1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO cáo NHU cầu điều TRỊ BỆNH RĂNG MIỆNG NGƯỜI CAO TUỔI

80 133 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 227,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xu hướng già hóa trên thế giới Già hoá dân số đánh dấu thành công của chuyển đổi nhân khẩu học nhờkết hợp giảm nhanh, giảm mạnh mức chết và mức sinh trong đó giảm mứcsinh là yếu tố quyết

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BÁO CÁO NHU CẦU ĐIỀU TRỊ

BỆNH RĂNG MIỆNG NGƯỜI CAO TUỔI

CHUYÊN ĐỀ ĐỀ TÀI CẤP BỘ

HÀ NỘI - NĂM 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT

TRƯƠNG MẠNH DŨNG, ĐINH VĂN SƠN

BÁO CÁO NHU CẦU ĐIỀU TRỊ

BỆNH RĂNG MIỆNG NGƯỜI CAO TUỔI

Cho đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và nhu cầu điều trị

bệnh răng miệng ở người cao tuổi Việt Nam"

CHUYÊN ĐỀ ĐỀ TÀI CẤP BỘ

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS.TS.TRƯƠNG MẠNH DŨNG

Hà Nội - Năm 2016

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm cơ bản 3

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi 3

1.1.2 Một số khái niệm có liên quan 3

1.2 Già hóa dân số: vấn đề toàn cầu trong thế kỷ 21 4

1.2.1 Xu hướng già hóa trên thế giới 4

1.2.2 Xu hướng già hóa tại Việt Nam 6

1.3 Một số đặc điểm sinh lý, bệnh lý ở người cao tuổi 11

1.3.1 Biến đổi sinh lý chung 11

1.3.2 Biến đổi sinh lý ở vùng răng miệng 12

1.3.3 Một số đặc điểm bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi 14

1.4 Thực trạng và nhu cầu điều trị bệnh răng miệng ở người cao tuổi 15

1.4.1 Bệnh sâu răng 15

1.4.2 Bệnh quanh răng 21

1.4.3 Tình trạng mất răng và nhu cầu phục hình ở người cao tuổi 26

1.4.4 Tổn thương niêm mạc miệng ở người cao tuổi 30

1.4.5 Bệnh lý cơ nhai và khớp thái dương hàm ở người cao tuổi 32

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Đối tượng nghiên cứu 34

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 34

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 34

2.2.3 Các bước tiến hành nghiên cứu 35

2.2.4 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 36

2.2.5 Các chỉ số nghiên cứu 37

2.2.6 Công cụ thu thập số liệu 40

Trang 4

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 42

3.2 Thực trạng và nhu cầu điều trị bệnh sâu răng 44

3.3 Thực trạng và nhu cầu điều trị bệnh quanh răng 48

3.4 Tình trạng tổn thương niêm mạc miệng ở người cao tuổi 59

3.5 Tình trạng khớp thái dương hàm 60

3.6 Thực trạng và nhu cầu điều trị mất răng 60

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 63

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 63

4.1.1 Đặc điểm theo tuổi, giới, vùng sinh thái sống 63

4.1.2 Các đặc điểm khác của đối tượng nghiên cứu 63

4.2 Thực trạng bệnh răng miệng người cao tuổi 63

4.2.1 Tình trạng răng sâu, mất, trám và các tổn thương khác 63

4.2.2 Tình trạng bệnh quanh răng 65

4.3 Nhu cầu điều trị bệnh răng miệng 65

4.3.1 Nhu cầu điều trị sâu răng 65

4.3.2 Nhu cầu điều trị bệnh quanh răng 66

4.3.3 Nhu cầu phục hình răng 66

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

Bảng 1.2: Chỉ số già hoá của Việt Nam qua các năm 8

Bảng 1.3: Số cụ bà tương ứng với 100 cụ ông chia theo nhóm tuổi 9

Bảng 1.4: Tỷ lệ người cao tuổi sống cô đơn theo giới tính và theo khu vực 9

Bảng 1.5: Phân bố dân số già theo vùng sinh thái 10

Bảng 1.6: Số người cao tuổi chia theo nhóm tuổi khu vực thành thị và nông thôn 10

Bảng 1.7: Biến đổi sinh lý về hình thái, cấu trúc, chức năng ở một số tổ chức 13 Bảng 1.8: Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT của một số quốc gia 17

Bảng 1.9: Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT qua một số nghiên cứu tại Việt Nam 18

Bảng 1.10: Tình hình sâu chân răng ở một số quốc gia 18

Bảng 1.11: Tình hình nghiên cứu bệnh quanh răng ở một số quốc gia 23

Bảng 1.12: Tình hình mất răng ở người cao tuổi tại một số quốc gia 27

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới 42

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo vị trí địa lý 42

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thành thị, nông thôn 43

Bảng 3.4 Tỷ lệ người cao tuổi đi khám răng miệng 43

Bảng 3.5 Tỷ lệ sâu răng theo tuổi 44

Bảng 3.6 Tỷ lệ sâu răng theo giới 44

Bảng 3.7 Tỷ lệ sâu răng theo khu vực sống 45

Bảng 3.8 Phân bố bệnh sâu răng theo vùng địa lý 45

Bảng 3.9 Chỉ số DMFT theo nhóm tuổi 46

Bảng 3.10 Tỷ lệ sâu răng và chỉ số DMFT của người cao tuổi Việt Nam 46

Bảng 3.11 Nhu cầu điều trị sâu răng 47

Bảng 3.12 Nhu cầu trám răng và phục hình 47

Bảng 3.13 Phân bố bệnh quanh răng theo giới 48

Trang 6

Bảng 3.16 Phân bố bệnh quanh răng theo thành thị / nông thôn 50

Bảng 3.17 Chỉ số CPI nặng nhất theo giới 50

Bảng 3.18 Chỉ số CPI nặng nhất theo nhóm tuổi 51

Bảng 3.19 Chỉ số CPI nặng nhất theo vùng sinh thái 52

Bảng 3.20 Vùng lục phân nặng nhất theo thành thị / nông thôn 53

Bảng 3.21 Trung bình Vùng lục phân / người theo giới 53

Bảng 3.22 Trung bình Vùng lục phân / người theo nhóm tuổi 53

Bảng 3.23 Trung bình Vùng lục phân / người theo vùng sinh thái 54

Bảng 3.24 Trung bình Vùng lục phân / người theo thành thị và nông thôn55 Bảng 3.25 Phân bố tỉ lệ NCT còn đủ 3 vùng lục phân lành mạnh theo giới 55

Bảng 3.26 Phân bố tỉ lệ NCT còn đủ 3 vùng lục phân lành mạnh theo nhóm tuổi 56

Bảng 3.27 Phân bố tỉ lệ NCT còn đủ 3 vùng lục phân lành mạnh theo vùng sinh thái 56

Bảng 3.28 Phân bố tỉ lệ NCT còn đủ 3 vùng lục phân lành mạnh theo vùng thành thị/ nông thôn 57

Bảng 3.29 Nhu cầu điều trị bệnh quanh răng theo nhóm tuổi 57

Bảng 3.30 Nhu cầu điều trị bệnh quanh răng theo giới 58

Bảng 3.31 Nhu cầu điều trị bệnh theo vùng sinh thái 58

Bảng 3.32 Nhu cầu điều trị bệnh theo thành thị/ nông thôn 59

Bảng 3.33 Số lượng và tỷ lệ % tổn thương niêm mạc miệng ở người cao tuổi 59 Bảng 3.34 Hạn chế há miệng 60

Bảng 3.35 Tỷ lệ % mất răng phân bố theo nhóm tuổi 60

Bảng 3.36 Tỷ lệ % mất răng phân bố theo giới 61

Bảng 3.37 Tỷ lệ % mất răng theo khu vực sống 61

Bảng 3.38 Nhu cầu phục hình răng 62

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, khoa học và xã hội, tuổi thọtrung bình của loài người tăng lên nhanh chóng Tuổi thọ trung bình của loàingười đã tăng thêm gần 30 năm trong vòng một thế kỷ qua và cùng với đó sốlượng người cao tuổi đang tăng lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu Sốngười cao tuổi trên toàn thế giới chiếm tỉ lệ 8% dân số vào năm 1950 tăng lên11% vào năm 2009 (trên 700 triệu người), theo tính toán tới năm 2020 là 1 tỷngười và sẽ tăng tới 22% vào năm 2050 (khoảng 2 tỷ người) [1]

Xu hướng già hoá dân số đang đặt nhân loại trước những thách thức tolớn trong thế kỷ XXI Một trong những thách thức đó là vấn đề chăm sóc vàbảo vệ sức khoẻ cho người cao tuổi trong cộng đồng

Theo số liệu tổng điều tra dân số Việt Nam, tỉ lệ người trên 60 tuổi đãtăng từ 6,9% (1979) đến 8,1% (1999) và lên 9,6% năm 2007 trong tổng dân

số Trong đó người cao tuổi ở nông thôn chiếm 77,8% người cao tuổi cả nước

và cao gấp 3,5 lần người cao tuổi ở thành thị [2]

Việt Nam là một nước đang phát triển, số người cao tuổi đang có xuhướng tăng nhanh Theo số liệu của tổng cục thống kê, đến 1/4/2011, tỷ lệngười trên 60 tuổi đã là 10,1%, người trên 65 tuổi đã là 7,2% và như vậy,chúng ta cũng đã bước vào giai đoạn “già hoá dân số” ngay từ năm 2011.Tuổi già thường đi đôi với sức khoẻ yếu và bệnh tật; người cao tuổi cóbệnh chiếm khoảng 95% Trung bình một người cao tuổi mắc 2.69 bệnh, chủyếu là các bệnh mãn tính, không lây truyền nên nguyện vọng sâu xa nhất củangười cao tuổi là được sống khoẻ mạnh, được chăm sóc sức khoẻ, được khámchữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật Đây là yêu cầu chính đáng của người cao tuổi,đòi hỏi phải có sự quan tâm của các ngành, các cấp và của toàn xã hội [3]

Trang 9

Nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ của người cao tuổi là một nhu cầu cầnthiết và cần phải được đáp ứng Sự chăm sóc này không chỉ đơn thuần lànhững chăm sóc trong khám chữa bệnh, mà còn bao gồm cả những chăm sóc

về vật chất và tinh thần Người cao tuổi cần được hưởng một cuộc sống cóchất lượng cả về vật chất và tinh thần, đồng thời có điều kiện và cơ hội thuậnlợi để tiếp tục đóng góp sức mình cho gia đình và xã hội

Do đó việc nghiên cứu nhu cầu điều trị bệnh răng miệng ở người caotuổi là rất cần thiết để góp phần ngăn ngừa, kiểm soát và điều trị nhằm cải

thiện chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi Chuyên đề: “Nhu cầu điều trị bệnh răng miệng ở người cao tuổi” được thực hiện với hai mục tiêu:

1 Thực trạng bệnh răng miệng người cao tuổi Việt Nam.

2 Nhu cầu điều trị bệnh răng miệng ở người cao tuổi.

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi

Theo pháp lệnh người cao tuổi Việt Nam: Những người từ 60 tuổi trởlên là người cao tuổi (pháp lệnh ban hành năm 2009)

Ngoài ra có rất nhiều quan niệm về người cao tuổi nhưng quan niệm đóthường dựa vào mức tuổi thọ trung bình của con người ở vùng đó.Tuổi thọtrung bình của người Việt Nam những năm 40 là 32 tuổi Vào những năm 60tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 60 và hiện nay là 68 Các quanniệm về người cao tuổi hầu hết đều dựa vào cơ sở này

Theo quan niệm của hội người cao tuổi thì người cao tuổi là nhữngngười đủ 50 tuổi trở lên

Theo luật lao động: Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên(với nam), từ 55 tuổi trở lên (với nữ)

Để đánh giá đúng thực trạng người cao tuổi và có cách nhìn đúng đắnnhất trong nghiên cứu về người cao tuổi thì chúng ta phải thống nhất: thế nào

là người cao tuổi? Xét ở góc độ tâm lý, luật pháp, tuổi thọ trung bình thì cóthể thống nhất hiểu "người cao tuổi là người có tuổi đời từ 60 tuổi trở lên(không phân biệt nam hay nữ) Tuy nhiên quan niệm này có thể thay đổi theothời gian khi điều kiện về kinh tế và tuổi thọ trung bình thay đổi

1.1.2 Một số khái niệm có liên quan

Tuổi già sinh học: Là độ tuổi mà đến khi đó con người đã xuất hiệnnhững biểu hiện suy giảm các chức năng tâm sinh lý và các chức năng laođộng, sinh hoạt trong cuộc sống Già sinh học là khi hoạt động sống củangười bị chính các quá trình diễn biến tự nhiên trong cơ thể con người Bởivậy tuổi già sinh học có thể bắt đầu ở mỗi cá nhân ở nhiều lứa tuổi khác nhau,phụ thuộc vào cấu tạo sinh học vốn có của mỗi giống nòi và tính di truyền của

Trang 11

dòng họ, của dân tộc và phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội của mỗivùng, mỗi quốc gia trong thời kỳ nhất định.

Tuổi già pháp định: theo những quy định này những người đạt đến một

độ tuổi nào đó phải chấm dứt các hợp đồng lao động, được quyền nghỉ ngơi

Tổ chức và cá nhân nào vi phạm quyền này đối với người cao tuổi được coi là

1.2 Già hóa dân số: vấn đề toàn cầu trong thế kỷ 21

1.2.1 Xu hướng già hóa trên thế giới

Già hoá dân số đánh dấu thành công của chuyển đổi nhân khẩu học nhờkết hợp giảm nhanh, giảm mạnh mức chết và mức sinh trong đó giảm mứcsinh là yếu tố quyết định nhất dẫn đến làm thay đổi cơ cấu tuổi, phân bố dân

số của từng nhóm tuổi (tỷ lệ người trưởng thành và người cao tuổi tăng lêntrong cơ cấu dân số, tỷ lệ dân số trẻ so với tổng dân số giảm rõ rệt) và tuổitrung vị của dân số không ngừng tăng lên Để xem xét đánh giá vấn đề dân sốgià hóa, các nhà nhân khẩu học dựa vào các chỉ số như tuổi thọ bình quân, tỷ

lệ dân số 60 tuổi trở lên, 65 tuổi trở lên, tuổi trung vị

Ở hầu hết các nước phát triển, từ 65 tuổi trở lên được coi là người caotuổi Tuy nhiên với nhiều nước đang phát triển thì mốc tuổi này không phùhợp Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, tuy nhiênLiên Hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lêntrong đó phân ra làm ba nhóm: Sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) vàđại lão (từ 80 tuổi trở lên) [4]

Già hoá diễn ra khi mức sinh giảm trong khi triển vọng sống duy trìkhông đổi hoặc tăng lên ở các độ tuổi già Trong giai đoạn 1950-2005, không

Trang 12

chỉ mức tử vong sơ sinh giảm mà mức tử vong ở tất cả những nhóm tuổi kháccũng giảm Mức sinh giảm ở hầu hết các nước trên thế giới Thế kỷ XX đãchứng kiến một cuộc cách mạng về tăng tuổi thọ Tuổi thọ bình quân của thếgiới đã tăng thêm 20 năm, đạt mức 67,2 tuổi năm 2010 và dự kiến đạt 75,4tuổi vào năm 2050 Kết quả là dân số của nhiều quốc gia sẽ già hoá nhanhchóng và số lượng quốc gia phải đối mặt với thực trạng này ngày càng tăng.Thành tựu này cùng với kết quả tăng trưởng dân số trong nửa đầu của thế kỷXXI, dự báo trong giai đoạn 2005-2050, một nửa lượng dân số gia tăng là dotăng số người trên 60 tuổi (60+), số trẻ em dưới 15 tuổi sẽ giảm nhẹ Dân số

60+ của thế giới sẽ tăng gấp ba từ 673 triệu (246 triệu sống ở các quốc giaphát triển) năm 2005 lên 2 tỷ vào năm 2050 (406 triệu ở các quốc gia pháttriển) Tỷ lệ người cao tuổi tăng từ 10% năm 1998 lên 15% năm 2025

Già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển,nơi mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI Cácnước đang phát triển sẽ là nơi có tỉ lệ người cao tuổi tăng cao nhất và nhanhnhất, theo dự báo số người cao tuổi ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trongvòng 50 năm tới Tỷ lệ người cao tuổi theo dự báo sẽ tăng từ 8% lên 19% vàonăm 2025, trong khi đó tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ 33% xuống 22% Hơn một nửadân số tuổi 80+ sống ở những nước đang phát triển, dự báo sẽ tăng lên 71%vào năm 2050 [5] Tốc độ già hóa tại các nước đang phát triển ngày càngnhanh hơn tại các nước phát triển (ví dụ Pháp mất khoảng 75 năm còn ởSingapore chỉ mất 19 năm), dẫn đến xảy ra nguy cơ “Già trước khi giàu” chứkhông phải “Giàu trước khi già”

Tuổi trung vị của thế giới dự báo sẽ tăng từ 28 (2005) lên 38 tuổi(2050) Điều quan trọng hơn là nhóm dân số già nhất (80+) tăng nhanh hơnnhiều Nếu dân số 60+ dự kiến tăng gấp ba vào năm 2050 thì nhóm dân số nàytăng xấp xỉ 5 lần, từ 88 triệu năm 2005 lên 402 triệu năm 2050 [6]

Trang 13

Trong số người cao tuổi thì phụ nữ nhiều hơn nam giới Tuổi càng tăng,

sự khác biệt này càng lớn Hiện trạng của phụ nữ già ở khắp nơi trên thế giớiđòi hỏi sự ưu tiên trong các hành động chính sách Sự lão hoá tác động lênphụ nữ và nam giới một cách không giống nhau Ý thức được điều này là yếu

tố cần thiết để đảm bảo sự bình đẳng nam nữ một cách đầy đủ và phát triểncác biện pháp hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề Do vậy, điều quan trọng làđưa sự khác nhau về giới vào tất cả các chính sách, chương trình và luật pháp

Có sự khác biệt lớn về phân bố dân số giữa các nước phát triển vàđang phát triển Trong khi phần lớn người cao tuổi ở các nước phát triểnsống ở thành thị, thì phần lớn người cao tuổi ở các nước đang phát triểnsống tại khu vực nông thôn Theo dự báo, đến năm 2025, 82% dân số ở cácnước phát triển sẽ sống ở thành thị, trong khi đó ở các nước đang phát triển

tỷ lệ này chưa đến 50%

Có sự khác nhau đáng kể giữa các nước phát triển và đang phát triển vềkiểu hộ gia đình mà trong đó người cao tuổi sinh sống Ở các nước đang pháttriển phần lớn người cao tuổi sống trong gia đình có nhiều thế hệ Sự khácbiệt này ngụ ý rằng các hoạt động chính sách đối với người cao tuổi sẽ khônggiống nhau giữa các nước đã và đang phát triển

1.2.2 Xu hướng già hóa tại Việt Nam

Già hoá dân số sẽ là một thách thức lớn mà Việt Nam sẽ phải đối mặttrong thời gian tới Theo Tổng cục Dân số, Bộ y tế, mức sinh của nước ta đãgiảm mạnh từ trung bình 4,8 con (1979) xuống 2,33 con (1999), và 2,07 con(2007) và nâng tuổi thọ bình quân của Việt Nam từ 68,6 tuổi (1999) lên 72,2tuổi (2005), dự kiến sẽ là 75 tuổi vào năm 2020

Việt Nam đã bước vào giai đoạn “già hoá dân số” vào năm 2011 (đạt10,1%) Người cao tuổi không ngừng tăng lên cả về số tương đối và số tuyệtđối Tỷ lệ người cao tuổi (60+) trong tổng dân số đã tăng từ 6,9% (1979) lên9,45% (2007) [6], xấp xỉ ngưỡng dân số già theo qui định của thế giới Tỷ lệ

Trang 14

này dự kiến là 11,24% vào năm 2020, 18,3% năm 2030 và sẽ tăng lên tới28,5% năm 2050 [7], thuộc vào mức cao trong khối ASEAN sau Xinh-ga-po(39,8%), Thái Lan (29,8%)[5].

Nếu trong 10 năm (1979-89) số người cao tuổi chỉ tăng lên 930 nghìnngười thì trong 10 năm sau, số người cao tuổi tăng thêm là 1,55 triệu người

Bảng 1.1: Người cao tuổi ở Việt Nam: Số lượng và tỷ lệ [8]

(triệu người)

Số người trên 60 tuổi (triệu người)

Nhịp độ già hoá dân số ở nước ta trong thập niên 90 thế kỷ XX và 10 nămđầu của thế kỷ XXI đã nhanh hơn nhiều so những năm 1980 (từ 25% lên 33% và35%), cao hơn nhịp độ tăng dân số (dân số tăng 20% và dân số già tăng 25%giai đoạn 1979-89; còn trong giai đoạn 1989-99 các tỷ lệ tương ứng là 18% và33%) Nếu nhìn toàn bộ thời kỳ từ 1979 đến 2007, dân số tăng lên 1,61 lần còndân số cao tuổi tăng 2,17 lần [4] Tốc độ già hoá của dân số nước ta khoảng 35năm (tỷ lệ người cao tuổi từ 7% năm 1990 tăng lên 14% năm 2025)

So sánh tỷ lệ dân số nhóm 60+ và tỷ lệ dân số trẻ (0-14) cũng cho thấy

rõ xu hướng già hoá của dân số Việt Nam Chỉ số này đã tăng gần gấp rưỡitrong giai đoạn 1989-99 và gần gấp đôi trong 10 năm tiếp theo Dự tính đến

Trang 15

năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ vượt số người 0-14 tuổi Nếu mứcsinh tiếp tục giảm, cùng với sự giảm của tỷ lệ chết và mức tăng tuổi thọ trungbình thì nguy cơ già hóa sẽ gia tăng ngày càng nhanh [6].

Bảng 1.2: Chỉ số già hoá của Việt Nam qua các năm [6]

Trong bảng 2.3, cơ cấu giới tính của người cao tuổi nước ta có sựchênh lệch lớn Năm 1999, trong tổng số 6.136.399 người cao tuổi thì có2.523.211 cụ ông và 3.613.188 cụ bà Nói cách khác, cứ 100 cụ ông thì có tới

143 cụ bà Khi so sánh ở từng nhóm tuổi thì thấy số cụ bà tăng dần lên theotừng nhóm tuổi, cứ 100 cụ ông thì có từ 129 (60-64) đến 238 (85+) cụ bà Nhưvậy, Việt Nam cũng theo qui luật chung, tỷ số giới tính (nam/nữ) của dân sốcàng ở các nhóm tuổi cao càng giảm

Bảng 1.3: Số cụ bà tương ứng với 100 cụ ông chia theo nhóm tuổi [6]

Nhóm tuổi 60-64 65-69 70-74 75-79 80-84 85+

Số lượng cụ bà so

Trang 16

Bảng 1.4 cho thấy tình trạng sống không có vợ/chồng chiếm tỷ lệ cao61.01%, trong đó số phụ nữ già cô đơn cao hơn nhiều so với nam giới Năm

1989, cả nước có 300 ngàn cụ ông goá vợ, còn cụ bà thì có tới 1,4 triệu ngườigoá chồng, gấp 4,5 lần so với cụ ông Năm 1999, con số này đã tăng hơnnhiều, cả nước có 354,6 ngàn cụ ông goá vợ trong khi có 1,9 triệu cụ bà goáchồng, nhiều gấp 5,4 lần so với cụ ông, chưa kể số phụ nữ cao tuổi sống lyhôn, ly thân khoảng 45 nghìn người, cao gấp 2 lần so với nam giới Sự giatăng tỷ lệ phụ nữ và những người goá chồng tương ứng từ 56.81% và 33.9%(năm 1992/93) lên 58.42% và 36.9% (năm 2004) Đặc biệt, tỷ lệ người caotuổi sống cô đơn tăng từ 3.47% (năm 1992/93) lên 5.62% (năm 2004) Tìnhtrạng này phổ biến với người cao tuổi sống ở nông thôn và người cao tuổi làphụ nữ Khoảng 80% người cao tuổi sống cô đơn là phụ nữ và cũng khoảng80% trong số họ sống ở nông thôn Trong điều kiện yếu thế vốn có về mọimặt của phụ nữ già so với nam giới cùng độ tuổi thì tình trạng này đòi hỏi cácnhà hoạch định chính sách xã hội phải chú tâm hơn nữa trong việc đưa ra cácchính sách phúc lợi xã hội có hiệu quả, ví dụ như các chương trình giáo dục

và tạo thu nhập cho phụ nữ già (UNDP, 2002)

Bảng 1.4: Tỷ lệ người cao tuổi sống cô đơn theo giới tính và theo khu vực [10]

Do đặc điểm cư dân nước ta sống tập trung tại khu vực nông thôn nênđại đa số người cao tuổi sống tại nông thôn Số người cao tuổi ở nông thôncao hơn gấp 3.5 lần khu vực thành thị Tuy nhiên, do tác động của quá trình

Trang 17

đô thị hoá, tỷ lệ dân số già ở khu vực nông thôn đã giảm dần, từ 77.81%(1999) xuống 76.83% (2002) và 73.33% (2004).

Bảng 1.5: Phân bố dân số già theo vùng sinh thái [6]

Bắc Trung Bộ và duyên hải

2

1.3 Một số đặc điểm sinh lý, bệnh lý ở người cao tuổi

1.3.1 Biến đổi sinh lý chung

Lão hóa: là quá trình tích lũy các thay đổi của cơ thể theo thời gian,

bao gồm thay đổi về sinh lý, tâm lý xã hội Theo Carranza, lão hóa là quátrình tan rã về mặt mô học cũng như sinh lý chức năng, phân định từ lúc mới

Trang 18

sinh, thời thơ ấu và khi trưởng thành bởi đặc trưng giữa quá trình phân hủy vàtổng hợp [11].

Các đặc điểm lâm sàng của sự lão hóa trên mặt vẫn còn là vấn đề đangđược tranh cãi, nhất là sự lão hóa xương sọ mặt Rất khó để xác định nguyênnhân do mất răng trong các trường hợp lão hóa xương Nhìn chung, sự lãohóa là kết quả của các yếu tố di truyền, môi trường (như ánh năng ảnh hưởngtới da và sự mất răng ảnh hưởng tới xương), hormone và còn nhiều yếu tốkhác Khó khăn trong phân tích khoa học quá trình này là việc nghiên cứuhình thái mặt trên cùng các bệnh nhân lớn tuổi rất phức tạp Sự lão hóa thểhiện trên lâm sàng khó nghiên cứu, nhưng nhiều tác giả đã tìm kiếm đượcnhiều ý tưởng về quá trình này trên bình diện cơ bản Williams đã đưa ra cácgiả thuyết sau: trong số các protein tham gia vào quá trình phát triển củangười, đảm bảo sự thụ tinh, một số đã được định dạng cho sự lão hóa sau này

Có nghĩa là các protein này trong suốt quá trình phát triển đã được chuyểnhóa, ngoài các tác động có hại, chúng xây dựng các thuận lợi cho chọn lọcloài Quan điểm này cuối cùng cũng mở ra cho chúng ta một phần hiểu biết vềquá trình lão hóa [12]

Ảnh hưởng chung của quá trình lão hóa:

- Mô bị khô, mất nước

- Mô giảm tính đàn hồi

- Giảm khả năng bù trừ

- Thay đổi tính thấm của tế bào

Quá trình lão hóa giới hạn và giảm dần khả năng thích ứng của các cơquan dẫn tới các tình trạng bệnh lý và cuối cùng là kết thúc sự sống

Rối loạn chuyển hoá: được đặc trưng bằng một nhóm các yếu tố nguy

cơ rối loạn chuyển hóa trên một bệnh nhân Bao gồm:

- Béo bụng (tích mỡ quá mức trong mô ở trong và xung quanh bụng)

Trang 19

- Rối loạn chất béo trong máu tạo mảng bám (rối loạn mỡ trong triglycerides cao, HDL cholesterol thấp và LDL cholesterol cao- thúc đẩy tạomảng bám trong thành các động mạch).

máu Huyết áp tăng cao

- Ðề kháng insulin hay rối loạn dung nạp glucose (có thể không thể sửdụng hợp lý insulin hay đường huyết được)

- Trạng thái Prothrombotic (nghĩa là fibrinogen hay nồng độ các chất

ức chế hoạt hóa plasminogen-1 tăng cao trong máu)

- Trạng thái tiền viêm (nghĩa là tãng cao C-reactive protein trong máu)

1.3.2 Biến đổi sinh lý ở vùng răng miệng

Theo qui luật chung, nhưng từng cơ quan, bộ phận vùng răng miệng cóbiến đổi riêng theo xu hướng thoái triển từ từ, tạo ra những rối loạn không hồiphục cả về hình thái và chức năng Nhiều nghiên cứu [13], [14],[15],[16] chobiết: có các biến đổi về chuyển hoá, trao đổi chất kém ở men, ngà bị xơ hoá(các ống Tome bị vôi hoá) làm cho răng dễ bị tổn thương Hình thái răng, tiếpxúc giữa các răng, chiều dài trước-sau cung răng đều thay đổi Các biến đổi ởtuỷ răng dẫn tới điều trị phục hồi gặp rất nhiều khó khăn Độ dầy của lớpxương răng tăng lên, đôi khi quá mức làm cho chân răng phì đại như hình dùitrống, dẫn tới khó khăn khi phải nhổ Các biến đổi theo tuổi làm cho mô liênkết lợi giảm khả năng chống lại các tác động lý học Lợi bị teo và co gây hởchân răng Biểu mô phủ và mô liên kết giảm mối gắn kết, giảm tính đàn hồi

và tăng sự nhạy cảm, chịu đựng kém, dễ bị tổn thương và lâu lành Hệ thốngdây chằng quanh răng giảm, thoái triển mất vai trò đệm tựa Xương ổ răngtăng hiện tượng tiêu xương, giảm chiều cao Xương hàm yếu, khi gẫy thườngcan xấu và chậm Khớp thái dương- hàm xơ hoá, hõm khớp nông, sụn chêmdẹt, thể tích lồi cầu giảm, dây chằng rão, xơ, cơ nhai giảm trương lực Cácchức năng nhai, nuốt đều ảnh hưởng Tuyến nước bọt có hiện tượng giảm tiết

Trang 20

Nước bọt ít, giảm khả năng đệm, toan hoá dễ gây sâu răng và tăng nguy cơviêm nhiễm ở răng miệng Theo Ainamo A, Ainamo J, Barnett N.A, Ketterl

W, Mallet J.P, Nitzan D.W và nhiều nghiên cứu khác[17], [18], [19], một sốbiến đổi được cụ thể bởi bảng 1.7

Bảng 1.7: Biến đổi sinh lý về hình thái, cấu trúc, chức năng ở một số tổ chức

Lợi Teo, mất căng bóng, da cam, xơ, sừng hoá

Phân bào, Thẩm thấu, Đề kháng đều giảm

Biểu mô bám dính Di chuyển về phía chóp

Dây chằng Không đều, thu hoặc giãn Tăng xơ chun, tế bào giảm và có thể mất hoặc hoà vào xương răng.Xương ổ răng, xương

Mô liên kết Tế bào mỡ giảm, mô xơ, sợi collagen tăng

Tuyến ức, tuyến nước bọt teo dần

1.3.3 Một số đặc điểm bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi

Người cao tuổi cũng có các bệnh lý răng miệng giống như người trẻ.Những bệnh phổ biến ở người trẻ như sâu răng, viêm quanh răng cũng là bệnh

có tỷ lệ mắc rất cao ở các đối tượng này Do những thay đổi về sinh lý nênngười cao tuổi có những bệnh đặc trưng và biểu hiện lâm sàng của bệnh luôn

là sự phản ánh tính chất phối hợp giữa bệnh và thoái hoá, tạo ra sự khác biệt

so với người trẻ tuổi Những tình trạng và bệnh hay gặp ở người cao tuổiđược mô tả sau đây:

Trang 21

Tổn thương mô cứng hay gặp nhất là hiện tượng mòn răng, gẫy vỡ thânrăng, mòn ở cổ răng và tiêu cổ chân răng hình chêm Các tổn thương này cótác động của men, ngà bị thoái hoá sinh lý và đặc biệt tăng ở người ít nướcbọt, người mất răng lẻ tẻ có rối loạn khớp cắn [20].

Bệnh lý ở tuỷ răng thường gặp là thể viêm tuỷ mạn, ít có biểu hiện lâmsàng rầm rộ Tuỷ răng bị chết lúc nào không rõ Thường bệnh nhân chỉ đi khámkhi có biến chứng ở mô quanh cuống với lỗ rò, u hạt, nang ở chóp chân răng.Việc chữa tuỷ gặp nhiều trở ngại vì buồng, ống tuỷ thường bị hẹp, tắc Tiênlượng hồi phục kém Các viêm nhiễm ở tổ chức liên kết cũng thường có biểuhiện của một quá trình mạn tính, dễ gây rò, phản ứng hạch viêm nhẹ[21]

Bệnh ở niêm mạc, dưới niêm mạc và cơ được nhiều nghiên cứu đề cậplà: các tổn thương dạng tiền ung thư (Bạch sản chiếm tỷ lệ cao nhất Likenphẳng, Hồng sản với khoảng 50% là ung thư tại chỗ hay xâm lấn và một sốtình trạng khác…) Niêm mạc miệng bị tổn thương, răng bị sâu nhiều trongchứng khô miệng ở những người có bệnh tại tuyến hoặc do dùng nhiều loạithuốc có tác dụng phụ gây giảm tiết hoặc không có nước bọt Trường hợpviêm nấm Candida thể lan khắp khoang miệng hay gặp ở những người già,đeo hàm giả nhựa, có thể trạng yếu, suy giảm miễn dịch Những tổn thươngsừng hoá, teo đét niêm mạc miệng, xơ hoá dưới niêm mạc ở người ăn trầu,các tổn thương loét sang chấn, loét Aptơ Đặc biệt là những tổn thương ungthư niêm mạc miệng thường được phát hiện ở người cao tuổi [22]

Những trạng thái bất thường ở vùng khớp thái dương - hàm cũng là mốiquan tâm của nhiều điều tra Thường xuất phát từ mất răng mà tầng mặt dưới

bị hạ thấp dẫn tới các biến loạn ở ổ chảo, hõm khớp, sụn chêm Phối hợp vớicác biến đổi sinh lý thoái triển của dây chằng, cơ nhai tạo ra hiện tượng tăngnhạy cảm, mỏi, đau, tiếng kêu bất thường vùng khớp hoặc là có trật khớp.Bệnh tăng sản lành tính dạng khối u hay gặp ở người cao tuổi xuất phát

từ tình trạng mất răng có hoặc không có sử dụng răng, hàm giả Trường hợpđeo hàm giả sai qui cách, gây kích thích kéo dài làm biểu mô và mô liên kết

Trang 22

tăng sinh hình thành những cuộn mô sợi bao lấy bìa hàm giả nhựa tháo lắp.Trường hợp mất răng không làm răng giả, lâu ngày niêm mạc ở mặt trong má,môi hoặc lưỡi bị lồi vào khoang mất răng như một khối u.

Tóm lại: đặc điểm sinh lý răng miệng nổi bật của người cao tuổi là quátrình lão hoá thấy ở tất cả các cấu trúc vùng mặt, miệng Các bệnh lý đặc trưng ởngười cao tuổi có liên quan chặt chẽ với quá trình thoái hoá Trong phạm vinghiên cứu, chúng tôi xin phân tích sâu hơn thực trạng bệnh sâu răng, bệnh vùngquanh răng, tình trạng mất răng, nhu cầu điều trị sức khỏe răng miệng ở ngườicao tuổi

1.4 Thực trạng và nhu cầu điều trị bệnh răng miệng ở người cao tuổi

1.4.1 Bệnh sâu răng

1.4.1.1.Một số đặc điểm lâm sàng bệnh sâu răng ở người cao tuổi

Sâu răng là một trong các bệnh phổ biến nhất của nhân loại, đặc trưngbởi việc mất canxi của thành phần vô cơ, kèm hoặc tiếp theo là phân huỷthành phần hữu cơ tạo thành hố ở các mặt trên thân, chân hoặc ở cả thân vàchân răng gọi là lỗ sâu Đối với người cao tuổi, sâu răng có những đặc điểmkhác biệt về lâm sàng, tiến triển và ảnh hưởng tủy răng so với người trẻ tuổi.Bệnh tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, đáy lỗ sâu có mầunâu sẫm, men bờ lỗ sâu sứt mẻ, ít ê buốt, ảnh hưởng tới tuỷ chậm nhưngthường là tuỷ viêm không hồi phục hoặc tuỷ hoại tử Do không đau nên bệnhnhân thường ít đi khám, chữa sớm

Có thể gặp thể sâu răng đã ngừng hoạt động với đáy cứng Theo vị trí, lỗsâu ít gặp ở mặt nhai, mặt láng, nếu có thường là sâu tái phát xung quanh mốihàn cũ Thể sâu ở cổ chân răng thường hay gặp ở những răng có tụt lợi Mặtxương chân răng thường không nhẵn, tạo điều kiện dễ dàng cho MBR hìnhthành Lỗ sâu chân răng có thể gặp ở các mặt ngoài, trong, đặc biệt là mặt bênngay sát cổ răng Tổn thương phát triển có khuynh hướng lan theo chiều rộng

Trang 23

về phía chân răng và các mặt kề cận, không tạo hốc rõ ràng, thường có hiệntượng quá cảm, gãy thân răng (được gọi là thể sâu răng lan) Người cao tuổithường có nhiều chân răng trong miệng (do sâu nhiều mặt, sâu vỡ hết thânrăng) hay hình ảnh tổn thương sâu cộng với sự rạn nứt, gẫy vỡ ở men ngà tíchluỹ dần theo năm tháng

1.4.1.2 Thực trạng bệnh sâu răng ở người cao tuổi

Để đánh giá tình hình sâu răng, các nghiên cứu thường xem xét tỷ lệngười mắc và chỉ số SMT trung bình mỗi người trong cộng đồng Sâu răngtrước đây thường được cho là bệnh của trẻ em và của tuổi vị thành niên(Dunning 1979) Kết quả là nhóm đích trong chương trình phòng sâu răng ởcác quốc gia đã được triển khai tại các trường tiểu học Tuy nhiên, ở nhiềunước chưa phát triển với mức độ mắc sâu răng rất thấp, những thông tin vềbệnh ở trẻ em là chưa đủ để mô tả về tình trạng sâu răng của cộng đồng (LuanW.M và Cs 1989) Một số tác giả khác cho rằng tình trạng sâu theo tuổi(Gategarrd và Fegerskov 1983; Manji và Cs 1988) thường do sâu răng tíchluỹ và điều đó giải thích sự mất răng của người trưởng thành và người caotuổi Các nghiên cứu về sâu răng trong những thập niên gần đây cho thấy: đếngiữa những năm 80 ở các nước Bắc Âu, Mỹ và các nước công nghiệp khácbệnh sâu răng trẻ em đã giảm rõ rệt [23] Nhưng bệnh sâu răng ở người caotuổi vẫn đang trên đà tiến triển ở khắp các châu lục với những mức độ khácnhau Từ thập kỷ 70 cho đến nay, nhiều công trình đánh giá sâu răng ở ngườicao tuổi đã được tiến hành với mục đích xác định tình trạng và nhu cầu, làm

cơ sở cho chương trình chăm sóc SKRM người cao tuổi Kết quả SMT củamột số quốc gia được ghi nhận theo bảng 1.8

Bảng 1.8: Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT của một số quốc gia

Tác giả, Quốc gia Năm Tuổi N

T số còn răng

Tỷ

Châu Âu

Ambjorsen và 1986 ≥65 430 159 48,0 1,1 14,1 8,8 24,0

Trang 24

KeeWatin Canada 1993 ≥60 54 35 66,0 2,8 23,0 0,1 25,9Douglass C.W và Cs,

Trang 25

-Bảng 1.9: Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT qua một số nghiên cứu

tại Việt Nam

Tác giả, Quốc gia Năm Tuổi n Tỷ lệ% Sâu Mất Trám SMT

Bảng 1.10: Tình hình sâu chân răng ở một số quốc gia

Ở Châu Á, năm 1989 Luan và Cs điều tra 338 người 66 tuổi tại TrungQuốc thấy ở tuổi 66-69 chỉ số SMT là 16,6 và ở tuổi 70 trở lên là 21,4 [24].Theo điều tra cơ bản toàn quốc lần thứ 2 tại Trung Quốc (2002), Wang H.Y

Trang 26

và Cs cho thấy: ở lứa tuổi 65-74 chỉ số SMT theo răng là 12,4 [25] Trong đó,

nữ cao hơn nam Công trình điều tra về sâu răng ở Ấn Độ năm 1994, Thomas

S và Cs cho thấy: ở 3 nhóm tuổi 60-64; 65-74 và 75 chỉ số SMT là 11,8;13,5 và 20,3 [26] Barrow S.Y và Cs (2003) thấy: đối với người Mỹ gốc Phitại New York ở tuổi từ 55 - 64 chỉ số SMT theo răng trung bình là 15.9 [27].Một số công trình nghiên cứu ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương nhưĐan Mạch, Úc, Niu Di Lân, Canada, Na Uy như kết quả bảng 1.8 cho thấy:chỉ số SMT của người cao tuổi là rất cao ở mức từ 24,0 trở lên Tại Việt Nam,một nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ ra tình trạng sâu răng ởnhóm người ≥60 tại các nhà dưỡng lão có tỷ lệ mắc tới 96,8% với số răng sâuchưa được trám là 7,9 và chỉ số SMT là 18,1 [28]

Năm 1986, Banting tổng kết 12 công trình nghiên cứu về sâu chân răng

ở nhiều nước cho biết: sâu chân răng xuất hiện nhiều ở nhóm người già với tỷ

lệ mắc khoảng 20-40% Vị trí lỗ sâu thường gặp là ở mặt trong và mặt bêncủa răng hàm trên, mặt ngoài và mặt bên của răng hàm dưới Một số các côngtrình ở Anh (1996), Mỹ (1990), Niu Di Lân (1992), Canada (1993) nghiêncứu về vấn đề này đã cho thấy tỷ lệ mắc khá cao như bảng 1.10 Tuy nhiên,Luan và Cs (1989), Lo E.C (1994) điều tra tại Trung Quốc lại cho một tỷ lệthấp hơn Đặc biệt, Thomas S và Cs khám 300 người cao tuổi Ấn Độ(1994)thấy 11.8% người có mặt chân răng bị hở nhưng không có sâu, còn tạiViệt Nam, Nguyễn Võ Duyên Thơ (1992) khám 318 đối tượng cho biết tỷ lệ

và trung bình có sâu chân răng mỗi người là 5.0% và 0.14

Từ kết quả nghiên cứu về tình trạng răng SMT ở người cao tuổi tạinhiều quốc gia thuộc các châu lục khác nhau chúng ta có thể thấy: tình trạng

có răng sâu, mất răng do sâu và nhất là răng sâu chưa được trám có trị số rấtcao Ở nhiều cộng đồng, chỉ số SMT chiếm từ 3/4 trở lên trong tổng số răngcủa mỗi người Đây là con số vượt xa so với chỉ số SMT ở các tuổi 12, 15,34-45 nếu so sánh với một số điều tra tại Việt Nam [29], [30], [31]

Trang 27

1.4.1.3 Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng ở người cao tuổi

Tỉ lệ sâu răng ở NCT của các nghiên cứu tại Việt Nam như Nguyễn VõDuyên Thơ, Đức Hoàng Thanh Trúc, Phan Vinh Nguyên, Mai HoàngKhanh… chiếm tỉ lệ cao Trong đó, tỉ lệ sâu chân răng cũng khá cao trong dân

số NCT Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa sâu chân răng vàsức khỏe toàn thân: sâu chân răng là yếu tố nguy cơ đối với nhiều bệnh toànthân, đặc biệt là bệnh tim mạch [29] Chính vì vậy, việc đánh giá nhu cầu điềutrị bệnh sâu răng sẽ là cơ sở cho các chiến lược chăm sóc sức khỏe răngmiệng cho các nhân và cộng đồng NCT

Nhu cầu trám 1 mặt ≥ 2 mặt, nhu cầu điều trị tủy và nhổ răng ở NCTđến khám và điều trị tại bệnh viện lần lượt là 2,05, 0,38, 0,69 và 2,08 Nghiêncứu của Phan Vinh Nguyên (2006) ghi nhận nhu cầu trám 1 mặt ≥ 2 mặt, nhucầu điều trị tủy và nhổ răng là (0,23-0,21), (0,12-0,09), (0,18-0,15) và (2,23-2,48) ở thành thị và nông thôn [10] Theo Mai Hoàng Khanh (2009), nhu cầutrám 1 mặt ≥ 2 mặt, nhu cầu điều trị tủy và nhổ răng là 1,75, 0,28, 0,06 và1,31 [8]

Nhu cầu điều trị sâu răng của nam cao hơn nữ: ở nam nhu cầu trám 1mặt ≥ 2 mặt, điều trị tủy, nhổ răng ở nam lần lượt là 0,30, 0,06, 1,32 cao hơnnhu cầu này ở nữ (0,19, 0,05, 0,96) Điều này có thể do nam giới có thói quenhút thuốc, vệ sinh răng miệng kém hơn nữ và họ ít quan tâm đến sức khỏerăng miệng, chỉ đến bệnh viện khi nào có vấn đề về răng miệng (đau nhức, áp

xe, ê buốt răng, chảy máu lợi, sưng lợi…)

Nghiên cứu của Phan Vinh Nguyên (2006) trên NCT tại TP Cần Thơghi nhận nhu cầu nhổ răng giảm dần theo nhóm tuổi 60-64 (1,72), 65-74(1,33), ≥75 (0,08) [8]

Nghiên cứu của Phạm Văn Việt (2004) trên NCT tại Hà Nội cho thấy

tỷ lệ người cần chữa răng là 46.3%, nhu cầu nhổ răng là 55.9%, nhu cầu điềutrị dự phòng 83.3% [54]

1.4.2 Bệnh quanh răng

Trang 28

1.4.2.1 Một số đặc điểm lâm sàng bệnh quanh răng ở người cao tuổi

Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh quanh răng gặp phổ biến ở mọi quốcgia và hay gặp nhất là viêm lợi và viêm quanh răng Biểu hiện chỉ viêm ở lợiliên quan tới mảng bám (có hoặc không có yếu tố tại chỗ) xuất hiện chỉ sau 07ngày, điều trị kịp thời dễ phục hồi Bệnh lợi ngoài lý do mảng bám còn liênquan bởi các yếu tố khác (do virus, nấm, bệnh niêm mạc, dị ứng, bệnh toànthân khác…) Tiến triển của lợi viêm có thể tồn tại trong một thời gian dài,nhưng nhiều trường hợp sẽ tiến tới viêm quanh răng do vi khuẩn độc lựcmạnh hoặc có phản ứng bất thường của túc chủ

Viêm lợi có nhiều hình thái khác nhau Tổn thương nhẹ: lợi phù nề, bờviền tròn, tấy đỏ khu trú, đau và chảy máu ít Nặng hơn là gai lợi hoại tử cócác mảng mầu xám, chảy máu tự phát, đau nhiều, mùi hôi Các dạng viêm lợiđiển hình ở người cao tuổi là: viêm lợi tróc màng mạn tính (ở người mãnkinh) Quá sản phối hợp với phì đại do viêm làm gai lợi to, lan rộng tạo ranhững túi giả (do dùng thuốc) Lợi quá sản, cứng chắc, màu nhạt tái, khôngđau, không viêm (bệnh máu)…

Biểu hiện viêm quanh răng có thể mạn tính, thể tiến triển và viêmquanh răng như là một biểu hiện của bệnh toàn thân Ở người cao tuổi, bệnhthường mạn tính hoặc bán cấp, tiến triển từ chậm đến trung bình, từng đợt,nhưng có giai đoạn tiến triển nhanh (gặp ở người sức khoẻ yếu, có bệnh toànthân phối hợp) Do biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhẹ hoặc có biến chứngnhưng không rầm rộ (đáp ứng miễn dịch suy giảm) nên bệnh nhân chỉ đếnkhám khi nặng với biểu hiện của vùng quanh cuống răng bị viêm, đau khirăng bị va chạm Hiện tượng này thường gặp khi tiêu xương ổ răng làm cho tỷ

lệ thân răng lâm sàng lớn hơn phần chân răng còn trong xương, lực đòn bẩygây sang chấn khi ăn nhai, phá huỷ dây chằng quanh chân răng, tiêu huỷxương ổ răng, làm cho răng lung lay Tiên lượng bệnh quanh răng ở ngườicao tuổi thường nặng bởi nhiều vùng lục phân có túi lợi và điều trị cho kết

Trang 29

quả chậm, phục hồi kém Do các cấu trúc quanh răng bị phá huỷ, xương ổrăng tiêu nên dấu hiệu lâm sàng có ý nghĩa nhất của viêm quanh răng ngườicao tuổi là răng lung lay, răng di lệch, răng rụng Thêm vào đó là dấu hiệulợi co do bị mất bám dính vào lớp xương vùng cổ răng, chân răng bị bộc

lộ ít hay nhiều

Theo Điều tra sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia ở Hoa Kỳ (2004), tỉ lệngười trưởng thành mất bám dính ở bề mặt chân răng gia tăng theo tuổi Vídụ: tỉ lệ người có ít nhất một răng mất bám dính tối thiểu 4mm là 3% (từ 18-

24 tuổi), 12% (từ 25-34 tuổi), 22% (từ 35-44 tuổi), 55% (từ 65-74 tuổi) và65% (≥75 tuổi) Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tỉ lệ viêm nha chucao ở người cao tuổi liên quan đến bệnh toàn thân như tim mạch, tiểuđường, bệnh mạch máu não, bệnh hô hấp (bệnh phổi tắt nghẽn mãn tính,viêm phổi) [32]

Nhận định về đặc điểm bệnh quanh răng ở người cao tuổi, Galan D(1993) cùng các cộng sự cho rằng: viêm quanh răng ở người cao tuổi hìnhnhư đã ít quan trọng hơn và mặc dù tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn cao hơn người trẻ,nhưng đang có chiều hướng giảm dần do việc chăm sóc răng miệng ngàycàng được cải thiện Bệnh quanh răng người cao tuổi là biểu hiện của sự phốihợp giữa những hư hại tích luỹ và suy thoái sinh lý ở vùng quanh răng Đặcbiệt là có đóng góp của sự suy giảm ở hệ thống miễn dịch [33]

1.4.2.2.Thực trạng bệnh quanh răng ở người cao tuổi

Nhiều công trình nghiên cứu về bệnh mô quanh răng ở người cao tuổitheo chỉ số nhu cầu điều trị nha chu cộng đồng (CPITN) Chỉ số này dựa trên

cơ sở có hay không có túi lợi, cao răng và chảy máu lợi khi khám đã cho thấytính chất phổ biến, tỷ lệ mắc cao và mức độ nặng nề của bệnh Tuy nhiên,theo một số tác giả: khi đánh giá mô quanh răng người cao tuổi điều cần thiết

là phải xác định tình trạng mất bám dính hay hậu quả của các tổn thương tích

Trang 30

luỹ theo thời gian ở vùng quanh răng Từ 1998, WHO đã đưa ra cách đánh giáthống nhất về mức độ mất bám dính Cùng với CPITN, tình trạng mất bámdính được coi là hai tiêu chí để đánh giá tình trạng quanh răng người cao tuổi[34], [35].

Bảng 1.11: Tình hình nghiên cứu bệnh quanh răng ở một số quốc gia

Tác giả, Quốc gia Năm Tuổi N

Túinông

%

Túisâu

%

TBcaorăng

TBtúilợi

TBvùngloạiBergman J.D và Cs,

0,5

1 4,29Trần Văn Trường, Lâm

Trang 31

Năm 1990, Beck J.D và Cs khám 690 người còn răng tuổi≥65 sống ởNam Carolina Mỹ thấy người da đen trung bình có 78% vị trí mất bám dínhvới số trung bình khoảng 4mm, số tương ứng ở người da trắng là 65% và3.1mm [38] Hunt R.J, Levy S.M (1990), khám 262 người còn răng tuổi≥70 ởIowa Mỹ thấy mất bám dính trung bình là 2.1mm [39] Baelum V và Cs(1987) khám 544 người Bắc Kinh Trung Quốc tuổi 60-80 [40] thấy hầu nhưtất cả các mặt của các răng còn lại của tất cả các nhóm tuổi đều mất bámdính≥2mm Khoảng 10-30% đối tượng có mất bám dính≥7mm (tuỳ theo tuổi

và vùng) ở hơn 30% mặt của các răng còn lại Tác giả cho biết có ít hơn 15%các mặt răng còn lại ở mọi lứa tuổi có túi lợi≥ 4mm và hiếm thấy mức≥7mm

Ở độ tuổi≥70 tỷ lệ nam thành thị có 1 hay nhiều răng lung lay là 60% và tăng lênđến 90% ở nữ nông thôn Ở tuổi 60-64, trung bình 13% nam nông thôn có biểuhiện răng lung lay

Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Cát, Renneberg T và Cs (1992) khám 181người Việt Nam từ 44-64 tuổi không thấy người nào có mô quanh răng lànhmạnh [41] Nguyễn Võ Duyên Thơ (1992) khám 318 người tuổi  60 tại thànhphố Hồ Chí Minh thấy tỷ lệ CPITN0 chỉ có 6.1%, có CPITN3 và CPITN4

là 65% [28] Thiều Mỹ Châu (1993) khám 394 người tuổi  60 tại thànhphố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ người có CPITN0 chỉ là 1,58%, người cóCPITN3 và CPITN4 là 85% [42] Một số kết quả nghiên cứu khác đượctrình bày trong bảng 1.11

Như vậy, đặc điểm nổi bật của bệnh mô quanh răng người cao tuổi quanhiều nghiên cứu là: tỷ lệ mắc rất cao, trong đó tình trạng viêm ở vùng quanhrăng nhiều hơn tình trạng viêm ở lợi mất bám dính là một đặc điểm xuất hiệnvới tỷ lệ rất cao và khác nhau về mức độ và tính phổ biến theo khu vực sống,chủng tộc

1.4.2.3 Nhu cầu điều trị viêm quanh răng ở người cao tuổi

Trang 32

Bệnh viêm quanh răng bao gồm viêm lợi và viêm quanh răng, đã đượcsách Guiness toàn cầu năm 2001 ghi nhận là bệnh phổ biến nhất của loài người.Bệnh viêm quanh răng dẫn đến sự phá hủy các cấu trúc nâng đỡ răng và xương ổrăng và là nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người trưởng thành [9] Do đóviệc đánh giá nhu cầu điều trị viêm quanh răng cho NCT là rất cần thiết.

Mai Hoàng Khanh (2009) cho kết quả về nhu cầu điều trị bệnh viêmquanh răng ở NCT tại TP Cần Thơ: hướng dẫn vệ sinh răng miệng 96,4%, cạovôi răng kết hợp hướng dẫn vệ sinh răng miệng 93,2%, điều trị viêm quanh răngchuyên sâu kết hợp cạo vôi răng và hướng dẫn vệ sinh răng miệng 5,6% [8]

Nghiên cứu của Phan Vinh Nguyên (2006) tại TP Huế ghi nhận nhu cầuđiều trị viêm quanh răng ở thành thị: hướng dẫn vệ sinh răng miệng 94.3%, cạovôi răng kết hợp hướng dẫn vệ sinh răng miệng 93.7%, điều trị viêm quanh răngchuyên sâu kết hợp cạo vôi răng và hướng dẫn vệ sinh răng miệng 28.7%

Nghiên cứu của Phạm Văn Việt (2004) cho thấy tỷ lệ người cần hướngdẫn vệ sinh răng miệng là 96.1%, cần lấy cao răng và hướng dẫn vệ sinh răngmiệng là 95.3%, nhu cầu điều trị phức hợp ở mô quanh răng là 0.6% [54]

Kết luận trong nghiên cứu của Nguyen CT và cộng sự (2010) ở các tỉnhthành phía Nam Việt Nam: “Chỉ định nhổ răng là chỉ định phổ biến trong điều trịrăng sâu và nhổ răng là điều trị chính trong chăm sóc sức khỏe răng miệng ởViệt Nam” [40] Đây là thông tin cần thiết để lãnh đạo bệnh viện đưa ra chiếnlược giáo dục, tuyên truyền, vận động NCT nên khám răng định kỳ, điều trị cácbệnh răng miệng sớm nhằm nâng cao sức khỏe răng miệng cho NCT để họ cóchất lượng cuộc sống tốt hơn

1.4.3 Tình trạng mất răng và nhu cầu phục hình ở người cao tuổi

1.4.3.1 Một số đặc điểm mất răng ở người cao tuổi

Mất răng là tình trạng phổ biến ở người cao tuổi Tuỳ số lượng và vị trícác răng mất mà gây ảnh hưởng ở nhiều phương diện với các mức độ khác

Trang 33

nhau: các răng còn lại bị xô lệch, chồi lên, thòng xuống, di lệch Đường congsinh lý Spee của khớp cắn bị biến dạng Kích thước chiều cao và chiều rộngcủa sống hàm giảm, trường hợp nặng sống hàm hàm trên gần như phẳng vớivòm hầu, sống hàm dưới ở ngang bằng với sàn miệng Tầng mặt dưới bị hạthấp, tương quan giữa hai hàm thay đổi, đôi khi ngược nhau làm rối loạn vềtương quan và các hoạt động chức năng của khớp cắn Do mất răng, các cơnhai, cơ bám da mặt thoái hoá, mất trương lực dẫn đến những thay đổi ở vùngmặt, miệng: má xệ xuống, hóp lại, rãnh múi - má rõ nét hơn, mặt mất cânxứng hai bên, môi xập xuống, bĩu ra, khoé môi cụp xuống dẫn đến những ảnhhưởng thẩm mỹ của khuôn mặt Chức năng tiêu hoá ảnh hưởng do nhai giảm,tác dụng nghiền nhỏ thức ăn bị hạn chế, nói không rõ tiếng và đôi khi hô hấpcũng bị rối loạn [43].

Nhu cầu của người cao tuổi về điều trị phục hình răng là rất cao vìrăng, hàm giả có một ý nghĩa rất thiết thực, nhằm khôi phục lại các chức năng

và có ý nghĩa phòng bệnh, duy trì sự bền vững tương đối của các răng còn lạivốn không hoàn toàn khoẻ mạnh, hạn chế tối đa sự mất thêm răng Có răng,hàm giả sẽ giúp người cao tuổi hoà nhập vào cộng đồng tốt hơn, tránh tâm lýmặc cảm già nua, bệnh tật hay tàn phế

Trang 34

1.4.3.2 Thực trạng mất răng ở người cao tuổi

Bảng 1.12: Tình hình mất răng ở người cao tuổi tại một số quốc gia

Số trung bình

Mất toàn bộ Christensen J Aarhus Denmark 1977 65-74 1006 19,2 66,0

Luan W.M và Cs Beijing Chinese 1989 60 544 13,5 11,0 Bergman J.D và Cs Melbourne Australian 1990 - 303 18,4 64,3 Chun Z.H và Cs Shanghai China 1990 60-64 576 9,2 9,0 Douglass C.W và

Cautley A.J và Cs Mosgiel New Zealand 1992 75 815 18,2 37,6 Miyazaki H và Cs Kitiakyushu Japan 1992 65-74 1908 18,6 27,0

Steel J.C và Cs Richmondshire

Tình hình mất răng nói chung cũng như mất toàn bộ răng nói riêngkhác nhau theo dân tộc, quốc gia, vùng lãnh thổ, châu lục cũng như ngaytrong một quốc gia và cũng tuỳ thuộc vào tình hình tuổi thọ của dân số Nhìnchung, số liệu điều tra dịch tễ học về mất răng toàn bộ cũng như số răng mấttrung bình mỗi người thuộc châu Á là thấp hơn so với các nước thuộc châu

Âu, châu Úc, châu Đại Dương và Mỹ Các nghiên cứu cũng cho thấy: tìnhtrạng mất răng tăng dần theo chiều tăng của tuổi và có liên quan tới một số

Trang 35

yếu tố nhân khẩu-xã hội học…Hiện nay mất răng vẫn còn là vấn đề răngmiệng của người cao tuổi Mặc dù trong những thập niên gần đây, người tathấy số răng tự nhiên còn lại có tăng lên, số người mất răng toàn bộ có giảm.Theo kết quả điều tra quốc gia (1989 - 1990) so với điều tra 1985-1986 ở Mỹcho thấy: số người mất răng toàn bộ ở độ tuổi≥70 đã giảm từ 46,3% còn37,6% Số người còn 20 răng trở lên tăng từ 20,3% lên 28,0% Nếu so sánhvới tình hình mất răng toàn bộ ở Mỹ 1962 các tác giả thấy: tỷ lệ người có mấtrăng toàn bộ ở nam năm 1962 là 65,6% nữ là 55,7% tới 1990 đã giảm xuốngnhiều với nam còn 38,0% và nữ là 37,0% Cũng tại Mỹ, Mandel I.D (1996)cho biết số mất răng toàn bộ là 38,1% ở nhóm tuổi 55-64 trong vòng chưađầy 30 năm đã giảm còn 15,6% Theo Thoma Hassell: cuối thập niên 50gần 70% người Mỹ trên 75 tuổi mất răng toàn bộ, đến năm 1971 tỷ lệ ấyxuống còn 60% và đến năm 1983 chỉ còn 50% [44] Bảng 1.12 cho biếttình hình mất răng toàn bộ và số trung bình răng mất mỗi người ở một sốquốc gia trên thế giới

1.4.3.3 Nhu cầu phục hình ở người cao tuổi

Sức khỏe răng miệng là một phần sức khỏe toàn thân và liên quan đếnchất lượng cuộc sống Mất răng là một phần của vấn đề răng miệng Mất răngđem lại các vấn đề thẫm mỹ, chức năng và giao tiếp xã hội [35] Theo nghiêncứu trên người bệnh cao tuổi tại BV RHM TƯ TP.HCM, mất răng chiếm tỉ lệcao 93,7% Mất răng không mang hàm giả hàm trên 65,7%, hàm dưới 71,0%

Vì vậy, việc xác định nhu cầu phục hình răng cho NCT là hết sức cần thiết

Nhìn chung, NCT ở TP Cần Thơ, TP.HCM, TP Huế đều có tình trạngchung là mất răng nhưng không mang phục hình có thể do điều kiện kinh tế

eo hẹp, kiến thức chăm sóc răng miệng còn hạn chế Đây cũng là điểm đặcbiệt ở Việt Nam

Theo Jung SH (2008), tình trạng mất răng toàn bộ hai hàm ở người cao

Trang 36

tuổi tại Hàn Quốc là 22,5%, mất răng toàn bộ hàm trên 14,7%, mất răng toàn

bộ hàm dưới 3,7% Nhu cầu điều trị phục hình răng: không cần thiết 55,8%,điều trị một hàm 23,5%, điều trị cả hai hàm 20,7% [45]

Theo Đức Hoàng Thanh Trúc (2004), nghiên cứu trên 321 người caotuổi tại TP.HCM, nhu cầu làm phục hình bán hàm ở nhóm tuổi 60-74 có tỉ lệ

là 68,1%, nhóm ≥75 tuổi có tỉ lệ là 64,05% Nhu cầu làm phục hình toàn hàm

ở nhóm tuổi 60-74 chiếm tỉ lệ 14,22%, nhóm ≥75 tuổi chiếm tỉ lệ 10,34%

Nguyễn Võ Duyên Thơ (1992) điều tra trên 318 người cao tuổi tạiTP.HCM, tỉ lệ người có nhu cầu hàm giả bán phần là 38,1% (hàm trên) và40,7% (hàm dưới) Tỉ lệ người có nhu cầu làm răng giả toàn hàm ở hàm trên

là 40,7% và tỉ lệ này ở hàm dưới là 30,4%

Phan Vinh Nguyên (2006) nghiên cứu trên 400 người cao tuổi ở TPHuế, tình trạng không mang hàm giả ở hàm trên chiếm tỉ lệ 83,5%-100%, tỉ lệnày ở hàm dưới 93,1%-100% Tỉ lệ người mang hàm toàn bộ ở hàm trên là1,3%-3,4%, tỉ lệ này ở hàm dưới là 1,6%-3,4% Tỉ lệ người mang hàm bánphần ở hàm trên là 3,2%-8,9%, tỉ lệ này ở hàm dưới là 2,4%-3,8%

Phạm Văn Việt (2004) nghiên cứu trên người cao tuổi thành phố HàNội cho thấy tỷ lệ người mất răng có nhu cầu răng giả là 83.5% [54]

Trang 37

1.4.4 Tổn thương niêm mạc miệng ở người cao tuổi

1.4.4.1 Một số đặc điểm tổn thương niêm mạc miệng ở người cao tuổi

Các tổn thương niêm mạc miệng thường gặp ở người cao tuổi có thể kểđến là viêm miệng do hàm giả, tổn thương tiền ung thư miệng, chốc mép,lichen phẳng, bạch sản, viêm miệng do nấm Candida…

Nguyên nhân của tổn thương này có thể do nhiễm trùng (vi khuẩn, virus,

vi nấm), do chấn thương hay kích thích tại chỗ (sừng hóa do chấn thương, u sợi

do kích thích, cảm giác nóng bỏng), do bệnh toàn thân (bệnh chuyển hóa haymiễn dịch), do các thói quen không tốt như hút thuốc, uống rượu [46]

1.4.4.2 Thực trạng tổn thương niêm mạc miệng ở người cao tuổi

Tổn thương tiền ung thư và ung thư miệng ở xoang miệng và hầu họng

có tần suất bệnh và tỉ lệ từ vong cao hơn bất kỳ loại ung thư nào khác, với tỉ

lệ sống sót trên 5 năm khoảng 53% Người có nguy cơ cao nhất đối với tổnthương tiền ung thư và ung thư miệng gặp ở nhóm tuổi từ 60 trở lên Yếu tốnguy cơ chính là hút thuốc, uống rượu Yếu tố kinh tế-xã hội cũng ảnh hưởngđáng kể đến sự sống còn của bệnh ung thư ở người cao tuổi Những tổnthương tiền ung thư như bạch sản, lichen phẳng thường gặp ở người cao tuổicũng liên quan đến tình trạng kinh tế-xã hội thấp [47]

Ung thư miệng thường gặp ở các nước đang phát triển hơn là các nướcphát triển Tỉ lệ bạch sản ở người cao tuổi là 1%-4,8%, tỉ lệ lichen phẳng là1,1%-6,6% Bạch sản thường gặp ở đàn ông trong khi lichen phẳng thườnggặp ở phụ nữ

Viêm miệng do hàm giả là tổn thương niêm mạc miệng thường gặp ởngười cao tuổi Tỉ lệ này chiếm 11%-67% ở những người mang phục hìnhtoàn phần Yếu tố gây viêm miệng do hàm giả có thể kể đến là: do nấmCandida albicans, do dị ứng với vật liệu làm hàm giả, do bệnh toàn thân Tỉ lệ

Trang 38

viêm miệng liên quan chặt chẽ với vệ sinh hàm giả, số lượng mảng bám vikhuẩn ở hàm giả Yếu tố nguy cơ khác của viêm miệng do hàm giả là manghàm ban đêm, quên ngâm hàm giả vào ban đêm, sử dụng hàm giả không đúng

và không thích hợp, hút thuốc, uống rượu Trình độ học vấn càng thấp, tỉ lệviêm miệng càng cao; càng ít khám răng miệng, tổn thương miệng do hàm giảcàng cao Ngoài viêm miệng do hàm giả, các sang thương khác có thể kể đến

là loét do tăng sản và chấn thương hàm giả; tỉ lệ này ở người mang hàm giảlâu năm là 4%-26% Tăng sản do hàm giả thường gặp ở hàm giả không khítsát hay kém lưu giữ Cả hai sang thương này thường gặp ở người mang hàmgiả toàn phần hơn là hàm tháo lắp

Khoảng 50% người mang hàm giả toàn phần hàm trên bị viêm miệng donấm Candida Ở bệnh nhân AIDS, tỉ lệ này cao ở vùng hầu họng Ở trongmiệng, nấm Candida albicans hiện diện ở tế bào biểu mô của niêm mạc má,lưỡi, bề mặt răng và hàm giả [48]

Theo tổ chức y tế thế giới (2005) tổn thương niêm mạc miệng ở ngườicao tuổi như sau: tỉ lệ bạch sản là 1%-4,8%, tỉ lệ lichen phẳng là 1,1%-6,6%.Viêm miệng do hàm giả chiếm 11%-67% ở những người mang phục hìnhtoàn hàm Loét do tăng sản và chấn thương hàm giả chiếm tỉ lệ 4%-26%.Kết quả nghiên cứu của Mai Hoàng Khanh (2009) cho thấy tỉ lệ tổnthương niêm mạc miệng ở người cao tuổi tại TP Cần Thơ rất thấp chỉ có4% Trong đó, nhiễm nấm Candida 0,3%, áp xe do răng 2,3% và loét là tổnthương hay gặp nhất chiếm 3,4% Tỉ lệ tổn thương niêm mạc miệng ở nôngthôn là 5%, thành thị là 3,15%; ở nam 5,1%, ở nữ là 3,3%

Nguyễn Võ Duyên Thơ (1992) điều tra thăm dò trên 318 người cao tuổi

ở TP HCM cho thấy tỉ lệ tổn thương niêm mạc miệng là 6,6% [28]

Trang 39

Ngô Đồng Khanh (2000) khảo sát dịch tể và phân tích các yếu tố nguy

cơ về tổn thương tiền ung thư và ung thư miệng ở miền Nam Việt Nam trên

9000 người từ 15-75 tuổi; trong đó nhóm tuổi 65-75 có 657 người, chiếm tỉ lệ7,32% có tỉ lệ bạch sản 0,61% (nam 0,32%, nữ 0,29%), lichen phẳng 0,05%(nam 0,03%, nữ 0,02%), tổn thương khẩu cái ở người hút thuốc chỉ có ở nam0,17%, xơ hóa dưới niêm mạc chỉ ghi nhận ở nữ 0,01%, tổn thương niêm mạc

ở người ăn trầu chỉ thấy ở nữ là 0,43% [49]

1.4.5 Bệnh lý cơ nhai và khớp thái dương hàm ở người cao tuổi

1.4.5.1 Một số đặc điểm bệnh lý cơ nhai và khớp thái dương hàm ở người cao tuổi

Theo Võ Đắc Tuyến (1991), đau và loạn năng bộ máy nhau là một hộichứng khá thường gặp trong các bệnh răng miệng, đứng thứ ba sau bệnh sâurăng và bệnh nha chu Đây là một hội chứng đa dạng và phức tạp từ bệnh căn-sinh bệnh học đến chẩn đoán và điều trị, gây rối loạn ở nhiều cơ quan cấutrúc, đặc biệt là ở hệ cơ nhai và khớp thái dương hàm với các triệu chứng nổibật như đau co thắt cơ và loạn năng khớp Bệnh lý ở cơ nhai và khớp tháidương hàm ít gặp ở người cao tuổi hơn là nhóm 20-40 tuổi Các biến đổi ởcơ-khớp thái dương hàm ở người cao tuổi cũng khác ở người trẻ [50]

Các cơ cũng thoái hóa đi khi đến tuổi già Mô sợi giảm kích thước cũngnhư số lượng và được thay thế bằng mô mỡ hay mô liên kết sợi vì vậy các cơnhai cũng bị ảnh hưởng Lực của các cơ này ngày càng yếu đi do sự suy yếucủa bộ răng hoặc do chế độ ăn mềm liên tục hoặc cả hai

Các loạn năng khớp thái dương hàm thường liên quan đến nhữngngười mất răng và mang hàm giả, nhất là các phục hình tháo lắp Các xáotrộn về cắn khớp tạo ra các biến đổi ở khớp thái dương hàm, tạo ra tình trạngthoái hóa viêm xương khớp là rất phổ biến đưa đến tình trạng nứt mặt khớp

Trang 40

và tạo lỗ ở đĩa khớp Trên lâm sàng thường ghi nhận được các trình trạngđau, có tiếng kêu ở khớp hay há ngậm miệng giới hạn [51].

1.4.5.2 Thực trạng bệnh lý cơ nhai và khớp thái dương hàm ở người cao tuổi

Kanter R.J.A.M và cộng sự (1992), nghiên cứu xác định nhu cầu và yêucầu điều trị rối loạn khớp thái dương hàm ở người cao tuổi Kết quả cho thấy,

tỉ lệ có triệu chứng khớp thái dương hàm ở dân số người cao tuổi như sau:78,5% không có triệu chứng, 16,6% có triệu chứng vừa, 4,9% có triệu chứngnghiêm trọng và thường xuyên Theo khám lâm sàng, tỉ lệ này tương ứng theothứ tự là 55,5%, 41,6%, 2,8% [52]

Kanter R.J.A.M và cộng sự (1992), nghiên cứu trên 6577 người cao tuổi

ở Hà Lan, kết quả cho thấy 21,5% người có triệu chứng chủ quan, gần 50%người có triệu chứng khách quan, tỉ lệ nữ nhiều hơn nam [53]

Theo Mai Hoàng Khanh (2009), tỉ lệ người cao tuổi ở TP Cần Thơ cótriệu chứng chủ quan ở khớp thái dương hàm là 10,3% Trong đó, tỉ lệ phầntrăm người cao tuổi có triệu chứng chủ quan khớp thái dương hàm ở cácnhóm tuổi 60-64, 65-74, ≥75 lần lượt là 7,4%, 12%, 11,1% Tỉ lệ phần trămngười có triệu chứng chủ quan khớp thái dương hàm ở nhóm tuổi 65-74 caohơn hai nhóm tuổi còn lại Tỉ lệ người cao tuổi có triệu chứng khách quankhớp thái dương hàm là 19,4% Tỉ lệ này ở nam là 18,1% và ở nữ là 20,3% Ởnhóm tuổi 65-74 tỉ lệ người cao tuổi có triệu chứng khách quan ở khớp tháidương hàm là 12%, thấp hơn nhiều so với nhóm tuổi 60-64 là 21,1%, nhómtuổi ≥75 là 24,8%

Ngày đăng: 29/07/2019, 17:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Ive J.C (1980), Age related changes in the periodontium of pigtail monkeys, J. Periodontal Res, 15(4), 420-428 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Periodontal Res
Tác giả: Ive J.C
Năm: 1980
15. Lantelme R.L (1976), Dentin Formation in Periodontally Diseased teeth, J. Dent Res, 55(1), 55 - 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Dent Res
Tác giả: Lantelme R.L
Năm: 1976
16. Tona E.A (1973), Histological age changes associated with mouse parodontal tissues, J. Gerondontol, 28(1), 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Gerondontol
Tác giả: Tona E.A
Năm: 1973
17. Burzynski N.J (1967), Relationship Between Age and Palatal Tissues and gingival Tissue in the Guinea Pig, J. Dent Res, 46(3), 539-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Dent Res
Tác giả: Burzynski N.J
Năm: 1967
18. Cho M.I., Garant P.R. (1984),Formation of multinucleated fibroblast in the periodontal ligaments of old mice, Anal Res, 208(2), 185-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anal Res
Tác giả: Cho M.I., Garant P.R
Năm: 1984
19. Manson J.D. (1976), Bone Morphology and bone loss in periodontal disease, J. Clin Periodontol, 3(1), 14-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Clin Periodontol
Tác giả: Manson J.D
Năm: 1976
20. Technical manual. (1999), Seal & Protec, Dentsply Detrey GmbH Clinical Research, 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dentsply Detrey GmbHClinical Research
Tác giả: Technical manual
Năm: 1999
21. Trần Văn Trường (1994), Viêm nhiễm miệng hàm mặt, Bách khoa thư bệnh học, Nxb Y học, Hà Nội, tập II, 285-293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm nhiễm miệng hàm mặt
Tác giả: Trần Văn Trường
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1994
22. Corbet-E.F., Holmgren-C.J., Phillipin-H.P (1994), Oral mucosal lesions in 65-74-year-old Hong Kong chinese, Community Dent Oral Epidemiol, 22, 392-395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Community Dent Oral Epidemiol
Tác giả: Corbet-E.F., Holmgren-C.J., Phillipin-H.P
Năm: 1994
23. Evans C.A.Jr (1984), A National Survey of Dental Public Health Survices in Local Health Departments: a Report of Findings, J. Public Health Dent, 44(3), 112-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. PublicHealth Dent
Tác giả: Evans C.A.Jr
Năm: 1984
24. Luan W.M., Baelum V., Chen X et al (1989), Dental caries in adult and elderly Chinese, J. Dent Res, 68(12), 1771-1776 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Dent Res
Tác giả: Luan W.M., Baelum V., Chen X et al
Năm: 1989
25. Wang H.Y (2002), The second National survey of oral health status of children and adults in China, Int-Dent-J, 52 (4), 283-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int-Dent-J
Tác giả: Wang H.Y
Năm: 2002
27. Barrow S.Y (2003), Dental caries prevalence among a sample of African American adults in New York City, Dent Clin North Am, 47 (1), 57-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dent Clin North Am
Tác giả: Barrow S.Y
Năm: 2003
28. Nguyễn Võ Duyên Thơ (1992), Điều tra tình hình sức khoẻ răng miệng ở người già, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ RHM khoá 86-92, Đại học Y Dược, TP. HCM, Toàn văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình sức khoẻ răng miệng ởngười già
Tác giả: Nguyễn Võ Duyên Thơ
Năm: 1992
30. Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Lê Thanh, PhùngThanh Lý (1990), “Điều tra cơ bản sức khoẻ răng miệng ở các tỉnh phía Bắc’’, Tạp chí Y học Việt Nam, số 10,11, tập 240-241, tr. 7-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điềutra cơ bản sức khoẻ răng miệng ở các tỉnh phía Bắc’’, "Tạp chí Y học ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Lê Thanh, PhùngThanh Lý
Năm: 1990
32. Lamster IB (2004). Oral health care services of older adult: Alooming crisis.American Journal of Public Health, May 2004, vol 94, No 5, 699-701 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Journal of Public Health
Tác giả: Lamster IB
Năm: 2004
33. Timothy T, Wheeler W.P et al (1994), Modeling the Relationship between Clinical, Microbiologic and immunologic parameters and alveolar bone levels in and elderly population, J. periodontol, 65(1), 68-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. periodontol
Tác giả: Timothy T, Wheeler W.P et al
Năm: 1994
34. Hunt R.J, Levy S.M (1990), The prevalence of periodontal attachment loss in an Iowa population aged 70 and older, J. Public Health Dentistry, 50(4), 251-256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Public Health Dentistry
Tác giả: Hunt R.J, Levy S.M
Năm: 1990
35. World health Organization (1997), Oral health surveys Basic methods, 4th edition, Geneva, 1-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral health surveys Basic methods
Tác giả: World health Organization
Năm: 1997
36. Douglass C.W (1993), Oral health status of elderly in New England, Journal of Gerontology Medical Sciences, 48(2), 39-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Gerontology Medical Sciences
Tác giả: Douglass C.W
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w