Nước thải, rác thảicủa khu dân cư gần các bãi tắm cũng như của nhà hàng, khách sạn chưa đượcthu gom, xử lý triệt để thải ra ngoài môi trường làm ảnh hưởng đến cảnhquan, môi trường tự nhi
Trang 2CTR Chất thải rắn
3R Reduction - Reuse - Recycle
(Giảm thiểu - tái sử dụng - tái chế)CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)UNEP United Nations Environment programme
(Chương trình Môi trường Liên hợp quốc)
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương về rác thải 3
1.1.1 Một số khái niệm 3
1.1.2 Phân loại rác thải 4
1.1.3 Tác hại của rác thải 6
1.1.4 Các biện pháp xử lý rác 9
1.2 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý chất thải 13
1.3 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành về thu gom, lưu giữ và xử lý rác thải 19
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 23
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 23
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 27
2.2.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 28
2.2.4 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu 29
2.2.5 Tiêu chuẩn đánh giá 30
2.3 Các biện pháp khắc phục sai số 30
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 30
2.5 Tổ chức thực hiện 31
2.6 Đạo đức nghiên cứu 31
Trang 4Đồ Sơn thành phố Hải Phòng 323.2 Thực trạng thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải rắn tại nhà hàng, khách sạn 343.3 Kiến thức, thực hành của nhân viên nhà hàng, khách sạn về thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải 38
Chương 4 BÀN L UẬN 50
4.1 Thực trạng thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải rắn tại bãi biển và nhà
hàng, khách sạn quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng 524.1.1 Thông tin chung về khu du lịch, nhà hàng, khách sạn tại quận
Đồ Sơn thành phố Hải Phòng 524.1.2 Thực trạng rác thải tại 3 bãi tắm biển du lịch Đồ Sơn 534.1.3 Thực trạng thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải rắn tại nhà hàng,
khách sạn 554.2 Kiến thức, thực hành của nhân viên nhà hàng, khách sạn về thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải 60
KẾT LUẬN 68 KIẾN NGHỊ 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 3.1 Thông tin về số nhà hàng, khách sạn trên địa bàn điều tra 32
Bảng 3.2 Thông tin về số nhân viên được điều tra trong nhà hàng khách sạn .32 Bảng 3.3 Loại hình kinh doanh tại nhà hàng khách sạn 33
Bảng 3.4 Thực trạng rác thải tại các bãi biển Đồ Sơn 33
Bảng 3.5 Dụng cụ thu gom rác tại nhà hàng, khách sạn 34
Bảng 3.6 Thời gian thu gom rác tại nhà hàng, khách sạn 35
Bảng 3.7 Lượng rác thải trung bình/ngày của nhà hàng 35
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhà hàng, khách sạn có thùng đựng rác hữu cơ và vô cơ riêng biệt 36
Bảng 3.9 Phân nhóm rác thải trung bình/ngày của các nhà hàng, khách sạn 37 Bảng 3.10 Hình thức xử lý rác thải của nhà hàng, khách sạn 37
Bảng 3.11 Phân bố đối tượng phỏng vấn theo giới 38
Bảng 3.12 Phân bố đối tượng được phỏng vấn theo tuổi 38
Bảng 3.13 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 39
Bảng 3.14 Tỷ lệ nhân viên nhà hàng, khách sạn biết về tác hại của rác thải nhà hàng 39
Bảng 3.15 Nguồn cung cấp thông tin về tác hại của rác thải cho nhà hàng và khách sạn 39
Bảng 3.16 Kiến thức của nhân viên về tác hại của rác thải 40
Bảng 3.17 Lý do cần thu gom và xử lý rác thải tại nhà hàng 41
Bảng 3.18 Kiến thức của nhân viên về cách thu gom rác hợp vệ sinh 42
Bảng 3.19 Tỷ lệ nhân viên nhà hàng biết được lợi ích phân loại rác thải 43
Bảng 3.20 Hiểu biết của nhân viên nhà hàng về thời điểm phân loại rác 43
Bảng 3.21 Hiểu biết của nhân viên về cách xử lý rác sau khi thu gom 44
Bảng 3.22 Tỷ lệ nhân viên nhà hàng hiểu biết về qui trình 3R 45
Trang 6Bảng 3.25 Người hướng dẫn nhân viên nhà hàng thu gom rác 46Bảng 3.26 Ý kiến của nhân viên nhà hàng về thu gom và xử lý rác tại nhà
hàng khách sạn 47Bảng 3.27 Lý do cho rằng xử lý rác thải chưa đúng tại nhà hàng 47Bảng 3.28 Nội dung nhân viên nhà hàng được tập huấn về phân loại và thu
gom rác 48Bảng 3.29 Tỷ lệ nhân viên nhà hàng có nhu cầu được tập huấn về phân loại
và thu gom rác 49
Trang 7Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ dụng cụ thu gom rác có nắp đậy tại các nhà hàng điều tra 34
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nhà hàng có phân loại rác tại nhà hàng 36
Biểu đồ 3.3 Sự cần thiết phải thu gom rác thải tại nhà hàng 41
Biểu đồ 3.4 Sự cần thiết phải phân loại rác thải tại nhà hàng 42
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ nhân viên nhà hàng có biết quy trình 3R trong xử lý
rác thải 44
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ nhân viên nhà hàng được tập huấn về phân loại, thu
gom rác 48
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ nhân viên nhà hàng cho là cần thiết tổ chức tập huấn về phân loại, thu gom rác 49
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự hội nhập kinh tế, ngành du lịch nước ta đã vàđang có những phát triển mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vị thế của mìnhtrong khu vực cũng như trên thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch đãthu hút một lực lượng lao động đông đảo đồng thời cũng mang lại nhiều lợiích to lớn về mặt kinh tế, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của tất cả cácngành kinh tế, tạo ra tích lũy ban đầu cho kinh tế quốc dân, là phương tiệnquan trọng để thực hiện giao lưu văn hóa Trong đó sự phát triển của ngành
du lịch các tỉnh ven biển đã đóng góp khá quan trọng vào sự phát triển kinh
tế, chiếm hơn 60% tổng thu từ du lịch của cả nước Lượng du khách đến khuvực ven biển Việt Nam tăng liên tục, chiếm gần 80% tổng lượng khách đi dulịch Tuy nhiên bên cạnh những đóng góp mà ngành du lịch biển mang lại là
sự gia tăng khối lượng lớn chất thải ra ngoài môi trường Nước thải, rác thảicủa khu dân cư gần các bãi tắm cũng như của nhà hàng, khách sạn chưa đượcthu gom, xử lý triệt để thải ra ngoài môi trường làm ảnh hưởng đến cảnhquan, môi trường tự nhiên và chất lượng nguồn nước tại các khu vực này
Theo Cơ quan Môi trường Châu Âu, trong những năm cuối thập niên
80 biển Adriatic ven biển đã bị ô nhiễm nặng nề bởi nước thải nông nghiệp và
du lịch, điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lượng du khách đến vùngbiển này và các khu nghỉ mát 7% nước thải vào vùng Địa Trung Hải là dongành du lịch [48]
Chất thải tồn đọng không được xử lý kịp thời sẽ dẫn đến nhiều hậu quảxấu đối với con người, làm ô nhiễm môi trường sống của con người, thậm chí
đã gây ra những vụ dịch trên phạm vi quy mô lớn Nền kinh tế - xã hội càngphát triển thì dân số tại các vùng đô thị, trung tâm công nghiệp cũng như dulịch càng tăng nhanh, lượng phế thải, rác thải càng nhiều, ảnh hưởng trực tiếp
Trang 9đền đời sống của con người gây ô nhiễm môi trường, gây bệnh tật, làm giảmsức khỏe cộng đồng Theo kết quả nghiên cứu từ Chương trình Môi trườngLiên hợp quốc cho thấy 50% trẻ em sống gần bãi rác có nồng độ chì trongmáu vượt quá tiêu chuẩn cho phép (10mg/dl); 46,9% trẻ mắc bệnh hô hấp;17,9% có vấn đề về đường ruột; 14,5% mắc các bệnh về da [49].
Tại Việt Nam, tỷ lệ phát sinh chất thải sinh hoạt cũng như chất thảicông nghiệp, y tế cũng đang ngày một gia tăng Hà Nội là một trong những đôthị lớn hàng đầu của đất nước cũng có đến 47,5% loại chất thải rắn khôngđược thu gom và xử lý kịp thời [3]
Thành phố Hải Phòng là một thành phố ven biển và là nơi có vị trí quantrọng về kinh tế, xã hội, công nghệ thông tin, an ninh, quốc phòng của vùngBắc Bộ Trong đó có quận Đồ Sơn là một quận dịch vụ du lịch, thu hút kháđông lượng du khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch và nghỉdưỡng Tuy nhiên cùng với sự phát triển đó là sự gia tăng lượng rác thải tạicác bãi biển, các khu du lịch … gây mất cảm quan trên địa bàn của quận cũngnhư gây ô nhiễm môi trường xung quanh và khu dân cư Vì vậy nhằm cungcấp thông tin về việc thu gom, xử lý rác thải cũng như nâng cao kiến thức,thực hành của nhân viên tại các nhà hàng, khách sạn của khu du lịch, giúp cảithiện điều kiện vệ sinh môi trường tại khu du lịch Quận, góp phần bảo vệ sức
khỏe cho cộng đồng dân cư, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Thực trạng và kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên nhà hàng khách sạn
về xử lý rác thải du lịch quận Đồ Sơn Hải Phòng năm 2015.
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng về thu gom, lưu giữ và xử lý rác thải tại bãi biển và nhà hàng, khách sạn quận Đồ Sơn Hải Phòng năm 2015.
2 Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên nhà hàng, khách sạn về thu gom, lưu giữ xử lý rác thải tại địa bàn nghiên cứu.
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về rác thải
1.1.1 Một số khái niệm [7]
Chất thải: là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của
con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giaothông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, kháchsạn Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của cácphương tiện giao thông đường bộ, đường thủy… Chất thải kim loại, hóa chất
và các loại vật liệu khác [7]
- Chất thải rắn (CTR): là toàn bộ các loại tạp chất được loại bỏ trong
các hoạt động kinh tế - xã hội (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt độngsống của con người) Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từhoạt động sản xuất và hoạt động sống [20]
- Rác thải sinh hoạt: là chất thải có liên quan đến các hoạt động sống
của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại [21]
- Thu gom chất thải rắn: Là những tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu
giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sởđược cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận
- Lưu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời
gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vậnchuyển đến cơ sở xử lý
- Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi
phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụnghoặc bãi chôn lấp cuối cùng
Trang 11- Hoạt động quản lý chất thải rắn: Bao gồm các hoạt động quy hoạch
quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại,thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằmngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻcon người
- Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ
thuật làm giảm, loại bỏ tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích, thuhồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn
1.1.2 Phân loại rác thải
Các loại chất thải rắn thải ra từ các hoạt động khác nhau được phânloại theo nhiều cách như vị trí hình thành (người ta phân biệt rác hay chấtthải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ ), theo thành phần hóahọc và vật lý (bao gồm các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, khôngcháy được, kim loại, phi kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo…), hoặctheo tính chất rác thải… Hiện nay, phân loại chất thải rắn thường dựa vào 2tiêu chí sau [1], [7], [21]
* Phân loại theo nguồn gốc tạo thành
Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH): là những chất thải liên quan đến các
hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơquan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt
có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao
su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre,
gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v…
Chất thải rắn công nghiệp: là các chất thải phát sinh từ các hoạt động
sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thảicông nghiệp gồm:
Trang 12- Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉtrong các nhà máy nhiệt điện;
- Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất;
- Các phế thải trong quá trình công nghệ;
- Bao bì đóng gói sản phẩm
Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất cát, gạch ngói, bê tông vỡ
do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình,… chất thải xây dựng gồm:
- Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng
- Đất đá do việc đào móng trong xây dựng
- Các vật liệu như kim loại, chất dẻo,…
Các chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lýnước thiên nhiên, nước thải sinh hoạt, bùn cặn từ các cống thoát nướcthành phố
Chất thải nông nghiệp: là những chất thải và mẫu thừa thải ra từ các
hoạt động nông nghiệp, như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sảnphẩm thải ra từ chế biến sữa, của các lò giết mổ Hiện tại, việc quản lý và xảcác loại chất thải nông nghiệp không thuộc về trách nhiệm của các công tymôi trường đô thị của các địa phương
* Phân loại theo mức độ nguy hại
Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại,
chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng
xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan…có nguy cơ đe dọa tới sức khỏengười, động vật và cây cỏ Nguồn phát sinh ra chất thải nguy hại chủ yếu từcác hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp [4]
Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất
và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tácthành phần
Trang 131.1.3 Tác hại của rác thải
1.1.3.1 Tác hại của rác thải đối với môi trường
Hiện nay do khối lượng rác thải phát sinh với một lượng quá lớn, ở cácđịa phương công tác thu gom xử lý và tiêu hủy đã và đang vượt quá năng lực.Điều này là nguyên nhân chủ yếu tác động xấu đến môi trường đất, nước,không khí và sức khỏe cộng đồng [7]
Đối với môi trường đất: Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không
được thu gom sẽ lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy nhưtúi nilon, vỏ lon, hydrocacbon làm thay đổi cơ cấu và ảnh hưởng tới hệ vi sinhvật đất Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa,… làm cho đất bị đóng cứng,khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa Bên cạnh đó là chất thảinguy hại chứa nhiều độc tố như hóa chất, kim loại nặng, chất phóng xạ,… nếukhông được xử lý đúng cách mà chỉ được chôn lấp như rác thải thông thườngthì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất cao [3], [20]
Theo kết quả nghiên cứu từ Chương trình Môi trường Liên hợp quốckhi xét nghiệm mẫu đất tại bãi rác Dandora ở Nairobi, Kenya cho thấy nồng
độ chì (Pb) trong các mẫu đất dao động 50-590 ppm và có 42% mẫu là cónồng độ trên 400 ppm; chỉ có một mẫu có nồng độ Pb là 50 ppm (tiêu chuẩntham chiếu ở Hà Lan và Đài Loan) [49]
Kết quả báo cáo của Bộ Tài nguyên & Môi trường (2011) [3] cũng chothấy mẫu đất xét nghiệm tại bãi rác Lạng Sơn và bãi rác Nam Sơn đều bị ô
nhiễm trường giun và coliform Tại bãi rác Lạng Sơn tỷ lệ nhiễm trứng giun
trong đất với giá trị thấp nhất là 5 trứng/100g và giá trị cao nhất là 15
trứng/100g; tỷ lệ nhiễm coliform thấp nhất là 40vk/10g; cao nhất là 2.000.000 vk/10g Tại bãi rác Nam Sơn tỷ lệ nhiễm coliform thấp nhất là 200vk/10g; cao
nhất 20.000.000vk/10g; tỷ lệ nhiễm trứng giun trong đất thấp nhất là 8 trứng/100g, 120 trứng/100g
Trang 14Đối với môi trường nước: Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu
ngày, khi gặp mưa các chất thải này sẽ theo dòng nước chảy và hòa lẫn trongnước, qua cống rãnh, ra ao hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt vàcác thủy vực Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thải có nguy
cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trongnước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước kém, dẫn đến ảnhhưởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khốicủa các thủy vực
Ở các bãi chôn lấp rác thải chất ô nhiễm nước rỉ rác là tác nhân gây ônhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suốilân cận Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đanước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên & Môi trường (2011) cho thấy HàNội tình trạng ô nhiễm amoni ở nước ngầm do hậu quả của nước rỉ rác và việc
xả rác bừa bãi đang là vấn đề đáng báo động Hầu hết các giếng khoan tại một
số khu vực như quận Hoàng Mai, Gia Lâm, Hai Bà Trưng đều có amoni vượttiêu chuẩn cho phép Hàm lượng amoni trong nước của nhà máy nước TươngMai là 7-10mg/l; nhà máy nước Hạ Đình 10-15mg/l, có lúc lên đến 40mg/l;nhà máy nước Pháp Vân là 25-30mg/l, có lúc lên đến 60mg/l [3]
Đối với môi trường không khí: Các trạm hoặc bãi trung chuyển rác xen
kẽ với khu vực dân cư là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi
từ rác, bụi cuốn lên khi xe rác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xethu gom, vận chuyển rác Đặc biệt tại các bãi chôn lấp chất thải rắn thì mùi hôithối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại gây ô nhiễmkhông khí
Kết quả nghiên cứu của Mohammad và nhóm cộng sự tại bãi chôn lấprác ở Jardan cho thấy trong quá trình chôn lấp rác đã thải ra 45%-60% khí
Trang 15metan, 40%-60% carbon dioxide, 2%-9% các khí khác phát tán vào môitrường không khí và các chất khí này gây mùi hôi thối bên trong và bên ngoàicác bãi chôn lấp [38].
1.1.3.2 Tác hại của rác thải đối với sức khỏe con người
Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng củachúng lên các thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tácđộng đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn Khi chôn lấp rác nếukhông áp dụng theo đúng các quy định về kỹ thuật chôn lấp và xử lý thì bãirác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh.Trong thành phần rác thải có rất nhiều chất độc, khi không được thu gom rácthải tồn đọng trong không khí lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con ngườixung quanh Những người thường xuyên tiếp xúc với rác thải, những ngườilàm công việc thu nhặt các phế liệu từ rác thải dễ mắc bệnh viêm phổi, sốt rét,các bệnh về mắt, tai, mũi, họng, [3], [35]
Rác thải còn tồn đọng tại các khu vực và bãi rác không hợp vệ sinh lànguyên nhân làm phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏecon người Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Mark BR và cộng sự cho thấy
tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếmtới 15,25% dân số Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ởphụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25% [36]
Nghiên cứu của tác giả Salam Abul tại bãi rác Golf Course thuộc thànhphố Manzini cũng cho thấy 44% người dân ở gần khu vực bãi rác và 18% ngườidân cách khu vực bãi rác không xa nhập viện vì sốt rét; 50% dân cư nhập viện vìđau ngực; 26% dân cư nhập viện vì tiêu chảy và 12% nhập viện vì phẩykhuẩn tả [44]
Theo kết quả nghiên cứu từ Chương trình Môi trường Liên hợp quốc(UNEP) cũng cho thấy các chất ô nhiễm từ bãi rác có ảnh hưởng xấu đến
Trang 16sức khỏe của một số trẻ em và thanh thiếu niên của vùng dân cư sống gầnkhu vực bãi rác Trong đó 46,9% trẻ mắc bệnh hô hấp; 17,9% có vấn đề vềđường ruột; 14,5% mắc các bệnh về da [49].
Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả George Rachiotis và cộng sựtại đô thị ở miền trung Hy Lạp (2012) [29] cho thấy tỷ lệ nhiễm viêm gan Atrong số những người thu gom rác đô thị là 61% và 27% với những ngườilàm vườn, sự khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,001.Nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy có sự liên quan giữa việc tiếp xúc chấtthải với người nhiễm viêm gan A với OR=2,87; CI95% = 1,24-6,62
1.1.3.3 Tác hại của rác thải làm giảm mỹ quan đô thị
Chất thải rắn, đặc biệt là rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom,vận chuyển đến nơi xử lý hoặc thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọcđường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnhhưởng đến mỹ quan đường phố, thôn xóm
Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của ngườidân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mươngrãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tácquản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ [3], [7]
1.1.4 Các biện pháp xử lý rác
1.1.4.1 Xử lý rác thải bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện dựa trên cơ sở toàn bộ rác thải tậptrung thu gom vào nhà máy Rác được phân loại bằng phương pháp thủ côngtrên băng tải, các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại,nilon, giấy, thủy tinh, plastic,… được thu hồi để tái chế Những chất còn lại sẽđược băng tải chuyền qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích làmgiảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành các kiện với tỷ số nén rất cao
Trang 17Các kiện rác đã ép nén này được sử dụng và việc đắp các bờ chắn hoặcsan lấp những vùng đất trũng sau khi được phủ lên các lớp đất cát.
Công nghệ xử lý rác thải bằng phương pháp ép kiện có thể minh họa qua
sơ đồ sau:
1.1.4.2 Xử lý rác thải bằng phương pháp ủ sinh học
Ủ sinh học (compost) có thể được coi như là quá trình ổn định sinh hóacác chất hữu cơ để thành các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát mộtcách khoa học, tạo môi trường tối ưu đối với quá trình
Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ là một phương pháp truyền thống,được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển và ở Việt Nam Phươngpháp này được áp dụng rất có hiệu quả Những đống lá hoặc đống phân có thể
để hàng năm và thành chất thải hữu cơ rồi thành phân ủ ổn định, nhưng quátrình có thể tăng nhanh trong vòng một tuần hoặc ít hơn Quá trình ủ có thểcoi như một quá trình xử lý - tốt hơn được hiểu và so sánh với quá trình lênmen yếm khí bùn hoặc quá trình hoạt hóa bùn Theo tính toán của nhiều tácgiả, quá trình ủ có thể tạo ra thu nhập cao gấp 5 lần khi bán khí mêtan của bểmêtan với cùng một loại bùn đó và thời gian rút ngắn lại một nửa Sản phẩm
Rác
thải Phể nạp rác Băng tải rác
Phân loại
Các khối kiện
sau khi ép
Máy ép rác
Băng tải thải vật liệu
Kim loại
Thủy tinh
Giấy
Nhựa
Trang 18cuối cùng thu được không có mùi, không chứa vi sinh vật gây bệnh và hạt cỏ.
Để đạt được mức độ ổn định như lên men, việc ủ đòi hỏi một phần nhỏ nănglượng để tăng cao dòng không khí qua các lỗ xốp, ẩm của khối coi như mộtmáy nén thổi khí qua các tấm xốp phân tán khí trong bể aeroten - bùn hoạttính Trong quá trình ủ, oxy sẽ được hấp thụ hàng trăm lần và hơn nữa so với
ở bể aeroten Quá trình ủ áp dụng đối với chất hữu cơ không độc hại, lúc đầu
là khử nước, sau là xử lý cho tới khi nó thành xốp và ẩm Độ ẩm và nhiệt độđược kiểm tra để giữ cho vật liệu luôn luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốtthời gian ủ Quá trình tự tạo ra nhiệt riêng nhờ quá trình oxy hóa sinh hóa cácchất thối rữa Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy là CO2, nước và cáchợp chất hữu cơ bền vững như lignin, xenlulô, sợi
1.1.4.3 Xử lý rác thải bằng phương pháp đốt
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng cho một số loại rác nhất định khôngthể xử lý bằng các phương pháp khác Đây là một giai đoạn oxy hóa nhiệt độcao với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó các rác độc hại đượcchuyển hóa thành khí và các chất thải rắn khác không cháy Các chất khí đượclàm sạch hoặc không được làm sạch thoát ra ngoài không khí Chất thải rắnđược chôn lấp
Phương pháp đốt rác được sử dụng rộng rãi ở những nước như Đức,Thụy Sĩ, Hà Lan, Đan Mạch, Nhật Bản, đó là những nước có số lượng đất chocác khu thải rác bị hạn chế Đặc điểm chung của chất thải rắn đô thị ở nhữngnước này là có năng suất tỏa nhiệt cao (điển hình hơn 9000KJ/kg), phát sinh
từ một loại giấy cao cấp, các chất dẻo và thành phần các chất dễ bắt lửa khác,một số thành phần có độ ẩm thấp (khoảng 35%) và một phần các nguyên liệutrơ (như gạch đá vụn, đất) và nhiều vật liệu không cháy khác
Việc xử lý rác bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng là làmgiảm tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu sử dụng công
Trang 19nghệ tiên tiến, còn có ý nghĩa cao bảo vệ môi trường Đây là phương pháp xử
lý rác tốn kém nhất so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh thì chi phí đểđốt một tấn rác cao hơn khoảng 10 lần
Công nghệ đốt rác thường áp dụng ở các quốc gia phát triển vì phải cómột nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thu đốt rác sinh hoạt như là mộtdịch vụ phúc lợi xã hội của toàn dân Tuy nhiên đốt rác sinh hoạt bao gồmnhiều chất khác nhau sinh khói độc và dễ sinh đioxin nếu việc xử lý khóikhông tốt (phần xử lý khói là phần đắt nhất trong công nghệ đốt rác)
Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cáccông nghiệp cần nhiệt và phát điện Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệthống xử lý khí thải rất tốn kém, nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quátrình đốt có thể gây ra
1.1.4.4 Xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp
Trong các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn, chôn lấp làphương pháp phổ biến và đơn giản nhất Phương pháp này được áp dụng rộngrãi ở hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam [17] Đặc điểm củaphương pháp này là lưu giữ chất thải trong một bãi và có phủ đất lên trên.Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh họcbên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axithữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4
Chất thải rắn được chấp nhận chôn lấp tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tất
cả các chất thải không nguy hại, có khả năng phân hủy tự nhiên theo thờigian, bao gồm:
Rác thải gia đình
Rác thải chợ, đường phố
Giấy, bìa, cành cây nhỏ và lá cây
Tro, củi gỗ mục, vải, đồ da (trừ phế thải da có chứa crôm)
Rác thải từ văn phòng khách sạn, nhà hàng ăn uống
Trang 201.2 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý chất thải
Lượng rác thải phát sinh ở mỗi khu vực tùy thuộc vào mức tăng trưởngkinh tế và quá trình đô thị hóa Vấn đề chất thải rắn không chỉ là thách thứcvới môi trường Việt Nam mà với cả các nước trên thế giới cũng phải đối mặt.Các khu vực đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chấtthải rắn đô thị Đến năm 2015 con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày Tỷ lệchất thải sinh hoạt trong chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nước [45].Theo ước tính tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc; 78% ở Hồng Kông;48% ở Philippin; 37% ở Nhật Bản và 80% ở Việt Nam [52]
Ở Malaysia, giống như các nước đang phát triển khác cũng đang phảiđối mặt với sự gia tăng của chất thải và các vấn đề về xử lý chất thải này Tỷ
lệ phát sinh chất thải tại đây vào khoảng 16.000 tấn mỗi ngày và bình quânlượng rác thải phát sinh là khoảng 1 kg/người/ngày [50]
Tại Jordan, lượng rác thải ước tính trung bình vào khoảng 1.960.000tấn mỗi năm tại vùng đô thị và 0,85 kg/ngày đối với vùng nông thôn và biệnpháp xử lý chủ yếu ở đây là chôn lấp tuy nhiên sự ô nhiễm khí và nước rò rỉ
từ bãi rác vào môi trường đang là mối quan tâm tại đây [38]
Thường thì các nước có thu nhập cao sẽ có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn
đô thị cao Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây ở các nước phát triển cho thấy,
tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo các mức thu nhập khác nhau lại không theonguyên tắc này Theo kết quả nghiên cứu tại một số nước Châu Á cho thấy tỷ
lệ phát sinh chất thải rắn đô thị ở Philipin theo các nhóm người có thu nhậpkhác nhau: thu nhập cao là 0,37-0,55 kg/người/ngày; thu nhập trung bình0,37-0,6kg/người/ngày và thu nhập thấp là 0,62-0,9 kg/người/ngày [51]
Nghiên cứu của tác giả Imad A.Khatib (2011) [30] cho thấy tổng lượngrác thải phát sinh có mối tương quan với tổng số GDP, thu nhập bình quânđầu người và dân số Nước có thu nhập thấp với GDP bình quân đầu người
Trang 21khoảng 5.000USD có tốc độ phát sinh chất thải là 0,3-0,9 kg/người/ngày Ởcác quốc gia có thu nhập cao khoảng 45.000USD thì lượng chất thải phát sinhvào khoảng 1,4-2,0 kg/người/ngày.
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Jun Dong và cộng sự tạiHàng Châu, Trung Quốc (2014) [32] cho thấy sự phát triển công nghiệp và đôthị hóa đã tăng lượng rác thải vào môi trường, hàng năm có khoảng158.050.000 tấn rác thải đô thị đưa vào môi trường Hình thức xử lý ở đâychủ yếu là chôn lấp rác chiếm 79,4%; tiếp theo là đốt chiếm 18,8% và ủ là1,8% Thành phần chất thải rắn chủ yếu là rác thải từ nhà bếp chiếm 58,15%;tiếp theo là nhựa và cao su chiếm 18,81% và giấy là 13,27%; các thành phầnkhác như thủy tinh, kim loại, vải vụn, gốm chiếm tỷ lệ rất thấp
Thành phần chất thải rắn đô thị có xu thế thay đổi do tốc độ tăng trưởng
và đô thị hóa nhanh, nhưng nhìn chung chất hữu cơ vẫn là thành phần chínhtrong các dòng chất thải rắn đô thị Do mức sống của nhiều nước trong khuvực được cải thiện nên thành phần giấy và nhựa tổng hợp trong chất thải ngàycàng tăng Thành phần giấy trong chất thải của Đài Loan và Nhật Bản chiếm30% tổng lượng chất thải rắn đô thị Một số nước có thu nhập cao khác cũng
có tỷ lệ giấy trong chất thải cao Các nước như Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ do
sử dụng than làm nhiên liệu chủ yếu để đốt và sưởi, cho nên thành phần xỉ/trorất lớn trong các dòng chất thải của hai nước này [52]
Bên cạnh lượng chất thải phát sinh tại các đô thị, khu dân cư là sự gia tăng
về khối lượng rác thải của ngành du lịch Lượng du khách đến khu vực ven biểnViệt Nam tăng liên tục chiếm gần 80% tổng lượng khách du lịch, chính vì vậy
đã làm gia tăng lượng rác thải vào môi trường Trong kết luận cuộc họp gần đây
về điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển, Nhà nước ta cũng đưa ra hướngyêu cầu các bộ ngành điều tra tổng thể đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy, hảisản Việt Nam, quy hoạch và xây dựng hệ thống các khu bảo tồn biển phục vụphát triển bền vững [19]
Trang 22Nghiên cứu của nhóm tác giả Châu Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Minh Hiền
về đánh giá phát triển du lịch biển đảo bền vững Vịnh Bái Tử Long (2014) chothấy lượng rác thải hàng năm có xu hướng tăng nhanh, năm 2007 lượng rác thải
từ hoạt động du lịch là 628,2 tấn thì đến năm 2013 lượng này tăng lên 1830,6 tấngấp 3 lần so với năm 2007 Thành phần rác thải chủ yếu là bao bì giấy bánh kẹo,
vỏ chai nhựa, bao bì nilon, các loại bao bì nước giải khát, thức ăn thừa của khách
du lịch Công tác thu gom xử lý rác thải trên Vịnh hầu như chỉ mang tính chấtthủ công, rác chủ yếu chỉ thu gom tập kết thành bãi mà không xử lý Lượngnước thải cũng có mức tăng trưởng bình quân hàng năm cũng khá cao (18,7%).Nước thải từ hoạt động du lịch tại các cơ sở ở Vịnh Bái Tử Long chủ yếu chỉ xử
lý thô sơ, cho lắng đọng sau đó thải luôn ra môi trường biển [15]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Florin Constantln Mihal về các chất thảiphát sinh trong du lịch và chất thải phát sinh trong sinh hoạt của hộ gia đình ởkhu vực Neamt thuộc Romania cho thấy có sự khác nhau về lượng chất thải phátsinh ở những vùng có lượng khách du lịch đến với những vùng chủ yếu là chấtthải từ các hộ gia đình, mặc dù lượng rác thải du lịch không nhiều, nhưng lượngrác thải ở một số vùng có lượng khách du lịch đến như Alexandru cel Bun,Agapia, Ceahlau tăng so với vùng khác là 4,2%; Baltatesti là 5,1% [28]
Theo kết quả báo cáo của Bộ du lịch Cộng hòa Maldives cho thấykhoảng 860 tấn rác thải mỗi ngày tại Maldives, trong đó 21% chất thải rắn là
từ du lịch Ước tính có khoảng 134 tấn chất thải rắn được thải ra từ 101 khunghỉ dưỡng ở Maldives, trong đó chất thải hữu cơ chiếm 89%; kim loại vànhựa chiếm 3% Thành phần chính của chất thải này là thực phẩm (chiếm40%); cành cây từ khu nghỉ dưỡng chiếm 38% Bên cạnh chất thải từ các khunghỉ dưỡng còn có lượng chất thải hữu cơ từ các thuyền thám hiểm ước lượngkhoảng 8 tấn rác thải [37]
Trang 23Nghiên cứu của tác giả K.Mythili tại điểm du lịch của Bắc ven biểnAndhra Pradesh Ấn Độ (2013) cho thấy lượng rác thải phát sinh hàng tuần tạikhu du lịch là 9800kg trong đó 50% chai nhựa; 40% vỏ dừa, vỏ chuối và 10%
là giấy [33]
Về việc thu gom và xử lý chất thải rắn, đối với các nước châu Á, chôn lấpchất thải vẫn là phương pháp phổ biến để tiêu hủy chất thải rắn vì chi phí rẻ.Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp tới 90% Vấn đề ủ rác thải tại Ấn Độ chỉchiếm khoảng 10-12% Các bãi chôn lấp chất thải được chia làm 3 loại: bãi đổ
hở hay lộ thiên, bãi chôn lấp bán vệ sinh và bãi chôn lấp hợp vệ sinh Các bãichôn lấp hợp vệ sinh thường thấy ở các nước có thu nhập cao, trong khi đó bãi
đổ hở phổ biến ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, với sự phát triển của xãhội hiện nay cùng với sự gia tăng dân số, quỹ đất bị thu hẹp dần, cộng với bãi rácthải phải cách xa khu dân cư nên việc tìm được những bãi chôn lấp rác thải hợp
vệ sinh là điều rất khó khăn cho nhiều nước trên thế giới [40], [45], [51]
Tại Hàn Quốc, việc quản lý chất thải cũng giống như một số nước pháttriển như Trung Quốc, Nhật Bản, cũng đang tìm dần cách loại bỏ các bãi chônlấp, đẩy nhanh quá trình giảm phát sinh chất thải Hiện nay, phương án HànQuốc đưa ra là xây dựng lò đốt để giảm số lượng các bãi chôn lấp [34] Bêncạnh đó rác hữu cơ nhà bếp một phần được dùng làm giá thể trồng nấm thựcphẩm, một phần được chôn lấp có kiểm soát để thu hồi khí biogas từ hố chôncung cấp cho phát điện Sau khi rác tại hố chôn phân hủy hết thì tiến hành khaithác mùn bãi chôn làm phân bón và tái chôn lấp cho chu kỳ sau [43]
Ở Việt Nam đã có những bước phát triển với tốc độ nhanh chóng cả vềcông nghiệp, nông nghiệp và thương mại dich vụ, đời sống của nhân dânđược cải thiện rõ rệt Cùng với sự phát triển đó, vấn đề ô nhiễm môi trườngcũng ngày càng trở nên bức xúc, ô nhiễm trong sản xuất công nghiệp, nôngnghiệp và đặc biệt là ô nhiễm rác thải rắn sinh hoạt tại các địa phương Tình
Trang 24trạng rác thải rắn sinh hoạt, nước rỉ từ rác là một trong nhiều vấn đề cấp báchcần giải quyết ở các thành phố lớn của nước ta hiện nay Việc chất thải tồnđọng, không được xử lý kịp thời, đúng cách sẽ dẫn đến những hậu quả xấuđối với con người, làm ô nhiễm môi trường sống, thậm chí là gây ra những vụdịch trên qui mô lớn, khó có thể dập tắt được gây tổn hại nặng nề về sức khoẻ
và kinh tế Một nghiên cứu tại Thái Bình cho thấy 75,1% hộ gia đình khôngbao giờ phân loại rác trước khi đổ [11]
Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011) cũng cho thấy trongmùa lễ hội tại Chùa Hương, số lượng rác thải lên tới 5,4 tấn/ngày, còn cácngày khác trong năm chủ yếu là số lượng rác xả từ hộ gia đình và các quán ănuống dọc hai bên đường vào bến Thiên Trù và trong 5,4 tấn rác được thải rathì có 2,79 tấn rác được địa phương thu gom còn lại 2,69 tấn rác chưa đượcthu gom [3]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ái về thực trạng rácthải sinh hoạt tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân của tỉnh Hà Nam chothấy 86,1% lượng rác thải sinh hoạt ở đây là túi nilon; 48,3% là rau, thựcphẩm, chất hữu cơ dễ phân hủy Lượng rác thải sinh hoạt trung bình trên mộtngày của các hộ gia đình dao động từ 1-2 kg/ngày và hình thức xử lý rác thải
ở đây chủ yếu là đốt tại nhà chiếm 45,4% [2]
Ở hầu hết các đô thị, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt chiếm 80% tổnglượng chất thải rắn đô thị Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn MinhPhương tại thành phố Đà Nẵng cho thấy tổng lượng chất thải rắn sinh hoạtphát sinh trong một năm là 654.773 tấn, trong đó chất thải rắn sinh hoạt đô thị
là 203.516 tấn; chất thải rắn công nghiệp là 4.500 tấn; chất thải sinh hoạt phátsinh từ ngành y tế là 1.257 tấn [14]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Hoàng và cộng sự tạikhu vực Nam sông Hương thành phố Huế (2010) [10] cho thấy thành phố Huế,
Trang 25thành phố Festival nên lượng khách du lịch đến nơi này càng ngày càng tăngkèm theo là lượng chất thải rắn phát sinh tại đây trung bình từ 8 đến 10% mỗinăm và tỷ lệ thu gom chất thải rắn đạt 95% trên toàn địa bàn Hình thức thu gomcủa thành phố chủ yếu là thu gom thủ công và thủ công kết hợp cơ giới Tại địabàn nghiên cứu hiện có 239 thùng rác trong đó 23% số thùng bố trí phù hợp vớilượng rác thải phát sinh; 58% thùng rác trong tình trạng quá tải; 17% thùng chứa
ít rác và 2% thùng rác không sử dụng
Hiện nay rác thải hầu như không được phân loại tại nguồn mà thu gom lẫnlộn với các loại rác thải khác và vận chuyển đến bãi chôn lấp Tỷ lệ thu gomtrung bình tại các đô thị trên cả nước đạt 85%, ở khu vực nông thôn chỉ đạtkhoảng 40-50%, trong khi đó lượng chất thải hàng năm phát sinh trên 5% Tỷ lệ
xử lý CTR bằng phương pháp chôn lấp còn cao (chiếm 60%), trong khi đó chỉ
có 16/98 bãi chôn lấp chất thải tập trung được coi là hợp vệ sinh Việc triển khaicác chương trình 3T (Tiết giảm, tái sử dụng, tái chế) mới chỉ dừng ở mô hìnhtrình diễn thí điểm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và TP Đà Nẵng [16]
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Thị Mỹ Diệu và cộng sự vềhiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng chothấy lượng rác thải phát sinh ở khu dân cư vào khoảng 1.334 tấn/ngày, trong đó
có 3% từ các khu thương mại, du lịch Chất thải rắn sinh hoạt từ các nguồn nàysau khi thu gom được tập trung tại các điểm hẹn sau đó đưa đến bãi rác tậptrung Toàn tỉnh hiện có 2 trạm trung chuyển và một bãi tập kết, hình thức xử lýchủ yếu là chôn lấp Tỷ lệ người dân tham gia thu gom rác ở các huyện rất thấp(dưới 60%), đặc biệt là huyện Phú Giáo chỉ đạt 16% [8]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013) chothấy tổng lượng CTRSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình10-16% mỗi năm, dự báo năm 2020 tăng 2,37 lần và năm 2025 tăng 3,2 lần sovới năm 2010 Tỷ lệ thu gom ở các đô thị tăng từ 72% năm 2004 lên 83-85%
Trang 26năm 2010 nhưng vẫn còn khoảng 15-17% CTR đô thị bị thải bỏ bừa bãi gây ônhiễm môi trường Các hình thức xử lý ở Việt Nam hiện nay vẫn là chôn lấp,nhiều đô thị hình thức thu gom thô sơ, không có nắp đậy, gây ô nhiễm môitrường, mất mỹ quan đô thị [9].
1.3 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành về thu gom, lưu giữ và xử lý rác thải
Để giải quyết tốt vấn đề rác thải bên cạnh việc thực hiện các biện pháp xử
lý thì cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng Việc huy động cộng đồng dân
cư tham gia quản lý và bảo vệ môi trường là cần thiết vì sẽ gắn kết được quyềnlợi được hưởng với trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với môi trường sống.Đồng thời giúp Nhà nước tăng được hiệu lực quản lý và hiệu quả kinh tế trongvấn đề vệ sinh bảo vệ môi trường
Nghiên cứu của tác giả Salam Abul tại thành phố Manzini cho thấy28% người dân cho rằng các bãi rác làm cho môi trường ô nhiễm; 20% ngườicho rằng làm tăng lượng chất thải vào môi trường; 15% là nguyên nhân gâybệnh nhưng vẫn còn 37% người dân không biết bãi rác ảnh hưởng như thếnào đến môi trường và sức khỏe con người Khi hỏi nên sử dụng phương phápnào để xử lý rác thì 24% người dân cho rằng cần đốt chất thải; 48% cho rằngnên di chuyển bãi rác ra xa khu dân cư; và 28% cho rằng cần quản lý bãi rácđúng cách [44]
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Foday Pinka Sankoh và cộng
sự (2013) tại thành phố Freetown ở Sirerra [23] cho thấy 33,7% người dân thugom rác mang đến bãi rác; 29% người dân vứt rác vào cống rãnh và trên đường;12,8% cho vào túi nilon và chỉ có 9% người dân thu gom rác vào thùng
Nghiên cứu của tác giả Jittree Pothimamaka về phân loại rác thải tại
400 hộ gia đình tại quận Bang Sue, Thái Lan [31] cho thấy 51% hộ gia đìnhkhông phân loại rác thải và lý do họ đưa ra là thiếu túi phân loại rác thải
Trang 27(69%); phiền hà, lãng phí (31%) Về nhu cầu phân loại rác thải có 49% hộ giađình cho rằng cần thiết tách rác thải làm 3 loại; 28% cần thiết tách thành 2loại và 18% là tách thành 4 loại
Một nghiên cứu được thực hiện tại vùng Cape Town, Nam Phi của nhómtác giả Thashlin Govender và cộng sự (2011) cho thấy khoảng 15% số hộ giađình vứt bỏ rác trong cống nước; 49% chất thải rắn (phần lớn là thủy tinh) vứtxung quanh nhà và 6% rác được thu gom và xử lý [47]
Nghiên cứu của tác giả Ramatta Massa Yoada và cộng sự về nhận thức vàthực hành của hộ gia đình về xử lý rác thải tại khu vực Accra (2014) [42] chothấy 93,1% hộ gia đình vứt bỏ thức ăn thừa và 77,8% xử lý chất thải, 61,0% hộgia đình cho rác vào thùng thu gom của đội thu gom đô thị và 39,0% xử lý chấtthải bằng cách vứt vào cống rãnh, đường phố hoặc các bụi cây gần nhà Khoảng83% số người được hỏi là cho là quản lý chất thải không đúng cách là nguyênnhân gây bệnh và đa số những người được hỏi cho rằng quản lý chất thải khôngđúng cách có thể dẫn đến bệnh sốt rét và tiêu chảy
Tại Malaysia, nghiên cứu của tác giả Elmira Shamshiry và cộng sự về môhình quản lý chất thải rắn tại khu du lịch đảo Langkawi (2011) cho thấy 34,8%người dân quanh khu vực này cho rằng quản lý không đúng chất thải rắn trong
du lịch ở đây sẽ góp phần ô nhiễm môi trường và dẫn đến sự ô nhiễm các nhánhsông Kilim; 23,2% cho rằng việc quản lý chất thải rắn không tốt sẽ hạn chếlượng khách đến du lịch; 12,4% cho rằng ô nhiễm đất, nước; 16,4% giảm mỹquan môi trường và 13,2% gây mùi hôi thối ra môi trường Khoảng 37% ngườidân cho rằng cần có một nhu cầu để thu hút công chúng trong việc quản lý chấtthải rắn; 20,2% cho rằng cần có những thực thi pháp luật để quản lý chất thải và7,8% cho rằng cần có một khoản thu phí hoặc trả tiền khi gây ô nhiễm, nghĩa là
“người gây ô nhiễm phải trả tiền” [26]
Trang 28Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Dr.M.O Agwu và cộng sự tạithành phố Port-Harcourt, Nigeria cho thấy 44,3% nông thôn và 28,8% ngườidân tại thành phố này rất quan tâm cũng như quan tâm đến sự ảnh hưởng củachất thải rắn đến môi trường; 59,4% quan tâm việc quản lý chất thải rắn;33,2% cho biết người dân hài lòng với phương thức xử lý chất thải rắn hiệnnay của địa phương [25].
Một kết quả nghiên cứu khác tại thành phố Owerri, tiểu bang Imo,Nigeria cho thấy 90% người dân được hỏi đều biết về quản lý chất thải và97,5% có thái độ tích cực về việc quản lý chất thải; 98,9% người dân cho rằngcần tái chế chất thải; 94,7% cho rằng phương pháp xử lý là đốt; 71,6% làchôn lấp Kết quả cũng cho thấy 66,3% người dân thực hành là tái chế chấtthải; 62,5% đốt chất thải; 25,9% chôn lấp và 9,2% là ủ Nghiên cứu cũng chothấy có có sự khác nhau về kiến thức, thực hành của người dân về phươngpháp xử lý chất thải với giới tính và trình độ học vấn (p<0,05) [41]
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Norasmah Othman và cộng sự tạikhu du lịch Pantai Cahaya Bulan ở Kota Bharu, Kelantan, Malaysia cho thấynhận thức của khách du lịch về hoạt động kinh doanh của khu du lịch đối vớimôi trường cho thấy khách du lịch đánh giá ô nhiễm bởi rác là cao nhất với sốđiểm trung bình là 4,13; tiếp theo là ô nhiễm nước bởi nước thải khu du lịchvới điểm trung bình là 3,72 [39]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đinh Minh Sơn tại 3 xã Tiền Hải, TháiBình (năm 2011) cho thấy 93,2% người dân biết tác hại của rác thải gây ô nhiễmmôi trường; 56,4% biết rác thải ảnh hưởng không nhỏ đối với sức khỏe conngười Kết quả của tác giả cũng cho thấy 83,1% số hộ gia đình xử lý rác thảibằng hình thức đổ rác ra vườn; 84,9% số hộ xử lý rác bằng hình thức đốt; 79,4%
đổ rác ra bãi rác tập kết chung của xã để đội vệ sinh môi trường thu gom; 22,6%
đổ rác ra đường [13]
Trang 29Nghiên cứu của tác giả Mai Thế Hưng (2010) tại thành phố Thái Bìnhcho thấy 91,2% người dân biết rác thải là nguồn gây ô nhiễm môi trường;64,1% biết lợi ích của việc phân loại rác thải là giúp giảm nguy cơ ô nhiễmmôi trường và thuận lợi cho quá trình xử lý; tuy nhiên chỉ có 6,9% là gia đìnhthực hiện phân loại rác tại nguồn [11].
Một kết quả nghiên cứu khác của nhóm tác giả Phùng Khánh Chuyên,Ngô Vân Thụy Cẩm (2010) tại một số trường học tại thành phố Đà Nẵng [5]cho thấy số lượng học sinh phân biệt được hai loại rác hữu cơ và vô cơ chiếm
tỷ lệ rất thấp, chỉ có 6% học sinh tiểu học; 18,5% số học sinh cấp II; 29,3% sốhọc sinh cấp III phân biệt được Tỷ lệ học sinh cho rằng rác là thứ bỏ đi chiếmrất cao đến 78,1% ở học sinh tiểu học; 35,5% ở học sinh cấp II và 38,1% ởhọc sinh cấp III
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Hải Phòng là một thành phố cảng lớn nhất phía miền Bắc, phía Bắcgiáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáptỉnh Thái Bình, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông - cách huyệnđảo Bạch Long Vĩ khoảng 70 km Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 của ViệtNam sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, đồng thời là 1 trong 5 thànhphố trực thuộc Trung ương, đô thị loại I trung tâm cấp quốc gia Dân số HảiPhòng là 1.907.705 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cưnông thôn chiếm 53,9%; là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam Toàn thànhphố có 15 đơn vị hành chính gồm 8 huyện và 7 quận Hải Phòng là đầu mốigiao thông đường biển phía Bắc và là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế, xãhội, công nghệ thông tin và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước,trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc Vớilợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trongnhững động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Thành phố
là một cực tăng trưởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội,Hải Phòng và Quảng Ninh Hải Phòng có nhiều khu công nghiệp, thương mạilớn và trung tâm dịch vụ du lịch giáo dục y tế và thuỷ hải sản của vùng duyênhải Bắc Bộ Việt Nam
Nghiên cứu được thực hiện tại quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.Đây là 1 trong 15 quận, huyện thuộc Thành phố Hải Phòng Quận nằm ở phíađông nam thành phố, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km; phía tây và tâybắc giáp với huyện Kiến Thụy Đồ Sơn có diện tích đất tự nhiên là 4.237,29ha; dân số trung bình là 54.860 người; gồm có 7 phường
Trang 31Đồ Sơn là quận trọng điểm về kinh tế văn hoá xã hội của Thành phố HảiPhòng với cụm kinh tế chủ yếu khu công nghiệp Đồ Sơn: Cụm kinh tế khu dulịch biển; Cụm kinh tế đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản Tốc độ tăng trưởngkinh tế của quận trong những năm gần đây luôn đạt mức 15 - 20%/năm, thunhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 25 triệu đồng/người/năm An ninhchính trị ổn định về kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển hơn so với các quậnkhác trong Thành phố Tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển kinh tế.Trên địa bàn toàn quận Đồ Sơn hiện có 176 nhà hàng, khách sạn Trong đó sốnhà hàng, khách sạn đang hoạt động trong khu du lịch là 143 và số lượt khách
du lịch năm 2014 đến quận Đồ Sơn là 2,3 triệu lượt khách, dự kiến năm 2015
là 2,5 triệu lượt khách
Thực trạng việc thu gom vận chuyển và xử lý rác thải tại quận Đồ Sơn
do một Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên công trình công cộng &dịch vụ du lịch Hải phòng (CTTNHH một thành viên Công trình công cộng &DVDLHP) đảm nhiệm việc thu gom vận chuyển và xử lý Tổng lượng rác thảirắn sinh hoạt của quận Đồ Sơn là 61.000 tấn rác/năm Cùng với lượng rác thảiphát sinh ở các hộ gia đình và 548 hàng ăn, tạp hóa, cơ quan,… lượng rác thảithu ước đạt 11.800 tấn/năm Khu du lịch được chia làm 2 mùa và ước tínhtrong mùa du lịch lượng rác thải phát sinh tại các nhà hàng là 2,03 - 2,5tấn/nhà hàng; tại khách sạn là 2,7 - 3,5 tấn/năm Ngoài mùa du lịch thì lượngrác thải tại các nhà hàng là 800 kg/nhà hàng và tại các khách sạn là 1.300 tấn/năm
Thực trạng rác thải tại tại 03 bãi tắm biển I, II, II, trong khu du lịch ĐồSơn: Nguồn rác thải phát sinh tại bãi tắm biển Từ khách du lịch, các quánhàng kinh doanh cố định trên bãi biển, các điểm kinh doanh di động, ngườibán hàng rong, rác từ biển dạt vào và cành lá cây dọc theo bãi biển,
Trang 32Thành phần rác tại bãi tắm biển là rác tổng hợp giống như rác thải sinhhoạt và đặc biệt lượng rác thải tại bãi tắm biển là phụ thuộc theo mùa du lịch
và lượng rác thải có tỷ lệ thuận với lượng khách thăm quan và tắm biển
Việc thu gom vận chuyển và xử lý rác thải tại 03 bãi tắm biển I, II, II,trong khu du lịch Dọc theo bờ biển cách 50m Công ty trách nhiệm hữu hạn 1thành viên công trình công cộng & dịch vụ du lịch Hải Phòng có đặt mộtthùng đựng rác có nắp đậy, các hộ kinh doanh trên khu vực bãi biển đều cóthùng rác và tự thu góm rác trong vị trí được sử dụng Bãi tắm khu I và II domột Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên công trình công cộng & dịch
vụ du lịch Hải phòng quản lý Công ty đã bố trí 20 người thu gom rác chuyênnghiệp tại hai khu, ở khu I là 05 người và khu II là 15 người thường xuyên thugom rác tại bãi tắm biển Bãi tắm khu III do Công ty du lịch dịch vụ Hải phòng
và Công ty liên doanh du lịch Quốc tế Hòn Dấu quản lý việc thu gom rác tại bãitắm này do hai đơn vị đảm nhiệm và thu gom Toàn bộ rác của 03 bãi tắm đều
do Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên công trình công cộng & dịch vụ
du lịch Hải Phòng thu gom và vận chuyển về bãi rác của quận tần suất thu gom
là 2 lần/ngày trong mùa du lịch và 1 lần/ngày ngoài mùa du lịch
Hiện nay, quận Đồ Sơn có 380 xe gom rác là xe đẩy tay; 3 xe tải vậnchuyển rác và 7 chiếc xe ép rác chuyên dụng, 110 công nhân thu gom Đốivới các hộ gia đình trong khu dân cư tần suất thu gom là 1 lần/ngày, còn đốivới các khách sạn, nhà hàng tần suất thu gom là 2 lần/ngày trong mùa du lịch
và 1 lần/ngày ngoài mùa du lịch
Quy trình thu gom, vận chuyển rác thải ở quận Đồ Sơn
Qu
Nguồn Thu gom Điểm tập
kết
Vận chuyển
Bãi chôn lấp
Trang 33Quy trình xử lý rác của quận Đồ Sơn được xử lý bằng biện pháp chônlấp Bãi rác Đồ Sơn được đưa vào sử dụng năm 2006 với diện tích sử dụng1,8ha; vị trí nằm về phía Tây Bắc trung tâm quận, tại phường Ngọc Xuyên -quận Đồ Sơn Rác thải vận chuyển ra bãi rác được san ủi vào cuối ca, đồngthời rắc vôi bột, phun hóa chất diệt côn trùng (PERME UK 50 EC) và sanphủ Duy trì thường xuyên vận hành xử lý nước rỉ rác 1 lần/tuần.
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Bãi tắm biển Đồ Sơn
- Nhà hàng, khách sạn trong khu du lịch Quận Đồ Sơn
- Tiêu chuẩn loại trừ đối với đối tượng phỏng vấn
+ Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2015 đến tháng 9/2015
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả dựa trêncuộc điều tra cắt ngang để mô tả thực trạng rác thải bãi biển và việc thu gom,lưu giữ, xử lý rác thải rắn tại các nhà hàng, khách sạn quận Đồ Sơn Đồngthời phỏng vấn để xác định kiến thức, thực hành của nhân viên nhà hàng,khách sạn về thu gom, lưu giữ và xử lý rác thải rắn Tiến hành cân địnhlượng khối lượng rác thải, sử dụng bảng kiểm và tính toán ước lượng rác thảitại các nhà hàng, khách sạn để mô tả thực trạng thu gom, lưu giữ và xử lý rác
Trang 34thải tại đây Điều tra phỏng vấn nhân viên khách sạn, nhà hàng qua bộ câu hỏiđược xây dựng trước để tìm hiểu kiến thức, thực hành về thu gom, lưu giữ và
- Chọn đối tượng nghiên cứu
+ Tại quận Đồ Sơn có 143 nhà hàng, khách sạn đang kinh doanh trongkhu du lịch, chúng tôi chọn toàn bộ 143 nhà hàng, khách sạn này vào nghiêncứu để tiến hành định lượng rác thải đồng thời điều tra quan sát để đánh giáthực trạng việc thu gom, lưu giữ và quản lý chất thải tại các nhà hàng này
+ Chọn đối tượng phỏng vấn: Từ 143 nhà hàng, khách sạn có 596 nhânviên Chúng tôi tiến hành chọn đối tượng theo cách như sau: những nhà hàng
có 1-3 người chúng tôi chọn ngẫu nhiên 1-2 đối tượng, nhà hàng có từ 4-6người thì chọn 3 người, nhà hàng từ 6 người trở lên chọn 4-5 người cho đếnkhi đủ cỡ mẫu nghiên cứu Như vậy tất cả nhà hàng khách sạn đều có ngườiđược phỏng vấn
2.2.2.2 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu điều tra phỏng vấn: được áp dụng theo công thức tính cỡ
mẫu nghiên cứu tỷ lệ:
n= 2 2
2 /
) 1 (
e
p p
- n: Cỡ mẫu nghiên cứu
- /2: Độ tin cậy lấy ở ngưỡng = 0,05; Z/2 = 1,96
- p: được chọn là 0,5 (Tỷ lệ nhân viên nhà hàng có kiến đúng về rácthải du lịch)
Trang 35- e: Độ sai lệch mong muốn theo p, trong nghiên cứu này chúng tôichọn e = 0,06.
Với các dữ liệu cơ sở trên cỡ mẫu được tính toán n= 267 và dự trữ 10%nên cỡ mẫu cho điều tra là 294 người
2.2.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
* Phân loại và định lượng rác
Chúng tôi sẽ tiến hành điều tra các thông tin về số nhân viên, lượng khách,căn cứ vào quy mô, lượng người của từng nhà hàng, khách sạn để ước tính khốilượng rác thải Tại 143 nhà hàng, khách sạn tiến hành thu gom và cân tất cả cácloại rác do nhà hàng, khách sạn thải ra trong ngày (24 giờ) Rồi ước tính khốilượng rác được thu gom, phát sinh và sau đó tính trung bình lượng rác/ngày/tháng Để đảm bảo độ chính xác của mẫu nghiên cứu và loại trừ yếu tốnhiễu do sự biến thiên lượng rác thải giữa các ngày, chúng tôi tiến hành cân liêntục trong vòng 1 tuần Như vậy lượng rác thải tại các nhà hàng, khách sạn sẽ cóđại diện cả ngày bình thường và ngày nghỉ
Trước khi cân chính thức, người cân hướng dẫn nhân viên nhà hàng,khách sạn phân loại và để riêng vào từng túi theo 4 loại là rác hữu cơ (thức ănthừa, phần thải bỏ khi chế biến, sử dụng thực phẩm…), nilon và các loại nhựaPVC, các chất có thể tái sử dụng, tái chế được (thủy tinh, nhôm, sắt…), và cácloại rác thải còn lại Mỗi loại chứa đựng trong các túi nilon có màu sắc khácnhau Ngày đầu tiên tiến hành cân thử để lấy mốc thời gian và hướng dẫn nếunhà hàng/khách sạn chưa phân loại đúng Ngày thứ 2 bắt đầu tính và tiếnhành cân liên tục trong 7 ngày vào thời điểm đầu giờ buổi sáng và cuối giờcủa các buổi chiều trong ngày và vào một giờ nhất định trước thời điểmCông ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên công trình công cộng & dịch vụ
du lịch Hải Phòng thu gom và vận chuyển rác tại các nhà hàng/khách sạn
về bãi rác của quận
Trang 36Sử dụng cân cơ học loại 5kg, có độ chính xác 1g cân được thử chuẩntrước khi nghiên cứu.
* Tại bãi biển chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng lượng rác thải xả
ra bãi biển, quản lý vệ sinh, việc thu gom và các vấn đề khác liên quan đếnrác thải,
* Điều tra kiến thức, thực hành của nhân viên nhà hàng, khách sạn về thugom, lưu giữ và xử lý rác thải
- Thu thập thông tin bằng phỏng vấn trực tiếp các đối tượng theo bộ phiếuđiều tra đã chuẩn bị sẵn Phiếu điều tra được thiết kế dựa vào nội dung và mụctiêu nghiên cứu Bộ phiếu được hoàn thiện sau khi điều tra thử tại cộng đồng
2.2.4 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu
* Thông tin chung về bãi biển, nhà hàng, khách sạn tại quận Đồ Sơn
- Thông tin về địa bàn nghiên cứu
- Số lượng nhân viên được điều tra trong nhà hàng, khách sạn
- Loại hình kinh doanh tại nhà hàng, khách sạn
* Thực trạng rác thải tại các bãi biển Đồ Sơn khu I, II và III
* Thực trạng thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải rắn tại nhà hàng, kháchsạn tại quận Đồ Sơn
- Dụng cụ thu gom rác tại các nhà hàng, khách sạn
- Thời gian thu gom rác tại nhà hàng, khách sạn
- Lượng rác thải trung bình/ngày của nhà hàng
- Phân nhóm rác thải trung bình/ngày của các nhà hàng, khách sạn
- Thực trạng phân loại, lưu giữ và xử lý chất thải rắn tại các nhà hàng,khách sạn
* Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
- Tuổi, giới tính của đối tượng nghiên cứu
- Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu
Trang 37* Kiến thức của đối tượng nghiên cứu.
- Kiến thức về tác hại của rác thải
- Kiến thức về cách thu gom hợp vệ sinh
- Kiến thức về cách xử lý rác sau khi đã thu gom
- Kiến thức về lợi ích của phân loại rác
* Thực hành của đối tượng nghiên cứu
- Thực hành về thu gom rác
- Thực hành về phân loại rác
2.2.5 Tiêu chuẩn đánh giá
- Đánh giá và phân loại rác, thu gom rác theo qui định chung của Bộ Y
tế và Bộ Tài nguyên môi trường
- Đánh giá kiến thức, thực hành của nhân viên nhà hàng khách sạn về
xử lý rác thải theo số lượng câu trả lời đúng
2.3 Các biện pháp khắc phục sai số
Để khống chế sai số trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hànhcác biện pháp sau:
- Phương án trả lời trong phiếu hỏi đều được mã hóa trước
- Bộ công cụ đã được thử nghiệm và hoàn chỉnh trước khi nghiên cứu
- Điều tra viên được tập huấn kỹ trước khi tiến hành nghiên cứu về nộidung bộ câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng kiểm tra, quan sát
- Quá trình cân rác được thực hiện trên cùng 1 loại cân Cân đượckiểm tra hàng ngày trước khi tiến hành cân chính thức
- Các phiếu điều tra được làm sạch trước khi nhập vào máy vi tính
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu của đề tài nghiên cứu sẽ được nhập máy tính và phân tích
dựa trên phần mềm Epi - Data 3.1, Epi - Info 16.0 và sử dụng các thuật toánthống kê trong y học
- Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ
Trang 382.5 Tổ chức thực hiện
Cán bộ tham gia cuộc đánh giá này là những cán bộ giàu kinh nghiệm.Đây là những cán bộ đã từng tham gia nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực vệsinh môi trường
Tất cả điều tra viên được tập huấn tại Trung tâm Y tế Đồ Sơn trong thờigian 1 ngày và 1 ngày đi điều tra thử tại thực địa
Tổ chức đoàn cán bộ điều tra thực địa Quá trình nhập liệu được triểnkhai ngay sau khi kết thúc hoạt động thực địa Quá trình viết báo cáo đượctiến hành ngay khi kết thúc hoạt động phân tích số liệu
2.6 Đạo đức nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm mô tả thực trạng thu gom, xử lý và quản lý rácthải tại các nhà hàng, khách sạn thuộc Quận Đồ Sơn đồng thời đánh giá kiếnthức, thực hành của nhân viên tại đây về thu gom, xử lý chất thải; từ đó đềxuất giải pháp nâng cao cộng đồng về thu gom, xử lý rác thải Đối tượng thamgia nghiên cứu đều được giải thích về mục đích yêu cầu của cuộc điều trakhảo sát và chỉ tiến hành nghiên cứu với những đối tượng tự nguyện tham gianghiên cứu nên không có vấn đề gì về đạo đức trong nghiên cứu Các số liệuthu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Những thông tin chung về bãi biển, nhà hàng, khách sạn tại quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 3.1 Thông tin về số nhà hàng, khách sạn
trên địa bàn điều tra (n=143)
Thông tin chung địa bàn NC Số lượng Tỷ lệ (%)
Bảng 3.2 Thông tin về số nhân viên được điều tra
Trang 40Bảng 3.3 Loại hình kinh doanh tại nhà hàng khách sạn
Kết quả bảng 3.3 cho thấy: Tỷ lệ loại hình kinh doanh tại nhà hàng
khách sạn trong khu du lịch địa bàn quận Đồ Sơn có sự khác nhau Khu II Đồ Sơn cao nhất là cả hai loại hình nhà hàng ăn uống và khách sạn nhà nghỉ
chiếm tỷ lệ là: 46,2% tiếp theo là khách sạn: 34,4%; và nhà hàng ăn uống tỷ lệ
là 19,3% Khu I & III Đồ Sơn cao nhất là nhà hàng ăn uống tỷ lệ là 66,0%,
tiếp theo cả hai loại hình nhà hàng ăn uống và khách sạn nghỉ chiếm tỷ lệ là:30,0%, thấp nhất là loại hình kinh doanh khách sạn: 4,0%
Bảng 3.4 Thực trạng rác thải tại các bãi biển Đồ Sơn
(500-Loại rác thải Hỗn hợp Hỗn hợp Hỗn hợp
Thùng đựng rác không có
Đội thu gom chuyên nghiệp Có Có Có
Vận chuyển rác về nơi xử lý Có Có Có