Đây là bệnh khá phổ biến ở nước ta, tỷ lệbệnh nhân liệt dây VII ngoại biên chiếm tỷ lệ khá cao trong số bệnh nhân bịtổn thương các dây thần kinh ngoại biên, và chỉ đứng sau đau dây thần
Trang 1TRẦN THỦY LIÊN
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ LIỆT VII NGOẠI BIÊN DO LẠNH BẰNG BÀI THUỐC “TIỂU TỤC MỆNH THANG” KẾT HỢP ĐIỆN CHÂM
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2TRẦN THỦY LIÊN
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ LIỆT VII NGOẠI BIÊN DO LẠNH BẰNG BÀI THUỐC “TIỂU TỤC MỆNH THANG” KẾT HỢP ĐIỆN CHÂM
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình liệt dây VII ngoại biên trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.2 Những đặc điểm về giải phẫu – sinh lý của dây thần kinh số VII 4
1.2.1 Dây thần kinh số VII 4
1.2.2 Các cơ bám da mặt 5
1.3 Liệt VII ngoại biên theo Y học hiện đại 5
1.3.1 Hình ảnh lâm sàng liệt dây VII ngoại biên 5
1.3.2 Các thể lâm sàng trong liệt dây VII 7
1.3.3 Nguyên nhân gây bệnh 11
1.3.4 Nguyên nhân, sinh lý bệnh liệt dây VII ngoại biên do lạnh 11
1.3.4.1 Nguyên nhân 11
1.4 Liệt VII ngoại biên theo Y học cổ truyền 13
1.4.1 Nguyên nhân, bệnh sinh 13
1.4.2 Điều trị liệt VII ngoại biên theo y học cổ truyền 15
1.5 Tình hình nghiên cứu điều trị liệt dây VII ở trên thế giới và trong nước 17
1.6 Phương pháp điện châm 18
1.7 Tổng quan về bài thuốc nghiên cứu 19
1.7.1 Tên bài thuốc 19
1.7.2 Xuất sứ bài thuốc 19
1.7.3 Thành phần bài thuốc nghiên cứu 19
1.7.5 Tác dụng: khư phong tán hàn, ích khí hoạt huyết 19
1.7.7 Phân tích bài thuốc 20
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
Trang 42.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22
2.2.3 Phương tiện, chất liệu nghiên cứu 23
2.2.4 Kỹ thuật điện châm dùng cho nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp theo dõi, đánh giá kết quả điều trị 25
2.3.1 Theo dõi bệnh nhân 25
2.3.2 Chỉ tiêu theo dõi 25
2.3.3 Đánh giá kết quả 26
2.3.4 Tiêu chuẩn đánh giá 26
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 28
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28
CHƯƠNG III: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm lâm sàng 30
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới 30
3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh trước khi vào điều trị 30
3.1.3 Vị trí bị bệnh 31
3.1.4 Các triệu chứng chính của liệt mặt 31
3.1.5 Phân loại mức độ liệt của bệnh nhân theo lâm sàng 32
3.1.6 Kết quả điều trị các triệu chứng chính ở cả hai nhóm 32
3.2 Kết quả điều trị cụ thể các triệu chứng chính 33
3.3 Tác dụng không mong muốn 40
3.3.1 Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng 40
3.3.2 Tác dụng không mong muốn trên một số chỉ tiêu cận lâm sàng 40
CHƯƠNG IV: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 42
4.1 Bàn luận về đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 42
Trang 54.2.2 Kết quả điều trị chung 42
4.2.3 Kết quả điều trị theo nhóm tuổi 42
4.2.4 Kết quả điều trị theo ngày bệnh 42
4.2.5 Thời gian điều trị 42
4.3 Bàn luận về tác dụng không mong muốn 42
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 43
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 2.2: Mức độ nặng nhẹ của liệt dây VII 27
Bảng 2.3: Tiêu chuẩn đánh giá các triệu chứng lâm sàng khác: 27
Bảng 2.4: Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị lâm sàng: 28
Bảng 3.1 Tuổi và giới bệnh nhân nghiên cứu 30
Bảng 3.2 Thời gian từ khi mắc bệnh đến khi vào viện 30
Bảng 3.3 Vị trí bị bệnh 31
Bảng 3.4 Các triệu chứng chính của liệt mặt 31
Bảng 3.5 Mức độ liệt theo lâm sàng 32
Bảng 3.6 Kết quả điều trị triệu chứng chính ở cả hai nhóm 32
Bảng 3.7 Triệu chứng mất nếp nhăn trán sau 15 ngày điều trị 33
Bảng 3.8 Triệu chứng mất nếp nhăn trán sau 30 ngày điều trị 33
Bảng 3.9 Dấu hiệu Charles Bell sau 15 ngày điều trị 33
Bảng 3.10 Dấu hiệu Charles Bell sau 30 ngày điều trị 34
Bảng 3.11 Dấu hiệu Souques sau 15 ngày điều trị 34
Bảng 3.12 Dấu hiệu Souques sau 30 ngày điều trị 34
Bảng 3.13 Triệu chứng méo miệng và lệch nhân trung sau 15 ngày điều trị.35 Bảng 3.14 Triệu chứng méo miệng và lệch nhân trung sau 30 ngày điều trị 35
Bảng 3.15 Triệu chứng mất rãnh mũi má sau 15 ngày điều trị 35
Bảng 3.16 Triệu chứng mất rãnh mũi má sau 30 ngày điều trị 36
Bảng 3.17 Triệu chứng không co cơ cười sau 15 ngày điều trị 36
Bảng 3.18 Triệu chứng không co cơ cười sau 30 ngày điều trị 36
Bảng 3.19 Kết quả chung về lâm sàng sau 15 ngày điều trị 37
Bảng 3.20 Kết quả chung về lâm sàng sau 30 ngày điều trị 37
Bảng 3.21 Kết quả điều trị lâm sàng theo ngày mắc bệnh 38
Bảng 3.22 Kết quả điều trị lâm sàng theo nhóm tuổi của các bệnh nhân 39
Bảng 3.23 Thời gian điều trị 39
Bảng 3.24 Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng sau điều trị 40
Bảng 3.25 Kết quả biến đổi một số chỉ số huyết học theo từng nhóm 40
Bảng 3.26 Kết quả biến đổi một số chỉ số sinh hóa máu theo từng nhóm 41
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Liệt dây thần kinh VII ngoại biên là hiện tượng hạn chế hay không cửđộng được các cơ bám da mặt Đây là bệnh khá phổ biến ở nước ta, tỷ lệbệnh nhân liệt dây VII ngoại biên chiếm tỷ lệ khá cao trong số bệnh nhân bịtổn thương các dây thần kinh ngoại biên, và chỉ đứng sau đau dây thần kinhtọa Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, trong đó phần lớn bệnh nhân là người trẻ vàtrung niên , Nguyên nhân có thể do lạnh, nhiễm trùng, chấn thương, khối uhoặc các rối loạn trong xương đá, trong đó nguyên nhân do lạnh chiếm 80%
Biểu hiện trên lâm sàng của liệt VII ngoại biên thường là miệng méo vàmắt nhắm không kín Bệnh tuy không nguy hại đến tính mạng người bệnhnhưng ảnh nhiều đến sinh hoạt như: vận động các cơ ở mặt, điều tiết mắt, khókhăn trong ăn uống, và ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ về khuôn mặt củangười bệnh, do đó gây ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý, làm người bệnh mất
tự tin trong các hoạt động giao tiếp xã hội, gây khó khăn trong các hoạt độngcộng đồng
Về phương diện điều trị liệt VII ngoại biên do lạnh, Y học hiện đại đã
áp dụng phương pháp như dùng thuốc corticoid, vitamin… tuy nhiêncorticoid có nhiều tác dụng phụ, các phương pháp phẫu thuật thì phức tạp vàtốn kém Y học cổ truyền cũng đã có nhiều phương pháp điều trị như dùngthuốc bôi, uống, đắp… bằng các chế phẩm dược liệu, phương pháp khôngdùng thuốc như châm cứu, điện châm, mãng điện châm, thủy châm, ôn châm,xoa bóp, bấm huyệt…
Các nghiên cứu trong nước thường tập trung đánh giá tác dụng của cácphương pháp châm cứu, điện châm, mãng điện châm, xoa bóp bấm huyệt vàcho thấy đây là những phương pháp có hiệu quả trong điều trị liệt VII ngoạibiên, tuy nhiên chưa tận dụng được hết thế mạnh của YHCT Trên lâm sàng
Trang 9chúng tôi nhận thấy việc phối hợp các phương pháp để rút ngắn thời gianđiều trị, nhằm đáp ứng nhu cầu của người bệnh là nhanh chóng có khuôn mặttrở lại bình thường, giúp họ trở lại các hoạt động sinh hoạt thường ngày là vôcùng cần thiết.
“Tiểu tục mệnh thang” được biết đến là bài thuốc có tác dụng khưphong tán hàn, ích ích khí hoạt huyết, chủ trị ngoại phong trúng vào kinh lạc,nhưng chúng tôi chưa thấy có công trình nào nghiên cứu phương pháp điều trịliệt VII ngoại biên do lạnh bằng bài thuốc này Chính vì vậy, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác dụng điều trị liệt VII ngoại biên do
lạnh bằng bài thuốc Tiểu tục mệnh thang kết hợp điện châm” nhằm tận
dụng thế mạnh của y học cổ truyền, góp phần làm phong phú thêm cácphương pháp điều trị liệt VII ngoại biên, đồng thời nâng cao hiệu quả điều trịbệnh trên cơ sở thừa kế và phát huy tiềm năng của y học cổ truyền
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Xác định tỷ lệ khỏi bệnh trên bệnh nhân điều trị liệt VII ngoại biên do lạnh bằng bài thuốc “Tiểu tục mệnh thang” kết hợp điện châm tại bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an từ năm 2014-2015.
2 Mô tả tác dụng không mong muốn của bài thuốc “Tiểu tục mệnh thang” trên một số chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng tại bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an từ năm 2014-2015.
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1 Tình hình liệt dây VII ngoại biên trên thế giới và ở Việt Nam.
Tổn thương dây thần kinh số VII là bệnh thường gặp trong số các bệnh
lý về dây TK Nghiên cứu của Katusiv-SK, Beard-CM và cộng sự năm 1982cho thấy tỷ lệ này là 25/100.000 dân và tỷ lệ hồi phục không hoàn toàn là14%
Theo Hubschmann (1984), tổn thương dây VII gặp khoảng 2% trongtổng số tổn thương các dây thần kinh ngoại vi
Theo Harrisonm, năm 1986 tỷ lệ liệt mặt ngoại biên là 23/100.000 nam
Trang 111.2 Những đặc điểm về giải phẫu – sinh lý của dây thần kinh số VII 1.2.1 Dây thần kinh số VII.
Dây VII là một dây thần kinh hỗn hợp, nó bao gồm chủ yếu là chứcnăng vận động, nhưng cũng có chức năng cảm giác và điều tiết các tuyến , , ,
Nhân dây VII nằm ở phần bên của mái cầu não, sát với thể lưới; chiềudài xấp xỉ 4mm, số lượng tế bào gần 6000 tế bào Các nhân tế bào tạo thànhnhóm: nhóm nhân lưng và nhóm nhân bụng Mỗi nhóm chịu trách nhiệm chiphối những nhóm cơ nhất định ở mặt Nhóm nhân lưng lại chia thành 3 nhómnhân nhỏ:
- Nhóm nhân lưng trong chi phối cho các cơ trán
- Nhóm nhân lưng bên chi phối cho các cơ dưới cằm
- Nhóm nhân lưng giữa chi phối cho các cơ môi và mũi
Nhân dây VII có liên quan mật thiết với hệ lưới, chi phối vận động do
Trang 12 Dây thần kinh cơ bàn đạp: Tách ra ở phần đầu đoạn đi rong xương đáchi phối vận động cơ bàn đạp trong hòm nhĩ.
Dây thừng nhĩ: Tách ngay trước lúc dây thần thần kinh VII chui qua lỗtrâm chũm ra ngoài sọ, mang các sợi thực vật của dây VII (Wrisberg)chi phối vị giác cho 2/3 trước lưỡi và các sợi tiết dịch cho tuyến dướihàm và dưới lưỡi
Nhánh cảm giác nông cho ống tai ngoài và vành tai
+ Nhánh ngoài xương đá: Sau khi ra khỏi lỗ trâm chũm, dây VII chạyngay vào giữa hai thùy tuyến mang tai và phân thành các nhánh tận để vậnđộng các cơ bám da ở mặt và cổ
Nhánh tai sau: Nối với nhánh tai của đám rối cổ, vận động cho các cơ tai
Nhánh tận: Gồm thân thái dương mặt chi phối các cơ trán, cơ mày, cơvòng mi làm nhắm mắt; thân cổ mặt chi phối vận động các cơ má, cơmôi và cơ bám da cổ
1.2.2 Các cơ bám da mặt.
Ở mặt có hai loại cơ là cơ bám da mặt hay cơ mặt, nó có đặc điểm là:
- Bám vào da, nên khi co cơ làm cho xuất hiện các nếp nhăn da mặt, nếpnhăn thường thẳng góc với các thớ cơ nên dây bị liệt thì làm cho mặt bị méo
- Các cơ mặt được sắp xếp xung quanh mắt, mũi, miệng
1.3 Liệt VII ngoại biên theo Y học hiện đại.
1.3.1 Hình ảnh lâm sàng liệt dây VII ngoại biên.
Biểu hiện lâm sàng của liệt dây VII ngoại biên (thể điển hình) là tìnhtrạng mất cân đối hai bên trên mặt , , ,
- Lúc nghỉ ngơi: Quan sát vẻ mặt của người bệnh ta thấy :
Lông mày bên liệt hơi hạ thấp xuống
Khe mắt bên liệt rộng hơn bên lành
Nếp nhăn mũi má mờ hoặc mất
Trang 13 Nhân trung lệch về bên lành nên miệng bị méo về bên lành.
Khi nhe răng hoặc cười: miệng méo rõ về bên lành
Khó hoặc không chúm miệng thổi lửa được
Khó hoặc không ngậm hơi phồng má được
Khi thè lưỡi: lưỡi lệch giả tạo về bên lành
Ăn cơm, uống nước: rơi vãi ra mép bên liệt
Dấu hiệu cơ bám da cổ: bệnh nhân há miệng, thầy thuốc dùng bàn tay đỡcằm cản lại thì thấy các cơ bám da cổ không căng lên như ở bên lành
- Một số phản xạ chứng tỏ có liệt dây VII ngoại vi:
+ Phản xạ mũi – mi: dùng búa hoặc ngón tay gõ vào gốc mũi, hai mắtnhắm không đều, mắt bên liệt nhắm chậm hơn
+ Phản xạ trên ổ mắt của Mac Carthy, gõ vào vùng trên ổ mắt
+ Phản xạ ốc tai – mi: gây tiếng động bất ngờ sau tai bệnh nhân, ví dụ
vỗ mạnh tay, mắt bên liệt nhắm chậm hơn
+ Phản xạ thị - mi: đột ngột chiếu ánh sáng vào mắt hay đưa một vậtvào gần mắt thì lập tức bệnh nhân chớp mắt Khi có thương tổn rộng ở não dothiếu oxy thì phản xạ này không xuất hiện
Trang 14+ Phản xạ giác mạc: thương tổn dây VII thì mất phản xạ giác mạcnhưng vẫn còn cảm giác của giác mạc.
Biểu hiện lâm sàng của liệt dây VII ngoại biên nói chung đều có cáctriệu chứng như trên Nhưng tùy vào vị trí tổn thương xảy ra ở nơi nào củadây VII mà có thêm các triệu chứng khác nữa Sau đây là một số vị trí tổnthương đặc biệt của dây VII
+ Tổn thương dây VII ở trên chỗ tách dây đá nông lớn và dây thừngnhĩ: Liệt các cơ mặt, khô mắt, giảm tiết nước bọt, giảm vị giác 2/3 trước lưỡi
và nghe vang đau
+ Tổn thương trong xương đá:
• Trước dây thần kinh cơ bàn đạp: Liệt các cơ mặt, nghe vang đau, haychảy nước mắt, mất vị giác 2/3 trước lưỡi
• Trước dây thừng nhĩ: liệt các cơ mặt, mất vị giác 2/3 trước lưỡi, chảynước mắt, không nghe vang đau
+ Tổn thương sau khi ra khỏi lỗ trâm chũm (sau chỗ tách của dây thừngnhĩ): Liệt cơ mặt theo từng nhánh khác nhau, không rối loạn tiết nước mắt,nước bọt, không nghe vang đau và không giảm vị giác 2/3 trước lưỡi
Ngoài ra những người liệt dây VII rất hay bị chảy nước mắt, khôngnhững do thừng nhĩ bị kích thích mà còn do nhắm mắt không kín, giác mạc bị
hở và bị kích thích làm tăng tiết nước mắt
1.3.2 Các thể lâm sàng trong liệt dây VII.
1.3.2.1.Liệt dây VII do lạnh (thể đơn thuần).
Liệt mặt do lạnh (hay còn gọi là liệt Bell) thường khởi phát đột ngột saukhi bị lạnh Thường thấy sau khi gặp mưa, gió lạnh hoặc sáng ngủ dậy tự nhiênméo miệng, khi cười nửa mặt bên lành co xếch lên, còn bên bệnh vẫn nguyên
Các triệu chứng đầu tiên có thể khác nhau, nhưng thường thấy mất cânđối 2 bên mặt, đau sau tai, nề gò má, đọng thức ăn bên liệt Khi uống nước,nước trào ra mép bên liệt; mất cảm giác vị giác 2/3 trước lưỡi bên bệnh; không
Trang 15thổi lửa, huýt sáo được Chảy nước mắt hoặc khô mắt, khi tắm hay bị nướcchảy vào mắt, nghe vang đau, phát âm các phụ âm khó khăn Một số bệnh nhânkhông tự nhận biết được mình bị liệt mà do người khác phát hiện ra Thôngthường các nhánh tổn thương không đồng đều, trên lâm sàng thường thấynhánh cổ mặt tổn thương nặng nề hơn nhánh thái dương mặt và tiến triển cũngchậm hơn Liệt dây VII ở trẻ em thường thấy hồi phục tốt hơn ,
1.3.2.2 Liệt dây VII hai bên (Diplegia facialis).
Liệt dây VII hai bên là một thể bệnh hiếm gặp Bell (1936) là ngườiđầu tiên mô tả liệt dây VII hai bên Năm 1867, Pieneson đã viết một cuốnsách gồm 28 bệnh án liệt dây VII hai bên
Biểu hiện: mặt trơ, bất động, miệng há, mắt mở, nước mắt và nước bọtchảy ra
Liệt VII hai bên thường gặp trong bệnh viêm đa rễ thần kinh (Hộichứng Guillain – Barre) (89%) Ngoài ra có thể gặp trong uốn ván đầu củaRose, bệnh hủi, bệnh bạch huyết, bệnh giang mai, viêm màng não mô cầu,bệnh đái tháo đường tiềm tàng, liệt VII do thai nghén, liệt VII do bệnh Lyme
Liệt dây VII hai bên có thể gặp trong trường hợp cùng một lúc tổnthương cấp dây VII cả hai bên, hoặc tiến triển ở một bên trong một thời gianrồi mới chuyển sang bên kia Nghiên cứu của Học viện Ki-rốp trong thời gian
15 năm cho thấy: trong 600 bệnh nhân liệt dây VII thì chỉ có 12 bệnh nhânliệt dây VII hai bên; các trường hợp nói trên đều có chung một nhận định là:biểu hiện có hội chứng đau, co cứng cơ mặt bên liệt sớm hơn, tiến triển daidẳng, kéo dài và hồi phục kém ,
1.3.2.3 Tổn thương dây VII trong Herpes zoster (Đau Hunt).
Đây là hội chứng tổn thương hạch gối của dây VII do virutHerpeszoster, đặc điểm lâm sàng nổi bật là đau, liệt dây VII có mụn Zona ởvùng vành tai, ống tai ngoài, đôi khi mọc cả trong họng và 2/3 trước lưỡi
Trang 16Trong thời kỳ ủ bệnh, bệnh nhân có sốt, có cảm giác kiến bò ở vùng sẽtổn thương và mọc mụn Zona Đau bỏng nuốt cường độ mạnh làm bệnh nhânrất khó chịu và đỡ đau khi mọc hết các mụn Zona, đau kéo dài từ 1-14 ngày,liệt dây VII xuất hiện sau triệu chứng đau 3-4 ngày và đồng thời thấy tổnthương dây thính giác, chóng mặt, ù tai, giảm thính lực.
Đường xâm nhập của virut hiện nay không được rõ, một số tác giả chorằng virut xâm nhập qua đường hô hấp trên, amidan, sau đó vào máu hoặctheo đường bạch huyết tới hạch thần kinh,
1.3.2.4 Liệt dây VII trong bệnh lý viêm tai- xương chũm.
Theo thống kê, các bệnh của tai gây lên viêm dây VII dao động từ 15% Tổn thương dây VII có thể xuất hiện trước, trong hoặc sau khi phẫuthuật xương chũm Nguyên nhân thường là do quá trình nhiễm trùng nhiễmđộc khu vực, rối loạn tuần hoàn do đè ép hoặc chấn thương trực tiếp vào dâythần kinh, phù nề trong cống Fallope
6-Tiến triển của bệnh thường rất xấu, 50% các trường hợp thường khôngkhỏi hoàn toàn, một số ít chuyển sang co cứng ,
1.3.2.5 Tổn thương dây VII trong chấn thương vỡ nền sọ.
Chấn thương sọ não, vỡ nền sọ thường có tổn thương dây VII TheoKamanova L.I (1943) trong số 250 bệnh nhân bị chấn thương sọ não vỡ nền
sọ thì có 110 bệnh nhân (chiếm 44%) bị tổn thương dây VII
Tiên lượng phục hồi các dây thần kinh sọ não phụ thuộc vào tính chấtchấn thương và thường phải điều trị bằng phương pháp phẫu thuật
1.3.2.6 Liệt dây VII co cứng.
Trong quá trình điều trị liệt dây VII, một số trường hợp để lại di chứngvĩnh viễn là co cứng các cơ mặt Co cứng cơ thường xuất hiện vào giai đoạnhồi phục không hoàn toàn các cơ liệt.Nghiên cứu của K.G.Umanskij cho thấy
tỷ lệ bệnh nhân bị co cứng cơ mặt là 13,2%; Nghiên cứu của Phuks cho thấy
Trang 17tỷ lệ này là 20,8%, của LA.Savannus là 25,2% Theo Hồ Hữu Lương (2005),
tỷ lệ này là 10%
Biểu hiện:
- Mặt lệch về bên liệt, tạo cảm giác liệt ở bên lành Hẹp khe mi, rãnhmũi má sâu hơn, góc miệng lệch ra ngoài và lên trên Gò má hơi phẳng, mềmhơn Đôi khi thấy đầu mũi hơi lệch về bên bệnh Da phần bên bệnh của cổ bị
co kéo
- Thỉnh thoảng giật các bó cơ và sợi cơ tự phát ở cơ dưới cằm, gócmiệng, gò má, trán Tăng kích thích các cơ mặt, có dấu hiệu Chvostek, cóđồng động bệnh lý các cơ mặt: khi nhắm mắt thì môi và góc miệng bên bệnhnhếch lên, hay khi nhắm mắt lại thì nhíu mày và góc miệng nhếch lên, hoặckhi nhắm mắt thì cánh mũi bên bệnh nhấc lên
- Rối loạn cảm giác: đau ở bên liệt, ấn đau vùng dưới lông mày, gò má,sau tai; giảm cảm giác nông, tăng khả năng kích thích cơ học của cơ bị liệt
- Rối loạn thần kinh thực vật: tăng hoặc giảm nhiệt độ da, tiết mồ hôi ởbên liệt Các trường hợp thương tổn sau thể gối thì tăng tiết nước mắt, trướcthể gối thì giảm tiết nước mắt
Liệt VII co cứng hay xảy ra trong các trường hợp sau: liệt cơ mặt nặng,thương tổn dây VII đoạn trong cống Fallope, điều trị bằng các phương phápkích thích điện quá mạnh và kéo dài nhiều ngày
Cơ chế co cứng cơ trong liệt VII: nhiều thuyết cho rằng co cứng cơ mặttrong liệt dây VII là do:
- Mất thần kinh chi phối (Bernhardt 1902, Erb 1882)
- Co cứng cơ và đồng vận các cơ mặt là do rối loạn hoạt động phối hợpcủa các nhóm nhân dây VII do hậu quả của kích thích quá mức các đơn vị vậnđộng dưới ảnh hưởng bệnh lý ở các sợi trục (Gowerl 1896)
- Thương tổn các cơ đối kháng (Childrduci 1900)
Trang 18- Phân bố lại trương lực cơ và đổi hướng của các sợi thần kinh vừađược tái tạo (Lipschitz 1906).
Cơ hay bị co cứng: cơ vòng mi, cơ gò má, cơ nâng môi trên, cơ cười.Các cơ khác ít bị hơn Không thấy co cứng cơ vòng miệng và các cơ cánhmũi Co cứng cơ thường xuất hiện vào giai đoạn hồi phục không hoàn toàncác cơ liệt
Tiến triển của liệt VII co cứng: thời gian co cứng cơ thường là 4-6tháng sau khi bị liệt dây VII Co cứng cơ kéo dài mấy tháng, sau đó có giảmchút ít và co cứng cơ có thể kéo dài từ 15 đến 20 năm sau
1.3.3 Nguyên nhân gây bệnh.
Có rất nhiều nguyên nhân , , ,
- Do lạnh: Hay gặp nhất chiếm tới 80%, nguyên phát, thường sau bệnhnhân bị nhiễm lạnh và hay xảy ra vào ban đêm Chỉ có liệt mặt đơn thuần,không có dấu hiệu thần kinh khác
- Do viêm nhiễm: viêm nhiều rễ và dây thần kinh, viêm dây VII, viêmtai xương chũm, Zona, hạch gối…
- Do các tổn thương nền sọ: vỡ nền sọ gây vỡ xương đá, tai biến sảnkhoa do Forcep
- Do khối u: u góc cầu tiểu não, u dây thần kinh VII, u tai xương chũm,
u độc nền sọ, u cánh nhỏ xương bướm
- Có thể gây tê tại chỗ cũng đóng vai trò là một nguyên nhân gây bệnh
1.3.4 Nguyên nhân, sinh lý bệnh liệt dây VII ngoại biên do lạnh.
1.3.4.1 Nguyên nhân.
Do lạnh làm cho mạch nuôi của dây thần kinh bị co thắt gây ra thiếumáu cục bộ, phù và chẹn dây thần kinh ở trong cống Fallope Các trường hợpliệt tự phát đó thường phát triển cấp tính vào ban đêm
Trang 191.3.4.2 Sinh lý bệnh.
Y học hiện đại có nhiều giả thuyết khác nhau được đề cập
- Thuyết mạch máu: dây VII bị tấy đỏ, phù nề, bị ép trong bao sợi và éptrong cống Fallope ở đoạn lên do lạnh hoặc do các nguyên nhân khác gây cothắt mạch máu dẫn đến thiếu máu cục bộ, phát sinh phù nề và ứ trệ tĩnh mạch.Hai yếu tố này gây chèn ép dây thần kinh
- Thuyết nhiễm virus: lạnh là yếu tố thuận lợi cho nhiễm virus pháttriển (ví dụ virus từ ngã ba mồm, mũi, họng) Nguyên nhân do virus được nóiđến nhưng chưa được chứng minh, không có kháng thể kháng VaricellaZoster, Herrpes simplex, Borrelia spirochete (theo Wilson, Braunwald)
- Các nghiên cứu gần đây cho thấy liệt dây VII là một viêm hạch hệthần kinh trung ương kèm liệt mặt thứ phát Mô học đã mô tả liệt do viêm vàmất myelin tự miễn hơn là do thiếu máu cục bộ và chèn ép
1.3.5 Điều trị liệt dây VII ngoại biên theo y học hiện đại.
Tùy theo nguyên nhân, bệnh sinh, mức độ tổn thương và giai đoạn bệnh
mà điều trị cụ thể có thể phần khác nhau Nhưng đối với các trường hợpkhông rõ nguyên nhân hoặc do lạnh, nói chung là điều trị như sau:
- Tăng dẫn truyền thần kinh: nivalin, methylcoban (có thể dùng điệnphân nivalin)
- Tái tạo bao myelin: nucléo – CMP forte
- Vitamin nhóm B liều cao (B1, B6, B12)
- Corticoid, acid acetyl salicylic
- Giãn mạch ngoại vi: fonzylane, cavinton, trentox
- Chống gốc tự do: vitamin E, Eckhart Q10
- Không được dùng Strychnin vì dễ chuyển sang thể co cứng
- Trường hợp bị liệt mặt co cứng dai dẳng điều trị không kết quả có thểtiêm cồn hủy dây thần kinh
Trang 20- Tra thuốc mắt, vệ sinh răng miệng thường xuyên.
Chỉ định phẫu thuật liệt dây VII do lạnh trong các trường hợp sau:+ Liệt mặt tiến triển ngày càng nặng, sau điều trị nội khoa và vật lý trịliệu đến ngày thứ 21, lâm sàng vẫn không thấy dấu hiệu hồi phục, ghi điệnneuron có mức thoái hóa tới 90% kèm mất phản xạ nháy mắt
+ Đến tháng thứ 2 vẫn liệt mặt nặng và điện cơ mất hoạt động điện , ,
1.4 Liệt VII ngoại biên theo Y học cổ truyền.
Liệt dây thần kinh VII ngoại biên nằm trong chứng trúng phong kinhlạc của YHCT Các triệu chứng chính của liệt dây VII ngoại biên được YHCT
mô tả đầy đủ với bệnh danh “Khẫu nhãn oa tà” – miệng và mắt méo lệch: Mặtmất cân đối rõ rệt, bên liệt không nhăn trán được, lông mày hơi bị sệ xuống,mắt nhắm không kín, không làm được động tác phồng má mím môi, miệng bịkéo lệch sang bên lành, ăn uống rơi vãi Tùy theo nguyên nhân mà có biểuhiện mạch, chất lưỡi, rêu lưỡi khác nhau
1.4.1 Nguyên nhân, bệnh sinh.
Có nhiều nguyên nhân gây chứng “khẩu nhãn oa tà” đã được đưa ranhưng đa phần đều đề cập tới 3 nguyên nhân chính:
- Trúng phong hàn ở kinh lạc – liệt dây VII ngoại biên do lạnh
- Trúng phong nhiệt ở kinh lạc – liệt dây VII ngoại biên do nhiễm khuẩn
- Ứ huyết ở kinh lạc – liệt dây VII ngoại biên do chấn thương
1.4.1.1 Thể trúng phong hàn ở kinh lạc.
Là nguyên nhân thường gặp nhất, bệnh khởi phát đột ngột Bệnh dophong hàn tà xâm nhập vào lạc mạch của các kinh dương ở mặt, làm cho sựlưu thông kinh khí mất bình thường, khí huyết không được điều hòa, kinh cânthiếu dinh dưỡng, không co lại được mà gây nên
Trang 21Phong tà (gió) và hàn tà (lạnh) là hai trong sáu yếu tố bên ngoài gâybệnh mà Y học cổ truyền gọi là lục dâm , , , nó gây ra các bệnh ngoại cảm(bệnh do bên ngoài đưa tới) như đau dây thần kinh ngoại biên do lạnh…Phong (gió) chủ khí về mùa xuân nhưng vào mùa nào cũng gây bệnh, nóthường phối hợp với các thứ khí khác: hàn, thấp, nhiệt… thành phong hàn,phong thấp, phong nhiệt….
Đặc tính của phong là dương tà nên hay đi lên và ra ngoài Do đó,phong hay gây bệnh ở phẩn trên của cơ thể (đầu, mặt) và ở phần ngoài (cơbiểu) làm da lông khai tiết ra mồ hôi, sợ gió, mạch phù…
Đặc tính của hàn là âm tà nên hay làm tổn thương dương khí Hàn còn
có tính hay ngưng trệ, hay gây đau tại chỗ, do khí huyết ứ trệ, không thông,gây co rút làm bế tắc lại như lạnh gây co cứng cơ, đau vai gáy… Tà khíphong hàn xâm phạm vào các kinh dương (đặc biệt là kinh Dương minh vàkinh Thái dương), làm cho kính khí bị trở ngại, không lưu thông được, kinhcân mất dinh dưỡng, cân nhục mềm nhẽo mà tạo thành bệnh Mặt khác, khi cơthể ở tình trạng vệ khí hư, chính khí yếu do các nguyên nhân bên trong hoặcbên ngoài, bệnh tà nhân cơ hội xâm nhập vào các kinh mạch, lạc mạch của cơthể làm cho sự tuần hoàn của khí huyết trong kinh lạc bị ứ trệ, dẫn đến sự rốiloạn hoạt động các cơ quan bộ phận trong cơ thể mà tạo nên bệnh
1.4.1.2 Trúng phong nhiệt ở kinh lạc.
Do phong nhiệt tà xâm phạm vào kinh mạch, làm kinh cân thiếu dinhdưỡng mà gây nên Nhiệt tà (hỏa) hay gây sốt và chứng viêm nhiệt, thiêu đốttân dịch
1.4.1.3 Huyết ứ ở kinh lạc.
Do sang chấn gây ra huyết ứ ở kinh lạc; từ đó mà gây liệt
Trang 221.4.2 Điều trị liệt VII ngoại biên theo y học cổ truyền.
Sắc uống ngày 01 thang
- Phương pháp không dùng thuốc:
+ Châm cứu:
Thủ thuật: châm tả
Các huyệt tại chỗ: Toản trúc, Tình minh, Đồng tử liêu, Dương bạch,Thừa khấp, Nghinh hương, Giáp xa, Địa thương, Nhân trung, Thừa tương, Ếphong, Ty trúc không
Huyệt toàn thân: Hợp cốc bên đối diện
Có thể cứu, hào châm, ôn châm, điện châm, ôn điện châm…
1.4.2.2 Thể trúng phong nhiệt ở kinh lạc.
Trang 23- Pháp điều trị: khu phong thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết (khi cònsốt) Khu phong bổ huyết hoạt lạc (khi hết sốt).
Điều trị cụ thể:
- Bài thuốc:
Sắc uống ngày 01 thang
- Phương pháp không dùng thuốc:
+ Châm cứu:
Châm tả các huyệt tại chỗ như trên
Toàn thân châm huyệt Hợp cốc bên đối diện, Khúc trì, Nội Đình cùngbên
1.4.2.3 Thể ứ huyết ở kinh lạc.
- Pháp điều trị: hoạt huyết, hành khí tiêu ứ
Điều trị cụ thể:
- Bài thuốc:
Sắc uống ngày 01 thang
- Phương pháp không dùng thuốc:
+ Châm cứu:
Châm tả các huyệt tại chỗ như trên
Toàn thân: Hợp cốc bên đối diện, châm bổ huyệt Huyết hải, Túc tam lýhai bên
Trang 24Đa số các trường hợp liệt VII ngoại biên do lạnh hoặc do ứ huyết điềutrị bằng phương pháp châm cứu đem lại kết quả tốt Các trường hợp liệt VIIngoại biên do nhiễm trùng hồi phục chậm hơn.
Đối với các trường hợp hồi phục chậm (trên 2 tháng), phối hợp nhiềuphương pháp chữa (châm cứu, tiêm thuốc vào huyệt, điện châm, lý liệu pháp
tử ngoại, điện phân, mai hoa châm, xoa bóp…) thường kết quả thu được tốthơn
1.5 Tình hình nghiên cứu điều trị liệt dây VII ở trên thế giới và trong nước.
Liệt VII ngoại biên đã được biết đến rất sớm từ thời Hypocrat ở thế kỷthứ V trước Công nguyên Trải qua nhiều thế kỷ, đã có rất nhiều nghiên cứu
về bệnh này như của Clodius, Charles Bell, Vera, Ramsay Hunt… và cũng đã
có rất nhiều đề xuất phương pháp điều trị bệnh liệt dây VII ngoại biên nhưphương pháp chuyển mạch máu, thần kinh của Takushima , phẫu thuật dâythần kinh mặt của Gosain , phẫu thuật nối thông dây thần kinh mặt - sống –dưới lưỡi của Cuortmans , vai trò của Acyclovir trong điều trị liệt dây VIIngoại biên của Sipe , vai trò của Corticosteroid trong điều trị liệt dây VII củaSalinas
Ở Trung Quốc, Zang J nghiên cứu 80 trường hợp liệt dây VII ngoạibiên đã được điều trị bằng châm (với hình thức châm nông, vê kim) nhận thấy
có 98,75% số bệnh nhân có hiệu quả, trong đó tỷ lệ khỏi là 88,75%
Nghiên cứu của viện Y học cổ truyền Việt Nam trong khoảng thời gian1963-1965 trên 48 bệnh nhân liệt VII cho thấy điều trị bằng châm cứu có 69%
số bệnh nhân có tiến triển tốt
Nghiên cứu của Vũ Xuân Quang – Nguyễn Tài Thu (1978): đa số cáctrường hợp tiến triển tốt khi điều trị bằng điện châm kết hợp thủy châm
Trang 25Đinh Văn Đính điều trị bằng kích thích xung điện thông qua điện cựccho thấy tỷ lệ các bệnh nhân khỏi là 32%; đỡ 44%; không đỡ là 24% Số ngàyđiều trị trung bình là 25,5
Nghiên cứu của Trần Quốc Hiếu và Tarasenco tại Viện Y học cổ truyềnViệt Nam (2001) trên 34 bệnh nhân liệt dây VII ngoại biên do lạnh cho thấyđiều trị bằng ôn điện châm kết hợp xoa bóp có 73,53% số bệnh nhân tiến triểntốt
Nguyễn Kim Ngân (2002) ứng dụng mãng điện châm điều trị liệt dâyVII ngoại biên cho thấy tỷ lệ các bệnh nhân khỏi là 69,7%, đỡ là 30,3%,không có trường hợp nào không đỡ
Phạm Thị Hương Nga (2003) ứng dụng điện châm huyệt Nhĩ mônxuyên Thính cung phối hợp huyệt Phong trì điều trị liệt dây VII ngoại biên dolạnh cho thấy tỷ lệ bệnh nhân khỏi là 71,9%, đỡ là 28,1%, không có trườnghợp nào không đỡ
Lê Văn Thành (2007) sử dụng xoa bóp bấm huyệt kết hợp điện châmtrong điều trị liệt VII ngoại biên do lạnh cho thấy tỷ lệ bệnh nhân khỏi là93,75%, đỡ là 6,25%, không có trường hợp nào không đỡ
1.6 Phương pháp điện châm.
Điện châm là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng của châm cứuvới tác dụng của xung điện phát ra từ máy điện châm Kích thích của dòngxung điện có tác dụng làm dịu đau, ức chế cơn đau, kích thích hoạt động các
cơ, các tổ chức và tăng cường dinh dưỡng các tổ chức, làm giảm viêm, giảmxung huyết, giảm phù nề tại chỗ
Điện châm là một phát triển của châm cứu thay thế cho thủ pháp vê taykích thích huyệt để điều hòa nhanh hơn quá trình mất thăng bằng âm dươngcủa cơ thể Sau khi châm đắc khí, nối dây của điện cực với các kim châm trênhuyệt Máy điện châm giúp cho thầy thuốc bổ tả thích hợp với từng kinh trênhuyệt, từng loại chứng bệnh, từng thể trạng của bệnh nhân
Trang 26Cường độ kích thích phải tăng dần từ thấp đến cao Cường độ kíchthích từ 10 – 100µA, tần số kích thích từ 2 – 60Hz.
- Châm bổ: tần số 2 – 10Hz, cường độ từ 40 - 80µA
- Châm tả: tần số 10 - 40Hz trở lên, cường độ từ 81 - 100µA
- Thời gian kích thích từ 20 – 30 phút cho mỗi lần điện châm Trongquá trình châm, tăng cường độ, tần số từ từ để tìm ngưỡng chịu đựng củangười bệnh cho phù hợp mục đích bổ hay tả của thầy thuốc ,
Trong nghiên cứu, chúng tôi điện châm theo công thức huyệt:
Toản trúc, Tình minh, Đồng tử liêu, Dương bạch, Địa thương, Giáp xa, Ếphong, Nghinh hương, Thừa tương, Nhân trung, Phong trì, Hợp cốc (đối diện)
Vị trí, tác dụng huyệt xem phần phụ lục 1
1.7 Tổng quan về bài thuốc nghiên cứu.
1.7.1 Tên bài thuốc: Tiểu tục mệnh thang.
1.7.2 Xuất sứ bài thuốc:
Tiểu tục mệnh thang là bài thuốc cổ phương có xuất sứ từ “Ngoại đài bíyếu” của Danh y Vương Đào, xuất bản năm 752 đời nhà Đường, Trung Quốc
1.7.3 Thành phần bài thuốc nghiên cứu:
1.7.4 Cách dùng: tất cả làm thang sắc uống, ngày 01 thang.
1.7.5 Tác dụng: khư phong tán hàn, ích khí hoạt huyết.
1.7.6 Chỉ định: phong tà xâm nhập vào kinh mạch dẫn đến miệng mắt méo
lệch, cân mạch co rút, bán thân bất toại, nói khó, nói ngọng, đau đầu, cổ cứngcho tới chứng phong thấp tý đều có thể sử dụng
1.7.7 Phân tích bài thuốc:
Khi cơ thể người bệnh chính khí bất túc làm cho tấu lý bị sơ hở nênphong tà ở bên ngoài mới dễ dàng xâm nhập vào, gây ra bệnh Như trong
Trang 27Linh khu- ngũ biến phong đã nói: “Nhục bất kiên, tấu lý sơ tất mắc bệnhphong” Kim quỹ yếu lược trên cơ sở của Nội kinh càng nói rõ vấn đề này vớinhận định rằng: Bệnh này do từ dinh vệ hư nhược, kinh lạc hư rỗng, không cóthể ngăn chặn được ngoại tà bên ngoài xâm phạm vào mà dẫn đến.
Bài thuốc này là do hợp lại từ hai bài thuốc: “Ma hoàng thang” và “Quếchi thang” gia giảm mà thành “Ma hoàng thang” kết hợp với vị thuốc Xuyênkhung, Phòng phong có tác dụng khai biểu tiêu bế, khư phong thông lạc màđưa phong tà bài xuất ra ngoài, chú trọng về trừ tà “Quế chi thang” điều hòadinh vệ, khi dinh vệ được điều hòa tấu lý sẽ bền chặt, tăng cường sự bảo vệ cơthể, hạn chế sự xâm nhập của phong tà Trong bài thuốc, Phụ tử có tác dụng
ôn dương tán hàn, Đẳng sâm bổ khí, hai vị thuốc này có tác dụng ôn dươngích khí, phối ngũ với các thuốc khư phong tán hàn, có được công năng phùchính khư tà Xuyên khung đi lên đầu, lên mắt để đuổi phong ở đỉnh đầu, lại
có thể hoạt huyết hoá ứ, với ý nghĩa “huyết hành phong tự diệt” Hoàng cầm
vị đắng tính hàn, hạn chế bớt cái ôn nhiệt của các vị thuốc để cân bằng giữadương dược và âm dược Phối hợp sử dụng, các thuốc cùng có công năng khưphong tán hàn, ích khí hoạt huyết, chủ trị “chân trúng phong” là ngoại phongtrúng vào kinh lạc
Đây là bài thuốc cổ phương có xuất xứ từ “Ngoại đài bí yếu”, cổ nhân
đã sử dụng bài thuốc này để chữa chứng trúng phong, miệng méo mắt lệch,bán thân bất toại nhưng cho tới nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiêncứu đầy đủ về hiệu quả điều trị liệt VII ngoại biên do lạnh của bài thuốc.Chính vì lý do trên chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quảđiều trị và tác dụng không mong muốn của bài thuốc trong điều trị liệt VIIngoại biên do lạnh
Trang 28CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu.
Bệnh nhân bị liệt dây VII ngoại biên do lạnh, được khám và điều trị tạiBệnh viện YHCT Bộ công an từ tháng 07/2014 đến tháng 07/2015
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân.
Tất cả bệnh nhân nghiên cứu từ 15 tuổi trở lên, không phân biệt giới,nghề nghiệp, có nguyên nhân liệt dây VII ngoại biên do lạnh và đạt các tiêuchuẩn của y học hiện đại và y học cổ truyền
2.1.1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán theo y học hiện đại.
Dựa theo bảng chẩn đoán lâm sàng liệt dây VII ngoại biên do lạnh trong
“lâm sàng thần kinh” của Hồ Hữu Lương và của Ngô Đăng Thục
- Bệnh nhân phải có rối loạn vận động:
+ Mất hoặc mờ nếp nhăn trán
+ Mất hoặc mờ rãnh mũi má
+ Lệch nhân trung
+ Dấu hiệu Souques (+)
+ Dấu hiệu Charles Bell dương tính
Trang 29 Giảm tiết nước bọt.
+ Rối loạn cảm giác:
Cảm giác đau vùng sau tai
Nghe vang đau
2.1.1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán theo y học cổ truyền.
Tất cả bệnh nhân nghiên cứu đều được chẩn đoán là khẩu nhãn oa tàthể phong hàn
* Tiêu chuẩn thể phong hàn: ngoài các biểu hiện tại chỗ vùng mặt nhưtrên còn có các biểu hiện như:
Bệnh xuất hiện đột ngột, hay gặp về mùa lạnh hoặc sáng sớm
- Sợ lạnh, không sốt
- Rêu lưỡi trắng, mỏng
- Mạch phù, huyền, hoạt
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân.
- Các trường hợp liệt VII ngoại biên không phải nguyên nhân do lạnh
- Có kèm tổn thương các dây thần kinh sọ não khác
2.2 Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu.
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng mở,
so sánh trước sau điều trị có đối chứng
- Nhóm nghiên cứu: Dùng bài thuốc “Tiểu tục mệnh thang” kết hợpđiện châm
Trang 30- Nhóm đối chứng: Dùng điện châm.
Cả 2 nhóm đều được điện châm theo công thức huyệt đã chọn
1
2
p p
pq Z
n1: cỡ mẫu của nhóm nghiên cứu
n2: cỡ mẫu của nhóm đối chứng
2.2.3 Phương tiện, chất liệu nghiên cứu.
2.2.3.1 Phương tiện nghiên cứu.
- Kim châm cứu: kim hào châm dài 5cm
- Máy điện châm:
Trang 31Sử dụng máy điện châm Model 1592- ET- TK21 do Công ty Đầu tưPhát triển Công nghệ và xây lắp K & N sản xuất.
+ Máy điện châm có điện thế (E) = 6V chạy bằng pin
+ Máy sử dụng dòng điện một chiều: tần số 0,5 – 50 Hz, biên độ xung
ra 90 – 120V
- Bông cồn vô trùng, panh không mấu, khay quả đậu
2.2.3.2 Chất liệu nghiên cứu.
* Bài thuốc nghiên cứu:
- Tên bài thuốc: “Tiểu tục mệnh thang”
- Thành phần:
+ Ngày uống 02 lần, mỗi lần 01 túi Uống trước bữa ăn 30 phút, ngâmtúi thuốc vào ca nước sôi hoặc đun qua lò vi sóng 30 giây
*Tiêu chuẩn thuốc:
- Các vị thuốc được bào chế thành dạng thuốc chín và đạt tiêu chuẩntrong dược điển Việt Nam IV và tiêu chuẩn cơ sở
- Nơi sản xuất: khoa Dược Bệnh viện YHCT Bộ công an
2.2.4 Kỹ thuật điện châm dùng cho nghiên cứu.
Trang 32- Cách châm:
+ Chọn huyệt điều trị: Dựa theo các tác giả và theo nguyên lý củaYHCT “Kinh lạc sở quá, chủ trị sở tại”, nghĩa là kinh lạc đi qua đâu thì chữađược bệnh ở đấy, chúng tôi sử dụng các huyệt sau:
Toản trúc, Tình minh, Đồng tử liêu, Dương bạch, Địa thương, Giáp xa, Ếphong, Nghinh hương, Thừa tương, Nhân trung, Phong trì, Hợp cốc (đối diện)
+ Kỹ thuật châm:
Sau khi xác định đúng vị trí, sát trùng bằng bông cồn, sau đó châm kimvào huyệt qua 2 thì: thì một qua da, thì hai đẩy kim theo hướng đã định
- Kỹ thuật kích thích xung điện:
Sau khi châm “đắc khí” cần tiến hành “dẫn khí” bằng kỹ thuật kíchthích xung điện Tần số và cường độ tùy theo tình trạng bệnh nhân và ngưỡngchịu đựng của từng người
+ Tần số châm tả từ 10 – 40 Hz, cường độ từ 81 – 100 µA
+ Thời gian kích thích: 20 phút
+ Liệu trình điều trị: 1 lần/ngày
2.3 Phương pháp theo dõi, đánh giá kết quả điều trị.
2.3.1 Theo dõi bệnh nhân.
Dựa trên các tiêu chí của mẫu bệnh án nghiên cứu đã xây dựng
2.3.2 Chỉ tiêu theo dõi.
* Lâm sàng:
- Các chỉ số về mức độ rối loạn vận động cơ vận động mặt (nếp nhăntrán, rãnh mũi má, độ lệch nhân trung, dấu hiệu Souques, dấu hiệu CharlesBell, méo miệng, sức co cơ cười); rối loạn TK thực vật (khô mắt, chảy nướcmắt, giảm vị giác, giảm tiết nước bọt) và rối loạn cảm giác (cảm giác đau sautai, nghe vang đau)