang 28

- Trạng thái hư: Bệnh lâu, khí huyết kém, bệnh nhân liệt nửa người, chấtlưỡi nhợt, rêu lưỡi mỏng, đại tiện lỏng, nước tiểu trong, chân tay lạnh, mạchtrầm huyền [13] [20]

Sách “Kim quỹ yếu lược” chia các thể lâm sàng ở giai đoạn cấp tuỳ theo

tà khí xâm phạm ở phần nông là trúng phong kinh lạc, tà khí xâm phạm ởphần sâu, có hôn mê là chúng phong tạng phủ [14]

Tuỳ theo mức đề kháng của cơ thể mạnh, yếu mà biểu hiện bằng trạngthái thực hay hư trên lâm sàng mà tiên lượng nặng, nhẹ để đề ra hướng điềutrị liệt nửa người sau giai đoạn cấp

1.3.4 Điều trị

1.3.4.1 Nguyên tắc

Nguyên tắc chung trong điều trị TBMMN của đông y là cân bằng âmdương, điều hoà chức năng của tạng phủ, bổ âm (can, tâm, thận), tả dương,thư cân cốt, thông kinh hoạt lạc, khai khiếu.Tả dương tà,do vậy chọn các kinhdương [21] [22]

Theo sách kinh điển “Nôi kinh”, “Linh khu”, “Châm cứu đại thành”,cũng theo như các tác giả Việt nam như Nguyễn Tài Thu, Trần Thuý, điều trịchứng liệt nửa người chủ yếu dùng thủ pháp tả tác động vào các kinh dương(Đại kinh dương minh, Đại kinh thiếu dương, Đại kinh thái dương) và tácđộng vào mạch Đốc (Vì Đốc mạch đốc lục dương kinh) đồng thời châm bổmột số huyệt thuộc kinh âm (kinh Tỳ, kinh Can, kinh Thận) để điều hoà âmdương, lập lại cân bằng cho trạng thái dương quá thịnh, âm quá suy, phục hồichức năng sinh lý của phủ tạng, thông kinh hoạt lạc, khai khiếu đưa trả lại sựvận động của cơ thể đặc biệt là chân, tay

Trong Thiên Thích tiết chân tà của sách Linh khu ghi “thân hình bị trúngphong tà huyết mạch bị hư, sẽ làm cho tứ chi không co duỗi được, làm thânmình khó xoay trở, khó cúi xuống hoặc ngửa lên, như vậy cơ, cân, khớp, chân

Trang 29

tay cứng dẫn đến khó cử động Khi điều trị phải châm tả tà khí,châm bổ chínhkhí nhằm b́ình phục lại âm dương.

1.3.4.2 Phương pháp trường châm.

Ở Trung Quốc từ những năm 1958, một số bệnh viên và cơ sở châm cứu

ở Thẩm Dương (Đông bắc) Thường Châu (Giang Tô) từ phương pháp châmkim nhỏ đã cải biên thành phương pháp tân châm để chữa liệt[23]

Ở Việt Nam từ năm 1971 trong chiến tranh chống Mỹ, Nguyễn Tài Thu

đã nghiên cứu dùng kim to, kim dài, châm xuyên kinh, xuyên huyệt để điều trịcác chứng liệt, chứng đau và ứng dụng trong châm tê phẫu thuật cho thươngbệnh binh Phương pháp và kỳ thuật này càng phát triển và trưởng thành vớitên gọi là trường châm (với ý nghĩa dùng kim dài, tiến sâu, tiến từ từ vào cơthể qua các kinh lạc

Phương pháp trường châm dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Tài Thu làdùng kim có đường kính từ 0,5 - lmm, dài tò 5 - 30 thốn (10 - 60 cm) châmxuyên từ huyệt này đến huyệt khác gọi là huyệt đạo Các huyệt châm có thểnăm trên cùng một đường kinh âm, cùng một đường kinh dương hoặc trênhai đường kinh dương hoặc trên hai đường kinh âm hoặc trên hai đườngkinh khác nhau

Phương pháp trường châm của Nguyễn Tài Thu- một kỹ thuật châm độcđáo của Việt Nam đã thành công rực rỡ trong và ngoài nước Phương phápnày đạt hiệu quả cao trong châm tê, trong điều trị các chứng đau và di chứngliệt do nhiều nguyên nhân khác nhau

1.3.4.3 Tình hình châm cứu và điện châm trong điều trị liệt vận động ở bệnh nhân sau TBMMN

Các nhà châm cứu trong và ngoài nước đã áp dụng châm cứu và điệnchâm để phục hồi vận động cho bệnh nhân TBMMN

Trang 30

Tại nhật Nagahama, Kiskihita, Nakamura, 1975 đã sử dụng máy điệnchâm điều trị phục hồi liệt cho bệnh nhân TBMMN.[12]

Tại Nauy, Sallstrom-S và cộng sự, 1995 [36] đã nghiên cứu điều tri bằngchâm cứu cho bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN gồm 45 bệnh nhân đượcchọn trong đó 21 bệnh nhân được điều trị bằng phục hồi chức năng và 24bệnh nhân được điều trị bằng châm cứu trong thời gian 6 tuần Kết quả nghiêncứu cho thấy cả 2 nhóm đều có cải thiện đáng kể chức năng vận động và hoạtđộng sống hàng ngày Tuy nhiên sự cải thiện rõ ràng hơn ở bệnh nhân châmcứu được đánh giá là sự có cải thiện rõ ràng về chất lượng cuộc sống Kết quả

đó chỉ ra rằng châm cứu đem lại hiệu quả điều trị tốt cho bệnh nhân liệt nửangười do TBMMN

Tại Trung Quốc, từ năm 1970 đã bắt đầu dùng điện châm để chữa bệnh

và bắt đầu sản xuất các loai máy điện châm

Ở Việt Nam Nguyễn Tài Thu, Trần Thuý là những thầy thuốc đầu tiên sửdụng máy điện châm thay cho vê tay để chữa các bệnh thường gặp, để châm

tê phẫu thuật và phục hồi liệt vận động cho bệnh nhân TBMMN, phươngpháp điện châm đặc biệt phát triển mạnh ở Quân y Từ năm 1971 Nguyễn TàiThu đã cùng các kỹ sư điện tử của Cục quân y, Tổng cục bưu điện và Việnchâm cứu nghiên cứu sản xuất máy điện châm để ứng dụng điều trị nhiều loạibệnh, phục hồi liệt vận động và châm tê để mổ Hiện nay chúng tôi sử dụngmáy điện châm M8 của Viện Châm cứu Việt Nam sản xuất có 2 kênh tả và bổriêng biệt, cường độ kích thích từ 0- 50µA, tần số kích thích từ 0 - 30 Hz Tác giả Vũ Thường Sơn đã thừa kế kinh nghiệm của Nguyễn Tài Thutrong đề tài về ứng dụng điện châm trong phục hồi liệt vận động doTBMMN [12]

Nghiên cứu về vấn đề điều trị phục hồi vận động do TBMMN nói chung

đã có 1 số đề tài khá thành công nhưng chưa có công trình nào đi sâu vềnghiên cứu phục hồi chức năng vận động bàn tay,bàn chân trên bệnh nhânNMN giai đoạn sau cấp bằng điện trường châm

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 60 bệnh nhân được chẩn đoán là TBMMN lứa tuổi từ 40 đến 80không phân biệt giới tính bị liệt nửa người do NMN sau giai đoạn cấp có triệuchứng “bàn tay rủ” và “bàn chân thuổng” đã được điều trị qua giai đoạn cấpbằng YHHĐ và được chia làm 2 nhóm gồm: Nhóm nghiên cứu (NNC) có 30bệnh nhân và nhóm chứng (NC) có 30 bệnh nhân, điều trị liệt vận động bằngđiện châm tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.1.1.1 Theo Y học hiện đại

* Lâm sàng:

+ Bệnh nhân liệt nửa người do NMN đã được chẩn đoán và điều trị giaiđoạn cấp tại bệnh viện YHHĐ Hiện tại còn hội chứng thần kinh khu trú,giảm hoặc mất vận động tự chủ nửa người với triệu chứng “bàn tay rủ” và “bànchân thuổng” ở các mức độ khác nhau Mạch, huyết áp, nhịp thở ổn định

+ Tỉnh táo, nghe và hiểu được lời nói

+ Không có các biến chứng như loét, bội nhiễm

+ Bệnh nhân tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

* Cận lâm sàng:

+ Chụp CT-Scan hoặc MRI –chẩn đoán xác định là nhồi máu bán cầu não + Hình ảnh giảm tỷ trọng tại ổ nhồi máu

Trang 32

2.1.1.2 Theo Y học cổ truyền

Bệnh nhân được điều trị sau giai đoạn cấp còn để lại chứng liệt nửangười với “bàn tay rủ” và “bàn chân thuổng” Qua tứ chẩn (vọng, văn, vấn,thiết) và bát cương (âm - dương, biểu - lý, hư - thực, hàn - nhiệt) để chẩn đoánphân thể bệnh:

Trúng phong tạng phủ hay trúng phong kinh lạc Chứng thực hay chứnghư

+ Trúng phong kinh lạc: Bệnh nhân có biểu hiện liệt nửa người từ từ hoặcđột ngột, không có hôn mê, tê liệt nửa người, rêu lưỡi trắng, mạch huyền sác

+ Trúng phong tạng phủ: Bệnh nhân có biểu hiện liệt nửa người độtngột kèm theo có hôn mê

Sau khi trúng phong, bệnh nhân còn để lại di chứng trúng phong màchủ yếu là bán thân bất toại biểu hiện thượng hạ chi của bán thân bên tráihoặc bên phải tê dại không cử động được, còn có cảm giác biết đau, biếtnóng, lạnh; tay không còn cầm nắm được, chân không đi lại được, nói khóhoặc nói ngọng thể hiện ở hai trạng thái hư và thực:

+Trạng thái thực: Bệnh mới, khí huyết còn mạnh, bệnh nhân liệt nửangười, chât lưỡi đỏ, rêu lưỡi dày, đại tiện táo, tiểu tiện vàng, chân tay ấm,mạch phù, huyền, hữu lực

+Trạng thái hư: Bệnh lâu, khí huyết kém, bệnh nhân liệt nửa người, chấtlưỡi nhợt, rêu lưỡi mỏng, đại tiện lỏng, nước tiểu trong, chân tay lạnh, mạchtrầm huyền

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

- Bệnh nhân liệt nửa người không do NMN (do xuất huyết não, sangchấn, ) hoặc mắc các bệnh khác kèm theo: bệnh tim, bệnh máu, cụt chi trên

Trang 33

do thương binh hay bị tai nạn.

- Những bệnh nhân bị TBNMN không đưa vào nghiên cứu do cácnguyên nhân sau:

+ Chấn thương.- Bệnh lý về máu.- Tắc mạch do khí

+ U não.- Bệnh lý ở tim.- Tăng đường huyết

- Các bệnh nhân bỏ cuộc hoặc không tuân thủ đúng theo quy trình điều trị

- Ngoài ra chúng tôi loại trừ các trường hợp có bệnh kèm theo như: Lao,nhiễm HIV/AIDS, tăng huyết áp quá cao,phụ nữ đang mang thai,các bệnhnhân không đủ các tiêu chuẩn trên

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu.

- Phương pháp thử nghiệm lâm sàng có so sánh với nhóm đối chứng,sosánh trước và sau điều trị

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

+ Chọn 60 bệnh nhân được chẩn đoán NMN điều trị ổn định sau giai

đoạn cấp và đáp ứng các tiêu chuẩn về đối tượng nghiên cứu và chia làm 2nhóm theo phương pháp ghép cặp đồng đều về:tuổi,độ liệt theo Rankin ,thểbệnh theo YHCT

+ Theo cỡ mẫu chủ đích chọn 60 bệnh nhân chia làm 2 nhóm:

- Nhóm chứng (n= 30): điều trị phục hồi vận động bằng hào châm

- Nhóm nghiên cứu (n= 30): điều trị phục hồi vận động bằng điệntrường châm

2.2.3 Phương tiện nghiên cứu

+ Máy điện châm M8 của Bệnh viện châm cứu Trung ương sản xuất đượckiểm tra chất lượng, tính năng kỹ thuật và được Bộ Y tế cho phép sản xuất

Trang 34

Hình 2.1 Hình ảnh máy điện châm M8

Các thông số kỹ thuật máy điện châm M8

Dạng sung Một chiều, ngắt quãng Kênh tả Một chiều, ngắt quãng Kênh bổ

Tần số 5 -10 Hz

(300- 600 xung / phút)

0,5 - 3 Hz(30-180 xung/ phút)Cường độ (I) 0 - 50 µA 0 - 30 µA

+ Máy điện cơ MEDELOE SYNERGY

Trang 35

- Ký hiệu 0088

- Sản xuất tại Anh quốc

Hình 2.2 Hình ảnh máy điện cơ MEDELOE SYNERGY

+ Máy đo HA thủy ngân

Hình 2.3 Hình ảnh máy đo HA thủy ngân

+ Kim châm cứu dài từ 8 - 20 cm đường kính từ 0,5- 1 mm bằng thép

Trang 36

không gỉ do Việt Nam sản xuất.

Ở tay: Châm huyệt trên kinh Đại trường, Tam tiêu, Tiểu trường, Tâmbào, huyệt Giáp tích với các huyệt đạo liên quan tới phục hồi chức năng vậnđộng ban tay chúng tôi chọn:

Giáp tích C4 – C7

Kiên ngung xuyên Tý nhu

Kiên trinh xuyên Cực tuyền

Khúc trì xuyên Thủ tam lý xuyên Ôn lưu

Bát tà

Ở chân: Châm các kinh Tỳ, Vị, Can, Đởm, Thận, Bàng quang với cáchuyệt đạo

Trật biên xuyên hoàn khiêu

Hoàn khiêu xuyên Thừa phù

Thừa phù xuyên Ủy trung

Dương lăng tuyền xuyên Dương giao

Thượng cự hư xuyên Điều khẩu xuyên Hạ cự hư

Giải khê

* Kỹ thuật chọn huyệt đạo trong điện trường châm chúng tôi cũng phải

Ngày đăng: 29/07/2019, 17:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Vũ Thường Sơn (1995). Góp phần nghiên cứu điện châm phục hồi chức năng vận động trên bệnh nhân thiếu máu não cực bộ hệ động mạch cảnh trong. Luận án PTS Khoa học Y dược, Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu điện châm phục hồi chứcnăng vận động trên bệnh nhân thiếu máu não cực bộ hệ động mạch cảnhtrong
Tác giả: Vũ Thường Sơn
Năm: 1995
13. Nguyễn Tài Thu (1983). Châm cứu chữa bệnh. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội 14. Trương Trọng Cảnh (1996). Kim quỹ yếu lược, NXB Y học, tr68 - 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu chữa bệnh." Nhà xuất bản Y học, Hà Nội14. Trương Trọng Cảnh (1996). "Kim quỹ yếu lược
Tác giả: Nguyễn Tài Thu (1983). Châm cứu chữa bệnh. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội 14. Trương Trọng Cảnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1996
15. Huỳnh Minh Đức (1990). Hoàng đế nội kinh linh khu (bản dịch). Hội Y dọc cổ truyền Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng đế nội kinh linh khu
Tác giả: Huỳnh Minh Đức
Năm: 1990
16. Trần Thuý, Phạm Duy Nhạc, Hoàng Bảo Châu (1993). Bài giảng Y học cổ truyền. Tập 2, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Y họccổ truyền
Tác giả: Trần Thuý, Phạm Duy Nhạc, Hoàng Bảo Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1993
17. Trần Thuý (1996). Tai biến mạch máu não. Chuyên đề nội khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 312-317 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tai biến mạch máu não
Tác giả: Trần Thuý
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1996
18. Lê Hữu Trác (1997). Hải Thượng y tông tâm lĩnh. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Thượng y tông tâm lĩnh
Tác giả: Lê Hữu Trác
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
20. Nguyễn Tài Thu, Trần Thuý (1997). Châm cứu sau đại học. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 380 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu sau đại học
Tác giả: Nguyễn Tài Thu, Trần Thuý
Nhà XB: Nhà xuấtbản Y học
Năm: 1997
21. Nguyễn Tài Thu (1988). Châm cứu phục hồi chức năng cho bệnh nhân bị liệt nửa người do tai biến mạch máu não. Một số đề tài nghiên cứu về châm cứu, tập 1, Tổng hội y học dược, Hội châm cứu Việt Nam, 40- 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu phục hồi chức năng cho bệnh nhân bịliệt nửa người do tai biến mạch máu não
Tác giả: Nguyễn Tài Thu
Năm: 1988
22. Dương Kế Châu (1990). Châm cứu đại thành, tập 2, Hội Y học dân tộc TP Hồ Chí Minh xuất bản, tr 249 - 272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu đại thành
Tác giả: Dương Kế Châu
Năm: 1990
25. Dượng Kế Châu (1990). Châm cứu đại thành. Tập 2, Hội Y học dân tộc TP Hồ Chí Minh xuất bản, 249-272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu đại thành
Tác giả: Dượng Kế Châu
Năm: 1990
26. Nguyễn Chương (2001). Khám lâm sàng thần kinh. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 95-111, 187-199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám lâm sàng thần kinh
Tác giả: Nguyễn Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
27. Nguyễn Quốc Khoa (1997). Máy điện châm hai tần số ứng dụng kỹ thuật bổ - tả trong tân châm. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học về châm cứu, Viện châm cứu Việt Nam, 79-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Máy điện châm hai tần số ứng dụng kỹ thuậtbổ - tả trong tân châm
Tác giả: Nguyễn Quốc Khoa
Năm: 1997
28. Phạm Khuê (2000). Đề phòng tai biến mạch máu não ở người lớn tuổi.Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 7-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề phòng tai biến mạch máu não ở người lớn tuổi
Tác giả: Phạm Khuê
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
29. Hoàng Bảo Châu (1984), Châm cứu học (1984), NXB Y học, tr 87 - 241, 401-403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu học
Tác giả: Hoàng Bảo Châu (1984), Châm cứu học
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1984
30. Lâm Văn Chế (2001). Dịch tễ học tai biến mạch máu não. Bài giảng Thần kinh, Trường Đại học Y Hà Nội, 6 - 13.Tiếng Anh,Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảngThần kinh
Tác giả: Lâm Văn Chế
Năm: 2001
31. Sallstrom s., Kjendahl A. et al (1995). Acupuncture therapy in stroke during the subacute phase, arandomized controlled triai, Tidsskr - Nov - laegeforen Norway, Acupuncture - Therapy, 115(23). 2884 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acupuncture - Therapy
Tác giả: Sallstrom s., Kjendahl A. et al
Năm: 1995
33. Lin F.M., Sabbahi M. (1999). Correlation of spasticity witlì hyperactive streth reflexes and motor dysfunction in hemiplegia. Arch phys Med Rehabil, 80, 526-530 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arch phys MedRehabil
Tác giả: Lin F.M., Sabbahi M
Năm: 1999
34. Loewen S. C., Anderson B.A.(1990). Predictors of stroke outcome using objective measurement scales. Stroke, 21, 78- 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke
Tác giả: Loewen S. C., Anderson B.A
Năm: 1990
41. Lo z., Sun w., Lui Y., Tong z. (1992). Effect of electro - acupuncture on cortical and hippocampal EEH in adiuvant arthritis rats. Chen - Tzu - Yen - Chiu, Acupuncture reseach, 17 (2), 129 - 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of electro - acupuncture oncortical and hippocampal EEH in adiuvant arthritis rats
Tác giả: Lo z., Sun w., Lui Y., Tong z
Năm: 1992
42. Malezic M., Bogataj u. (1992). Application of aprogrammable dual - chanel adaptive electrical stimulation system for the control and analysis ofgaif. J - Rehabil - res - dev, Fall, 29 (4), 41 - 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Application of aprogrammable dual -chanel adaptive electrical stimulation system for the control andanalysis
Tác giả: Malezic M., Bogataj u
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w