Xác định được thay đổi mô hình bệnh tật trẻ em qua các thời kì đã tạo cơ sở đánh giá hiệu quả cho các phương pháp điều trị từ đó đề ra chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu, chiến lược y
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-*** -ĐẶNG THỊ THU HIÊN
MÔ HÌNH BỆNH TẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP
ĐIỀU TRỊ BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU
TRUNG ƯƠNG NĂM 2011 - 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2008 - 2014
Người hướng dẫn:
ThS Trần Thị Minh Quyên
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng
đào tạo Trường Đại học Y Hà Nội, các thầy cô trong Khoa Y học cổ truyền đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin cảm ơn Ban giám đốc, cán bộ Phòng Kế hoạch tổng hợp, các Bác sỹ khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu Trung ương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân
thành tới Ths Trần Thị Minh Quyên – Giảng viên khoa YHCT Trường Đại
học Y Hà Nội, là người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp em hoàn thành khóa luận này Sự tận tâm và kiến thức của thầy cô là tấm gương sáng cho em noi theo trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, em xin cảm ơn những tình cảm chân thành, sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện tốt nhất của những người thân trong gia đình và bạn bè– những người đã luôn bên cạnh, giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian qua
Trong quá trình làm khóa luận khó tránh khỏi thiếu sót, kính mong sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô, bạn bè để nghiên cứu này được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 24/05/2014
Sinh viên
Đặng Thị Thu Hiên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận này được tiến hành dựa trên sự cho phépcủa Bệnh viện Châm cứu T rung ương Các số liệu kết quả trong khóa luận
là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiêncứu nào trước đây
Sinh viên
Đặng Thị Thu Hiên
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình nghiên cứu mô hình bệnh tật ở trẻ em .3
1.1.1 Trên thế giới .3
1.1.2 Tại Việt Nam .4
1.2 Tổng quan về ICD-10 .5
1.2.1 Lịch sử của phân loại bệnh tật .5
1.2.2 Giới thiệu về ICD-10 .6
1.3 Tổng quan các phương pháp điều trị bệnh ở trẻ em .8
1.3.1 Điều trị nội khoa .8
1.3.2 Điều trị ngoại khoa .10
1.4 Tổng quan phân loại các chứng bệnh nhi theo YHCT .10
1.5 Tổng quan các phương pháp điều trị bệnh nhi theo YHCT .13
1.5.1 Nguyên tắc điều trị điều trị bệnh .13
1.5.2 Không dùng thuốc .14
1.5.3 Dùng thuốc .17
1.6 Vài nét về bệnh viện Châm cứu Trung ương .18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .20
2.1 Đối tượng nghiên cứu .20
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 20
2.1.2 Thời gian nghiên cứu .20
2.1.3 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh án .20
2.2 Phương pháp nghiên cứu .20
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu .20
2.2.2 Cách thức tiến hành .20
2.2.3 Công cụ nghiên cứu .20
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu .21
Trang 62.3 Đạo đức nghiên cứu .22
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .23
3.1 Mô hình bệnh tật .23
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi 23
3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo giới 24
3.1.3 Số lượng bệnh nhân diễn biến trong năm .25
3.1.4 Phân bố bệnh nhân theo khu vực .26
3.1.5 Mô hình bệnh tật theo ICD-10 .27
3.1.6 Tỷ lệ các bệnh thường gặp nhất .28
3.1.7 Tỷ lệ bệnh theo YHCT .29
3.1.8 Công suất sử dụng giường bệnh, số ngày điều trị trung bình 30
3.2 Phương pháp điều trị .30
3.2.1 Tỷ lệ các phương pháp điều trị .30
3.2.2 Tỷ lệ các phương pháp điều trị không dùng thuốc .31
3.2.3 Tỷ lệ các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị .32
3.3 Kết quả điều trị .33
Chương 4: BÀN LUẬN 34
4.1 Tuổi của bệnh nhân 34
4.2 Phân bố bệnh nhân theo giới .35
4.3 Phân bố bệnh nhân theo thời gian .35
4.4 Phân bố bệnh nhân theo vùng .36
4.5 Mô hình bệnh tật tại khoa theo ICD-10 .37
4.6 Tỷ lệ các bệnh thường gặp nhất .39
4.7 Phân bố các chứng trạng theo YHCT .40
4.8 Công suất sử dụng giường bệnh và số ngày điều trị trung bình 41
4.9 Các phương pháp điều trị .42
4.10 Các nhóm thuốc được sử dụng .45
4.11 Kết quả điều trị .46
Trang 7KẾT LUẬN .48 KIẾN NGHỊ 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Phân bố bệnh nhân theo tuổi .23
Bảng 3.2: Mô hình bệnh tật theo ICD-10 .27
Bảng 3.3: Tỷ lệ các bệnh thường gặp nhất .28
Bảng 3.4: Tỷ lệ bệnh theo YHCT .29
Bảng 3.5: Công suất sử dụng giường bệnh và số ngày điều trị trung bình 30 Bảng 3.6: Tỷ lệ các phương pháp điều trị không dùng thuốc .31
Bảng 3.7: Tỷ lệ các nhóm thuốc được sử dụng .32
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới .24
Biểu đồ 3.2: Diễn biến bệnh nhân vào viện trong năm .25
Biểu đồ 3.3: Phân bố bệnh nhân vào điều trị theo khu vực .26
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ sử dụng các phương pháp trong điều trị 30
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ kết quả sau điều trị .33
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình trạng sức khỏe và bệnh tật của trẻ em là tấm gương phản ánh khách quan điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa chính trị của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng [1] Đối với ngành y tế, để có được thông tin cần thiết đánh giá được tình trạng sức khỏe, sự thay đổi bệnh tật qua từng thời kỳ, đồng thời đánh giá được các biện pháp đã can thiệp, việc nghiên cứu mô hình bệnh tật là rất quan trọng đặc biệt là mô hình bệnh tật ở trẻ em Xác định được thay đổi mô hình bệnh tật trẻ em qua các thời kì đã tạo cơ sở đánh giá hiệu quả cho các phương pháp điều trị từ đó
đề ra chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu, chiến lược y tế phù hợp, hỗ trợ cho công tác quản lý, tổ chức của Bộ Y tế nói chung và trong từng bệnh viện nói riêng Mô hình bệnh tật trẻ em có sự thay đổi và phân hóa
rõ rệt ở các nước phát triển và đang phát triển [1], [2] Nhìn chung, ở nước ta trong những năm trở lại đây theo GS Nguyễn Thu Nhạn, mô hình bệnh tật ở trẻ em có sự thay đổi, biến chuyển rõ rệt Các bệnh nhiễm khuẩn, tiêu chảy cấp, suy dinh dưỡng có xu hướng giảm dần, trong khi đó các bệnh không lây như béo phì, tim mạch, dị tật bẩm sinh, bệnh thần kinh tâm thần như tự kỷ ngày càng có xu hướng gia tăng [1] Đối với YHCT, mô hình bệnh tật cũng có nét đặc trưng riêng, song song với YHHĐ thì các bệnh lý tâm thần, thần kinh như bại não, tự kỷ, di chứng viêm não… cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn và có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây Theo thống kê tại khoa Nhi bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 1998 số trẻ bại não điều trị tại khoa là 394 (chiếm 25,7%), đến năm 2002 là 912 bệnh nhi (chiếm 47,3%) cao gấp 3 lần năm 1998 và đến năm 2011 chiếm tới 74,61% tổng số bệnh nhi.
Trang 11Đã có nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo thống kê về mô hình bệnh Nhi tại các bệnh viện Đa khoa như khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai [3], Bệnh viện Thanh Nhàn [4] Nhưng chưa có công trình nghiên cứu, báo cáo hệ thống nào về mô hình bệnh nhi trong các bệnh viện YHCT Do
đó, việc nghiên cứu mô hình bệnh nhi tại các bệnh viện YHCT sẽ giúp cho việc định hướng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhi theo các phương pháp điều trị bằng YHCT, đồng thời giúp cho việc xây dựng cơ sở vật chất, nguồn nhân lực đáp ứng với nhu cầu điều trị Mặt khác góp phần quan trọng hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về mô hình bệnh nhi và phương pháp điều trị đối với bệnh nhi trong cả nước nói chung.
Bệnh viện Châm cứu Trung ương là một trong những bệnh viện đầu ngành trong chăm sóc và điều trị bệnh bằng phương pháp YHCT Khoa Nhi, bệnh viện Châm cứu Trung ương được thành lập năm 1982 cùng với bệnh viện Trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhi đến điều trị tại khoa có chiều hướng gia tăng nhanh năm 2009 có 1308 bệnh nhi đến năm 2011 là 1924 bệnh nhi Sự thay đổi mô hình bệnh tật trong
cả nước, cùng chương trình chăm sóc sức khỏe, chương trình tiêm chủng
mở rộng, đã ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật của bệnh nhi điều trị tại khoa Trên cơ sở đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Mô hình bệnh tật và phương pháp điều trị bệnh nhi tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương năm
2011 - 2012” với hai mục tiêu sau:
1 Mô tả mô hình bệnh tật trẻ em tại khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 2011 - 2012.
2 Mô tả phương pháp điều trị bệnh nhi tại khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 2011 - 2012.
Trang 131.1 Tình hình nghiên cứu mô hình bệnh tật ở trẻ em
1.1.1 Trên thế giới:
Nhiều nghiên cứu của thế giới đã chứng minh sức khỏe, mô hình bệnh tật trẻ em phản ánh trung thành điều kiện sinh sống kinh tế, xã hội, văn hóa, tập quán, yếu tố môi trường nơi trẻ sinh sống [1] Ở Brunei, nước có thu nhập bình quân đầu người cao, đầu tư cho y tế lớn nhất thế giới, ngoài nhiễm khuẩn hô hấp là hay gặp, còn lại chủ yếu là nhiều bệnh không lây: tim mạch, dị tật bẩm sinh, thần kinh … Còn ở Campuchia, một đất nước còn nghèo thì sốt rét, lao, sốt xuất huyết … phổ biến hơn
cả Từ năm 1974, WHO đã có sự thống kê định kỳ mô hình bệnh tật và tử vong nói chung và của trẻ em nói riêng cùng tổng GDP, ngân sách đầu tư
y tế … của từng quốc gia, lãnh thổ trong khu vực đưa ra sự so sánh [1].
Tỷ lệ tử vong trẻ em trên thế giới thay đổi rõ rệt ở các nước phát triển tỷ
lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 7% trong khi đó ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 6,7%, các nước kém phát triển là 10,9%, tỷ lệ tử vong thay đổi theo vùng địa dư trên thế giới, theo thu nhập quốc dân [5] Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, mô hình bệnh kéo theo phương pháp điều trị
ở các nước phát triển có sự khác biệt với các nước đang phát triển [1], [6], [5] Những năm gần đây tình hình bệnh tật trẻ em trên thế giới có những thay đổi đáng kể Từ khi có các chương trình tiêm chủng mở rộng phòng chống một số bệnh, tỷ lệ tử mắc và tử vong do các bệnh nhiễm khuẩn, dịch bệnh lây lan đã giảm Nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng vẫn còn song có xu hướng giảm, các bệnh chuyển hóa, dị tật bẩm sinh, béo phì…
có sự ra tăng cùng với sự phát triển của xã hội.
Trang 14Một số nước đánh giá dựa trên gánh nặng bệnh tật như Mỹ năm
1996, tai nạn thương tích lại đứng hàng đầu sau đó là dị tật bsinh thứ ba
là đẻ non, ở Canada thống kê gánh nặng bệnh tật ở bang Ontario từ 1990-1995 đứng hàng đầu là tai nạn thương tích sau đó là ung thư.
1.1.2 Tại Việt Nam:
Các nghiên cứu mô hình bệnh tật được áp dụng chủ yếu dựa trên cơ
sở thống kê y học, số liệu quản lý, số bệnh nhân điều trị tại các cơ sở y tế Trong đó mô hình bệnh tật ở trẻ em được triển khai khá rộng rãi GS Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự có nghiên cứu về thực trạng sức khỏe và
mô hình bệnh tật của trẻ em Việt Nam [1]; một số đề tài của các bệnh viện trung ương: Bệnh viện Bạch Mai [3], Viện Nhi Trung ương [7], các nghiên cứu chỉ ra rằng cơ bản mô hình bệnh tật nước ta vẫn là mô hình bệnh tật của nước đang phát triển đứng hàng đầu vẫn là các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, bệnh tiêu chảy cấp và một số bệnh như viêm não, sốt xuất huyết Nghiên cứu ở 7 bệnh viện Nhi và 10 bệnh viện tỉnh cho thấy trẻ sơ sinh nhập viện chủ yếu do viêm phổi, đẻ non, vàng da, nhiễm khuẩn [5] Những năm gần đây mô hình bệnh tật có sự thay đổi đáng kể các bệnh nhiễm khuẩn tuy tỷ lệ mắc cao nhưng xu hướng giảm, tỷ lệ năm
1996 là 37,63% năm 2000 là 32,11%, năm 2001 là 25,02% [8], [9] Đặc biệt nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng, đã thanh toán được uốn ván rốn sơ sinh, bại liệt… tỷ lệ tử vong trẻ em nước ta giảm một nửa so với thập kỷ trước Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi đã giảm từ 3,5% và 4,2% năm 2001 xuống 1,78% và 2,7% năm 2005 Có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong tùy thuộc vào phân vùng kinh tế xã hội địa lý, liên quan tình hình chăm sóc trẻ em Trong khi đó tình trạng dinh dưỡng đã được cải thiện song tỷ lệ suy dinh dưỡng còn cao trong khu vực Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân năm 2001 là 31,9%, 2005 là
Trang 1525,2%, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm đáng kể tử 2001 (34,8%) giảm 29,6% năm 2005 Bên cạnh đó, thừa cân béo phì đang có xu hướng gia tăng theo số liệu giám sát dinh dưỡng toàn quốc năm 2012 do Viện dinh dưỡng công bố tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì trong 10 năm từ 2000 -
2010 đã tăng 9 lần, trẻ em dưới 5 tuổi ở nông thôn là 3,8%, ở thành phố
là 5,4% đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh là trên 20% Do kinh tế xã hội, các biện pháp chương trình y tế can thiệp ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật với sự gia tăng của các bệnh lý tai nạn thương tích, bệnh tim mạch, ung thư, dị tật bẩm sinh [5].
Ngoài các mô hình trong bệnh viện thì cũng có nhiều đề tài nghiên cứu tại cộng đồng góp phần làm bức tranh về mô hình bệnh tật trẻ em thêm phong phú như nghiên cứu của GS Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự [1] hay những nghiên cứu về tình hình trẻ em nông thôn tỉnh Nam Định [10], mô hình bệnh tật tại các bệnh viện đa khoa như Uông Bí, trung tâm
y tế Sóc Sơn [11]… Bên cạnh đó việc nghiên cứu gánh nặng bệnh tật cũng bước đầu được triển khai theo Lê Cự Linh, Lê Vũ Anh nghiên cứu tại Chí Linh, Hải Dương thì trẻ từ 0 - 4 tuổi có gánh nặng lớn nhất trong đó chu sinh chiếm tỷ lệ quan trọng, 5 - 14 tuổi chấn thương đứng hàng đầu chiếm trên 70% gánh nặng bệnh tật [12].
1.2 Tổng quan về ICD-10
1.2.1 Lịch sử của phân loại bệnh tật [13], [14]
Thời cổ đại Aretec đưa ra cách phân loại bệnh tật dựa vào thời gian kéo dài bệnh (cấp/mạn), diện lan rộng (địa phương/toàn cầu), vị trí (nội, ngoại) Đầu thế kỷ 19, phân loại bệnh tật được dùng nhiều nhất là của William Cullen (1710-1790) ở Edinburgh công bố năm 1789 dưới tiêu đề Synopsis sociologiae methodocae
Trang 16John Graunt là người đầu tiên nghiên cứu thống kê về bệnh tật với
“Niêm yết về tình hình tử vong của thành phố London” phân loại tử vong của tất cả trẻ khi sinh ra còn sống chết khi tròn 6 tuổi Năm 1837, William Farc (1807-1883) nỗ lực để có bảng phân loại tốt hơn từ bảng phân loại của Cullen, sử dụng chung đồng nhất quốc tế.
Năm 1855, Farc trình bày bảng phân loại nguyên nhân tử vong tại Hội nghị thống kê Quốc tế lần 2 tại Pari gồm 5 nhóm: bệnh dịch, bệnh nói chung, bệnh địa phương được bố trí theo vị trí cơ thể, bệnh tiến triển
và bệnh là nguyên nhân trực tiếp của bạo động Song song với việc xây dựng ngày càng hoàn thiện danh sách nguyên nhân tử vong, bệnh tật thì phân loại bệnh tật cũng được coi trọng Phân loại bệnh tật đầu tiên được chấp nhận năm 1990 và liên tục được hiệu đính nhiều lần Trong quá trình phát triển, phân loại này đã được đổi tên nhiều lần đến nay được gọi tên chính thức là Phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan (International Classification of Diseases gọi tắt là ICD).
1.2.2 Giới thiệu về ICD-10 [13], [14]
1.2.2.1 Cấu trúc của ICD-10
ICD – 10 được chia thành 21 chương:
Chương I : Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng.
Chương II : Bướu tân sinh.
Chương III : Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan đến cơ chế miễn dịch.
Chương IV : Bệnh nội tiết, dinh dưỡng, chuyển hóa
Chương V : Rối loạn tâm thần và hành vi.
Chương VI : Bệnh hệ thần kinh.
Chương VII : Bệnh mắt và phần phụ.
Chương VIII : Bệnh tai và xương chũm.
Trang 17 Chương IX : Bệnh tuần hoàn.
Chương X : Bệnh hô hấp.
Chương XI : Bệnh tiêu hóa.
Chương XII : Bệnh da và mô dưới da.
Chương XIII : Bệnh của hệ cơ xương khớp và mô liên kết.
Chương XIV : Bệnh của hệ sinh dục – Tiết niệu.
Chương XV : Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản.
Chương XVI : Một số bệnh lý xuất phát trong thời kỳ chu sinh.
Chương XVII : Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể.
Chương XVII : Các nguyên nhân ngoại sinh của bệnh và tử vong.
Chương XXI : Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế.
1.2.2.3 Cấu trúc một nhóm trong mỗi chương:
Trong mỗi nhóm bao gồm các bệnh:
Ví dụ: Thiếu máu dinh dưỡng:
- Thiếu máu do thiếu sắt.
- Thiếu máu do thiếu Vitamin B12.
- Thiếu máu do thiếu acid Folic.
Trang 18- Thiếu máu do dinh dưỡng khác.
1.2.2.4 Cấu trúc một bệnh trong mỗi nhóm
Mỗi bệnh phân loại chi tiết theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc trưng của bệnh đó.
Ví dụ: Lỵ trực khuẩn (A03) được phân thành:
- Lỵ trực khuẩn do Shigella dysenteria (A03.0).
- Lỵ trực khuẩn do Shigella flexneri (A03.10).
- Ký tự thứ 3 (số thứ hai) mã hóa tên bệnh.
- Ký tự thứ 4 (số thứ ba) mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính chất đặc thù của bệnh.
Giữa ký tự thứ 3 và 4 có 1 dấu thập phân (.).
1.3 Tổng quan các phương pháp điều trị bệnh ở trẻ em
1.3.1 Điều trị nội khoa [15]
a Không dùng thuốc:
- Chế độ ăn uống, sinh hoạt.
- Các biện pháp vật lý trị liệu, ánh sáng trị liệu, điện trị liệu, thủy trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, liệu pháp tâm lý, vận động liệu pháp (xoa, nắn, thể dục điều trị…)
b Dùng thuốc:
Trang 19Tùy theo triệu chứng, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của bệnh mà các thuốc được dùng phù hợp với từng bệnh nhân Có thể sử dụng các phương pháp điều trị bằng:
- Thực vật liệu pháp: nhờ sự phát triển của hóa dược mà người ta chiết suất được các tinh chất như alcaloit, glucozit… có tác dụng chữa bệnh trong các loài thực vật.
- Vắc xin liệu pháp: ở thời kỳ Pa-xtơ phương pháp dùng vi trùng để điều trị bệnh do vi trùng mới ra đời Từ vi trùng gây bệnh người ta bào chế ra thuốc để chữa bệnh đó ví dụ như tụ cầu vàng…
- Huyết thanh liệu pháp: lấy vi trùng tiêm cho con vật sau đó dùng huyết thanh của con vật đó để điều trị bệnh
- Hóa học liệu pháp: các thuốc được tổng hợp để đối phó với rất nhiều bệnh, gần đây nhiều thuốc hóa học chống ung thư, virus đã được
sử dụng rất công hiệu.
- Kháng sinh liệu pháp: nhiều loại kháng sinh được lấy từ mốc, vi trùng hoặc tổng hợp đã được sản xuất và sử dụng trong bệnh nhiễm vi sinh vật, ung thư
- Nội tiết liệu pháp: rất nhiều nội tiết tố được chiết xuất lấy từ hạch nội tiết của súc vật (tuyến yên, insulin, estrogen…) hoặc tổng hợp (cortison…) đã có tác dụng rõ rệt trong các bệnh nội tiết Hiện nay các corticoid đóng vai trò quan trọng trong điều trị nhiều bệnh viêm nhiễm,
dị ứng, dinh dưỡng…
- Các vitamin và enzym: nhờ tổng hợp được nên các vitamin hiện nay rẻ và được sử dụng phổ biến hơn Các men tiêu hóa trong điều trị rối loạn tiêu hóa cũng được sử dụng rộng rãi.
Trang 20- Sinh vật liệu pháp: sử dụng những nhân tố sinh vật mà người ta chưa biết rõ, có trong người bệnh nhân hoặc đưa từ ngoài vào để chữa bệnh Phương pháp này chưa được xác định mức độ công hiệu nên chưa được chú ý phát triển.
- Truyền máu: được áp dụng từ lâu, ngoài cấp cứu ngoại khoa còn được dùng để điều trị những bệnh thiếu máu cấp hay mạn.
- Nước, điện giải: áp dụng nhiều trong hồi sức nội, ngoại khoa điều trị các hiện tượng mất nước, điện giải, mất thăng bằng kiềm toan.
- Cách cho thuốc: ngoài những đường sử dụng thuốc thông thường như: uống, tiêm (trong da, dưới da, cơ, tĩnh mạch), nhét hậu môn, âm đạo còn có những cách sử dụng thuốc đặc biệt như: phong bế thần kinh (Novocain, vitamin B12), khí dung, tiêm trong động mạch…
1.3.2 Điều trị ngoại khoa
Nhờ sự gây tê, gây mê và hồi sức, phẫu thuật đã phát triển rất mạnh trong mọi lĩnh vực của y học Có thể nói về mặt kỹ thuật phẫu thuật đã đạt đến đỉnh cao nhất của khả năng y học.
Từ phẫu thuật cắt bỏ một phần của nội tạng đến toàn bộ một nội tạng (thận, phổi, đến cắt bỏ nửa thận dưới) phẫu thuật đã giải quyết được các u lành tính, ác tính, những tổn thương không thể giữ được Dần dần, phẫu thuật đã nghĩ đến tác dụng cơ năng sửa đổi chỉnh hình nhằm bảo tồn tới mức tối đa Hiện nay chiều hướng phẫu thuật là lắp ráp, thay ghép bắt đầu từ một bộ phận của một cơ quan ( động mạch, van tim, da, xương…) đến thay thế hẳn một nội tạng bằng một nội tạng khác của bệnh nhân hoặc của người khác.
Trang 211.4 Tổng quan phân loại các chứng bệnh nhi theo YHCT
Nhi khoa y học cổ truyền là môn y học lâm sàng chuyên nghiên cứu
về dinh dưỡng, điều trị và phòng bệnh ở trẻ em Nhi khoa là một bộ phận không thể tách rời trong YHCT phương Đông, được phát triển trên cơ sở Nội khoa YHCT Bên cạnh đó, YHCT có cả một hệ thống lý luận được hoàn chỉnh dần qua các thời đại về dinh dưỡng, điều trị và phòng bệnh ở trẻ em Như vậy, Nhi khoa có phạm vi ứng dụng vô cùng rộng rãi toàn bộ
hệ thống lý luận Âm Dương, Ngũ hành, tứ chẩn, bát cương cùng chỉ đạo chung cho lâm sàng nhi khoa Tuy nhiên, trẻ em là một cơ thể đang lớn có nhiều đặc điểm sinh lý, bệnh lý riêng rất khác người lớn, không nên nhìn nhận một cách đơn giản rằng “trẻ em là người lớn thu nhỏ lại” sự khác biệt này thể hiện ở nhiều mặt như nguyên nhân gây bệnh (ngoại cảm lục dâm, nội thương, dinh dưỡng), khám bệnh, chẩn đoán bệnh, trong đó các chứng hay gặp trên bệnh nhi cũng có sự khác biệt Các chứng thường gặp ở bệnh nhi điều trị tại các cơ sở YHCT như:
- Ngũ trì: (Thuộc phạm vi chứng này có các bệnh lý như bại não, chậm phát triển tinh thần và vận động.) Theo Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông “Năm chứng chậm” gồm chậm biết đứng, chậm biết đi, chậm mọc tóc, chậm mọc răng và chậm biết nói Đây phần nhiều là chứng thận khí hư nhược [16], [17] Sách Y Tông Tâm Giám, mục “Ấu khoa tâm pháp” viết chứng “Ngũ trì” ở trẻ em nguyên nhân phần nhiều do khí huyết của cha mẹ hư yếu, tiên thiên sút kém, đến nỗi sinh ra gân xương mềm yếu, đi lại khó khăn, răng mọc chậm, ngồi không vững … chủ yếu
do thận khí không đầy đủ [16] Thận là gốc của tiên thiên, là cội nguồn sinh trưởng phát dục, thận khí hư yếu nguồn sinh hóa ra thận tinh bất túc, dẫn đến cơ năng tạng phủ toàn thâm phát sinh bệnh biến Thận tàng tinh sinh tủy, tủy ở trong xương nuôi dưỡng các khớp, thận khí hư yếu
Trang 22không còn nguồn sinh hóa cho cốt tủy, làm cho xương trẻ mềm yếu, lưng gối không mạnh, chân mềm rũ không đi đứng được, thận hư não tủy bất túc, trí khôn kém, tư duy đần độn…
- Ngũ nhuyễn: Hải Thượng Lãn Ông trong tác phẩm Y Tông Tâm Lĩnh đã phân tích nguyên nhân và cơ chế bệnh như sau: Năm chứng nhuyễn (ngũ nhuyễn) gồm: “đầu cổ mềm yếu nghẹo, không ngẩng lên được, miệng xệ, nhai kém, tay chân mềm rũ không cầm nắm được, chân mềm yếu không đứng được, người mềm, cơ nhục mềm nhẽo, gầy róc” Theo ông, đầu cổ mềm là đầu không đứng ngay được, cổ oặt nghiêng vì can chủ cân, thận chủ cốt tủy, can thận hư mà sinh bệnh; tay chân mềm
là tứ chi không có sức mà tay buông xuôi, nhác cầm nắm đồ vật, chân mềm nhỏ xíu, bốn năm tuổi mà không đi được, mình mềm là dương hư tủy kém, khí lục dâm dễ xâm nhập vào; miệng mềm lưỡi thè ra khỏi miệng là vì lúc mang thai bỗng có kinh sợ xâm vào tâm bào lạc làm cơ lưỡi không mạnh; da thịt mềm, da thịt không phát triển, ăn uống không bồi bổ gì cho da thịt Từ đó, Hải Thượng cho rằng để điều trị chứng ngũ nhuyễn là phải bổ can, thận, tỳ.
- Nuy chứng [18]: là loại bệnh gân mạch ở tay chân mình mẩy chùng
ra, mềm yếu, không có lực, vì không vận động được như ý lâu ngày làm
cơ nhục mềm co lại (súc) Nuy là tay chân liệt yếu, tý là chân mềm yếu không có sức đi được nên gọi là nuy tý Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh: phế nhiệt hại tâm, thấp nhiệt lâu ngày, tỳ bị hư suy tinh vi không phân bố, can thận suy tổn tủy khô gân liệt Chứng nuy phần nhiều thuộc
về ngũ tạng bị tổn thương, tinh huyết bị hao, âm hư hỏa vượng, nói chung chứng nhiệt chứng hư là nhiều có khi hư thực lẫn lộn, chứng thực chứng hàn tương đối ít Về cách chữa bệnh, sách Tố Vấn đã nói “Chữa bệnh nuy chỉ theo dương minh “Trị nuy độc thủ dương minh”, chỉ theo dương minh mà lấy bổ ích hậu thiên làm nguyên tắc” Dương minh là bể
Trang 23của ngũ tạng lục phủ, chủ nhuận tôn cân, tôn cân chủ việc buộc xương
mà lưu lợi các khớp Theo sự chỉ dẫn của Nội kinh chữa bệnh nuy chỉ theo dương minh là cách chữa quan trọng: bổ tỳ vị, thanh vị hỏa, trừ thấp nhiệt tư dưỡng cho ngũ tạng.
- Di chứng ôn bệnh [5]: (Bệnh lý của YHHĐ thường gặp là di chứng viêm não - màng não) bệnh thường phát vào mùa hè nên còn thuộc thử
ôn Đó là thứ nhiệt cực thịnh, gây sốt cao tổn thương tân dịch mạnh Bệnh diễn biến nhanh qua phần vệ khí, vào phần huyết làm can huyết hư sinh phong gây co giật, gọi là thử phong hay thử kinh Nhiệt nhập tâm bào, bế tâm khiếu, sinhhôn mê Nhiệt cực sinh hàn, chân tay giá lạnh, tuy thân mình vẫn nóng gọi là thử quyết Trường hợp nặng, ở giai đoạn huyết kéo dài, thử làm tân dịch và khí bị hại nặng, cô thấp thành đàm, tắc trở kinh lạc và đường thanh khí, nếu sống sót sẽ để lại nhiều di chứng thần kinh tâm trí, giai đoạn sau của ôn bệnh sử dụng châm cứu và xoa bóp là những phương pháp được khẳng định có hiệu quả rõ rệt nhất là giai đoạn trẻ rối loạn ý thức, phải phục hồi chức năng thụ động.
-Chứng cam: (Tiêu chảy cấp tính, rối loạn tiêu hóa kéo dài, suy dinh dưỡng) Trẻ em thể chất non yếu, tỳ vốn bất túc do ăn uống thất thường nhiều đồ béo ngọt sống lạnh khó tiêu, ốm đau kéo dài, bẩm thụ yếu ớt đẻ non… làm công năng tỳ vị rối loạn, thức ăn không tiêu, tích trệ lại thành chứng cam Bụng trướng to, người gầy róc, trí lực thể lực suy giảm, chậm phát triển, có thể kèm theo tả lỵ
-Khẩu nhãn oa tà: (Liệt VII ngoại biên) thuộc phạm vi chứng trúng phong kinh lạc của YHCT Bệnh do phong hàn, phong nhiệt, huyết ứ ở kinh lạc đặc biệt là các kinh dương ở mặt làm cho kinh lạc bị bế tắc, khí huyết không lưu thông khiến mặt lệch, miệng méo về bên lành, mắt bên
Trang 24liệt nhắm không kín, khó thổi lửa, huýt sáo, thức ăn đọng lại má bên liệt, nhân trung lệch về bên lành, rãnh mũi má bên liệt mờ hoặc mất…
- Kinh phong: (Co giật, động kinh) thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi với triệu chứng điển hình là co giật nhiều lần, lơ mơ Trẻ em khí huyết chưa mạnh, thần khí chưa đủ ngoài gặp phải phong tà, kinh sợ, trong vì ăn uống tích trệ, thường dễ phát sinh chứng này Chứng kinh phong biến hóa rất nhanh, chia làm 2 loại là cấp kinh phong và mạn kinh phong Co giật xuất hiện trong cả cấp và mạn kinh phong nhưng độ mạnh yếu khác nhau Hễ bệnh phát nhanh chóng, thuộc dương thực nhiệt là cấp kinh phong; bệnh lâu ngày, bên trong đã thành hư, hình thành chứng bất túc, thuộc âm hư hàn là mạn kinh phong Bệnh ở can cũng có thể ở tâm, phế, thận, tỳ Trong điều trị nếu cấp kinh phong cần phải cắt cơn co giật trước thì ở mạn kinh phong cần trị vào gốc bệnh bồi bổ nguyên khí gấp.
1.5 Tổng quan các phương pháp điều trị bệnh nhi theo YHCT
1.5.1 Nguyên tắc điều trị điều trị bệnh [5], [19]
Điều trị bệnh nhi đã được Tuệ Tĩnh đề cập đến trong các tác phẩm của mình ở thế kỷ XVI Tập hợp những thành tựu của các y gia trước, chủ yếu dựa trên cơ sở “Y phương ca quát” của Trần Ngô Thiêm (1947), Viện Thái y, triều Hậu Lê (1948-1788) đã biên soạn “Y học nhập môn ca” dùng cổ phương điều trị các bệnh nội, ngoại, sản, nhi, thương khoa Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) viết bộ sách “Hải Thượng
Y tông tâm lĩnh’’, gồm 22 tập, 66 quyển hướng dẫn tương đối toàn diện Ngoài ra, Hải Thượng Lãn Ông còn có quyển “Ấu ấu tu tri” nói về cách chữa bệnh và nuôi dưỡng trẻ em Điều trị bệnh trẻ em vừa dễ lại vừa khó Nói khó vì khó biện chứng, nói dễ là dễ điều trị Nếu biện chứng không rõ, sẽ thành khó điểu trị Ngược lại, nếu đã biện chứng được thì điều trị ở trẻ lại có đáp ứng rất nhanh nhạy cho kết quả tốt.
Trang 25Hiện nay, với sự kết hợp Đông Tây y trong điều trị cho bệnh nhi cần chú ý các nguyên tắc sau [20]:
- Nắm vững nguyên nhân gây bệnh: chính là nguyên tắc “trị bệnh tất cầu kỳ bản”, mới chọn đúng được phép chữa, dùng thuốc đúng và đạt hiệu quả tốt.
- Phải thông thạo cấp cứu và chữa triệu chứng: tức là “cấp trị tiêu, hoãn trị bản” cơ thể trẻ em còn non yếu bệnh biến chuyển nhanh, dễ dẫn tới nguy kịch Phải thông thạo cấp cứu chữa triệu chứng bằng YHHĐ cũng như YHCT kịp thời giữ được tính mạng trẻ khi bệnh nguy kịch Hoặc vừa chữa triệu chứng, vừa chữa nguyên nhân đó là “tiêu bản kiêm trị”.
- Chữa bệnh đồng thời nâng cao sức chống đỡ của cơ thể “phù chính khu tà” Theo YHCT, khi mắc bệnh là do bệnh tà xâm nhập, nhân khi chính khí cơ thể suy yếu hoặc sơ hở Nên khi điều trị, ngoài dùng thuốc đuổi bệnh tà, còn cần dùng thuốc nâng cao sức khỏe toàn diện.
- Kết hợp YHCT và YHHĐ trong điều trị bệnh YHHĐ điều trị cấp cứu rất hiệu quả trong lâm sàng phải tận dụng ưu thế này.
- Điều trị cần kịp thời, dùng thuốc phải thận trọng.
1.5.2 Không dùng thuốc
Phương pháp Châm cứu [21]:
Là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo của nền YHCT phương Đông, là tên gọi chung của 2 phương pháp châm và cứu được nhiều nước trên thế giới áp dụng điều trị điển hình là Trung Quốc Riêng tại Việt Nam Châm cứu được coi là phương pháp phòng và chữa bệnh hiệu quả được áp dụng từ thời xưa, được nhắc nhiều đến trong các tác phẩm “Y tông tâm lĩnh”, “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh, Hải
Trang 26Thượng Lãn Ông Châm cứu truyền thống có thể châm, hào châm, trên
cơ sở thừa kế phương pháp châm cứu hiện đại, quá trình chữa bệnh, các nhà thực hành đã sáng tạo ra nhiều phương pháp mới như: theo chiều dài kim (mãng châm, trường châm…), theo bộ phận cơ thể (đầu châm, diện châm, nhĩ châm, tỵ châm, thủ châm, túc châm…), theo cách dùng các biện pháp hỗ trợ tác động vào huyệt (thủy châm, chôn chỉ, điện châm…) Một số kỹ thuật châm mới:
Điện châm:
Là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng của châm cứu (YHCT) với phương pháp chữa bệnh của dòng điện (YHHĐ) qua máy điện châm (là loại máy phát ra dòng điện 1 chiều hoặc dòng điện xung, có nhiều đầu kích thích, tính năng ổn định an toàn, điều chỉnh thao tác dễ dàng, tác dụng làm dịu đau, ức chế cơn đau điển hình, kích thích hoạt động các cơ, tăng cường dinh dưỡng, giảm xung huyết phù nề tại chỗ Phác đồ huyệt và kỹ thuật châm được khuyến cáo tại các cuộc “Hội thảo toàn quốc về châm cứu” [22] được áp dụng cụ thể tùy theo từng trường hợp:
- Liệt chi trên: Kiên tỉnh, Kiên ngung, Khúc trì, Xích trạch, Hợp cốc, Lao cung, Bát tà.
- Liệt chi dưới: Hoàn khiêu, Âm lăng tuyền, Dương lăng tuyền, Ủy trung, Độc tỵ, Thừa sơn, Giải khê, Bát phong
- Liệt cổ và lưng: Phong trì, Giáp tích (C3-C7, L1-S5), Đại chùy, Mệnh môn, Dương quan…
- Nói khó : Á môn, Nhĩ môn, Liêm tuyền, Thiên đột, Phế du
- Điếc: Nhĩ môn, Thính cung, Thính hội, Ế phong, Ngoại quan, Chi câu
- Mù: Thái dương- Đồng tử liêu, Quang minh, Thái xung
Trang 27- Rối loạn tâm thần : Bách hội, Nội quan, Thần môn, An miên
Thủy châm :
Là phương pháp phối hợp tác dụng chữa bệnh của châm cứu (YHCT) với tác dụng chữa bệnh của thuốc tiêm (YHHĐ) Các loại thuốc được dùng thủy châm: các thuốc tăng cường dinh dưỡng thần kinh (vitamin B, Becozym, Ginko biloba ), các thuốc có tác dụng giảm đau giảm tiết (Nonsteroid )
Cấy chỉ:
Là phương pháp chữa bệnh, phục hồi chức năng độc đáo, là thành quả của sự kết hợp hai nền y học, có xuất xứ từ Trung Quốc và đã được nghiên cứu, ứng dụng tại Việt Nam từ những năm của thập kỷ 70 thế kỷ trước Cấy chỉ là một trong những hình thức tác động vào huyệt đạo như thủy châm, từ châm, laser châm, gồm chôn chỉ, vùi chỉ, xuyên chỉ, thắt buộc chỉ Theo tiếng Anh, cấy chỉ có tên gọi là catgut embedding therapy, trong đó embedding có nghĩa là chôn, vùi, cấy Catgut là một loại chỉ dùng trong phẫu thuật, có khả năng tự tiêu sau một thời gian nhất định Chính vì vậy, sự tồn lưu của catgut tại huyệt đạo trong một thời gian nhất định đã phát huy vai trò kích thích huyệt đạo nhằm tạo được sự cân bằng âm dương, điều chỉnh chức năng tạng phủ, hành khí hoạt huyết, khai uất trệ, chỉ thống (giảm đau)… Theo y học hiện đại, cũng như châm cứu, cấy chỉ cũng có tác dụng kích thích theo cơ chế thần kinh thể dịch Một số nghiên cứu cho thấy rằng cấy chỉ có tác dụng giảm đau, an thần, điều hòa thể dịch, giãn nở mạch máu, kích thích tái tạo thần kinh, điều hòa trương lực cơ … [23]
Năm 1975, GS Nguyễn Tài Thu đã có công rất lớn trong nghiên cứu
và áp dụng điều trị có kết quả một số bệnh đặc biệt là hen phế quản bằng cấy chỉ Từ năm 1982, bệnh viện Châm cứu trung ương đã thực hiện cấy chỉ
Trang 28cho hàng loạt bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện, điển hình là trẻ em bị bại liệt.
Ngoài ra mai hoa châm, laser châm, từ châm, châm tê cũng là những phương pháp điều trị được áp dụng.
Phương pháp xoa bóp cổ truyền:
Là phương pháp người làm xoa bóp dùng đôi tay của mình để thực hiện một số động tác xoa bóp nhằm làm dịu cơn đau, mỏi mệt… cho người bệnh Xoa bóp ở nước ta được áp dụng từ lâu đời, từ thời Hồng Bàng dựng nước đến thời Tuệ Tĩnh trong cuốn “Hồng nghĩa giác tư y thư” hay trong “Vệ sinh yếu quyết” của Hải Thượng Lãn Ông, đến năm
1962 do Bác sỹ Hoàng Bảo Châu phụ trách chuyên điều trị các bệnh như: đau thần kinh tọa, viêm quanh khớp vai, di chứng bại liệt, viêm gân, suy nhược thần kinh Hiện nay, xoa bóp gồm 3 loại hình: xoa bóp điều trị 1 số chứng bệnh (cấp và mạn tính), xoa bóp thẩm mỹ (làm đẹp da, giảm béo…), xoa bóp để phòng một số bệnh và nâng cao sức khỏe Với các thủ thuật: xoa, xát, day, ấn, miết, phân, hợp, véo, bấm, điểm, bóp, đấm, chặt, lăn, phát, rung, vê, vờn, vận động.
1.5.3 Dùng thuốc
Trong quá trình hình thành và phát triển YHCT Việt Nam, việc dùng thuốc là phương pháp chữa bệnh quan trọng, ngay từ thời kỳ phong kiến kinh nghiệm chữa bệnh được tổng kết lại, dần xây dựng mối quan hệ điều trị với lý luận và kinh nghiệm sử dụng thuốc Ở nước ta, nổi bật lên là Danh y Tuệ Tĩnh cuối đời Trần được suy tôn là “Vị thánh thuốc nam” với “Hồng nghĩa giác tư y thư” và “Nam dược thần hiệu”, kế thừa Tuệ Tĩnh là Danh y Hải Thượng Lãn Ông với bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” Ngày nay, những bài thuốc được nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ trên lâm sàng tạo ra nhiều chế phẩm, các dạng thuốc khác
Trang 29nhau như: thuốc sắc, thuốc tán, thuốc hoàn, cao thuốc, rượu thuốc, thuốc đan, chè thuốc, cốm thuốc, siro thuốc, thuốc viên, thuốc mỡ, cao dán… có thể được dùng bằng cách uống hay dùng ngoài.
Đối với trẻ em thể chất còn non yếu, “trĩ âm, trĩ dương”, tạng phủ chưa vững chắc, dùng thuốc phải đúng quy định, liều lượng phải thận trọng Những vị thuốc quá hàn, quá nhiệt, quá cay, có độc, công phạt mạnh, lúc sử dụng càng phải thận trọng Cổ nhân nói “thuốc đắng lạnh thường làm tổn thương sinh khí, thuốc cay nóng làm hao tổn chân âm Thuốc công phạt quá mạnh làm hại tỳ vị, hao kiệt chân nguyên” Với trẻ
em, dạng thuốc sử dụng nên tinh tế, dạng bào chế dễ uống, dùng với lượng ít nhưng hiệu quả Cho trẻ uống thuốc tương đối khó khăn khi điều trị nên tìm những bài thuốc liều lượng ít, công hiệu cao Cổ nhân ngoài dạng thuốc thang, còn dùng các thuốc hoàn, cốm dễ cho trẻ sử dụng, thích hợp với đặc điểm bệnh trẻ em dễ phát đột ngột, diễn biến nhanh chóng.
1.6 Vài nét về bệnh viện Châm cứu Trung ương
Bệnh viện Châm cứu Trung ương được thành lập 24/4/1982 là 1 bệnh viện chuyên khoa hạng 1 trực thuộc Bộ Y tế, được sự đầu tư của Nhà nước, Bộ Y tế cùng sự giúp đỡ của các tổ chức, sự đóng góp nỗ lực của tập thể cán bộ viên chức qua nhiều thế hệ, trải qua thời gian dài xây dựng và phát triển đền nay bệnh viện có một cơ sở vật chất hoàn chỉnh cùng với độ ngũ cán bộ vững mạnh về chuyên môn, có quan hệ hợp tác với 38 nước trên thế giới về lĩnh vực châm cứu và xoa bóp bấm huyệt Hiện bệnh viện có 19 khoa phòng và các trung tâm trực thuộc bệnh viện: trung tâm Nghiên cứu châm cứu điều trị và hỗ trợ cai nghiện, trung tâm Đào tạo và chỉ đạo tuyến, trung tâm Hợp tác quốc tế, trung tâm chống đau và trung tâm Xoa bóp Bấm huyệt Hương sen, trung tâm ứng
Trang 30dụng Công nghệ Y Học mới, trung tâm kỹ thuật cao Châm Cứu Việt (gồm 12 đơn vị) Bệnh viện tiếp nhận các bệnh nhân thể bệnh khó chữa như: liệt nửa người do tai biến mạch máu não, di chứng viêm não ở trẻ
em, liệt mặt, giảm hoặc mất thị lực, câm điếc thứ phát, các bệnh lý thần kinh mạn tính, các chứng đau… Hàng ngày tiếp nhận mổ các loại phẫu thuật bằng châm tê, là một y thuật độc đáo của phương Đông nhằm giảm tác dụng phụ của thuốc gây mê, gây tê đối với cơ thể.
Khoa Nhi là khoa lâm sàng điều trị các bệnh cho trẻ em dưới 15 tuổi, là một khoa trọng điểm của bệnh viện được thành lập từ năm 1982 Trong khám bệnh, chữa bệnh có sự kết hợp chặt chẽ giữa lâm sàng, kết quả cận lâm sàng, kiến thức chuyên khoa sâu Khoa Nhi được bố trí theo đơn nguyên, thiết kế riêng phù hợp với đăc điểm sinh lý bệnh và tâm sinh
lý của từng lứa tuổi Qua thời gian dài xây dựng đến nay khoa có đội ngũ chuyên môn cao bao gồm 1 Tiến sỹ, 2 Thạc sỹ, 1 Chuyên khoa I, 13 bác sỹ
và 18 y tá Có thế mạnh điều trị về các mặt bệnh như: Di chứng viêm não (liệt nửa người, tứ chi, thất ngôn), Bại não (liệt tứ chi, liệt 2 chi dưới, chậm phát triển ngôn ngữ, trí tuệ, chậm nói, giảm thính lực, thị lực…), liệt VII ngoại biên, tự kỷ… Hàng năm, khoa tiếp nhận điều trị một số lượng lớn bệnh nhi năm 2010 là 1347 bệnh nhi năm 2011 là 1924 và năm
2012 là 2068 bệnh nhi Về cơ sở vật chất của khoa Nhi trong mỗi năm theo thực kê có 64 giường bệnh với chỉ tiêu đưa ra là 110 giường Để đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, nâng cao được chất lượng điều trị, đến tháng 7/2012 khoa tách ra đơn vị châm cứu điều trị và chăm sóc đặc biệt cho trẻ tự kỷ mang tính chất chuyên nghiệp rút ngắn thời gian điều trị Khoa Nhi tiếp tục hoạt động phát huy thế mạnh hơn nữa trong chăm sóc, điều trị bệnh.
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu.
Khoa Nhi - Bệnh viện Châm cứu Trung ương.
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ 1/9/2013 đến 20/5/2014
2.1.3 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh án
Tất cả hồ sơ bệnh án của bệnh nhi điều trị nội trú tại khoa Nhi, Bệnh viện Châm cứu Trung ương ra viện trong thời gian
từ 1/1/2011 đến hết 31/12/2012.
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh án
Hồ sơ bệnh án của bệnh nhi bỏ về, xin về, không tuân thủ liệu trình điều trị.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang.
Trang 322.2.2 Cách thức tiến hành
- Nghiên cứu hồi cứu tất cả bệnh án ra viện của bệnh nhi điều trị nội trú tại khoa Nhi, Bệnh viện Châm cứu Trung ương từ 1/1/2011 đến hết 31/12/2012.
- Số liệu được thu thập tại Phòng Kế hoạch tổng hợp của bệnh viện 2.2.3 Công cụ nghiên cứu
- Mẫu bệnh án Nhi khoa do Bộ Y tế ban hành.
- Thông tin về mỗi bệnh nhân được thu thập theo phiếu nghiên cứu có sẵn.
- Chẩn đoán dựa trên bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 do
Bộ Y tế biên dịch và dựa theo chứng trạng, chứng hậu, bệnh danh của YHCT.
Phần mềm xử lý số liệu SPSS 16.0
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu
- Tuổi: Căn cứ ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm nhập viện.
- Giới: Nam và Nữ.
- Địa chỉ: dựa theo tình hình cung ứng dịch vụ y tế được phân chia:
Khu vực 1: Các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa, hải đảo
Khu vực 2: Thị xã, thành phố các tỉnh không trực thuộc trung ương
Khu vực 3: Các huyện quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương
Khu vực 4: Huyện, xã vùng nông thôn
- Chẩn đoán ra viện theo YHHĐ, YHCT.
- Tình trạng ra viện
Khỏi, đỡ, không thay đổi, nặng thêm, tử vong.
Trang 33 Xuất viện, xin về, bỏ về.
- Phương pháp điều trị:
Dùng thuốc: các thuốc YHHĐ kết hợp với phương pháp điều trị không dùng thuốc của YHCT (thủy châm): tăng dẫn truyền thần kinh, giảm đau Các chế phẩm thuốc YHCT: cốm, siro…
Không dùng thuốc: Phục hồi chức năng bằng điện châm, thủy châm, xoa bóp bấm huyệt, cấy chỉ …
- Công suất sử dụng giường bệnh = (Tổng số ngày điều trị nội trú thuộc 1 khu vực / 1năm xác định x 100) / (Số giường bệnh x 365 ngày).
- Số ngày điều trị nội trú trung bình/ 1 người bệnh= Tổng số ngày điều trị nội trú thuộc 1 khu vực / 1năm xác định/ tổng số lượt điều trị điều trị nội trú của khu vực đó cùng năm.
2.3 Đạo đức nghiên cứu
-Đề tài này nghiên cứu hoàn toàn nhằm mục đích khoa học, không
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình bệnh tật
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi.
Bảng 3.1: Phân bố bệnh nhi theo tuổi
Trang 363.1.3 Số lượng bệnh nhân diễn biến trong năm
050100150200250300350
Năm 2011Năm 2012Tháng
Bệnh nhi vào viện nhiều nhất tháng 7 dương lịch năm 2011 và tháng
10 dương lịch năm 2012 Trong cả 2 năm, tháng 1 và 2 là tháng có số
bệnh nhi thấp nhất.
Trang 373.1.4 Phân bố bệnh nhân theo khu vực
Khu vực 3
Khu vực 2
Trang 383.1.5 Mô hình bệnh tật theo ICD-10
Bảng 3.2: Mô hình bệnh tật theo ICD-10
- Các bệnh các rối loạn tâm thần và hành vi (chương V) và các bệnh
về mắt và phần phụ (chương VIII) chiếm tỷ lệ thấp nhất năm 2011 lần lượt là 0,2% và 0,3%, năm 2012 là 0,3% và 0,1%.