1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình trạng bọng thấm 5 năm sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc điều trị glôcôm

91 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của phẫu thuật là tạo con đường lưu thông thủy dịch từ tiền phòng tới khoang dưới kết mạc và tạo thành một bọng thấm, từ đó thủy dịch sẽ được hấp thu vào hệ thống mao mạch kết m

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1

Glôcôm là một bệnh gây mù phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam Ở hầu hết các nước, đây là nguyên nhân thứ 2 gây mù loà và cũng là mối đe doạ nguy hiểm đối với sức khoẻ cộng đồng Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra của RAAB (Rapid Assessment of Avoidable Blindness) năm

2007 cho thấy tỷ lệ mù loà hai mắt do glôcôm ở người trên 50 tuổi chiếm khoảng 6,5%, đứng thứ hai sau nguyên nhân gây mù lòa do đục thể thuỷ tinh.

Bệnh có nhiều cơ chế bệnh sinh khác nhau và được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau Trên thế giới cũng như tại Việt nam, phương pháp phẫu thuật cắt bè củng giác mạc vẫn là phương pháp phẫu thuật phổ biến để điều trị glôcôm Mục đích của phẫu thuật là tạo con đường lưu thông thủy dịch từ tiền phòng tới khoang dưới kết mạc và tạo thành một bọng thấm, từ đó thủy dịch sẽ được hấp thu vào hệ thống mao mạch kết mạc Sự hình thành bọng thấm sau phẫu thuật lỗ rò là dấu chuẩn (hallmark) đánh giá sự thành công của cuộc phẫu thuật và là chìa khóa để tạo lập nhãn áp bình ổn

Tuy nhiên, cùng với thời gian bọng thấm có xu hướng bị xơ hóa, không còn tác dụng dẫn lưu thủy dịch dẫn đến mất tác dụng hạ nhãn áp Theo nghiên cứu của Ehrnooth P, tỷ lệ nhãn áp dưới 21mmHg sau 1 năm phẫu thuật là 82%, sau 2 năm là 70%, sau 3 năm là 64%, sau 4 năm là 52%.

Có nhiều phương pháp để đánh giá tình trạng bọng thấm sau phẫu thuật như dựa vào lâm sàng hoặc cận lâm sàng Dựa vào lâm sàng ta chỉ có thể dự đoán được phần nào chức năng của bọng thấm, từ đó gián tiếp đánh giá mức độ điều chỉnh nhãn áp cũng như hiệu quả của phẫu thuật Từ năm 2009, Bệnh viện Mắt Trung ương đã được trang bị các phương tiện chẩn đoán hình

Trang 2

ảnh hiện đại (siêu âm sinh hiển vi, chụp cắt lớp quang học) cho phép ghi nhận

và đo đạc một cách chính xác các cấu trúc hình ảnh bên trong của bọng thấm như: chiều dày thành của bọng, sự phản âm bên trong bọng, các khoang dịch dưới kết mạc, khoang dịch trên củng mạc, chiều dày vạt củng mạc, đường lưu thông thủy dịch dưới vạt củng mạc và lỗ thoát lưu thủy dịch Đây là phương pháp khám không xâm hại có thể giúp các bác sĩ đánh giá rõ ràng tình trạng của bọng thấm cũng như có thể xác định nguyên nhân thất bại của phẫu thuật lỗ dò Trên thực tế lâm sàng tại Bệnh viện Mắt Trung ương cho thấy, theo thời gian tỷ lệ các trường hợp có biến chứng liên quan đến bọng thấm khá cao Bên cạnh tình trạng xơ hóa của bọng thấm là tình trạng bọng tiêu mỏng dọa vỡ với nguy cơ rò, nhiễm trùng bọng thấm dẫn đến nhiễm trùng nội nhãn Nhằm khảo sát thực trạng của bọng thấm sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc một thời gian tương đối dài (5 năm) và tìm hiểu một số yếu tố có liên quan đến tình trạng bọng thấm, chúng tôi

tiến hành đề tài: “Đánh giá tình trạng bọng thấm 5 năm sau phẫu thuật

cắt bè củng giác mạc điều trị glôcôm” với 2 mục tiêu:

1 Đánh giá tình trạng bọng thấm 5 năm sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc điều trị glôcôm.

2 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến tình trạng bọng thấm sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc điều trị glôcôm.

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 QUÁ TRÌNH LIỀN SẸO SAU PHẪU THUẬT CẮT BÈ CỦNG

GIÁC MẠC ĐIỀU TRỊ GLÔCÔM

Mô bị tổn thương do phẫu thuật, chấn thương, các chất hóa học, tia xạ sẽ được hồi phục bởi một chuỗi các phản ứng sinh học nối tiếp nhau Nguyên bào xơ và tế bào nội mô cùng đáp ứng để hàn gắn vết thương, những tế bào

xơ sẵn có tại vùng tổn thương hoặc những tế bào kém biệt hóa hơn ở những vùng lân cận bị hoạt hóa Tế bào nội mô tăng sinh từ những mạch máu lành ở

mô xung quanh Củng mạc không có khả năng tự liền (tức là không có sự liền sẹo nguyên phát) mà phụ thuộc vào sự liền sẹo của tổ chức lân cận Mô xơ mạch phát triển từ mô thượng củng mạc ở miệng vết thương phía ngoài Với chấn thương toàn bộ chiều dầy mô xơ mạch xuất phát từ thượng củng mạc và

từ hắc mạc.

Trong phẫu thuật cắt bè CGM, sự hàn gắn vết thương được chia làm 4 giai đoạn như sau:

Giai đoạn tạo kết dính: ngay sau khi rạch vào mô, các mạch máu co

thắt lại và làm thoát mạch các thành phần bên trong lòng mạch như: các tế bào máu, các protein huyết tương (gồm fibrinogen, fibronectin và plasminogen) Dưới ảnh hưởng của một số yếu tố mô các thành tố này kết dính lại để tạo thành một màng lưới gel của fibrin – fibronectin.

Giai đoạn tăng sinh: các tế bào viêm bao gồm đơn bào, đại thực bào

cùng với các tế bào xơ và các tân mao mạch di chuyển vào trong nút kết dính Khi làm phẫu thuật cắt bè CGM trên thỏ người ta thấy các tế bào xơ di

Trang 4

chuyển vào mô thượng củng mạc, bao cân của cơ trực trên, và vào mô liên kết dưới kết mạc trước ngày thứ 6 Còn ở khỉ thì sự di cư lại xảy ra dọc theo các thành của lỗ rò vùng rìa Khi dùng kỹ thuật đánh dấu có thể quan sát thấy sự

di cư xuất hiện rất sớm vào ngày thứ nhất sau mổ, mạnh nhất vào ngày thứ 5

và trở về bình thường vào ngày thứ 11

Giai đoạn u hạt: khi màng lưới fibrin – fibronectin bị giáng hóa bởi

các tế bào viêm thì các tế bào xơ bắt đầu tổng hợp nên fibronectin, collagen

kẽ, và glycosaminoglycan để tạo nên mô liên kết xơ mạch mới (hay còn gọi là

mô hạt) Trên thỏ mô hạt xuất hiện ở lỗ rò trước ngày thứ 3, nhưng ở khỉ phải mất hơn 10 ngày

Giai đoạn tổng hợp collagen: các tế bào xơ tổng hợp procollagen

chuyển dạng thành tropocollagen Các phân tử tropocollagen kết dính lại tạo thành các sợi collagen non và tan trong nước, sau đó các sợi này hình thành liên kết chéo để tạo nên phân tử collagen trưởng thành Các mạch máu dần trở lại hoạt động và các nguyên bào xơ biến đi để lại một mô sẹo collagen dầy đặc cùng một số tế bào xơ và mạch máu rải rác

Như vậy ta có thể thấy vai trò trung tâm của nguyên bào xơ trong quá trình hàn gắn vết thương sau phẫu thuật cắt bè CGM , một quá trình phức tạp được điều hòa bởi nhiều yếu tố như: các yếu tố tăng trưởng, các phân tử lưới ngoại bào…., trong đó TGF-β2 (yếu tố tăng trưởng chuyển dạng β2) đóng vai trò đặc biệt quan trọng Trong cơ thể, nồng độ TGF-β2 trong thủy dịch rất cao và ở những bệnh nhân glôcôm thì nồng độ TGF-β2 cao hơn hẳn người không mắc bệnh glôcôm.

1.2 BỌNG THẤM VÀ QUÁ TRÌNH LƯU THÔNG THỦY DỊCH SAU

PHẪU THUẬT CẮT BÈ CỦNG GIÁC MẠC.

Trang 5

1.2.1 Sinh lý bọng thấm

Khoảng trống được hình thành dưới kết mạc và bao Tenon do dòng thuỷ dịch chảy qua sẽ tạo thành bọng thấm Từ bọng thấm, thuỷ dịch sẽ được hấp thu vào hệ thống tuần hoàn qua tĩnh mạch nước hoặc thấm qua kết mạc của bọng vào phim nước mắt

Nghiên cứu mô bệnh học của bọng thấm người ta thấy:

- Các bọng thấm hoạt động tốt thì lớp biểu mô bên ngoài của kết mạc

có vẻ bình thường nhưng lớp dưới biểu mô kết mạc trở nên mỏng và có cấu trúc thưa, lỏng lẻo, với các khoảng sáng tương ứng với các vi nang Ở các bọng này thuỷ dịch đã thấm xuyên qua kết mạc để hoà vào phim nước mắt

- Các bọng thấm có thành mỏng thì bề dầy của lớp biểu mô kết mạc và mật độ các tế bào hình đài đều giảm so với các bọng bình thường khác Ngoài

ra, bọng có dấu hiệu giảm mật độ mạch máu khu trú và tăng mật độ mạch máu trong lớp biểu mô ở xung quanh so với kết mạc bình thường Việc sử dụng các chất chống chuyển hóa đã làm cho mật độ các tế bào giảm mạnh hơn kèm theo có giảm các thành phần sợi và mạch máu ở trong lớp biểu mô,

do đó tạo nên bọng thấm với lớp biểu mô mỏng hơn, không đều hơn và có ít

tế bào hình đài hơn.

1.2.2 Quá trình hình thành bọng thấm sau phẫu thuật cắt bè CGM

Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc được giới thiệu lần đầu tiên bởi John Cairn năm 1968 với mục đích tạo một con đường lưu thông thủy dịch từ trong nhãn cầu ra ngoài Trong phẫu thuật này, lỗ rò được tạo ở một phần chiều dày củng mạc và có nắp củng mạc phủ lên Thủy dịch qua lỗ rò và qua mép nắp củng mạc, hoặc thấm trực tiếp qua nắp củng mạc để vào khoang dưới kết mạc.

Trang 6

A Nắp củng mạc B Lỗ cắt bè C Lỗ cắt mống mắt chu biên

Hình 1.1 Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc

Trước kia, người ta cho rằng sau cắt bè CGM thủy dịch được thoát ra theo hai đầu của ống Schlemm Nhưng những nghiên cứu về sau cho thấy các đầu cắt này về sau sẽ bị tắc do xơ, đồng thời cắt được ống Schlemm không đồng nghĩa với việc phẫu thuật thành công

Sau này, các nghiên cứu trên tử thi cho thấy sau khi cắt bè có một dòng thấm đáng kể qua vạt củng mạc Đồng thời trên chụp mạch huỳnh quang fluorescein ở những mắt phẫu thuật thành công lại cho thấy dòng thoát chủ yếu là quanh bờ của vạt củng mạc Như vậy, thủy dịch thoát ra chủ yếu qua cả

2 con đường: thấm qua vạt và thoát quanh vạt để hình thành bọng thấm dưới kết mạc Ngoài ra sau mổ cắt bè thủy dịch còn thoát vào khoang thượng hắc mạc, qua các tĩnh mạch nước mới hình thành hoặc vốn có, hoặc qua các hạch lympho để ra ngoài.

Trang 7

Từ bọng thấm, thủy dịch sẽ rò rỉ vào khoang liên bào quanh nhãn cầu hoặc thấm qua thành bọng vào phim nước mắt Ở các khoang liên bào quanh nhãn cầu chúng sẽ được dẫn lưu đi nhờ các mao mạch và các mạch bạch huyết

Hình 1.2 Các con đường lưu thông thủy dịch sau phẫu thuật cắt bè CGM

- Chảy vào đầu cắt của ống Schlemm (1)

- Tách thể mi, thủy dịch thoát vào khoang thượng hắc mạc (2)

Trang 8

Chiều cao của bọng: được tính bằng chiều dọc của bọng thấm qua

độ gồ cao của vạt kết mạc ở phía trên củng mạc và bao gồm 4 độ:

- H0: sẹo dẹt, không nhìn thấy độ gồ cao.

- H1: sẹo có độ gồ thấp.

- H2: sẹo có độ gồ trung bình.

- H3: sẹo có độ gồ cao.

Diện rộng của bọng thấm: được tính bằng chiều ngang của ranh giới

hoặc cả vùng bọng thấm Bọng tập trung là bọng có giới hạn rất rõ nét, dễ xác định Các bọng khác có thể lan rộng ra xung quanh theo vùng rìa hoặc chu vi

bọng thấm trên nhãn cầu:

- E0: dưới 1cung giờ.

- E1: lớn hơn 1cung giờ nhưng nhỏ hơn 2 cung giờ.

- E2: lớn hơn 2 cung giờ nhưng nhỏ hơn 4 cung giờ.

- E3: lớn hơn 4 cung giờ.

Tình trạng mạch máu: được đánh giá qua các mạch máu trên bề mặt

và ở phía sâu của kết mạc phủ bọng thấm gồm:

- V0: không có mạch máu hoặc trắng (không có các vi nang), mờ đục.

- V1: không có mạch máu, có các vi nang của kết mạc, trong suốt.

- V2: mạch máu nhỏ.

- V3: mạch máu trung bình.

- V4: nhiều mạch máu cương tụ.

Trang 9

Thử nghiệm Seidel: đánh giá sự thoát lưu dòng thủy dịch trên bề mặt

bọng thấm, được chia làm 3 mức độ:

- S0: không có sự thoát lưu.

- S1: nhiều điểm nhỏ bắt màu trên bề mặt của sẹo với sự chuyển dịch của dòng chảy qua kết mạc sau 5 giây.

- S2: dòng thủy dịch thoát ra qua kết mạc trong 5 giây.

Buskirk nhận xét có sự tương quan giữa hình ảnh lâm sàng và hiệu quả chức năng của bọng thấm Bọng có chức năng tốt thường tỏa lan, dẹt, không quá căng, vô mạch, nhiều vi nang liền nhau trong lớp biểu mô kết mạc (dấu hiệu đặc trưng) Ngược lại, bọng có chức năng kém là bọng khu trú, nhiều mạch máu, kết mạc bọng xơ dính với thượng củng mạc hoặc quá căng, không

có bọng (rò bọng hoặc tắc nghẽn lỗ rò)

Tương tự vậy, Kanski (1994) phân loại bọng thấm làm 4 týp:

+ Týp I: Bọng mỏng, xuất hiện nhiều nang nhỏ, kết quả của dòng thuỷ dịch thấm qua kết mạc Đây là bọng thấm tốt.

+ Týp II: Bọng dẹt, mỏng, toả lan, vô mạch (khác với vùng kết mạc xung quanh) Đây cũng là bọng thấm tốt.

+ Týp III: Bọng không thấm do hậu quả xơ hoá dưới kết mạc Bọng có đặc điểm dẹt, không có các khoang vi nang, có nhiều mạch máu trên bề mặt + Týp IV: Bọng nang bao Tenon là bọng gồ cao, hình vòm, khoang do bao Tenon phình trương ra, nhiều mạch máu Khoang này giữ thuỷ dịch làm mất tác dụng bọng thấm.

1.3.2 Trên cận lâm sàng

Trang 10

Dựa vào lâm sàng không đánh giá được cấu trúc hình ảnh bên trong của bọng thấm như: chiều dày thành của bọng, sự phản âm bên trong bọng, các khoang dịch dưới kết mạc, khoang dịch trên củng mạc, chiều dày vạt củng mạc, đường lưu thông thủy dịch dưới vạt củng mạc và lỗ thoát lưu thủy dịch Vì vậy người ta đã sử dụng các phương tiện cận lâm sàng để đánh giá các hình ảnh bên trong bọng thấm, từ đó tiên lượng được kết quả của cuộc phẫu thuật.

Trên thế giới đã có nhiều phương pháp cận lâm sàng có thể đánh giá được chi tiết, cụ thể về cấu trúc, chức năng của bọng thấm

* UBM (Ultrasound Biomicroscopy-siêu âm sinh hiển vi): Trong phòng

thí nghiệm các nhà khoa học sử dụng siêu âm với tần số 40-100 MHz Thông thường các máy sử dụng lâm sàng có tần số 50 MHz Máy này có khả năng phân giải và xuyên thấu mà không làm tổn hại mô và đã được chứng minh rằng đó là một công cụ có độ nhạy và độ chính xác khá cao để dự đoán chức năng bọng thấm Bằng UBM có thể đánh giá được hình thái bọng, thành phần trong bọng, đường lưu thông thủy dịch:

- Hình thái bọng: Nguyên lý dựa vào độ cao của sẹo tuỳ thuộc vào sóng phản âm ít hay nhiều, kích thước của khoang dưới kết mạc chia bọng thấm làm 4 loại:

+ Týp L (Low-reflective): gồ thấp, độ phản âm thấp, thể hiện bọng thấm tốt + Týp H (High-reflective): gồ cao, độ phản âm cao, thể hiện bọng thấm vừa.

+ Týp E (Encapsulated): nang, thể hiện bọng thấm không tốt.

+ Týp F (Flattened): dẹt, thể hiện bọng thấm không tốt.

Trang 11

Yamamoto T (1995) đưa ra tiêu chuẩn chuẩn đoán các loại sẹo trên UBM như sau:

Độ phản âm

Thấp đến trung

Chiều cao của

- Thành phần trong bọng là máu hay dịch.

- Chức năng bọng sau PT: Theo dõi con đường lưu thông thủy dịch từ tiền phòng tới khoang bọng.

- Quan sát độ khép chặt của lỗ cắt, cửa nắp vạt.

* Chụp cắt lớp quang học bán phần trước (Optical Coherence Tomography

- OCT)

So với UBM, OCT sử dụng ánh sáng có độ phân giải cao hơn và có tính đặc trưng riêng biệt hơn cho phép đánh giá các cấu trúc bên trong bọng thấm một cách chi tiết rõ ràng hơn.

Trang 12

Theo Singh và cộng sự, phân loại bọng thấm được dựa trên các tiêu chí lượng giá như sau: chiều cao của bọng, chiều dày thành bọng, độ phản âm bên trong bọng, khoang dịch dưới kết mạc, khoang dịch ở trên củng mạc, chiều dày nắp củng mạc, đường lưu thông thủy dịch dưới vạt củng mạc và lỗ mở vùng bè

Savini dựa vào độ dày của thành bọng thấm và khoang dưới kết mạc chia bọng thấm làm 3 týp:

Khoang chứa thủy dịch

Theo Zhang Yi chia bọng thấm làm 4 loại:

- Bọng thấm tỏa lan (týp D): Bọng có chức năng Trên OCT có một số khoang (vi nang) dưới kết mạc hoặc các kẽ hở có độ phản âm thấp hoặc trung bình Những bọng thấm này có kết mạc dày tỏa lan, khoang dịch trên củng mạc, đường thủy dịch dưới nắp củng mạc quan sát thấy và lỗ cắt bè được nhìn thấy rõ ràng.

Hình 1.3 Hình ảnh bọng thấm tỏa lan

Trang 13

- Bọng thấm dạng nang (týp C): cũng là một bọng có chức năng Thành của bọng tương đối mỏng (thường dưới 0,2 mm), đa dạng về chiều cao và được cấu thành bởi một khoang rộng hoặc vài khe hở nhỏ hoặc trung bình trên nắp củng mạc, trong số đó một vài được hợp nhất với các khe dưới kết mạc Đường thủy dịch phía dưới nắp củng mạc rõ ràng.

Hình 1.4 Hình ảnh bọng thấm dạng nang

Trang 14

- Bọng thấm dạng vỏ bao (týp E): là một bọng thấm không chức năng trong đó khoang dịch trên củng mạc được bao bọc bởi các mô có độ phản âm cao Bọng này thường có khe dưới kết mạc rất hẹp Các mô củng mạc và kết mạc không được phân biệt rõ ràng, thậm chí có thể dính lại (toàn bộ thành bọng dầy lại) Khoang dịch trên củng mạc được bao bọc bởi các mô liên kết dày đặc có độ phản âm cao, đường thủy dịch dưới vạt củng mạc và lỗ mở bè thường rất mảnh.

- Hình 1.5 Hình ảnh bọng thấm dạng vỏ bao

- Bọng thấm dẹt (týp F): là một bọng thấm không chức năng Bọng thấm dẹt tương tự như một bọng thấm dạng vỏ bao nhưng không có khe ở dưới kết mạc hoặc trên vạt củng mạc Toàn bộ bọng thấp, thành dày Kết mạc

và củng mạc dính vào nhau, có độ phản âm cao, giống phản âm của củng mạc Đường thủy dịch dưới vạt củng mạc thường không nhìn thấy, mặc dù lỗ

mở bè có thể nhìn được.

Trang 15

Hình 1.6 Hình ảnh bọng thấm dẹt SCFS: khoang dịch dưới kết mạc; FS: khoang dịch trên vạt CM; SF : vạt CM;

R: Đường dịch dưới vạt CM; C : kết mạc; Co: giác mạc; S: lỗ mở vùng bè; Ir: mống mắt.

1.4 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG BỌNG THẤM

Phẫu thuật cắt bè CGM trong điều trị glôcôm có thể coi là một sang chấn đặc biệt vào bán phần trước của nhãn cầu bởi vì trong bản thân nó luôn tồn tại một nghịch lý Sau phẫu thuật vết thương phải luôn ở trong một tình trạng làm sẹo không hoàn toàn để duy trì kết quả lâu dài của phẫu thuật Nếu làm sẹo quá tốt, thủy dịch không thể thoát được từ tiền phòng ra ngoài, bọng thấm mất chức năng dẫn đến nhãn áp không điều chỉnh Còn nếu làm sẹo kém sẽ dẫn đến dò vết thương Trong quá trình làm sẹo này, các nguyên bào xơ đóng vai trò trung tâm và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Những yếu tố này thông qua vai trò trung gian của các nguyên bào xơ ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của phẫu thuật Các yếu tố này khá đa dạng bao gồm:

Tuổi: Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh cũng như trên thực tế lâm

sàng cho thấy tenon ở người trẻ dày hơn và có khả năng sinh sẹo mạnh hơn ở những người cao tuổi Lama cho rằng người dưới 50 tuổi có nguy cơ 1(+)

Trang 16

Broadway cùng các cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 101 mắt và nhận thấy nhóm những người có tuổi trung bình thấp (66 tuổi) thì tỷ lệ xơ hóa của bọng thấm sau phẫu thuật cắt bè cao hơn nhóm những người có tuổi trung bình cao hơn (71 tuổi).

Người da đen: Những người thuộc chủng tộc Phi châu thì phản ứng làm

sẹo vùng phẫu thuật thường tương tự như sự quá phát trên da gây sẹo lồi, có nguy cơ 2(+).

Cũng trong nghiên cứu của Broadway thì những người thuộc chủng tộc Phi châu có tỷ lệ xơ hóa sẹo bọng cao gấp 1,54 lần so với những người thuộc chủng tộc da trắng.

Tiền sử phẫu thuật tại mắt: Theo Khaw, những mắt đã được phẫu thuật

có nguy cơ tạo sẹo xơ nhiều hơn các chất chưa được phẫu thuật Các phẫu thuật nói chung có nguy cơ 2(+), riêng phẫu thuật cắt bè thất bại có nguy cơ 3(+) Ngoài ra khoảng thời gian giữa các lần phẫu thuật, số lần phẫu thuật, vị trí phẫu thuật cũng liên quan khá chặt chẽ Theo nhận định của nhóm FFSS, khoảng thời gian từ lần cuối cùng phẫu thuật bất kỳ ở mắt đến thời điểm tiến hành phẫu thuật lỗ rò càng ngắn thì khả năng bọng thấm bị xơ hóa càng cao Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật trên 2 lần sẽ có tỷ lệ thành công thấp.

Sự xuất hiện các chất có khả năng hoạt hóa nguyên bào xơ kèm theo tăng lượng protein dinh dưỡng và giảm axit ascorbic trong thủy dịch thứ phát

là những nguy cơ tạo sẹo xơ cho bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật trước đó Đây là trở ngại lớn cho phẫu thuật lỗ rò lần sau.

Hình thái glôcôm: glôcôm tái phát, glôcôm tân mạch, glôcôm phối hợp

với các bệnh khác về mắt như mắt không có thể thủy tinh, bong võng mạc, viêm màng bồ đào… có nguy cơ rất cao từ 3(+) đến 5 (+)

Trang 17

Tiền sử sử dung thuốc hạ NA: Những mắt glôcôm đã sử dụng thuốc tra

nhóm β-blocker kết hợp pilocarpin cũng làm tăng nguy cơ 1(+), còn những mắt sử dụng thuốc tra nhóm β-blocker, pilocarpin và adrenalin thì nguy cơ cao lên đến 3(+)

Viêm kết mạc mạn tính: nguồn gốc viêm, dị ứng hay nhiễm độc có tác

động khởi động một đáp ứng tế bào xơ và làm tăng quá trình làm sẹo Sự đánh giá nguy cơ trên các đối tượng này có khác nhau Lama đánh giá mức độ nguy cơ 1(+), còn Khaw P.T cho rằng mức độ nguy cơ là 3(+).

Sử dụng các thuốc chống chuyển hóa: Trên thế giới cũng như tại Việt

nam, đã có rất nhiều nghiên cứu sử dụng thuốc chống chuyển hóa trong phẫu thuật cắt bè với những trường hợp có nguy cơ xơ hóa bọng thấm cao sau phẫu thuật (Bệnh nhân trẻ tuổi, tiền sử phẫu thuật lỗ rò thất bại…) cho thấy việc sử dụng thuốc chống chuyển hóa có tác dụng rất rõ rệt trong việc hạn chế hiện tượng xơ hóa sau phẫu thuật cắt bè điều trị glôcôm Nhưng bên cạnh đó, việc

sử dụng các thuốc chống chuyển hóa cũng gây ra một số biến chứng, đặc biệt

là những biến chứng ngay tại bọng thấm, từ đó ảnh hưởng tới kết quả chung của phẫu thuật.

Bảng phân loại yếu tố nguy cơ gây sẹo xơ sau mổ

Các yếu tố nguy cơ Nguy cơ: từ 1(+) đến 3(+)

Trang 18

Phẫu thuật nội nhãn trước đó ++

Trang 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành tại khoa glôcôm Bệnh viện Mắt Trung ương

từ tháng 02/2014 đến hết tháng 08/2014.

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Những bệnh nhân được chẩn đoán là glôcôm nguyên phát đã được phẫu thuật cắt bè CGM tại khoa glôcôm – Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 02 năm 2009 trở về năm 2008, lấy đến khi nào đủ số lượng bệnh nhân theo cỡ mẫu đã tính.

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Những hồ sơ của bệnh nhân bị glôcôm nguyên phát đã được phẫu thuật cắt bè củng giác mạc có hoặc không dùng thuốc chống chuyển hóa.

2.1.2 Tiêu chuẩn lại trừ

- Bệnh nhân đã phẫu thuật cắt bè từ 2 lần trở lên.

- Glôcôm nguyên phát đã phẫu thuật cắt bè phối hợp lấy TTT đục thay TTT nhân tạo.

- Có tiền sử chấn thương hoặc đã phẫu thuật điều trị bệnh lý khác của mắt.

- Những hồ sơ bệnh án không đủ thông tin để nghiên cứu.

- Bệnh nhân không đến khám lại.

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Trang 20

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Công thức tính cỡ mẫu

2 2

/ 1 2

) (

) 1 (

ε

α

p

p p Z

- α: mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,05

- ε :khoảng sai lệch mong muốn tương đối, chọn ε = 0.1

- Z1 − α / 2: độ tin cậy với ngưỡng 95% (α = 0,05), có Z 1-α/2= 1,96

- p: tỷ lệ thành công của phẫu thuật cắt bè sau 7 năm 79%

- n: cỡ mẫu

- Tính ra được n tối thiểu bằng 102

2.2.3 Phương tiện nghiên cứu

- Bảng đo thị lực Snellen và hộp thử kính.

- Nhãn áp kế Maclakov với quả cân 10g.

- Máy sinh hiển vi (SHV) đèn khe.

- Kính Volk 900.

- Kính soi góc tiền phòng Goldman 1 mặt gương.

- Máy chụp cắt lớp quang học OCT

- Dung dịch dicain 1%.

- Giấy nhuộm màu fluorescein.

- Hồ sơ bệnh án theo dõi bệnh nhân, mẫu bệnh án nghiên cứu.

2.3 TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU

Trang 21

- Tập hợp toàn bộ hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân trong đối tượng nghiên cứu

- Loại bỏ những hồ sơ không đạt yêu cầu.

- Thu thập thông tin trong hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân thuộc tiêu chuẩn lựa chọn.

- Gửi thư mời bệnh nhân đến khám lại.

- Tiến hành khám đánh giá bệnh nhân theo các tiêu chuẩn nghiên cứu.

- Điền các thông tin cần đánh giá vào phiếu nghiên cứu.

2.3.1 Khai thác thông tin từ hồ sơ bệnh án lưu trữ

- Phần hành chính: tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ, số điện thoại liên lạc của bệnh nhân.

- Phần khám lâm sàng: ghi lại các kết quả khám trước khi phẫu thuật + Thị lực.

+ Nhãn áp (NA): khi vào viện, khi ra viện.

+ Kết quả thị trường.

+ Lõm đĩa (C/D).

+ Số lượng thuốc, thời gian sử dụng thuốc hạ NA trước phẫu thuật.

+ Xác định hình thái glôcôm (góc đóng, góc mở) bằng kết quả soi góc + Giai đoạn glôcôm: xác định giai đoạn glôcôm dựa vào NA, tổn thương đĩa thị giác và thị trường.

+ Tình trạng bọng thấm: bọng dẹt, bọng thấm khá, bọng thấm tốt, quá phát, khi ra viện.

+ Ghi nhận phương pháp điều trị trong hồ sơ lưu trữ bao gồm: các thuốc

và phương pháp phẫu thuật đã điều trị, sử dụng thuốc chống chuyển hóa trong

và sau phẫu thuật.

Trang 22

2.3.2 Phần khám bệnh nhân đến theo giấy mời

2.3.2.1 Khám lâm sàng

Bệnh nhân sẽ được khám toàn diện về mắt:

- Thị lực không kính và có chỉnh kính bằng bảng thị lực Snellen.

- NA: đo bằng nhãn áp kế Maclacov với quả cân 10g.

- Khám SHV để đánh giá kết mạc, giác mạc, tiền phòng, mống mắt, TTT.

- Khám SHV để đánh giá tình trạng bọng thấm trên lâm sàng.

- Soi góc tiền phòng: để đánh giá độ rộng hẹp của góc, tình trạng lỗ mở bè.

- Soi đáy mắt để đánh giá tình trạng lõm/ đĩa.

2.3.2.2 Chụp OCT bán phần trước đánh giá bọng thấm

- Chuẩn bị bệnh nhân: giải thích giá trị phương pháp, cách thức phối hợp tiến hành.

- Bệnh nhân được yêu cầu nhìn xuống, người chụp nhẹ nhàng kéo mi trên để

lộ toàn bộ vùng rìa, vùng bọng thấm và vùng kết mạc xung quanh, tránh đè vào nhãn cầu và bọng thấm Lát cắt thứ nhất chụp vuông góc trực tiếp vào vùng trung tâm bọng thấm, lát cắt thứ hai nằm ngang chạy qua trung tâm bọng thấm, song song rìa giác mạc Tiến hành chụp và quan sát bọng thấm:

+ Độ phản âm bên trong bọng

Trang 23

+ Chiều cao khoang bọng

+ Độ rộng khoang bọng

+ Chiều cao toàn bộ bọng

+ Thành bọng thấm.

Hình 2.1: Các chỉ số kích thước bọng thấm a: chiều cao toàn bộ bọng b: chiều cao khoang bọng

c: độ rộng khoang bọng d: chiều dày thành bọng

- Hình ảnh trên OCT của bệnh nhân được in ra giấy và lưu trên bộ nhớ

máy OCT.

2.4 TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

* Tuổi: chúng tôi chia tuổi của bệnh nhân thành các nhóm tuổi sau:

dưới 40, 40 – 54, 55 – 70, trên 70 tuổi.

Trang 24

* Nhãn áp: Trước mổ NA được đo bằng NA kế Maclakov, do đó tại thời

điểm nghiên cứu, chúng tôi vẫn đo NA bằng nhãn áp kế Maclakov với quả cân 10g Chúng tôi chia NA ra các mức sau:

- Nhỏ hơn 14mmHg

- Từ 14 – 25 mmHg

- Từ 26 - 32 mmHg

- Lớn hơn 32 mmHg

* Tình trạng lõm đĩa: đánh giá lõm đĩa theo chiều dọc so với đường

kính đĩa thị giác (C/D) theo các mức độ: ≤ 3/10, 4/10 – 7/10, ≥ 7/10.

* Các giai đoạn bệnh glôcôm: phân loại theo Poliak gồm 6 giai đoạn:

tiềm tàng, sơ phát, tiến triển, trầm trọng, gần mù và mù.

* Hình thái glôcôm: chia ra góc đóng và góc mở

* Sử dụng thuốc chống chuyển hóa trong hoặc sau PT: có hoặc không

* Đánh giá về tình trạng bọng thấm:

Đánh giá trên lâm sàng: khám trên sinh hiển vi :

- Chiều cao bọng thấm: Tính bằng kích thước thẳng đứng của bọng, biểu

hiện mức nổi cao lên của vạt kết mạc so với củng mạc khi cắt đèn khe qua chính trung tâm của vùng bọng thấm.

H0 = Sẹo dẹt, không có gồ cao: bọng không nổi

H1 = Sẹo có độ gồ thấp

H2 = Sẹo có độ gồ trung bình : bọng nổi trung bình

H3 = Sẹo có độ gồ cao: bọng nổi cao

- Độ lan rộng của bọng: Được đánh giá bởi sự lan rộng ranh giới của bọng thể hiện kích thước theo chiều nằm ngang của bọng theo khoảng cách của độ chia giờ trên đồng hồ:

E0 (Phạm vi sẹo < 1 cung giờ)

E1 (1 cung giờ < Phạm vi sẹo < 2 cung giờ)

E2 (2 cung giờ < Phạm vi sẹo < 4 cung giờ)

Trang 25

E3 (Phạm vi sẹo > 4 cung giờ)

- Tình trạng mạch máu: Đánh giá các mạch máu của vùng bọng thấm bằng cách quan sát các mạch máu trên bề mặt và ở lớp sâu của kết mạc phủ bọng thấm :

V1 = Không có mạch máu: vô mạch là kết mạc màu trắng và mờ đục V2 = Mạch máu nhỏ: Ít mạch máu nhỏ

V3 = Mạch máu trung bình:vi nang kết mạc, màu trong suốt.

V4 = Nhiều mạch máu: mạch máu nhiều và cương tụ.

- Thử nghiệm Seidel: Đánh giá sự rò rỉ của dòng thủy dịch trên bề mặt bọng thấm Dùng giấy thấm có tẩm Fluorescein đặt vào cùng đồ kết mạc dưới hoặc nhỏ mắt bằng Fluorescein, sau đó quan sát bọng thấm bằng đèn khe dưới ánh sáng xanh cobalt.

So (Không có dịch thoát lưu) (-): không có sự rò rỉ.

S1 (Dịch thoát lưu sau 5 giây) : nhiều điểm nhỏ bằng đầu kim bắt màu trên bề mặt bọng thấm, nhưng không thấy chuyển dịch của dòng chảy qua kết mạc xuất hiện sau 5 giây.

S2 (Dịch thoát lưu trong 5 giây) thủy dịch chảy ra thành dòng nhìn thấy trong 5 giây (khuếch tán hoặc khu trú).

- Đánh giá chung hình thể lâm sàng: dựa vào phân loại của Buskirk (1992): Bọng thấm tốt: bọng thấm toả lan, bề mặt bọng vô mạch hoặc trong kết mạc có những nang nhỏ trong (microcysts).

Bọng thấm khá: bọng thấm hình thành toả lan nhưng nhiều mạch máu trên bề mặt hoặc có xu hướng dính ở chu biên làm sẹo không toả lan rộng Bọng thấm xấu: bọng thấm hình thành nhưng lồi lên hoặc xơ dính với nền củng mạc, kết mạc khó di động, nhiều mạch máu hoặc không tạo bọng.

Đánh giá trên cận lâm sàng bằng máy OCT: Dựa theo phân loại của Zhang Yi

Trang 26

Chiều cao bọng

Trung bình đến cao

Có thể nhìn

Giữa OCT và lâm sàng, phân loại bọng thấm được thống nhất như sau:

- Bọng tỏa lan (Diffuse): Týp D tương đương với týp II.

- Bọng dạng nang (Cystic): Týp C tương đương với týp I.

- Bọng dạng vỏ bao (Encapsulated): Týp E tương đương với týp IV.

- Bọng dạng dẹt (Flattened): Týp F tương đương với týp III.

2.5 CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

2.5.1 Đặc điểm nhóm nghiên cứu

- Tuổi, giới

- Thị lực, nhãn áp trước phẫu thuật

- Hình thái, giai đoạn glôcôm trước phẫu thuật

2.5.2 Tình trạng bọng thấm 5 năm sau phẫu thuật cắt bè

Tình trạng bọng thấm trên lâm sàng

- Chiều cao bọng thấm:

Trang 27

+ Tỷ lệ bọng thấm có độ rộng dưới 1 cung giờ

+ Tỷ lệ bọng thấm có độ rộng từ 1 cung giờ đến 2 cung giờ + Tỷ lệ bọng thấm có độ rộng từ 2 cung giờ đến 4 cung giờ + Tỷ lệ bọng thấm có độ rộng trên 4 cung giờ

+ Tỷ lệ bọng thấm không có dịch thoát lưu

+ Tỷ lệ bọng thấm có dịch thoát lưu sau 5 giây

+ Tỷ lệ bọng thấm có dịch thoát lưu trong 5 giây

- Phân loại theo Buskirk

+ Tỷ lệ bọng thấm tốt

+ Tỷ lệ bọng thấm khá

+ Tỷ lệ bọng thấm xấu

Trang 29

- Thuốc chống chuyển hóa sử dụng trong hoặc sau phẫu thuật

- Nhãn áp tại thời điểm khám lại

2.6 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

Các số liệu, nhận xét được ghi chép vào bệnh án mẫu, sau đó được tập hợp và xử lí theo thuật toán thống kê y học với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 16.0 để phân tích và đánh giá kết quả.

2.7 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được sự đồng ý của phòng sau đại học – trường đại học Y

Hà Nội, Ban giám đốc, Hội đồng khoa học kỹ thuật, phòng kế hoạch tổng hợp, khoa Glôcôm Bệnh viện Mắt Trung ương và bệnh nhân.

Trang 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 106 mắt của 97 bệnh nhân được chẩn đoán là glôcôm nguyên phát đã được phẫu thuật cắt bè củng giác mạc tại khoa glôcôm – Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 09/2008 đến tháng 03/2009 Trong đó có 97 bệnh nhân mổ 1 mắt và 9 bệnh nhân mổ 2 mắt Qua quá trình khám, theo dõi, thu thập số liệu, chúng tôi thu được một số kết quả như sau:

3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đặc điểm bệnh nhân theo tuổi

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi Tuổi < 40 tuổi 40 – 54 tuổi 55 – 70 tuổi > 70 tuổi Tổng

Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 60,27 ± 9,13 Tuổi cao nhất là 77, tuổi thấp nhất là 32 Đa số bệnh nhân từ 55 tuổi trở lên, chiếm 75,3% các trường hợp.

3.1.2 Đặc điểm bệnh nhân theo giới

Trang 31

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm bệnh nhân theo giới

Trong số 97 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu, có 39 bệnh nhân nam và 58 bệnh nhân nữ, như vậy tỷ lệ nữ chiếm (59,8%) nhiều hơn tỷ lệ nam (40,2%).

3.1.3 Đặc điểm hình thái và giai đoạn bệnh glôcôm trước mổ

Dựa vào kết quả soi góc, soi đĩa thị, kết quả đo thị trường trong hồ sơ bệnh

án, hình thái và giai đoạn bệnh trước mổ được phân bố như sau:

Bảng 3.2 Đặc điểm hình thái và giai đoạn bệnh glôcôm trước mổ

Trang 32

mắt glôcôm góc đóng và 2 mắt glôcôm góc mở ở giai đoạn sơ phát , chưa có tổn hại thị thần kinh và thị trường chiếm tỷ lệ 18,9% (20/106)

3.1.5 Tình trạng nhãn áp trước phẫu thuật

Nhãn áp trung bình trước phẫu thuật là 30,3 ± 4,1mmHg, trong đó mức nhãn áp thấp nhất là 24mmHg, cao nhất là 43mmHg Nhãn áp trước mổ được chia làm 3 mức:

Biểu đồ 3.2 Nhãn áp trước mổ

Trang 33

Bảng trên cho thấy mức nhãn áp từ 26 - 32mmHg chiếm tỷ lệ cao nhất (66 mắt), mức nhãn áp từ 14 - 25mmHg chiếm tỷ lệ thấp nhất (16 mắt) Tuy nhiên nhãn áp thấp nhất là 24mmHg vậy nên trong nhóm mức nhãn áp 14 - 25mmHg chủ yếu là nhãn áp 24 và 25mmHg.

3.1.6 Tình trạng nhãn áp tại thời điểm khám lại

Tại thời điểm khám lại, nhãn áp trung bình là 19,97 ± 3,3mmHg, trong đó mức nhãn áp thấp nhất là 14mmHg, cao nhất là 31mmHg Nhãn áp tại thời điểm khám lại được chia làm 2 mức:

Bảng 3.4 Nhãn áp tại thời điểm khám lại (bieu do cot)

3.1.7 Tình hình sử dụng thuốc chống chuyển hóa

Bảng 3.5 Sử dụng thuốc chống chuyển hóa

Trang 34

3.2.1.1 Chiều cao bọng thấm trên lâm sàng

Chiều cao bọng thấm trên lâm sàng được thể hiện theo biểu đồ dưới đây Trong 106 mắt nghiên cứu, bọng có độ gồ thấp và trung bình chiếm tới 69 mắt (65,1%), tiếp theo là đến bọng dẹt chiếm 23,6%, cuối cùng là bọng có độ gồ cao chiếm 11,3% thường rơi vào những mắt có dùng chất chống chuyển hóa.

Biểu đồ 3.3 Chiều cao của bọng thấm trên lâm sàng

Trang 35

3.2.1.2 Độ rộng bọng thấm trên lâm sàng

Độ rộng của bọng thấm trên lâm sàng chủ yếu từ 2 đến 4 cung giờ (79/106 mắt) Số mắt có độ rộng của bọng thấm dưới 1 cung giờ hoặc trên 4 cung giờ chiếm tỷ lệ rất thấp.

Biểu đồ 3.4 Độ rộng của bọng thấm trên lâm sàng

3.2.1.3 Tình trạng mạch máu của bọng thấm trên lâm sàng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bọng thấm có ít mạch máu nhỏ là nhiều nhất 62/106 mắt chiếm tỷ lệ 58,5%, tiếp theo là bọng thấm có mạch máu trung bình Số bọng thấm vô mạch hoặc có nhiều mạch máu cương tụ tương ứng với tỷ lệ 11,3% và 6,6%.

Bảng 3.7 Tình trạng mạch máu của bọng thấm trên lâm sàng

Trang 36

Không có mạch máu

Có ít mạch máu nhỏ

Có mạch máu trung bình

Có nhiều mạch máu

và cương tụ

Tổng

3.2.1.4 Dấu hiệu Seidel của bọng thấm trên lâm sàng

Tất cả các mắt trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi đều có bọng thấm với dấu hiệu Seidel âm tính Điều này cũng dễ giải thích vì khi bệnh nhân có dấu hiệu Seidel tại bọng thấm dương tính thường bệnh nhân sẽ có cảm giác khó chịu và sẽ đi khám lại sớm để được xử trí kịp thời biến chứng đó.

Bảng 3.8 Dấu hiệu Seidel của bọng thấm Không có dịch

rò rỉ

Có dịch rò rỉ sau 5 giây

Có dịch rò rỉ trong 5 giây

3.2.1.5 Phân loại bọng thấm trên lâm sàng

Trên lâm sàng, số mắt có bọng thấm xơ dẹt là 47/106 mắt chiếm tỷ lệ 44,3%, thường những bọng thấm này có độ gồ thấp hoặc dẹt Tiếp theo là mắt

có bọng thấm tỏa lan (26,4%), và mắt có bọng thấm dạng nang (23,6%), chiếm tỷ lệ thấp nhất là bọng thấm dạng vỏ bao với 5,7%.

Trang 37

Bảng 3.5 Phân loại bọng thấm trên lâm sàng

3.2.2 Tình trạng bọng thấm trên OCT

3.2.2.1 Độ phản âm của bọng thấm trên OCT

Trên OCT, bọng týp D (bọng tỏa lan) và bọng týp C (bọng dạng nang) thường

có độ phản âm thấp hoặc trung bình, bọng týp E (bọng dạng vỏ bao) và bọng týp F (bọng xơ dẹt) thường có độ phản âm cao Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bọng thấm có độ phản âm cao chiếm tỷ lệ cao nhất (42,5%), sau đó đến bọng thấm có độ phản âm trung bình (38,6%), thấp nhất là bọng thấm có

Trang 38

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 70/106 mắt nhìn thấy khoang dịch dưới kết mạc chiếm 66%, 36/106 mắt không nhìn thấy khoang dịch dưới kết mạc chiếm 34% Như vậy số bọng thấm nhìn thấy khoang dịch dưới kết mạc cao gấp 2 lần số bọng thấm không nhìn thấy khoang dịch dưới kết mạc.

Bảng 3.10 Khoang dịch dưới kết mạc trên OCT

Nhìn thấy Không nhìn thấy Tổng

Bảng 3.11 Khoang dịch trên vạt củng mạc Nhìn thấy Không nhìn thấy Tổng

3.2.2.4 Đường dịch dưới vạt củng mạc

Trang 39

Trong 106 mắt nghiên cứu, 69 mắt có bọng thấm nhìn thấy đường dịch dưới vạt củng mạc chiếm 65,1%, 37 mắt có bọng thấm không nhìn thấy đường dịch dưới vạt củng mạc chiếm 34,9%.

Bảng 3.12 Đường dịch dưới vạt củng mạc Nhìn thấy Không nhìn thấy Tổng

3.2.2.5 Lỗ mở bè

Liên quan tới lỗ mở bè, có đến 80,2% (85/106) mắt nghiên cứu là nhìn thấy lỗ

mở bè trong khi đó tỷ lệ các mắt nghiên cứu không nhìn thấy lỗ mở bè là 19,8% (21/106).

Bảng 3.13 Lỗ mở bè Nhìn thấy Không nhìn thấy Tổng

3.2.2.6 Độ cao bọng thấm trên OCT

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chiều cao trung bình của bọng thấm trên OCT là 0,4mm ± 0,3mm Bọng thấm có chiều cao lớn nhất 1,28mm, bọng thấm có chiều cao thấp nhất là 0mm Không có bọng thấm có chiều cao trên 2mm Độ cao bọng thấm của các mắt nghiên cứu được phân bố theo bảng dưới đây.

Bảng 3.14 Độ cao bọng thấm trên OCT

Trang 40

Tỷ lệ % 61,3 38,7 0 100

3.2.2.7 Phân loại bọng thấm trên OCT

Phân loại bọng thấm trên OCT theo Zhang Yi được mô tả theo biểu đồ 3.6 dưới đây, týp D là bọng thấm dạng tỏa lan chiếm tỷ lệ cao nhất 38,7% (41/106 mắt), týp C là bọng thấm dạng nang chiếm tỷ lệ 21,7% (23/106 mắt), týp E là bọng thấm dạng vỏ bao chiếm tỷ lệ 23,6% (25/106 mắt), týp F là bọng thấm dạng xơ dẹt chiếm tỷ lệ 16% (17/106 mắt).

Biểu đồ 3.6 Phân loại bọng thấm trên OCT (theo Zhang Yi)

3.3 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG BỌNG THẤM

3.3.1 Liên quan tuổi đến tình trạng bọng thấm

Ở độ tuổi ≥ 55 tỷ lệ mắt có bọng thấm týp D là 47,3% (35/74) cao hơn hẳn ở độ tuổi < 55 là 18,8% (6/32) Trong khi đó tỷ lệ mắt có bọng thấm týp E

ở độ tuổi < 55 là 40,6% (13/32) cao hơn hẳn mắt có tỷ lệ bọng thấm týp E ở

độ tuổi ≥ 55 là 16,2% (12/74) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.15 Liên quan tuổi đến tình trạng bọng thấm

Nhóm tuổi

Số mắt Tỷ lệ (%) Số mắt Tỷ lệ (%) Số mắt Tỷ lệ (%) Số mắt Tỷ lệ (%) Số mắt Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 29/07/2019, 12:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w