Trên các trang tin điện tử internet có nhiều bài viết về vấn đề quản lý nước thải công nghiệp hoặc tình trạng xả thải không qua xử lý gây ô nhiễm của một số khu công nghiệp …như: Bài viế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Hồng Nhung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thầy giáo TS.Nguyễn Văn Phương - Trưởng Bộ môn Luật Môi trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Luật Môi trường; các thầy giáo, cô giáo trong khoa Pháp luật Kinh tế cùng với các thầy giáo, cô giáo công tác tại Trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho em những kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi động viên giúp
dỡ em để em hoàn thành luận văn
Với thời gian, kiến thức có hạn và trong phạm vi một luận văn thạc sỹ không thể tránh khỏi những thiếu sót và còn nhiều vấn đề phải hoàn thiện thêm Em xin kính mong nhận được sự góp ý của Quý thầy cô và những ai quan tâm đến vấn đề này
Em xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Hồng Nhung
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn 2
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 3
5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn; 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
7 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn 3
8 Bố cục (các chương) của luận văn 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NƯỚC THẢI, PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 5
1.1 Những vấn đề chung về nước thải và pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp 5
1.1.1 Những vẫn đề chung về nước thải 5
1.1.2 Pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp 8
1.2 Các quy định pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam 13
1.2.1 Quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường và quy chuẩn kỹ thuật môi trường 13
1.2.2 Quy định pháp luật về định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước 16
1.2.3 Quy định pháp luật về giấy phép xả nước thải vào nguồn nước 18
1.2.4 Quy định pháp luật về phí BVMT đối với nước thải 20
1.2.5 Các quy định về thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật liên quan đến quản lý nước thải 22
1.2.6 Xử lý vi phạm pháp luật về quản lý nước thải 24
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ THỌ 30 2.1 Thực trạng quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
và những vấn đề đặt ra về quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 30
2.1.1 Thực trạng quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 30 2.1.2 Những vấn đề đặt ra về quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 34
2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến pháp luật quản lý nước thải công nghiệp và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Phú Thọ 36
2.2.1 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến pháp luật quản lý nước thải công nghiệp 36 2.2.2 Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Phú Thọ 40
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP 54 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam 54 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam 56
3.2.1 Giải pháp pháp lý 56 3.2.2 Giải pháp khác 60
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp tại địa bàn tỉnh Phú Thọ 63 KẾT LUẬN 69
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ cơ bản chuyển đổi theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững thì vấn đề môi trường trong quá trình sản xuất, đặc biệt là quản lý nước thải công nghiệp đang được đặt ra Hiện nay, Phú Thọ đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là tại các khu vực xung quanh khu công nghiệp và đô thị trên địa bàn tỉnh; một số hệ thống sông, ngòi, ao, hồ đã bị ô nhiễm Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do chất lượng nước thải công nghiệp chưa được kiểm soát chặt chẽ, nhiều công trình, cơ sở xả thải chưa được cấp phép theo đúng quy định của pháp luật Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng quanh khu vực bị xả thải Nước thải công nghiệp có đặc điểm là chứa hàm lượng chất gây ô nhiễm cao, việc không xử lý nước thải công nghiệp gây ra rất nhiều hệ quả xấu cho kinh tế xã hội đất nước, để lại những hệ lụy nghiêm trọng về mọi mặt, bao gồm cả chính trị, kinh tế và xã hội Vì vậy, em chọn
đề tài “Pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ” để
tìm hiểu về các quy định pháp luật quản lý nước thải công nghiệp và việc áp dụng những quy định này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Đồng thời em hy vọng có thể đóng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến thời điểm hiện nay mới chỉ có một số các công trình nghiên cứu hoa học pháp lý liên quan đến quy định pháp luật về quản lý chất thải công nghiệp Điểm chung của các công trình nghiên cứu trên là tập trung đề cập đến vấn đề môi trường từ khía cạnh pháp lý, trong đó ở nhiều góc độ khác nhau, người nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp
Dưới góc độ khoa học pháp lý có một số đề tài nghiên cứu như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2009 “Hoàn thiện Pháp luật về
quản lý chất thải” do tác TS Nguyễn Văn Phương là chủ nhiệm, trường Đại học
Luật Hà Nội
Trang 8- Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2011 “Pháp luật về bảo vệ môi trường đối
với khu công nghiệp và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Tây Ninh” của tác giả Phan Thị
Trúc Linh, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài ra có một số bài viết trên các tạp chí Luật học, Tạp chí Cộng sản, tạp chí Lý luận chính trị, nghiên cứu pháp luật môi trường dưới nhiều góc độ, khía cạnh pháp lý khác nhau Trên các trang tin điện tử internet có nhiều bài viết về vấn
đề quản lý nước thải công nghiệp hoặc tình trạng xả thải không qua xử lý gây ô nhiễm của một số khu công nghiệp …như: Bài viết của tác giả Vũ Thị Duyên Thủy
đăng trên tạp chí Luật học số 9/2011"Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường
trong hoạt động của các khu công nghiệp ở Việt Nam"; bài " Môi trường khu công nghiệp, khu chế xuất các tỉnh Phía Bắc thực trạng và bài học kinh nghiệm" của tác
giả Phương Nhung đăng trên tạp chí quản lý Nhà nước số 174 (tháng 7/2010) Về
công tác quản lý môi trường KCN , tác giả Ngô Sỹ Trung có bài viết: "Quản lý môi
trường các khu công nghiệp hiện nay" được đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước
số 6/2010; tác giả Hoàng Thị Hường với bài viết: "Tăng cường quản lý môi trường
đối với các Khu công nghiệp" đăng trên Tạp chí Quản lý Nhà nước số 157( tháng
2/2009); tác giả Lê Thị Kim Tuyên với bài viết: "Thực trạng và giải pháp bảo vệ
môi trường trong các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam hiện nay" đăng trên
Tạp chí Công nghiệp Việt Nam, tháng 7 năm 2012 và nhiều công trình khác
Tuy vậy, chưa có công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào tìm hiểu sâu và toàn diện các quy định pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp bao gồm đầy đủ các vấn đề về hoạt động doanh nghiệp liên quan đến nước thải công nghiệp (quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp) song song với đó là quản lý của cơ quan nhà nước Mặt khác, cũng chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu
khả năng áp dụng những quy định này tại một địa bàn cụ thể Bởi vậy, có thể khẳng
định: Đề tài: “Pháp về quản lý nước thải công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ” là
đề tài còn mới cần được đi sâu tìm hiểu
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: hệ thống pháp luật Việt Nam về quản lý nước thải công nghiệp và thực tiễn triển khai những quy định này
Phạm vi nghiên cứu: địa bàn tỉnh Phú Thọ những năm gần đây
Trang 94 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn có 2 mục tiêu chính đó là:
Thứ nhất, nghiên cứu những quan điểm, luận điểm khoa học về quản lý nước thải công nghiệp, hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý nước thải công nghiệp, các phương thức quản lý nước thải công nghiệp, quy định pháp luật Việt Nam về quản lý nước thải công nghiệp;
Thứ hai, nghiên cứu đánh giá toàn diện quy định pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp cũng như thực tiễn áp dụng chúng để tìm ra những tồn tại, vướng mắc của hệ thống pháp luật; Nghiên cứu tình hình quản lý nước thải, nguyên nhân, hậu quả của - tình trạng xả nước thải công nghiệp không đúng quy định của nhà nước; Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng hoàn thiện hệ thống - pháp luật trong lĩnh vực quản lý nước thải công nghiệp
5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn;
Trong quá trình nghiên cứu để giải quyết các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, giải thích pháp luật, tổng hợp, thống kê, so sánh, hệ thống
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Với phương hướng nghiên cứu và nội dung như trên, luận văn sẽ góp phần vào hoàn thiện hệ thống lý luận về quản lý nước thải công nghiệp
và pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp
Ý nghĩa thực tiễn: Tác giả hy vọng luận văn có giá trị tham khảo nhất định, trước hết với những người quan tâm về quản lý nước thải công nghiệp dưới góc độ pháp lý và là tài liệu tham khảo hữu ích đối với việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn học Luật Môi trường Bên cạnh đó, luận văn còn có giá trị tham khảo, hỗ trợ chuyện ngành đối với những cá nhân tổ chức, doanh nghiệp muốn tìm hiểu sâu và thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp
7 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Pháp luật quản lý nước thải công nghiệp được quy định như thế nào và còn tồn tại những nhược điểm gì trong hệ thống pháp luật Việt Nam?
- Trình bày thực trạng quản lý nước thải công nghiệp trên địa bản tỉnh Phú Thọ?
Trang 10- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nước thải công nghiệp trên lý thuyết và thực thế áp dụng tại tỉnh Phú Thọ?
- Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định này là gì?
8 Bố cục (các chương) của luận văn
Luận văn bao gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Nội dung của luận văn được trình bày thành 3 chương Chương 1: Những vấn đề chung và pháp luật quản lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam; Chương 2: Pháp luật quản lý nước thải công nghiệp từ thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ; Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý nước thải công nghiệp
Trang 11CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NƯỚC THẢI, PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề chung về nước thải và pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp
1.1.1 Những vẫn đề chung về nước thải
Nước là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất hành tinh, là điều kiện tiên quyết để duy trì sự sống, sự phát triển của nhân loại Tuy nhiên, cùng với việc tăng trưởng của các ngành công nghiệp và dân số tăng nhanh, một lượng nước thải công nghiệp chưa được qua xử lý đã xả vào sông, hồ và khu vực ven biển, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và đe dọa cuộc sống của con người Tại Việt Nam, hơn 70% chất thải công nghiệp trong đó có nước thải chưa qua xử lý được xả vào nguồn nước và gây ô nhiễm nguồn nước cấp1 Nước thải có thể chứa một loạt các chất gây ô nhiễm Trong nhiều trường hợp, nước thải không chỉ xả trực tiếp ra sông, hồ, khu vực ven biển mà nó còn thấm xuống lòng đất và gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Tuy nhiên, điều này thường rất khó để phát hiện khi việc quan trắc, giám sát thường khá tốn kém Ngay cả khi được phát hiện, việc xử lý có thể cũng vô cùng khó khăn Hệ quả
là môi trường ở nhiều đô thị, khu công nghiệp (KCN) và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải Vì vậy, việc xử lý nước thải là rất cần thiết để bảo vệ môi trường sống của con người
1.1.1.1 Khái niệm nước thải
Khái niệm nước thải
Theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 6 tháng 8 năm 2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải thì nước thải là
“nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do các hoạt động của con người xả vào hệ thống thoát nước hoặc ra môi trường” Ngoài ra, ngày 24 tháng 4
năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất
1 Cục quản lý tài nguyên nước (2017), “Nước thải và công nghiệp”,
http://dwrm.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Nhin-ra-The-gioi/Nuoc-thai-va-cong-nghiep-5582, ngày 01/08/2018
Trang 12thải và phế liệu, theo đó, “Nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất
được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”
(Điều 3 khoản 5)
Như vậy có thể hiểu, nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác của con người
Phân loại nước thải
Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh và mục đích sử dụng Đó cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý Căn cứ vào hai yếu tố nêu trên, nước thải bao gồm các loại sau:
- Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác
- Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải từ các nhà máy, khu chế xuất đang hoạt động, từ các làng nghề, những cơ sở kinh doanh, dịch vụ hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu
- Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên, chúng được thu gom theo hệ thống riêng
1.1.1.2 Ảnh hưởng của nước thải tới môi trường và sức khỏe con người
Nước thải chứa số lượng lớn các chất ô nhiễm và chất bẩn như: Các chất dinh dưỡng; vi sinh vật gây bệnh; kim loại nặng; chất ô nhiễm hữu cơ và chất hữu
cơ phân hủy sinh học và vi chất ô nhiễm Tất cả những thứ này có thể gây ra nhiều vấn đề cho sức khỏe và môi trường đồng thời cũng gây ra những tác động kinh tế,
xã hội khi nước thải ít được xử lý hoặc không xử lý đầy đủ trước khi thải ra môi trường
Ảnh hưởng của nước thải tới môi trường
- Ảnh hướng tới môi trường nước và sinh vật nước Cụ thể như sau:
Nước mặt: Do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra sự mất cân bằng giữa lượng chất thải ra môi trường nước (rác thải sinh hoạt, các chất hữu cơ,…) và các sinh vật tiêu thụ lượng chất thải này (vi sinh vật, tảo,…) làm cho các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng,… không được phân huỷ, vẫn còn lưu lại trong nước với khối lượng
Trang 13lớn, dẫn đến việc nước dần mất đi sự tinh khiết ban đầu, làm chất lượng nguồn nước
bị suy giảm nghiêm trọng
Nước ngầm: Ngoài việc các cặn lơ lửng trong nước mặt, các chất thải nặng lắng xuống đáy sông, sau khi phân huỷ, 1 phần lượng chất được các sinh vật tiêu thụ, 1 phần thấm xuống mạch nước bên dưới (nước ngầm) qua đất, làm biến đổi tính chất của loại nước này theo chiều hướng xấu (do các chất chứa nhiều chất hữu
cơ, kim loại nặng…)
Sinh vật nước: Nước bị nhiễm kim loại nặng từ nước thải của các KCN, các nhà máy sản xuất công nghiệp như luyện kim, nhiệt điện, gang thép,… ảnh hưởng trực tiếp đến các sinh vật nước, đặc biệt là vùng sông, do nước ở vùng này trực tiếp chịu tác động từ nước thải của các nhà máy, KCN chưa xử lý hoàn toàn đổ ra Nhiều loài thuỷ sinh do hấp thụ các chất độc trong nước, thời gian lâu ngày gây biến đổi trong cơ thể của chúng, một số trường hợp gây đột biến
- Ảnh hướng tới môi trường đất: Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá và khó khôi phục lại trạng thái ban đầu Nước thải chứa nhiều chất ô nhiễm phát sinh từ hoạt động sản xuất thải vào môi trường làm thay đổi chất lượng đất, ảnh hưởng nguy hại tới các loại vi sinh vật sống trong đất, giảm năng suất cây lương thực, ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng hoa mầu của ngành công nghiệp cũng như sản lương nuôi trồng thủy sản Diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp
- Ảnh hướng tới môi trường không khí: Ô nhiễm môi trường nước không chỉ ảnh hưởng đến con người, đất, nước mà còn ảnh hưởng đến không khí Các hợp chất hữu cơ, vô cơ độc hại trong nước thải thông qua vòng tuần hoàn nước, theo hơi nước vào không khí làm cho mật độ bụi bẩn trong không khí tăng lên Không những vậy, các hơi nước này còn là giá bám cho các vi sinh vật và các loại khí bẩn công nghiệp độc hại khác Không chỉ thế, nước thải chưa qua xử lý đổ ra các con sông làm cho nước sông đổi màu và gây ra mùi khó chịu trong không khí, ảnh hưởng tới môi trường sống của người dân xung quanh
- Ảnh hưởng tới đa dạng sinh học: Từ những ảnh hưởng trên, có thể thấy
được, việc xả nước thải không được kiểm soát có thể gây tác động tới các hệ sinh thái thuỷ sinh, ảnh hưởng đến môi trường sống của nhiều loại sinh vật quý hiếm
Trang 14như cò thìa, bồ nông chân hồng, mòng biển,… dẫn đến việc giảm khả năng phục hồi
đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái
Ảnh hưởng của nước thải đến sức khỏe con người
- Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp
và mãn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng Người dân sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh tình nghi là do dùng nước bẩn trong mọi sinh hoạt Ngoài ra ô nhiễm nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất kinh doanh, các hộ nuôi trồng thủy sản2
Ảnh hưởng của nước thải tới nền kinh tế
- Nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý sơ bộ khi xả vào môi trường gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến ngành du lịch và dịch vụ do cảnh quan thiên nhiên bị ảnh hưởng Những nơi bị ô nhiễm sẽ bị hạn chế khách du lịch tham quan
do cảnh quan môi trường xuống cấp, gây thiệt hại về kinh tế cho địa phương
- Nước thải gây ô nhiễm môi trường đất, nước làm cho các ngành kinh tế trọng điểm gặp nhiều khó khăn như ngành nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản Mặt khác, người lao động tại các cơ sở sản xuất, các nhà máy xí nghiệp sống trong khu vực bị ô nhiễm do nước thải sẽ dễ mắc các bệnh gây suy giảm sức khỏe, ảnh hưởng đến năng suất làm việc, từ đó ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường khi nguồn cầu nhiều mà nguồn cung không đủ
- Không chỉ thế, trước tình hình trên, để khắc phục hậu quả do nước thải gây
ra, nhà nước sẽ phải sử dụng ngân sách để xử lý và khắc phục Nếu như càng có nhiều nguồn nước thải gây ô nhiễm môi trường, việc phải sử dụng quá nhiều ngân sách cho vấn đề xử lý nước thải dẫn đến hệ lụy không thể phân chia đồng đều ngân sách cho những chính sách quan trọng khác Từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của nền kinh tế
1.1.2 Pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nước thải công nghiệp
Khái niệm về quản lý nước thải công nghiệp
2 Thị Hà (2013), “Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước với sức khỏe con người”,
con-nguoi.html, ngày 01/08/2018
Trang 15https://sapuwa.vn/index.php/tin-tuc/chuyen-nganh/anh-huong-cua-o-nhiem-nguon-nuoc-doi-voi-suc-khoe-Hiện nay, vẫn chưa có văn bản nào quy định khái niệm “Quản lý nước thải” Tuy nhiên, căn cứ vào hoạt động quản lý nước thải trong thực tế, ta có thể hiểu quản
lý nước thải bao gồm hoạt động thu gom và xử lý nước thải Tương tự như vậy, quản lý nước thải công nghiệp sẽ được hiểu là hoạt động thu gom và xử lý nước thải công nghiệp Cụ thể:
- Hoạt động thu gom nước thải công nghiệp: việc thu gom nước thải tại địa điểm xả thải hay các cơ sở xả thải là giai đoạn đầu tiên, không thể thiếu trong quá trình quản lý nước thải công nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý nước thải công nghiệp một cách tập trung
- Hoạt động xử lý nước thải công nghiệp: là quá trình sử dụng công nghệ hay biện pháp kỹ thuật làm thay đổi các tính chất và thành phần của nước thải công nghiệp nhằm làm mất hay giảm mức độ gây nguy hại của nước thải công nghiệp đối với môi trường và sức khỏe con người Đây là giai đoạn quan trọng cần vận dụng nhiều biện pháp thích hợp để xử lý nước thải công nghiệp
- Việc thu gom, xử lý nước thải công nghiệp, căn cứ theo quy định của Luật bảo vệ môi trường (BVMT) 2014 như sau:
Đô thị, khu dân cư tập trung phải có hệ thống thu gom riêng nước mưa và nước thải, trong đó có nước thải công nghiệp
Nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường
- Ngoài ra, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định chi tiết về việc thu gom,
xử lý nước thải cũng có một số quy định về việc thu gom, xử lý nước thải công nghiệp cụ thể như sau:
Các KCN phải có hệ thống thu gom riêng nước mưa và hệ thống thu gom, xử
lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường Hệ thống xử lý nước thải phải bảo đảm đủ công suất xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh của các cơ sở trong KCN và phải được xây dựng, vận hành trước khi các cơ sở trong KCN đi vào hoạt động Các KCN gần nhau có thể kết hợp sử dụng chung hệ thống xử lý nước thải tập trung
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải có hệ thống thu gom nước mưa
và thu gom, xử lý nước thải theo các hình thức sau: tự xử lý tại hệ thống xử lý nước
Trang 16thải của cơ sở đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi thải ra môi trường; bảo đảm yêu cầu nước thải đầu vào trước khi đưa vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN hoặc làng nghề theo quy định của chủ sở hữu hệ thống hạ tầng kỹ thuật KCN hoặc làng nghề; chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý bên ngoài cơ sở phát sinh theo quy định: Đối với nước thải nguy hại thì được quản lý theo quy định
về quản lý chất thải nguy hại; đối với nước thải không nguy hại thì chỉ được phép chuyển giao cho đơn vị có chức năng phù hợp để xử lý
Đặc điểm của hoạt động quản lý nước thải công nghiệp:
Quản lý nước thải công nghiệp cũng là một hoạt động quản lý chất thải, nên
nó cũng mang các đặc điểm chung của hoạt động quản lý chất thải như:
- Về chủ thể: Pháp luật quản lý nước thải công nghiệp điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành hoạt động có liên quan đến hoạt động quản lý nước thải công nghiệp với cơ quan nhà nước về môi trường và mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành hoạt động có liên quan đến quản lý nước thải công nghiệp với nhau: Các quan hệ phát sinh giữa cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với các tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động có liên quan quản lý nước thải công nghiệp, bao gồm quan hệ giữa chủ nguồn thải, chủ thu gom, xử lý nước thải với các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường Các quan hệ này chính là các quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các quan hệ quản lý nhà nước về nước thải công nghiệp Mối quan
hệ giữa các chủ thể tiến hành hoạt động liên quan đến quản lý nước thải công nghiệp với nhau, bao gồm các quan hệ phát sinh trong quá trình thu gom, xử lý nước thải công nghiệp, bồi thường thiệt hại do quản lý nước thải công nghiệp gây ra
- Về đối tượng quản lý: đối tượng của hoạt động quản lý nước thải công nghiệp là nước thải công nghiệp
- Về mục đích: BVMT và sức khỏe cộng đồng thông qua vấn đề đặt ra các khung pháp lý quy định về trách nhiệm của cơ quan nhà nước về môi trường, quyền
và nghĩa vụ của các tổ chức, các nhân có liên quan đến quản lý nước thải công nghiệp Pháp luật quản lý nước thải công nghiệp đã phân định rõ ràng quyền hạn cho các cơ quan nhà nước sẽ giúp hoạt động quản lý nhà nước đối với các vấn đề này đạt hiệu quả cao hơn; định hướng xử sự và hành vi của các chủ thể có liên quan đến hoạt động quản lý nước thải được thực hiện nhằm giảm thiểu, ngăn ngừa và
Trang 17khắc phục những tác động có hại của nước thải công nghiệp đối với môi trường và sức khỏe của con người
1.1.2.2 Khái niệm Pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp
Định nghĩa Pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp
Pháp luật quản lý nước thải công nghiệp là một bộ phận của pháp luật môi trường bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành hoạt động liên quan đến nước thải công nghiệp với cơ quan quản
lý nhà nước về môi trường và giữa các chủ thể tiến hành hoạt động liên quan đến nước thải công nghiệp với nhau trong quá trình quản lý nước thải công nghiệp nhằm BVMT và sức khỏe cộng đồng
Hiện nay, chưa có một khái niệm cụ thể nào về pháp luật quản lý nước thải công nghiệp Tuy nhiên, căn cứ vào thực tế thi hành pháp luật, có thể hiểu khái quát như sau: Pháp luật quản lý nước thải công nghiệp là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý nước thải công nghiệp
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp bao gồm:
- Quan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chuyên môn trong việc áp dụng quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải công nghiệp và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước
- Quan hệ phát sinh trong việc cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước: quan
hệ giữa cơ quan cấp phép và cơ quan tiếp nhận, quản lý cấp phép, quan hệ giữa các
tổ chức, cá nhân xả thải và các cơ quan trên
- Quan hệ phát sinh trong việc thu phí BVMT với nước thải là quan hệ giữa đối tượng nộp phí và đối tượng thu phí
- Quan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các loại chủ thể xả thải vào môi trường trong việc thực hiện quy định về Quy chuẩn kỹ thuật môi trường, Đánh giá tác động môi trường
Trang 18- Quan hệ gắn với việc xử lý vi phạm pháp luật về quản lý nước thải là quan
hệ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về xả nước thải công nghiệp
1.1.2.3 Vai trò của pháp luật trong quản lý nước thải công nghiệp
Mọi lĩnh vực trong xã hội, nhất là môi trường đều đỏi hỏi sự quản lý của nhà nước một cách cụ thể và chi tiết Xuất phát từ mục tiêu ngăn ngừa, giảm thiểu tác động có hại của nước thải tới môi trường và sức khỏe của con người, pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp có vai trò quan trọng
Thứ nhất, pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp sẽ quy định quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong các quan hệ xã hội về quản lý nước thải công nghiệp Hoạt động quản lý nước thải công nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau với các tính chất và mức độ khác nhau, mỗi hoạt động lại có một nhóm các chủ thể khác nhau tham gia Vì thế, pháp luật quản lý nước thải công nghiệp quy định quyền và nghĩa vụ riêng của mỗi chủ thể tham gia Trong đó đề cao trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung, thẩm quyền chuyên môn trong hoạt động kiểm soát nước thải công nghiệp và có trách nhiệm tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân xả thải
Thứ hai, pháp luật quản lý nước thải công nghiệp có vai trò quan trọng trong việc răn đe, giác ngộ ý thức BVMT cho các chủ thể liên quan Pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp thể hiện tính răn đe, giác ngôn thông qua việc xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật về xả thải Từ đó, các thành viên trong xã hội phải có ý thức trong việc xả thải, đặc biệt là các doanh nghiệp cần quan tâm tới lợi ích môi trường bên cạnh lợi ích kinh tế, có trách nhiệm trong việc xử lý nước thải của doanh nghiệp mình, xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt yêu cầu
Thứ ba, các quy phạm pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp có vai trò tăng cường tính kỷ luật và trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động quản lý nước thải Các chế định trong các quy phạm pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp càng được xây dựng chặt chẽ bao nhiêu thì tính kỷ luật của pháp luật càng được nâng cao bấy nhiêu Khi các chủ thể tuân thủ pháp luật, một mặt vừa đảm bảo tính pháp quyền của nhà nước xã hội chủ nghĩa, một mặt góp phần vào việc BVMT khỏi sự ảnh hưởng của nước thải công nghiệp
Trang 19Thứ tư, pháp luật quản lý nước thải công nghiệp còn có vai trò đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội và tăng cường phát triển kinh tế xã hội Pháp luật áp dụng như nhau đối với các chủ thể có liên quan đến nước thải công nghiệp, đảm bảo tính công bằng cho xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Thứ năm, pháp luật quản lý nước thải công nghiệp phát triển hoàn thiện sẽ giúp phát triển hoạt động quản lý nước thải công nghiệp trong quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế Hiện nay, nhà nước ta đã kí kết với các quốc gia khác nhiều điều ước quốc tế về BVMT, trong đó có quy định cả về hoạt động quản lý nước thải công nghiệp Trong tương lai, sẽ có nhiều điều ước khác được ký kết trong lĩnh vực môi trường nói chung và hoạt động quản lý nước thải công nghiệp nói riêng
1.2 Các quy định pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam
1.2.1 Quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường và quy chuẩn kỹ thuật môi trường
Nước thải công nghiệp là một loại chất thải gây ảnh hướng lớn tới môi trường sống Chủ nguồn thải phải có trách nhiệm BVMT, một trong các hoạt động nhằm BVMT của chủ nguồn thải là việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật Căn cứ theo khoản 23, Điều 3 Luật BVMT 2014,
“Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động của dự án đầu tư đến môi trường để đưa ra biện pháp BVMT khi triển khai dự án đó” Lập
Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là cơ sở để chủ nguồn thải biết rõ hơn về hiện trạng chất lượng môi trường của mình từ đó có thể đề ra các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm hiệu quả nhằm đạt các Tiêu chuẩn môi trường theo quy định Hơn nữa kết quả giám sát chất lượng môi trường sẽ là cơ sở để cơ quan quản lý Nhà nước về BVMT đánh giá về công tác BVMT của chủ nguồn thải Theo quy định tại Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch BVMT,
có 113 dự án phải lập báo cáo ĐTM Đối với những dự án thuộc đối tượng phải lập báo cáo ĐTM, chủ dự án phải có trách nhiệm tự thực hiện hoặc thuê đơn vị tư vấn thực hiện báo cáo ĐTM theo quy định tại Điều 19 Luật BVMT 2014; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện báo cáo ĐTM và các thông tin, số liệu
sử dụng trong báo cáo ĐTM
Trang 20Một nội dung quan trọng trong quá trình lập báo cáo ĐTM là Chủ đầu tư phải thực hiện tham vấn cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án, tiếp thu những ý kiến khách quan, kiến nghị hợp lý của các bên tham vấn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tác động xấu đến môi trường và con người, đảm bảo sự phát triển bền vững của dự án Đối với các dự án phù hợp với quy hoạch của khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung đã được phê duyệt báo cáo ĐTM cho giai đoạn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; dự án thuộc danh mục bí mật nhà nước không phải thực hiện tham vấn
Điều 20 Luật BVMT 2014 và Điều 15 nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định chủ dự án phải lập lại báo cáo ĐTM trong các trường hợp: Không triển khai dự án trong thời gian 24 tháng kể từ thời điểm quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM; Thay đổi địa điểm thực hiện dự án so với phương án trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt; Có thay đổi về quy mô, công suất, công nghệ hoặc những thay đổi khác dẫn đến các công trình BVMT không có khả năng giải quyết được các vấn đề môi trường gia tăng
Về nội dung báo cáo ĐTM được quy định cụ thể hơn tại Điều 22 Luật BVMT 2014 Những quy định về tổ chức, yêu cầu, trách nhiệm của hội đồng thẩm định được lược bỏ vì cơ quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định
và phê duyệt kết quả thẩm định là cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Khoản 1 Điều 27); các hội đồng thẩm định chỉ có chức năng tư vấn cho cơ quan thẩm định và phê duyệt kết quả thẩm định
Để chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật, sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt, chủ đầu tư có trách nhiệm: Lập kế hoạch quản lý môi trường của dự án theo đề xuất của báo cáo ĐTM; niêm yết công khai thông tin tại trụ sở UBND cấp
xã nơi thực hiện tham vấn, cơ quan phê duyệt báo cáo về kế hoạch vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải phục vụ giai đoạn vận hành chính thức (Điều
16 Nghị định 18/2015/NĐ-CP)
Luật BVMT 2014 quy định: “Chủ đầu tư phải báo cáo cơ quan phê duyệt
báo cáo ĐTM kết quả thực hiện các công trình BVMT phục vụ vận hành dự án đối với dự án lớn, có nguy cơ tác động xấu đến môi trường do Chính phủ quy định Những dự án này chỉ được vận hành sau khi cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM kiểm
Trang 21tra, xác nhận hoàn thành công trình BVMT” Để tạo điều kiện thuận lợi cho chủ dự
án, Điều 28 quy định: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo hoàn
thành công trình BVMT, cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM phải tổ chức kiểm tra và cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT của dự án Trường hợp phải phân tích các chỉ tiêu phức tạp thời gian cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT của dự án có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày” Như vậy, chỉ có các dự án do
Chính phủ quy định mới có kiểm tra sau thẩm định và hậu thẩm định bị ràng buộc thời gian nhất định
Nước thải công nghiệp sau khi được xử lý đi vào môi trường phải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường để đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường Việc quy định một hệ thống các quy chuẩn kỹ môi trường về nước thải công nghiệp là hết sức quan trọng và cần thiết trong hoạt động quản lý của nhà nước, một mặt hạn chế được ảnh hưởng của nước thải, mặt khác là cơ sở cho hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền
Để thuận lợi cho công tác quản lý nước thải công nghiệp, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước, bộ Tài nguyên và môi trường và các Bộ ngành có liên quan đã tổ chức biên soạn và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật môi trường Việt Nam Trong đó có một số các quy chuẩn được áp dụng cho công tác quản lý nước thải như sau:
- QCVN 12-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy
- QCVN 13-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt nhuộm
Bên cạnh các quy chuẩn kỹ thuật môi trường về nước thải công nghiệp, Bộ Khoa học công nghệ cũng ban hành một số tiêu chuẩn có liên quan:
- Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5945-2010 về nước thải công nghiệp – tiêu chuẩn thải
- Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8184-5:2009 (ISO 6107 – 5:2004) về chất lượng nước - Thuật ngữ - Phần 5
- Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6622-1:2009 về chất lượng nước – xác định chất hoạt động bề mặt
Trang 22Nội dung các tiêu chuẩn và quy chuẩn bao gồm: các quy định giải thích thuật ngữ, quy định kỹ thuật về giá trị tối đa cho phép của các chất độc hại (COD, BOD, coliform,…) có trong nước thải sau khi thải vào môi trường
Mặc dù luật BVMT 2014 đã được ban hành và có hiệu lực nhưng một số TCVN về nước thải do Bộ khoa học công nghệ chưa được thay thế mà vẫn dùng một số TCVN trước đây Đây là cơ sở quan trọng góp phần tăng cường công tác quản lý nước thải của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, không phải mọi quy định về quy chuẩn kĩ thuật và tiêu chuẩn Việt Nam cũng như báo cáo ĐTM đều được thực thi một cách nghiêm túc Thực tế cho thấy, hai trong nhiều các hành vi vi phạm của công ty Vedan là không lập báo cáo ĐTM theo quy định của pháp luật môi trường, xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên, nhưng sau 14 năm vi phạm công ty này mới bị phát hiện, điều đó cho thấy sự nới lỏng quản lý của các cơ quan có thẩm quyền
1.2.2 Quy định pháp luật về định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước
Định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn là định mức về hao phí lao động, hao phí vật liệu và định mức sử dụng công cụ, máy móc, thiết bị để thực hiện một khối lượng công việc nhất định Định mức kinh tế - kỹ thuật được xây dựng phù hợp với yêu cầu kĩ thuật, quy trình thực hiện điều kiện tổ chức và kỹ thuật hiện tại của lĩnh vực tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, đồng thời có tính đến việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới
Định mức lao động công nghệ là quy định thời gian lao động trực tiếp sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc hoàn thành một bước công việc chính, đơn vị tính là công nhóm/đơn vị sản phẩm
Định mức sử dụng vật liệu là số lượng cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm (thực hiện một công việc); đơn vị tính theo đơn vị của từng loại vật liệu/đơn
vị sản phẩm
Định mức sử dụng dụng cụ máy móc, thiết bị là thời gian sử dụng dụng cụ và máy móc, thiết bị cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm (thực hiện một công
Trang 23việc); đơn vị tính là ca/sản phẩm; thời hạn sử dụng dụng cụ và máy móc, thiết bị tính là tháng
Các định mức quy định trong Thông tư 21/2009/TT-BTNMT ngày 5/11/2009 quy định về định mức kinh tế - kĩ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước là toàn bộ hao phí cho việc thực hiện các bước công việc để hoàn thành một dự án điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, theo yêu cầu kĩ thuật, trình tự thực hiện các nội dung công việc cụ thể
Ngày 29/12/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT quy định về đánh giá sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của sông, hồ Theo Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT, việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ phải đảm bảo các nguyên tắc tính hệ thống theo lưu vực sông và nguồn nước Đối với nguồn nước là sông, suối, kênh, rạch (sông), khi thực hiện đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải phải được phân thành từng đoạn sông để đánh giá Việc phân đoạn sông, xác định mục đích sử dụng nước, lựa chọn lưu lượng dòng chảy, lựa chọn thông số chất lượng nước mặt, thông số ô nhiễm của các nguồn nước thải để đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải đối với từng đoạn sông phải bảo đảm tính hệ thống theo từng sông, hệ thống sông Việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ phải được thực hiện đối với từng thông số ô nhiễm Việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ phải dựa trên đặc điểm mục đích sử dụng, khả năng tự làm sạch của nguồn nước, quy mô và tính chất của các nguồn nước thải hiện tại và theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Thông số để đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ gồm có COD, BOD5, amoni, nitrat, photphat… Ngoài
ra còn phải căn cứ vào các quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước mặt, quy chuẩn
kỹ thuật về nước thải, mục đích sử dụng nước, quy mô, tính chất nước thải, yêu cầu bảo vệ nguồn nước, BVMT đối với từng đoạn sông, hồ thì cơ quan có thẩm quyền phê duyệt khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải xem xét, quyết định cụ thể các thông số khác để đánh giá cho phù hợp
Trang 24Việc quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải là một hoạt động quan trọng trong quản lý nước thải công nghiệp Những định mức này là căn cứ để xây dựng đơn giá và dự toán cho việc thực hiện dự án điều tra, đánh giá hiện trạng xả thải vào nguồn nước cho lưu vực sông, một vùng lãnh thổ hoặc một đơn vị hành chính và đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước cho một đoạn sông/ dòng sông
1.2.3 Quy định pháp luật về giấy phép xả nước thải vào nguồn nước
Theo quy định của Luật Tài nguyên nước 2012, các tổ chức cá nhân sử dụng nước trong sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác nếu xả vào nguồn nước phải căn cứ vào khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước và việc bảo vệ tài nguyên nước
Theo đó, Nhà nước đã ban hành một số văn bản hướng dẫn về việc cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước như: nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước; thông tư 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/05/2014 quy định việc đăng kí khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh cấp lại giấy phép tài nguyên nước, thông tư 270/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản
lý và sử dụng phí thẩm định cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước,
xả thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất do cơ quan trung ương thực hiện,…
Điều 15 Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định: “Giấy phép tài nguyên nước
bao gồm: Giấy phép thăm dò nước dưới đất; giấy phép khai thác và sử dụng nước biển; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.” Ngoài ra, Chính phủ cũng quy định
thêm về các trường hợp xả thải không phải đăng ký, không phải xin cấp phép tại Điều 16 Nghị định này, ví dụ như: Xả nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 5 m3/ngày đêm và không chứa hóa chất độc hại, chất phóng xạ trừ các trường hợp quy định tại Khoản 5 Điều 3 thông tư 27/2014/TT-BTNMT, Xả nước thải nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 10.000 m3/ngày đêm hoặc nuôi trồng thủy sản trên biển, sông, suối, hồ chứa,… Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước:
Trang 25- Trách nhiệm của cơ quan cấp giấy phép: Bộ Tài nguyên và Môi trường và
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép, đình chỉ hiệu lực, thu hồi giấy phép theo đúng thẩm quyền; thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân xin phép; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ của chủ giấy phép
- Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép tài nguyên nước trong trường hợp: Xả nước thải với lưu lượng 30.000 m3/ ngày đêm trở lên đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản; Xả nước với lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên đối với các hoạt động khác
- Trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận, quản lí hồ sơ, cấp phép: Cục quản lý tài nguyên nước và sở Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và hướng dẫn thủ tục cấp phép, yêu cầu tổ chức, cá nhân xin giấy cấp phép bổ sung hồ
sơ theo quy định; thẩm định hồ sơ xin cấp giấy phép và chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định…
Theo báo cáo của Cục Quản lý tài nguyên nước, tính đến tháng 12 năm 2017, Cục Quản lý tài nguyên nước đã thẩm định, trình Bộ cấp 170 giấy phép trong lĩnh vực tài nguyên nước, trong đó có 10 giấy phép khai thác nước dưới đất; 13 giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; 09 giấy phép thăm dò nước dưới đất; 70 giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển; 68 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước Thống kê sơ bộ, năm 2017 các địa phương đã cấp được 2.815 giấy phép tài nguyên nước các loại (cấp mới 87%, gia hạn 13%), trong đó cấp phép xả nước thải vào nguồn nước 1.195 giấy phép (chiếm 42%), khai thác sử dụng nước mặt 243 giấy phép (chiếm 9%), thăm dò nước dưới đất 237 giấy phép (chiếm 8%), khai thác
sử dụng nước dưới đất 1.031 giấy phép (chiếm 37%), hành nghề khoan nước dưới đất 109 giấy phép (chiếm 4%)3 Tính đến ngày 15 tháng 6 năm 2018, năm 2018, Cục Quản lý tài nguyên nước đã thẩm định, trình Bộ cấp 83 giấy phép trong lĩnh vực tài nguyên nước Trong số giấy phép tài nguyên nước được cấp, có 24 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; 01 giấy phép khai thác nước dưới đất; 04 giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; 03 giấy phép thăm dò nước dưới đất; 51 giấy
3 Cục quản lý tài nguyên nước(2018), Cả nước cấp được 2985 giấy phép về tài nguyên nước năm 2017, http://dwrm.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Cap-phep-ve-Tai-nguyen-nuoc/Ca-nuoc-cap- duoc-2985-giay-phep-ve-tai-nguyen-nuoc-nam-2017-6719, ngày 01/08/2018
Trang 26phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển4 Nhìn chung các hồ sơ cấp phép đều được tiếp nhận, xử lý đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo thời hạn theo quy định theo tinh thần cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân làm thủ tục đề nghị cấp phép
Cơ sở pháp lí cho việc xả nước thải vào nguồn nước của các chủ thể xả thải chính là giấy phép xả nước thải vào nguồn nước Khi đã có giấy phép thì các chủ sở hữu của giấy phép đó có quyền xả thải vào nguồn nước, đồng thời cũng có nghĩa vụ nộp phí xả thải vào nguồn nước theo quy định của pháp luật
1.2.4 Quy định pháp luật về phí BVMT đối với nước thải
Phí bảo vệ đối với nước thải có tác dụng điều chỉnh hành vi của người xả thải Đây là vai trò thể hiện đặc biệt rõ nét nhất đối với những chủ thể xả nước thải công nghiệp Bởi vì phí BVMT đối với nước thải đánh vào chất gây ô nhiễm, tức là lượng nước thải của doanh nghiệp càng chứa nhiều chất gây ô nhiễm, nồng độ càng cao thì số tiền doanh nghiệp bỏ ra để khắc phục thiệt hại càng lớn Nguồn kinh phí
để trang trải cho các hoạt động BVMT này không được Nhà nước cung cấp, hỗ trợ
Vì lẽ đó, mặc dù lợi ích môi trường được đảm bảo nhưng lợi ích kinh tế của doanh nghiệp bị ảnh hưởng Để giải quyết mâu thuẫn đó, doanh nghiệp cần phải có giải pháp tối ưu là điều chỉnh hành vi của mình, hạn chế hàm lượng các chất gây ô nhiễm thải ra môi trường; đồng thời sử dụng các phương tiện hiện đại nhằm hạn chế khả năng gây ra ô nhiễm môi trường
Phí BVMT đồi với nước thải tạo ra nguồn thu cho ngân sách, theo quy định pháp luật thì phần lớn số phí thu được sẽ nộp vào ngân sách địa phương vì ngân sách Trung ương (Quỹ BVMT Việt Nam) để sử dụng cho việc phòng ngừa, hạn chế, kiểm soát ô nhiễm môi trường từ nước thải; tổ chức giải pháp, phương án công nghệ, kỹ thuật xử lý ô nhiễm môi trường nước Đặc biệt, phí BVMT đối với nước thải công nghiệp có số lượng đối tượng nộp phí nhiều, phương pháp thu hiệu quả do
đó có khả năng đem lại nguồn kinh phí tương đối lớn, hỗ trợ phần nào cho ngân sách nhà nước, khắc phục những khó khăn về tài chính Hiện nay, Chính phủ đã ban hành văn bản quy định về phí BVMT đối với nước thải như: Nghị định
4 Cục quản lý tài nguyên nước(2018), Công tác cấp phép tài nguyên nước 6 tháng đầu năm 2018,
phep-tai-nguyen-nuoc-6-thang-dau-nam-2018-7211 , ngày 01/08/2018
Trang 27http://dwrm.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Cap-phep-ve-Tai-nguyen-nuoc/Cong-tac-cap-154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ về BVMT đối với nước thải, đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải, đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt
Quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp phí (những tổ chức, cá nhân) xả thải vào môi trường:
- Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, có quyền yêu cầu xác định lại số phí phải nộp cho phù hợp khi thay đổi nguyên liệu, sản phẩm, thay đổi dây chuyền sản xuất, quy trình công nghệ: lắp đặt các thiết bị giảm ô nhiễm, hệ thống xử lí nước thải
- Tất cả các tổ chức, cá nhân xả nước thải vào môi trường đều có nghĩa vụ nộp
đủ, đúng hạn số tiền phí BVMT đối với nước thải cho cơ quan thu phí
- Phí BVMT đối với nước thải công nghiệp, các tổ chức, cá nhân xả thải có nghĩa vụ kê khai số phí phải nộp hàng quý với Sở Tài nguyên và Môi trường nơi thải nước theo đúng quy định và đảm bảo tính chính xác của việc kê khai
Quyền và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các quy định
về phí nước thải:
- Sở Tài nguyên và Môi trường được sử dụng 20% trên tổng số phí BVMT đối với nước thải công nghiệp để thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc thu phí đối với nước thải
- Việc thẩm định tờ khai BVMT đối với nước thải công nghiệp, thông báo số phí phải nộp, tổ chức việc thu, nộp phí và quyết toán số tiền phí BVMT đối với nước thải công nghiệp của đối tượng nộp phi; thực hiện quyết toán việc thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền phí thu được trên địa bàn với cơ quan thuế thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường
- Trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc, quyết toán việc thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền phí BVMT đối với nước thải thuộc về Cơ quan thuế…
Về mức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 154/2016/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải như sau:
“2 Mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được tính như sau:
Trang 28sở về vốn cho việc đầu tư các hệ thống xử lí nước thải và khắc phục ô nhiễm môi trường do nước thải công nghiệp gây ra
1.2.5 Các quy định về thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật liên quan đến quản lý nước thải
Hoạt động thanh tra được thực hiện dưới hình thức thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất Thanh tra theo chương trình kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền giao
Hoạt động kiểm tra được tiến hành một cách thường xuyên Về cơ bản, hoạt động này chỉ mang tính chất xem xét hiện trạng sự việc cần kiểm tra, nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền
Trang 29Hoạt động giám sát được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, có thể là các cơ quan nhà nước, có thể là mọi tổ chức, cá nhân Các chủ thể này đều có quyền theo dõi, giám sát việc thực hiện những quy định của pháp luật về quản lý nước thải của bất kì tổ chức, cá nhân nào Vì thế, việc theo dõi, giám sát không tuân theo một trình tự, thủ tục nào
Quá trình tiến hành thanh tra các vụ việc liên quan đến nước thải công nghiệp, các cơ quan có quyền:
- Trưng cầu giám định, kiểm tra kỹ thuật tại hiện trường về các chỉ tiêu vật lý, hóa học… các mẫu nước thải công nghiệp nhằm đảm bảo tính khách quan, chính xác
- Có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu và trả lời các vấn đề cần thiết liên quan đến công tác thanh tra
- Quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp các hoạt động quản lý nước thải được tiến hành thanh tra có nguy cơ gây sự cố môi trường và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó
- Tiến hành xử lí các vi phạm trong phạm vi thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vấn đề có liên quan đến nước thải công nghiệp
Quyền và trách nhiệm của đối tượng thanh tra:
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có quyền giải trình về nội dung thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về quản lý nước thải công nghiệp
- Có trách nhiệm thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định về thanh tra quản lý nước thải công nghiệp
- Phải cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra quản lý nước thải theo yêu cầu của cơ quan thanh tra và chịu trách nhiệm
về tính chính xác, trung thực của những thông tin, tài liệu đã cung cấp
Theo thống kê của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và môi trường), tính đến tháng 5/2016, cả nước có 313 KCN được thành lập, trong đó mới chỉ có
212 KCN đang hoạt động đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tỷ lệ 75% với 102 hệ thống đã được lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động theo quy định; 24 KCN đang xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; 615
Trang 30CCN đang hoạt động nhưng chỉ có khoảng hơn 5% đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung5
Khác với số liệu thống kê, trên thực tế, nhiều KCN đã có trạm xử lý nước thải nhưng chưa hoạt động thường xuyên, nước thải sau xử lý chưa đạt quy chuẩn Việt Nam Tại nhiều KCN như Trà Nóc 1, 2 (Cần Thơ), Thụy Vân (Phú Thọ) … vẫn tồn tại tình trạng xả thải gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt, các KCN chưa xây dựng
và vận hành trạm xử lý nước thải còn gây ô nhiễm môi trường lớn hơn như KCN Cầu Nghìn (Thái Bình), KCN Hòa Bình (Kon Tum) đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng chưa có hệ thống thu gom nước thải nên không thể vận hành Đối với cơ sở sản xuất nằm ngoài KCN, các công trình hạ tầng về quản lý nước thải
và công tác kiểm soát ô nhiễm còn gặp khó khăn hơn Những sự cố xả thải của các nhà máy gây ô nhiễm nghiêm trọng phải kể đến xả thải của công ty Vedan (Đồng Nai) gây ô nhiễm nghiêm trọng sông Thị Vải, Công ty Tung Kuang (Hải Dương) xả thải ra sông Ghẽ… đặc biệt nghiêm trọng là sự cố Formosa (Hà Tĩnh) xả thải ra biển gây hiện tượng cá chết hàng loạt tại 4 tỉnh miền Trung là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế6
Như vậy có thể nói, hiện nay, việc quản lý và xử lý nước thải công nghiệp ở nước ta còn lỏng lẻo và chưa được quan tâm, từ đó mới dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp vi phạm quy định về quản lý nước thải công nghiệp nhưng cơ quan quản lý nhà nước lại không phát hiện được hoặc đến khi xảy ra hậu quả nghiêm trọng mới bắt đầu thanh tra, kiểm tra
1.2.6 Xử lý vi phạm pháp luật về quản lý nước thải
Với hàng loạt những sai phạm trong thời gian gần đây về xử lí nước thải và
an toàn môi trường Nhiều đơn vị bị phạt tiền trên 200 triệu đồng vì không có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo, sự gây mất ô nhiễm trong xả thải và chất lượng của nước thải qua xử lý tới môi trường đã dấy lên nhiều lo ngại trong dư luận Vì vậy
mà khi nghị định 80/2017 NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải được ban hành
đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm của từng cá nhân tổ chức với hoạt động xử lý
Trang 31nước thải và xả thải ra môi trường Theo đó thì “người gây ô nhiễm phải trả tiền xử
lý ô nhiễm, nguồn thu từ dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải phải đáp ứng từng bước và tiến tới bù đắp chi phí dịch vụ thoát nước” Đó là nguyên tắc chung của
quản lý thoát nước và xử lý nước thải sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng
Trách nhiệm hành chính
Hiện nay, những quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT đã được quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường Theo đó, trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật quản lý nước thải được quy định trong một số điều luật khác nhau như:
Hành vi vi phạm các quy định về thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường theo Điều 9 của Nghị định với mức tiền phạt từ 2.000.000 đồng đến tối đa 200.000.000 đồng tùy vào từng khoản đã được quy định cụ thể
Hành vi không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường theo khoản 2 Điều 12 của Nghị định bị xử phạt với mức 120.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng
Hành vi không thực hiện đấu nối triệt để nước thải từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của cụm công nghiệp (trừ các trường hợp được phép miễn trừ đấu nối nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn cho phép thải ra môi trường ngoài phạm vi quản lý của cụm công nghiệp); không kiểm soát dẫn đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xả nước thải vào hệ thống thoát nước mưa của cụm công nghiệp theo khoản 3, 4 Điều 12 của Nghị định phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng tùy từng mức độ
Hành vi vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường theo khoản 6 Điều 12 của Nghị định với mức tiền phạt được quy định từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, có thể tăng từ 10% đến 90% đối với các trường hợp nước thải vượt mức quy định theo điểm b khoản 6 Điều này
Hành vi vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường thông thường vào môi trường phạt từ 300.000 đồng lên đến 950.000.000 đồng tùy vào khối lượng và mức độ nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải
Trang 32theo quy định tại Điều 13 của Nghị định Vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường phạt từ 1.000.000 đồng lên đến 1.000.000.000 đồng tùy vào khối lượng và mức độ nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải theo quy định tại Điều 14 của Nghị định Phạt tăng thêm 10% đến 50% mức tiền cao nhất với các trường hợp quy định cụ thể tại khoản 11 Điều này
Ngoài các hình thực phạt tiền, Nghị định còn quy định các hình thức phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây nên như: đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm môi trường hoặc đình chỉ hoạt động của các cơ sở vi phạm quy định tùy từng mức tương ứng với khoảng thời gian đình chỉ từ 03 tháng đến tối
đa 09 tháng; buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và báo cáo kết quả đã khắc phục xong hậu quả vi phạm trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm quy định gây ra
Trách nhiệm hình sự
Điều 235 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về các loại tội phạm môi trường như sau: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến tối đa 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến tối đa 07 năm nếu có hành vi xả thải ra môi trường nước thải có chứa chất phóng xạ vượt giá trị cho phép; hoặc hành
vi xả thải ra môi trường, tùy vào khối lượng nước thải ra và thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường gấp bao nhiêu lần, hoặc hành vi vi phạm ở mức thấp hơn nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm Trường hợp đối với pháp nhân thương mại phạm tội, phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến tối đa 20.000.000.000 đồng, có thể bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc đình chỉ vĩnh viễn
Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 Cho đến thời điểm hiện tại, mặc dù bộ luật đã có hiệu lực thi hành, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn cần nghiên cứu kĩ các quy định của Bộ luật để ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm sự thống nhất khi áp dụng Bộ luật vào cuộc sống Trong đó, đối với tội phạm môi trường
Trang 33cũng cần phải cân nhắc, xem xét và hướng dẫn cụ thể đối với một số vấn đề sau đây:
- Việc việc xử lý hình sự đối với pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực môi trường là vấn đề mới được quy định trong Bộ luật Hình sự nên việc thực thi sau khi
Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực thi hành sẽ gặp nhiều lúng túng Nhiều pháp nhân là những công ty trách nhiệm hữu hạn do các
cá nhân lập ra, việc giải thể pháp nhân do cá nhân quyết định Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý chỉ có thể tiến hành nếu chủ thể của tội phạm là cá nhân còn sống và pháp nhân còn tồn tại Tuy nhiên, nếu thời điểm phát hiện được vi phạm pháp luật của pháp nhân mà pháp nhân đó đã không còn tồn tại trên thực tế thì sẽ không thể truy cứu được Vì vậy cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này
- Theo quy định về việc phân loại tội phạm tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm
2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:
“1 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
…
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Như vậy trong tội phạm quản lý nước thải công nghiệp, không có tội phạm nào được phân loại là tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong khi hậu quả của tội phạm này gây ra cho môi trường, cho tài sản, cho sức khỏe con người là rất lớn Không những vậy, hình phạt chính của tội phạm môi trường chỉ là hình phạt tiền, chứ không phải là hình phạt tù Việc phân loại tội phạm môi trường theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 mặc dù đã được sửa
Trang 34đổi, bổ sung năm 2017 nhưng vẫn chưa cụ thể đối với loại tội phạm môi trường này Mặt khác đối với pháp nhân thương mại chỉ bị áp dụng hình phạt tiền thì việc phân loại tội phạm sẽ áp dụng như thế nào Thêm vào đó, các điều luật có liên quan đến tội phạm môi trường khi quy định về hình phạt đối với pháp nhân đều dành một
điểm quy định pháp nhân thương mại: “Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại
Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn” (điểm d khoản 5 Điều
235, điểm d khoản 5 Điều 237, điểm d khoản 5 Điều 238 ) Chúng ta có thể hiểu
việc “đình chỉ hoạt động vĩnh viễn” một pháp nhân là khai tử pháp nhân đó, nhưng
đây lại không phải là căn cứ để phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại
Quy định về tội phạm môi trường có nhiều điểm mới, nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn cho quá trình áp dụng nếu không có những hướng dẫn cụ thể vì vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể
để các quy định này có thể áp dụng vào thực tiễn
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thời gian qua, phát triển công nghiệp mạnh mẽ đã kèm theo nguy cơ gây ra
ô nhiễm môi trường nặng nề, đặc biệt là trong hoạt động xả nước thải công nghiệp
Do đó, các yêu cầu chặt chẽ về hoạt động quản lý nước thải công nghiệp là đòi hỏi ngày một bức thiết của pháp luật và cộng đồng Quản lý nước thải công nghiệp là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường của nước thải công nghiệp; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm môi trường do nước thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ gây nên; phục hồi, cải thiện môi trường
Pháp luật quản lý nước thải công nghiệp là một bộ phận của pháp luật môi trường Pháp luật quản lý nước thải công nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý nước thải công nghiệp liên quan trực tiếp đến quá trình bảo vệ có hiệu quả môi trường sống của con người khi các chủ thể tiến hành hoạt động xả thải công nghiệp
Pháp luật quản lý nước thải công nghiệp giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường Đây là một trong những cơ sở pháp lý góp phần phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu của hoạt động xả thải công nghiệp đến môi trường Thông qua những quy định về quản lý nước thải công nghiệp, nhà nước đã tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, khuyến khích áp dụng các công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường vào hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ nhằm đảm bảo phát triển bền vững
Trang 36CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NƯỚC THẢI
CÔNG NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ THỌ
2
2.1 Thực trạng quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và những vấn đề đặt ra về quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Thực trạng quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Đặc điểm nổi bật của địa hình Phú Thọ là chia cắt khá mạnh, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, cấu tạo địa chất dễ bị phong hóa, xói mòn đã tạo cho Phú Thọ có hệ thống sông ngòi rất phong phú, đa dạng Theo đánh giá về chất lượng nguồn nước của các con sông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ được biết hầu như nguồn nước không bị ảnh hưởng bởi các nguồn xả nước thải, các nguồn thải từ các tỉnh phía trên thượng nguồn Tuy nhiên, tại một số vị trí có một vài chỉ tiêu tăng cao bất thường như Colifrom, e.coli, điều này là do nội tại các nguồn xả nước thải của các vùng mà sông chảy qua7
Hiện trạng xả thải vào nguồn nước cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tài nguyên nước Theo kết quả điều tra, khảo sát đánh giá hiện trạng xả thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cho thấy nước thải được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau Trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 230 đối tượng xả thải tập trung có lưu lượng 5m3/ngày đêm trở lên8 Đối tượng xả nước thải phân tán chủ yếu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ chủ yếu là các cơ sở sản xuất kinh doanh, các hộ chăn nuôi, các hộ sản xuất có quy mô nhỏ và nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình sinh sống gần khu vực các nguồn nước xả trực tiếp không qua hệ thống thu gom tập trung Ngoài các đối tượng trên còn có nước thải trong sản xuất nông nghiệp và giao thông thủy
Đến nay, cũng như nhiều địa phương trên cả nước, hệ thống thoát nước của tỉnh còn lạc hậu và thiếu sự đồng bộ cần thiết, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo vệ sinh môi trường Tại các làng nghề và các KCN, CNN vẫn còn xảy ra hiện tượng ô nhiễm nguồn nước do nước thải công nghiệp xả
ra môi trường chưa được xử lý một cách triệt để Cụ thể như sau:
7 Ngọc Lam(2017), Phú Thọ tăng cường quản lý tài nguyên nước, cuong-quan-ly-tai-nguyen-nuoc, ngày 03/8/2018
http://moitruong.net.vn/phu-tho-tang-8 Ngọc Lam, tlđd, tr30
Trang 37 Các làng nghề:
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có khoảng 66 làng nghề được công nhận, với các loại hình sản xuất như chế biến nông lâm sản, thủ công mỹ nghệ, gỗ, mây tre, vật liệu xây dựng, dệt may, sinh vật cảnh Trong đó, nhóm làng nghề chế biến nông lâm sản gồm các nghề: Chế biến chè, làm tương, làm bún bánh, trồng rau an toàn, sản xuất sơn, sản xuất và chế biến gỗ Trên địa bàn tỉnh, nhóm làng nghề này chiếm số lượng lớn nhất với 35 làng nghề9 Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển, thu
nhập bình quân đầu người ở làng nghề đạt mức khá Tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề chế biến nông lâm sản đang là vấn đề bức xúc Các làng nghề này thường kết hợp với chăn nuôi lợn để tận dụng phụ phẩm trong nông nghiệp, vì vậy không chỉ nước thải từ hoạt động sản xuất mà nước thải từ chăn nuôi cũng đang tác động đến môi trường sống Tại làng nghề sản xuất bún, bánh và dịch
vụ xóm Chùa, xã Phú Nham, huyện Phù Ninh có 70 hộ làm nghề, trong đó có 24 hộ làm bún, bánh10 Số hộ tham gia sản xuất không nhiều nhưng do quy trình sản xuất còn lạc hậu, nước thải với hàm lượng tinh bột lớn không được xử lý triệt để khiến môi trường xung quanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng Một số ít hộ tự xử lý bằng cách xây hầm biogas, xây bể lắng còn đa phần thải trực tiếp ra kênh mương nên tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ ô nhiễm do nước thải từ làng nghề thải ra
Không chỉ riêng Phú Nham mà đây cũng chính là thực trạng chung của nhóm làng nghề chế biến nông, lân sản trên địa bàn tỉnh Huyện Lâm Thao hiện có 6 làng nghề, trong đó có một làng nghề chế biến tương là làng tương Dục Mỹ, xã Cao Xá Làng tương Dục Mỹ mỗi năm đưa ra thị trường trên 600.000 lít tương nhưng vẫn chưa đầu tư được hệ thống xử lý nước thải riêng mà thải ra cống rãnh cùng nước thải sinh hoạt11
Các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp
Theo Quy hoạch phát triển tổng thể các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt, đến nay tỉnh Phú Thọ đã thành lập được 7 KCN và 26 CCN, trong đó có 3 KCN và 15 CCN đã đi vào hoạt động Sự
Trang 38hình thành và phát triển của các KCN, CCN thời gian qua đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động; thúc đẩy tiếp cận và đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý; nâng cao mức tăng trưởng GDP, giá trị xuất khẩu, số thu ngân sách và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lượng nước thải tại các KCN ước tính khoảng 4.000m3/ngày đêm Trong đó, tập trung chủ yếu là KCN Thụy Vân và KCN Trung Hà KCN Thụy Vân, với tổng lượng nước thải hiện nay khoảng 3.300m3/ngày đêm, trong đó nước thải công nghiệp phát sinh chủ yếu từ các
cơ sở dệt nhuộm, cơ sở sản xuất tinh bột biến tính và keo AKD, cơ sở mạ kẽm nhúng nóng với lưu lượng 2.000m3/ngày đêm Nước thải KCN Thụy Vân với các thành phần ô nhiễm chủ yếu là COD, BOD5, TSS, một số kim loại nặng, độ màu và coliform đã được xử lý sơ bộ bằng các hệ thống xử lý đồng bộ tại cơ sở theo dây chuyền12 Theo cam kết tại báo cáo đánh giá tác động môi trường được duyệt và kế hoạch bảo vệ môi trường được xác nhận, các cơ sở phải xử lý sơ bộ nước thải trước khi xả vào hệ thống thu gom chung phải đạt QCVN 40:2011 (cột B) đối với nước thải công nghiệp Hiện nay, KCN Thụy Vân đã đầu tư xây dựng xong nhà máy xử
lý nước thải tập trung công suất 5.000m3/ngày đêm Nước thải sau xử lý tại nhà máy đạt QCVN 40:2011 (cột A) 13 KCN Trung Hà với với 05 dự án đang hoạt động ổn định, 05 dự án đang triển khai xây dựng Trong đó dự án sản xuất bia của Công ty
CP Bia Sài Gòn - Phú Thọ là đơn vị xả nước thải chủ yếu 600 m3/ngày đêm đã đầu
tư đồng bộ hệ thống xử lý nước thải và cam kết xử lý nước thải đạt QCVN 40:2011/BTNMT (cột A) trước khi xả vào Sông Hồng Theo kết quả quan trắc môi trường KCN Trung Hà tháng 12/2016 so sánh đối chiếu với cột A – QCVN 40:2011/BTNMT cho thấy chỉ số TSS vượt 1,8 lần, Coliforms vượt 1,27 lần Các thông số còn lại đều nằm trong giới hạn cho phép14 Nguyên nhân là do tỉnh Phú Thọ khó khăn về kinh tế, thiếu vốn đầu tư nhà máy xử lý nước thải tập trung Dự án đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải KCN Trung Hà giai đoạn I, công suất
Trang 393.500m3/ngày đêm đang mời gọi xã hội hóa đầu tư xây dựng Kết quả quan trắc môi trường nước thải tháng 09 hàng năm tại các KCN do công ty Phát triển hạ tầng thực hiện cho thấy chất lượng nước thải từ các KCN vào môi trường đã được cải thiện rõ rệt Cụ thể như sau:
Bảng 1: Kết quả quan trắc môi trường nước thải tháng 09 hàng năm tại KCN Thụy
Vân và KCN Trung Hà thuộc địa bàn tỉnh Phú Thọ 15
Mặc dù tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải công nghiệp đã được cải thiện theo chiều hướng tốt, tuy nhiên, qua thực tế cho thấy, công tác bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều tồn tại, cần được tập trung giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững Hiện tại, do tỷ lệ lấp đầy tại các KCN, CCN còn hạn chế nên đã dẫn đến
hệ thống hạ tầng kỹ thuật, thu gom xử lý nước thải chưa đáp ứng được yêu cầu Một
số doanh nghiệp vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, nhất là các doanh nghiệp quy mô nhỏ; việc đầu tư các công trình bảo vệ môi trường thiếu đồng bộ; vận hành không đúng quy trình công trình bảo vệ môi trường; một số dự án đầu tư trước đây với công nghệ lạc hậu, chưa kịp thời cải tạo hệ thống
15 Báo cáo số 0305/BC-BQLKCN về Tình hình phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tỉnh Phú Thọ của Ban Quản lý các KCN tỉnh Phú Thọ
Trang 40xử lý môi trường Vẫn còn một số doanh nghiệp vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường Các cơ quan quản lý chưa chủ động phát hiện và ngăn chặn được các hành vi xả thải vượt tiêu chuẩn Một số KCN, CCN đã hoạt động nhưng chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung
2.1.2 Những vấn đề đặt ra về quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Những năm vừa qua, cùng với việc đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút thêm nhiều doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trong các KCN, CCN, tỉnh Phú Thọ đặc biệt quan tâm tới vấn đề môi trường Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, hoạt động quản lý nước thải vẫn có tồn đọng một số vấn đề sau:
Thứ nhất, nguồn tiếp nhận nước thải chủ yếu là hệ thống sông chính và sông, ngòi nội địa Các sông chính trên địa bàn tỉnh như sông Hồng, sông Đà, sông Lô cùng các chi lưu sông nội địa lớn là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất đồng thời cũng là nguồn tiếp nhận nước thải chính của các đối tượng Theo kết quả của
dự án “Điều tra, đánh giá hiện trạng xả thải vào nguồn nước, thống kê các nguồn nước bị ô nhiễm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” tỉnh ta hiện có khoảng trên 19.000 doanh nghiệp cơ sở sản xuất Kết quả điều tra thực địa, tổng hợp các tài liệu số liệu cho thấy hiện có 230 đối tượng (gồm nhà máy, xí nghiệp, cơ sở dịch vụ, y tế, giáo dục, trang trại ) xả thải tập trung có lưu lượng 5m3/ngày đêm trở lên Các doanh nghiệp chủ yếu tập trung tại các thành phố, thị xã, thị trấn, trong đó có 2 KCN là Thụy Vân và Trung Hà; 3 CCN tập trung là Bạch Hạc, Đồng Lạng và Tử Đà Theo ước tính, tổng lượng nước hàng năm cấp cho sản xuất công nghiệp khoảng 65 triệu
m3/năm, tổng lượng nước thải sản xuất trong công nghiệp ước tính 40 triệu
m3/năm16 Nước thải từ các cơ sở sản xuất này đã được qua hệ thống xử lý của từng
cơ sở sản xuất, có thiết kế đảm bảo chất lượng nước thải khi xả vào nguồn nước Tuy nhiên vẫn còn một số cơ sở không có hệ thống xử lý hoặc hệ thống xử lý đã xuống cấp
Thứ hai, các làng nghề chế biến nông lâm sản trên địa bàn tỉnh cơ bản vẫn mang tính tự nhỏ lẻ, công nghệ chưa được cải tiến, thiết bị thủ công, mặt bằng sản
16 Nguyễn Huế(2016), Tăng cường quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh, te/201607/tang-cuong-quan-ly-nuoc-thai-cong-nghiep-tren-dia-ban-tinh-37894, ngày 03/08/2018