Đồng thời để thực hiện nguyên tắc pháp lý chung đó, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về thuế để điều tiết các khoản thu phát sinh trong quá trình vận động của các quan
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Hương
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này - PGS.TS Đinh Dũng Sỹ - người đã cho tôi những hướng dẫn hết sức quý báu, giúp tôi hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa sau Đại học, Khoa Pháp luật kinh tế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
LỜI CAM ĐOAN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI CỤC THUẾ
Trang 2Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Hương
Trang 3thực hiện luận văn này - PGS.TS Đinh Dũng Sỹ - người đã cho tôi những hướng dẫn hết sức quý báu, giúp tôi hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa sau Đại học, Khoa Pháp luật kinh tế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, quan tâm và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nghiên cứu và hoàn thiện Luận văn này một cách tốt nhất xong vẫn còn nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được những nhận xét, đóng góp để Luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 4TNDN :Thu nhập doanh nghiệp
Trang 5Bảng 2.1 Tổng số thu thuế TNDN giai đoạn 2015 – 2017 ……… 26 Bảng 2.2 Tình hình nợ thuế giai đoạn 2015 – 2017… ………33 Bảng 2.3 Tình hình thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế … …… 36
Trang 6
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghên cứu đề tài 2
3 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4
6 Ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng của đề tài 5
7 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 6
1.1.Khái quát về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 6
1.1.2 Đặc điểm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 7
1.1.3 Mục đích của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 9
1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp ………10
1.2.1 Khái niệm pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 10
1.2.2 Đặc điểm pháp luật quản lý thuế TNDN 12
1.3. Nội dung pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 13
1.3.1 Đăng ký thuế, khai thuế, ấn định thuế và nộp thuế 13
1.3.2 Hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế 14
1.3.3 Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt 15
1.3.4 Quản lý thông tin nguời nộp thuế 16
1.3.5 Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 16
1.3.6 Thanh tra, kiểm tra thuế 17
1.3.7 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CỤC THUẾ TỈNH LẠNG SƠN 20
2.1 Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 20
Trang 7tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015 - 2017 26
2.3.Thực tiễn quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 29
2.3.1 Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 29
2.3.2 Đăng kí, kê khai, nộp thuế 30
2.3.3 Miễn, giảm, hoàn thuế 32
2.3.4 Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 32
2.3.5 Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp 35
2.3.6 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp lụât về thuế thu nhập doanh nghiệp 36
2.3.7 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế 37
2.3.8 Quản lý thông tin người nộp thuế 38
2.4 Đánh giá công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 39
2.4.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 39
2.4.2 Những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 47
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CỤC THUẾ TỈNH LẠNG SƠN 48
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp và công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Lạng Sơn 48
3.2 Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp và công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Lạng Sơn 49
3.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 50
3.4 Một số giải pháp nâng cao công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 53
Trang 83.4.4 Đối với công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 57
3.4.5 Đối với công tác thanh tra, kiểm tra 59
3.4.6 Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thuế 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực công, trong mọi thời đại, nhà nước luôn có sứ mệnh cai trị và tổ chức, quản lý xã hội phát triển Sự hoạt động của Nhà nước trong các lĩnh vực đòi hỏi Nhà nước phải có nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định Trong quá trình phân phối các nguồn tài chính cho xã hội, Nhà nước huy động và sử dụng một bộ phận thu nhập của xã hội để thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước thông qua Ngân sách Nhà nước
Trong các nguồn thu Ngân sách Nhà nước thì nguồn thu từ thuế chiếm
vị trí quan trọng nhất, chiếm tỉ trọng trên 90% tổng số thu Ngân sách Nhà nước trong năm Vì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước do đó thuế huy động sự đóng góp của mọi tầng lớp công chúng đối với nhà nước, có liên quan đến mọi thành phần trong xã hội và là công cụ kiểm soát sắc bén của Nhà nước đối với quá trình sản xuất kinh doanh, là một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho Ngân sách nhà nước
Với tầm quan trọng đó, Nhà nước quy định nguyên tắc chung về nghĩa
vụ nộp thuế của các thể nhân, pháp nhân trong Hiến pháp - Văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước Đồng thời để thực hiện nguyên tắc pháp lý chung đó, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về thuế để điều tiết các khoản thu phát sinh trong quá trình vận động của các quan hệ kinh tế xã hội, bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế môn bài, thuế tài nguyên,… Bên cạnh đó, để đảm bảo nguồn thu
từ các sắc thuế trên một cách kịp thời và hiệu quả, Nhà nuớc ta ban hành văn bản pháp lụât về công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng, đồng thời trao quyền cho cơ quan thuế trực tiếp quản
lý các hoạt động liên quan đến quản lý thuế
Trang 10Từ khi ban hành, Lụât quản lý thuế cũng như các sắc thuế cụ thể là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã có nhiều sửa đổi bổ sung phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội, điều kiện phát triển đất nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời huy động được những nguồn lực kinh tế từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đóng góp vào tổng thu Ngân sách nhà nước hàng năm
Cùng với sự thay đổi đó, đòi hỏi cơ quan thuế phải luôn đổi mới trong
cơ chế quản lý để có thể quản lý một cách có hiệu quả, đặc biệt là trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp để kiểm soát các doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp lụât, đảm bảo thu thuế kịp thời
và đúng thời hạn
Trên cơ sở thực tiễn đó, em xin lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp từ thực tiễn thi hành tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn” để có thể nghiên cứu sâu hơn về những ưu điểm, tồn tại của pháp luật
quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua thực tiễn thi hành tại nơi đang công tác Từ đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật về quản lý thuế có tính thực tiễn cao cũng như hoàn thiện hệ thống quản lý thuế tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn
2 Tình hình nghên cứu đề tài
Vấn đề thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu trước đây như:
- Một số luận án nghiên cứu về pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý thuế nói chung như:
+ Luận án Tiến sĩ Luật học “Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Vũ Văn Cương -
trường Đại học Luật Hà Nội (2012);
Trang 11+ Luận văn Thạc sỹ Luật học “Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
và thực tiễn trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Ngô Thị Cẩm Lệ - Khoa Luật -
Đại học quốc gia Hà Nội (2012);
+ Luận văn Thạc sỹ Luật học “Pháp luật quản lý thuế thu nhập ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc
Ánh - Trường Đại học Luật Hà Nội (2015);
+ Luận văn Thạc sỹ quản trị kinh doanh, Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế Đà Nẵng” của tác giả Lý Vân Phi - Đại học Đà Nẵng
(2011)…
- Một số bài viết đăng trên tạp chí, website liên quan đến pháp luật quản lý thuế như bài viết “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về quản lý thuế ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thủy,ThS GV Khoa Luật thương mại, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; bài viết đăng trên tạp chí Luật học (2009) “Thông tin về người nộp thuế trong pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay” của tác giả Vũ Văn Cương,
Xét một cách tổng thể, các công trình nghiên cứu tập trung khai thác về pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc nghiên cứu về quản
lý thuế thu nhập nói chung hoặc quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế, rất ít công trình nghiên cứu sâu về mặt lý luận của pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp kể từ khi luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung năm 2016
Trên cơ sở kế thừa những đóng góp của những công trình nghiên cứu trước về pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, với đề tài
“Pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp từ thực tiễn thi hành tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn” sẽ tiếp tục góp phần hoàn thiện vấn đề pháp
luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua việc phân tích đánh giá
Trang 12các quy định của pháp luật và thực tiễn quá trình áp dụng pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
3 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Thông qua nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, đề tài “Pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp từ thực tiễn thi hành tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn” hướng đến các mục đích sau:
- Về mặt lý luận: Luận văn nêu và phân tích những vấn đề lý luận của pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành Đồng thời, luận văn phân tích và làm rõ những ưu điểm và bất cập của pháp luật quản lý thuế
thu nhập doanh nghiệp hiện hành
- Về mặt thực tiễn: Luận văn phân tích thực trạng áp dụng pháp luật quản
lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn Luận văn phân tích những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng pháp luật quản lý thuế
thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn Từ đó, đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như nâng cao công tác quản lý thuế tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những quy định của pháp luật về quản lý thuế
thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi nghiên cứu: Quy định pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn giai đoạn
2015 – 2017
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Như nhiều công trình khoa học pháp lý khác, luận văn này được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin
Trang 13Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản khác tùy theo từng nội dung cụ thể như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm làm rõ các quy định pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp Phương pháp phân tích, đánh giá được sử dụng nhằm phân tích đánh giá một số điều luật cụ thể; phương pháp thống kê một số số liệu về tình hình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn
6 Ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng của đề tài
Với việc nghiên cứu luận văn này, giúp hệ thống lại những vấn đề lý luận cơ bản về thuế TNDN và quản lý thuế TNDN Đồng thời, chỉ ra những
ưu điểm và hạn chế của pháp luật về quản lý thuế TNDN trong quá trình áp dụng, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
Bên cạnh đó, luận văn còn đánh giá những kết quả đạt được cũng như nhận diện những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý thuế TNDN tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp mang tính thiết thực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương chính:
• Chương 1 Cơ sở lý luận về pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh
nghiệp
• Chương 2 Thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh
nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn
• Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Quản lý thuế là hoạt động tất yếu của Nhà nước bởi vì thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, thuế không chỉ là quan hệ quyền lực và nghĩa vụ mà
nó còn là quan hệ lợi ích giữa Nhà nước với các tổ chức, cá nhân trong xã hội
Vì vậy, mà quan hệ thu nộp thuế là loại quan hệ khá phức tạp ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, các tổ chức cũng như các cá nhân trong xã hội Nếu Nhà nước không quản lý hoặc quản lý kém hiệu quả đều gây ra những hậu quả xấu cho Nhà nước cũng như toàn xã hội ví dụ như tình trạng thất thu hoặc lạm thu, gian lận, trốn thuế… Chính vì vậy, quản lý thuế là hoạt động cần thiết, quan trọng luôn được Nhà nước và xã hội quan tâm
Quản lý thuế nói chung, quản lý thuế TNDN nói riêng là một nội dung của quản lý Nhà nước về kinh tế nên khái niệm quản lý thuế, quản lý thuế TNDN có nét tương đồng với khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế Trong cuốn “Tài chính công” của Khoa Tài chính Nhà nước Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2005) thì “Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp
vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện”…”Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định” Với quan niệm như vậy, quản lý thuế là quản lý thu thuế Nó bao gồm xây dựng kế hoạch thu thuế, tổ chức các biện pháp hành thu và tổ chức bộ máy ngành thuế.1
Theo đó, có thể hiểu quản lý thuế là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực của mình tác động lên đối tượng quản lý thuế bằng những công cụ và phương pháp thích hợp làm cho chúng vận động phù hợp với mục tiêu đặt ra
Từ khái niệm trên, có thể thấy chủ thế quản lý thuế là Nhà nước, Nhà nước ở
1 Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND (2014)
Trang 15đây bao gồm cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Tùy theo tổ chức bộ máy hành chính của mỗi quốc gia, mỗi nước có cơ quan hành chính Nhà nước trực tiếp quản lý thuế phù hợp Đối tượng của quản lý thuế là các quan hệ phát sinh trước, trong và sau quá trình triển khai tổ chức thu nộp thuế cho Nhà nước có thể là quan hệ phát sinh giữa cơ quan thuế với NNT, giữa nội bộ cơ quan thuế, giữa NNT với nhau Chính vì tính chất phức tạp này đòi hỏi phải
có các công cụ và phương pháp quản lý thuế thích hợp
Tuy nhiên, để nghiên cứu quản lý thuế theo hướng trên cần nhiều thời gian tìm hiểu, phân tích, đòi hỏi tính chuyên môn cao nên trong phạm vi nghiên cứu về pháp luật quản lý thuế TNDN, luận văn xin phép được đề cập đến khái niệm quản lý thuế cũng như khái niệm quản lý thuế TNDN theo một góc độ hẹp hơn
Theo đó, khái niệm quản lý thuế TNDN có thể được hiểu là quá trình Nhà nước trao quyền cho cơ quan quản lý thuế: cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp bao gồm các hoạt động nghiệp vụ mang tính chất hành chính trong lĩnh vực thuế nhằm đảm bảo tập trung đầy đủ, đúng hạn nguồn thu từ thuế TNDN vào NSNN
1.1.2 Đặc điểm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ nhất, quản lý thuế TNDN là hoạt động nhạy cảm, phức tạp
Có thể nói quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng là một hoạt động nhạy cảm, phức tạp, bởi lẽ thuế liên quan trực tiếp đến quyền lợi của NNT và Nhà nước NNT phải trích một phần lợi ích để chuyển cho Nhà nước mà không thể trì hoãn hay khước từ Ngược lại, Nhà nước mong chờ nguồn thu từ thuế để đảm bảo nguồn vật chất đầu vào cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Rõ ràng việc thu nộp thuế ảnh hưởng đến quyền lợi của
cả hai bên chủ thể - đối tượng quản lý và đối tượng chịu sự quản lý Hoạt động quản lý thuế đòi hỏi phải đảm bảo quyền lợi cho hai bên Để làm được điều đó, đòi hỏi cơ quan thuế phải có những phương thức quản lý linh hoạt,
Trang 16không thể tùy tiện đưa ra các quy định có tính áp đặt, bắt buộc đối tượng chịu
sự quản lý phải tuân thủ
Thứ hai, quản lý thuế TNDN bằng pháp luật, thể chế, quy chế, nguyên tắc, mô hình và các nghiệp vụ hành chính được định trước
Về bản chất, quản lý thuế TNDN là quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực thuế Vì vậy, quản lý thuế được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước cũng như phải quản lý bằng pháp luật và các nghiệp vụ khác Trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu chuẩn mực buộc mọi người phải tuân thủ dù là cơ quan thu thuế hay NNT Đây là một yêu cầu khách quan trong nền kinh tế thị trường để xây dựng một Nhà nước pháp quyền, quản lý theo luật nhằm bảo vệ quyền lợi Nhà nước đồng thời bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của đối tượng nộp thuế
Thứ ba, chủ thể quản lý thuế TNDN
Nhà nước trao quyền hạn trách nhiệm quản lý trực tiếp cho cơ quan thuế Về cơ bản thì quản lý thuế TNDN nói riêng và quản lý thuế nói chung là trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức và mọi cá nhân trong xã hội Tuy nhiên,
để đảm bảo thực thi trách nhiệm quản lý thuế TNDN, Nhà nước trao quyền hạn trách nhiệm quản lý thuế trực tiếp cho cơ quan thuế
Thứ tư, chủ thể chịu sự quản lý
Đối tượng chịu sự quản lý chính là đối tượng nộp thuế TNDN quy định tại điều 2 Luật thuế TNDN sửa đổi, bổ sung Theo đó, đối tượng nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:
• Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
• Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có
cơ sở thường trú tại Việt Nam;
Trang 17• Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;
• Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
• Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập
Theo quy định tại khoản 7, điều 4, Luật doanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp là tổ chức tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Doanh nghiệp là một loại chủ thể pháp luật – cơ sở để tổ chức nhân danh mình tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức và họat động của mình Tuy nhiên, để được công nhận là chủ thể pháp lý, các doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký kinh doanh theo trình tự thủ tục luật định với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Kể từ thời điểm được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp có quyền thực hiện các hành vi kinh doanh của mình Đồng thời, kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về thuế: đăng ký mã số thuế, nộp hồ sơ khai thuế, nộp thuế… với cơ quan thuế
1.1.3 Mục đích của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ nhất, quản lý thuế TNDN nhằm thực hiện nghiêm các luật thuế, đảm bảo nộp đúng, nộp đủ và nộp kịp thời tiền thuế vào NSNN
Như đã đề cập ở trên, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, đảm bảo nhu cầu chi tiêu của xã hội, như vậy quản lý thuế là một họat động cần thiết
và quan trọng, sử dụng quyền lực của Nhà nuớc quản lý nhằm đảm bảo NNT tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về thuế
Thứ hai, đề cao ý thức tự giác chấp hành chính sách, pháp luật về thuế
và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ về thuế, xóa bỏ những thủ tục hành chính không cần thiết gây phiền hà tốn kém cho doanh nghiệp
Trang 18Các quy định, trình tự, thủ tục đã được quy định cụ thể trong Luật quản
lý thuế sửa đổi, bổ sung, được Quốc hội ban hành, buộc NNT phải tuân theo các quy định đó, đề cao tinh thần tự giác của NNT; nâng cao hiệu quả quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp dựa theo kết quả sản xuất kinh doanh trong kì
kê khai của doanh nghiệp NNT căn cứ vào những quy định của pháp luật tự xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai, nộp thuế vào NSNN và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác
Thứ ba, cải tiến thủ tục quản lý thuế, phân công nhiệm vụ rõ ràng, chuẩn hóa dần công tác thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý thuế, nâng cao chất lượng làm việc của đội ngũ cán bộ thuế
Cùng với điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước nói chung, quản lý thuế nói riêng phải có sự đổi mới, đơn giản hóa các thủ tục hành chính Từ đó, nâng cao công tác quản lý thuế TNDN, giảm các thủ tục hành chính phức tạp, cồng kềnh
1.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh
nghiệp
1.2.1 Khái niệm pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Pháp luật quản lý thuế nói chung, pháp luật quản lý thuế TNDN nói riêng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật về thuế ở mỗi quốc gia, là công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để thực hiện công tác quản lý thuế Quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước và NNT được thể hiện dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật thuế
Ở Việt Nam hiện nay, các nhà làm luật tách bạch các quy định về quản
lý thuế bằng một đạo luật riêng biệt, đó là Luật quản lý thuế Luật quy định về trình tự thủ tục đăng ký thuế, cấp mã số thuế; thủ tục kê khai, hoàn thuế, miễn, giảm thuế; quy định những hành vi vi phạm pháp luật về thuế; quy định
về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế; quy định về thanh
Trang 19tra, kiểm tra thuế…, tức là quy định về mặt thủ tục hành chính thuế cùng cơ chế và biện pháp quản lý nhằm đảm bảo việc thực thi pháp luật có hiệu quả Nói một cách khác, ở Việt Nam, các đạo luật thuế chính là pháp luật nội dung, pháp luật về quản lý thuế là luật thủ tục
Việc đưa ra khái niệm pháp luật quản lý thuế nhằm phân định ranh giới giữa các nhóm quan hệ xã hội do luật nội dung và luật thủ tục điều chỉnh, qua
đó lựa chọn áp dụng quy phạm pháp luật phù hợp Tùy theo những cách hiểu khác nhau mà người ta có thể nhìn nhận và phân tích pháp luật quản lý thuế
theo những căn cứ khác nhau
Như đã đề cập ở trên, đối tượng quản lý thuế là các quan hệ phát sinh trước, trong và sau quá trình thu, nộp thuế có thể bao gồm mối quan hệ phát sinh giữa cơ quan thuế với NNT, giữa nội bộ cơ quan thuế, giữa NNT với nhau, giữa cơ quan thuế trong nước và nước ngoài Vì các mối quan hệ phát sinh thường xuyên, có tính chất phức tạp vì liên quan đến nhiều chủ thể, việc thực hiện hoạt động quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng
là một điều không dễ dàng Do đó, Nhà nước cần ban hành hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động này Từ những phân tích trên, có thể
hiểu Pháp luật quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với NNT và các đối tượng có liên quan nhằm hình thành nguồn thu NSNN phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu xác định trước 2
Nằm trong hệ thống pháp luật quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế TNDN cũng được quy định trong Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo đó, để đề ra được khái niệm pháp luật quản lý thuế TNDN, chúng ta cần phân tích những khía cạnh liên quan đến pháp luật quản lý thuế
và pháp luật nội dung nằm trong Luật thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thi hành
2 Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Phạm Thị Giang Thu (chủ biên), Nxb.CAND (2008), tr 24
Trang 20Có thể hiểu khái niệm pháp luật quản lý thuế TNDN như sau: Pháp luật quản lý thuế TNDN là một bộ phận quan trọng của pháp luật quản lý thuế nói chung, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế TNDN của Nhà nước nhằm đảm bảo tập trung đúng đủ số thuế và đúng hạn nguồn thu từ thuế TNDN vào NSNN
1.2.2 Đặc điểm pháp luật quản lý thuế TNDN
Pháp luật quản lý thuế TNDN là một bộ phận quan trọng của pháp luật quản lý thuế, do vậy, pháp luật quản lý thuế TNDN mang những đặc điểm của pháp luật quản lý thuế Cụ thể:
Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế TNDN quy định việc quản lý thuế đối với thuế TNDN Đó là quyền và nghĩa vụ của các đối tượng áp dụng; thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về NNT; thanh tra, kiểm tra thuế; cưỡng chê chế thi hành các quyết định hành chính về thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế Thứ hai, đối tượng điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế TNDN là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế giữa các đối tượng áp dụng là NNT, cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật thuế Thứ ba, phương pháp điều chỉnh pháp luật quản lý thuế TNDN là phương pháp mệnh lệnh và phương pháp bình đẳng thỏa thuận Xuất phát từ bản chất quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế TNDN, để sự tác động của pháp luật có hiệu quả, pháp luật quản lý thuế TNDN sử dụng phương pháp mệnh lệnh là chủ yếu, đặc biệt đối với quan hệ phát sinh giữa cơ quan quản lý thuế với NNT
Trang 21Bản chất của pháp luật quản lý thuế TNDN xét đến cùng là quản lý việc thu – nộp thuế Cho nên, không thể sử dụng phương pháp bình đẳng, tự nguyện trong quan hệ pháp luật quản lý thuế giữa NNT và cơ quan thuế Cơ quan thuế có quyền ấn định thuế, kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế… và yêu cầu NNT phải thực hiện Ngay cả khi NNT sử dụng quyền của mình như: tự xác định số thuế được miễn, giảm, hoàn thuế… tính chất quyền uy cũng không bị mất đi Bởi lẽ, các quyền này của NNT đã được Nhà nước thừa nhận Nếu NNT khai báo sai dẫn đến giảm
số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được giảm, hoàn, NNT sẽ bị xử lý vi phạm hành chính, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật
Bên cạnh đó, pháp luật quản lý thuế TNDN cũng sử dụng phương pháp bình đẳng, thỏa thuận trong quan hệ phối hợp giữa cơ quan quản lý thuế với nhau, giữa cơ quan quản lý thuế với cơ quan nhà nước khác
1.3 Nội dung pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
1.3.1 Đăng ký thuế, khai thuế, ấn định thuế và nộp thuế
Các đối tượng đăng ký theo quy định của pháp luật phải thực hiện đăng
ký nộp thuế TNDN với cơ quan thuế đúng thời hạn và theo mẫu hướng dẫn đăng ký thuế với cơ quan thuế
Việc đăng ký thuế và cấp mã số thuế được quy định tại chương II, III,
IV, V Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung Với các lần sửa đổi, bổ sung, nội dung Luật quản lý thuế đã quy định khá đầy đủ, chi tiết hướng dẫn NNT cũng như cơ quan thuế khi thực hiện đăng ký thuế, cấp mã số thuế, ấn định thuế cũng như nộp thuế
Đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho doanh nghiệp của cơ quan thuế bao gồm việc nhận và xử lý hồ sơ đăng ký thuế, cấp mã số thuế cho các doanh nghiệp mới thành lập
Với cơ chế chính sách hiện nay, người nộp thuế sẽ tự kê đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế TNDN, tự tính và nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước
Trang 22hay các ngân hàng được ủy nhiệm thu đúng thời hạn quy định và phải tự chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc tự tính số thuế phải nộp
Trong trường hợp doanh nghiệp có một trong các hành vi vi phạm pháp luật về thuế sau đây thì cơ quan thuế có quyền ấn định thuế TNDN3:
- Không đăng ký thuế;
- Không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau mười ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ
sơ khai thuế;
- Không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế không chính xác, trung thực, đầy đủ về căn cứ tính thuế;
- Không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế;
- Không xuất trình sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu cần thiết liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp trong thời hạn quy định;
- Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường;
- Có dấu hiệu bỏ trốn hoặc phát tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thuế
1.3.2 Hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
Cơ quan thuế phải nắm rõ những quy định cũng như thủ tục miễn, giảm, hoàn thuế để hỗ trợ, giúp giảm thời gian giải quyết các hồ sơ xin miễn, giảm, hoàn thuế nhanh gọn hơn Các quy định và thủ tục miễn, giảm, hoàn thuế được quy định cụ thể tại chương VII; Mục 1, chương VIII Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung
3 Khoản 1, Điều 37 Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung
Trang 23Cơ quan quản lý thuế thực hiện miễn thuế, giảm thuế TNDN đối với trường hợp thuộc diện miễn, giảm thuế quy định tại các điều 14, 15 Luật thuế TNDN sửa đổi, bổ sung
Doanh nghiệp được hoàn thuế TNDN khi thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại Điều 57, Luật quản lý thuế Doanh nghiệp sẽ được hoàn lại toàn bộ số tiền thuế TNDN nộp thừa sau khi bù trừ các khoản thuế thiếu trong thời hạn quy định sau khi nộp đầy đủ hồ sơ hoàn thuế
1.3.3 Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt
Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt là một trong những nội dung mà pháp luật quản lý thuế đã quy định và là căn cứ pháp lý để giải quyết xóa nợ tiền thuế, tiền phạt Doanh nghiệp được xóa nợ trong các trường hợp sau:
- Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt
- Các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của NNT không thuộc trường hợp quy định trên mà cơ quan quản lý thuế đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế quy định tại khoản 1 Điều 93 của Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung và các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá mười năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, nhưng không có khả năng thu hồi
Hồ sơ xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp và thẩm quyền xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ xá nợ tiền thuế được quy định khá chi tiết tại các điều 65, 66, 67 Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung; được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định 83/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung; Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung
Trang 241.3.4 Quản lý thông tin nguời nộp thuế
Hệ thống thông tin về NNT bao gồm những thông tin, tài liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT NNT có nghĩa vụ:
- Cung cấp đầy đủ thông tin trong hồ sơ thuế
- Cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế
- Thông tin cung cấp cho cơ quan quản lý thuế phải đầy đủ, chính xác, trung thực, đúng thời hạn
Ngoài ra, các cơ quan ban ngành, tổ chức, cá nhân có liên quan cũng phải thực hiện cung cấp thông tin NNT theo yêu cầu của cơ quan thuế: Cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cơ quan cấp giấy phép thành lập và hoạt động; Kho bạc Nhà nước; Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng; Cơ quan quản lý nhà nước về nhà, đất; Cơ quan công an; Cơ quan chi trả thu nhập; Cơ quan quản lý thương mại; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác
Cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế, tổ chức làm dịch vụ về thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin NNT trừ trường hợp có trách nhiệm cung cấp khi được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; Cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán nhà nước; Các cơ quan quản lý khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật; Cơ quan quản lý thuế nước ngoài phù hợp với điều ước quốc tế về thuế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên yêu cầu cung cấp thông tin
1.3.5 Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế là một khâu quan trọng trong hệ thống quản lý thuế, là một chức năng chính của mô hình quản lý thuế theo chức năng trong cơ chế tự khai – tự nộp thuế
Trang 25Quản lý nợ thuế là họat động theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý va thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ
Cưỡng chế nợ thuế hay còn là việc cơ quan thuế kịp thời phát hiện và xử
lý nợ tiền thuế, tiền phạt đã quá thời hạn quy định hoặc NNT có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn thì phải tiến hành các biện pháp cưỡng chế bao gồm 6 biện
pháp: Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản; Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng; Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước; Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang giữ; Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề4 buộc NNT nộp đủ số tiền thuế vào NSNN
Bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thường xuyên nắm tình hình
nợ thuế của từng doanh nghiệp do đơn vị mình phụ trách để kịp thời nhắc nhở
doanh nghiệp nộp số thuế còn nợ Căn cứ số thuế nợ, bộ phận quản lý nợ và
cưỡng chế nợ thuế thực hiện các biện pháp đôn đốc nợ theo quy định, đồng thời công khai danh sách doanh nghiệp cố ý chây ỳ nợ thuế
1.3.6 Thanh tra, kiểm tra thuế
Công tác thanh, kiểm tra thuế nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy
đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT Trên cơ sở đó lập kế hoạch và quyết định có cần thiết
4 Khoản 1, Điều 3 Thông tư 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Trang 26phải kiểm tra tạu doanh nghiệp hay không, lựa chọn hình thức kiểm tra, thanh tra cho phù hợp
Trong quá trình kiểm tra, nếu thấy có dấu hiệu trốn thuế, gian lận hoặc
để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản
lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính thì cơ quan thuế tiến hành thanh tra
1.3.7 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Các trường hợp bị coi là hành vi vi phạm pháp luật về thuế cũng như trình tự thủ tục, thẩm quyền ra quyết định xử lý đối với hành vi này được quy định khá cụ thể tại Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung Bên cạnh đó, Chính phủ, Bộ Tài Chính cũng ban hành những nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về lĩnh vực này
Ngoài cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về thuế bị xử phạt, Lụât quản lý thuế sửa đổi, bổ sung còn quy định xử phạt đối với ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác, người bảo lãnh nộp tiền thuế; công chức quản lý thuế; tổ chức, cá nhân có liên quan Với quy định như vậy, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về thuế đã nâng cao tinh thần tự giác chấp hành quyết định xử phạt; tuy luật có quy định xử phạt đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại hay tổ chức, cá nhân có liên quan khi không chấp hành quyết định nhưng trên thực tế việc xử phạt đối với các tổ chức này rất ít được thực hiện
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ việc nghiên cứu các khái niệm về thuế TNDN, quản lý thuế TNDN
và pháp luật quản lý thuế TNDN, có thể nhận thấy bản chất thuế TNDN là một loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào kết quả, lợi nhuận mà NNT thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh Do vậy, công tác quản lý thuế thu TNDN rất khó và phức tạp vì nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Hiện nay, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách pháp luật
Trang 27nhằm nâng cao tính hiệu quả trong công tác quản lý thuế nói chung, công tác quản lý thuế TNDN nói riêng Tuy nhiên, để đánh giá được tính hiệu quả của những chính sách pháp luật này, cần xem xét tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn Chương 2 của luận văn sẽ phân tích, đánh giá kĩ hơn về thực trạng pháp luật hiện hành cũng như tính thực tiễn của các quy định pháp luật này
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CỤC THUẾ TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
2.1.1 Ưu điểm của pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Luật quản lý thuế được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2007 Trong quá trình thực hiện, Bộ Tài chính đã chủ động trình Chính phủ, trình Quốc hội 03 lần sửa đổi, bổ sung Luật quản lý thuế (Luật số 21/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13 Luật số 106/2016/QH13) Qua 10 năm thực hiện pháp luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung đã phản ánh và ghi nhận khá đầy đủ, toàn diện nội dung quản lý thuế Luật đảm bảo các mục tiêu: đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế; phục vụ mục tiêu cải cách – hiện đại hóa và hội nhập, phù hợp thông lệ quốc tế; nâng cao hiệu quả quản lý thuế phù hợp với thực tế và các văn bản pháp luật có liên quan nhằm chống thất thu ngân sách và giảm nợ đọng thuế
Thứ nhất, pháp luật quản lý thuế đã quy định rõ ràng, cụ thể chức năng của cơ quan quản lý thuế như chức năng hỗ trợ, cung cấp thông tin; chức năng kiểm tra thuế, thanh tra thuế; chức năng cưỡng chế nợ thuế; chức năng xử lý
nợ thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế và quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế nhằm đảm bảo các bộ phận, phòng, ban chức năng cũng như từng công chức quản lý thuế thực hiện chức trách nhiệm vụ, trong phạm
vi quyền hạn của mình, đảm bảo hoạt động quản lý thuế đạt hiệu quả tốt nhất Thứ hai, pháp luật quản lý thuế quy định khá đầy đủ, toàn diện quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức liên quan đến thu NSNN nhằm huy động cả hệ thống chính trị cùng tham gia, phối hợp, hỗ trợ cơ quan quản lý thuế thực hiện thu NSNN như trách nhiệm của Hội đồng nhân dân,
Trang 29Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trách nhiệm của cơ quan thông tin, báo chí; trách nhiệm của các cơ quan khác của Nhà nước; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; trách nhiệm của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn; trách nhiệm của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế Đây là những quy định mới mà pháp luật về thuế trước đây chưa quy định
Thứ ba, pháp luật quản lý thuế đã hợp nhất những quy định trước đây nằm rải rác, phân tán tại nhiều văn bản luật về thuế, đồng thời bổ sung thêm nhiều chính sách quản lý thuế như: Nguyên tắc quản lý thuế; Hợp tác quốc tế
về quản lý thuế; Hiện đại hoá công tác quản lý thuế; Gia hạn nộp thuế; Xoá
nợ thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt; Xử lý số tiền thuế nộp thừa; Nộp thuế trong thời gian giải quyết khiếu nại, khiếu kiện…
Thứ tư, pháp luật quản lý thuế đã đề cập đến việc áp dụng công nghệ thông tin trong một số công tác như kê khai, nộp thuế điện tử, xử lý, cung cấp thông tin về NNT, chuẩn hóa dữ liệu NNT Công tác quản lý thuế bước đầu được nâng cấp, đồng bộ hóa, hiện đại hóa, góp phần không nhỏ trong việc giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho NNT
Thứ năm, thành công đáng ghi nhận nhất là pháp luật quản lý thuế đã tạo khung pháp lý cơ bản, thống nhất chính sách quản lý thu thuế, đồng bộ với các luật thuế và thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho công tác quản lý thuế thay đổi phương thức quản lý theo cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế nói chung, thuế TNDN nói riêng
Từ đó, hình thành ý thức tự giác nghiêm chỉnh chấp hành nghĩa vụ nộp thuế đồng thời đề cao tính tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế
đối với Nhà nước
Trang 302.1.2 Những bất cập, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện, pháp luật quản lý thuế còn bộc lộ một số bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện Cụ thể như sau:
Thứ nhất, một số quy định trong pháp luật quản lý thuế chưa thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan đã được sửa đổi, thay thế hoặc không còn phù hợp với thực tế
Sau 10 năm, kể từ ngày pháp luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành, nhiều đạo Luật quan trọng có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Quan trọng nhất trong số đó là Hiến pháp, đạo luật gốc, đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua năm 2013 và thay thế cho Hiến pháp năm
1992 Hiến pháp 2013 bổ sung quyền con người và tiếp tục hoàn thiện các quyền cơ bản của công dân
Cùng với những thay đổi quan trọng của Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản Luật liên quan đến công tác quản lý thuế cũng đã được sửa đổi, bổ sung như Luật Đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật căn cước công dân, Luật xử
lý vi phạm hành chính, Luật Hải quan, Luật cán bộ công chức, Bộ Luật hình
sự, Luật Tiếp cận thông tin Những thay đổi trên đã làm nhiều quy định của pháp luật Quản lý thuế không còn thống nhất, đồng bộ với các Luật có liên quan Những điểm không còn thống nhất này làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả pháp luật quản lý thuế
Thứ hai, trong quá trình thực hiện, một số quy định của pháp luật quản
lý thuế không còn phù hợp với thực tế, tính khả thi không cao làm phát sinh vướng mắc khi tổ chức thực hiện Ví dụ:
Chính sách xóa nợ tiền thuế chưa đi vào thực tiễn, còn nhiều vướng mắc khi thực hiện Tại khoản 3, Điều 65 Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung
thì các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt được xóa nếu đáp ứng đủ các điều kiện:
Trang 31- Khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế nhưng không có khả năng thu hồi;
- Cơ quan quản lý thuế đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định nhưng không thu đủ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt
Việc quy định điều kiện xóa nợ như vậy là bất hợp lí Bởi lẽ, một khoản
nợ thuế đã được phân loại vào nợ thuế khó thu mà để tồn tại 10 năm mới được xóa nợ dẫn tới tổng số nợ thuế ngày càng gia tăng, phản ánh không đúng
số thuế nợ thực tế, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý thuế Ngoài ra, tổng kết tình hình thực hiện 10 năm cho thấy do cách thức quản lý không có
sự liên thông về thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước như tòa án (giải quyết phá sản), cơ quan quản lý về đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý thuế nên nhiều trường hợp doanh nghiệp có nợ thuế và đã bị phá sản hoặc bị thu hồi giấy phép kinh doanh, nhưng cơ quan quản lý thuế không biết Trong những trường hợp này, cơ quan quản lý thuế không thể thực hiện được “tất cả” các biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật Theo đó, mặc dù doanh nghiệp đã chấm dứt tồn tại về mặt pháp lý, đối tượng thu không còn nhưng vẫn không đáp ứng đủ điều kiện để cơ quan thuế xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt
Quy định về cưỡng chế thuế chưa đồng bộ làm ảnh hưởng đến tính khả thi của Luật Tại điểm g, khoản 1, Điều 93 Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung
quy định biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế “Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề” Thực tế triển khai quy định này có nhiều vướng mắc do cơ quan quản lý thuế chỉ là cơ quan đề xuất, không thể trực tiếp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề của DN còn nợ thuế Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp năm
Trang 322005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 không quy định doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nay là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) và bị xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh trong trường hợp
“doanh nghiệp còn nợ thuế” Quy định về thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo đề nghị của cơ quan thuế mới chỉ được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế.5 Do đó, đã phát sinh nhiều vướng mắc trong quá trình phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh khi thực hiện biện pháp cưỡng chế này
Thứ ba, quy định về chính sách quản lý thuế chưa thay đổi kịp với sự thay đổi của chính sách tại từng sắc thuế dẫn đến hạn chế trong công tác tổ chức thu thuế, chưa bao quát hết các nguồn thu phục vụ cho việc mở rộng cơ
sở thuế
Trong 10 năm qua, hệ thống chính sách thuế với nhiều sắc thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đã được Bộ Tài chính trình Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung nhiều lần Trước những thay đổi liên tục của các chính sách thuế, công tác quản lý thuế
đã bộc lộ nhiều hạn chế như các quy định về quản lý thuế còn dàn trải, chưa
có sự tập trung sâu vào một số ngành nghề, lĩnh vực đặc thù, đặc biệt là một
số ngành nghề cần khuyến khích đầu tư; Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung mới chỉ nhận diện và quy định NNT là tổ chức, cá nhân nộp thuế theo từng sắc thuế mà chưa có sự nhận diện, phân loại đối tượng nộp thuế theo quy mô hoạt động, mức độ kinh doanh thường xuyên để có chính sách quản lý phù hợp
Thứ tư, pháp luật quản lý thuế chưa đảm bảo tính tương thích với các luật thủ tục khác trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, dân sự, thương mại, hình
5 Khoản 3, điều 60, Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính Phủ về đăng ký doanh nghiệp
Trang 33sự khác Chẳng hạn, tại Điều 25 về thời hạn nhận hồ sơ “Trường hợp hồ sơ đăng ký thuế được gửi qua đường bưu chính, công chức thuế đóng dấu ghi ngày nhận hồ sơ và ghi vào sổ văn thư của cơ quan thuế”, căn cứ vào đó để xác định ngày nhận được hồ sơ kê khai thuế là thời điểm cán bộ thuế nhận được hồ sơ là rất bất lợi cho doanh nghiệp Các đạo luật khác như Bộ luật Tố tụng dân sự và các luật chuyên ngành hầu hết đều tính thời điểm nhận được
hồ sơ căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì
Thứ năm, chức năng, thẩm quyền của cơ quan thuế không còn phù hợp, chưa được bổ sung kịp thời với diễn biến phức tạp của vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực thuế trong thời gian qua
Tình hình vi phạm pháp luật thuế và tội phạm trong lĩnh vực thuế đang diễn biến phức tạp với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và có chiều hướng gia tăng Mặc dù các cơ quan tố tụng đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong công tác đấu tranh chống tội phạm kinh tế nói chung và tội phạm trong lĩnh vực thuế nói riêng nhưng việc thu thập thông tin, xác minh chứng cứ, chứng minh tội phạm thuế gặp rất nhiều khó khăn, vất vả
Trong khi đó, cơ quan thuế quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin như dữ liệu về NNT, về tình hình khai, nộp thuế, về những trường hợp có rủi
ro cao về thuế, về hóa đơn Đồng thời, tổ chức bộ máy được bố trí rộng khắp đến cấp hành chính quận, huyện; có những đầu mối làm nhiệm vụ thu thập thông tin có dấu hiệu “nghi ngờ” hoặc “bất thường” và có thể chia sẻ trong nội bộ như Thanh tra Tổng cục thuế (ở cấp trung ương), các Phòng thanh tra thuộc Cục thuế tỉnh thành phố trực thuộc trung ương (ở địa phương) Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự chưa cho phép cơ quan thuế thực hiện điều tra hình sự, khởi tố ban đầu đối với một số tội phạm về hóa đơn, về trốn thuế Do vậy, hệ thống cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương chưa
hỗ trợ, góp sức đáng kể giúp lực lượng điều tra hình sự chuyên trách đấu tranh có hiệu quả với các vi phạm pháp luật về thuế, chưa đảm bảo tính liên
Trang 34tục của quá trình theo dõi tính tuân thủ pháp luật đến xử lý vi phạm hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật hình sự và Bộ Luật tố tụng hình sự, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế, chưa đảm bảo công bằng cho các chủ thể tham gia kinh doanh
2.2 Tình hình và kết quả thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015 - 2017
Tính đến thời điểm năm 2018, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn là 2.006 đơn vị, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân trong nước với khoảng 1.891 doanh nghiệp (chiếm gần 95% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh), 5% còn lại là các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nuớc ngoài (trong đó: 87 doanh nghiệp Nhà nước, 28 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
Để có một cái nhìn tổng quan về thực trạng quản lý thuế TNDN, ta cần xem xét số thu NSNN Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn đã thu được trong giai đoạn
2015 - 2017 thông qua bảng 2.1 dưới đây:
Bảng 2.1 Tổng số thu thuế TNDN giai đoạn 2015 - 2017
ĐVT: Triệu đồng
Tổng thu
% so dự toán Tổng thu
% so
dự toán
% so cùng
kỳ
Tổng thu
% so dự toán
% so cùng
Tổng thu thuế TNDN theo khu vực kinh tế (tính cân đối) Doanh
Trang 35Nguồn: Báo cáo tổng kết Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn
Qua số liệu trên, có thể thấy nhờ công tác quản lý thuế hiệu quả, tổng thu NSNN qua các năm ngày càng tăng và đều hoàn thành vượt so với dự toán Tổng thu NSNN năm 2017 đạt hơn 2.408 tỷ đồng, trong đó dự toán thu NSNN
Bộ Tài chính giao trong năm 2017 là 1.700 tỷ đồng, đạt 141.6% so với dự toán
Ngoài nguồn thu chính từ thuế TNDN, tổng thu NSNN còn bao gồm một
số khoản thu khác như: thuế TNCN; các khoản thuế từ sử dụng đất; các loại phí,
lệ phí; tiền cấp quyền khai thác khoáng sản…
So với các nước phát triển, Tổng số thu từ thuế TNDN tại Việt Nam nói chung, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng không chiếm tỷ trọng cao so với tổng thu NSNN Trong các năm gần đây, số thu về thuế TNDN chỉ chiếm khoảng 15-20% tổng thu NSNN, số còn lại chủ yếu là các khoản thu từ sử dụng đất
Trong các nguồn thu từ thuế TNDN, nguồn thu từ doanh nghiệp tư nhân trong nước mặc dù tăng không đáng kể so với năm 2015 nhưng số thu từ các khu vực này luôn ổn định, tăng đều qua các năm và chiếm đa số trong tổng số thu thuế TNDN từ các khu vực kinh tế
Tuy nhiên, đối với khu vực doanh nghiệp Nhà nước trung ương, doanh nghiệp Nhà nước địa phương và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, số thu
Trang 36trong năm 2016 thấp hơn so với năm 2015 Tại khu vực doanh nghiệp Nhà nước địa phương, số thu chủ yếu từ dịch vụ của các đơn vị hành chính, sự nghiệp có hoạt động kinh doanh, như nhà khách, nhà hàng của các cơ quan Đảng, chính quyền
Đối với số thu tại khu vực doanh nghiệp Nhà nước trung ương chịu tác động ảnh hưởng bởi một số doanh nghiệp có số thu lớn: như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Than Na Dương, công ty Nhiệt điện Na Dương, Chi nhánh Viettel (Viễn thông Quân đội), Viễn thông Lạng Sơn, Chi nhánh Xăng dầu Số thu từ các doanh nghiệp này hàng năm chiếm trên 75%
số thu từ các doanh nghiệp Nhà nước trung ương Tuy nhiên, trong năm 2016, Viễn thông Lạng Sơn nộp được 6 tỷ đồng, giảm 53,8% (7 tỷ) so với năm 2015; Điện lực Lạng Sơn nộp được 1 tỷ đồng, giảm 95% (giảm 7,6 tỷ) so với năm 2015… 6
Đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, do giảm thu ở Công ty cổ phần kim loại màu Bắc Bộ năm 2015 nộp 1.564 triệu đồng, nhưng năm 2016 mới nộp được 0,6 tỷ đồng; công ty trách nhiệm hữu hạn Vui chơi giải trí và
Du lịch Thái Dương năm 2015 nộp hơn 1 tỷ đồng, năm 2016 nộp 0,1 tỷ đồng.7
Có thể lý giải nguyên nhân giảm thu một phần do tình hình họat động của các doanh nghiệp trong năm gặp khó khăn, một phần do công tác quản lý thuế chưa chặt chẽ, chưa đủ tính răn đe khiến các doanh nghiệp cố ý chây y không nộp tiền vào NSNN
Đến năm 2017, số thu ở các khu vực này có dấu hiệu tăng trở lại Đặc biệt tại khu vực doanh nghiệp Nhà nước trung ương (tăng hơn 1 tỷ đồng), do công tác quản lý thuế đã nghiêm ngặt hơn, thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở
6 , 5 Báo cáo Tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế năm 2016; Nhiệm vụ, giải pháp công tác thuế
năm 2017
Trang 37doanh nghiệp, hơn hết đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế như trích tiền, phong tỏa tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng; thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng… buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước
2.3.Thực tiễn quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn
2.3.1 Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế
Theo chủ trương của Nhà nước về tinh giảm bộ máy hành chính Cục Thuế Lạng Sơn kết hợp với ban ngành có liên quan tiến hành quản lý doanh nghiệp thông qua “bộ phận một cửa” Nhờ cơ chế quản lý này góp phần giảm chi phí và tăng hiệu quả quản lý đối với Cục Thuế, đồng thời giảm thời gian
và sự phiền hà cho doanh nghiệp
Các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT luôn được Cục Thuế Lạng Sơn quan tâm, chú trọng, luôn thay đổi, áp dụng tuyên truyền chính sách pháp luật bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng
Trong năm 2017, Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn thực hiện hướng dẫn qua điện thoại 65 lượt, tiếp xúc trực tiếp tại bộ phận “Một cửa” 63 lượt, giải đáp bằng văn bản 77 lượt; In, phát 4.200 tờ rơi Thông qua nội dung các tờ rơi, cơ quan thuế đã hướng dẫn đến cộng đồng doanh nghiệp những thủ tục hành chính có nội dung liên quan đến các doanh nghiệp khởi nghiệp, thủ tục thành lập doanh nghiệp;…Thông qua các tời rơi, cơ quan thuế đã hướng dẫn chính sách thuế đối với các hoạt động kinh doanh vận tải, xây dựng cơ bản tư nhân
Bên cạnh đó, Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức 44 hội nghị tập huấn triển khai chính sách thuế, 48 hội nghị đối thoại với các doanh nghiệp Tại các buổi đối thoại và tập huấn, đại diện cộng đồng doanh nghiệp đã đặt nhiều câu hổi liên quan đến những chính sách thuế mới được sửa đổi, ban hành; công tác quyết toán thuế TND; áp dụng các ứng dụng điện tử vào thực hiện nghĩa
vụ thuế với ngân sách…Thông qua các tờ rơi, câu hỏi, câu trả lời, cơ quan
Trang 38thuế đã giải đáp kịp thời đến cộng đồng doanh nghiệp những vướng mắc một cách thấu đáo, được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận và đánh giá là dễ hiểu,
dễ tiếp cận trong việc thực hiện các nghĩa vụ với ngân sách
Đồng thời, thực hiện tuyên truyền chính sách trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo, Đài phát thanh, truyền hình và tuyên truyền lưu động… với trên 42 văn bản gồm: Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn sửa đổi, bổ sung, chính sách thuế mới đến NNT
Đặc biệt tuyên truyền qua hệ thống công tác tuyên giáo, Cục Thuế đã ký hợp đồng với Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, về tuyên truyền chính sách thuế qua bản tin Thông báo nội bộ phục vụ sinh hoạt chi bộ hàng tháng, tuyên truyền tới đội ngũ đảng viên, từ đó ta ̣o sức lan tỏa chính sách thuế đến người dân, người nô ̣p thuế
Tiếp tục chú trọng công tác tuyên truyền đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong các họat động, lĩnh vực thường xuyên xảy ra tình trạng trốn thuế, gian lận thuế gây thất thu cho NSNN như: hoạt động kinh doanh xăng, dầu; cấp quyền khai thác khoáng sản; kinh doanh vận tải, bến bãi; xây dựng cơ bản tư nhân, xây dựng cơ bản vãng lai ngoại tỉnh; kinh doanh nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ;…
Ngoài ra, Cục Thuế đã tổ chức tuyên truyền, hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện khai thuế qua mạng, nộp thuế điện tử, nhằm mục tiêu cải cách, hiện đại hóa ngành Thuế, giảm thời gian và chi phí hành chính thuế cho NNT
2.3.2 Đăng kí, kê khai, nộp thuế
Tại thời điểm tháng 12/2016, Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn có 1.676 doanh nghiệp đang hoạt động Trong đó, Cục Thuế đã thực hiện cấp 5.523 mã số thuế cho doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện đóng 1.753 mã số thuế doanh nghiệp, trong đó đóng 732 doanh nghiệp bỏ địa điểm kinh doanh và 209 doanh nghiệp phá sản.8
8 Số liệu tại Báo cáo tổng kết công tác Kê khai – Kế toán thuế 2016
Trang 39Đồng thời, Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư lấy thông tin về NNT và thực hiện rà soát, đồng bộ cơ sở dữ liệu quản lý doanh nghiệp, tập trung xử lý đúng trạng thái của các doanh nghiệp đang chờ điều chỉnh từ các năm trước chuyển sang năm 2016
Đến thời điểm 31/12/2017, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn là 1.824 Thực hiện cấp mới cho 372 doanh nghiệp mới thành lập, 230 chi nhánh và văn phòng đại diện, thay đổi nội dung đăng ký 782 doanh nghiệp, chuyển đổi địa điểm kinh doanh 14 doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh 99 doanh nghiệp, làm thủ tục ngừng kinh doanh 97 doanh nghiệp, khôi phục 51 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động
Về chỉ tiêu NNT đăng ký nộp thuế điện tử trong năm 2017: Tỷ lệ đăng
ký nộp thuế điện tử trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động đạt 100% trong
đó đăng ký tại các ngân hàng thương mại đạt 95,2%; Từ đầu năm 2017 có 1.368 doanh nghiệp thực hiện 8.198 giao dịch nộp thuế điện tử, tổng số tiền nộp 825.347 triệu đồng.9
Bên cạnh đó, thực hiện triển khai Kế hoạch 66/KH-UBND ngày 12/4/2017 của UBND tỉnh về phát triển doanh nghiệp, Cục Thuế đã xây dựng phương án và ban hành công văn đến các đơn vị trực thuộc yêu cầu rà soát, vận động, hỗ trợ các hộ kinh doanh chuyển đổi mô hình thành lập doanh nghiệp Đến hết năm 2017 có có 68 hộ kinh doanh chuyển thành lập doanh nghiệp thành công trong số 135 hộ kinh doanh được vận động
Trong những năm gần đây, Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành triển khai các lớp tập huấn, bồi dưỡng hướng dẫn doanh nghiệp đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế bằng hình thức điện tử, hỗ trợ thời gian đi lại cho doanh nghiệp đồng thời giúp đơn giản hóa các thủ tục hành chính
Qua số liệu trên ta có thể thấy số doanh nghiệp đăng ký mới thành lập ngày càng gia tăng thể hiện xu huớng ngày càng phát triển của xã hội, cũng
9 Số liệu tại Báo cáo tổng kết công tác Kê khai – Kế toán thuế 2017
Trang 40như của địa phương Nhờ có chính sách phát triển kinh tế của địa phương cũng như chính sách pháp luật về thuế TNDN (ưu đãi về thuế suất, ưu đãi miễn, giảm theo địa bàn…) đã khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn tỉnh đặc biệt là các doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư từ Trung Quốc, các doanh nghiệp xin cấp quyền khai thác tài nguyên, khoáng sản
2.3.3 Miễn, giảm, hoàn thuế
Trước đây, các quy định về miễn thuế, giảm thuế của từng sắc thuế được quy định riêng tại các văn bản quy phạm pháp luật của từng sắc thuế như quy định về miễn, giảm thuế TNDN được quy định trong Luật thuế TNDN; miễn, giảm thuế TNCN được quy định trong Luật thuế TNCN…
Kể từ khi pháp luật quản lý thuế ra đời, các quy định về việc miễn thuế, giảm thuế được thống nhất hướng dẫn chi tiết, cụ thể, tạo điều điện cho cơ quan quản lý thuế đảm bảo hỗ trợ đúng quy định và kịp thời đến NNT Về cơ bản, thông thường số thuế các doanh nghiệp đề nghị miễn, giảm và số thuế thuộc các trường hợp được miễn, giảm không có sự chênh lệch lớn; nhờ có sự quy định cụ thể, chi tiết tại Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung nên thủ tục đề nghị miễn thuế giảm thuế đơn giản, dễ thực hiện hơn
Đối với các hồ sơ hoàn thuế, Cục thuế tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện giải quyết các hồ sơ hoàn thuế theo đúng quy định, đồng thời thực hiện giám sát
hồ sơ hoàn thuế theo yêu cầu của Tổng cục Thuế được thực hiện kịp thời, đúng thời gian quy định Bên cạnh đó, trong tháng 5/2017, Cục thuế tỉnh Lạng Sơn cũng triển khai công tác hoàn thuế điện tử, thực hiện theo đúng tiến
độ, thời gian yêu cầu của Tổng Cục Thuế, tỷ lệ giải quyết hồ sơ hoàn thuế điện
tử giải quyết được 24/24 hồ sơ, đạt tỷ lệ 100%
2.3.4 Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
• Công tác quản lý nợ thuế
Để thực hiện được chức năng quản lý nợ thuế, Bộ Tài Chính đã ban hành quy trình quản lý nợ cũng như quy trình cưỡng chế nợ thuế Cục thuế