Trong bối cảnh hiện tại còn nhiều bấtcập và thiếu thông tin về thuốc cổ truyền TCT, việc tiến hành đánh giá vềnhu cầu sử dụng và nguồn cung ứng TCT tại các cơ sở khám chữa bệnh củathành
Trang 1Y học cổ truyền (YHCT) đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sứckhỏe (CSSK) của người dân Và tại đại hội toàn thế giới về YHCT lần đầutiên do tổ chức Y tế thế giới (WHO) tổ chức tại Bắc Kinh (11/2008) đã đưa ra
“tuyên bố Bắc Kinh” kêu gọi các quốc gia thành viên của WHO và các bênliên quan khác thực hiện các bước để đưa YHCT vào hệ thống y tế quốc gia,thúc đẩy việc sử dụng YHCT an toàn và hiệu quả [1] Tuyên bố mang tínhbước ngoặt, là sự công nhận YHCT trong lĩnh vực Y tế trên toàn cầu Thực tếcũng cho thấy không chỉ ở phương Đông mà ngay cả các nước phương Tâynhư Mỹ, Anh, Đức YHCT cũng rất phát triển Hiện nay, 80% bác sĩ Đức kêđơn thuốc có nguồn gốc từ thực vật [2], hơn 158 triệu người trưởng thành ở
Mỹ đã sử dụng các thuốc YHCT [3],
Việt Nam là một trong những nước có truyền thống sử dụng thuốcYHCT lâu đời Sau giải phóng Đảng và Chính Phủ rất quan tâm tới sự pháttriển kết hợp của hai nền y học Chỉ thị 03/BYT ngày 1/3/1996 nêu: “Pháttriển sử dụng thuốc YHCT và các phương pháp không dùng thuốc của YHCTtại y tế cơ sở và cộng đồng vẫn là mục tiêu chiến lược của ngành trong nhữngthập kỷ tới để bảo vệ sức khoẻ nhân dân” Trong quyết định 2166/QĐ-TTgngày 30/11/2010 cũng đề ra mục tiêu phát triển Y, dược cổ truyền Việt Namđến năm 2020: “ …hiện đại hóa và phát triển mạnh y, dược cổ truyền trongbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân…” [4]
Thuốc YHCT đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động YHCT Theo
Vụ Y Dược cổ truyền (2009), trung bình cả nước sử dụng 60000 tấn dượcliệu/năm Trong đó: 12000 tấn (20%) khai thác tự nhiên, 16000 tấn (26,5%)
từ trồng trọt, 32000 tấn (53,5%) nhập khẩu theo con đường tiểu ngạch [5],[6]
Trang 2Tuy nhiên, hiện nay nguồn dược liệu phần lớn là nhập khẩu (hơn 80%),nhiều loại dược liệu nhập không rõ nguồn gốc, không rõ tính chất Việc sảnxuất dược liệu trong nước diễn ra tự phát, không có quy hoạch, nhiều cơ sởtrồng còn sử dụng hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật trái quy định làm ảnhhưởng tới chất lượng dược liệu Tình trạng dùng lưu huỳnh để bảo quảndược liệu quá mức ở các cơ sở kinh doanh Trên thị trường còn trôi nổi cácloại thuốc Đông dược giả, thuốc Đông dược có lẫn thuốc Tân dược… đã vàđang đe dọa sức khoẻ của người dân [7], [8] Trước tình hình đó ngày 24tháng 02 năm 2012 Bộ Y tế đã ra chỉ thị 03/CT – BYT về tăng cường quản lýcung ứng, sử dụng dược liệu, thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu trong các cơ
sở khám chữa bệnh bằng YHCT [9]
Hà Nội là thành phố đông dân thứ 2 của cả nước, là nơi tập trung nhiềuBệnh viện đầu ngành trong lĩnh vực YHCT, nhu cầu và tình hình sử dụngYHCT rất lớn, đặc biệt là thuốc YHCT Trong bối cảnh hiện tại còn nhiều bấtcập và thiếu thông tin về thuốc cổ truyền (TCT), việc tiến hành đánh giá vềnhu cầu sử dụng và nguồn cung ứng TCT tại các cơ sở khám chữa bệnh củathành phố nhằm góp phần nâng cao kiến thức trong việc xác định nguồn gốc,chế biến và bảo quản dược liệu, tăng cường hiệu quả phòng và điều trị bằngYHCT là rất cần thiết Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này vớicác mục tiêu sau:
1 Khảo sát thực trạng cung ứng thuốc Y học cổ truyền tại một số
cơ sở khám chữa bệnh ở Hà Nội 6 tháng đầu năm 2013.
2 Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc Y học cổ truyền tại các cơ sở trên trong 6 tháng đầu năm 2013.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Thuốc cổ truyền trên thế giới
Thuốc cổ truyền là những vị thuốc, chế phẩm thuốc có nguồn gốc thựcvật, động vật, khoáng vật, có tác dụng điều trị hay có lợi cho sức khoẻ củacon người đã được sử dụng từ lâu đời ở nước ta hay trên thế giới [10]
Quỹ thiên nhiên thế giới ước tính trên thế giới có khoảng 250000
-270000 loài thực vật bậc cao có mạch trong đó có 35000 - 70000 loài câyđược sử dụng làm thuốc chữa bệnh
Các nước có kinh nghiệm sử dụng YHCT lâu đời luôn coi trọng vàkhuyến khích phát triển, sử dụng YHCT trong công tác CSSKBĐ cho nhândân Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới, tính đến năm 1995 trong tổng số50% số người trên thế giới được CSSK thì có tới 80% được chăm sóc bằngYHCT Còn theo báo cáo mới hơn năm 2008 của WHO: tại Châu Á và ChâuPhi có đến 80% dân số phụ thuộc vào YHCT để chăm sóc sức khỏe banđầu[11] Điều này đã nói lên sự tin cậy của người dân đối với YHCT [12]
Ở khu vực Đông Nam Á các nước như: Indonesia, Malaysia, đặc biệt làThái Lan là những nước có truyền thống sử dụng YHCT Năm 1980 sau khinhận ra những sai lầm do coi trọng phát triển YHHĐ quá mức chính phủ vàngành y tế Thái Lan đã có những chính sách hữu hiệu nhằm khôi phục lạinền YHCT Thiết lập các chính sách phát triển thuốc thảo mộc trên phạm vitoàn quốc Để hỗ trợ cho việc phát triển thuốc thảo mộc, Thái Lan đã tiếnhành các cuộc điều tra về cây thuốc, các nghiên cứu về dược học, y xã hội họcđồng thời triển khai thành lập các trung tâm YHCT tại các tỉnh Từng bước
Trang 4đưa YHCT vào hệ thống y tế quốc gia phục vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân[13].
Ở Trung Quốc, từ thời Tây Chu (năm 1066 - 771 trước công nguyên)
đã có những thầy thuốc chuyên nghiệp Ngày nay, thuốc cổ truyền đóng vaitrò quan trọng trong nền y học Trung Quốc Việc sử dụng y dược cổ truyềnđược thể chế bằng văn bản pháp luật nhà nước Trong đó coi trọng việc sửdụng y dược cổ truyền cho vấn đề CSSK ở cộng đồng Tại Trung Quốc có tới
11146 loài trong tổng số 25000 loài được dùng làm thuốc trên thế giới Bêncạnh nguồn thuốc cổ truyền Trung Quốc còn có nguồn thuốc của các dân tộcbản địa Hai nguồn dược liệu này được sử dụng trong CSSK, làm mỹ phẩm,
và thực phẩm chức năng Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn sang các nướcthuộc Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và Châu Úc Các chấttaxon, gingko hay các dịch chiết từ Nhân sâm, Tam thất cũng là những mặthàng xuất khẩu mạnh của Trung Quốc [14]
Ở Ấn Độ, ngay từ năm 1940 đã có chính sách quốc gia về Y học cổtruyền Luật và điều lệ cũng được ban hành từ những năm đó và được cậpnhật dần trong những năm 1964, 1970, 1982 YHCT Ấn Độ được xem như làmột di sản văn hoá Hiện nay, người ta chia YHCT Ấn Độ ra nhiều trườngphái trên cơ sở các khác biệt về quan niệm, lý luận và thực hành: Ayurveda,Yoga, Unani, Siddha Nhà nước rất quan tâm tới bảo tồn và phát triển nguồndược liệu Tính đến năm 2008 ở Ấn Độ có khoảng 8000 loài được dùng làmthuốc, nhiều cây thuốc quý được phát hiện và ghi vào sách đỏ Có 30 vùngtrồng và bảo tồn nguồn gen cây thuốc Năm 1993, nhà nước có các dự án lớnnhư: Khoanh vùng dược liệu, có vùng trồng lưu trữ nguồn dược liệu, tuyêntruyền giáo dục về YHCT tớí thôn bản và hướng hoạt động tới cộng đồng[15]
Trang 5Nhật Bản cũng là nước có nền YHCT lâu đời và đã được sử dụng rộngrãi từ trước chiến tranh thế giới thứ nhất Được xem là nước dùng thuốc cổtruyền cao nhất thế giới hiện nay Chính phủ Nhật Bản đã ban hành luật vềthuốc cổ truyền từ năm 1950 Ước tính trên 95% Kampo (Thuốc dân gianNhật Bản kết hợp thuốc cổ truyền Trung Quốc) là những dạng bào chế tiện lợi
và được xem như thuốc phải kê đơn Hiện nay có 147 thuốc Kampo đã đượcđưa vào danh mục thuốc kê đơn của nước này [16], [17]
Thuốc YHCT không chỉ có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển
mà ngay cả các nước công nghiệp phát triển YHCT đang từng bước khẳngđịnh vị thế của mình trong vai trò chăm sóc sức khoẻ của người dân Ở Châu
Âu, Bắc Mỹ và các nước công nghiệp khác, trên 50% dân số đã sử dụngYHCT ít nhất một lần Ở Mỹ ước tính 158 triệu người thường xuyên sử dụngthuốc cổ truyền Ở Đức có tới 80% dân số sử dụng thuốc thảo dược Theobáo cáo của WHO tổng số tiền chi phí cho YHCT hằng năm trên thế giới đạttrên 6 tỷ đôla và con số này ngày càng gia tăng [18], [19]
Trong chiến lược phát triển YHCT năm 2002 - 2005 tổ chức Y tế thếgiới khẳng định vai trò, giá trị của YHCT và chủ trương đa dạng hoá các hìnhthức cung cấp dịch vụ YHCT
Trên thế giới hiện nay, đại dịch HIV/AIDS đang diễn biến một cáchphức tạp, số bệnh nhân mắc bệnh ngày một nhiều Trong khi đó các loại thuốc
có khả năng ngăn chặn bệnh lại có giá thành rất cao Do vậy, YHCT là sự lựachọn hàng đầu bởi tính an toàn, rẻ tiền và tiện lợi Người ta ước tính ởSanfrancisco, London, Nam Phi…có tới 75% người mắc HIV/AIDS dùngYHCT như một phương thức tăng cường năng lượng, kích thích tiêu hoá [19]
Trang 6Nhìn chung, rất nhiều nước trên thế giới quan tâm tới sự phát triển và
sử dụng YHCT trong việc CSSK người dân, đồng thời coi đó là một trongnhững yếu tố then chốt trong CSSKBĐ ở nước mình
1.2 Tình hình cung ứng và sử dụng thuốc cổ truyền ở Việt Nam
1.2.1 Vài nét về lịch sử thuốc YHCT ở Việt Nam
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên được biết đến là một trongnhững quốc gia có độ đa dạng sinh học cao, có nguồn tài nguyên cây thuốcphong phú và có truyền thống sử dụng YHCT lâu đời
Lịch sử phát triển YHCT Việt Nam kéo dài hàng ngàn năm gắn liền vớiquá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Từ thời Vua Hùng, nhân dânViệt nam đã biết dùng thuốc có nguồn gốc thiên nhiên, thực vật, động vật,khoáng vật để phòng và chữa bệnh Qua nhiều thế hệ đúc rút kinh nghiệm kếthợp với sự giao lưu văn hoá Trung Quốc, hệ thống lý luận Y học cổ truyền ởnước ta ngày một hoàn thiện [20]
Vào thời nhà Trần (1225 - 1399) xuất hiện lương y nổi tiếng là TuệTĩnh Ông được nhân dân ta suy tôn là một vị “Thánh thuốc Nam”, và làngười đặt nền móng cho ngành thuốc Nam về cả hai phương diện thực tiễn và
lý thuyết [21], [22]
Dưới thời nhà Lê, có Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1724 1791), là đại danh y nước ta thế kỷ XVIII Ông luôn thận trọng, chu đáo, tậntình cứu chữa người bệnh Hải Thượng Lãn Ông đã tổng hợp những thành tựucủa nền y học phương Đông đến thế kỷ XVIII, áp dụng sáng tạo vào điều kiệnthiên nhiên và bệnh tật ở nước ta Tổng kết hoàn chỉnh lý luận và các phươngpháp chữa bệnh thành bộ sách “Hải thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập 66
Trang 7-quyển Bộ sách này được coi là Bách khoa toàn thư của y học cổ truyền ViệtNam [10].
Từ khi cách mạng tháng Tám thành công, dưới chế độ xã hội chủnghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới YHCT, tạo điều kiện choYHCT phát triển
Ngày 27/2/1955 tại hội nghị cán bộ y tế, Bác Hồ gửi thư cho ngành y
tế Trong thư bác viết: “ Y học phải dựa trên nguyên tắc: dân tộc, khoa hoc,đại chúng Ông cha ta ngày trước đã có nhiều kinh nghiệm quý báu chữa bệnhbằng thuốc ta, thuốc bắc Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũngnên chú trọng phối hợp nghiên cứu thuốc đông và thuốc tây”
Năm 1957 hội đông y được thành lập với mục đích đoàn kết giới lương
y và những người hành nghề y dược cổ truyền, phát hiện các cơ sở YHCT, tạođiều kiện kết hợp YHCT với YHHĐ
Năm 2005, danh mục thuốc chủ yếu YHCT được ban hành với 94 chếphẩm thuốc YHCT, 30 cây thuốc được trồng ở vườn thuốc mẫu Danh mục 96cây thuốc Nam phân theo nhóm bệnh và 215 vị thuốc Cũng trong năm nàychúng ta đã điều tra khảo sát có 3948 loài thực vật, 408 loài động vật, 75 loàikhoáng vật, 52 loài tảo có ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc [23]
Tháng 2/2008, Bộ y tế ban hành danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sửdụng tại các cơ sở khám chữa bệnh với 98 loại chế phẩm và 237 vị thuốc [24]
Chính sách quốc gia về thuốc và chiến lược phát triển ngành Dược giaiđoạn đến năm 2010 đã đặt vấn đề phát triển dược liệu, trong đó xác định kếhoạch nhiệm vụ phát triển nguồn dược liệu, xác định vùng nuôi trồng cây conlàm thuốc Kết hợp trồng rừng với trồng cây con làm thuốc Xây dựng vườnquốc gia về thuốc Xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về dược liệu [25]
Trang 8Mục tiêu, nhiệm vụ công tác YDHCT của Việt Nam trong khoảng 1999– 2020 là: “Nâng cao và phát triển kỹ năng, kỹ thuật của YHCT trên cơ sở giữvững và phát huy bản sắc dân tộc của YHCT, kết hợp tinh hoa của YDHCTViệt Nam với YDHHĐ để hội nhập với sự phát triển YDHCT của các nướctrên thế giới” [26], [27].
1.2.2 Tình hình cung ứng và sử dụng thuốc cổ truyền ở Việt Nam
Hiện nay, thuốc YHCT sử dụng tại Việt Nam theo Luật Dược số34/2005/QH11 ban hành tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI ngày 14 tháng 6năm 2005 và thông tư số 49/2011/TT-BYT của Bộ Y tế ngày 30 tháng 12năm 2011 được hiểu là [28], [29]:
- Thuốc đông y : là thuốc từ dược liệu, được bào chế theo lý luận và
phương pháp của y học cổ truyền của các nước phương Đông
- Các vị thuốc y học cổ truyền: là dược liệu được sơ chế, phức chế theo
lý luận và phương pháp y học cổ truyền Và chế biến là quá trình làm thay đổi
về chất và lượng của dược liệu thô thành vị thuốc đã được chế biến theonguyên lý của y học cổ truyền, bao gồm 2 giai đoạn chính: sơ chế và phứcchế
Theo đó có thể hiểu các hình thức TCT dù đã được chế biến nhưngchưa sử dụng được luôn để kê đơn được xếp vào nhóm dược liệu Các dượcliệu này có thể còn ở dạng nguyên thủy ban đầu sau khi khai thác, thu hoạchhoặc cũng có thể đã được sơ chế qua, thái phiến phơi khô… để tiện bảo quảnvận chuyển Khi đến các CSKCB YHCT, các dược liệu muốn thành thuốc cóthể sử dụng kê đơn cần quá trình chế biến theo nguyên tắc Các thuốc nàyđược gọi là vị thuốc Tóm lại, dược liệu là các TCT chưa sử dụng được luôn,còn vị thuốc là các TCT có thể sử dụng luôn để kê đơn điều trị
Trang 9Về tiêu chuẩn chất lượng của thuốc thuốc YHCT, đã được quy định rõtrong dược điển Việt Nam IV (2010) về số lượng các vị thuốc được phépdùng cũng như chất lượng của từng vị thuốc Quyết định số 3759/QĐ - BYTngày 8 tháng 10 năm 2010 của Bộ Y tế quy định về việc: “Ban hành phươngpháp chế biến bảo quản chất lượng đối với 85 vị thuốc đông y” Chỉ thị 03/CT
- BYT ngày 24 tháng 2 năm 2012 về: “Tăng cường quản lý cung ứng, sử dụngdược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu trong các cơ sở khám chữa bệnhbằng công lập” Chúng được xem là cơ sở pháp lý cho các cơ quan y tế đánhgiá và kiểm tra [9], [30], [31]
Phần lớn các CSKCB đều tự chế biến đươc các vị thuốc theo phươngpháp YHCT Trong các đơn vị thì Viện Y dược học dân tộc Thành Phố HồChí Minh thực hiện chế biến được 250/250 vị thuốc chiếm tỷ lệ 100% trongtổng số vị thuốc hiện đang sử dụng tại Viện, tiếp đến là bệnh viện YHCTThành Phố Hồ Chí Minh 214/267 vị chiếm 80% Tuy nhiên có một số bệnhviện còn chưa thực hiện chế biến các vị thuốc tại bệnh viên như Quảng Nam,Phú Thọ, Đồng Nai, Quảng Bình, Hà Giang và bệnh viện mới thành lập BìnhPhước Một số vị thuốc chế biến phức tạp, số lượng sử dụng không nhiều cácbệnh viện hầu như không chế biến như Phụ tử… [7]
Đối với chế phẩm thuốc: Các Bệnh viện YHCT đều sản xuất được một
số chế phẩm tuy không nhiều nhưng phần nào đáp ứng được nhu cầu sử dụngthuốc trong bệnh viện, những chế phẩm do bệnh viện sản xuất đều có xuất xứ
từ các bài thuốc cổ phương, hoặc là các bài thuốc nghiệm phương đã được sửdụng có hiệu quả cao trên lâm sàng trong nhiều năm và một số thuốc là sảnphẩm của đề tài nghiên cứu Số lượng chế phẩm YHCT sản xuất tại bệnh việnphụ thuộc quy mô khoa dược của bệnh viện Viện Y dược học dân tộc ThànhPhố Hồ Chí Minh sản xuất được 52 chế phẩm, Bệnh viện YHCT Trung ương
37 chế phẩm, số lượng chế phẩm sản xuất tại bệnh viện cũng thay đổi tùy
Trang 10theo nhu cầu sử dụng của bệnh viện, một số bệnh viện không sản xuất chếphẩm như Bệnh viện YHCT tỉnh Phú Thọ, Bệnh viện YHCT tỉnh LạngSơn, Bệnh viện YHCT tỉnh Đồng Nai,… Các dạng chế phẩm là: Thuốchoàn, cồn xoa bóp, chè thuốc, bột thuốc, cốm thuốc, viên nang, viên nén,thuốc nước, cao dán…[7].
Về trang thiết bị phục vụ chế biến thuốc: Đa số các cơ sở đều có cáctrang thiết bị sản xuất thuốc ở dạng truyền thống như: dao cầu, máy thái dượcliệu, bộ làm thuốc tễ lăn bằng tay,… Hoặc các trang thiết bị sản xuất các dạngchế phẩm YHCT theo hướng hiện đại hóa như hệ thống máy sắc thuốc, máyđóng gói chè tan, chè túi lọc, máy đóng nang, máy dập viên, máy ép vỉ…Ngoài ra một số bệnh viện, viện còn có các trang thiết bị, máy móc phục vụcho kiểm nghiệm về hóa lý và vi sinh cho các chế phẩm YHCT như Bệnhviện Phạm Ngọc Thạch, Viện Y dược học dân tộc Thành Phố Hồ Chí Minh.Trong khi đó còn nhiều Bệnh viện YHCT nhất là các bệnh viện mới thànhlập, các trang thiết bị sản xuất còn lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu sảnxuất thuốc sử dụng trong bệnh viện [7]
Hiện nay, chế biến thuốc cổ truyền trong các CSKCB còn gặp nhiềukhó khăn: cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng để sản xuất thuốc theo quy tắc mộtchiều, các trang thiết bị hiện có chưa đủ khả năng đáp ứng nhu cầu chế biếndược liệu, nên việc chế biến thuốc phiến chủ yếu theo phương pháp thủ công;nhân lực cán bộ dược YHCT còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng chưađáp ứng được nhu cầu chế biến và sản xuất thuốc trong bệnh viện Bên cạnh
đó, còn một số khó khăn khác như kinh phí dành cho ngành y tế thấp, đặc biệt
là YHCT; việc thanh toán bảo hiểm y tế trong Bệnh viện YHCT còn gặpnhiều khó khăn do một số thuốc không nằm trong danh mục thuốc chữa bệnhchủ yếu khi bệnh viện sử dụng cho người bệnh thì không được thanh toán, sốthuốc bệnh viện sản xuất không được tính đủ chi phí làm thành chế phẩm [7]
Trang 11Tất cả các nguyên nhân này phần nào ảnh hưởng đến tình hình sử dụng và chếbiến TCT tại các cơ sở dẫn đến giảm hiệu quả điều trị Vì vậy việc đánh giámột cách đầy đủ thực trạng sử dụng và chế biến thuốc tại các CSKCB để tìmbiện pháp khắc phục, nhằm nâng cao chất lượng chữa bệnh cho người dânbằng thuốc YHCT là cần thiết.
Việc áp dụng các thành tựu khoa học để cải thiện các dạng bào chếcũng như hình thức sử dụng TCT cũng không ngừng được nâng cao Bêncạnh các hình thức sử dụng thuốc truyền thống như: thuốc sắc, rượu thuốc,…,rất nhiều dạng bào chế hiện đại khác cũng được nghiên cứu và phát triển.Nhiều bài thuốc, vị thuốc có giá trị được nghiên cứu theo hướng sản xuấtcông nghiệp
Tính đến năm 2011, cả nước mới có 12 cơ sở sản xuất thuốc từ dượcliệu đạt tiêu chuẩn GMP (chiếm hơn 11%) Nguồn dược liệu đầu vào cho cácđơn vị sản xuất thuốc từ dược liệu không ổn định Công tác sơ chế và chếbiến dược liệu gặp nhiều bất cập do diện tích mặt bằng chật hẹp, quá trình chếbiến không đúng quy cách đã ảnh hưởng tới chất lượng dược liệu và hiệu quảđiều trị của thuốc Đông dược [27]
Theo thống kê của ngành Dược (2011) nước ta có gần 3950 loài câythuốc, 52 loài tảo và 75 loài khoáng vật, 408 loài động vật có thể dùng làmthuốc chữa bệnh Không ít các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đếncông tác quản lý chất lượng dược liệu, thuốc từ dược liệu, song những hoạtđộng trong lĩnh vực này còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế [27] Công tácquản lý nhà nước về dược liệu, thuốc YHCT còn chồng chéo, thiếu sự phốihợp giữa các bộ, ngành, địa phương
Trang 12Theo báo cáo của đoàn thanh tra sở y tế Hà Nội (2007): Kết quả kiểmtra hành nghề kinh doanh dược liệu, đông dược chỉ riêng tại Ninh Hiệp (GiaLâm - Hà Nội) thì chỉ có 19/200 hộ kinh doanh dược liệu có giấy phép [32].
Đến 31/12/2008 có 1870/8487 thuốc Đông dược được đăng ký nhưngbáo cáo về ảnh hưởng không có lợi tới sức khoẻ do việc sử dụng thuốc từdược liệu tăng lên, số mẫu đông dược không đạt chất lượng đăng ký cao gần10%/năm/tổng số mẫu lấy kiểm tra Một số dược liệu giả như: Hoàng kỳ lẫnvới vị thuốc Hồng kỳ, Hoài sơn lẫn với các vị khác thuộc họ Dioscoreae,Bạch linh làm giả bằng các loại bột khác đóng thành bánh, thỏ ty tử bị làm giảbằng các chất vô cơ…[7]
1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu ở Hà Nội
Hà Nội là thành phố lớn nhất cả nước với diện tích 3323,6 km2, gồm 29quận, huyện, thị, dân số hơn 6,8 triệu người là thành phố đông dân thứ haicủa cả nước [33] Do vậy, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân là rấtlớn Hà Nội là trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của cả nước, là nơi tậptrung các bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện cấp thành phố có trình độchuyên môn cao Đặc biệt Hà Nội là nơi có nhiều bệnh viện đầu ngành vềYHCT như: bệnh viện YHCT Trung ương, bệnh viện YHCT Quân đội, bệnhviện YHCT Bộ Công an, bệnh viện đa khoa YHCT Hà Nội… Ngoài ra phục
vụ công tác phòng và chữa bệnh bằng YHCT còn có các khoa YHCT của gần
41 bệnh viện trực thuộc Sở Y tế Hà Nội Đặc biệt còn có các bệnh viện tưnhân chuyên khoa YHCT như: Bệnh viện Nam Á, bệnh viện Trường Giang.Điều này nói lên nhu cầu về YHCT trong nhân dân thủ đô và các tỉnh lân cận
là rất lớn
Hà Nội còn là trung tâm đào tạo các cán bộ ngành y dược học cổ truyềnhàng đầu của cả nước như Đại học Y Hà Nội, Học viện Y dược học cổ truyền
Trang 13Việt Nam, Đại học Dược Tại đây có các trung tâm nghiên cứu, các labokiểm nghiệm về thuốc YHCT hiện đại Hà Nội có các khu nuôi trồng dượcliệu có quy mô lớn như Thanh Trì, Sóc Sơn và là trung tâm buôn bán dượcliệu lớn như phố Lãn Ông, Ninh Hiệp (Gia Lâm)
Đồng thời được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân thành phố, Hà Nội
đã từng bước hiện đại hóa và phát triển mạnh Y dược cổ truyền trong công tácbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Mục tiêu Hà Nội đến năm
2015, xây dựng và kiện toàn 100% Bệnh viện YHCT theo hướng Bệnh viện
đa khoa YHCT Và đến năm 2020, 100% Bện viện Đa khoa, Chuyên khoa cókhoa YHCT, 100% phòng khám đa khoa, Trạm y tế xã có bộ phận Y dược cổtruyền do thầy thuốc YHCT của trạm y tế phụ trách Về khám, chữa bệnhbằng YHCT, Hà Nội phấn đấu đến năm 2015 tuyến thành phố đạt 15%, tuyếnhuyện đạt 20%, tuyến xã đạt 30% tỷ lệ người bệnh được khám chữa bệnh và
sử dụng thuốc YHCT trong điều trị các bệnh chung Các bệnh viện sẽ từngbước được hiện đại hóa YHCT và đẩy mạnh kết hợp YHCT với YHHĐ HàNội chú trọng, quan tâm nhiều về đội ngũ dược sĩ cổ truyền nhằm đáp ứngnhu cầu về dược liệu, thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu đảm bảo chất lượngcho các cơ sở khám chữa bệnh bằng Y dược cổ truyền
Để đạt được các mục tiêu trên, thành phố đã đề ra những giải pháp chủyếu như: Phát triển hệ thống khám chữa bệnh bằng Y dược cổ truyền; pháttriển nguồn nhân lực; về cơ chế chính sách; đảm bảo nâng cao chất lượngdược liệu và thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu; tăng cường vai trò của HộiĐông y các cấp; vai trò của Hội Châm cứu thành phố; Tăng cường công tácquản lý hành nghề Y dược cổ truyền; nghiên cứu khoa học và đẩy mạnh côngtác kế thừa; tăng cường công tác tuyên truyền cũng như đảm bảo về tài chínhcho các cơ sở Y dược cổ truyền có điều kiện phát triển [7], [34]
Trang 141.5 Một số công trình nghiên cứu về cung ứng
và sử dụng thuốc YHCT.
Trong những năm gần đây, với chính sách khuyến khích phát triểnYHCT của Đảng, Nhà nước, đã có những công trình nghiên cứu về thực trạngYHCT hiện nay như:
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Y tế của Nguyễn Viết Thân (2006) về:
“Nghiên cứu đánh giá thực trạng chất lượng dược liệu trên thị trường ViệtNam hiện nay ’’ [20]
- Luận văn thạc sĩ y học của Nguyễn Vũ Úy (2008) nghiên cứu: “Thựctrạng cấp và sử dụng đông dược tại các cơ sở hành nghề y dược cổ truyền tưnhân trên địa bàn thành phố Hà Nôi” Theo nghiên cứu này trên các cơ sởhành nghề y dược cổ truyền tư nhân ở địa bàn Hà Nội tỷ lệ mua thuốc trôi nổitương đối cao: 18,7% đối với chế phẩm và 56,2% đối với dược liệu Trongviệc sử dụng thuốc YHCT, nghiên cứu mới đề cập đến tỷ lệ sử dụng thuốcthang và chế phẩm trong điều trị cũng như số lượng vị thuốc và chế phẩmtrong một đơn thuốc YHCT [35]
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Do Cam (2009) tại các cơ sở y tế cônglập ở Hà Nội bước đầu cho thấy số lượng các dược liệu, vị thuốc và chế phẩmđược sử dụng Nghiên cứu cũng khảo sát 5 dược liệu dễ nhầm lẫn cho kếtquả : “Chỉ tiêu soi bột có 35,7% mẫu Hoài sơn đạt; chỉ tiêu mô tả có 100%mẫu Hồng hoa, 0% mẫu Phòng kỷ, 0% mẫu Mộc thông đạt yêu cầu; Chỉ tiêutiêu bản có 37,55% mẫu Uy linh tiên đạt yêu cầu’’ [36]
- Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y khoa của Đinh Quang Huy (2011) về “Khảo sát thực trạng 8 vị thuốc bổ tại 3 Bệnh viện Y học cổ truyền ở HàNội‘‘[5]
Trang 15- Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y khoa của Nguyễn Thị Hải Yến năm
2012 về “Khảo sát thực trạng chất lượng hai vị thuốc Thỏ ty tử và Ý dĩ taịmột số cơ sở y học cổ truyền Hà Nội‘’ cho kết quả : “ Vị Thỏ ty tử có 15/15mẫu đều có hạt giả, chỉ có 4 mẫu đạt đủ 5 chỉ tiêu chất lượng Đối với vị Ý dĩ
có 13/15 mẫu có hạt giả và không có mẫu nào đạt đủ 9 tiêu chuẩn chấtlượng’’[37]
Trang 16CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Các cơ sở khám chữa bệnh
Lựa chọn hầu hết các bệnh viện chuyên nghành YHCT trên địa bànthành phố Hà Nội, bao gồm viện công lập và tư nhân Lựa các khoa YHCTBệnh viện đa khoa có từ 20 giường bệnh dùng thuốc YHCT trở lên thuộcquản lý của Sở y tế Hà Nội hoặc các Bộ, Ngành chủ quản
Gồm 18 bệnh viện:
Các Bệnh viện YHCT: Bệnh viện YHCT Trung ương, Bệnh việnYHCT Hà Đông, Bệnh viện YHCT Bộ Công An, Bệnh viện YHCT Nam Á,Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội
Các khoa YHCT Bệnh viện đa khoa: Bệnh viện Đa khoa Saint Paul,Bệnh viện Đa khoa Bắc Thăng Long, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, Bệnhviện Đa khoa Hà Đông, Bệnh viện Đa khoa Sơn Tây, Bệnh viện Đa khoa Ba
Vì, Bệnh viện Đa khoa Giao thông vận tải, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện
198, Bệnh viện E, Bệnh viện K, Bệnh viện Hữu Nghị
Trong đó có 17 Bệnh viện công lập và 1 Bệnh viện tư nhân là Bệnhviện Nam Á
2.1.2 Cán bộ quản lý công tác thuốc cổ truyền
Cán bộ công tác quản lý tại địa điểm nghiên cứu được phỏng vấn baogồm:
Trang 17+ Trưởng khoa dược hoặc phó trưởng khoa dược: đối với CSKCB làBệnh viện YHCT.
+ Trưởng khoa YHCT và tổ trưởng tổ TCT: Đối với CSKCB là KhoaYHCT thuộc Bệnh viện Đa khoa
Các cán bộ này phải là người đó làm công tác quản lý từ 6 tháng trởlên, nếu cấp trưởng làm việc dưới 6 tháng sẽ phỏng vấn cấp phó
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
Hồi cứu sổ sách, thông tin về sử dụng thuốc trong 6 tháng đầu năm2013
Phỏng vấn cá nhân bằng phiếu phỏng vấn: phỏng vấn trưởng khoadược, phó trưởng khoa dược, trưởng (phó) khoa YHCT bên
Phiếu thu thập thông tin kèm theo trong phần phụ lục
2.2.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu
Mục
tiêu TT Biến số
Chỉ sô, định nghĩa
Phân loại
Đối tượng
PP thu thập
Cán bộ quản lý
Bảng kiểm
thầu
Phương pháp lựa chọn cơ sở cung ứng TCT
Định tính
Cán bộ quản lý
Bảng kiểm
Trang 183 Đáp ứng của cơ
sở cung ứng
- Số lượng dược liệu, vị thuốc
- Chất lượng thuốc mong muốn
Định tính
Cán bộ quản lý
Bảng kiểm và phỏng vấn
Định lượng Định tính
Báo cáo trúng thầu
Bảng kiểm
liệu, vị thuốc
Định lượng
Báo cáo dược
Sao chép thông tin
lượng TCT
Các hình thức kiểm tra đầu vào
Định tính
Cán bộ quản lý
Phỏng vấn
7
Số dược liệu, vị thuốc được cung ứng
Số loại dược liệu,
vị thuốc được cung ứng
Định tính
Báo cáo trúng thầu
Sao chép thông tin
Định tính
Báo cáo dược và danh mục thuốc
Sao chép, đối chiếu thông tin
thuốc
Thuốc Nam và thuốc Bắc
Định tính
Báo cáo thầu
Sao chép thông tin
dụng thuốc
Sử dụng dược liệu, vị thuốc cho
kê đơn, sản xuất chế phẩm
Định tính
Cán bộ quản lý, báo cáo dược
Phỏng vấn, sao chép thông tin
11 Sử dụng chế
phẩm ở CSKCB
- Số loại chế phẩm
- Dạng bào chế
- Nguồn gốc
Định lượng Định tính
Báo cáo dược, gói thầu chế phẩm
Sao chép thông tin
Trang 1912 Lưu lượng sử
dụng
- Khối lượng sử dụng từng dược liệu, vị thuốc
Định lượng
Báo cáo dược
Sao chép thông tin
13 Phản ứng có hại
Ghi nhận của nhân viên y tế về các phản ứng có hại liên quan đến
sử dụng TCT
Định tính
Cán bộ quản lý
Phiếu phỏng vấn
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Tại 18 bệnh viện khu vực Hà Nội như trong phần đối tượng nghiên cứu
đã nêu
2.4 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 10 năm 2013
2.5 Phương pháp khống chế sai số
Kiểm tra thông tin qua các chứng từ gốc của cơ sở nghiên cứu
Các cơ sở nghiên cứu được mã hoá đánh số từ 1 đến 18
2.6 Xử lý số liệu
Số liệu thu được xử lý bằng chương trình thống kê y sinh học với phầnmềm SPSS 16.0 Theo các thuật toán thống kê y học
2.7 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự cho phép của Hội đồng khoa học, Phòng đào tạosau đại học Trường Đại Học Y Hà Nội
Nghiên cứu được sự cho phép, giúp đỡ của Sở Y tế Hà Nội
Trang 20Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp các nhà quản lý có biện phápnâng cao chất lượng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh để chăm sóc sứckhoẻ người dân tốt hơn.
Đánh giá khách quan và xử lý số liệu trung thực
Các cơ sở nghiên cứu được mã hoá, thông tin chỉ được sử dụng trongnghiên cứu
Trang 21CHUƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng cung ứng thuốc YHCT tại các cơ
Trang 22Tỷ lệ mô hình quản lý TCT
1 2 3
3.1.2 Hình thức đấu thầu dược liệu, vị thuốc YHCT
- Tất cả các cơ sở nghiên cứu đều sử dụng hình thức đấu thầu rộng rãi
để chọn nhà cung ứng TCT Có 2 CSKCB chiếm 11,1% sử dụng thêm hìnhthức mua sắm trực tiếp để cung ứng thuốc cho đơn vị mình
3.1.3 Nguồn cung ứng thuốc cổ truyền
Bảng 3.3: Đáp ứng của nguồn cung ứng với nhu cầu sử dụng dược liệu, vị
thuốc của CSKCB
Trang 23Không đáp ứng đủ nhu cầu của CSKCB
Đáp ứng được yêu cầu của CSKCB
Không đáp ứng được yêu cầu của CSKCB
Bảng 3.4: Số lượng nguồn cung ứng dược liệu, vị thuốc tại các cơ sở
khám chữa bệnh
CSKCB
Nguồn cung ứng
Tổng Công ty cổ
phần nhà nước
Công ty tư nhân
Nguồn khác
Trang 24- Trung bình có 2,11 ± 1,02 công ty cung ứng TCT cho các CSKCB.
- Tất cả các CSKCB chỉ mua của công ty cổ phần nhà nước và công ty
tư nhân và không mua của các nguồn không đủ tư cách pháp lý khác Trong
Trang 25đó: có 6 CSKCB chỉ mua dược liệu, vị thuốc của công ty cổ phần nhà nước, 5
cơ sở mua của công ty tư nhân, và 7 cơ sở mua của cả hai
3.1.4 Kinh phí dành cho mua dược liệu, vị thuốc YHCT
Bảng 3.5: Kinh phí dành cho cung ứng dược liệu, vị thuốc
Trang 263.1.5 Kiểm tra chất lượng nguồn cung ứng dược liệu, vị thuốc
Bảng 3.6: Hình thức kiểm tra chất lượng nguồn cung ứng
hiện
Tỷ lệ %
Nhận xét:
- Tất cả các CSKCB đều có kiểm tra chất lượng TCT được cung bằngcảm quan 83% cơ sở theo phiếu kiểm nghiệm của nhà cung ứng 61,1% cơ sởtheo thông tin nguồn gốc nhà cung ứng cung cấp Chỉ có 1,67% và 22,2% cơ
sở có kiểm nghiệm TCT được cung ứng
Trang 273.1.6 Số lượng dược liệu, vị thuốc cung ứng tại từng cơ sở
Bảng 3.7: Tỷ lệ cung ứng giữa dược liệu và vị thuốc
Trang 283.2 Thực trạng sử dụng thuốc YHCT tại các cơ
sở nghiên cứu.
3.2.1 Sử dụng các dược liệu, vị thuốc tại các CSKCB
Trang 29Bảng 3.8: Số dược liệu, vị thuốc được sử dụng trong và ngoài danh mục ở
Trang 30- Trung bình mỗi CSKCB sử dụng 144,4 ± 38,1 dược liệu, vị thuốctrong danh mục thuốc YHCT thiết yếu.
- Có 11 CSKCB có sử dụng dược liệu, vị thuốc ngoài danh mục với tỷ
có 1 cơ sở sử dụng
Bảng 3.9: Nguồn gốc dược liệu, vị thuốc được sử dụng ở từng cơ sở
Trang 32- Trung bình số dược liệu, vị thuốc là thuốc Nam sử dụng tại 1 CSKCB
ít hơn số thuốc Bắc Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kêvới p > 0,05
Bảng 3.10: Tỷ lệ dùng kê đơn và sản xuất chế phẩm
Trang 33- Trong nghiên cứu có 7 cơ sở có sử dụng các loại dược liệu, vị thuốccho sản xuất chế phẩm từ 7,3% đến 73,1% tổng số loại sử dụng của cơ sở.
- Có 1 cơ sở sử dụng 98,2% số dược liệu, vị thuốc cho việc kê đơnthuốc sắc, còn các cơ sở khác đều sử dụng 100% dược liệu, vị thuốc vào kêđơn thuốc sắc
3.2.2 Các chế phẩm thuốc có nguồn gốc YHCT được sử dụng tại các CSKCB
Bảng 3.11: Danh mục các chế phẩm thuốc có nguồn gốc YHCT được sử
Cao
xoa
Cao dán
Cao thuốc
Siro thuốc
Thuốc hoàn, viên
Thuốc bột
Chè thuốc
Thuốc cốm
Loại khá c
Trang 34- Có 1 CSKCB không sử dụng bất kỳ một loại chế phẩm nào trong điềutrị.
- CSKCB sử dụng nhiều nhất là 79 loại chế phẩm, cơ sở sử dụng ít nhất
là 2 loại chế phẩm Trung bình mỗi cơ sở sử dụng 18,4 ± 22,4 loại chếphẩm
Bảng 3.12: Tỷ lệ dạng chế phẩm là viên, hoàn ở từng cơ sở
Bảng 3.13: Nguồn gốc các chế phẩm được sử dụng trong các cơ sở
Tên cơ
sở
Số chế phẩm sản xuất tại cơ sở
Tỷ lệ (%)
Trang 35- Tỷ lệ các loại chế phẩm nhập khẩu được sử dụng trong các CSKCB
có 1 cơ sở cao nhất chiếm 40%, còn lại chiếm từ 7,7% đến 28,6%
- Tỷ lệ các chế phẩm có nguồn gốc trong nước được các cơ sở sử dụngnhiều với tỷ lệ từ 38,1% đến 100%
- Số cơ sở tự sản xuất chế phẩm còn ít 7/18 cơ sở Tuy nhiên hầu hếtcác cơ sở có thể tự sản xuất chế phẩm thì tỷ lệ sử dụng các sản phẩm này khácao, đặc biệt có cơ sở sử dụng 100% loại chế phẩm là do tự sản xuất
3.2.3 Lưu lượng sử dụng thuốc YHCT tại các cơ sở
Bảng 3.14: Khối lượng sử dụng các dược liệu, vị thuốc tại các Bệnh viện
YHCT
Trang 36KCB Khối lượng (Kg) Tỷ lệ % Khối Lượng (Kg) Tỷ lệ %
- Các bệnh viện YHCT có tổng khối lượng thuốc Nam sử dụng là
42031 kg, ít hơn so với thuốc Bắc là 67874
Bảng 3.14: Khối lượng sử dụng các dược liệu, vị thuốc tại các khoa
YHCT của Bệnh viện đa khoa.