Để đánh giá một sốđặc điểm dịch tễ bệnh viêm não Nhật Bản và nhận thức, thực hành của ngườidân tại tỉnh Thái Bình nhằm đưa ra những biện pháp hiệu quả, những khuyếncáo cho cộng đồng để k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
NGUYỄN VĂN ĐÔNG
§ÆC §IÓM DÞCH TÔ BÖNH VI£M N·O NHËT B¶N T¹I TØNH TH¸I B×NH Tõ N¡M 2009 - 2013 Vµ KIÕN THøC, THùC HµNH CñA C¸C Bµ MÑ Cã CON D¦íI 5 TUæI
VÒ BÖNH VI£M N·O NHËT B¶N
Chuyên ngành : Y tế công cộng
Mã số : 60 72 03 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Cao Trường Sinh
2 PGS.TS Nguyễn Quốc Tiến
THÁI BÌNH - 2015
Trang 2Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô thuộc trường Đại học Y dược Thái Bình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp
ở Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thái Bình, Trung tâm Y tế huyện Tiền Hải, Trung tâm y tế các huyện, thành phố thuộc tỉnh Thái Bình, Cục thống kê tỉnh Thái Bình và trạm y tế các xã thuộc địa bàn nghiên cứu.
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, khoa y tế công cộng và các bộ môn liên quan – Trường Đại học Y dược Thái Bình đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Trung tâm y tế huyện Tiền Hải nơi tôi công tác đã tạo điều kiện tốt nhất và động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn Trung tâm y tế các huyện thành phố thuộc tỉnh Thái Bình
và trạm y tế các xã Bình Minh, Thượng Hiền, Hồng Thái huyện Kiến Xương;
xã Nam Trung, Nam Chính, Nam Hưng thuộc huyện Tiền Hải và phường Bồ Xuyên, Phú Khánh, Trần Hưng Đạo thuộc thành phố Thái Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu, thu thập số liệu và hoàn thành luận văn đúng thời hạn.
Với lòng kính trọng tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới TS Cao Trường Sinh – Phó hiệu trưởng trường Đại học Y Vinh, PGS.Ts Nguyễn Quốc Tiến – Phó hiệu trưởng trường Đại học Y dược Thái Bình Những người thầy đã tận tình phác thảo, động viên hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Những lời cảm ơn không thể diễn tả hết sự trân trọng của tôi đối với sự động viên, khích lệ của tập thể cán bộ trong đơn vị, bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Thái Bình, tháng 10 năm 2015
Tác giả Nguyễn Văn Đông
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Đông
Trang 4BVĐK : Bệnh viện Đa khoa
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số hiểu biết về bệnh viêm não Nhật Bản 3
1.2 Dịch tễ học bệnh VNNB và các nghiên cứu về dịch tễ 13
1.2.1 Sự phân bố bệnh VNNB theo vùng địa lý 13
1.2.2 Sự phân bố bệnh theo thời gian 19
1.2.3 Sự phân bố bệnh theo tuổi 20
1.2.4 Kiểm soát dịch bệnh và các biện pháp phòng chống 20
1.3 Nhận thức, thực hành của các bà mẹ về tiêm chủng mở rộng và về bệnh viêm não Nhật Bản 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 28
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 30
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 31
2.3 Phương pháp thu thập thông tin 32
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin phục vụ mục tiêu 1 32
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin phục vụ mục tiêu 2 33
2.4 Các chỉ số trong nghiên cứu 33
2.4.1 Thông tin chung 33
2.4.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh VNNB tại tỉnh Thái Bình từ năm 2009 – 2013 33
2.4.3 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về bệnh VNNB và một số
yếu tố liên quan 34
2.5 Tiêu chuẩn đánh giá 36
Trang 62.8 Phương pháp khống chế sai số 38
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh VNNB tại tỉnh Thái Bình, 2009 - 2013 39
3.1.1 Kết quả điều tra bệnh nhân VNNB lâm sàng và VNNB xác định từ năm 2009 – 2013 39
3.1.2 Kết quả nghiên cứu các đặc điểm dịch tễ học bệnh VNNB tại
Thái Bình trong các năm từ 2009- 2013 41
3.1.3 Phân bố mắc VNNB theo giới ở tỉnh Thái Bình, 2009 - 2013 44
3.1.4 Quy mô bệnh VNNB tại Thái Bình, 2009 – 2013 44
3.1.5 Phân bố mắc VNNB theo khu vực thành thị và nông thôn tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2009 – 2013 46
3.1.6 Phân bố bệnh VNNB tại Thái Bình theo huyện/thành phố 2009 – 2013 .47 3.1.7 Phân bố bệnh VNNB theo tiền sử tiêm vắc xin 48
3.2 Nhận thức thực hành của bà mẹ về bệnh VNNB 48
3.2.1 Một số thông tin về bà mẹ là các đối tượng nghiên cứu 48
3.2.2 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về viêm não Nhật Bản 51
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 63
4.1 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh VNNB tại Thái Bình, 2009 - 2013 63
4.2 Nhận thức, thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về bệnh
viêm não Nhật Bản 70
KẾT LUẬN 80
KHUYẾN NGHỊ 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1 Kết quả xét nghiệm MAC – ELISA chẩn đoán VNNB từ bệnh
nhân VNNB lâm sàng ở Thái Bình, 2009 – 2013 39
Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc và chết/100.000 dân do VNNB lâm sàng ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009 – 2013 40
Bảng 3.3 So sánh mắc và chết do VNNB lâm sàng qua các năm, ở tỉnh Thái Bình, 2009 – 2013 41
Bảng 3.4 Tỷ lệ mắc/100.000 dân do VNNB qua các năm ở tỉnh Thái Bình 42
Bảng 3.5 Tỷ lệ mắc do VNNB/100.000 dân theo nhóm tuổi tương ứng ở tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2009 – 2013 42
Bảng 3.6 Hệ số năm dịch VNNB ở tỉnh Thái Bình, 2009 – 2013 43
Bảng 3.7 Phân bố mắc VNNB theo giới ở tỉnh Thái Bình, 2009 - 2013 44
Bảng 3.8 Quy mô bệnh VNNB tại Thái Bình, 2009 - 2013 44
Bảng 3.9 Tỷ lệ mắc VNNB/100.000 dân theo huyện/thành phố, ở Thái Bình, 2009 - 2013 47
Bảng 3.10 Phân bố bệnh VNNB theo tiền sử tiêm vắc xin 48
Bảng 3.11 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 48
Bảng 3.12 Số con hiện có của các bà mẹ được nghiên cứu 50
Bảng 3.13 Hiểu biết của các bà mẹ về nguyên nhân gây bệnh VNNB .51
Bảng 3.14 Kiến thức của bà mẹ về đường lây của vi rút VNNB 52
Bảng 3.15 Kiến thức của bà mẹ về triệu chứng của bệnh VNNB 52
Bảng 3.16 Mức độ kiến thức về hiểu biết các triệu chứng của bệnh VNNB 53
Bảng 3.17: Tỷ lệ bà mẹ biết về biến chứng của bệnh VNNB 54
Bảng 3.18 Mức độ kiến thức của bà mẹ về biến chứng của bệnh VNNB 54
Bảng 3.19 Kiến thức của bà mẹ về cách phòng bệnh VNNB 55
Bảng 3.20 Mức độ kiến thức về cách phòng chống bệnh VNNB 56
Bảng 3.21 Hiểu biết của bà mẹ về vắc xin VNNB 56
Trang 8Bảng 3.23 Kiến thức của bà mẹ về cách phát hiện mắc bệnh VNNB .57
Bảng 3.24 Thực hành của bà mẹ về phòng chống bệnh bệnh VNNB 58
Bảng 3.25 Cách sử trí khi trẻ bị sốt nhẹ sau tiêm phòng vắc xin VNNB 58
Bảng 3.26 Cách sử trí khi trẻ bị sưng đau nhẹ vết tiêm sau tiêm phòng 59
Bảng 3.27 Hiểu biết của bà mẹ về bảo quản vắc xin 59
Bảng 3.28 Mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân gây bệnh VNNB với tuổi bà mẹ 60
Bảng 3.29 Mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân gây bệnh VNNB với trình độ học vấn 60
Bảng 3 30 Mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ về phòng chống bệnh VNNB với tuổi của bà mẹ 61
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa trình độ học vấn với kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh VNNB 61
Bảng 3.32 Liên quan về nghề nghiệp với kiến thức và thực hành về phòng chống VNNB 62
Trang 9Biểu đồ 3.1 Phân bố mắc VNNB theo tháng ở tỉnh Thái Bình, 2009 – 2013 .45
Biểu đồ 3.2 Phân bố mắc VNNB theo khu vực thành thị và nông thôn
tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2009 – 2013 46
Biểu đồ 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 49
Biểu đồ 3.4 Phân loại đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 50
Biểu đồ 3.5 Nguồn thông tin cung cấp kiến thức về bệnh VNNB 51
Biểu đồ 3.6 Nhận định của bà mẹ về mức độ nguy hiểm của bệnh VNNB 53
Biểu đồ 3.7 Kiến thức của bà mẹ về phòng và điều trị bệnh VNNB 55
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viêm não Nhật Bản do vi rút viêm não Nhật Bản gây nên, là mộttrong những bệnh viêm não do vi rút lưu hành ở khu vực Châu Á, với khoảng50.000 trường hợp mắc bệnh và 10.000 ca tử vong mỗi năm ở trẻ em dưới 15tuổi Trung bình có khoảng 30% trường hợp tử vong và những người sống sótđều có tỷ lệ cao với di chứng tâm thần kinh [1], [50] Năm 1933- 1936 cácnhà nghiện cứu Nhật Bản đã tìm ra vi rút viêm não Nhật Bản ở muỗi Culex.tritaeniorhynchus là vectơ chính truyền bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB)giữa các động vật có xương sống và từ đó sang người [5], [11] Bệnh viêmnão Nhật Bản lưu hành rộng rãi ở Châu Á, nhất là Nhật Bản, Trung Quốc,Hàn Quốc, tất cả các nước Đông Nam Á và Ấn Độ Ở Ấn Độ, bệnh xảy rahàng năm với số lượng lớn, có năm tới 10.000 trường hợp mắc Ở miền BắcThái Lan hàng năm tỷ lệ mắc từ 10 – 20/100.000 dân Hầu hết những nướcnày có nhiệt độ cao vào mùa hè và mưa nhiều thuận lợi cho việc trồng lúanước, đồng thời nghề chăn nuôi lợn phát triển Những yếu tố trên đã tạo điềukiện thuận lợi cho việc lưu hành vi rút VNNB trong tự nhiên và từ đó dẫn tớinhững vụ dịch VNNB ở người [50]
Ở Việt Nam, bệnh VNNB lưu hành rộng rãi nhưng đặc biệt nghiêmtrọng ở đồng bằng Châu thổ Sông Hồng và Trung du Bắc Bộ với tỷ lệ mắcbệnh hàng năm cao từ 6- 10/100.000 dân Trung bình một năm có từ 2.000đến 4.000 trường hợp mắc bệnh Tại miền Bắc – Việt Nam, tỷ lệ mắc trên100.000 dân năm 2001 là 3,73; năm 2002 là 2,67; năm 2003 là 2,47: năm
2004 là 3,61; năm 2005: 3,0; năm 2006: 2,13 Bệnh xuất hiện rải rác quanhnăm, nhưng đỉnh cao của các vụ dịch xảy ra vào các tháng 5, 6, 7 Bệnh có thểgặp ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất là ở trẻ em dưới 15 tuổi [12]
Trang 11Thái Bình là tỉnh nông nghiệp nằm ở vùng Châu thổ Sông Hồng, có 07huyện và 01 thành phố; Diện tích đất tự nhiên là 1.542 km2 với số dân trên1.788.759 người mật độ dân số trung bình là 1.142 người/km2 là tỉnh có mật
độ dân số đứng thứ 5 toàn quốc [7] Người dân chủ yếu là cấy lúa nước vàchăn nuôi lợn đó là yếu tố rất thuận lợi cho sự tồn tại, phát triển của vi rútVNNB trong tự nhiên và lây truyền sang người Với đặc điểm trên, Thái Bìnhluôn được xác định là nằm trong vùng lưu hành của vi rút Viêm não NhậtBản, tỷ lệ mắc bệnh Viêm não vi rút /100.000 dân trong những năm qua luôn
có xu hướng tăng và cao hơn so với khu vực miền Bắc và toàn Quốc
Những năm gần đây bằng biện pháp tiêm phòng vắc xin, bệnh VNNB
đã được khống chế ở Nhật Bản, Hàn Quốc Nhưng bệnh vẫn có chiều hướngtăng lên ở một số nước: Ấn Độ, Nepal, Srilanka, Việt Nam và một số nướckhu vực Đông Nam Á do chính phủ chưa có điều kiện bao cấp vắc xin cho trẻtiêm phòng Tại Việt Nam đến nay Chính phủ đã có điều kiện cấp vắc xinVNNB tiêm miễn phí cho trẻ em nhưng chỉ triển khai tiêm vắc xin phòngviêm não bệnh VNNB cho trẻ em từ 13- 60 tháng tuổi ở một số tỉnh phía Bắctrong đó có Thái Bình từ năm 2006 triển khai ở huyện Tiền Hải và đến năm
2007 mới được triển khai trên toàn tỉnh Thái Bình [34] Để đánh giá một sốđặc điểm dịch tễ bệnh viêm não Nhật Bản và nhận thức, thực hành của ngườidân tại tỉnh Thái Bình nhằm đưa ra những biện pháp hiệu quả, những khuyếncáo cho cộng đồng để khống chế dịch, bệnh trong thời gian tới, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài "Đặc điểm dịch tễ bệnh viêm não Nhật Bản tại tỉnh
Thái Bình từ năm 2009 – 2013 và nhận thức, thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về bệnh viêm não Nhật Bản" với mục tiêu sau:
1 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Viêm não Nhật Bản tại tỉnh Thái Bình từ năm 2009 đến 2013.
Trang 122 Đánh giá nhận thức, thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 9 xã/ phường/thị trấn của tỉnh Thái Bình về bệnh viêm não Nhật Bản và một số yếu tố liên quan
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số hiểu biết về bệnh viêm não Nhật Bản
- Bệnh VNNB được biết hơn 100 năm trước đây, cuối thế kỷ XIX liêntiếp các vụ dịch xảy ra ở các vùng núi Nhật Bản vào mùa hè – thu với nhiềubệnh nhân nặng và tỷ lệ tử vong tới 60% Một thời gian dài người ta vẫn xếpvào các bệnh viêm màng não tủy Mãi cho đến năm 1924 người ta mới phânchia bệnh ra thành một bệnh riêng biệt
Vào những năm 1933 – 1936 các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã tìm ra virút gây bệnh và chứng minh rằng vi rút này được truyền qua muỗi đốt
Các vụ dịch viêm não Nhật Bản được thông báo các nước như NhậtBản, Trung Quốc, Triều tiên, Indonesia, Philippin, Thái Lan, Việt Nam và cácvùng khác thuộc châu Úc và châu Phi Ở Việt Nam được phát hiện từ nhữngnăm 60 của thế kỷ này, dịch xảy ra hàng năm ở những ổ dịch lưu hành nhất làvùng ven sông Đáy thuộc Hà Tây, Thanh Hóa, Thái Bình [11], [32]
- Tác nhân gây bệnh: Theo phân loại mới vi rút VNNB thuộc họ
Flaviviridae, chi Flavivi rút Vi rút viêm não Nhật Bản có dạng hình cầu,
đường kính khoản 45 – 50 nm Về mặt cấu trúc, vi rút VNNB gồm có: Lõi
được cấu tạo bởi axít ribonucleic, sợi đơn, đây là vật liệu di truyền của vi rút.Capsit bao quanh lõi được cấu tạo bởi ncleoprotein Vỏ bạo ngoài được cấutạo bởi glucoprotein, đó là kháng nguyên bề mặt có tín ngưng kết hồng cầunên gọi là kháng nguyên ngưng kết hồng cầu và có hoạt tính trung hòa [34]
Vi rút VNNB bị bất hoạt nhanh bởi tia cực tím và không bền với nhiệt, chúng
bị bất hoạt ở nhiệt độ 56oC trong 30 phút, ở 70oC trong 10 phút, ở 1000C trong
Trang 142 phút, ở 37oC trong 24 giờ; vi rút bị bất hoạt ở formalin 0,2% ở 4oC ; vi rúttương đối bền vững ở điều kiện -70oC trong glyxerol 50% ở ở 4oC; vi rút bềnvững ở pH 7-9 và có khả năng ngưng kết hồng cầu ở pH.
- Tính kháng nguyên của vi rút VNNB: Vi rút VNNB có 3 loại protein
kháng nguyên: Protein màng V1 (hoặc M) là nucleoprotein, protein lõi V2(hoặc C) chính là ARN và protein vỏ V3 (hoặc E) là chất glycoprotein
Trong các loại protein cấu trúc này thì protein kháng nguyên vỏ bao (E)nằm trên bề mặt của hạt vi rút đóng vai trò quan trọng nhất trong bước đầutiên của phản ứng vi rút với tế bào vật chủ và tạo kháng thể miễn dịch bảo vệ
cơ thể (kháng thể ức chế ngưng kết hồng cầu và kháng thể trung hòa) Bằngphản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu xác định vi rút VNNB có phản ứng chéorộng với các vi rút trong phân nhóm Tây sông Nil, vi rút Dengue Bằng phảnứng MAC – ELISA đã chứng minh vi rút VNNB ít có phản ứng chéo với virút dengue [32]
- Tính chất nuôi cấy: Trên tổ chức não của động vật thực nghiệm vi rút
VNNB có tính hướng thần kinh do đó dễ dàng nhân lên ở các tổ chức não như
tổ chức não chuột ổ, chuột Swiss, hamster là những động vật nhạy cảm với sựnhân lên của vi rút và thường được sử dụng là mô hình động vật thực nghiệm
Trên tổ chức động vật và côn trùng: Bào thai gà 9 ngày tuổi, muỗiAedes Alpopictus, Toxorhynchites
Trên các dòng tế bào: Các dòng tế bào thận khỉ, tế bào muỗi AedesAlpopictus dòng C6/36, dòng tế bào phôi gà tiên phát
- Về sinh lý bệnh: Vi rút VNNB được muỗi truyền vào máu khi đốt
người, vi rút nhân lên tại chỗ ở các tổ chức ngoài thần kinh như cơ vân, cơtrơn, cơ tròn và ở các hạch lympho lân cận, đi vào tuyến ức kích thích cơ thểtạo kháng thể rồi vào máu Hoạt động của hệ thống miễn dịch tạo kháng thể
Trang 15xảy ra trước khi có triệu chứng lâm sàng (tương ứng với thời kỳ ủ bệnh 5 – 14ngày trung bình là 7 ngày) Sau thời kỳ ủ bệnh sẽ bộc lộ triệu chứng nhiễm virút ở thể điển hình hoặc thể ẩn tùy thuộc vào số lượng vi rút được đưa vào cơthể, đường lây nhiễm, độc lực và khả năng bảo vệ chéo của các vi rút cùngnhóm Plavivi rút [9].
Ở thể ẩn, cơ thể có đủ khả năng tự bảo vệ thông qua hệ thống miễn dịchtiêu diệt hết vi rút VNNB, nên vi rút không đến được thần kinh trung ương và
cơ thể không có biểu hiện bệnh lý gì Trong trường hợp này tuy không mắcbệnh nhưng kháng thể kháng vi rút VNNB vẫn xuất hiện ở máu ngoại vi
Ở thể điển hình, vi rút VNNB xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương,làm thay đổi các tế bào nội mô, thoái hóa vách mao quản gây phù não, tăng
áp lực nội sọ với bệnh cảnh lâm sàng là hội chứng não cấp
- Đáp ứng miễn dịch: Sau khi nhiễm vi rút có ít nhất 3 loại kháng thể
được tạo ra đó là kháng thể ức chế ngưng kết hồng cầu, kháng thể kết hợp bổthể và kháng thể trung hòa Các kháng thể được đặt tên theo hiện tượng dùng
để phát hiện trên Invitro nhưng về bản chất kháng thể là các globulin miễndịch bao gồm 5 lớp: IgA, IgD, IgE, IgG, IgM Trong đó IgG và IgM là cáckháng thể chiếm tỷ lệ chủ yếu trong dịch thể [32]
IgM xuất hiện sớm sau khi nhiễm vi rút và tồn tại khoảng 30 đến 90ngày tùy theo nhiễm tiên phát hay thứ phát Sự phát hiện được IgM trong máu
là bằng chứng của sự mới nhiễm vi rút
Bình thường trong dịch não tủy không có IgM nó chỉ qua hàng ràomáu não để thực hiện chức năng bảo vệ Do vậy sự phát hiện được IgM trongdịch não tủy là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán VNNB IgM xuất hiện ở trẻdưới 1 tuổi là bằng chứng của phản ứng bảo vệ cơ thể, không phải là khángthể do mẹ truyền
Trang 16- Đặc điểm lâm sàng chẩn đoán bệnh: Người bị nhiễm vi rút VNNB
sau thời kỳ ủ bệnh sẽ bộc lộ thể có triệu chứng lâm sàng hoặc thể ẩn
* Thể có triệu chứng lâm sàng điển hình, diễn biến của bệnh thường
theo các giai đoạn như thời kỳ nung bệnh: Kéo dài từ 5- 14 ngày, trung bình
là 1 tuần
Giai đoạn khởi phát: Bệnh khởi phát rất đột ngột bằng sốt cao 39 - 40oChoặc hơn Bệnh nhân đau đầu đặc biệt là vùng trán, đau bụng, buồn nôn vànôn Ngay trong 1 - 2 ngày đầu của bệnh đã xuất hiện cứng gáy, tăng trươnglực cơ, rối loạn vận động nhãn cầu Về tâm thần kinh có thể xuất hiện lú lẫnhoặc mất ý thức Những ngày đầu phản xạ gân xương tăng, xung huyết giãnmạch rõ Ở một số trẻ nhỏ tuổi ngoài sốt cao có thể thấy đi lỏng, đau bụngnôn giống như nhiễm khuẩn – nhiễm độc ăn uống Như vây thời kỳ khởi phátđặc điểm nổi bật của bệnh là sốt cao đột ngột, hội chứng màng não và rối loạn
ý thức từ nhẹ đến nặng (ly bì, kích thích, vật vã, u ám, mất ý thức hoàn toàn).Thời kỳ khởi phát của bệnh tương ứng với vi rút vượt qua hàng rào mạch máunão tổn thương vào tổ chức não và gây nên phù nề não
Giai đoạn toàn phát: Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 6, người bệnh sốt cao(94,5%), có rối loạn thần kinh thực vật, vã mồ hôi, diễn biến bệnh thay đổi từnhẹ đến nặng và có thể hôn mê, phản xạ gân xương tăng, đấu hiệu màng não
rõ có co giật trên 80%, tiếp theo liệt khu trú, có thể có cử động bất thườngnhư múa vờn, múa giật và các phản xạ bệnh lý Co giật thường gặp ở trẻ emhơn là người lớn Đa số người bệnh tử vong vào giai đoạn này của bệnh
Giai đoạn tiến triển bán cấp: 7 – 9 ngày sau, hội chứng màng não giảm,
đỡ sốt, mạch ổn định Ở giai đoạn này có thể có biến chứng do người bệnhnằm lâu tử vong có thể xảy ra nếu có biến chứng tim phổi
Trang 17Giai đoạn hồi phục: Người bệnh chỉ còn sốt nhẹ, tỉnh dần, tùy thươngtổn bệnh nhân có thể bị những di chứng thần kinh hoặc không Di chứng sớmthường xuất hiện như liệt nhẹ toàn thân hoặc nửa người, liệt tay thường gặphơn liệt chân, cấm khẩu, kém trí nhớ Di chứng muộn như động kinh,parkinson, có những trường hợp sau 2 năm mới xuất hiện di chứng.
* Thể cụt: Người bệnh chỉ mắc bệnh 2-3 ngày với triệu chứng sốtkhông cao, rồi khởi hoàn toàn [11]
* Thể ẩn: Cơ thể có đủ khả năng tự bảo vệ thông qua hệ thống miễndịch, những trường hợp vi rút VNNB xâm nhập vào hệ thống thần kinh trungương sẽ gây bệnh VNNB điển hình và sau đó để lại kháng thể miễn dịch đặchiệu lâu dài Còn những thể bị nhiễm vi rút VNNB, mặc dù chỉ có triệu chứngbán lâm sàng hoặc nhiễm ẩn, nhưng sau đó vẫn được miễn dịch đặc hiệu bềnvững Điều đó giải thích được lý do có những người sống trong vùng có bệnhlưu hành địa phương, không có tiền sử mắc bệnh VNNB và cũng chưa đượctiêm vắc xin VNNB, nhưng khi xét nghiệm huyết thanh vẫn có kháng thểVNNB dương tính [11]
- Chẩn đoán lâm sàng: Ca bệnh nghi viêm não Nhật Bản là một bệnh
nhân ở bất kỳ tuổi nào, bất kỳ các tháng trong năm có các dấu hiệu như sốt đột ngột; có dấu hiệu rối loạn tinh thần như li bì, lơ mơ, hoặc có các rối loạn vận động như liệt, co cứng, co giật, giảm vận động
Người bệnh viêm não vi rút nghi ngờ viêm não Nhật Bản khi có cácbiểu hiện lâm sàng như đã mô tả theo các thể lâm sàng như trên mà chưa cókết quả xét nghiệm chẩn đoán VNNB
- Chẩn đoán phòng xét nghiệm (xét nghiệm huyết học và sinh hóa), xét
nghiệm công thức máu số lượng bạch cầu có thể tăng trong giai đoạn đầunhưng sau đó thường không tăng hoặc giảm, tốc độ máu nắng nói chung cũng
Trang 18tăng, đường huyết, u rê huyết, điệm giải đồ ở giới hạn bình thường Xét nghiệmdịch não tủy (biểu hiện của viêm màng não nước trong): protein tăng nhẹkhoảng 1g/l, tăng tế bào lympho trong dịch não tủy khoảng 50 – 500 tế bào/mm3, đường trong dịch não tủy thường không thay đổi hoặc giảm nhẹ [32].
- Chẩn đoán phát hiện kháng thể: Phát hiện IgM kháng vi rút VNNB ởdịch não tủy: có thể dùng các kỹ thuật miễn dịch phát hiện IgM như kỹ thuậtmiễn dịch ngưng kết hạt, kỹ thuật MAC- ELISA trong đó MAC- ELISA là kỹthuật được sử dụng phổ biến vì kỹ thuật này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao,đây là kỹ thuật chuẩn thức trong chẩn đoán sự nhiễm các vi rút Arb có ái tínhthần kinh như vi trút VNNB Bệnh phẩm dùng để chẩn đoán phát hiện khángthể là huyết thanh, dịch não tủy của người bệnh Theo Bùi Minh Trang, ĐỗPhương Loan, Phan Thị Ngà qua nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả chẩn đoánVNNB bằng kỹ thuật MAC – ELISA và Real time RT – PCR” cho thấy kỹthuậy MAC – ELISA có hiệu quả phát hiện tác nhân vi rút VNNB đạt 89,5%,cao hơn kỹ thuật Real – Time RT – PCR có hiệu quả xác định là 15,5% khithực hiện xét nghiệm 225 mẫu dịch não tủy bệnh nhân có hội chứng não cấptrong thời gian đầu của bệnh [23], [35]
- Chẩn đoán phân biệt: Chẩn đoán phân biệt giữa bệnh VNNB với các
bệnh khác cũng khó khăn, kể cả trong thời kỳ dịch bùng nổ Viêm não thứphát sau sởi, cúm, thủy đậu, ho gà Hội chứng não cấp do rối loạn nước vàđiện giải nặng, trẻ suy dinh dưỡng nặng có rối loạn tuần hoàn não cấp Viêmmàng não mủ hoặc viêm màng não do lao[10]
- Nguyên tắc điều trị: Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh
VNNB do vậy nội dung điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng trong đó côngtác chăm sóc, chế độ dinh dưỡng đảm bảo, tránh ứ đọng đờm dãi, thôngthoáng đường hô hấp, chống suy hô hấp, chống phù nề não, an thần cắt cơngiật Điều trị các biến chứng nhiễm khuẩn, loét, di chứng [5], [6] Do vậy
Trang 19VNNB là một bệnh dịch đặc biệt nghiêm trọng nếu không được dự phòng và
có chiến lược sử dụng vắc xin hiệu quả
- Ổ chứa vi rút VNNB: Ổ chứa vi rút tiên phát quan trọng nhất trong
thiên nhiên là các loài chim, sau đó là loài bò sát Ổ chứa vi rút thứ cấp trongsúc vật nuôi gần người quan trong nhất là lợn, sau đó là các súc vật khác nhưtrâu, bò, dê, cừu, ngựa, chó, khỉ Đã có những nghiên cứu về kháng thểVNNB tồn tại trong các loài súc vật và cho thấy tỷ lệ kháng thể dương tínhcao đối với vi rút VNNB ở các súc vật như lợn, ngựa, các loài chim và tỷ lệdương tính thấp ở trâu bò, dê, cừu, chó và khỉ Chim và lợn là những vật chủquan trọng nhất trong việc dự trữ, nhân lên và lan rộng vi rút VNNB trongthiên nhiên
Chu trình chim - muỗi của vi rút VNNB cũng được coi 1à quan trọngtrong việc duy trì và phát triển vi rút VNNB trong thiên nhiên Thời giannhiễm vi rút huyết thường xảy ra ngay sau khi bị nhiễm vi rút VNNB của cả 2loài chim hoang dại và chim nuôi trong nhà
Chu trình lợn – muỗi rất quan trọng không chỉ để duy trì vi rút viêmnão trong thiên nhiên mà còn là nguồn vi rút VNNB quan trọng nhất lây sangngười, bởi vì: Chỉ số lợn bị nhiễm vi rút trong thiên nhiên cao hơn cả Sựxuất hiện vi rút trong máu lợn thường xảy ra ngay sau khi lợn bị nhiễm vi rútVNNB Thời gian nhiễm vi rút huyết ở lợn kéo dài từ 2 đến 4 ngày với hiệu
giá vi rút trong máu đủ để gây nhiễm cho muỗi Culex (Cx.) tritaeniorhynchus.
Sự lây truyền của vi rút VNNB từ lợn sang lợn đã được thử nghiệm bằng
muỗi Cx tritaeniorhynchus nuôi trong phòng thí nghiệm Muỗi Cx tritaeniorhynchus ưa thích hút máu lợn trong thiên nhiên Số lượng lớn quần
thể lợn cảm nhiễm mới từ 6-8 tháng tuổi thay thế hàng năm cho lò mổ [56]
Trang 20Hình 1.1 Chu trình vi rút VNNB trong thiên nhiên [56]
Muỗi Người Muỗi
Chim Chim Muỗi Lợn Lợn
Muỗi Muỗi
Chu trình chim Chu trình lợn
Các súc vật và muỗi nhiễm vi rút VNNB đều không có biểu hiện triệutrứng lâm sàng, nhưng vẫn để lại dấu ấn miễn dịch Riêng ngựa thường bịviêm não điển hình và dễ tử vong, còn lợn khi mang thai bị nhiễm vi rútVNNB có thể bị sảy thai hoặc thai chết lưu
Trang 21- Vectơ truyền bệnh: Bệnh VNNB không lây truyền vi rút từ ngườisang người mà phải lây truyền qua vectơ trung gian là muỗi Cx.tritaeniorhynchus, Cx vishnui và Cx gelidus Muỗi cái hút máu súc vật ở giaiđoạn bị nhiễm vi rút huyết sẽ trở thành muỗi bị nhiễm vi rút VNNB để truyềnbệnh suốt đời và còn có thể truyền vi rút VNNB sang thế hệ sau qua trứng.Tuy nhiên không thấy có sự lây truyền vi rút từ ngựa và người mắc bệnhVNNB sang ngựa và người cảm nhiễm, bởi vì khi bị nhiễm vi rút huyết thìhiệu giá vi rút không cao hoặc, không đủ liều tối thiểu sau một bữa hút máu
để gây nhiễm muỗi vectơ, do đó ngựa và người được coi là vật chủ cuối cùngcủa chu trình vi rút VNNB [14]
Có nhiều loài muỗi được coi là có khả năng truyền vi rút VNNB, nhưng
Cx tritaeniorhynchus, Cx vishnui được xác định là có khả năng truyền bệnhcao nhất và trở thành vectơ chủ yếu truyền vi rút VNNB cho người ở miềnBắc Việt Nam cũng như ở Châu Á Vi rút VNNB cũng đã được phân lập ởmuỗi cái trưởng thành và cả ấu trùng của các loài muỗi này Theo Đỗ PhươngLoan, Bùi Minh Trang, Phan Thị Ngà nghiên cứu ở tỉnh Bắc Giang (2006 –2012), cho thấy tổng số muỗi thu thập được là 40,608 cá thể muỗi chia thành
604 mẫu thuộc 18 loài, trong đó muỗi Cx tritaeniorhynchus chiếm hơn mộtnửa tổng số muỗi thu thập được [21]
Cx tritaeniorhynchus, Cx vishnui và Cx gelidus sinh sản ở ruộng lúanước, nhất là ở ruộng mạ và phát tán rộng trên cánh đồng, nên thường gọi làmuỗi đồng ruộng Thông thường khoảng từ chiều tối đến đêm, từ cánh đồngmuỗi bay về các chuồng trại để kiếm ăn, hút máu súc vật Nếu chuồng gia súcgần nhà thì muỗi có thể bay vào nhà và hút máu người Cx tritaeniorhynchus
có thể bay xa tới 1,5 km và nó cũng được phát hiện ở ngọn cây cao trên mặtđất khoảng 13 – 15 m, 1à nơi mà muỗi có thể lây truyền vi rút VNNB rộng rãigiữa các loài chim Muỗi được phát triển một số lượng lớn trong thời gianngắn ngay sau khi mưa nhiều [31]
Trang 22Thời gian lây truyền ở vật chủ là thời gian bị nhiễm vi rút huyết Thôngthường thời gian bị nhiễm vi rút VNNB trong máu ở chim từ 2-5 ngày và ởlợn từ 2-4 ngày với hiệu giá vi rút đủ để gây nhiễm cho muỗi vectơ Thời gian
ủ bệnh của muỗi vectơ là 14 ngày sau khi hút máu động vật bị nhiễm vi rútVNNB, muỗi sẽ có khả năng truyền bệnh suốt đời và có thể truyền thẳng sangthế hệ sau qua trứng
Muỗi truyền bệnh là loại muỗi cái có khả năng hút máu và trở thànhmuỗi bị nhiễm vi rút sau một bữa máu có chứa vi rút VNNB với hiệu giá virút tương đương với lượng vi rút được phát hiện trong máu của vật chủ Vectơ
đó phải có điều kiện tốt để vi rút nhân lên trong nó với hiệu giá cao Vi rútVNNB phát triển tốt nhất trong cơ thể muỗi ở nhiệt độ từ 27C đến 30C, nếu
< 20C thì vi rút không phát triển Sau khi vi rút được nhân lên trong cơ thểmuỗi, vi rút phải xuất hiện trong tuyến nước bọt và được lây truyền theo vếtđốt Nguồn vi rút VNNB cũng phải được chứng minh bằng cách phân lậpđược nó trong tự nhiên [31]
- Tính cảm nhiễm và sức đề kháng: Tất cả những người chưa bị mắc
bệnh hoặc chưa được gây miễn dịch đầy đủ đều có cảm nhiễm và có thể bịmắc bệnh Những người sau khi bị nhiễm vi rút VNNB ở các thể lâm sàngkhác nhau đều có khả năng được miễn dịch bền vững
Những nơi có bệnh VNNB lưu hành địa phương nặng thì bệnh xảy rachủ yếu ở trẻ dưới 15 tuổi, chiếm tỷ lệ tới 95%, trong đó số trẻ bị bệnh từ 1đến 10 tuổi chiếm đa số Cũng ở nơi này, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất thuộc nhómtrẻ 1- 3 tuổi, là nhóm tuổi mới bị mất kháng thể mẹ Tuy nhiên ở nhiều nơi,trong đó có miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh cao thường gặp ở trẻ từ 3-6tuổi Nguy cơ mắc bệnh cao ở nhóm tuổi này là do tập tính của trẻ thích chơiđùa ngoài nhà, gần bụi tre, gần chuồng gia súc nhất là vào lúc chạng vạngtối nên dễ bị nhiễm vi rút VNNB do muỗi vectơ đốt [22]
Trang 23Ngày nay, nhờ có vắc xin VNNB được sử dụng rộng rãi cho nên một sốnước như Nhật Bản, Hàn Quốc đã khống chế được bệnh VNNB Một số nướckhác, trong đó có miền Bắc Việt Nam, đã thực hiện tiêm vắc xin VNNB chonhóm trẻ nguy cơ cao từ 1-5 tuổi thuộc vùng nguy cơ cao thì tỷ lệ mắc bệnhVNNB ở những nơi này có xu hướng tăng ở nhóm tuổi lớn hơn.
Từ năm 1993, Việt Nam đã sản xuất được vắc xin VNNB đạt hiệu lực
và độ an toàn tương đương với vắc xin của Nhật Bản Vắc xin này đã đượctiêm ở những vùng nguy cơ cao, nhưng phải trả tiền, cho nên tỷ lệ tiêm phòngđạt thấp
1.2 Dịch tễ học bệnh VNNB và các nghiên cứu về dịch tễ
1.2.1 Sự phân bố bệnh VNNB theo vùng địa lý
Bệnh viêm não Nhật Bản đang có xu hướng lan ra những vùng địa lýmới, cho đến nay những nước được ghi nhận có vi rút VNNB lưu hành đó làTrung Quốc, Campuchia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore,Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Banglades, Sri Lanka, Ấn Độ,Nepal, Philippin và Australia, như vây sự phấn bố bệnh VNNB chủ yếu vẫn ởcác nước trong khu vực Châu Á
* Trung Quốc: Dịch VNNB đã liên tục xảy ra ở Trung Quốc kể từ năm
1949, số lượng bệnh nhân tăng vào thời điểm từ tháng 7 đến tháng 9 hàngnăm Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh ở Trung Quốc ngoại trừ Tây Tạng, tânCương và tỉnh Thanh Hải Gần 80% các trường hợp trên toàn cầu báo cáo xảy
ra ở Trung Quốc (hàng năm có khoảng 100.000 người mắc bệnh được thôngbáo muỗi Culex.triteaniorhynchus là véc tơ chính truyền bệnh viêm não NhậtBản trước dây và hiện nay Trung Quốc đã và đang có chương trình tiêmchủng mở rộng gây miễn dịch rộng rãi cho người dân để phòng bệnh [34]
* Ấn Độ: Bệnh viêm não Nhật Bản được phát hiện đầu tiên ở miền
Nam Ấn Độ năm 1955 tại Vellore, có 63 trường hợp được thông báo vào
Trang 24năm 1955 – 1956 Cho đến những năm 70 dịch VNNB chỉ xảy ra ở các bangthuộc miền Nam Ấn Độ , sau đó năm 1973 Dịch VNNB được thông báo lầnđầu tiên ở Tây Bengal với 763 người mắc và 325 người chết Từ năm 1977đến năm 1981 dịch VNNB lây lan sang các khu vực khác của Ấn Độ Trongcác vụ dịch gần đây, vụ dịch năm 2005 tại Gorakhpur – miền Bắc Ấn Độ có
số mắc là trẻ em chiếm ưu thế có tới gần 5.000 trường hợp mắc, số tử vong là1.300 [34], [55]
* Indonesia: Vi rút viêm não Nhật Bản được phân lập từ muỗi véc tơ
vào năm 1972, trong khoảng thời gian 11 năm từ 1986 – 1996 có 41 trườnghợp.Nghiên cứu giám sát tại Bali – Indoesia ở trẻ em dưới 12 tuổi từ 2001 –
2003 xác nhận có 90 trường hợp mắc VNNB trong đó có 1 trường hợp trongnhóm 10-11, 9 trường hợp tử vong, 33 trường hợp sống sót có di chứng thầnkinh lúc xuất viện Bệnh được xác định xảy ra rải rác quanh năm với 70% cáctrường hợp trong mùa mưa
* Campuchia: Bệnh VNNB thường xảy ra ở trẻ dưới 15 tuổi, hàng nămdịch bệnh thường xảy ra quanh năm Nghiên cứu cho thấy trong số 586 bệnhnhân có biểu hiện viêm màng não thì có tới 110 bệnh nhân là viêm não NhậtBản Với 95% mắc là trường hợp từ trẻ 12 tuổi trở xuống [52]
* Nhật Bản: Là nước phát hiện và nghiên cứu bệnh VNNB đầu tiên có
những vụ dịch lớn xảy ra tại đây với hơn 1.000 người mắc bệnh, những vùng
đô thị lớn xảy ra 2-3 năm một lần Năm 1935 vi rút VNNB lần đầu tiên đượcphân lập tại Tokyo – Nhật Bản Những năm cuối của thập kỷ 60, Nhật Bản đã
sử dụng vắc xin VNNB rộng rãi do đó tần số mắc đã giảm xuống chỉ cònkhoảng 10 ca mỗi năm Kết quả này do có sự thay đổi về phương thức trồngtrọt và chăn nuôi lợn, tăng cường sử dụng hóa chất diệt côn trùng và gây miễndịch rộng rãi cho lứa tuổi cảm nhiễm bằng vắc xin VNNB Năm 2002 tạiHiroshima ghi nhận thêm 3 trường hợp dương tính với vi rút VNNB Năm
Trang 252004 – 2005, phát hiện kháng thể với vi rút viêm não Nhật Bản trong lợn rừng
ở tỉnh Hiroshima – Nhật Bản nơi có các trường hợp người bệnh được báo cáonăm 2002
* Hàn Quốc: Những vụ dịch lớn được thông báo lầ đầu tiên vào năm
1949, véc tơ truyền bệnh VNNB được xác định là Cx Tritaeniorhynchus, chỉ
số mắc bệnh hàng năm ở Hàn Quốc liên quan với chỉ số mật độ của Cx.Tritaeniorhynchus trong việc sử dụng hoá chất diệt côn trùng trong nôngnghiệp ở quốc gia này Hàn Quốc là nước khống chế thành công bệnh VNNBbàng vắc xin, từ năm 1949 đến năm 1958 số các trường hợp mắc VNNB trungbình hàng năm là 1.669, nhưng sau giai đoạn tăng cường sử dụng vắc xinphòng bệnh 1986- 2000 số các trường hợp mắc VNNB trung bình hàng năm
đã giảm 99,9%
* Malaysia: Vi rút viêm não Nhật Bản được phân lập vào những năm
60, véc tơ quan trọng nhất là Cx Tritaeniorhynchus, mật độ muỗi véc tơ tăngvào mùa hè và mùa mưa ở những cánh đồng trồng lúa nước Số viêm não virút được báo cáo hàng năm dao động từ 37 – 92 trường hợp trong các năm
từ 1977 – 1988, trong đó có khoảng 10 – 35 trường hợp VNNB Bệnh xảy
ra ở hầu hết các tiểu bang ở Malaysia, phần lớn các trường hợp xảy ra ởPenang, Perak, Selangor, Johor ở phía tây Malaysia, Sarawak ở phía ĐôngMalaysia [34]
* Đài Loan: Chương trình tiêm chủng được khởi xướng vào năm 1968
tập trung vào hai đối tượng là trẻ sơ sinh và trẻ bắt đầu đến trường Tỷ lệ mắcVNNB tại Đài Loan đã giảm đáng kể điền này được cho rằng do hiệu quả củachương trình sử dụng vắc xin mang lại, do điều kiện sống được cải thiện và
do thay đổi mô hình nông nghiệp Tuy nhiên các trường hợp VNNB lẻ tẻ vẫnxảy ra tại Đài Loan và nước này vẫn đang có những nghiên cứu để nâng caohiệu quả của chương trình tiêm chủng, có lẽ sẽ có một sự thay của một dòng
Trang 26vắc xin mới có hiệu quả và tính phù hợp cao hơn chủng vắc xin Nakayama
mà nước này đang sử dụng
* Nepal: Trường hợp VNNB được xác nhận đầu tiên vào năm 1978,
véc tơ chủ yếu là Cx Tritaeniorhynchus Năm 1997 có tới 2.403 trường hợpVNNB được báo cáo với 335 trường hợp tử vong, dịch xảy ra ở khu vực phíatây Nepal, dịch thường bắt đầu vào tháng 8, đỉnh điểm là tháng 9 có tới 615trường hợp và kết thúc vào cuối tháng 10 Lứa tuổi mắc bệnh chủ yếu là trẻ
em dưới 15 tuổi chiếm 68% các trường hợp VNNB Hiện nay tiêm vắc xinphòng bệnh VNNB tại Nepal chưa được sử dụng rộng rãi do giá thành củavắc xin còn cao, việc tiêm vắc xin mới chỉ được áp dụng cho người dân sốngtrong vùng dịch hoặc đi du lịch trong khu vực có dịch tại Nepal vì vậy màviệc khống chế bệnh VNNB ở quốc gia này vẫn còn gặp nhiều khó khăn [49]
* Banglades: Bệnh VNNB được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1977.Theo ngiên cứu điều tra dịch tễ học được tiến hành tại 4 bệnh viện đại học ởBăngladesh trong thời gian 2003- 2005 kết quả cho thấy có 20/429 trườnghợp có bằng chứng nhiễm vi rút VNNB gần thời điểm lấy mẫu, tất cả cáctrường hợp xảy ra trong tháng 12 à thời điểm gió mùa và đều cư trú ở khu vựcnông thôn và ở nhiều nhóm tuổi khác nhau, nhưng hơn 50% các trường hợptrên 15 tuổi, gần 1/3 số bệnh nhân có di chứng thần kinh và gần một nửa dãsuy giảm chức năng nhận thức chủ quan Những phát hiện của nghiên cứu này
đã chỉ ra vi rút VNNB rõ ràng là một trong những nguyên nhân gây viêm não
ở Bangladesh xứng đáng được kiểm tra, giám sát chặt chẽ hơn nữa giúp tácđộng ra quyết định về chính sách phòng bệnh đặc biệt đối với vệc giới thiệuvắc xin VNNB ở quốc gia này [45]
* Thái Lan: Dịch viêm não Nhật Bản được ghi nhận ở Chiang miền Bắc Thái Lan năm 1969 Nhứng năm gần đây có khoảng 1500 – 2.500trường hợp mắc mỗi năm, muỗi véc tơ truyền VNNB chủ yếu là Cx
Trang 27Mai-Tritaeniorhynchus, Cx Gelidus, ổ chứa vi rút chủ yếu là lợn và trâu, bò TháiLan đã sản xuất được vắc xin VNNB bất hoạt chế từ não chuột và đã đưa vàochương trình tiêm chủng mở rộng Quốc gia cho trẻ em và tỷ lệ mắc hàng năm
đã giảm đi đáng kể [57]
* Sri Lanka năm 1985 báo cáo có 410 trường hợp VNNB và 75 ca tửvong, vi rút VNNB tiếp tục lan rộng về phía tây với các trường hợp xảy ra ởPakistan
* Australia: 1995, ghi nhận bệnh nhân VNNB ở nước này tại đảo Baduthuộc Torres Straid, vi rút VNNB được phân lập từ bệnh nhân, đồng thời cũngphân lập được vi rút VNNB từ 2871 muỗi C C Annulirostris thu thập ở đảoBadu mà không phân lập được các loài muỗi khác; năm 1998 thêm 2 trườnghợp VNNB được báo cáo Cho đến nay nhứng trường hợp VNNB ở TorresStraid cà Cape York Peninsula vẫn được ghi nhận
Những nước trên đây đều thuộc khu vực Đông Nam Châu Á và TâyThái Bình Dương với tập quán trồng lúa nước và chăn nuôi lợn Những nơinày đều có ổ chứa vi rút trong thiên nhiên hoang dã và ổ chứa vi rút gầnngười Sự phát triển của bệnh có liên quan nhiều đến đặc điểm sinh lý và sinhthái của muỗi vectơ và người bị mắc bệnh mang tính ngẫu nhiên bị muỗinhiễm vi rút đốt Do đó VNNB là bệnh lưu hành địa phương, có tính mùa,thường xuất hiện những trường hợp tản phát và cũng có lúc xảy ra dịch
* Việt Nam: Nhất là ở miền Bắc, bệnh VNNB thường xuất hiện tảnphát hàng năm, có tính mùa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tần số mắc caonhất vào tháng 6 Có năm xảy ra dịch lớn như năm 1985 Kết quả điều tradịch tễ - huyết thanh học trên quần thể lợn và người cho thấy vi rút VNNBđược phân bố rộng rãi ở mọi nơi, nhưng bệnh nghiêm trọng ở các tỉnh đồngbằng châu thổ sông Hồng và Trung du Bắc bộ với tỷ lệ mắc hàng năm daođộng từ 5 đến 7 trường hợp/100.000 dân trong những năm 80 và mấy năm
Trang 28đầu thập kỷ 90 Đây là thời kỳ chưa sử dụng vắc xin VNNB rộng rãi trongcộng đồng dân cư [29]
Theo một số nghiên cứu, bệnh Viêm não Nhật Bản có thể gặp ở tất cảcác lứa tuổi và đang có xu hướng dịch chuyển sang nhóm tuổi chưa được tiêmphòng vắc xin Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa hè, tỷ lệtăng bắt dầu từ tháng 4 (4,2%) , tháng 5 (34,5%) đỉnh cao là tháng 6 (43,3%),đến tháng 8 giảm hẳn (13%) [48]
Nguyễn Văn Thể, Phạm Ngọc Đính, Phùng Tiến Hội nghiên cứu tạiBắc giang 2001 – 2005 cho thấy tỷ lệ VNNB trong số bệnh nhân có Hộichứng Viêm não cấp là 15,24%
Phan Thị Ngà, Nguyễn Thanh Thủy, Kouichi Morata Viện VSDTTƯ Viện Y học Nhiệt Đới, Trường Đại học Nagasaki, Nhật Bản Hàng năm ViệtNam có 2000 – 3000 trường hợp VNVR, trong đó 30% - 50% xác định do virút [22]
-Những năm trước 1995 khi chưa tiêm vắc xin VNNB tỷ lệ dương tínhtrong các ca bệnh lâm sàng khoảng 65 – 70% Trong những năm gần đây tỷ
lệ này ở các vùng VNNB lưu hành là 40 – 60%
Giai đoạn 1991 – 2001, tỷ lệ mắc VNNB dao động từ 3 – 5 trường hợp/100.000 dân Sau năm 1994 số mắc giảm dần nhưng vẫn giữ ở mức cao3/100.000 dân Năm 2001 cả nước có 2200 trường hợp mắc, tử vong 60 [46]
Giai đoạn 1996 – 2001 lứa tuổi dưới 15 chiếm 97% số mắc cao nhất là
5 – 9 tuổi 48.8%, 1 – 4 tuổi 27.2%, 10 – 14 tuổi 19.3%
Giai đoạn 2004 – 2010 tỷ lệ mắc hàng năm do VNNB xác định là1,3/100.000 dân Tại bến tre năm 2010 ghi nhận 138 trường hợp khảo sáttrong đó có 60 trường hợp (43,5%) mắc viêm não với (5,07%) là viêm nãoNhật Bản [54]
Trang 29Thái Bình là tỉnh được xác định nằm trong vùng lưu hành của vi rútVNNB, tỷ lệ mắc viêm não vi rút /100.000 dân trong những năm gần đây luôncao hơn so với khu vực miền Bắc và toàn Quốc Thực trạng hoạt động giámsát trước đây chủ yếu dựa vào giám sát lâm sàng thông qua chế độ giám sátkhoa lây hàng tuần của hệ thống cán bộ y tế dự phòng , việc giám sát huyếtthanh chỉ mang tính phát hiện mùa dịch, một năm có khoảng 10 – 20 trườnghợp nghi viêm não Nhật Bản ở trẻ em dưới 15 tuổi được xét nghiệm tạiViện VSDTTƯ Từ năm 2001 – 2003 số mẫu gửi đi xét nghiệm là 46 mẫu,
số mẫu dương tính là 40 mẫu (trên 86,9%) Từ năm 2004 – 2006 TháiBình bắt đầu triển khai tiêm vắc xin phòng VNNB trong chương trìnhtiêm chủng mở rộng cho đối tượng trẻ em từ 1 – 5 tuổi tại 1/8 huyện thànhphố trong tỉnh Từ năm 2007 toàn tỉnh được triển khai tiêm vắc xinVNNB trong chương trình TCMR
1.2.2 Sự phân bố bệnh theo thời gian
Ở vùng nhiệt đới bệnh xảy ra quanh năm còn ở vùng cận nhiệt đới bệnhVNNB xảy ra chủ yếu về mùa hè Điều tra dịch tễ học ở Tamil Nadu - Ấn Độ
đã chứng minh rằng tiếp theo lượng mưa tăng thì quần thể muỗi véc tơ tăng
và bệnh VNNB ở người xuất hiện [32]
Theo nghiên cứu của Viện VSDTTƯ cho thấy bệnh VNNB xảy ra chủyếu ở miền Bắc khí hậu với những yếu tố nhiệt độ và mưa cũng ảnh hưởngđến tình hình bệnh, vì ở nhiệt độ từ 27oC – 30oC vi rút thường phát triển tốttrong cơ thể muỗi, nhiệt độ dưới 20oC thì sự phát triển của vi rút dừng lại theonghiên cứu của Lê Hồng Phong và các cộng sự giai đoạn 1988 – 1992 tạimiền Bắc, số ca bệnh được ghi nhận vào mùa Đông rất thấp, nhưng tăng caovào những tháng hè 5,6 và 7
Trang 301.2.3 Sự phân bố bệnh theo tuổi
Tất cả mọi lứa tuổi chưa có kháng thể miễn dịch đặc hiệu đều có thểmắc viêm não Nhật Bản, trong những vùng có vi rút VNNB lưu hành, trẻ em
là đối tượng có nguy cơ mắc cao Tỷ lệ mắc VNNB ở trẻ em dưới 10 tuổichiếm 87,7% hiếm khi gặp ở trẻ sơ sinh Đối với những người sống ở vùnglưu hành vi rút VNNB, nguy cơ mắc VNNB đối với các lứa tuổi là như nhaunên khách du lich từ châu Á rất dễ bị nhiễm vi rút VNNB Tuy nhiên nguy cơnày phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố như mùa đi du lịch, nơi đến, thời gian sốngtrong vùng du lịch
1.2.4 Kiểm soát dịch bệnh và các biện pháp phòng chống
- Thông báo thường kỳ các kết quả giám sát dịch tễ học cho cơ quan Y
tế Dự phòng cấp trên để phân tích và đề ra các biện pháp phòng chống dịchthích hợp Trong công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ thường kỳ, cầncung cấp cho nhân dân biết những thông tin về hội chứng viêm não, bệnhVNNB lâm sàng, ổ chứa vi rút và muỗi vectơ truyền bệnh để nhân dân có thểphát hiện sớm bệnh và tự thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Khôngcần cách ly bệnh nhân VNNB, nhưng người khoẻ mạnh cần nằm màn để tránhmuỗi đốt
- Phòng chống vectơ: Chuồng gia súc, gia cầm phải được đặt xa nhà ở
và làm vệ sinh, hun khói để xua đuổi muỗi thường xuyên Có thể phun hoáchất loại lân hữu cơ, carbamate hoặc pyrethroid tổng hợp bằng phương phápphun tồn lưu, phun khói nóng hoặc phun khí dung (aerosol) tại chuồng súc vật
và xung quanh nhà ở để diệt vectơ VNNB Nhưng thời gian tác dụng ngắn,hiệu quả rất hạn chế và giá thành rất cao Vấn đề tồn tại của biện pháp phunhoá chất là:
Trang 31Muỗi Culex tritaeniorhynchus có thể bay được xa, nhưng hóa chất chỉ
có thể được phun ở phạm vi chuồng súc vật và/hoặc xung quanh nhà ở Saukhi phun chỉ số mật độ vectơ chỉ giảm một thời gian ngắn, sau đó muỗi vectơ
ở vùng lân cận lại tiếp tục bay đến theo quy luật cân bằng sinh thái
Dùng hoá chất diệt ấu trùng trên đồng ruộng cũng chỉ có hiệu quảkhoảng 1-2 tuần lễ Sau nhiều lần sử dụng, hoá chất đó sẽ giảm dần hiệu lực
và dẫn đến sự kháng hoá chất của muỗi vectơ Vì những tồn tại đó, biện phápdùng hoá chất diệt vectơ là kém hiệu quả và không thực tế
- Gây miễn dịch cho lợn: Mục đích của biện pháp này là để cắt đứt giai
đoạn nhiễm vi rút huyết của quần thể lợn, ngăn chặn sự lây truyền vi rútVNNB trong tự nhiên Biện pháp này đã được áp dụng ở một vài nước nhưNhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và đã làm giảm số người mắc bệnh VNNBnhư ở đảo Iki, khu vực Nagasaki từ năm 1967 Tuy nhiên, biện pháp này cũng
có những tồn tại như:
Đàn lợn nuôi để lấy thịt sẽ đưa vào lò mổ khoảng từ 6-8 tháng tuổi,như vậy tỷ lệ luân chuyển đàn lợn cao, trong khi đó vắc xin sống giảm độclực không chỉ định tiêm vắc xin cho lợn < 6 tháng tuổi vì còn kháng thể mẹ
Khoảng tuổi được chỉ định tiêm vắc xin cho mỗi con lợn hẹp (khoảng 2tháng), dẫn đến tỷ lệ tiêm vắc xin trong đàn lợn đạt thấp sẽ tạo ra túi hổngmiễn dịch trong quần thể lợn, trong khi đó những con lợn vừa được gây miễndịch thì đã đến tháng đưa vào lò mổ lấy thịt
Kết quả của biện pháp gây miễn dịch cho lợn chưa đạt được yêu cầumong muốn và rất tốn kém
- Gây miễn dịch ở người (tiêm chủng): Tiêm chủng là đưa vắc xin vào
cơ thể thông qua đường tiêm, uống, hít Để kích thích cơ thể sinh ra khángthể đặc hiệu chống lại mầm bệnh tương ứng khi chúng xâm nhập cơ thể [38]
Trang 32* Lợi ích khi tiêm chủng và nguy cơ khi không tiêm chủng
Tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả tốt và ít tốnkém nhất trong các hoạt động y tế Tiêm chủng phòng bệnh là cần thiết chomọi đối tượng có nguy cơ nhiễm bệnh mà chưa có miễn dịch, đặc biệt là trẻ
em Miễn dịch thụ động nhờ kháng thể do mẹ truyền qua rau thai hoặc quasữa mẹ chỉ tồn tại một thời gian, trung bình khoảng 6 tháng và chỉ còn đối vớinhững bệnh mà cơ chế bảo vệ chủ yếu do miễn dịch dịch thể, còn không cóhoặc có rất ít đối với những bệnh mà cơ chế bảo vệ là miễn dịch qua trunggian tế bào Vì vậy trẻ có thể mắc một số bệnh ngay từ tháng đầu tiên sau khisinh Nếu trẻ không được tiêm vắc xin, trẻ sẽ có nguy cơ nhiễm bệnh và sẽ cónguy cơ tử vong hoặc tàn phế do bệnh truyền nhiễm trong đó có bệnh VNNBgây lên [3], [6], [38]
Tiêm phòng cho từng cá nhân cũng góp phần bảo vệ sức khỏe cho cộngđồng, đặc biệt cho những người không được miễn dịch, bao gồm trẻ chưa đếntuổi tiêm vắc xin, những người không được tiêm chủng do các nguyên nhân y tế
(như những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp, suy giảm miễn dịch mắc phải) và
những người không có đáp ứng miễn dịch đầy đủ với tiêm chủng Sự lan truyềnmầm bệnh trong cộng đồng sẽ bị hạn chế Tiêm chủng sẽ làm chậm lại hoặcchặn đứng các vụ dịch [30]
* Vắc xin VNNB
Tiêm vắc xin VNNB là biện pháp can thiệp đặc hiệu rất có hiệu quả
để phòng bệnh Bằng biện pháp này, các nước Nhật Bản, Hàn Quốc đã loạitrừ được bệnh này Hiện nay có 3 loại vắc xin VNNB đang được sử dụngtrên thế giới:
Vắc xin VNNB bất hoạt được chế tạo từ chủng vi rút kháng nguyênNakayama-Yoken và/hoặc Beijing-1 trên não chuột Vắc xin này đang đượcdùng phổ biến ở Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khối Asian, trong đó có
Trang 33Việt Nam Gây miễn dịch cơ bản bằng 2 liều cách nhau từ 7-14 ngày Tuỳtheo mức độ nghiêm trọng của bệnh lưu hành địa phương mà có thể chỉ địnhtiêm nhắc lại một liều bổ sung sau một năm trở lên [53]
Vắc xin VNNB bất hoạt chế tạo từ chủng vi rút kháng nguyên P3 trên
tế bào thận chuột đất vàng do Viện Sinh phẩm Sinh học Bắc Kinh, TrungQuốc từ năm 1967 và được sử dụng ở nước này
Vắc xin sống giảm độc lực được Trung Quốc chế tạo từ chủng vi rútkháng nguyên SA-14-14-2 trên tế bào thận chuột đất vàng tiên phát Vắc xinnày đã được chứng minh 1à an toàn, hiệu lực và được phép sử dụng tại TrungQuốc [47], [53]
Sự phát triển của vắc xin thế hệ thứ 2 Tổ chức y tế thế giới đã đề racần thiết phát triển một loại vắc xin VNNB thế hệ 2 bằng cách sử dụng côngnghệ tái tổ hợp ADN vì protein kháng nguyên E có tính trung hòa mà người ta
đã cố gắng bộc lộ được gen protein E trong gen tái tổ hợp Những tiến triểntrong phạm vi nghiên cứu này sẽ có triển vọng tạo ra một vắc xin mới có hiệulực cao, an toàn và kinh tế
Ở Việt Nam , năm 1989 đã tiếp nhận công nghệ sản xuất vắc xinVNNB bất hoạt tinh khiết từ não chuột được chuyển giao từ viện Biken, NhậtBản Tính đến năm 2013, hơn 40 triệu liều vắc xin đã được sản xuất tại ViệtNam và đưa vào sử dụng, trong đó có 24.741.600 liều phục vụ cho chươngtrình TCMR; 14.533.85 liều cho các cơ sở tiêm chủng dịch vụ và 4.447.050liều xuất khẩu sang Ấn Độ Ghi nhận từ chương trình TCMR Quốc gia thìphản ứng sau tiêm chủng vắc xin VNNB là hiếm gặp Vắc xin VNNB đượcđưa vào trong chương trình TCMR để phòng bệnh cho trẻ em ở những vùngnguy cơ cao Việc sử dụng vắc xin VNNB cho trẻ em từ 1 – 5 tuổi đã đượctriển khai trong cả nước, ước tính khoảng 60% trẻ em từ 1 – 5 tuổi được tiêmphòng vắc xin VNNB đã góp phần làm giảm số mắc VNNB trong nhóm tuổinày [2], [27]
Trang 34* Lịch tiêm vắc xin VNNB
Mũi 1 được tiêm khi trẻ đủ trên 12 tháng;
Mũi 2 cách mũi 1 từ 1 – 2 tuần;
Mũi 3 cách mũi 2 sau 1 năm, từ mũi 4 trở đi cứ sau 3 - 4 năm lại nhắclại một lần ít nhất đến năm 15 tuổi [4], [5]
1.3 Nhận thức, thực hành của các bà mẹ về tiêm chủng mở rộng và về bệnh viêm não Nhật Bản
* Yếu tố liên quan đến nhận thức, thực hành về tiêm chủng mở rộng
và phòng bệnh VNNB bằng vắc xin
Việc duy trì tiêm chủng đối với các loại vắc xin là rất quan trọng, tuynhiên trong thời gian gần đây do ảnh hưởng tâm lý lo ngại về một số phảnứng sau tiêm nên tỷ lệ tiêm chủng một số bệnh trong đó có bệnh VNNBgiảm làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả tiêm chủng và có thể gây hậuqủa nặng nề trong những năm sau này
Có nhiều yếu tố rào cản dẫn đến việc người chăm sóc trẻ có thực hànhtiêm chủng không như mong muốn (trì hoãn cho trẻ tiêm mũi vắc xin đầutiên; không cho trẻ đi tiêm chủng đầy đủ; không cho trẻ tiêm chủng đúng lịch,không giữ phiếu tiêm chủng đúng lịch; không giữ phiếu tiêm chủng của trẻ,chăm sóc sau tiêm chủng kém ) đó là một trong những yếu tố sau:
Thiếu kiến thức về tiêm chủng trong đó có kiến thức về bệnh VNNB,không tin tưởng vào dịch vụ tiêm chủng, không tin vào lợi ích của vắc xin,cho rằng vắc xin phải an toàn tuyệt đối vì vậy khi có phản ứng sau tiêm chủngngười chăm sóc trẻ nghi ngờ chất lượng vắc xin và dễ dàng từ chối tiêmchủng Không chấp nhận/trì hoãn trẻ tiêm nhắc lại, tiêm đầy đủ và khôngđúng lịch Do ảnh hưởng tôn giáo, điều kiện địa lý, tin đồn
Trang 35Theo Nguyễn Phúc Duy, Hồ Thư cùng cộng sự trong nghiên cứu “tìmhiểu kiến thức và thái độ thực hành về tiêm chủng mở rộng của các bà mẹ cócon dưới 1 tuổi ở huyện mền núi Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” cho thấy:Kiến thức hiểu biết về tiêm chủng của các bà mẹ về lợi ích của tiêm chủngđạt 95,6%, biết đúng số lần tiêm chủng của trẻ 24,7%; biết đúng lịch tiêmchủng 28,4%, không đúng 71,6% Hiểu biết về các bệnh phòng được qua tiêmchủng từ 42,0% đến 48,4%, không biết 34,4% Hiểu biết các phản ứng sautiêm chủng gồm sốt 94,5%, sưng đỏ tại chỗ tiêm 81,1%, bỏ bú và chán ăn50,1% Kiến thức không đem trẻ đi tiêm chủng lý do do sợ tai biến chiếm tỷ
lệ 27,2% và sốt là 23,4%
Theo Nguyễn Văn Cường, Dương Thị Hồng, Nguyễn Liên Hương cùngcộng sự thì việc kết hợp ba phương pháp thu thập thông tin về tiêm chủngxem phiếu cá nhân, xem sổ tiêm chủng tại trạm y tế và phỏng vấn hộ gia đìnhthì tỷ lệ tiêm chủng riêng rẽ cho từng loại vắc xin đạt trên 90% tỷ lệ tiêmchủng đầy đủ cho trẻ là 88,7% [8]
- Theo Huỳnh Giao, Phạm Lê Anh trong nghiên cứu “ Kiến thức, thái độcủa các bà mẹ có con dưới 1 tuổi về tiêm chủng trong TCMR, thuốc chủngphối hợp, thuốc chủng Rotavi rút tại bệnh viện nhi đồng 2 quận Tân Phú TP
Hồ Chí Minh năm 2009” cho thấy 81,3% bà mẹ có kiến thức về sự cần thiết
phải tiêm ngừa 33,3% có kiến thức về lịch tiêm ngừa, 30,8% có kiến thức vềcác bệnh phòng ngừa được 81,7% bà mẹ chấp nhận tiêm miễn phí
- Theo Trịnh Quang Trí, Trần Kim Long, Nguyễn Hữu Huyên nghiêncứu về “Tỷ lệ tiêm chủng đầu đủ của trẻ dưới 1 tuổi tại Đắc Lắc 2012 và một
số yếu tố liên quan” cho thấy trình độ học vấn của người mẹ càng cao thì tỷ lệtiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 1 tuổi càng nhiều Trẻ sinh tại cơ sở y tế hoặc tạinhà do cán bộ y tế đỡ có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ gấp 1,37 lần so với nhữngtrẻ sinh tại nhà không do cán bộ y tế đỡ đẻ Trẻ em người kinh có tỷ lệ tiêm
Trang 36chủng đầy đủ (87,5%) gấp 1,21 lần so với trẻ em người dân tộc thiểu số [37].Như vậy có thể thấy có mối liên quan giữa trình độ học vấn với kiến thứcthực hành của bà mẹ về việc phòng bệnh cho trẻ
* Yếu tố liên quan đến việc thực hành phòng bệnh VNNB bằng các biện pháp khác
Trên phương diện xã hội, phòng bệnh VNNB phải là công tác tổng lựcbao gồm việc phòng chống bệnh tại các ổ dịch và vùng ven, phun thuốc, diệt
bọ gậy của các hộ gia đình, xử lý các khu vực ứ đọng phân, nước, rác
Ở cộng đồng: Luôn giữ gìn vệ sinh môi trường đặc biệt là làm sạch tất
cả những nơi bị ô nhiễm, khơi thông cống rãnh, loại bỏ các dụng cụ chứanước đọng, phát quang các bụi rậm quanh nhà, phun hóa chất (do y tế cơ sởhoặc các đội phòng chống dịch đảm nhận) ở các khu vực dân cư để diệt muỗi.Thả cá cảnh để ăn bọ gậy hoặc đổ dầu nhờn ở những vùng nước đọng để diệt
bọ gậy
Đối với gia đình và cá nhân: Ngủ màn dù là ngủ ban ngày hay ngủ banđêm để tránh muỗi đốt Sử dụng màn tẩm hóa chất để phòng chống bệnh sốtrét, sốt xuất huyết, VNNB Hóa chất dùng để tẩm màn là một chất diệt muỗiPermethrin có tác dụng nhanh khi muỗi tiếp xúc Dùng lưới chống muỗi, lướiđược chắn tại cửa ra vào, cửa sổ và các khoảng trống khác ở trong nhà Dùnghương chống muỗi: Hương muỗi là chất diệt muỗi phổ biến vì dễ sử dụng, cóhiệu quả và rẻ tiền, khi đốt hương lên đặt hương càng thấp càng tốt ở ngay nơingười cần bảo vệ Dùng hóa chất xoa trực tiếp lên da hoặc quần áo hóa chấtnày có tác dụng giết hoặc “hạ gục” muỗi mỗi khi tiếp xúc Thời gian tác dụngbảo vệ da của hóa chất có thể kéo dài từ 15 phút đến 10 tiếng đồng hồ [9].Theo nghiên cứu Bộ y tế Nepal cho rằng tỷ lệ trẻ em mắc bệnh VNNBhàng năm chiếm tới 40%, và bệnh VNNB có liên quan đến vấn đề nông
Trang 37nghiệp tại đây do tập quán chăn nuôi gia súc, gia cầm nhỏ lẻ Để giảm nguy
cơ phơi nhiễm tại các hộ gia đình với VNNB Bộ y tế Nepal đã thực hiện cácbiện pháp truyền thông để thay đổi kiến thức, thái độ của người dân với cănbệnh này Với 3000 hộ gia đình tham gia với tổng số người là 1800 trong đó56% biết chữ và 46% làm nông nghiệp và kết quả cho biết chỉ có 32% sốngười nghe nói về bệnh VNNB Trong số những người nghe nói về bệnhVNNB thì có tới 70% biết được là bệnh VNNB truyền qua muỗi và 89% sốngười trong số đó cho rằng VNNB có liên quan đến lợn và có 61% thực hiệnngủ màn, 24% tránh xa lợn và 9% cho rằng cần tiêm chủng Cũng trong sốnhững người biết về bệnh VNNB thì 95% cho rằng khi mắc VNNB cần đếnnhân viên y tế, 53% cho rằng cần cách ly bệnh nhân mắc VNNB Và về thựchành chỉ có 1% các hộ gia đình có sử dụng vắc xin; 73 % sử dụng ngủ mànchống muỗi đốt [49]
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh VNNB được tiến hành trên phạm vitoàn tỉnh Thái Bình, nghiên cứu về nhận thức, thực hành của các bà mẹ cócon dưới 5 tuổi về bệnh VNNB được triển khai tại 9 xã/phường/thị trấn trênđịa bàn của tỉnh Thái Bình
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc ViệtNam Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110 km vềphía Đông Nam, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía Tây Nam TháiBình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: Hải dương ở phía Bắc, Hưng Yên ở phíaTây Bắc, Hải Phòng ở phía Đông Bắc, Hà Nam ở phía Tây, Nam Định ở phíaTây và Tây Nam Phía Đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ)
Trang 39Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình
Thái Bình là tỉnh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưanhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đếntháng 4 năm sau
Địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1 –2m trên mực nước biển, thấp dần từ Bắc xuống Đông Nam
Diện tích đất tự nhiên là 1.542 km2 với số dân trên 1.788.759 người, mật
độ dân số trung bình là 1.142 người/km2 là tỉnh có mật độ dân số đứng thứ 5toàn quốc
Về hành chính Thái Bình có 7 huyện và 1 thành phố với 286 xã, phường,thị trấn với một hệ thống đường giao thông chính thuận tiện cho việc giao lưu,buôn bán, vận chuyển hàng hóa giữa các tỉnh Nam Định, Hải Phòng, HảiDương và Hưng Yên Là tỉnh đi đầu trong việc xây dựng hệ thống điện -đường - trường - trạm với hệ thống xây dựng cơ bản khang trang, đảm bảocho việc an sinh cho nhân dân trong tỉnh
Về lĩnh vực y tế, hệ điều trị 13 bệnh viện đa khoa công lập trong đó có
01 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, hệ dự phòng có trung tâm Y tế Dự phòngtỉnh và 8 trung tâm Y tế huyện/thành phố, tuyến xã có 286 Trạm Y tế có đủnăng lực trong giám sát các bệnh truyền nhiễm nói chung và bệnh viêm nãoNhật Bản nói riêng
Thái Bình là tỉnh được Bộ Y tế, chương trình tiêm chủng mở rộng quốcgia – Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đánh giá rất cao về các hoạt động tiêmchủng Trong nhiều năm trở lại đây, Thái Bình luôn duy trì tỷ lệ tiêm chủng
đủ mũi ở mức độ cao đạt trên 98%
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 40- Sổ sách lưu trữ liên quan đến bệnh VNNB tại tỉnh Thái Bình giaiđoạn 2009 – 2013.
- Tất cả các trường hợp Viêm não Nhật Bản/ Viêm não vi rút được điềutra, lưu giữ tại trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thái Bình, Trung tâm y tế cáchuyện và thành phố từ năm 2009 - 2013
- Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tính đến thời điểm điều tra tại 9xã/phường/thị trấn trên địa bàn tỉnh Thái Bình
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian 6 tháng, từ tháng 4/2015 đếntháng 9/2015
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu hồi cứu sốliệu trong 5 năm từ 2009 – 2013, kết hợp với mô tả cắt ngang có phân tích đểxác định thực trạng kiến thức, thực hành của các bà mẹ về bệnh viêm nãoNhật Bản
2.2.1.1 Nghiên cứu hồi cứu số liệu từ 2009 - 2013
- Hồ sơ lưu trữ số liệu về bệnh VNNB tại trung tâm y tế dự phòng tỉnhThái Bình, các phiếu điều ca bệnh VNNB tại các trung tâm y tế 8/8 huyệnThành phố thuộc tỉnh Thái Bình từ năm 2009 – 2013.
2.2.1.2 Nghiên cứu định lượng
- Phỏng vấn kiến thức, thực hành về bệnh viêm não Nhật Bản của bà mẹ
có con dưới 5 tuổi tính đến thời điểm điều tra được chọn vào nghiên cứu theocách chọn ngẫu nhiên Sử dụng phiếu điều tra cá nhân