Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tại Điều 30, bao gồm i tranh chấp phát sinh trong hoạt động k
Trang 1NGUYỄN QUỲNH HOA
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG THỨC HOÀ GIẢI CÁC TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Trang 2Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Quỳnh Hoa
Trang 3cũng như các đồng nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các Thầy Cô trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các Thầy Cô Khoa Pháp luật Kinh tế, Bộ môn Luật Thương mại, đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc Thầy giáo Nguyễn Viết Tý, thầy giáo đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Hội đồng đánh giá luận văn đã cho tôi các đóng góp quý giá để Luận văn này được hoàn thiện hơn
Nguyễn Quỳnh Hoa
Trang 52 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Bố cục luận văn 5
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOÀ GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOÀ GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI 6
1.1 Khái quát về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại 6 1.1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại 6
1.1.2 Khái niệm và yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại 9
1.1.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại 11
1.2 Hoà giải tranh chấp thương mại – phương thức giải quyết tranh chấp thương mại 17
1.2.1 Khái niệm hoà giải tranh chấp thương mại 17
1.2.2 Vai trò của việc hoà giải tranh chấp thương mại 18
1.3 Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp thương mại của một số nước trên thế giới 20
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ HOÀ GIẢI CÁC TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM 23
Trang 62.1.3 Phạm vi, điều kiện giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại 31 2.1.4 Địa vị pháp lý của chủ thể hoà giải thương mại 32 2.1.5 Trình tự, thủ tục hoà giải thương mại làm cơ sở để các bên tranh chấp, hoà giải viên thương mại tiến hành giải quyết tranh chấp 41 2.1.6 Kết quả hoà giải thành 43 2.1.7 Ưu điểm và hạn chế của pháp luật về phương thức hoà giải tranh chấp thương mại 47 2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về phương thức hoà giải tranh chấp thương mại 49 2.2.1 Kết quả đạt được 49 2.2.2 Một số khó khăn, vướng mắc trong thực thi pháp luật về hoà giải tranh chấp thương mại và nguyên nhân 54 Tiểu kết chương 2 55
Chương 3 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG THỨC HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 57
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phương thức hòa giải tranh chấp thương mại ở Việt Nam 57 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về phương thức hòa giải tranh chấp thương mại ở Việt Nam 61 Tiểu kết chương 3 64
KẾT LUẬN 65
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hòa vào sự phát triển kinh tế chung trên toàn thế giới, kinh tế Việt Nam chúng ta cũng từng bước phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ Với việc hội nhập, tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới, cơ hội hợp tác giai thương giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài diễn ra sôi nổi Với sự gia tăng các hoạt động hợp tác kinh tế như vậy điều tất yếu đi kèm là việc xảy ra các xung đột, tranh chấp thương mại giữa các doanh nghiệp sẽ diễn ra nhiều hơn và diễn biến phức tạp hơn Thông thường khi có tranh chấp thương mại xảy ra các bên sẽ tiến hành đàm phán, thương lượng, hòa giải với nhau trước khi buộc phải mang ra Trọng tài, Tòa án để giải quyết tranh chấp Mỗi phương thức đều có những đặc điểm phù hợp riêng với từng
vụ việc cần giải quyết Trong các phương thức trên thì phương thức hòa giải rất được ưa chuộng đối với những nền kinh tế phát triển trên thế giới vì những lợi ích, ưu điểm mà nó đem lại như tiết kiệm thời gian, chi phí, giảm sự căng thẳng, đối đầu nhau giữa các bên… Tuy nhiên phương thức này còn khá mới
mẻ, chưa phổ biến ở nước ta do chưa được pháp luật thừa nhận và hỗ trợ Nhận thức thực trạng này cũng như nhằm khuyến khích phương thức giải quyết tranh chấp thay thế để phù hợp với thông lệ quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh các tranh chấp thương mại, kinh tế ngày càng gia tăng, gần đây nhất, ngày 24/2/2017 Chính phủ đã ban hành Nghị định
22/2017/NĐ-CP về hoạt động hòa giải thương mại Việc nghiên cứu cách
thức hoạt động, tính khả thi và đóng góp của phương thức giải quyết tranh chấp tuy không mới này vào thực tiễn sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên, hạn chế tối đa việc giải quyết tại Trọng tài hay Toà án Bên cạnh đó, việc hoàn thiện pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc
Trang 8lựa chọn phương thức hoà giải được linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế
và thực tiễn tại Việt Nam cũng rất quan trọng Với lý do như vậy, tôi chọn đề
tài: “Thực trạng pháp luật về phương thức hoà giải các tranh chấp thương
mại ở Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề hoà giải tranh chấp thương mại ở Việt Nam như:
Hòa giải – Một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế/Ths Dương Quỳnh Hoa/Viện Nhà nước và Pháp luật (Tạp chí nghiên cứu lập pháp tháng
12/2011) “Hòa giải thương mại và xu hướng phát triển tại Việt Nam”, TS
Nguyễn Thị Minh, Phó vụ trưởng Vụ Bổ trợ Tư pháp, Bộ Tư pháp, năm 2011;
“Hoàn thiện cơ chế hòa giải ở Việt Nam – Bài học từ kinh nghiệm các nước”,
ThS Lê Thị Hoàng Thanh, năm 2012;
Luận văn “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức
thương lượng, hoà giải - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2004 của
tác giả Nguyễn Hoài Sơn, trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn
“Hoà giải - Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tố tụng
tư pháp” năm 2010 của tác giả Nguyễn Thị An Na, trường Đại học Luật
Hà Nội; Luận văn “Xây dựng pháp luật về phương thức giải quyết tranh
chấp thương mại bằng hoà giải ở Việt Nam” năm 2014 của tác giả Ngô Thị
Thanh Tuyền – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn “Pháp luật
hoà giải tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam” năm 2014 của tác
giả Phạm Lê Mai Ly – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn
“Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”
năm 2014 của tác giả Nguyễn Thị Thúy – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội, Luận văn “Xây dựng chế định pháp luật về hòa giải thương mại ở Việt
Trang 9Nam trong bối cảnh hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” của tác giả
Nguyễn Thế Anh – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, Luận
văn “Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác
giả Bùi Anh Tuấn – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014
Tuy nhiên, kể từ khi BLTTDS 2015 và Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại có hiệu lực đến nay thì có rất ít công trình nghiên cứu một cách tổng thể về phương thức hoà giải các tranh chấp thương mại ở Việt Nam trên cơ sở hoà giải thương mại đã được pháp luật điều chỉnh và đã có thủ tục công nhận kết quả hoà giải thành ngoài Toà án
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống các vấn đề lý luận và pháp luật thực định về hoà giải với tư cách là một biện pháp giải quyết tranh chấp nhằm mục đích đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam
Luận văn có nhiệm vụ:
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hoà giải tranh chấp thương mại
với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế
Phân tích, nghiên cứu pháp luật về phương thức hoà giải tranh chấp
thương mại và thực trạng thi hành tại Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Trang 10Những vấn đề lý luận cơ bản về hoà giải các tranh chấp thương mại; Pháp luật về hoà giải các tranh chấp thương mại và thực tiễn thi hành tại Việt Nam;
Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về phương thức hòa giải tranh chấp thương mại ở Việt Nam
Phạm vi nội dung là nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam, mặc dù đề tài này không phải mới và cũng đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại, pháp luật Việt Nam đã có những thay đổi trong lĩnh vực này, gần đây nhất là Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hoạt động hòa giải thương mại có hiệu lực từ 15/04/2017 Hoạt động hoà giải thương mại lần đầu tiên được luật hoá theo Nghị định 22/2017/NĐ-CP Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của Nghị định 22/2017/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: luận văn khảo sát đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam trong thời gian từ năm 2013 đến nay
Phạm vi nghiên cứu về không gian: luận văn khảo sát đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở thực tiễn, đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp
lý luận biện chứng của Chủ Nghĩa Mác – Lê nin, cũng như đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà Nước về phát triển kinh tế đất nước khi tham gia hội nhập với nền kinh tế chung trên thế giới Ngoài ra đề
Trang 11tài cũng sử dụng các phương pháp như so sánh, thống kê, phân tích những dữ liệu sẵn có để có cái nhìn khách quan, qua đó góp phần đánh giá phần nào làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Với sự ra đời của các quy định mới lần đầu tiên được đưa vào hệ thống pháp luật Việt Nam, luận văn có ý nghĩa nghiên cứu cách tiếp cận mới so với các công trình nghiên cứu trước đây khi chưa có sự thay đổi của pháp luật Luận văn đã đi sâu nghiên cứu những quy định tổng thể của pháp luật Việt Nam về hoạt động hòa giải các tranh chấp thương mại, làm sáng tỏ nguyên tắc, bản chất, phạm vi, trình tự, thủ tục hòa giải trong và ngoài tố tụng Trên
cơ sở quy định của pháp luật, luận văn đã tìm hiểu việc áp dụng trên thực tế, hiệu quả cũng như những tồn tại của các quy định này, đặc biệt là sự ra đời của việc công nhận kết quả hoà giải thành ngoài Toà án và luật hoá hoạt động hoà giải thương mại
Từ những nghiên cứu này, Luận văn đã chỉ ra những bất cập trong các quy định pháp luật và đề xuất định hướng cũng như giải pháp hoàn thiện
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hoà giải tranh chấp thương mại và pháp luật về hoà giải tranh chấp thương mại;
Chương 2: Pháp luật về hoà giải tranh chấp thương mại và thực tiễn thi hành tại Việt Nam;
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về phương thức hòa giải tranh chấp thương mại ở Việt Nam
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOÀ GIẢI
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOÀ GIẢI
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại
1.1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại
Kết quả tất yếu của việc Việt Nam quyết định mở cửa nền kinh tế, hội nhập với thế giới từ thời kì đổi mới là nền kinh tế được tăng trưởng rõ rệt, thúc đẩy, nâng cao đời sống người dân Cùng sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tranh chấp thương mại hay còn gọi là tranh chấp trong kinh doanh cũng theo đó mà ngày càng phổ biến Sự phát triển cũng như các tranh chấp này cần được điều chỉnh và giải quyết bởi hệ thống pháp luật
Khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được quy định trong Luật Thương mại năm 1997 Tại Điều 238 Luật Thương mại quy định: Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại Phạm vi của hoạt động thương mại bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.1 Như vậy, tranh chấp thương mại theo quy định tại Luật Thương mại 1997 có phạm vi rất hẹp, chỉ bao gồm các tranh chấp liên quan đến các hoạt động đã được liệt kê Hay nói cách khác, các hoạt động khác dù nhằm mục đích sinh lợi cũng không được coi là hoạt động thương mại và do đó sẽ phải áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp khác
1 Luật Thương mại 1997, Điều 5.2
Trang 13Đến năm 2003, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 dù không định nghĩa về tranh chấp thương mại nhưng phạm vi hoạt động thương mại lại được quy định mở rộng hơn so với Luật Thương mại 1997 Theo khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh này, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành
vi thương mại khác theo quy định của pháp luật Phạm vi được mở rộng này phù hợp với định nghĩa của quốc tế về hoạt động thương mại, tranh chấp thương mại Do vậy mà tạo điều kiện để các phán quyết của trọng tài nước ngoài được công nhận và thi hành tại Việt Nam
Đến Luật Thương mại 2005, khái niệm tranh chấp thương mại không còn được định nghĩa Tuy nhiên, phạm vi của hoạt động thương mại đã được
mở rộng ra, theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005, bên cạnh các hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, hoạt động thương mại còn bao gồm các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Việc mở rộng này đã tạo nên sự nhất quán về khái niệm giữa Luật Thương mại với Luật Doanh nghiệp 2005 và mới đây nhất là Luật Doanh nghiệp
Trang 14Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tại Điều 30, bao gồm (i) tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; (ii) tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; (iii) tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; (iv) tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công
ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; (v) các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Luật Trọng tài thương mại 2010 cũng xác định rõ các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài tại Điều 2, bao gồm (i) tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (iii) tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
Có thể thấy, đến Luật Thương mại 2005, Luật Trọng tài thương mại
2010, Luật Doanh nghiệp và các luật khác có liên quan, khái niệm tranh chấp thương mại đã được định nghĩa thống nhất giữa các luật với nhau và phù hợp với quy định quốc tế Mặc dù từ ngữ sử dụng không nhất thiết giống nhau, nhưng bản chất của các tranh chấp này là tương tự, tương đồng nhau và do vậy có sự đồng nhất giữa các luật Điều này có ý nghĩa trong việc phân định rõ thẩm quyền giải quyết, sự khác biệt giữa pháp luật Việt
Trang 15Nam và pháp luật quốc tế được thu hẹp lại, tăng khả năng công nhận và được công nhận của phán quyết nước ngoài tại Việt Nam cũng như phán quyết của Việt Nam tại nước ngoài
Dưới giác độ học thuật, có thể hiểu: Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại
Về cơ bản, có thể thấy đặc thù của tranh chấp thương mại so với các loại tranh chấp khác như tranh chấp về dân sự, tranh chấp lao động là các bên tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận, dù mục đích đó đã được thể hiện rõ ràng hay xét về bản chất có tồn tại mục đích lợi nhuận trong đó Cách phân loại dựa trên bản chất như vậy là phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như giúp công tác giải quyết các tranh chấp đạt hiệu quả cao hơn
1.1.2 Khái niệm và yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại
Giải quyết tranh chấp là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét
và ra quyết định xử lý các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong vụ việc tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Như vậy, giải quyết tranh chấp thương mại là hoạt động của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại
Việc giải quyết tranh chấp thương mại cần tuân thủ các yêu cầu sau:
Thứ nhất, tranh chấp thương mại cần phải được giải quyết nhanh
chóng, dứt khoát, tránh tình trạng kéo dài thời gian làm ảnh hưởng đến hoạt
Trang 16động kinh doanh của các bên cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp Chi phí bỏ ra cho việc giải quyết tranh chấp phải thấp nhất, bởi bên cạnh những tổn thất phát sinh là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp thì chi phí cho việc giải quyết là không nhỏ
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp thương mại phải bảo vệ được uy tín
của các bên Trong kinh doanh, uy tín là yếu tố rất quan trọng và cũng là mục tiêu mà các doanh nghiệp luôn hướng tới, uy tín quyết định chỗ đứng và sự tồn vong của doanh nghiệp, chính vì lẽ đó, trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại, các bên phải đảm bảo tối đa uy tín của mình cũng như không được phép tiết lộ bất kỳ một thông tin nào nhằm hạ thấp uy tín, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của đối phương trên thị trường, trước công luận cũng như tổ chức giải quyết tranh chấp thương mại đó Bên cạnh uy tín thì bí mật kinh doanh cũng là yếu tố không kém quan trọng Bí mật kinh doanh là yếu tố làm nên thương hiệu của doanh nghiệp, nó là tài sản trí tuệ, là sự sáng tạo có công sức nghiên cứu rất lớn, do vậy mà phải được giữ bí mật tuyệt đối Pháp luật cũng có những quy định nhằm bảo vệ tối đa loại tài sản vô hình nhưng vô cùng giá trị này
Thứ ba, các bên có thể tự thỏa thuận với nhau về phương thức giải
quyết tranh chấp mà mình thấy phù hợp nhất cho cả hai, thương lượng, hoà giải, hay tố tụng tại Trọng tài, Toà án Được uỷ quyền cho một bên thứ ba khác đại diện cho mình tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp hay thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình tại cơ quan tố tụng Kể cả trong quá trình giải quyết tranh chấp tại cơ quan tố tụng, tại bất kỳ thời điểm nào các bên vẫn có quyền tự hoà giải với nhau và chấm dứt quan hệ tố tụng
Thứ tư, giải quyết tranh chấp thương mại phải công bằng, bình đẳng
với mọi chủ thể, không được phân biệt thành phần kinh tế, số vốn hay tài sản
Trang 17Đây là yêu cầu cơ bản nhất không chỉ đối với giải quyết tranh chấp thương mại mà còn áp dụng với mọi tranh chấp khác
Thứ năm, đề cao phương thức hoà giải trong giải quyết tranh chấp
thương mại, cụ thể pháp luật luôn ưu tiên các bên có thể hoà giải với nhau, hoà giải là một thủ tục bắt buộc tại Toà án, chỉ khi hoà giải không thành hay không được hoà giải hay không hoà giải được mới được đưa vụ án ra xét xử
sơ thẩm, đến phiên toà phúc thẩm các bên vẫn có quyền hoà giải với nhau hay nguyên tắc chung là cả khi tranh tụng tại Trọng tài hay Toà án các bên đều có quyền thoả thuận với nhau vào bất kỳ lúc nào và có quyền chấm dứt
tố tụng nếu hoà giải thành
1.1.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
Hiện nay các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến bao gồm: thương lượng, hoà giải, trọng tài thương mại và toà án Thương lượng, hoà giải và trọng tài thương mại cùng mang đặc điểm chung đó là không mang tính quyền lực nhà nước hay nói cách khác không nhân danh nhà nước như phán quyết của Toà án mà chủ yếu dựa trên sự thoả thuận của các bên Do vậy mà thủ tục cũng đơn giản, linh hoạt hơn so với Toà án phải tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục luật định Việc thực thi thoả thuận cũng không mang tính ràng buộc mà phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên, phán quyết trọng tài dù có cơ chế thực thi nhưng vẫn cần đến sự trợ giúp của Toà án và gây tốn kém Trái lại, quyết định của Toà án có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện
Mỗi phương thức giải quyết có đặc điểm riêng, tuỳ vào nhu cầu cụ thể, mong muốn cá nhân mà các bên quyết định chọn cho mình phương thức giải quyết phù hợp
• Thương lượng
Trang 18Thương lượng có thể nói là phương thức giải quyết tranh chấp có nguồn gốc xuất hiện sớm nhất Điều này là do từ thuở sơ khai, trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hoá giữa con người với nhau, không thể tránh được các mâu thuẫn do sự bất đồng về giá cả, chất lượng, cách thức giao nhận, v.v,
để có thể đạt được mục đích, các bên cần thương lượng với nhau về mong muốn của mình cũng như có thể nhượng bộ về lợi ích để cả hai cùng đạt được
sự thống nhất chung Khi pháp luật chưa ra đời để điều chỉnh hành vi của con người và để quản lý trật tự xã hội, cũng như việc nhờ một bên trung gian đứng ra hoà giải chưa được nghĩ đến thì thương lượng là phương thức cơ bản
và mang tính chất “tự nhiên” nhất để dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng
Đặc điểm của thương lượng là mâu thuẫn phát sinh được giải quyết bởi các bên có tranh chấp mà không có sự tham gia của bất kỳ bên thứ ba nào Các bên tự thoả thuận, tự đàm phán với nhau để tìm ra cách giải quyết tốt nhất, hài hoà nhất lợi ích của cả hai bên Phương thức này cũng xuất phát từ
sự tự nguyện của các bên và không chịu sự ràng buộc pháp lý nào Các bên có quyền tự do đưa ra ý kiến của mình, tự do phản bác, thoả thuận với nhau và thống nhất nếu cùng đi đến được thoả thuận cuối cùng Các bên là những người hiểu rõ nhất mối quan hệ, quyền và lợi ích của mình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên sẽ dễ dàng hiểu được mong muốn của bên kia và phạm vi thiệt hại lợi ích cho phép của mình Do vậy, đây cũng là phương thức mà mọi tranh chấp khi phát sinh đều ưu tiên sử dụng trước tiên vì mọi việc sẽ được giải quyết nội bộ, ít tốn kém chi phí, thủ tục đơn giản, uy tín và bí mật kinh doanh được giữ kín Tuy nhiên, việc thương lượng thành công hay không phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí cũng như sự hiểu biết của các bên ví dụ như ít nhất một trong hai bên không nhận thức được thế yếu của mình, nếu đưa tranh chấp ra Toà án, trọng tài thương mại khó có thể thắng nhưng vẫn không chấp nhận nhượng bộ khi thương lượng Cũng bởi không có ràng buộc về mặt pháp
Trang 19lý nào nên trong trường hợp các bên đạt được thoả thuận, việc thực thi thoả thuận đó cũng không được đảm bảo hoàn toàn, không có cơ chế pháp lý nào buộc các bên phải thực thi kết quả thương lượng đó và như vậy toàn bộ nỗ lực thương lượng trở nên vô nghĩa
• Trọng tài
Khi các biện pháp giải quyết tranh chấp “trong hoà bình” không đạt được hiệu quả, điều tất yếu cần xuất hiện một bên trung gian mà các bên tín nhiệm để phân xử “đúng, sai” Khác với các biện pháp hoà giải và thương lượng, kết quả của việc phân xử là một quyết định mang tính ràng buộc thực hiện giữa các bên, đó cũng là đặc điểm để các bên quyết định chọn Trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp Bởi hoà giải và thương lượng sẽ trở nên vô nghĩa nếu, dù có đạt được một thoả thuận hoàn hảo nhất cho cả hai bên nhưng ít nhất một trong các bên không thực hiện
Ưu điểm khi tìm đến một cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp đó
là các bên có thể yên tâm về mặt thực thi kết quả Tranh chấp sẽ được giải quyết và các bên có trách nhiệm thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp
đó Cụ thể, phán quyết của Trọng tài nếu các bên không tự nguyện thực hiện, một trong các bên có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phán quyết Tuy nhiên, so với thương lượng, hoà giải, bên trung gian hoà giải chỉ giúp các bên hiểu rõ hơn quan điểm của nhau và đề xuất phương án có lợi nhất cho đôi bên mà không có quyền tham gia vào thảo luận, không có quyền
áp đặt, không quyết định bên nào đúng, bên nào sai và không đưa ra quyết định cuối cùng cho các bên, các bên chính là người tạo ra kết quả giải quyết tranh chấp của mình Khi lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng tố tụng, các bên phải chấp nhận việc không được thoả thuận, kết quả tranh chấp không còn phụ thuộc vào các bên mà được đưa ra dựa trên xem xét, đối chiếu “đúng, sai”
Trang 20với quy định pháp luật Do việc xét xử không dựa trên sự thoả thuận, nhượng
bộ của các bên mà dựa trên quy định pháp luật nên các bên phải chấp nhận việc lợi ích kinh tế của mình đạt được có thể không được thuận lợi như trường hợp tự thoả thuận giữa các bên Ngoài ra, bên trung gian hoà giải sẽ chỉ căn
cứ vào các tài liệu, lời khai do các bên chủ động cung cấp, do vậy các bên có thể giữ bí mật những vấn đề nhạy cảm mà mình không muốn tiết lộ, ngược lại, Trọng tài, Toà án có quyền xác minh sự thật, yêu cầu cung cấp thông tin
từ bên thứ ba, bao gồm cả các thông tin kinh doanh nhạy cảm của các bên để xác định sự thật, giải quyết đúng theo pháp luật
So với Toà án, thủ tục Trọng tài mềm dẻo hơn, các bên tranh chấp có nhiều quyền lựa chọn hơn, ví dụ như các bên được lựa chọn Trọng tài viên, người sẽ giải quyết tranh chấp cho mình, đây cũng là ưu điểm vượt trội của phương thức trọng tài bởi các bên có thể “gây ảnh hưởng” đến phán quyết cuối cùng thông qua lựa chọn trọng tài viên cho mình Thời gian giải quyết tại Trọng tài cũng ít hơn đáng kể so với Toà án và cũng là tiêu chí quyết định mà các bên quan tâm hàng đầu khi lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp bởi thời gian là nhân tố vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh thương mại khi yếu tố thời gian nhiều trường hợp
là yếu tố quyết định sự thắng bại của doanh nghiệp Phiên họp giải quyết tranh chấp cũng được tổ chức không công khai, do vậy, uy tín và bí mật kinh doanh của các bên được giữ kín Tuy nhiên phán quyết của Trọng tài là chung thẩm, nói cách khác, các bên phải chấp nhận phán quyết này là kết quả giải quyết cuối cùng, kể cả trong trường hợp các bên không đồng ý hay chưa thoả mãn với kết quả này, các bên vẫn có nghĩa vụ phải thực hiện và không được tiếp tục kháng cáo như giải quyết tranh chấp tại Toà án Đồng thời, pháp luật cũng quy định, tranh chấp đã được giải quyết tại Trọng tài sẽ không được giải quyết tại Toà án cho cùng một vụ tranh chấp Như vậy, khi lựa chọn Trọng tài
Trang 21là cơ quan giải quyết tranh chấp, bên cạnh các ưu điểm như nhanh chóng, thủ tục linh hoạt, tiết kiệm thời gian, các bên đồng thời phải chấp nhận rủi ro khi kết quả không được như mong muốn và không có phương pháp nào để thay đổi, cứu vãn kết quả đó
• Tòa án
Khác với Trọng tài xét xử không nhân danh quyền lực nhà nước, Toà
án là cơ quan quyền lực nhà nước và mang tính quyền lực nhà nước, quá trình giải quyết tranh chấp được tiến hành chặt chẽ và đầy đủ các trình tự thủ tục luật định và mọi chủ thể phải thực hiện nghiêm túc, tuân thủ đầy đủ, chính xác quy trình đó Bản án Toà án nếu các bên không tự thực hiện sẽ bị cưỡng chế thi hành bằng sức mạnh nhà nước
So với hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài, Toà án có ưu điểm hơn đó là các bên nếu không đồng ý với kết quả giải quyết tranh chấp có quyền kháng cáo và tranh chấp sẽ được tổ chức giải quyết lại bằng phiên toà khác Ngược lại, do phán quyết của Trọng tài là chung thẩm, hơn nữa, cũng có giá trị ràng buộc các bên phải thực hiện theo nên kể cả các bên không đồng ý với nội dung phán quyết, các bên vẫn phải thực hiện theo mà không có bất kỳ quyền nào khác, vụ việc cũng không được giải quyết lại bởi Trọng tài hay Toà án Tuy nhiên, nhược điểm đó là các vụ tranh chấp tại Toà án thường mất rất nhiều thời gian để giải quyết, kéo dài nhiều năm, gây tốn nhiều tiền bạc, công sức
• Hòa giải
Hoà giải có thể nói là một bước tiến cao hơn của thương lượng, bởi theo quá trình phát triển tự nhiên, khi bản thân hai bên tranh chấp mặc dù đã đưa ra lựa chọn tốt nhất có thể của mình nhằm giải quyết bất đồng nhưng vẫn
Trang 22không thể làm hài hoà mối quan hệ, việc tìm đến một bên thứ ba để có cái nhìn khách quan hơn là một điều tất yếu xảy ra
Như vậy, hoà giải vẫn là phương thức giải quyết tranh chấp giữa các bên bằng thiện chí, tinh thần cầu thị nhất nhưng khác biệt với thương lượng ở chỗ đã có sự tham gia của một bên thứ ba nhằm giúp các bên thoả thuận với nhau để tìm ra phương án giải quyết tối ưu nhất Bên thứ ba này có thể đưa ra
ý kiến khách quan để các bên nhìn nhận, xem xét lại vấn đề, có thể dẫn dắt các bên theo hướng giải quyết của mình Dù vậy, bên thứ ba đóng vai trò trung gian hoà giải chỉ nhằm hỗ trợ các bên tranh chấp, vẫn chỉ có vai trò tham khảo và không có quyền trực tiếp tham gia vào đàm phán với tư cách của bất kỳ bên nào cũng như không có quyền quyết định hay áp đặt bất kỳ vấn đề nào, quyền quyết định vẫn thuộc về các bên có tranh chấp Điều này khác với trọng tài thương mại và toà án ở chỗ trọng tài thương mại và toà án
có quyền ra phán quyết có tính ràng buộc các bên Cũng giống thương lượng, việc hoà giải cũng không phải tuân theo bất kỳ nguyên tắc pháp lý nào mà do các bên hoàn toàn quyết định
Hoà giải có thể khắc phục được hạn chế về nhận thức của các bên so với thương lượng bằng việc lựa chọn bên thứ ba làm trung gian hoà giải có trình độ, chuyên môn cao, nhiều kĩ năng, kinh nghiệm, từ đó có thể phân tích, chỉ rõ cho các bên ưu thế, hạn chế của mình, giúp các bên đạt được đồng thuận dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn Bên thứ ba khi tham gia vào giải quyết tranh chấp với tư cách trung gian hoà giải phải có nghĩa vụ giữ kín và không được tiết lộ các bí mật của các bên, mặc dù vậy, bí mật cũng không thể được đảm bảo hoàn toàn và tuyệt đối như trường hợp giải quyết tranh chấp bằng thương lượng Chi phí mặc dù không tốn kém, thủ tục linh hoạt nhưng so với thương lượng, các bên vẫn phải trả phí dịch vụ cho bên thứ ba trung gian Mặt khác, cũng giống như thương lượng, kết quả của việc giải
Trang 23quyết tranh chấp trong trường hợp thành công, là một bản thống nhất chung giữa các bên và không có tính ràng buộc về mặt pháp lý, do vậy, việc thực hiện thoả thuận hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện của các bên
1.2 Hoà giải tranh chấp thương mại – phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
1.2.1 Khái niệm hoà giải tranh chấp thương mại
Khái niệm hoà giải được định nghĩa tại nhiều tài liệu khác nhau Theo
Từ điển tiếng Việt thì “Hoà giải là thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thoả”.2
Theo Từ điển Luật học của Black (Black’s Law Dictionary) thì “Hoà giải là một quá trình giải quyết tranh chấp riêng tư, không chính thức, trong
đó một bên trung lập thứ ba, được gọi là hoà giải viên, giúp các bên có tranh chấp đạt được một thoả thuận chung”
Theo Khoản 1 Điều 3 của Luật mẫu của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) về Hoà giải thương mại quốc tế năm
2002 thì “Hoà giải là quá trình, gọi là hoà giải, trung gian hoà giải hay cách thức tương tự khác mà các bên đề nghị (các) bên thứ ba (“hoà giải viên”) hỗ trợ họ trong quá trình đạt được một dàn xếp hoà bình đối với tranh chấp phát sinh trong hợp đồng hay quan hệ pháp lý khác Hoà giải viên không có thẩm quyền áp đặt các bên giải pháp giải quyết tranh chấp
Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hoà giải thương mại thì “Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”
2 Hoàng Phê (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng
Trang 24Từ khái niệm tranh chấp thương mại như đã nêu tại Mục 1.1.1 và khái niệm về hoà giải, có thể định nghĩa về hoà giải tranh chấp thương mại như
sau: Hoà giải tranh chấp thương mại là một trong các phương thức giải quyết
tranh chấp thương mại do một bên làm trung gian hoà giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp giữa các bên
1.2.2 Vai trò của việc hoà giải tranh chấp thương mại
Thứ nhất, hòa giải đề cao và đảm bảo yếu tố tự quyết Trong hòa giải,
các bên tranh chấp có thể nói chuyện, trao đổi, đàm phán và thảo luận về các giải pháp trong toàn bộ quá trình Các bên có quyền tự do bày tỏ, thể hiện và bảo vệ cho quan điểm của mình Đây là một vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp của hòa giải Hòa giải đem lại cơ hội cho các bên trình bày, giải thích và đưa ra lời xin lỗi với nhau Các bên trực tiếp tham gia vào giải quyết chính tranh chấp của mình, có quyền quyết định với toàn bộ nội dung, kết quả hoà giải, điều này cũng khiến tinh thần trách nhiệm của các bên đối với các lựa chọn của mình được nâng cao so với việc kết quả được hoàn toàn quyết định bởi một bên thứ ba như thẩm phán hay trọng tài viên, như vậy, các bên sẽ có được những quyết định có lợi hơn cho mình so với việc một bên thứ ba ra quyết định
Thứ hai, giải quyết tranh chấp bằng hòa giải có thể duy trì hoặc cải
thiện mối quan hệ giữa các bên nhờ việc xem xét đến lợi ích và quan tâm thực tế của các bên Hoà giải ít phụ thuộc vào các quy tắc, nguyên tắc, mà chủ yếu dựa vào con người Trong khi giải quyết tranh chấp tại tố tụng được căn cứ trên hành vi, sự kiện và các quy định pháp luật, thì trong hòa giải, trọng tâm là con người chứ không phải tình tiết vụ việc Hòa giải viên phải xét đến nhu cầu hiện tại cũng như mối quan tâm của các bên Hòa giải cho phép giải quyết vụ việc dựa trên lợi ích mong muốn của các bên Hòa
Trang 25giải viên thường không yêu cầu các bên phải thuyết phục hay làm cho họ tin về những tình tiết thực tế, hơn nữa, họ cũng thiếu những cơ chế hỗ trợ điều tra hoặc kiểm nghiệm sự thật Mặt khác, các bên cũng không có điều kiện để chất vấn hay kiểm chứng những lời nói hay tuyên bố của nhau theo những cách thức giống như tại cơ quan tố tụng Hoà giải có thủ tục linh hoạt và dựa trên nguyên tắc các bên cùng tham gia, xây dựng, đàm phán phương hướng giải quyết vấn đề khiến cho hòa giải trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp mềm dẻo chứ không cứng nhắc như tố tụng Hoạt động tố tụng có thể dẫn đến sự thiệt hại không thể sửa chữa được trong các mối quan hệ vì tính tài phán và cứng nhắc của nó
Thứ ba, hòa giải ngoài tố tụng là phương thức hữu dụng khi các bên
không lựa chọn hoà giải tại Trọng tài hay Tòa án, bởi thủ tục linh hoạt, không cứng nhắc, có thể được thỏa thuận và điều chỉnh cho thích nghi
Thứ tư, hòa giải có ý nghĩa lớn, nó giúp giải quyết ổn thoả hay giảm
thiểu những tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn, xích mích theo một cách tối ưu nhất bởi những ưu điểm của nó Mặt khác, còn giúp các bên hiểu, thông cảm nhau hơn, giữ gìn, duy trì và tiếp tục phát triển mối quan hệ, môi trường làm
ăn kinh doanh Với thủ tục đơn giản, linh hoạt, nhanh gọn, tiết kiệm được thời gian, chi phí, hòa giải thương mại mang lại lợi thế cho các bên khi có cơ hội lựa chọn một trình tự, thủ tục phù hợp nhất với mình, tránh những thủ tục pháp lý phức tạp Các bên là người quyết định kết quả và phương án hòa giải
mà không phụ thuộc vào bên nào khác, đây cũng là điểm khác biệt quan trọng giữa hoà giải với tố tụng
Thứ năm, hòa giải được biết đến là một biện pháp giải quyết tranh chấp
thay thế, trong bối cảnh Toà án đang bị quá tải với các vụ tranh chấp cần được giải quyết, hoà giải còn có ý nghĩa giảm tải khối lượng công việc lên Tòa án,
Trang 26tiết kiệm chi phí, vật chất, thời gian, nguồn lực cho nhà nước, xã hội, cho các
tổ chức kinh tế
Thứ sáu, hòa giải giúp tạo ra một môi trường tốt hơn cho hoạt động
kinh doanh Hoà giải luôn là biện pháp phổ biến được các bên tranh chấp lựa chọn làm phương thức giải quyết đầu tiên bởi nó làm giảm chi phí trực tiếp và gián tiếp mà các bên phải chịu trong việc thực thi các hợp đồng và giải quyết các tranh chấp
1.3 Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp thương mại của một số nước trên thế giới
Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp tại Singapore:
Hệ thống giải quyết tranh chấp ở Singapore rất phát triển và có hiệu quả cao, cả về phương thức giải quyết trong tố tụng và ngoài tố tụng Về giải quyết tranh chấp bằng Tố tụng, tại Singapore, hệ thống tòa án hoạt động rất hiệu quả, trung bình một vụ việc dân sự /thương mại chỉ kéo dài trong vòng
ba tháng từ khi nộp đơn đến khi có kết quả cuối cùng Bên cạnh hệ thống Toà
án, về phương thức hoà giải, Singapore là một trong những quốc gia mà phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải rất phát triển, các quốc gia trên thế giới thường thoả thuận trong hợp đồng lựa chọn Singapore là nơi giải quyết tranh chấp nếu có phát sinh, do vậy không có gì bất ngờ khi có rất nhiều trung tâm hòa giải tại Singapore như SMC (Singapore Mediation Center) được thành lập bởi Viện Pháp luật Singapore (Singapore Academy of Law), tập trung giải quyết tranh chấp thương mại), SIMC (Singapore International Mediation Center), do Tòa án tối cao Singapore thành lập, tập trung giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế) CMC (Community Mediation Center, do Bộ Pháp luật Singapore thành lập, chuyên giải quyết các tranh chấp trong cộng đồng như giữa hàng xóm, các thành viên trong gia đình hoặc trong cộng đồng,
Trang 27tranh chấp đất đai, CASE (Consumers Association of Singapore) thuộc hiệp hội người tiêu dùng Singapore, FIDRec (Financial Industry Disputes Resolution Centre) chuyên giải quyết các tranh chấp giữa các tổ chức tín dụng
và khách hàng… Hòa giải viên tại các trung tâm hòa giải thường được chính các trung tâm này đào tạo, cấp chứng chỉ và phải tuân theo các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp do chính trung tâm đề ra Tương tự như pháp luật Việt Nam, hòa giải có thể được kết hợp trong phương thức trọng tài và tòa án để nâng cao khả năng thi hành cho các thỏa thuận mà các bên đạt được trong quá trình hòa giải dưới dạng phán quyết của trọng tài hoặc quyết định của Tòa án, đồng thời tạo cách thức giải quyết nhanh chóng khi các bên thực sự không đạt được đồng thuận bằng phương thức hòa giải Thông tin trong quá trình hòa giải sẽ được giữ kín, không được sử dụng trong các tiến trình tố tụng tiếp theo (nếu có) Các bước hòa giải được phân chia thành hai giai đoạn: Đầu tiên là xác định vấn đề, hòa giải viên giới thiệu về mục đích, bản chất của phương thức hòa giải và trình tự hòa giải Các bên sẽ lần lượt được đưa ra ý kiến, hòa giải viên sẽ tóm tắt các ý kiến của các bên Sau đó là giải quyết vấn đề, hòa giải viên sẽ xác định mối quan tâm và lợi ích chung của các bên, lập ra chương trình hòa giải, phát hiện các vấn đề, trao đổi riêng với các bên nếu cần thiết để tìm hiểu lợi ích thực sự, khuyến khích các bên đưa ra giải pháp và đạt sự đồng thuận.3
Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp tại Nhật Bản
Nhật Bản cũng là một quốc gia được biết đến với nền tảng pháp luật vững chắc và chặt chẽ Hệ thống pháp luật Nhật Bản cũng áp dụng chế độ 2 cấp xét xử: cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm tương tự như Việt Nam Hoà giải ngoài Toà án chia thành hoà giải theo vụ việc và hoà giải thiết chế Việc giải
3 Giới thiệu về phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải tại Singapore,
singapore/
Trang 28https://nguoihocluat.com/2017/10/05/gioi-thieu-ve-phuong-thuc-giai-quyet-tranh-chap-bang-hoa-giai-tai-quyết tranh chấp thông qua hoà giải có hiệu lực như một hợp đồng Để kết quả hoà giải này có hiệu lực như một bản án, nó phải được gửi đến Toà Giản lược để ghi vào Biên bản của Toà án và bằng cách đó, thoả thuận hoà giải sẽ
có hiệu lực thi hành Có 2 thiết chế điển hình tại Nhật Bản có chức năng giải quyết các tranh chấp thương mại là Công ty vận tải biển (JSE), và Hiệp hội trọng tài Nhật bản (JCAA) Theo quy chế JSSE và JCAA, các bên có thể chỉ định các hoà giải viên theo thoả thuận giữa họ, còn JSE và JCAA có thể chỉ định hoà giải viên nếu các bên đề nghị như vậy hoặc trong trường hợp các bên không tự thoả thuận được.4
Tiểu kết chương 1
Có nhiều phương thức và loại hình giải quyết tranh chấp khác nhau để lựa chọn khi giải quyết một tranh chấp thương mại, tuy mỗi phương thức có bản chất, đặc điểm khác nhau, ưu điểm, hạn chế khác nhau nhưng tất cả đều nhằm giải quyết một cách có hiệu quả nhất, đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của các bên Các bên được tự do lựa chọn phương thức mà các bên thấy phù hợp nhất với yêu cầu của mình Trong đó, phương thức hoà giải là phương thức phổ biến được ưa chuộng hơn cả và đã xuất hiện từ lâu trên thế giới Hoà giải luôn được các bên tranh chấp lựa chọn để giải quyết đầu tiên mỗi khi có tranh chấp không mong muốn phát sinh bởi những ưu điểm vượt trội của nó
so với các phương thức khác
4 Đặng Hoàng Oanh – Vụ Hợp Tác Quốc Tế, Bộ Tư Pháp, Giải quyết tranh chấp thương mại tại Nhật Bản: Nét đặc thù của pháp lý Á Đông (2009)
Trang 29Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ HOÀ GIẢI CÁC TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ
THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM 2.1 Pháp luật về hoà giải tranh chấp thương mại
Hoà giải tranh chấp thương mại với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thay thế là việc các bên tranh chấp tự tiến hành thương lượng, thoả thuận với nhau mà không thông qua một cơ quan tài phán nào
Trước đây, phương thức hoà giải được sử dụng như là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại không chịu sự điều chỉnh của pháp luật Nói cách khác, pháp luật chưa có quy định nào về việc giải quyết tranh chấp thương mại thông qua phương thức hoà giải Do vậy, thoả thuận giữa các bên cũng không có cơ chế bảo đảm thi hành về mặt pháp lý Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hoà giải thương mại ra đời đã luật hoá hoạt động hoà giải thương mại nhưng vẫn giữ đúng tinh thần của phương thức hoà giải, hoà giải viên chỉ có vai trò hỗ trợ các bên đạt được thoả thuận Như vậy, kể từ khi Nghị định 22/2017/NĐ-CP có hiệu lực, các bên có thể hoà giải theo phương thức truyền thống là tự hoà giải với nhau hoặc có thể lựa chọn hoà giải theo Nghị định 22/2017/NĐ-CP
Trường hợp các bên lựa chọn tự hoà giải với nhau mà không thông qua các tổ chức có chức năng hoà giải theo quy định pháp luật, thoả thuận đạt được, nếu có, giữa các bên, sẽ không chịu bất kỳ ràng buộc nào về mặt pháp
lý Việc thực hiện thoả thuận phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên
Thực tế phương thức hoà giải tự phát luôn được chọn là biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế ngoài tố tụng đầu tiên vì những ưu điểm của nó và
Trang 30thực tế cũng cho thấy có rất nhiều trường hợp các bên tranh chấp đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp Nhưng do kết quả hoà giải thành chỉ được thể hiện bằng biên bản giữa các bên nên không mang tính pháp lý và không có cơ chế buộc thi hành, do vậy mà việc hoà giải tự phát này chỉ mang tính hình thức, kéo theo đó là hiệu quả giải quyết dứt điểm nội dung tranh chấp không cao Nhận thức thực tế này và quy định pháp luật của các nước khác trên thế giới về việc công nhận hoà giải thành ngoài tố tụng, BLTTDS 2015 lần đầu tiên có quy định mới mang tính đột phá về việc công nhận kết quả hoà giải thành ngoài Toà án và có cơ chế thi hành kết quả hoà giải thành Điểm mới này của BLTTDS 2015 cũng nhằm giảm áp lực lên Toà
án cũng như thể chế hoá Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh
“Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”.5
Tuy nhiên, Toà án chỉ công nhận kết quả hoà giải thành của các bên nếu việc hoà giải do một tổ chức, cá nhân có chức năng hoà giải thực hiện theo quy định của pháp luật về hoà giải Như vậy, kết quả hoà giải tự phát sẽ không được pháp luật công nhận và hỗ trợ thi hành Sở dĩ như vậy là vì nếu các thỏa thuận hòa giải thành trái với quy định pháp luật do vụ việc tranh chấp phức tạp, các bên do thiếu hiểu biết về pháp luật mà đưa ra những thỏa thuận trái pháp luật và đạo đức xã hội hay thậm chí có những trường hợp lợi dụng cơ chế công nhận hoà giải thành này xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác Do đó, nếu mặc nhiên công nhận hoà giải thành ngoài tố tụng giữa các bên, Toà án sẽ cần phải xem xét nhiều điểm, tình tiết, sự kiện vụ án, việc này mất rất nhiều thời gian và công sức, thậm chí gần
5 Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005, Mục 2.1
Trang 31bằng việc đưa vụ tranh chấp đó ra xét xử, khi đó mới đủ cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận giữa các bên Bởi vậy, Nghị định 22/2017/NĐ-CP ra đời nhằm giúp Toà án trong công tác thẩm định nói trên,
áp lực lên Toà án sẽ giảm thông qua việc phân chia công việc cho một cơ quan khác
Công ước Liên Hiệp Quốc về thoả thuận giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải, có tên quốc tế là The United Nations Convention on International Settlement Agreements Resulting from Mediation, hay còn gọi
là Công ước Singapore về Hoà giải, đã được Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) thông qua vào tháng 6 năm 2018 và dự kiến sẽ được ký kết từ ngày 07/08/2019 Công ước sẽ có hiệu lực với các quốc gia ký kết (ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ nhất định) về công nhận thoả thuận giải quyết tranh chấp quốc tế bằng hoà giải trong tranh chấp thương mại, bao gồm yêu cầu công nhận thi hành hay phán quyết thoả thuận
vô hiệu.6
Nội dung cơ bản của pháp luật về phương thức hoà giải tranh chấp
thương mại theo Nghị định 22/2017/NĐ-CP như sau:
2.1.1 Chính sách của Nhà nước đối với hoà giải tranh chấp thương mại
Không thể phủ nhận các lợi ích mà hoà giải mang lại so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác, nhằm nâng cao và phát huy tối đa ưu thế của phương thức này, quan điểm, chính sách của Nhà nước đối với phương thức hoà giải thương mại được thể hiện rõ ràng tại Điều 5 Nghị định 22/2017/NĐ-
CP như sau:
6 General Assembly Adopts the United Nations Convention on Internationa l Settlement Agreements
Resulting from Mediation,
https://uncitral.un.org/en/news/general-assembly-adopts-united-nations-convention-international-settlement-agreements-resulting
Trang 32Thứ nhất, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng hòa giải
thương mại để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại và các tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế có nhiều ưu điểm và đã được áp dụng phổ biến
từ lâu tại các nước phát triển trên thế giới
Trước đây, hoà giải là việc tự hoà giải giữa các bên, không chịu sự điều chỉnh bởi quy định pháp luật nào, không phải tuân theo thủ tục nào, các bên
tự quyết định trình tự, thủ tục, tự chọn bên trung gian hoà giải, quyền tự định đoạt với mọi vấn đề của các bên là rất lớn và tuyệt đối Do tính chất tự phát và phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí và thoả thuận giữa các bên nên cũng không có ràng buộc nào buộc các bên phải thi hành kết quả hoà giải thành của mình Do vậy mà các bên mặc dù đã tự đạt được thoả thuận bên ngoài với nhau, tuy nhiên vì e ngại tính khả thi thực hiện không cao nên đã phải tìm đến Trọng tài, Toà án để tham gia thủ tục hoà giải do Hội đồng trọng tài, Thẩm phán chủ trì Các bên có thể giữ nguyên nội dung đã thoả thuận được và đưa tranh chấp
ra Toà án nhưng dừng lại ở bước thủ tục hoà giải và không đưa vụ án ra xét
xử Như vậy, nội dung thoả thuận sẽ được thể hiện dưới quyết định công nhận
sự thoả thuận của các đương sự và sẽ được đảm bảo thi hành theo cơ chế thi hành án Mặc dù vậy, thời gian từ khi nộp đơn khởi kiện đến khi Toà án tổ chức phiên hoà giải và sau đó ra quyết định công nhận sự thoả thuận là rất dài, mất thời gian cho cả đôi bên khi họ đã đạt được đồng thuận chung từ trước, hơn nữa, chi phí cũng tốn kém hơn
Khắc phục bất tiện này và tình trạng quá tải tại Toà án, Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hoà giải thương mại ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam và giải quyết
Trang 33được vấn đề nổi cộm và cũng là hạn chế lớn nhất của phương thức hoà giải trước khi được luật hoá như nêu trên, bằng việc cho phép các bên có thể tự thoả thuận hoà giải với nhau và đề nghị Toà án công nhận sự thoả thuận đó với điều kiện nội dung của thoả thuận hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba Hệ quả là quyết định công nhận của Toà án được đảm bảo thi hành theo quy định BLTTDS 2015 Nó thể hiện quan điểm của nhà nước khi bắt đầu hướng đến sử dụng hoà giải như một phương thức độc lập bên cạnh các phương thức giải quyết tranh chấp khác
Rộng hơn, hoà giải không chỉ được nhà nước khuyến khích với tư cách
là một phương thức giải quyết tranh chấp độc lập mà còn được quy định là một thủ tục bắt buộc tại tố tụng Toà án hay là một lựa chọn tại tố tụng Trọng tài từ trước khi có Nghị định 22/2017/NĐ-CP cụ thể, tinh thần này được thể hiện tại Khoản 2 Điều 5 BLTTDS 2015, đó là trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Cụ thể hoá tinh thần và điều luật này, hoà giải được quy định là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Toà án và hoà giải là thủ tục được tiến hành đầu tiên trước khi vụ án được đưa vào xét xử (Điều 205, Điều 208 BLTTDS 2015) Bên cạnh đó, hoà giải còn được khuyến khích trong suốt quá trình giải quyết vụ án, từ khi Toà án thụ lý cho đến khi Toà án ra quyết định xét xử, cụ thể là trường hợp thủ tục hoà giải tại phiên họp hoà giải không thành Trong quá trình bắt đầu phiên toà sơ thẩm, Chủ toạ sẽ hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau hay không, nếu có sẽ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự (Điều 246 BLTTDS 2015) Tiếp đó, trong quá trình xét xử sơ thẩm, các đương sự có quyền đề nghị Toà án tạm ngừng phiên toà để tự thoả thuận với nhau (Điểm đ
Trang 34Khoản 1 Điều 259 BLTTDS 2015) Tại phiên toà phúc thẩm, Chủ toạ lại hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau không và ra quyết định công nhận
sự thoả thuận nếu có (Điều 300 BLTTDS 2015) Hay nhà nước cũng khuyến khích các bên có quyền tự do thương lượng, thoả thuận vào mọi thời điểm từ lúc bắt đầu tố tụng trọng tài (Điều 9 Luật Trọng tài thương mại 2010) Tuy nhiên khác với Toà án, hoà giải không phải là một thủ tục bắt buộc Tại bất kỳ thời điểm nào các bên đều có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài hoà giải hoặc nếu các bên thoả thuận được với nhau đều có quyền đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài đình chỉ giải quyết tranh chấp (Điều 58, Điểm d Khoản 1 Điều
59 Luật Trọng tài thương mại 2010)
Thứ hai, khuyến khích huy động các nguồn lực tham gia hoạt động hòa
giải thương mại, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực hòa giải viên thương mại tổ chức hòa giải thương mại
Do đây là một phương thức tuy không còn xa lạ nhưng lại được coi là
“mới mẻ” vì mới được đưa từ thực tiễn vào quy định pháp luật, do vậy mà để phát triển phương thức này đòi hỏi huy động các nguồn lực lớn nhằm phổ biến rộng rãi đến người dân, hướng tới đưa phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải trở thành phương thức tối ưu, được lựa chọn nhiều nhất bởi người dân
2.1.2 Nguyên tắc hoà giải tranh chấp thương mại
Khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải, các chủ thể có liên quan phải tuân theo các nguyên tắc quy định tại Điều 4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP, cụ thể là các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, các bên tranh chấp tham gia hòa giải hoàn toàn tự nguyện và
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Trang 35Khi tham gia vào bất kỳ quan hệ dân sự nào, yếu tố tự nguyện luôn được đề cao và tôn trọng Việc lựa chọn sẽ giải quyết tranh chấp bằng hoà giải mà không phải là một phương thức khác phải hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện của các bên, không được phép tồn tại bất kỳ sự ép buộc nào để đi đến thoả thuận đó, bởi nếu ép buộc sẽ làm mất đi bản chất của việc hoà giải mà tính chất là đề cao sự tự nguyện của các bên Hoà giải tại Toà án với tư cách
là một thủ tục bắt buộc cũng phải tuân theo nguyên tắc này, cụ thể là việc hoà giải phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình (Điều 205 BLTTDS 2015)
Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của các bên cũng là như nhau, không bên nào được ưu tiên hay có lợi thế hơn bên nào
Thứ hai, các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải phải được giữ bí
mật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác
Thông tin liên quan đến vụ việc hoà giải sẽ được giữ bí mật, mọi chủ thể liên quan phải tuân thủ nguyên tắc này Mặc dù vậy, pháp luật vẫn tôn trọng sự thoả thuận giữa các bên, nên nếu như các bên có thoả thuận khác, ví
dụ các thông tin liên quan đến vụ việc hoà giải có thể được công khai cho một bên thứ ba khác do các bên chỉ định, thì việc bên thứ ba biết các thông tin này
là không trái với nguyên tắc của hoà giải thương mại Đồng thời, trong trường hợp pháp luật có yêu cầu, ví dụ nhằm mục đích phục vụ cho các yêu cầu cấp thiết hay liên quan đến an ninh, các thông tin đó vẫn có thể được yêu cầu tiết
lộ và phải tiết lộ
Quy định này có một số bất cập như sau:
Trang 36Các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải phải được giữ bí mật, đồng thời, hoà giải viên có nghĩa vụ bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật Quy định này nhằm giúp các bên giữ uy tín thương trường, bí mật kinh doanh, công nghệ Mặc dù vậy, trong trường hợp hoà giải không thành, theo đó các bên có quyền đưa vụ tranh chấp đến giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án, khi đó, luật chưa có quy định về việc các thông tin các bên đã thu được trong quá trình hoà giải sẽ được đảm bảo như thế nào Các thông tin này không phải thông tin công khai hay thông tin có thể thu thập được nếu như các bên không tham gia hoà giải bởi hoà giải viên,
do vậy, nếu các thông tin này được sử dụng làm chứng cứ trong việc tố tụng
sẽ là bất lợi và không công bằng cho bên bị sử dụng thông tin
Thứ ba, nội dung thỏa thuận hòa giải không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền của bên thứ ba
Nguyên tắc này phù hợp với nguyên tắc của pháp luật dân sự, mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng và cũng tương tự với một trong các nguyên tắc hoà giải tại Toà án, đó là nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 205 BLTTDS 2015)
Mặc dù pháp luật cho phép các bên được tự do thoả thuận hoà giải, nhưng việc tự do đó vẫn phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật Đây cũng
là cách quản lý của nhà nước, hướng đến tự do hoá các quan hệ dân sự, nhưng không được trái với nguyên tắc quản lý nhà nước, bởi nếu các bên được tự do thoả thuận về mọi vấn đề mà không có bất kỳ giới hạn nào, các quy định nhà
Trang 37nước ban hành để quản lý, thiết lập trật tự xã hội sẽ trở nên vô nghĩa, do vậy
mà các bên có thể tự do thoả thuận, nhưng không được thoả thuận về các điều pháp luật cấm hay trái với đạo đức xã hội, đồng thời cũng không được thoả thuận nhằm cố ý trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình với bên thứ ba, làm xâm phạm đến quyền của bên thứ ba
2.1.3 Phạm vi, điều kiện giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại
* Phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại
Tranh chấp thương mại giữa các bên nếu muốn lựa chọn giải quyết bằng phương thức hoà giải phải thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 2 Nghị định 22/2017/NĐ-CP như sau:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
- Tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương
mại
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết
bằng hòa giải thương mại
Về cơ bản, phạm vi các tranh chấp thương mại được giải quyết bằng hoà giải thương mại tương tư như phạm vi các tranh chấp được lựa chọn giải quyết bằng Trọng tài thương mại như quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010, Như vậy, các tranh chấp có thể được giải quyết tại Trọng tài đều có thể được giải quyết bằng hoà giải thương mại
* Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại
Điều kiện để tranh chấp thương mại được giải quyết thông qua hoà giải được quy định tại Điều 6, Điều 11 Nghị định 22/2017/NĐ-CP, đó là các bên phải có thoả thuận hoà giải Thoả thuận hoà giải được lập bằng văn bản, có
Trang 38thể được xác lập dưới hình thức điều khoản hòa giải trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng và có thể được lập trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp hoặc bất cứ thời điểm nào trong quá trình giải quyết tranh chấp
Điều kiện để giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải là phải
có thỏa thuận hòa giải, thỏa thuận hòa giải này có thể là một điều khoản trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận riêng Điều khoản này có thể được soạn thảo trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra là khi các bên đã có điều khoản hòa giải, chẳng hạn, các bên thỏa thuận tiến hành hòa giải tại VMC, nếu không hoà giải được, các bên sẽ khởi kiện đến Toà án, vậy khi tranh chấp xảy ra, một bên không tiến hành hòa giải như đã thỏa thuận mà đơn phương khởi kiện tới Tòa án thì Tòa án sẽ thụ lý vụ án hay sẽ tạm dừng việc thụ lý vụ án và yêu cầu các bên tiến hành hòa giải trước Theo thoả thuận hoà giải thì dường như các bên phải tuân theo thoả thuận đã lập, đó
là phải hoà giải trước, chỉ khi hoà giải không thành mới được khởi kiện đến Toà án, tuy nhiên, pháp luật không có quy định về việc thoả thuận hoà giải, nếu có, là điều kiện bắt buộc để có thể khởi kiện Theo Điều 192 BLTTDS
2015, thoả thuận hoà giải giữa các bên không phải là điều kiện để Toà án trả lại đơn, nói cách khác, nếu Toà án trả lại đơn, thì trong văn bản từ chối, Toà
án sẽ trích dẫn căn cứ điều luật nào cho lí do từ chối này? Trường hợp Toà án vẫn thụ lý, việc các bên có thỏa thuận hòa giải sẽ trở thành vô nghĩa hay cũng chỉ có ý nghĩa khuyến khích các bên sử dụng hoà giải mà không hề có ý nghĩa ràng buộc phải tuân theo với tư cách là một điều khoản trong hợp đồng được xác lập hợp pháp và có hiệu lực pháp lý theo quy định pháp luật
2.1.4 Địa vị pháp lý của chủ thể hoà giải thương mại
Trang 39Khi lựa chọn hoà giải làm phương thức giải quyết tranh chấp thương mại, theo quy định tại Chương 2 Nghị định 22/2017/NĐ-CP, các bên có thể lựa chọn hình thức hoà giải quy chế hoặc hoà giải vụ việc để hoà giải cho tranh chấp của mình
Tương tự như tố tụng trọng tài, hòa giải thương mại quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một tổ chức hòa giải thương mại được thành lập
và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam theo Quy tắc hòa giải của tổ chức đó Hòa giải thương mại vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp do hòa giải viên thương mại vụ việc được các bên lựa chọn tiến hành theo thỏa thuận của các bên
Tổ chức hoà giải thương mại bao gồm Trung tâm hòa giải thương mại và trung tâm trọng tài có chức năng hoà giải thương mại (Điều 18 Nghị định 22/2017/NĐ-CP) Cho đến thời điểm hiện tại, có một tổ chức hoà giải đăng ký thành lập mới là Trung tâm hoà giải Việt Nam (VMC) trực thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) Các bên lựa chọn hoà giải viên
từ danh sách hoà giải viên của tổ chức hoà giải Đối với hình thức hoà giải thương mại vụ việc, các bên lựa chọn hoà giải viên từ danh sách hoà giải viên thương mại vụ việc do Sở Tư pháp công bố Một trong các nguyên tắc hoạt động của trung tâm hoà giải thương mại được quy định tại Điều 19 Nghị định 22/2017/NĐ-CP là hoạt động không vì mục đích lợi nhuận và cơ cấu tổ chức của Trung tâm hòa giải thương mại sẽ do điều lệ của Trung tâm quy định Chủ tịch Trung tâm hòa giải thương mại là hòa giải viên thương mại Trung tâm hòa giải thương mại được thành lập bởi các cá nhân Việt Nam theo quy định tại Điều 21 và Điều 22 Nghị định 22/2017/NĐ-CP Bộ Tư pháp sẽ cấp Giấy phép thành lập cho Trung tâm hòa giải thương mại và trong vòng 30 ngày kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập cho Trung tâm hòa giải thương
Trang 40mại, Trung tâm phải đăng ký hoạt động với Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở Hết thời hạn này, nếu Trung tâm không đăng ký hoạt động thì Giấy phép thành lập không còn giá trị, trừ trường hợp có lý do chính đáng Bên cạnh đó, Trung tâm trọng tài muốn thực hiện hoạt động hoà giải thương mại cần thực hiện thủ tục bổ sung hoạt động với Bộ Tư pháp và đăng ký thay đổi Giấy đăng ký hoạt động Trung tâm trọng tài với Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động theo quy định tại Điều 23 Nghị định 22/2017/NĐ-CP
Ngoài ra, tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài được thành lập và hoạt động hợp pháp tại nước ngoài cũng được phép hoạt động tại Việt Nam nếu tôn trọng Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam (Khoản 1 Điều 33 Nghị định 22/2017/NĐ-CP) Tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh hoặc văn phòng đại diện (Khoản 2 Điều
33 Nghị định 22/2017/NĐ-CP) Tuy nhiên, văn phòng đại diện của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài chỉ có chức năng tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội hoạt động hòa giải tại Việt Nam (Khoản 2 Điều 34 Nghị định 22/2017/NĐ-CP), chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến, quảng bá hoạt động hòa giải thương mại mà không được thực hiện hoạt động hòa giải thương mại tại Việt Nam (Điểm c Khoản 2 Điều 35 Nghị định 22/2017/NĐ-CP); chỉ có chi nhánh của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài mới có chức năng và được phép thực hiện hoạt động hòa giải thương mại (Khoản 1 Điều 34 Nghị định 22/2017/NĐ-CP), như vậy, khi lựa chọn tổ chức hoà giải thương mại nước ngoài hoạt động tại Việt Nam để giải quyết tranh chấp, các bên cần tìm đến chi nhánh của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài Bộ Tư pháp là cơ quan cấp Giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời, điều kiện để tổ chức hoà giải thương mại nước ngoài hoạt động tại Việt Nam được hoạt động, tương tự như yêu cầu đối với tổ chức hoà giải thương mại trong nước, theo Khoản 1