1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN tại các BỆNH VIỆN của TỈNH THÁI BÌNH năm 2014

100 257 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thông tin về hệ thống tổ chức, cơ sở vật chất và thực hành kiểmsoát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện sau 5 năm triển khai thực hiện Thông tư vềkiểm soát nhiễm khuẩn nhằm đưa ra mô hìn

Trang 1

BÙI THỊ LAN HƯƠNG

THùC TR¹NG HO¹T §éNG KIÓM SO¸T NHIÔM KHUÈN T¹I C¸C BÖNH VIÖN CñA TØNH TH¸I B×NH N¡M 2014

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, nhiễm khuẩn bệnh viện là một trong các nguyên nhân đe dọa

sự an toàn của người bệnh, là một trong những thách thức và mối quan tâmhàng đầu tại mọi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Nhiều nghiên cứu cho thấynhiễm khuẫn bệnh viện làm tăng tỉ lệ người bệnh tử vong, tăng biến chứng,tăng ngày nằm điều trị, tăng mức sử dụng kháng sinh, tăng sự kháng thuốccủa vi sinh vật, tăng chi phí dùng thuốc và tăng gánh nặng bệnh tật cho cảngười bệnh và hệ thống y tế Đây là một vấn đề ngày càng được mọi hệ thống

y tế trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm.

Nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, hệ thống y tếcủa tất cả các nước phát triển và nước nghèo đều chịu tác động nghiêm trọngcủa nhiễm khuẩn bệnh viện Tổ chức Y tế thế giới tiến hành điều tra cắt ngangnhiễm khuẩn bệnh viện tại 55 bệnh viện của 14 nước trên thế giới đại diệncho các khu vực công bố tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 8,7% Ước tính ở bất

cứ thời điểm nào cũng có hơn 1,4 triệu người bệnh trên thế giới mắc nhiễmkhuẩn bệnh viện [2]

Các nhà nghiên cứu đưa ra 5 hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện đối vớibệnh nhân: Tăng tỉ lệ mắc bệnh, tỉ lệ tử vong, ngày điều trị, chi phí điều trị và

sự kháng thuốc của vi sinh vật Tại Mỹ, cứ 20 bệnh nhân nhập viện có 1 ngườibệnh mắc nhiễm khuẩn bệnh viện Hằng năm thế giới có khoảng 2 triệu ngườimắc nhiễm khuẩn bệnh viện với 90.000 người tử vong, chi phí chăm sóc tăng4,5 tỉ đô-la Tại Anh, mỗi năm có khảng 100.000 người mắc nhiễm khuẩn bệnhviện với trên 5000 ca tử vong, chi phí tăng thêm 1 tỉ bảng Anh

Ở các nước đang phát triển, tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện còn nặng

nề hơn do không đủ nguồn lực cho công tác kiểm soát nhiễm khuẩn Tỉ lệnhiễm khuẩn bệnh viện tại Malaysia (2001) là 13,9% Nhiễm khuẩn bệnh viện

Trang 3

là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh Trên 50% bệnh nhi ở Brazil vàIndonesia mắc nhiễm khuẩn bệnh viện và tử vong từ 12-52%.

Tại Việt Nam, một trong những giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện đầutiên (2001) được tiến hành trên 5396 bệnh nhân ở 11 bệnh viện đại diện toànquốc (6 bệnh viện trung ương, 5 bệnh viện tỉnh), phát hiện 369 bệnh nhân(6,8%) nhiễm khuẩn bệnh viện Năm 2005, bệnh viện Bạch Mai giám sát tại

36 bệnh viện với 7541 bệnh nhân, kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnhviện là 7,8% Các nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp là: hô hấp (41,9%), vết

mổ (27,5%), tiết niệu (13,1%), tiêu hóa (10,3%), da và mô mềm (4,1%),nhiễm khuẩn huyết (1,0%), nhiễm khuẩn khác (2,0%) [4], [5], [6]

Tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt Nam nói chung và Thái Bìnhnói riêng chưa được đánh giá đầy đủ và có tính hệ thống mà chủ yếu dựa vàomột số điều tra cắt ngang có chọn mẫu đại diện Các thông tin về nhiễmkhuẩn bệnh viện trong các cơ sở y tế ít khi được công bố

Để có thông tin về hệ thống tổ chức, cơ sở vật chất và thực hành kiểmsoát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện sau 5 năm triển khai thực hiện Thông tư vềkiểm soát nhiễm khuẩn nhằm đưa ra mô hình phù hợp hạn chế tối đa khả năngnhiễm khuẩn bệnh viện nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở Thái Bình

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Thực trạng hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện tỉnh Thái Bình".

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

1 Mô tả thực trạng tổ chức, nhân lực kiểm soát nhiễm khuẩn và các điều kiện về cơ sở vật chất bảo đảm thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn trong các bệnh viện của tỉnh Thái Bình năm 2014.

2 Đánh giá kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn kiểm soát nhiễm khuẩn được quy định tại Thông tư 18/2009/TT-BYT.

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lịch sử phát triển chống nhiễm khuẩn bệnh viện

Theo Tổ chức Y tế thế giới, nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là “nhữngnhiễm khuẩn mà người bệnh mắc phải trong thời gian điều trị tại bệnh viện

mà thời điểm nhập viện không thấy có yếu tố nhiễm khuẩn hay ủ bệnh nào.Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnhnhập viện” [10]

Nhiều tài liệu có từ thời Hyppocrates đã nói đến và mô tả những dịchbệnh và hội chứng bệnh thường xuất hiện ở những nơi thiếu điều kiện vệ sinhnhư bệnh viện, cơ sở chăm sóc người già, bệnh viện tế bần, nhà tù và nơi tậptrung đông người mà ít thấy hơn ở cộng đồng nơi con người sống tự do hoặcriêng lẻ Vào thời đó hội chứng này gọi là hội chứng mắc phải trong bệnh viện

Mối liên quan giữa tỷ lệ tử vong cao và quá trình phơi nhiễm của bệnhnhân điều trị tại bệnh viện với ký sinh vật đã được bác sĩ Ignaz Semmelwieskhẳng định từ giữa thế kỷ XIX Ông đã chứng minh rằng tỷ lệ tử vong do sốthậu sản tại phòng đẻ có liên quan đến việc bàn tay của sinh viên bị nhiễm bẩn

từ tử thi ở phòng giải phẫu Cũng thời điểm này, nhà phẫu thuật Joseph Lister

đã nhận thấy tầm quan trọng của điều kiện vệ sinh trong khu phẫu thuật cáchoạt động nhằm hạn chế nhiễm trùng của Lister đã không ngừng hoàn thiện,từng bước qua hàng thế kỷ và nó đã đạt đến đỉnh cao của việc thực hiện tiệttrùng hoặc các điều kiện gần với tiệt trùng trong phẫu thuật ngày nay

Kiểm soát nhiễm khuẩn hiện đại chỉ thực sự bắt đầu vào những năm 50của thế kỷ XX, khi xảy ra 1 loạt vụ nhiễm tụ cầu vàng ở nhiều bệnh việnthuộc Bắc Mỹ và Vương quốc Anh Để đối phó với vụ dịch này, các Tổ chức

y tế quốc tế trong đó có hiệp hội bệnh viện Hoa Kỳ đã triển khai chương trìnhgiám sát phát hiện nhiễm khuẩn bệnh viện

Trang 5

Đến nay, những chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện sau 50năm đã được đưa vào thực hành thường quy ở hầu khắp các bệnh viện khuvực Tây Bắc bán cầu và ngày nay đã được cộng nhận là những yếu tố quantrọng để đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh Hiện nay, nhiễm khuẩnbệnh viện hay còn gọi là nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế (healthcare- asociated infections) đang là vấn đề y tế toàn cầu do làm tăng tỷ lệ mắcbệnh, tử vong, kéo dài ngày nằm viện và tăng chi phí điều trị đồng thời cũng

là nguyên nhân gia tăng chủng vi khuẩn kháng thuốc

Để chẩn đoán nhiễm khuẩn bệnh viện, người ta thường dựa vào địnhnghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán cho từng vị trí NKBV Ví dụ: NK vết mổ sauphẫu thuật, NK máu có liên quan đến dụng cụ đặt trong lòng mạch, NKđường tiết niệu Hiện nay, theo hướng dẫn từ Trung tâm Giám sát và Phòngbệnh Hoa Kỳ (CDC) và các hội nghị quốc tế đã mở rộng định nghĩa ca bệnhcho các vị trí NK khác nhau và đang được áp dụng để giám sát NKBV trêntoàn cầu Dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng và sinh học, các nhà khoa học đãxác định có khoảng 50 loại NKBV khác nhau có thể xảy ra tại bệnh viện

1.2 Tác nhân gây bệnh

Mọi vi sinh vật như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm đều có thể gâyNKBV Tuy nhiên, vi khuẩn là căn nguyên phổ biến nhất và thường đã khángkháng sinh, hoặc ít nhất cũng có mức độ kháng cao hơn ở cộng đồng

1.2.1 Vi khuẩn

Vi khuẩn là tác nhân quan trọng nhất trong NKBV, chính vì vậy ngay

từ đầu người ta đã gọi là NKBV Mọi vi sinh vật đều có thể gây nhiễm khuẩnbệnh viện Hệ vi khuẩn này rất phong phú, đa dạng về chủng loại và có tính

đề kháng cao với hầu hết các kháng sinh thông thường Một số loại vi khuẩnchủ yếu gây nên NKBV là:

Trang 6

- Vi khuẩn nội sinh: là vi khuẩn cư trú trên cơ thể người khỏe mạnh.Một số vi khuẩn trở thành tác nhân gây bệnh khi hệ thống miễn dịch của cơthể bị suy giảm Một số vi khuẩn nội sinh thường gặp là Cầu khuẩn

Coagulase (-), Escherichia Coli Các vi khuẩn thuộc nhóm này kháng lại

nhiều kháng sinh, kể cả methicillin và quinolone [15], [16], [17]

- Vi khuẩn ngoại sinh: là vi khuẩn từ dụng cụ y tế, nhân viên y tế, từkhông khí, nước hoặc lây chéo giữa các bệnh nhân [2] Vi khuẩn ngoại sinh

có độc lực cao, khả năng gây nhiễm khuẩn bệnh viện không phụ thuộc vàotình trạng miễn dịch cơ thể Một số nhóm vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnhviện thường gặp:

- Cầu khuẩn Gram (+): tụ cầu, liên cầu hầu hết đã kháng nhiều loạikháng sinh như Penicilline, gần đây phát hiện đã kháng Methiciline

- Trực khuẩn Gram (+): Bacillus, Clostridium perfringens (hoại thư

sinh hơi) gây bệnh ở mắt, mô mềm, phổi, vết thương

- Vi khuẩn Gram (-): Trong đó trực khuẩn Gram âm thường có liênquan đến nhiễm trùng bệnh viện và phổ biến ở những bệnh nhân nhiễm trùngphổi tại khoa điều trị tích cực và khả năng kháng kháng sinh đã tăng lên đáng

kể đối với 1 số liệu pháp điều trị phối hợp kháng sinh chọn lọc Các vi khuẩn

gram âm thường gặp: Pseudomonas aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh), E coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella, Proteus, Enterobacter thường gây

bệnh nặng, khó điều trị do đã kháng các kháng sinh thông dụng

1.2.2 Virut

Các vi rút có thể gây nhiễm trùng bệnh viện như vi rút viêm gan B, virút viêm gan C (lây qua đường máu, lọc máu, đường tiêm, nội soi), các vi rúthợp bào đường hô hấp, SARS và vi rút đường ruột truyền qua đường tiếp xúc

từ tay- miệng và theo đường phân miệng

Trang 7

- Virut lây truyền qua đường tiêu hóa: Polyovirus, Hepatitis A và E, Echovirus, Coxsackie A và B, Adenovirus, Rotavirus, Coronavirus…

- Virut lây truyền qua đường hô hấp: sởi, quai bị, cúm, á

cúm, Adenovirus, Coronavirus Những vi rút này lây truyền qua đường

không khí hoặc bàn tay ô nhiễm một số vi rút có thể gây viêm phổi nặng ởbệnh nhân suy giảm miễn dịch

- Virut lây truyền qua đường máu chủ yếu là HIV, viêm gan B, C

- Vi rút gây bệnh phát ban: Herpes simplex, Varicella Zoster, sởi, Rubella, vi rút đường ruột… những vi rút này truyền qua dịch tiết hô hấp và tổn

thương da

1.2.3 Một số tác nhân khác

NKBV còn do một số tác nhân khác (tuy ít gặp hơn) như nấm, ký sinh

trùng, đơn bào Đó là nấm Candida spp, Aspergillus (thường gặp ở khoa hồi sức cấp cứu), hoặc một số ký sinh trùng như Pneumocystic carinii, Toxoplasma gondii, Cryptosporidium Tỷ lệ nhiễm nấm bệnh viện có xu

hướng tăng trong những năm gần đây Nhiễm khuẩn nấm thường thấy ở bệnhnhân khoa Hồi sức cấp cứu nơi có nhiều bệnh nhân nặng và suy giảm sức đềkháng Một nghiên cứu ở Italia cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm xuất hiện là

0,9/10.000 bệnh nhân, chủng phổ biến nhất là C albicans Nghiên cứu của

Trương Anh Thư và cộng sự năm 2008 cho thấy tác nhân gây nhiễm khuẩnbệnh viện tại bệnh viện Bạch Mai, ngoài các vi khuẩn gram âm thường gặpthì tỷ lệ nhiễm nấm Candida là khá cao (14,3%) Việc sử dụng thuốc khángnấm để điều trị ngày càng nhiều, từ đó làm tăng chủng nấm kháng thuốc

Một số ký sinh trùng gây nhiễm khuẩn bệnh viện là: Pneumosystis carinii, Toxoplasma Gondii, Cryptosporidium Nhìn chung ký sinh trùng có

độc lực yếu, thường gây bệnh cơ hội ở người già, trẻ em, bệnh nhân suy giảmmiễn dịch hoặc bệnh nhân có ghép mô [15], [16]

Trang 8

1.3 Nguồn lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện

1.3.1 Nguồn truyền nhiễm

Trong nhiễm khuẩn bệnh viện, người là nguồn truyền nhiễm chủ yếu vàbệnh nhân là nguồn truyền nhiễm quan trọng nhất

- Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân: là các bệnh nhân mắc các bệnhtruyền nhiễm đang được điều trị tại khoa truyền nhiễm hoặc các khoa nội,ngoại BN đang điều trị bệnh không nhiễm trùng nhưng đang đồng mắc bệnhtruyền nhiễm thể điển hình hoặc không điển hình hoặc người mang mầm bệnhkhông triệu chứng

- Nhân viên y tế: có thể là đang có bệnh ở các mức độ khác nhau (nhưngvẫn đi làm việc) hoặc người mang mầm bệnh không triệu chứng Một số nhiễmkhuẩn lan từ nhân viên y tế sang bệnh nhân thường gặp như: nhiễm khuẩn da do

tụ cầu vàng, liên cầu nhóm A, tiêu chảy do Salmonella, cúm [2], [3],…

1.3.2 Cơ chế lây truyền

NKBV có cơ chế lây truyền như cơ chế lây truyền bệnh NK (qua cácđường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu, máu, da, niêm mạc) Tuy nhiên, có 3 cơ chếquan trọng nhất, đó là:

- Lây qua tiếp xúc: là cơ chế phổ biến và quan trọng nhất, chiếmkhoảng 90% các trường hợp NKBV Có thể là tiếp xúc trực tiếp hoặc giántiếp qua bàn tay nhân viên y tế, bơm kim tiêm, các dụng cụ thăm khám, điềutrị có tính chất xâm nhập, các chất thải ô nhiễm như bông băng, dịch rỉ vếtthương, vết loét, vết bỏng Vi sinh vật bị truyền từ người bệnh này sangngười khác hoặc từ nhân viên y tế cho người bệnh Lây truyền qua tiếp xúcgián tiếp xảy ra do sự tiếp xúc giữa chủ thể nhạy cảm với một vật thể trunggian bị nhiễm Bệnh lây truyền qua đường này thường do cộng sinh haynhiễm trùng những vi sinh vật đa kháng, các nhiễm trùng da và đường ruột

Trang 9

như MRSA, Herpes Simplex, chốc ghẻ, chấy rận, đậu mùa, Zona, nhiễm cúm.Những trẻ dưới 6 tuổi thường dễ bị lây truyền vi rút đường ruột, viêm gan Atheo đường này.

- Lây qua giọt bắn: tác nhân gây bệnh có trong các dịch được bắn ra từ

BN (hoặc từ nguồn truyền nhiễm) thông qua ho, hắt hơi, nói chuyện; các giọtbắn từ các dịch cơ thể khi thực hiện các thủ thuật Các giọt này sẽ bắn vàokết mạc mắt, niêm mạc mũi, miệng của người tiếp xúc Các giọt bắn có kíchthước tương đối lớn (> 5 µm) và thường chỉ bắn được sang người tiếp xúctrong phạm vi dưới 1 mét

- Lây qua đường hô hấp: cơ chế này chiếm gần 9% các trường hợpNKBV Mầm bệnh được thải ra khỏi nguồn truyền nhiễm qua nói, ho, hắt hơi,khạc nhổ hoặc qua các thủ thuật thăm khám, điều trị làm văng, bắn ra cáchạt ô nhiễm (nước bọt, đờm dãi, máu, dịch cơ thể ) có chứa mầm bệnh.Những hạt này nếu có kích thước lớn từ 5 àm trở lên sẽ bắn trực tiếp vào nhữngngười xung quanh trong phạm vi dưới 1 mét và có thể bắn xa hơn phụ thuộc vàolực ho của người bệnh Với những hạt có kích thước dưới 5 àm sẽ bay lơ lửngtrong không khí và xâm nhập vào người cảm thụ qua đường mũi, miệng

1.3.3 Yếu tố trung gian truyền bệnh

Tương ứng với 3 cơ chế lây truyền chủ yếu là một số yếu tố trung giantruyền bệnh chính:

- Bàn tay của BN, nhân viên y tế, người nhà, người thăm nuôi

- Dụng cụ y tế: bơm kim tiêm, các dụng cụ thăm khám điều trị có tínhxâm nhập (nội soi, thăm khám tai - mũi - họng, dụng cụ phẫu thuật ) có thểnhiễm vi sinh vật Việc thực hiện thủ thuật xâm nhập tạo thuận lợi để tác nhângây bệnh có trên dụng cụ bị ô nhiễm xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh Đồvải y tế không bảo đảm vô khuẩn là nguồn chưa vi sinh vật và có khả nănglan truyền tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện đã có nghiên cứu cho thấy

Trang 10

nhiễm khuẩn ở nhân viên nhà giặt như: sốt, nấm da, ghẻ, … do thu gom xử lý

đồ vải bẩn không đúng quy trình

- Chất thải y tế: Là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật cư trú, pháttriển Ngoài chất thải sắc nhọn có khả năng lan truyền tác nhân gây bệnh theođường máu, hiện chưa có bằng chứng về tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh việnbắt nguồn từ chất thải như bông, băng, dịch rỉ vết thương, vết bỏng, vết loét tuy nhiên chất thải luôn được coi là nguồn ô nhiễm tiềm năng trong bệnh viện

- Không khí: Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào mật độ người (bệnh nhân,nhân viên y tế, người nhà) và mức độ thông thoáng trong trong các phòngbệnh Xảy ra do sự lây lan những giọt nước bốc hơi trong không khí chứa tácnhân nhiễm khuẩn có kích thước phân tử nhỏ hơn 5 àm phát sinh khi bệnhnhân ho, hắt hơi Vi sinh vật lan truyền theo cách này có thể phân tán rộngtrong dòng không khí, có thể lơ lửng trong không khí lưu chuyển trong thờigian dài Vì thế chúng có thể bị hít vào hoặc tích tụ lại ở những vật chủ nhạycảm trong cùng 1 phòng hoặc có thể phân tán đi đến 1 khoảng cách xa hơntùy thuộc vào các yếu tố môi trường Những vi sinh vật truyền bằng đườngkhí như lao phổi, Rubella, thủy đậu, H5N1, SARS cũng có thể lây truyền theođường này khi thực hiện các thủ thuật có tạo khí dung

1.3.4 Yếu tố nguy cơ

Có thể nói, bất kỳ ai đã vào bệnh viện là có nguy cơ NKBV, khôngphân biệt bệnh nhân, nhân viên y tế hay người nhà Tuy nhiên, tình trạng sứckhỏe của bệnh nhân và việc tiến hành các thủ thuật xâm nhập là những yếu tốnguy cơ quan trọng nhất trong NKBV

Bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính nặng, cao tuổi, suy dinh dưỡng,suy giảm miễn dịch hay đang dùng thuốc ức chế miễn dịch; Bệnh nhân đachấn thương, bỏng nặng, bệnh hô hấp mạn tính là những người có nguy cơcao NKBV

Trang 11

Bệnh nhân phải trải qua các thủ thuật xâm nhập như phẫu thuật, đặt nộikhí quản, thông tiểu, catheter tĩnh mạch có nguy cơ cao mắc NKBV Mộtnghiên cứu tại Mỹ cho thấy: 97% nhiễm trùng tiết niệu xuất hiện ở BN đặtống thông tiểu, 85% nhiễm trùng huyết xuất hiện ở BN đặt catheter tĩnh mạchtrung tâm và 83% nhiễm trùng hô hấp liên quan đến thông khí nhân tạo.

1.4 Một số biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện

1.4.1 Vệ sinh bàn tay

Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo rửa tay là biện pháp rẻ tiền và hiệuquả nhất đề phòng NKBV [1] Tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, virut, ký sinhtrùng, nấm ) từ bệnh nhân, môi trường bệnh viện (dụng cụ, không khí,nước ) có thể lan truyền qua bàn tay từ nhân viên y tế đến bệnh nhân vàngược lại Vì vậy, vệ sinh bàn tay trước và sau mỗi lần tiếp xúc với bệnhnhân, trước khi làm các thủ thuật vô khuẩn, sau khi tiếp xúc với dụng cụ y tế

NK là biện pháp quan trọng nhất để phòng chống NKBV Tỉ lệ NKBV và tỉ lệtuân thủ vệ sinh bàn tay ở nhân viên y tế có mối liên quan nghịch: tỉ lệ tuânthủ vệ sinh bàn tay càng tăng thì NKBV càng giảm và ngược lại Nhiềunghiên cứu cũng khẳng định sát khuẩn tay là biện pháp quan trọng nhất để dựphòng lây truyên tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế Một nghiên cứu ởThụy Sỹ cho thấy: khi tỉ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tăng từ 47,5%lên 66,2% thì tỉ lệ NKBV giảm từ 16,9% xuống còn 6,9% [8]

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhânviên y tế, trong đó quan trọng nhất là nhận thức của nhân viên y tế về vệ sinhbàn tay, phương tiện vệ sinh bàn tay và số lượng BN Cần có sự đầu tư hơn vềtrang thiết bị cho BV cũng như tăng cường tuyên truyền tầm quan trọng của

vệ sinh bàn tay cho mọi người trong bệnh viện, trước hết là nhân viên y tế

Trang 12

1.4.2 Mang phương tiện phòng hộ:

Phương tiện phòng hộ bao gồm: găng tay, khẩu trang, áo choàng, tạp

dề, mũ, kính mắt/mặt nạ, ủng/giày Mục đích sử dụng phương tiện phòng hộ

cá nhân là để bảo vệ nhân viên y tế, người bệnh, người nhà bệnh nhân khỏi bịnguy cơ lây nhiễm và hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trường bên ngoài.Nguyên tắc sử dụng phương tiện phòng hộ là phải tùy thuộc vào mục đích sửdụng, mang phương tiện phòng hộ sẽ làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn do bắnmáu, dịch tiết vào cơ thể

1.4.3 Vô khuẩn

Kỹ thuật vô khuẩn với các dụng cụ phẫu thuật, nội soi cần được tuânthủ nghiêm ngặt khi thực hiện các thủ thuật xâm nhập, phẫu thuật, chăm sócvết thương Thực hiện kỹ thuật vô khuẩn trong mọi quy trình chăm sóc, điềutrị người bệnh nhằm làm giảm nguy cơ lan truyền vi sinh vật tới bệnh nhân vànhân viên y tế.Vùng da bệnh nhân dự kiến phẫu thuật: sát khuẩn bằng hóachất; dùng kéo cắt bỏ lông, tóc (nếu có), không nên dùng dao cạo vì gây tổnthương vi thể có thể dẫn tới NKBV Các dụng cụ, đồ dùng trong BV (quần áo,giường tủ ) và chất thải của bệnh nhân cần được vệ sinh, khử khuẩn bằng cácbiện pháp thích hợp Đối với các dụng cụ y tế dùng lại phải bảo đảm xử lý vệsinh theo đúng các quy định của Bộ Y tế Kiểm soát ô nhiễm không khí: đóngkín cửa phòng mổ, hạn chế người ra vào khi phẫu thuật, duy trì không khísạch tại buồng mổ và các khu vực kế cận với tốc độ thay đổi khí trên 6 luồngkhí mỗi giờ, làm sạch và khử khuẩn bề mặt môi trường hàng ngày buồng kỹthuật bằng hóa chất khử khuẩn

1.4.4 Cách ly bệnh nhân

Tổ chức thực hiện các biện pháp cách ly phòng ngừa như: phòng ngừachuẩn, phòng ngừa bổ sung (dựa theo đường lây truyền bệnh); tổ chức thực

Trang 13

hiện các hướng dẫn và kiểm tra các biện pháp thực hành kiểm soát NK theotác nhân, cơ quan và bộ phận bị NKBV.

Một số trường hợp cần thiết có thể tiến hành cách ly nhằm ngăn ngừa

sự lây lan từ bệnh nhân sang bệnh nhân, nhân viên y tế, người nhà, kháchthăm Tuy nhiên, việc tổ chức cách ly phải linh hoạt và tùy thuộc từng bệnh cụthể và hoàn cảnh của bệnh viện

- Bệnh lây qua đường tiêu hóa như tả, viêm gan A, viêm dạ dày - ruột :mang găng và vệ sinh bàn tay tốt, BN nên dùng riêng dụng cụ ăn uống

- Bệnh lây qua đường hô hấp như lao, cúm, quai bị : luôn mang khẩutrang, rửa tay, thông thoáng không khí, hạn chế khách thăm Một số bệnhnguy hiểm như SARS cần cách ly nghiêm ngặt (phòng điều trị riêng, máyđiều hòa, lọc khí riêng, cấm khách thăm, mang khẩu trang hoặc mặt nạ hôhấp, vô khuẩn tốt dụng cụ, đồ dùng của bệnh nhân )

- Bệnh lây qua đường máu, da và niêm mạc như HIV, viêm gan B, C :mang găng, vô khuẩn dụng cụ tốt, xử lý tốt chất thải là máu, dịch cơ thể

1.4.5 Chính sách kiểm soát nhiễm khuẩn

Xây dựng chính sách quốc gia về tăng cường công tác kiểm soát NK;ban hành các quy định, hướng dẫn thực hành kiểm soát NK trong các cơ sởkhám, chữa bệnh và xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thực hànhkiểm soát NK để đưa vào nội dung kiểm tra bệnh viện hằng năm và đánh giáchất lượng bệnh viện

- Đào tạo kiểm soát nhiễm khuẩn

Đào tạo phổ cập về kiểm soát NK cho các thầy thuốc, nhân viên của cơ

sở khám, chữa bệnh bao gồm các thực hành về phòng ngừa chuẩn và phòngngừa dựa vào đường lây, các hướng dẫn thực hành phòng ngừa NKBV theo

cơ quan, vị trí Đưa chương trình đào tạo kiểm soát NK vào chương trình đào

Trang 14

tạo chính quy trong các trường y và triển khai chương trình đào tạo vệ sinhbệnh viện cho hộ lý và nhân viên vệ sinh bệnh viện.

- Giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện

Tổ chức giám sát NKBV để có cơ sở dữ liệu về NKBV như tỉ lệ mắcNKBV, tác nhân gây bệnh, vi khuẩn kháng thuốc Giám sát NKBV là mộttrong những yếu tố quan trọng để cải thiện tình hình NKBV Nhân viên kiểmsoát NKBV thường phải dành nhiều thời gian để tiến hành giám sát NKBV,nhận biết những người bệnh NKBV, xác định vị trí NK, những yếu tố gópphần vào NK Từ đó giúp bệnh viện có kế hoạch can thiệp và đánh giá đượchiệu quả của những can thiệp này Giám sát NKBV còn là tiền đề cho việcthực hiện các nghiên cứu về kiểm soát NK Chương trình giám sát cũng cầnbao gồm chương trình kiểm soát kháng sinh Cần đưa ra được những quy địnhchính sách sử dụng kháng sinh Cần hạn chế những hoạt động tiếp thị của cáchãng thuốc trong BV, đặc biệt tại các BV có đào tạo

1.5 Mô hình kiểm soát nhiễm khuẩn theo thông tư 18/2009/TT-BYT [1]

1.5.1 Hệ thống tổ chức kiểm soát nhiễm khuẩn

Kiểm soát NK trong bệnh viện là một chương trình quản lý liên tục vớinhững mục tiêu, kế hoạch và bước đi thích hợp Mục tiêu cơ bản nhất củachương trình kiểm soát NK là nâng cao chất lượng chăm sóc, làm giảm tầnsuất mắc NKBV, bảo đảm an toàn cho người bệnh

Theo Thông tư 18/2009/TT-BYT của Bộ Y tế, hệ thống kiểm soát NKtrong các bệnh viện bao gồm 3 cấp độ:

- Hội đồng /Ban kiểm soát NK

- Khoa/Tổ kiểm soát NK

- Mạng lưới kiểm soát NK

Trang 15

1.5.2 Hội đồng /Ban kiểm soát nhiễm khuẩn

- Tổ chức: Hội đồng /Ban kiểm soát NK do Giám đốc bệnh viện raquyết định thành lập Chủ tịch Hội đồng kiểm soát NK là lãnh đạo của bệnhviện; Phó Chủ tịch Hội đồng hoặc ủy viên thường trực là Chủ nhiệm khoakiểm soát NK hoặc Tổ trưởng tổ kiểm soát NK; ủy viên của Hội đồng kiểmsoát NK là đại diện các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, kế hoạch, điều dưỡng…

- Nhiệm vụ: đề xuất, tư vấn cho Giám đốc bệnh viện về kiểm soát NK

- Phương thức hoạt động: họp định kỳ (mỗi quý 1 lần) hoặc đột xuất đểxây dựng các quy định cụ thể về kiểm soát NK, thông qua kế hoạch hoạt độngnhư giám sát NKBV, đào tạo kiểm soát NK v.v

1.5.3 Khoa/Tổ kiểm soát nhiễm khuẩn

- Tổ chức: các BV quy mô 150 giường bệnh trở lên thành lập Khoakiểm soát NK; các BV dưới 150 giường bệnh thành lập Tổ kiểm soát NK

Khoa/Tổ kiểm soát NK tùy theo quy mô bệnh viện có các bộ phận sau:hành chính - giám sát, khử khuẩn - tiệt khuẩn, giặt là và các bộ phận khác doGiám đốc BV quyết định

Trưởng khoa /Tổ trưởng, các Phó Trưởng khoa có trình độ đại học trởlên thuộc chuyên ngành y, điều dưỡng hoặc dược và được đào tạo về kiểmsoát NK

Trang 16

+ Đầu mối phối hợp với các khoa, phòng/ban liên quan giám sát côngtác kiểm soát NK, bao gồm: (1) Phát hiện, giám sát và báo cáo dịch bệnhtruyền nhiễm theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyềnnhiễm; (2) Phát hiện, nhận báo cáo các trường hợp NK liên quan đến chămsóc y tế từ các khoa lâm sàng và kết quả nuôi cấy vi khuẩn từ khoa vi sinh vật(xét nghiệm) và đề xuất các giải pháp can thiệp kịp thời; (3) Theo dõi và báocáo các vi khuẩn kháng thuốc.

+ Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, nhân viên, lao động hợp đồng, giáo viên,học viên, BN, người nhà BN và khách thực hiện đúng quy định kiểm soát NKtrong công tác khám, chữa bệnh

+ Tuyên truyền, huấn luyện, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyếndưới về kiểm soát NK

+ Quản lý, giám sát các hoạt động khử khuẩn, tiệt khuẩn, giặt là, cungcấp dụng cụ vô khuẩn, hóa chất sát khuẩn, khử khuẩn, đồ vải và vật tư tiêuhao phục vụ công tác kiểm soát NK trong toàn BV

+ Theo dõi, đánh giá, báo cáo phơi nhiễm và tai nạn rủi ro nghề nghiệpliên quan đến tác nhân vi sinh vật của thầy thuốc, nhân viên y tế

+ Tham gia cùng khoa vi sinh, khoa dược và các khoa lâm sàng theodõi vi khuẩn kháng thuốc và sử dụng kháng sinh hợp lý

+ Phối hợp với các khoa, phòng/ban, các thành viên mạng lưới kiểmsoát NK phát hiện, giải quyết các vấn đề liên quan tới công tác kiểm soát NK

- Phương thức hoạt động: Khoa/Tổ kiểm soát NK làm đầu mối tổ chứcthực hiện công tác kiểm soát NK trong bệnh viện; chủ động tổ chức thực hiệncác chủ trương, đường lối, chỉ đạo về kiểm soát NK do Hội đồng/Ban kiểm soát

NK đề xuất được Giám đốc bệnh viện phê duyệt; thực hiện giám sát sự tuân thủnguyên tắc phòng và kiểm soát NK, giám sát phát hiện ca bệnh, tổ chức hệ thốngbáo cáo phơi nhiễm và thực hiện các dự phòng phơi nhiễm nghề nghiệp

Trang 17

1.5.4 Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn

- Tổ chức: gồm đại diện các khoa lâm sàng và cận lâm sàng; mỗi khoa

cử ít nhất 1 bác sĩ hoặc 1 điều dưỡng, tham gia mạng lưới kiểm soát NK hoạtđộng dưới sự chỉ đạo chuyên môn của Khoa /Tổ kiểm soát NK Các thànhviên thường xuyên được huấn luyện cập nhật chuyên môn về kiểm soát NK

- Nhiệm vụ: tham gia, phối hợp tổ chức thực hiện công tác kiểm soát NKtại bệnh viện, tham gia kiểm tra, giám sát, đôn đốc các thầy thuốc, nhân viên tạibệnh viện thực hiện các quy định, quy trình chuyên môn liên quan đến kiểm soátnhiễm khuẩn

Điều kiện bảo đảm công tác kiểm soát nhiễm khuẩn

+ Cơ sở hạ tầng bệnh viện:

- Được thiết kế và trang bị cơ sở vật chất để bảo đảm yêu cầu kiểm soát

NK Khi xây mới hoặc sửa chữa cải tạo có sự tham gia tư vấn của khoa hoặccán bộ làm công tác kiểm soát NK

- Có bộ phận (đơn vị) khử khuẩn - tiệt khuẩn tập trung đạt tiêu chuẩn:thiết kế một chiều; ngăn cách rõ 3 khu vực NK, sạch và vô khuẩn; dựa vàophân hạng và phân cấp điều trị để trang bị các phương tiện xử lý dụng cụ phùhợp như máy rửa /khử khuẩn, máy hấp ướt, máy tiệt khuẩn nhiệt độ thấp, máysấy khô, đóng gói dụng cụ; các phương tiện làm sạch, hóa chất, các test kiểmtra chất lượng tiệt khuẩn; các buồng, tủ, giá kê để bảo quản dụng cụ tiệt khuẩn

- Có nhà giặt thiết kế một chiều, đủ trang bị và phương tiện như máygiặt, máy sấy, phương tiện là (ủi) đồ vải, xe vận chuyển đồ vải bẩn, sạch; bể(thùng) chứa hóa chất khử khuẩn để ngâm đồ vải NK, tủ lưu giữ đồ vải; xàphòng giặt, hóa chất khử khuẩn Bệnh viện có thể hợp đồng với công ty cóchức năng giặt khử khuẩn đồ vải y tế để bảo đảm việc giặt và cung cấp đồ vảiđáp ứng yêu cầu phục vụ người bệnh và chuyên môn

Trang 18

- Có cơ sở hạ tầng để bảo đảm xử lý an toàn chất thải lỏng, chất thải rắn

và chất thải khí y tế theo quy định về quản lý chất thải y tế

- Các khoa phải có đủ buồng tắm, buồng vệ sinh, nước sạch, phươngtiện rửa cho người bệnh, người nhà và nhân viên y tế

- Mỗi khoa phải có ít nhất 1 buồng để đồ bẩn và xử lý dụng cụ y tế

- Buồng phẫu thuật và buồng chăm sóc đặc biệt được trang bị hệ thốngthông khí, lọc khí thích hợp, bảo đảm yêu cầu vô khuẩn

- Khoa lâm sàng phải có ít nhất 1 buồng cách ly được trang bị cácphương tiện cách ly theo hướng dẫn của Bộ Y tế để cách ly người bệnh cónguy cơ phát tán tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm

- Khoa lâm sàng phải có ít nhất 1 buồng thủ thuật có đủ trang thiết bị,thiết kế đáp ứng yêu cầu kiểm soát NK: có bồn rửa tay, vòi nước, nước sạch,

xà phòng hoặc dung dịch vệ sinh tay, khăn lau tay, bàn chải chà tay, bàn làmthủ thuật, tủ đựng dụng cụ vô khuẩn, thùng đựng chất thải

- Phòng xét nghiệm phải bảo đảm điều kiện an toàn sinh học phù hợpvới từng cấp độ và chỉ được tiến hành xét nghiệm trong phạm vi chuyên môntheo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm

- Khoa truyền nhiễm phải có đủ phương tiện phòng ngừa lây truyềnbệnh và có khoảng cách an toàn với các khoa, phòng khác và khu dân cư theoquy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm

- Cơ sở vật chất chế biến, phân phối thực phẩm trong bệnh viện phảiđược xây dựng và thiết kế theo đúng các quy định pháp luật về vệ sinh, antoàn thực phẩm

+ Trang thiết bị và phương tiện

- Bảo đảm các phương tiện vệ sinh môi trường đầy đủ và phù hợp:

Trang 19

+ Phương tiện vệ sinh tay: bồn rửa tay, phương tiện sát khuẩn tay, khănlau tay sạch dùng một lần và hóa chất vệ sinh tay.

+ Có đủ phương tiện vệ sinh chuyên dụng bảo đảm cho công việc vệsinh bệnh viện hiệu quả

+ Trường hợp bệnh viện hợp đồng với công ty cung cấp dịch vụ vệ sinhcông nghiệp thì hợp đồng phải xác định rõ yêu cầu về trang thiết bị, hóa chất,tiêu chuẩn vệ sinh, quy trình vệ sinh, đào tạo nhân viên vệ sinh theo chươngtrình, tài liệu của Bộ Y tế và kiểm tra đánh giá chất lượng

+ Có đủ phương tiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải Thùng, túilưu giữ chất thải phải bảo đảm đủ số lượng, chất lượng và đúng màu quy định

- Khoa kiểm soát NK được trang bị các phương tiện văn phòng để phục

vụ công tác giám sát, đào tạo như máy vi tính, máy in và các phương tiện khácphục vụ công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng môi trường và kiểm soát NK

- Cơ sở chế biến thực phẩm và phân phối suất ăn trong BV phải có đầy

đủ trang thiết bị và phương tiện theo đúng các quy định pháp luật về vệ sinh

an toàn thực phẩm

+ Nhân lực chuyên trách kiểm soát nhiễm khuẩn

Bệnh viện phải bảo đảm nhân lực cho Khoa /Tổ kiểm soát NK hoạtđộng Ngoài nhân lực cho các bộ phận như khử khuẩn, tiệt khuẩn, giặt là, bộphận giám sát NK phải bảo đảm tối thiểu 1 nhân lực được đào tạo về kiểmsoát NK cho 150 giường bệnh

+ Đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng thực hành kiểm soát NK cho cán bộ, nhân viên y tế:

- Cán bộ, nhân viên của Khoa /Tổ kiểm soát NK phải được đào tạochuyên khoa và thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng thực hành kiểmsoát NK

Trang 20

- Cán bộ, nhân viên của bệnh viện phải được đào tạo về các quy trình

kỹ thuật chuyên môn kiểm soát NK, sử dụng đúng và thành thạo các phươngtiện phòng hộ cá nhân

1.6 Tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện trên thế giới và tại Việt Nam

1.6.1 Tình hình trên thế giới

Nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, hệ thống y tế củatất cả các nước phát triển và nước nghèo đều chịu tác động nghiêm trọng củaNKBV Tổ chức Y tế thế giới tiến hành điều tra cắt ngang NKBV tại 55 BVcủa 14 nước trên thế giới đại diện cho các khu vực công bố tỉ lệ NKBV là8,7% Ước tính ở bất cứ thời điểm nào cũng có hơn 1, 4 triệu người bệnh trênthế giới mắc NKBV [9] Chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn được triển khai

từ đầu những năm 1980 tại hầu hết các nước đang phát triển Nhiễm khuẩnhiện diện ở mức độ cao trong khi nguồn lực cho công tác kiểm soát còn hạnhẹp

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh việntrên thế giới chiếm từ 5 – 10% số người nhập viện Tại các khoa hồi sức cấpcứu, số này cao hơn nhiều, từ 35,2 – 44% Bên cạnh nhiễm khuẩn bệnh viện,tình hình bệnh dịch do các tác nhân gây bệnh đang bùng phát như HIV, lao,H5N1, các vi sinh vật đa kháng làm cho công tác kiểm soát nhiễm khuẩn vàphòng chống bệnh dịch trở thành mối quan tâm của mọi hệ thống y tế Hiệnnay, nhiễm khuẩn nhiễm khuẩn bệnh viện là một trong các nguyên nhân hàngđầu đe dọa sự an toàn của người bệnh, làm tăng tỉ lệ người bệnh tử vong, tăngbiến chứng, tăng ngày nằm điều trị, tăng mức sử dụng kháng sinh, tăng sựkháng thuốc của vi sinh vật, tăng chi phí dùng thuốc và tăng gánh nặng bệnhtật cho cả người bệnh và hệ thống y tế Đây là một vấn đề ngày càng đượcmọi hệ thống y tế trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm

Trang 21

NKBV gây hậu quả nặng nề cho bệnh nhân, bệnh viện và xã hội trên cảhai phương diện: lâm sàng làm tăng thời gian nằm viện và tỉ lệ tử vong, vềkinh tế làm tăng chi phí điều trị Theo một số nghiên cứu tại bệnh viện BạchMai, số ngày nằm viện gia tăng do NK vết mổ, NK huyết và NK hô hấp lầnlượt là 11, 4 ngày, 24, 3 ngày và 7,8 ngày Tương tự, chi phí phát sinh trungbình tăng thêm lần lượt là 1,9 triệu đồng, 32,3 triệu đồng và 23,6 triệuđồng [5], [6].

Ngoài ra, NKBV còn làm tăng khả năng kháng thuốc, gây khó khăn chođiều trị Kháng thuốc cũng chính là một trong những nguyên nhân gây tăng chíphí, tăng ngày nằm viện và làm tăng biến chứng, tử vong ở bệnh nhân NKBVcòn làm giảm chất lượng điều trị và làm giảm uy tín của bệnh viện

Các nhà nghiên cứu đưa ra 5 hậu quả của NKBV đối với bệnh nhân(BN): tăng tỉ lệ mắc bệnh, tỉ lệ tử vong, ngày điều trị, chi phí điều trị và sựkháng thuốc của vi sinh vật Tại Mỹ, cứ 20 BN nhập viện có 1 BN mắcNKBV Hằng năm thế giới có khoảng 2 triệu người mắc NKBV với 90.000người tử vong, chi phí chăm sóc tăng 4,5 tỉ đô-la Tại Anh, mỗi năm có khảng100.000 người mắc NKBV với trên 5000 ca tử vong, chi phí tăng thêm 1 tỉbảng ở các nước đang phát triển, tình hình NKBV còn nặng nề hơn do không

đủ nguồn lực cho công tác kiểm soát NK Tỉ lệ NKBV tại Malaysia (2001) là13,9% NKBV là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh Trên 50% bệnhnhi ở Brazil và Indonesia mắc NKBV và tử vong từ 12-52% NKBV khôngchỉ gây bệnh cho BN mà còn cho cả nhân viên y tế Dịch SARS (2003) đãlàm cho nhân viên y tế trở thành BN với tỉ lệ 20-60% tổng số trên toàn thếgiới

1.6.2 Tình hình tại Việt Nam

Từ năm 1979, BộY tế chính thức đưa quy chế chống nhiễm khuẩn vào

hệ thống quy chế của bệnh viện Trên cơ sở đó, khoa chống nhiễm khuẩn tại

Trang 22

các bệnh viện được thành lập trong hệ thống tổ chức với mục đích kiểm soátnhiễm khuẩn bệnh viện có hiệu quả, đặc biệt trong việc ngăn ngừa sự trỗi dậycủa các dòng vi khuẩn kháng đa kháng sinh, trong lây chéo, trong ô nhiễmmôi trường, các bệnh viện đã thực hiện quản lý tốt, điều trị tốt và chăm sóc tốtngười bệnh Một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của kiểm soátnhiễm khuẩn là thông tư 18/2009/TT-BYT ngày 14/9/2009 do Bộ trưởng Bộ

Y tế ban hành hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩntại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Kế hoạch hành động quốc gia tăngcường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnhđến năm 2015 được ban hành tại quyết định số 1014 ngày 30/3/2012 của Bộtrưởng Bộ Y tế cũng đã được triển khai thực hiện trong cả nước Đến năm

2009, Bộ Y tế ban hành thông tư 18/2009/TT-BYTB quy định về việc thànhlập hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện bao gồm hội đồng kiểmsoát nhiễm khuẩn, khoa hoặc tổ kiểm soát nhiễm khuẩn trong các bệnh viện

Sau khi thông tư này có hiệu lực, Cục Quản lý khám, chữa bệnh và các

Sở Y tế đã chỉ đạo, đôn đốc các bệnh viện tổ chức thực hiện thông tư Tuyvậy việc thực hiện các nội dung của Thông tư ở một số bệnh viện còn nhữnghạn chế

Theo điều tra cắt ngang năm 2012 nhằm mục đích đánh giá thực trạngcông tác tổ chức, nguồn lực, và thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnhviện công lập ở cả 3 tuyến trung ương, tỉnh và huyện của Cục quản lý khámchữa bênh cho thấy: hầu hết các bệnh viện có hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn,95,6% các bệnh viện đã thành lập khoa hoặc hoặ tổ kiểm soát nhiễm khuẩn;hơn một nửa số bệnh viện đã thành lập mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn

Hiện nay toàn quốc đã có 3 hội kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện ở địaphương, đó là hội kiểm soát nhiễm khuẩn thành phố Hà Nội, hội KSNK thànhphố Hồ Chí Minh và hội ở Thừa Thiên Huế Các hội này hoạt động với tôn

Trang 23

chỉ và mục đích là đoàn kết phát triển nghề nghiệp, nhằm đảm bảo an toàncho người bệnh, cho nhân viên y tế và cộng đồng, và hiện nay các hội địaphương đang hoạt động rất hiệu quả góp phần tăng cường công tác kiểm soátnhiễm khuẩn tại địa phương và có nhiều đóng góp đối với công tác KSNKquốc gia Vì vật việc thành lập hội KSNK quốc gia cũng là yêu cầu bức thiếtnhằm thống nhất các chủ trương, đường lối phát triển nghề nghiệp và trongtương lai sẽ tham gia hiệp hội KSNK khu vực Châu Á - Thái Bình Dương,tiến tới trở thành thành viên của hiệp hội KSNK thế giới đến nay, nhiều bệnhviện trên toàn quốc đã triển khai quy chế kiểm soát nhiễm khuẩn bước đầu cóhiệu quả như bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt- Đức, Bệnh viện Trungương Huế, Bệnh viện Nhi đồng 1, Bệnh viện đa khoa Tỉnh Đồng Tháp, Bệnhviện Thanh Nhàn,…

Chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn tại nhiều bệnh viện, đặc biệt làcác bệnh viện tuyến trung ương đã đóng góp vai trò quan trọng trong việctriển khai các kỹ thuật mới đòi hỏi vô khuẩn cao như phẫu thuật nội soi,phẫuthuật tim hở, phẫu thuật có cấy ghép, … kiểm soát nhiễm khuẩn đã trở thànhmột chuyên ngành gắn liền với chất lượng triển khai các hoạt động chuyênmôn khác trong mỗi cơ sở khám chữa bệnh Nhiều bệnh viện đã xây dựngnhững quy định, quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn phù hợp với điều kiện vàhoàn cảnh đơn vị

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả bước đầu, công tác kiểm soát nhiễmkhuẩn tại Việt Nam còn gặp nhiều thách thức cần tập trung giải quyết trongthời gian tới gần đây, Bộ Y tế đã ban hành thông tư hướng dẫn triển khaicông tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh, tuy nhiênnhiều quy định, quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn cũng như những hướng dẫnphòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện trong các lĩnh vực chuyênmôn khác nhau vẫn chưa được thiết lập Bên cạnh đó, so với hệ thống kiểm

Trang 24

soát nhiễm khuẩn các nước thì Việt Nam chưa có hội đồng kiểm soát nhiễmkhuẩn cấp quốc gia, còn thiếu hệ thống giám sát, thông tin và báo cáo nhiễmkhuẩn bệnh viện và công tác kiểm soát nhiễm khuẩn Hội đồng KSNK ở hầuhết các bệnh viện chưa được xây dựng quy chế, kế hoạch hoạt động, chưaphân công rõ ràng cho các thành viên, do vậy hoạt động của các hội đồngchưa hiệu quả Mạng lưới KSNK ở các bệnh viện chưa phát huy được vai tròcủa mình trong việc phối hợp với các khoa KSNK thực hiện giám sát các hoạtđộng KSNK tại bệnh viện Hiện nay vần còn 15,7% các bệnh viện tuyếnhuyện chưa có khoa hoặc tổ KSNK [15] Nhân lực cho công tác kiểm soátnhiễm khuẩn vẫn trong tình trạng vừa thiếu vừa yếu Số nhân lực trung bình(gồm bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, y công,…) cho 1 khoa kiểm soátnhiễm khuẩn là 5,36 người/100 giường bệnh trong đó số nhân lực chuyênmôn trong 1 khoa KSNK chỉ là 2,15 người/100 giường bệnh; số nhân lực làgiám sát nhiễm khuẩn bệnh viện là 0,85 người/100 giường bệnh, trong đó cán

bộ đại học (bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ) là 0,37 người/100 giường bệnh [15]

Tại Việt Nam, quy chế chống NKBV lần đầu tiên được ban hành vàonăm 1997 Một trong những giám sát NKBV đầu tiên (2001) được tiến hànhtrên 5396 bệnh nhân ở 11 bệnh viện đại diện toàn quốc (6 bệnh viện trungương, 5 bệnh viện tỉnh), phát hiện 369 bệnh nhân (6,8%) NKBV Năm 2005,bệnh viện Bạch Mai giám sát tại 36 BV với 7541 bệnh nhân, kết quả cho thấy

tỉ lệ NKBV là 7,8% Các NKBV thường gặp là: hô hấp (41,9%), vết mổ(27,5%), tiết niệu (13,1%), tiêu hóa (10,3%), da và mô mềm (4,1%), NKhuyết (1,0%), NK khác (2,0%) [4], [5], [6]

Tại một số BV ở Hà Nội như Bạch Mai, Việt Đức, Thanh Nhàn, Lao vàbệnh phổi, tỉ lệ NKBV hằng năm từ 3-7%, với 3 loại chính: nhiễm trùng hôhấp, vết mổ và tiết niệu Năm 2003 khi xảy ra dịch SARS tại Việt Nam, có 37

Trang 25

nhân viên y tế đã nhiễm bệnh Dịch cúm A (H1N1) làm cho hàng chục nhânviên y tế nhiễm bệnh trong bệnh viện ……

1.7 Một số nghiên cứu về nhiễm khuẩn bệnh viện

Nhiều nghiên cứu ghi nhận hiệu quả của thực hành kiểm soát nhiễmkhuẩn cơ bản triển khai đồng bộ các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn cơbản có thể phòng ngừa được từ 30- 59% nhiễm khuẩn bệnh viện, làm giảmđáng kể vi khuẩn kháng thuốc trong các cơ sở khám chữa bệnh và là biệnpháp không đòi hỏi tiêu tốn nhiều kinh phí Tuy nhiên tại nhiều quốc gia,nhiễm khuẩn chéo trong các cơ sở khám chữa bệnh vẫn diễn ra phổ biến donhiều nguyên nhân: kiến thức, thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn của nhânviên y tế trong chăm sóc , điều trị người bệnh còn hạn chế; cơ sở hạ tầng,phương tiện thiết yếu chưa đáp ứng đủ cho thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn;

sự quan tâm của các nhà quản lý y tế chưa thật thỏa đáng

Nghiên cứu ở Thái Lan về nhiễm khuẩn bệnh viện cho thấy chỉ có 25%người được hỏi trả lời đúng nguy cơ lây nhiễm tác nhân lây bệnh theo đườngmáu ở nhân viên y tế không được tiêm phòng sau khi bị tổn thương do kim sửdụng ở người bệnh nhiễm vi rút viêm gan B, viêm gan C hoặc HIV Trong 1nghiên cứu ở Trung Quốc, hầu hết cán bộ y tế lo lắng về khả năng nhiễm virút lây bệnh theo đường máu khi chăm sóc bệnh nhân và một phần năm trong

số họ không muốn chăm sóc người bệnh nhiễm HIV

Tại Việt Nam, do thiếu hoặc không có dữ liệu giám sát nhiễm khuẩnbệnh viện phản ánh thực trạng nhiễm khuẩn và phân tích hiệu quả của chươngtrình kiểm soát nhiễm khuẩn nên nhiều cán bộ y tế chưa nhận thức được tầmquan trọng của các biện pháp kiểm soát như giám sát, đào tao, tập huấn vàthiết lập các quy định/quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn đúng Nhiều nội dungkiểm soát vẫn chưa được triển khai hoặc triển khai không hiệu quả trong các

cơ sở khám chữa bệnh Hầu hết nhân viên y tế chưa được trang bị đầy đủ kiếnthức cơ bản về kiểm soát nhiễm khuẩn Việc đào tạo những kiến thức về

Trang 26

nhiễm khuẩn bệnh viện chưa được đưa vào đào tạo chính quy trong cáctrường đại học, cao đẳng, trung học Việc nâng cao hiểu biết về nhiễm khuẩnbệnh viện và các biện pháp phòng chống là hết sức quan trọng Việc tuân thủkiến thức về chống nhiễm khuẩn bệnh viện như quy trình vô khuẩn, thay đổinhững thao tác thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện chưa đúng sẽ gópphần làm giảm nhiễm khuẩn cho bệnh nhân và cho cả bản thân cán bộ y tế.

Theo điều tra về các phơi nhiễm nghề nghiệp của nhân viên y tế tạibệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh năm 2000, hơn một phần ba sốcán bộ y tế ở các vị trí làm việc khác nhau đã cho biết họ đã từng có tối thiểumột tổn thương qua da trong năm vừa qua Về tình trạng phơi nhiễm của cán

bộ y tế ở bệnh viện Bạch Mai năm 2001, gần hai phần ba số cán bộ y tế chobiết họ có bị phơi nhiễm trong thời gian làm việc tại bệnh viện, trong đó91,5% là phơi nhiễm qua da Điều này cho thấy nguy cơ nhiễm khuẩn bệnhviện ở các cơ sở y tế là rất thường xuyên xảy ra nếu không được áp dụng cácbiện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn với các đối tượng Nghiên cứu về thực trạng

tổ chức, nhân lực kiểm soát nhiễm khuẩn và các điều kiện về cơ sở vật chất bảođảm thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn trong các bệnh viện là cần thiết, gópphần cung cấp dữ liệu cho công tác quản lý nhiễm khuẩn tại bệnh viện

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh và các bệnh việntuyến tỉnh, tuyến huyện/ thành phố trong tỉnh Thái Bình

Chúng tôi chọn 24 bệnh viện trong đó có 01 BV hạng I, 15 BV hạng II

và 08 BV hạng III, theo tuyến bệnh viện có 12 BVĐK, chuyên khoa tuyếntỉnh, 12 BV tuyến huyện/thành phố

Bệnh viện đa khoa tỉnh và các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh là bệnh viện tuyến cao nhất chịu trách nhiệm khám chữa bệnh cho gần 2 triệu dân tỉnhThái Bình và một số tỉnh lân cận (Hải Phòng, Nam Định, Hưng Yên)

Tổ chức của 12 bệnh viện đa khoa huyện:

Các phòng chức năng: gồm 4 phòng: phòng kế hoạch tổng hợp và vật tư

thiết bị y tế; phòng điều dưỡng; phòng Hành chính quản trị và tổ chức cán bộ;phòng Tài chính kế toán

Các khoa gồm 14 khoa: khoa Khám bệnh; khoa Hồi sức cấp cứu; khoa

Nội tổng hợp; khoa Truyền nhiễm; khoa Nhi; khoa Ngoại tổng hợp; khoa PhụSản; liên chuyên khoa Tai - Mũi - Họng, Răng - Hàm - Mặt, Mắt; khoa xétnghiệm (Huyết học, vi sinh, hóa sinh); khoa Chẩn đoán hình ảnh; khoa Giảiphẫu bệnh; khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn; khoa Dược và khoa Dinh dưỡng Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện huyện Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa

bệnh: BV tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các

cơ sở y tế chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú hoặc ngoạitrú; tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà

Trang 28

nước; có trách nhiệm giải quyết toàn bộ bệnh thông thường về nội khoa vàcác trường hợp cấp cứu về ngoại khoa; tổ chức giám định sức khỏe, khámgiám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh hoặc cơ quan bảo vệpháp luật trưng cầu; tổ chức chuyển người bệnh lên tuyến trên khi vượt quákhả năng của BV

Đào tạo cán bộ y tế: BV là cơ sở thực hành cho các trường, lớp trung học

y tế; tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong BV và cơ sở y tế tuyếndưới để nâng cao trình độ chuyên môn và kĩ năng quản lý chăm sóc sức khỏe

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

* Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện: Nguồn nhân lực và

cơ sở vật chất trang thiết bị

* Các cán bộ lãnh đạo bệnh viện, chủ tịch Hội đồng KSNK BV, trưởngkhoa KSNK

- Các văn bản triển khai, đánh giá quá trình hoạt động kiểm soát nhiễmkhuẩn tại bệnh viện có tính pháp quy (báo cáo, quyết định, biên bản, )

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Triển khai từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2015

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đề tài được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả vớicuộc điều tra cắt ngang: Phỏng vấn trực tiếp những cán bộ tham gia công táckiểm soát nhiễm khuẩn và cán bộ quản lý bằng bộ câu hỏi điều tra, điều trabằng bảng kiểm để thu thập thông tin về cơ sở vật chất trang thiết bị,thực trạng tổ chức, nhân lực, kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên mônkiểm soát nhiễm khuẩn Nghiên cứu tại các bệnh viện được đánh giácùng một thời điểm

Trang 29

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu

* Chọn bệnh viện: Chúng tôi tiến hành chọn tất cả các bệnh viện cônglập, bệnh viện tư nhân, bệnh viện chuyên khoa và BVĐK tuyến tỉnh và tuyếnhuyện của tỉnh Thái Bình để điều tra (tổng số là 24 bệnh viện gồm: Bệnh viện

Đa khoa tỉnh, các bệnh viện huyện/thành phố(12), bệnh viện Mắt, bệnh việnPhong Da liễu Văn Môn, bệnh viện Phụ sản, bệnh viện Nhi, bệnh viện Tâmthần, bệnh viện Phục hồi chức năng, bệnh viện Y học cổ Truyền, bệnh việnLao & Bệnh phổi, bệnh viện trường Đại học Y, BVĐK Lâm Hoa, BVĐKHoàng An

* Chọn đối tượng để phỏng vấn:

- Mỗi bệnh viện chọn 01 lãnh đạo phụ trách công tác KSNK, 01 Chủ tịchHội đồng KSNK và 01 Trưởng khoa/tổ trưởng tổ Kiểm soát nhiễm khuẩn:

24 bệnh viện x 3 người/bệnh viện = 72 người

- Toàn bộ nhân lực tại các khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn của 24 bệnhviện, tổng số 227 cán bộ

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị của Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn phục vụcho hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn của 24 bệnh viện

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin và tổ chức thực hiện

* Công cụ thu thập thông tin

- Bộ câu hỏi điều tra và bảng kiểm được các chuyên gia có nhiều kinhnghiệm xây dựng về vấn đề kiến thức, việc thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệmcủa mình trong công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện (theo thông tư18/TT-BYT):

+ Đối với Lãnh đạo Bệnh viện: Chính sách, đầu tư nhằm đảm bảo côngtác kiểm soát nhiễm khuẩn

Trang 30

+ Đối với Chủ tịch Hội đồng KSNK: Tổ chức hệ thống, hoạt động hộiđồng, thực hiện chức năng tham mưu với lónh đạo bệnh viện, chức năng chỉđạo hoạt động của khoa KSNK.

+ Đối với Trưởng khoa KSNK/ Tổ trưởng tổ KSNK: Tổ chức thực hiệnchủ trương của Bệnh viện, chỉ đạo của Hội đồng KSNK, thực hiện chức năngtham mưu, lập kế hoạch về cụng tỏc kiểm soỏt nhiễm khuẩn

* Mẫu phiếu thu thập thụng tin về hoạt động KSNK tại bệnh viện baogồm: thực trạng nguồn lực triển khai hoạt động và kết quả đạt được trongcụng tỏc kiểm soỏt nhiễm khuẩn của đơn vị mỡnh

* Kỹ thuật thu thập thụng tin:

Sử dụng bảng kiểm và phỏng vấn theo bộ cõu hỏi:

- Cụng tỏc chuẩn bị:

Điều tra viên: là các điều dưỡng trưởng của cỏc Bệnh viện Đa khoa vàchuyờn khoa tuyến tỉnh, tuyến huyện, đợc tập huấn kỹ về kỹ năng sử dụng cáccông cụ điều tra, bảng hỏi và kỹ năng thu thập số liệu

Sau khi đợc tập huấn, các điều tra viên tiến hành điều tra thử các bộ câuhỏi tại cỏc bệnh viện để sữa chữa cho phự hợp Các điều tra viên đợc phâncông theo nhúm để thu thập số liệu

Về đối tượng nghiờn cứu: Những cỏn bộ trong đối tượng nghiờn cứu đợcgiải thích rõ về mục đích, yêu cầu và cách tiến hành nghiên cứu

- Tiến hành: Cỏc điều tra viờn sẽ tiến hành phỏng vấn cỏc cỏn bộ đã lựachọn bằng kỹ thuật hỏi ghi vào phiếu điều tra

- Điều tra thực tế tại tại bệnh viện cỏc văn bản ban hành, nhõn lực, cơ sởvật chất, mỏy, trang thiết bị, quy trỡnh vận hành thực, cỏc kết quả giỏm sỏt, vềKSNK bệnh viện đú

2.2.4 Tiờu chuẩn đỏnh giỏ

Trang 31

Các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá thực trạng KSNK theo Thông tư số18/2009/TT-BYT của Bộ Y tế ngày 14/10/2009 về hướng dẫn tổ chức côngtác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

2.2.5 Biến số nghiên cứu

* Thông tin chung về các bệnh viện được điều tra

* Hệ thống tổ chức kiểm soát nhiễm khuẩn

* Tổng số cán bộ tham gia KSNK/ khoa/ bệnh viện: số người, trình độ,tuổi, tập huấn, đào tạo chuyên ngành, nhận thức, quan điểm của người quản

lý về triển khai, thực hiện hoạt động KSNK tại đơn vị

* Cơ sở vật chất, trang thiết bị

* Việc quản lý KSNK trong bệnh viện

Để hạn chế sai số chúng tôi sẽ thực hiện một số những công việc sau:

- Phiếu điều tra được thiết kế rõ ràng, thống nhất và xin ý kiến của cácchuyên gia

- Điều tra thử tại thực địa trước khi tiến hành điều tra

- Điều tra viên là những cán bộ được tập huấn kỹ

Trang 32

- Theo dõi, giám sát chặt chẽ việc thu thập số liệu Tất cả phiếu sau khiphỏng vấn được kiểm tra lại

2.2.8 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu tại các bệnh viện được thông báo về mục đích, nội dungcho lãnh đạo bện viện

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnhviện là một nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn tốt, làm cơ sở để đưa ra nhữnggiải pháp can thiệp giảm thiểu nhiễm trùng bệnh viện

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về các bệnh viện điều tra (n=24)

Kết

quả

Tuyến bệnh viện Hạng bệnh viện Khối bệnh viện

Tỉnh Huyện I II III Đa

khoa

Chuyênkhoa

(%) 50 50 4,2 62,5 33,3 66,7 33,3Kết quả bảng 3.1 cho thấy có 24 bệnh viện 01 bệnh viện hạng I, 15bệnh viện hạng II, 08 bệnh viện hạng III; Theo khối bệnh viện có 16 bệnhviện đa khoa, 8 bệnh viện chuyên khoa

Bảng 3.2 Quy mô các bệnh viện theo số lượng giường bệnh (n=24)

Số giường TB Tuyến bệnh viện Tỉnh Huyện Chung

Giường theo kế hoạch 2355 1680 4035

Giường thực kê 3574 2759 6333

Tỷ lệ TB giường TK/KH (%) 151 163 157

Kết quả bảng 3.2 cho thấy trung bình số giường thực kê ở các bệnhviện bằng 157% số giường kế hoạch Các bệnh viện ở các tuyến đều có sốgiường thực kê cao hơn giường kế hoạch: Tuyến tỉnh là 151% gồm các bệnhvện (BVĐK tỉnh; BV Phụ Sản; BV Nhi…) và tuyến huyện là 163% (BVĐKTiền Hải; BVĐK Thái Thụy; BVĐK Quỳnh Phụ; BVĐK Phụ Dực; BVĐKThành Phố…), như vậy có sự quá tải tại các bệnh viện trong tỉnh đặc biệt làBVĐK tỉnh công suất sử dụng giường bệnh năm 2014 tính theo giường kếhoạch là 178%, tính theo giường thực kê là 105%

Bảng 3.3 Tỷ lệ cán bộ tham gia điều tra

Đối tượng điều tra Tuyến bệnh viện Chung

Trang 34

Tỷ lệ (%) Tỉnh (n=12) Huyện (n=12)

Lãnh đạo Bệnh viện phụ

Lãnh đạo Hội đồng KSNK 12/12 12/12 100Lãnh đạo Khoa/tổ KSNK 12/12 12/12 100Kết quả bảng 3.3 cho thấy 100% cán bộ Lãnh đạo phụ trách hoặc trựctiếp làm công tác kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện đều được điều tra

3.2 Thực trạng tổ chức và nguồn lực kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện

3.2.1 Hệ thống tổ chức kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện

Bảng 3.4 Thực trạng công tác tổ chức kiểm soát nhiễm khuẩn

Tuyến

bệnh viện

Có Hội đồng Có mạng lưới Có khoa Có tổ

Sốlượng

Tỷ lệ

%

Sốlượng

Tỷ lệ

%

Sốlượng

Tỷ lệ

%

Sốlượng

Tỷ lệ

%Tỉnh

(n=12) 11/12 91,7 10/12 83 7/12 58,3 5/12 41,7Huyện

(n=12) 12/12 100 12/12 100 9/12 75,0 3/12 25,0Tổng

(n=24) 23 95,8 22 91,7 16 66,7 8 33,3Kết quả bảng 3.4 cho thấy hầu hết các bệnh viện trong toàn tỉnh đãthành lập Hội đồng KSNK (95,8%), khoa KSNK (66,7%), tổ KSNK (33,3%)

và mạng lưới KSNK (91,7%), tuy nhiên còn BVĐK tư nhân Hoàng An chưathành lập Hội đồng, mạng lưới, khoa KSNK vì là BV tư nhân nhỏ với 45giường bệnh số lượng BN nằm viện ít nên lãnh đạo BV chưa quan tâm thànhlập, kiện toàn hệ thống KSNK

Bảng 3.5 Hệ thống tổ chức KSNK bệnh viện theo quy mô

giường bệnh kế hoạch

Trang 35

Loại bệnh

viện

Có hội đồng Có mạng lưới Có khoa Có tổ

Sốlượng

Tỷ

lệ %

Sốlượng

Tỷ lệ

%

Sốlượng

Tỷ lệ

%

Sốlượng

Tỷ lệ

%Dưới 150

Kết quả bảng 3.5 cho thấy hầu hết các bệnh viện đã thành lập Hội đồng

và mạng lưới KSNK (95,8% và 91,7%), song còn 2 bệnh viện từ 150 giườngbệnh trở lên chưa thành lập Khoa KSNK (Thông tư 18/TT-BYT quy địnhbệnh viện có từ 150 giường bệnh phải thành lập khoa KSNK)

Trang 36

Bảng 3.6 Cơ cấu tổ chức khoa/tổ kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện

Cơ cấu tổ chức khoa KSNK Số lượng Tỷ lệ (%)

Biểu đồ 3.1 Nguồn nhân lực tham gia Kiểm soát nhiễm khuẩn

Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy trong 227 cán bộ tham gia công tácKSNK tại các bệnh viện điều tra cho thấy có 10,5% là lãnh đạo và 89,5% là

những thành viên trực tiếp tham gia

Bảng 3.7 Nhân lực quản lý KSNK cấp khoa/tổ tại các bệnh viện (n=24)

89,5%

10,5%

Trang 37

Các bộ phận Số lượng Tỷ lệ (%)

Kết quả bảng 3.7 cho thấy các bệnh viện chưa quan tâm bổ nhiệm đầy

đủ các vị trí lãnh đạo khoa Cụ thể mới chỉ có 70,8% BV có khoa KSNK bổnhiệm trưởng khoa , 16,7% bệnh viện bổ nhiệm phó khoa và đặc biệt chỉ có12,5% bệnh viện bổ nhiệm điều dưỡng trưởng khoa là các BVĐK tỉnh, BVNhi, BVĐK Phụ Dực

Bảng 3.8 Trình độ học vấn của nguồn nhân lực kiểm soát nhiễm khuẩn

TĐHV Trưởng khoa (n=24) Nhân viên (n=203)

lý, Y công

Bảng 3.9 Trình độ chuyên môn nghề nghiệp của nguồn nhân lực KSNK

Trình độ chuyên môn Trưởng khoa

(n=24)

Nhân viên (n=203)

Trang 38

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ Trưởng khoa/Tổ trưởng được đào tạo kiểm soát

nhiễm khuẩn theo tuyến bệnh viện

Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy Lãnh đạo khoa/tổ KSNK được đào tạo vềKSNK chưa cao, càng ở tuyến dưới thì lãnh đạo khoa/ tổ KSNK càng ít đượcđào tạo về KSNK (giảm dần từ 33,3 ở tuyến tỉnh xuống còn 8,3% ở các BV

Trang 39

tuyến huyện), tuyến tỉnh Trưởng khoa/Tổ trưởng tổ KSNK đã qua đào tạo làcác BV(ĐK tỉnh, Nhi, Phụ Sản, Tâm Thần), BV tuyến huyện là BVĐK VũThư Còn 79,2% các BV Trưởng khoa/Tổ trưởng tổ KSNK chưa qua đào tạo về KSNK.

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ nhân viên được tập huấn kiểm soát nhiễm khuẩn

theo tuyến bệnh viện

Kết quả biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ cán bộ được đào tạo KSNK tại bệnhviện tuyến tỉnh 70,5% và tuyến huyện 31,5% Như vậy, số cán bộ được đàotạo tại bệnh viện tuyến huyện còn thấp và giảm dần từ tuyến tỉnh đến tuyếnhuyện BV tuyến huyện chưa quan tâm đến đào tạo cán bộ KSNK

Bảng 3.10 Tỷ lệ nhân viên được đào tạo KSNK tại tuyến trên

Tuyến bệnh

viện

Nhân viên KSNK (người)

Số lượng được đào tạo Tỷ lệ (%)

Bảng 3.11 Các văn bản về kiểm soát nhiễm khuẩn (n=24)

Trang 40

Văn bản về kiểm soát nhiễm khuẩn Số lượng Tỷ lệ (%)

Quyết định ban hành tài liệu QLCL về KSNK 20 83,3Quyết định ban hành quy trình KSNK 20 83,3Quyết định ban hành quy định về KSNK 20 83,3Quy chế hoạt động của hội đồng KSNK 21 87,5

Kế hoạch hoạt động năm về công tác KSNK 21 87,5

Kế hoạch tổ chức tập huấn, đào tạo về KSNK 17 70,8Kết quả bảng 3.11 cho thấy tỷ lệ xây dựng và ban hành văn bản về kếhoạch tổ chức tập huấn, đào tạo về KSNK cho các cán bộ tại các bệnh việncòn hạn chế nhất là việc xây dựng kế hoạch tổ chức tập huấn, đào tạo vềKSNK còn thấp (chiếm 70,8%)

3.2.2 Cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn

Bảng 3.12 Phân bổ cơ sở hạ tầng phục vụ KSNK theo tuyến bệnh viện

Cơ sở vật chất

Tỷ lệ đạt chuẩn (%)

Tỉnh(n=12)

Tỷ lệ(%)

Huyện(n=12)

Tỷ lệ(%)

Chung(n=24)

Tỷ lệ(%)

Có đơn vị tiệt khuẩn tập trung 4 33,3 5 41,6 9 37,5

với công ty môi trường xử lý

chất thải rắn y tế nguy hại

12 100 12 100 24 100

Mỗi khoa lâm sàng có tối thiểu 2 16,7 1 8,3 3 12,5

Ngày đăng: 29/07/2019, 11:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w