1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thực trạng cung ứng thuốc y học cổ truyền tại một số cơ sở khám chữa bệnh ở hà nội 6 tháng đầu năm 2013

73 186 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh hiện tại còn nhiều bấtcập và thiếu thông tin về thuốc cổ truyền TCT, việc tiến hành đánh giá vềnhu cầu sử dụng và nguồn cung ứng TCT tại các cơ sở khám chữa bệnh củathành

Trang 1

Y học cổ truyền (YHCT) đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sứckhỏe (CSSK) của người dân Và tại đại hội toàn thế giới về YHCT lần đầutiên do tổ chức Y tế thế giới (WHO) tổ chức tại Bắc Kinh (11/2008) đã đưa ra

“tuyên bố Bắc Kinh” kêu gọi các quốc gia thành viên của WHO và các bênliên quan khác thực hiện các bước để đưa YHCT vào hệ thống y tế quốc gia,thúc đẩy việc sử dụng YHCT an toàn và hiệu quả [1] Tuyên bố mang tínhbước ngoặt, là sự công nhận YHCT trong lĩnh vực Y tế trên toàn cầu Thực tếcũng cho thấy không chỉ ở phương Đông mà ngay cả các nước phương Tâynhư Mỹ, Anh, Đức YHCT cũng rất phát triển Hiện nay, 80% bác sĩ Đức kêđơn thuốc có nguồn gốc từ thực vật [2], hơn 158 triệu người trưởng thành ở

Mỹ đã sử dụng các thuốc YHCT [3],

Việt Nam là một trong những nước có truyền thống sử dụng thuốcYHCT lâu đời Sau giải phóng Đảng và Chính Phủ rất quan tâm tới sự pháttriển kết hợp của hai nền y học Chỉ thị 03/BYT ngày 1/3/1996 nêu: “Pháttriển sử dụng thuốc YHCT và các phương pháp không dùng thuốc của YHCTtại y tế cơ sở và cộng đồng vẫn là mục tiêu chiến lược của ngành trong nhữngthập kỷ tới để bảo vệ sức khoẻ nhân dân” Trong quyết định 2166/QĐ-TTgngày 30/11/2010 cũng đề ra mục tiêu phát triển Y, dược cổ truyền Việt Namđến năm 2020: “ …hiện đại hóa và phát triển mạnh y, dược cổ truyền trongbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân…” [4]

Thuốc YHCT đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động YHCT Theo

Vụ Y Dược cổ truyền (2009), trung bình cả nước sử dụng 60000 tấn dượcliệu/năm Trong đó: 12000 tấn (20%) khai thác tự nhiên, 16000 tấn (26,5%)

từ trồng trọt, 32000 tấn (53,5%) nhập khẩu theo con đường tiểu ngạch [5],[6]

Trang 2

Tuy nhiên, hiện nay nguồn dược liệu phần lớn là nhập khẩu (hơn 80%),nhiều loại dược liệu nhập không rõ nguồn gốc, không rõ tính chất Việc sảnxuất dược liệu trong nước diễn ra tự phát, không có quy hoạch, nhiều cơ sởtrồng còn sử dụng hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật trái quy định làm ảnhhưởng tới chất lượng dược liệu Tình trạng dùng lưu huỳnh để bảo quảndược liệu quá mức ở các cơ sở kinh doanh Trên thị trường còn trôi nổi cácloại thuốc Đông dược giả, thuốc Đông dược có lẫn thuốc Tân dược… đã vàđang đe dọa sức khoẻ của người dân [7], [8] Trước tình hình đó ngày 24tháng 02 năm 2012 Bộ Y tế đã ra chỉ thị 03/CT – BYT về tăng cường quản lýcung ứng, sử dụng dược liệu, thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu trong các cơ

sở khám chữa bệnh bằng YHCT [9]

Hà Nội là thành phố đông dân thứ 2 của cả nước, là nơi tập trung nhiềuBệnh viện đầu ngành trong lĩnh vực YHCT, nhu cầu và tình hình sử dụngYHCT rất lớn, đặc biệt là thuốc YHCT Trong bối cảnh hiện tại còn nhiều bấtcập và thiếu thông tin về thuốc cổ truyền (TCT), việc tiến hành đánh giá vềnhu cầu sử dụng và nguồn cung ứng TCT tại các cơ sở khám chữa bệnh củathành phố nhằm góp phần nâng cao kiến thức trong việc xác định nguồn gốc,chế biến và bảo quản dược liệu, tăng cường hiệu quả phòng và điều trị bằngYHCT là rất cần thiết Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này vớicác mục tiêu sau:

1 Khảo sát thực trạng cung ứng thuốc Y học cổ truyền tại một số

cơ sở khám chữa bệnh ở Hà Nội 6 tháng đầu năm 2013.

2 Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc Y học cổ truyền tại các cơ sở trên trong 6 tháng đầu năm 2013.

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Thuốc cổ truyền trên thế giới

Thuốc cổ truyền là những vị thuốc, chế phẩm thuốc có nguồn gốc thựcvật, động vật, khoáng vật, có tác dụng điều trị hay có lợi cho sức khoẻ củacon người đã được sử dụng từ lâu đời ở nước ta hay trên thế giới [10]

Quỹ thiên nhiên thế giới ước tính trên thế giới có khoảng 250000

-270000 loài thực vật bậc cao có mạch trong đó có 35000 - 70000 loài câyđược sử dụng làm thuốc chữa bệnh

Các nước có kinh nghiệm sử dụng YHCT lâu đời luôn coi trọng vàkhuyến khích phát triển, sử dụng YHCT trong công tác CSSKBĐ cho nhândân Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới, tính đến năm 1995 trong tổng số50% số người trên thế giới được CSSK thì có tới 80% được chăm sóc bằngYHCT Còn theo báo cáo mới hơn năm 2008 của WHO: tại Châu Á và ChâuPhi có đến 80% dân số phụ thuộc vào YHCT để chăm sóc sức khỏe banđầu[11] Điều này đã nói lên sự tin cậy của người dân đối với YHCT [12]

Ở khu vực Đông Nam Á các nước như: Indonesia, Malaysia, đặc biệt làThái Lan là những nước có truyền thống sử dụng YHCT Năm 1980 sau khinhận ra những sai lầm do coi trọng phát triển YHHĐ quá mức chính phủ vàngành y tế Thái Lan đã có những chính sách hữu hiệu nhằm khôi phục lạinền YHCT Thiết lập các chính sách phát triển thuốc thảo mộc trên phạm vitoàn quốc Để hỗ trợ cho việc phát triển thuốc thảo mộc, Thái Lan đã tiếnhành các cuộc điều tra về cây thuốc, các nghiên cứu về dược học, y xã hội họcđồng thời triển khai thành lập các trung tâm YHCT tại các tỉnh Từng bước

Trang 4

đưa YHCT vào hệ thống y tế quốc gia phục vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân[13].

Ở Trung Quốc, từ thời Tây Chu (năm 1066 - 771 trước công nguyên)

đã có những thầy thuốc chuyên nghiệp Ngày nay, thuốc cổ truyền đóng vaitrò quan trọng trong nền y học Trung Quốc Việc sử dụng y dược cổ truyềnđược thể chế bằng văn bản pháp luật nhà nước Trong đó coi trọng việc sửdụng y dược cổ truyền cho vấn đề CSSK ở cộng đồng Tại Trung Quốc có tới

11146 loài trong tổng số 25000 loài được dùng làm thuốc trên thế giới Bêncạnh nguồn thuốc cổ truyền Trung Quốc còn có nguồn thuốc của các dân tộcbản địa Hai nguồn dược liệu này được sử dụng trong CSSK, làm mỹ phẩm,

và thực phẩm chức năng Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn sang các nướcthuộc Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và Châu Úc Các chấttaxon, gingko hay các dịch chiết từ Nhân sâm, Tam thất cũng là những mặthàng xuất khẩu mạnh của Trung Quốc [14]

Ở Ấn Độ, ngay từ năm 1940 đã có chính sách quốc gia về Y học cổtruyền Luật và điều lệ cũng được ban hành từ những năm đó và được cậpnhật dần trong những năm 1964, 1970, 1982 YHCT Ấn Độ được xem như làmột di sản văn hoá Hiện nay, người ta chia YHCT Ấn Độ ra nhiều trườngphái trên cơ sở các khác biệt về quan niệm, lý luận và thực hành: Ayurveda,Yoga, Unani, Siddha Nhà nước rất quan tâm tới bảo tồn và phát triển nguồndược liệu Tính đến năm 2008 ở Ấn Độ có khoảng 8000 loài được dùng làmthuốc, nhiều cây thuốc quý được phát hiện và ghi vào sách đỏ Có 30 vùngtrồng và bảo tồn nguồn gen cây thuốc Năm 1993, nhà nước có các dự án lớnnhư: Khoanh vùng dược liệu, có vùng trồng lưu trữ nguồn dược liệu, tuyêntruyền giáo dục về YHCT tớí thôn bản và hướng hoạt động tới cộng đồng[15]

Trang 5

Nhật Bản cũng là nước có nền YHCT lâu đời và đã được sử dụng rộngrãi từ trước chiến tranh thế giới thứ nhất Được xem là nước dùng thuốc cổtruyền cao nhất thế giới hiện nay Chính phủ Nhật Bản đã ban hành luật vềthuốc cổ truyền từ năm 1950 Ước tính trên 95% Kampo (Thuốc dân gianNhật Bản kết hợp thuốc cổ truyền Trung Quốc) là những dạng bào chế tiện lợi

và được xem như thuốc phải kê đơn Hiện nay có 147 thuốc Kampo đã đượcđưa vào danh mục thuốc kê đơn của nước này [16], [17]

Thuốc YHCT không chỉ có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển

mà ngay cả các nước công nghiệp phát triển YHCT đang từng bước khẳngđịnh vị thế của mình trong vai trò chăm sóc sức khoẻ của người dân Ở Châu

Âu, Bắc Mỹ và các nước công nghiệp khác, trên 50% dân số đã sử dụngYHCT ít nhất một lần Ở Mỹ ước tính 158 triệu người thường xuyên sử dụngthuốc cổ truyền Ở Đức có tới 80% dân số sử dụng thuốc thảo dược Theobáo cáo của WHO tổng số tiền chi phí cho YHCT hằng năm trên thế giới đạttrên 6 tỷ đôla và con số này ngày càng gia tăng [18], [19]

Trong chiến lược phát triển YHCT năm 2002 - 2005 tổ chức Y tế thếgiới khẳng định vai trò, giá trị của YHCT và chủ trương đa dạng hoá các hìnhthức cung cấp dịch vụ YHCT

Trên thế giới hiện nay, đại dịch HIV/AIDS đang diễn biến một cáchphức tạp, số bệnh nhân mắc bệnh ngày một nhiều Trong khi đó các loại thuốc

có khả năng ngăn chặn bệnh lại có giá thành rất cao Do vậy, YHCT là sự lựachọn hàng đầu bởi tính an toàn, rẻ tiền và tiện lợi Người ta ước tính ởSanfrancisco, London, Nam Phi…có tới 75% người mắc HIV/AIDS dùngYHCT như một phương thức tăng cường năng lượng, kích thích tiêu hoá [19]

Trang 6

Nhìn chung, rất nhiều nước trên thế giới quan tâm tới sự phát triển và

sử dụng YHCT trong việc CSSK người dân, đồng thời coi đó là một trongnhững yếu tố then chốt trong CSSKBĐ ở nước mình

1.2 Tình hình cung ứng và sử dụng thuốc cổ truyền ở Việt Nam

1.2.1 Vài nét về lịch sử thuốc YHCT ở Việt Nam

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên được biết đến là một trongnhững quốc gia có độ đa dạng sinh học cao, có nguồn tài nguyên cây thuốcphong phú và có truyền thống sử dụng YHCT lâu đời

Lịch sử phát triển YHCT Việt Nam kéo dài hàng ngàn năm gắn liền vớiquá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Từ thời Vua Hùng, nhân dânViệt nam đã biết dùng thuốc có nguồn gốc thiên nhiên, thực vật, động vật,khoáng vật để phòng và chữa bệnh Qua nhiều thế hệ đúc rút kinh nghiệm kếthợp với sự giao lưu văn hoá Trung Quốc, hệ thống lý luận Y học cổ truyền ởnước ta ngày một hoàn thiện [20]

Vào thời nhà Trần (1225 - 1399) xuất hiện lương y nổi tiếng là TuệTĩnh Ông được nhân dân ta suy tôn là một vị “Thánh thuốc Nam”, và làngười đặt nền móng cho ngành thuốc Nam về cả hai phương diện thực tiễn và

lý thuyết [21], [22]

Dưới thời nhà Lê, có Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1724 1791), là đại danh y nước ta thế kỷ XVIII Ông luôn thận trọng, chu đáo, tậntình cứu chữa người bệnh Hải Thượng Lãn Ông đã tổng hợp những thành tựucủa nền y học phương Đông đến thế kỷ XVIII, áp dụng sáng tạo vào điều kiệnthiên nhiên và bệnh tật ở nước ta Tổng kết hoàn chỉnh lý luận và các phươngpháp chữa bệnh thành bộ sách “Hải thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập 66

Trang 7

-quyển Bộ sách này được coi là Bách khoa toàn thư của y học cổ truyền ViệtNam [10].

Từ khi cách mạng tháng Tám thành công, dưới chế độ xã hội chủnghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới YHCT, tạo điều kiện choYHCT phát triển

Ngày 27/2/1955 tại hội nghị cán bộ y tế, Bác Hồ gửi thư cho ngành y

tế Trong thư bác viết: “ Y học phải dựa trên nguyên tắc: dân tộc, khoa hoc,đại chúng Ông cha ta ngày trước đã có nhiều kinh nghiệm quý báu chữa bệnhbằng thuốc ta, thuốc bắc Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũngnên chú trọng phối hợp nghiên cứu thuốc đông và thuốc tây”

Năm 1957 hội đông y được thành lập với mục đích đoàn kết giới lương

y và những người hành nghề y dược cổ truyền, phát hiện các cơ sở YHCT, tạođiều kiện kết hợp YHCT với YHHĐ

Năm 2005, danh mục thuốc chủ yếu YHCT được ban hành với 94 chếphẩm thuốc YHCT, 30 cây thuốc được trồng ở vườn thuốc mẫu Danh mục 96cây thuốc Nam phân theo nhóm bệnh và 215 vị thuốc Cũng trong năm nàychúng ta đã điều tra khảo sát có 3948 loài thực vật, 408 loài động vật, 75 loàikhoáng vật, 52 loài tảo có ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc [23]

Tháng 2/2008, Bộ y tế ban hành danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sửdụng tại các cơ sở khám chữa bệnh với 98 loại chế phẩm và 237 vị thuốc [24]

Chính sách quốc gia về thuốc và chiến lược phát triển ngành Dược giaiđoạn đến năm 2010 đã đặt vấn đề phát triển dược liệu, trong đó xác định kếhoạch nhiệm vụ phát triển nguồn dược liệu, xác định vùng nuôi trồng cây conlàm thuốc Kết hợp trồng rừng với trồng cây con làm thuốc Xây dựng vườnquốc gia về thuốc Xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về dược liệu [25]

Trang 8

Mục tiêu, nhiệm vụ công tác YDHCT của Việt Nam trong khoảng 1999– 2020 là: “Nâng cao và phát triển kỹ năng, kỹ thuật của YHCT trên cơ sở giữvững và phát huy bản sắc dân tộc của YHCT, kết hợp tinh hoa của YDHCTViệt Nam với YDHHĐ để hội nhập với sự phát triển YDHCT của các nướctrên thế giới” [26], [27].

1.2.2 Tình hình cung ứng và sử dụng thuốc cổ truyền ở Việt Nam

Hiện nay, thuốc YHCT sử dụng tại Việt Nam theo Luật Dược số34/2005/QH11 ban hành tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI ngày 14 tháng 6năm 2005 và thông tư số 49/2011/TT-BYT của Bộ Y tế ngày 30 tháng 12năm 2011 được hiểu là [28], [29]:

- Thuốc đông y : là thuốc từ dược liệu, được bào chế theo lý luận và

phương pháp của y học cổ truyền của các nước phương Đông

- Các vị thuốc y học cổ truyền: là dược liệu được sơ chế, phức chế theo

lý luận và phương pháp y học cổ truyền Và chế biến là quá trình làm thay đổi

về chất và lượng của dược liệu thô thành vị thuốc đã được chế biến theonguyên lý của y học cổ truyền, bao gồm 2 giai đoạn chính: sơ chế và phứcchế

Theo đó có thể hiểu các hình thức TCT dù đã được chế biến nhưngchưa sử dụng được luôn để kê đơn được xếp vào nhóm dược liệu Các dượcliệu này có thể còn ở dạng nguyên thủy ban đầu sau khi khai thác, thu hoạchhoặc cũng có thể đã được sơ chế qua, thái phiến phơi khô… để tiện bảo quảnvận chuyển Khi đến các CSKCB YHCT, các dược liệu muốn thành thuốc cóthể sử dụng kê đơn cần quá trình chế biến theo nguyên tắc Các thuốc nàyđược gọi là vị thuốc Tóm lại, dược liệu là các TCT chưa sử dụng được luôn,còn vị thuốc là các TCT có thể sử dụng luôn để kê đơn điều trị

Trang 9

Về tiêu chuẩn chất lượng của thuốc thuốc YHCT, đã được quy định rõtrong dược điển Việt Nam IV (2010) về số lượng các vị thuốc được phépdùng cũng như chất lượng của từng vị thuốc Quyết định số 3759/QĐ - BYTngày 8 tháng 10 năm 2010 của Bộ Y tế quy định về việc: “Ban hành phươngpháp chế biến bảo quản chất lượng đối với 85 vị thuốc đông y” Chỉ thị 03/CT

- BYT ngày 24 tháng 2 năm 2012 về: “Tăng cường quản lý cung ứng, sử dụngdược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu trong các cơ sở khám chữa bệnhbằng công lập” Chúng được xem là cơ sở pháp lý cho các cơ quan y tế đánhgiá và kiểm tra [9], [30], [31]

Phần lớn các CSKCB đều tự chế biến đươc các vị thuốc theo phươngpháp YHCT Trong các đơn vị thì Viện Y dược học dân tộc Thành Phố HồChí Minh thực hiện chế biến được 250/250 vị thuốc chiếm tỷ lệ 100% trongtổng số vị thuốc hiện đang sử dụng tại Viện, tiếp đến là bệnh viện YHCTThành Phố Hồ Chí Minh 214/267 vị chiếm 80% Tuy nhiên có một số bệnhviện còn chưa thực hiện chế biến các vị thuốc tại bệnh viên như Quảng Nam,Phú Thọ, Đồng Nai, Quảng Bình, Hà Giang và bệnh viện mới thành lập BìnhPhước Một số vị thuốc chế biến phức tạp, số lượng sử dụng không nhiều cácbệnh viện hầu như không chế biến như Phụ tử… [7]

Đối với chế phẩm thuốc: Các Bệnh viện YHCT đều sản xuất được một

số chế phẩm tuy không nhiều nhưng phần nào đáp ứng được nhu cầu sử dụngthuốc trong bệnh viện, những chế phẩm do bệnh viện sản xuất đều có xuất xứ

từ các bài thuốc cổ phương, hoặc là các bài thuốc nghiệm phương đã được sửdụng có hiệu quả cao trên lâm sàng trong nhiều năm và một số thuốc là sảnphẩm của đề tài nghiên cứu Số lượng chế phẩm YHCT sản xuất tại bệnh việnphụ thuộc quy mô khoa dược của bệnh viện Viện Y dược học dân tộc ThànhPhố Hồ Chí Minh sản xuất được 52 chế phẩm, Bệnh viện YHCT Trung ương

37 chế phẩm, số lượng chế phẩm sản xuất tại bệnh viện cũng thay đổi tùy

Trang 10

theo nhu cầu sử dụng của bệnh viện, một số bệnh viện không sản xuất chếphẩm như Bệnh viện YHCT tỉnh Phú Thọ, Bệnh viện YHCT tỉnh LạngSơn, Bệnh viện YHCT tỉnh Đồng Nai,… Các dạng chế phẩm là: Thuốchoàn, cồn xoa bóp, chè thuốc, bột thuốc, cốm thuốc, viên nang, viên nén,thuốc nước, cao dán…[7].

Về trang thiết bị phục vụ chế biến thuốc: Đa số các cơ sở đều có cáctrang thiết bị sản xuất thuốc ở dạng truyền thống như: dao cầu, máy thái dượcliệu, bộ làm thuốc tễ lăn bằng tay,… Hoặc các trang thiết bị sản xuất các dạngchế phẩm YHCT theo hướng hiện đại hóa như hệ thống máy sắc thuốc, máyđóng gói chè tan, chè túi lọc, máy đóng nang, máy dập viên, máy ép vỉ…Ngoài ra một số bệnh viện, viện còn có các trang thiết bị, máy móc phục vụcho kiểm nghiệm về hóa lý và vi sinh cho các chế phẩm YHCT như Bệnhviện Phạm Ngọc Thạch, Viện Y dược học dân tộc Thành Phố Hồ Chí Minh.Trong khi đó còn nhiều Bệnh viện YHCT nhất là các bệnh viện mới thànhlập, các trang thiết bị sản xuất còn lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu sảnxuất thuốc sử dụng trong bệnh viện [7]

Hiện nay, chế biến thuốc cổ truyền trong các CSKCB còn gặp nhiềukhó khăn: cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng để sản xuất thuốc theo quy tắc mộtchiều, các trang thiết bị hiện có chưa đủ khả năng đáp ứng nhu cầu chế biếndược liệu, nên việc chế biến thuốc phiến chủ yếu theo phương pháp thủ công;nhân lực cán bộ dược YHCT còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng chưađáp ứng được nhu cầu chế biến và sản xuất thuốc trong bệnh viện Bên cạnh

đó, còn một số khó khăn khác như kinh phí dành cho ngành y tế thấp, đặc biệt

là YHCT; việc thanh toán bảo hiểm y tế trong Bệnh viện YHCT còn gặpnhiều khó khăn do một số thuốc không nằm trong danh mục thuốc chữa bệnhchủ yếu khi bệnh viện sử dụng cho người bệnh thì không được thanh toán, sốthuốc bệnh viện sản xuất không được tính đủ chi phí làm thành chế phẩm [7]

Trang 11

Tất cả các nguyên nhân này phần nào ảnh hưởng đến tình hình sử dụng và chếbiến TCT tại các cơ sở dẫn đến giảm hiệu quả điều trị Vì vậy việc đánh giámột cách đầy đủ thực trạng sử dụng và chế biến thuốc tại các CSKCB để tìmbiện pháp khắc phục, nhằm nâng cao chất lượng chữa bệnh cho người dânbằng thuốc YHCT là cần thiết.

Việc áp dụng các thành tựu khoa học để cải thiện các dạng bào chếcũng như hình thức sử dụng TCT cũng không ngừng được nâng cao Bêncạnh các hình thức sử dụng thuốc truyền thống như: thuốc sắc, rượu thuốc,…,rất nhiều dạng bào chế hiện đại khác cũng được nghiên cứu và phát triển.Nhiều bài thuốc, vị thuốc có giá trị được nghiên cứu theo hướng sản xuấtcông nghiệp

Tính đến năm 2011, cả nước mới có 12 cơ sở sản xuất thuốc từ dượcliệu đạt tiêu chuẩn GMP (chiếm hơn 11%) Nguồn dược liệu đầu vào cho cácđơn vị sản xuất thuốc từ dược liệu không ổn định Công tác sơ chế và chếbiến dược liệu gặp nhiều bất cập do diện tích mặt bằng chật hẹp, quá trình chếbiến không đúng quy cách đã ảnh hưởng tới chất lượng dược liệu và hiệu quảđiều trị của thuốc Đông dược [27]

Theo thống kê của ngành Dược (2011) nước ta có gần 3950 loài câythuốc, 52 loài tảo và 75 loài khoáng vật, 408 loài động vật có thể dùng làmthuốc chữa bệnh Không ít các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đếncông tác quản lý chất lượng dược liệu, thuốc từ dược liệu, song những hoạtđộng trong lĩnh vực này còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế [27] Công tácquản lý nhà nước về dược liệu, thuốc YHCT còn chồng chéo, thiếu sự phốihợp giữa các bộ, ngành, địa phương

Trang 12

Theo báo cáo của đoàn thanh tra sở y tế Hà Nội (2007): Kết quả kiểmtra hành nghề kinh doanh dược liệu, đông dược chỉ riêng tại Ninh Hiệp (GiaLâm - Hà Nội) thì chỉ có 19/200 hộ kinh doanh dược liệu có giấy phép [32].

Đến 31/12/2008 có 1870/8487 thuốc Đông dược được đăng ký nhưngbáo cáo về ảnh hưởng không có lợi tới sức khoẻ do việc sử dụng thuốc từdược liệu tăng lên, số mẫu đông dược không đạt chất lượng đăng ký cao gần10%/năm/tổng số mẫu lấy kiểm tra Một số dược liệu giả như: Hoàng kỳ lẫnvới vị thuốc Hồng kỳ, Hoài sơn lẫn với các vị khác thuộc họ Dioscoreae,Bạch linh làm giả bằng các loại bột khác đóng thành bánh, thỏ ty tử bị làm giảbằng các chất vô cơ…[7]

1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu ở Hà Nội

Hà Nội là thành phố lớn nhất cả nước với diện tích 3323,6 km2, gồm 29quận, huyện, thị, dân số hơn 6,8 triệu người là thành phố đông dân thứ haicủa cả nước [33] Do vậy, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân là rấtlớn Hà Nội là trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của cả nước, là nơi tậptrung các bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện cấp thành phố có trình độchuyên môn cao Đặc biệt Hà Nội là nơi có nhiều bệnh viện đầu ngành vềYHCT như: bệnh viện YHCT Trung ương, bệnh viện YHCT Quân đội, bệnhviện YHCT Bộ Công an, bệnh viện đa khoa YHCT Hà Nội… Ngoài ra phục

vụ công tác phòng và chữa bệnh bằng YHCT còn có các khoa YHCT của gần

41 bệnh viện trực thuộc Sở Y tế Hà Nội Đặc biệt còn có các bệnh viện tưnhân chuyên khoa YHCT như: Bệnh viện Nam Á, bệnh viện Trường Giang.Điều này nói lên nhu cầu về YHCT trong nhân dân thủ đô và các tỉnh lân cận

là rất lớn

Hà Nội còn là trung tâm đào tạo các cán bộ ngành y dược học cổ truyềnhàng đầu của cả nước như Đại học Y Hà Nội, Học viện Y dược học cổ truyền

Trang 13

Việt Nam, Đại học Dược Tại đây có các trung tâm nghiên cứu, các labokiểm nghiệm về thuốc YHCT hiện đại Hà Nội có các khu nuôi trồng dượcliệu có quy mô lớn như Thanh Trì, Sóc Sơn và là trung tâm buôn bán dượcliệu lớn như phố Lãn Ông, Ninh Hiệp (Gia Lâm)

Đồng thời được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân thành phố, Hà Nội

đã từng bước hiện đại hóa và phát triển mạnh Y dược cổ truyền trong công tácbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Mục tiêu Hà Nội đến năm

2015, xây dựng và kiện toàn 100% Bệnh viện YHCT theo hướng Bệnh viện

đa khoa YHCT Và đến năm 2020, 100% Bện viện Đa khoa, Chuyên khoa cókhoa YHCT, 100% phòng khám đa khoa, Trạm y tế xã có bộ phận Y dược cổtruyền do thầy thuốc YHCT của trạm y tế phụ trách Về khám, chữa bệnhbằng YHCT, Hà Nội phấn đấu đến năm 2015 tuyến thành phố đạt 15%, tuyếnhuyện đạt 20%, tuyến xã đạt 30% tỷ lệ người bệnh được khám chữa bệnh và

sử dụng thuốc YHCT trong điều trị các bệnh chung Các bệnh viện sẽ từngbước được hiện đại hóa YHCT và đẩy mạnh kết hợp YHCT với YHHĐ HàNội chú trọng, quan tâm nhiều về đội ngũ dược sĩ cổ truyền nhằm đáp ứngnhu cầu về dược liệu, thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu đảm bảo chất lượngcho các cơ sở khám chữa bệnh bằng Y dược cổ truyền

Để đạt được các mục tiêu trên, thành phố đã đề ra những giải pháp chủyếu như: Phát triển hệ thống khám chữa bệnh bằng Y dược cổ truyền; pháttriển nguồn nhân lực; về cơ chế chính sách; đảm bảo nâng cao chất lượngdược liệu và thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu; tăng cường vai trò của HộiĐông y các cấp; vai trò của Hội Châm cứu thành phố; Tăng cường công tácquản lý hành nghề Y dược cổ truyền; nghiên cứu khoa học và đẩy mạnh côngtác kế thừa; tăng cường công tác tuyên truyền cũng như đảm bảo về tài chínhcho các cơ sở Y dược cổ truyền có điều kiện phát triển [7], [34]

Trang 14

1.5 Một số công trình nghiên cứu về cung ứng

và sử dụng thuốc YHCT.

Trong những năm gần đây, với chính sách khuyến khích phát triểnYHCT của Đảng, Nhà nước, đã có những công trình nghiên cứu về thực trạngYHCT hiện nay như:

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Y tế của Nguyễn Viết Thân (2006) về:

“Nghiên cứu đánh giá thực trạng chất lượng dược liệu trên thị trường ViệtNam hiện nay ’’ [20]

- Luận văn thạc sĩ y học của Nguyễn Vũ Úy (2008) nghiên cứu: “Thựctrạng cấp và sử dụng đông dược tại các cơ sở hành nghề y dược cổ truyền tưnhân trên địa bàn thành phố Hà Nôi” Theo nghiên cứu này trên các cơ sởhành nghề y dược cổ truyền tư nhân ở địa bàn Hà Nội tỷ lệ mua thuốc trôi nổitương đối cao: 18,7% đối với chế phẩm và 56,2% đối với dược liệu Trongviệc sử dụng thuốc YHCT, nghiên cứu mới đề cập đến tỷ lệ sử dụng thuốcthang và chế phẩm trong điều trị cũng như số lượng vị thuốc và chế phẩmtrong một đơn thuốc YHCT [35]

- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Do Cam (2009) tại các cơ sở y tế cônglập ở Hà Nội bước đầu cho thấy số lượng các dược liệu, vị thuốc và chế phẩmđược sử dụng Nghiên cứu cũng khảo sát 5 dược liệu dễ nhầm lẫn cho kếtquả : “Chỉ tiêu soi bột có 35,7% mẫu Hoài sơn đạt; chỉ tiêu mô tả có 100%mẫu Hồng hoa, 0% mẫu Phòng kỷ, 0% mẫu Mộc thông đạt yêu cầu; Chỉ tiêutiêu bản có 37,55% mẫu Uy linh tiên đạt yêu cầu’’ [36]

- Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y khoa của Đinh Quang Huy (2011) về “Khảo sát thực trạng 8 vị thuốc bổ tại 3 Bệnh viện Y học cổ truyền ở HàNội‘‘[5]

Trang 15

- Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y khoa của Nguyễn Thị Hải Yến năm

2012 về “Khảo sát thực trạng chất lượng hai vị thuốc Thỏ ty tử và Ý dĩ taịmột số cơ sở y học cổ truyền Hà Nội‘’ cho kết quả : “ Vị Thỏ ty tử có 15/15mẫu đều có hạt giả, chỉ có 4 mẫu đạt đủ 5 chỉ tiêu chất lượng Đối với vị Ý dĩ

có 13/15 mẫu có hạt giả và không có mẫu nào đạt đủ 9 tiêu chuẩn chấtlượng’’[37]

Trang 16

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Các cơ sở khám chữa bệnh

Lựa chọn hầu hết các bệnh viện chuyên nghành YHCT trên địa bànthành phố Hà Nội, bao gồm viện công lập và tư nhân Lựa các khoa YHCTBệnh viện đa khoa có từ 20 giường bệnh dùng thuốc YHCT trở lên thuộcquản lý của Sở y tế Hà Nội hoặc các Bộ, Ngành chủ quản

Gồm 18 bệnh viện:

Các Bệnh viện YHCT: Bệnh viện YHCT Trung ương, Bệnh việnYHCT Hà Đông, Bệnh viện YHCT Bộ Công An, Bệnh viện YHCT Nam Á,Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội

Các khoa YHCT Bệnh viện đa khoa: Bệnh viện Đa khoa Saint Paul,Bệnh viện Đa khoa Bắc Thăng Long, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, Bệnhviện Đa khoa Hà Đông, Bệnh viện Đa khoa Sơn Tây, Bệnh viện Đa khoa Ba

Vì, Bệnh viện Đa khoa Giao thông vận tải, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện

198, Bệnh viện E, Bệnh viện K, Bệnh viện Hữu Nghị

Trong đó có 17 Bệnh viện công lập và 1 Bệnh viện tư nhân là Bệnhviện Nam Á

2.1.2 Cán bộ quản lý công tác thuốc cổ truyền

Cán bộ công tác quản lý tại địa điểm nghiên cứu được phỏng vấn baogồm:

Trang 17

+ Trưởng khoa dược hoặc phó trưởng khoa dược: đối với CSKCB làBệnh viện YHCT.

+ Trưởng khoa YHCT và tổ trưởng tổ TCT: Đối với CSKCB là KhoaYHCT thuộc Bệnh viện Đa khoa

Các cán bộ này phải là người đó làm công tác quản lý từ 6 tháng trởlên, nếu cấp trưởng làm việc dưới 6 tháng sẽ phỏng vấn cấp phó

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

Hồi cứu sổ sách, thông tin về sử dụng thuốc trong 6 tháng đầu năm2013

Phỏng vấn cá nhân bằng phiếu phỏng vấn: phỏng vấn trưởng khoadược, phó trưởng khoa dược, trưởng (phó) khoa YHCT bên

Phiếu thu thập thông tin kèm theo trong phần phụ lục

2.2.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu

Mục

tiêu TT Biến số

Chỉ sô, định nghĩa

Phân loại

Đối tượng

PP thu thập

Cán bộ quản lý

Bảng kiểm

thầu

Phương pháp lựa chọn cơ sở cung ứng TCT

Định tính

Cán bộ quản lý

Bảng kiểm

Trang 18

3 Đáp ứng của cơ

sở cung ứng

- Số lượng dược liệu, vị thuốc

- Chất lượng thuốc mong muốn

Định tính

Cán bộ quản lý

Bảng kiểm và phỏng vấn

Định lượng Định tính

Báo cáo trúng thầu

Bảng kiểm

liệu, vị thuốc

Định lượng

Báo cáo dược

Sao chép thông tin

lượng TCT

Các hình thức kiểm tra đầu vào

Định tính

Cán bộ quản lý

Phỏng vấn

7

Số dược liệu, vị thuốc được cung ứng

Số loại dược liệu,

vị thuốc được cung ứng

Định tính

Báo cáo trúng thầu

Sao chép thông tin

Định tính

Báo cáo dược và danh mục thuốc

Sao chép, đối chiếu thông tin

thuốc

Thuốc Nam và thuốc Bắc

Định tính

Báo cáo thầu

Sao chép thông tin

dụng thuốc

Sử dụng dược liệu, vị thuốc cho

kê đơn, sản xuất chế phẩm

Định tính

Cán bộ quản lý, báo cáo dược

Phỏng vấn, sao chép thông tin

11 Sử dụng chế

phẩm ở CSKCB

- Số loại chế phẩm

- Dạng bào chế

- Nguồn gốc

Định lượng Định tính

Báo cáo dược, gói thầu chế phẩm

Sao chép thông tin

Trang 19

12 Lưu lượng sử

dụng

- Khối lượng sử dụng từng dược liệu, vị thuốc

Định lượng

Báo cáo dược

Sao chép thông tin

13 Phản ứng có hại

Ghi nhận của nhân viên y tế về các phản ứng có hại liên quan đến

sử dụng TCT

Định tính

Cán bộ quản lý

Phiếu phỏng vấn

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Tại 18 bệnh viện khu vực Hà Nội như trong phần đối tượng nghiên cứu

đã nêu

2.4 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 10 năm 2013

2.5 Phương pháp khống chế sai số

Kiểm tra thông tin qua các chứng từ gốc của cơ sở nghiên cứu

Các cơ sở nghiên cứu được mã hoá đánh số từ 1 đến 18

2.6 Xử lý số liệu

Số liệu thu được xử lý bằng chương trình thống kê y sinh học với phầnmềm SPSS 16.0 Theo các thuật toán thống kê y học

2.7 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được sự cho phép của Hội đồng khoa học, Phòng đào tạosau đại học Trường Đại Học Y Hà Nội

Nghiên cứu được sự cho phép, giúp đỡ của Sở Y tế Hà Nội

Trang 20

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp các nhà quản lý có biện phápnâng cao chất lượng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh để chăm sóc sứckhoẻ người dân tốt hơn.

Đánh giá khách quan và xử lý số liệu trung thực

Các cơ sở nghiên cứu được mã hoá, thông tin chỉ được sử dụng trongnghiên cứu

Trang 21

CHUƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng cung ứng thuốc YHCT tại các cơ

Trang 22

Tỷ lệ mô hình quản lý TCT

1 2 3

3.1.2 Hình thức đấu thầu dược liệu, vị thuốc YHCT

- Tất cả các cơ sở nghiên cứu đều sử dụng hình thức đấu thầu rộng rãi

để chọn nhà cung ứng TCT Có 2 CSKCB chiếm 11,1% sử dụng thêm hìnhthức mua sắm trực tiếp để cung ứng thuốc cho đơn vị mình

3.1.3 Nguồn cung ứng thuốc cổ truyền

Bảng 3.3: Đáp ứng của nguồn cung ứng với nhu cầu sử dụng dược liệu, vị

thuốc của CSKCB

Trang 23

Không đáp ứng đủ nhu cầu của CSKCB

Đáp ứng được yêu cầu của CSKCB

Không đáp ứng được yêu cầu của CSKCB

Bảng 3.4: Số lượng nguồn cung ứng dược liệu, vị thuốc tại các cơ sở

khám chữa bệnh

CSKCB

Nguồn cung ứng

Tổng Công ty cổ

phần nhà nước

Công ty tư nhân

Nguồn khác

Trang 24

- Trung bình có 2,11 ± 1,02 công ty cung ứng TCT cho các CSKCB.

- Tất cả các CSKCB chỉ mua của công ty cổ phần nhà nước và công ty

tư nhân và không mua của các nguồn không đủ tư cách pháp lý khác Trong

Trang 25

đó: có 6 CSKCB chỉ mua dược liệu, vị thuốc của công ty cổ phần nhà nước, 5

cơ sở mua của công ty tư nhân, và 7 cơ sở mua của cả hai

3.1.4 Kinh phí dành cho mua dược liệu, vị thuốc YHCT

Bảng 3.5: Kinh phí dành cho cung ứng dược liệu, vị thuốc

Trang 26

3.1.5 Kiểm tra chất lượng nguồn cung ứng dược liệu, vị thuốc

Bảng 3.6: Hình thức kiểm tra chất lượng nguồn cung ứng

hiện

Tỷ lệ %

Nhận xét:

- Tất cả các CSKCB đều có kiểm tra chất lượng TCT được cung bằngcảm quan 83% cơ sở theo phiếu kiểm nghiệm của nhà cung ứng 61,1% cơ sởtheo thông tin nguồn gốc nhà cung ứng cung cấp Chỉ có 1,67% và 22,2% cơ

sở có kiểm nghiệm TCT được cung ứng

Trang 27

3.1.6 Số lượng dược liệu, vị thuốc cung ứng tại từng cơ sở

Bảng 3.7: Tỷ lệ cung ứng giữa dược liệu và vị thuốc

Trang 28

3.2 Thực trạng sử dụng thuốc YHCT tại các cơ

sở nghiên cứu.

3.2.1 Sử dụng các dược liệu, vị thuốc tại các CSKCB

Trang 29

Bảng 3.8: Số dược liệu, vị thuốc được sử dụng trong và ngoài danh mục ở

Trang 30

- Trung bình mỗi CSKCB sử dụng 144,4 ± 38,1 dược liệu, vị thuốctrong danh mục thuốc YHCT thiết yếu.

- Có 11 CSKCB có sử dụng dược liệu, vị thuốc ngoài danh mục với tỷ

có 1 cơ sở sử dụng

Bảng 3.9: Nguồn gốc dược liệu, vị thuốc được sử dụng ở từng cơ sở

Trang 32

- Trung bình số dược liệu, vị thuốc là thuốc Nam sử dụng tại 1 CSKCB

ít hơn số thuốc Bắc Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kêvới p > 0,05

Bảng 3.10: Tỷ lệ dùng kê đơn và sản xuất chế phẩm

Trang 33

- Trong nghiên cứu có 7 cơ sở có sử dụng các loại dược liệu, vị thuốccho sản xuất chế phẩm từ 7,3% đến 73,1% tổng số loại sử dụng của cơ sở.

- Có 1 cơ sở sử dụng 98,2% số dược liệu, vị thuốc cho việc kê đơnthuốc sắc, còn các cơ sở khác đều sử dụng 100% dược liệu, vị thuốc vào kêđơn thuốc sắc

3.2.2 Các chế phẩm thuốc có nguồn gốc YHCT được sử dụng tại các CSKCB

Bảng 3.11: Danh mục các chế phẩm thuốc có nguồn gốc YHCT được sử

Cao

xoa

Cao dán

Cao thuốc

Siro thuốc

Thuốc hoàn, viên

Thuốc bột

Chè thuốc

Thuốc cốm

Loại khá c

Trang 34

- Có 1 CSKCB không sử dụng bất kỳ một loại chế phẩm nào trong điềutrị.

- CSKCB sử dụng nhiều nhất là 79 loại chế phẩm, cơ sở sử dụng ít nhất

là 2 loại chế phẩm Trung bình mỗi cơ sở sử dụng 18,4 ± 22,4 loại chếphẩm

Bảng 3.12: Tỷ lệ dạng chế phẩm là viên, hoàn ở từng cơ sở

Bảng 3.13: Nguồn gốc các chế phẩm được sử dụng trong các cơ sở

Tên cơ

sở

Số chế phẩm sản xuất tại cơ sở

Tỷ lệ (%)

Trang 35

- Tỷ lệ các loại chế phẩm nhập khẩu được sử dụng trong các CSKCB

có 1 cơ sở cao nhất chiếm 40%, còn lại chiếm từ 7,7% đến 28,6%

- Tỷ lệ các chế phẩm có nguồn gốc trong nước được các cơ sở sử dụngnhiều với tỷ lệ từ 38,1% đến 100%

- Số cơ sở tự sản xuất chế phẩm còn ít 7/18 cơ sở Tuy nhiên hầu hếtcác cơ sở có thể tự sản xuất chế phẩm thì tỷ lệ sử dụng các sản phẩm này khácao, đặc biệt có cơ sở sử dụng 100% loại chế phẩm là do tự sản xuất

3.2.3 Lưu lượng sử dụng thuốc YHCT tại các cơ sở

Bảng 3.14: Khối lượng sử dụng các dược liệu, vị thuốc tại các Bệnh viện

YHCT

Trang 36

KCB Khối lượng (Kg) Tỷ lệ % Khối Lượng (Kg) Tỷ lệ %

- Các bệnh viện YHCT có tổng khối lượng thuốc Nam sử dụng là

42031 kg, ít hơn so với thuốc Bắc là 67874

Bảng 3.14: Khối lượng sử dụng các dược liệu, vị thuốc tại các khoa

YHCT của Bệnh viện đa khoa.

Ngày đăng: 29/07/2019, 17:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Văn Truyền (1997), “Một số vấn đề về cây thuốc”, Thông tin Y học cổ truyền số 88, tr 4-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về cây thuốc”, "Thông tin Y họccổ truyền số 88
Tác giả: Lê Văn Truyền
Năm: 1997
3. WHO (2000), Devolopment of National policy on Traditional Medecine, pp. 8 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Devolopment of National policy on TraditionalMedecine
Tác giả: WHO
Năm: 2000
4. Bộ Y tế (2011), Tổng kết chính sách quốc gia về y dược cổ truyền 2003 – 2010, triển khai kế hoạch hành động của Chính phủ phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội, tr. 16, 21, 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết chính sách quốc gia về y dược cổ truyền 2003– 2010, triển khai kế hoạch hành động của Chính phủ phát triển y, dượccổ truyền Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
5. Đinh Quang Huy (2011), Khảo sát thực trạng 8 vị thuốc bổ tại 3 Bệnh Viện Y học cổ truyền ở Hà Nội, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ Y khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng 8 vị thuốc bổ tại 3 BệnhViện Y học cổ truyền ở Hà Nội
Tác giả: Đinh Quang Huy
Năm: 2011
6. Phạm Thị Giảng (2009), “Tình hình thuốc đông dược trên thị trường hiện nay”, Tài liệu tập huấn thực trạng và các phương pháp kiểm định chất lượng thuốc y học cổ truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thuốc đông dược trên thị trườnghiện nay
Tác giả: Phạm Thị Giảng
Năm: 2009
7. Nguyễn Văn Yên (2011), “Tăng cường quản lý cung ứng đảm bảo chất lượng dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu trong các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền”, Hội nghị tăng cường chất lượng ở Đà lạt năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Tăng cường quản lý cung ứng đảm bảo chấtlượng dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu trong các cơ sở khámchữa bệnh bằng y học cổ truyền”
Tác giả: Nguyễn Văn Yên
Năm: 2011
8. Bộ Y Tế (2007), Tài liệu hội nghị đánh giá tình hình sử dụng thuốc y học cổ truyền trong các cơ sở khám chữa bệnh, tr 3-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghị đánh giá tình hình sử dụng thuốc yhọc cổ truyền trong các cơ sở khám chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2007
9. Bộ Y Tế (2012), Chỉ thị 03/CT – BYT ngày 24 tháng 2 năm 2012 về“Tăng cường quản lý cung ứng, sử dụng dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu trong các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quản lý cung ứng, sử dụng dược liệu, thuốc đông y, thuốc từdược liệu trong các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2012
10. Nguyễn Nhược Kim, Hoàng Minh Chung (2009), Dược học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, tr 9 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược học cổtruyền
Tác giả: Nguyễn Nhược Kim, Hoàng Minh Chung
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
12. Xiaorui Zhang (1996), “Traditional Medicine and WHO”, World health – 49th Year, N 0 2, pp. 4 – 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Traditional Medicine and WHO”, "Worldhealth – 49th Year
Tác giả: Xiaorui Zhang
Năm: 1996
13. Đặng Thị Phúc (2002), Thực trạng sử dụng y học cổ truyền tại tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng y học cổ truyền tại tỉnhHưng Yên
Tác giả: Đặng Thị Phúc
Năm: 2002
14. Panee Sirisa (2008), “Traditional Medicine in Thailand”, Journal of Health Science, Chiang Mai University, Thailand, p15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Traditional Medicine in Thailand"”, Journal ofHealth Science
Tác giả: Panee Sirisa
Năm: 2008
15. M. R. Ravi Kumar (2008), In - situ Conservation of Medicine Plants in Scuthern India, p 2 – 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In - situ Conservation of Medicine Plantsin Scuthern India
Tác giả: M. R. Ravi Kumar
Năm: 2008
16. Katsutoshi Terasana,“Current topics of Kampo Medicine in Japan”, The 2 nd world Integrative Medicine Congress Abstracts, p 75 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Current topics of Kampo Medicine in Japan”,"The 2"nd " world Integrative Medicine Congress Abstracts
17. WHO (2005), “National Policy on Traditional medicine and regulation of Herbal medicine”, Who Western Pacific Region Sách, tạp chí
Tiêu đề: National Policy on Traditional medicine and regulationof Herbal medicine
Tác giả: WHO
Năm: 2005
18. Chung - Guo Chang (2002), “Development strategies and Prosprets for Chinese Medicine”, The 2 nd World Integrative Medicine Congress Abstracts, p 121 – 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development strategies and Prospretsfor Chinese Medicine”, "The 2"nd" World Integrative Medicine CongressAbstracts
Tác giả: Chung - Guo Chang
Năm: 2002
20. Ngô Văn Thông (2000), “Bản chất và sự phát triển của ngành đông dược và thuốc Nam dân tộc”, Thông tin Y học cổ truyền số 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Bản chất và sự phát triển của ngành đôngdược và thuốc Nam dân tộc
Tác giả: Ngô Văn Thông
Năm: 2000
(1987-1998)”, Chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng công bằng và hiệu quả, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr 135-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng công bằng vàhiệu quả
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
23. Nguyễn Văn Lợi (2007), “Công tác quản lý nhà nước về dược liệu, thuốc đông dược, thuốc có nguồn gốc từ dược liệu ”, Tài liệu hội nghị đánh giá tình hình sử dụng thuốc y học cổ truyền ở các cơ sở khám chữa bệnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Công tác quản lý nhà nước về dược liệu,thuốc đông dược, thuốc có nguồn gốc từ dược liệu ”
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi
Năm: 2007
25. Bộ Y Tế (2003), Quyết định số 222/2003/Qđ – TTg ngày 3 tháng 11 năm 2003 về “Chiến lược phát triển Y Dược học cổ truyền giai đoạn đến năm 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Y Dược học cổ truyền giai đoạn đếnnăm 2010
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w