Muốn làm được điều này, đòi hỏi phải có một sự nghiên cứu, tham khảo nghiêm túc từ những tổ chức, các nước có nền kinh tế tiên tiến, từ đó tìm ra phương pháp tối ưu, phù hợp với bối cảnh
Trang 1TRỊNH THỊ MAI HƯƠNG
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC (Định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRỊNH THỊ MAI HƯƠNG
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trịnh Thị Mai Hương
Trang 4Nghĩa, người Thầy đáng kính đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện
Luận văn
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể Thầy, Cô giảng dạy Lớp cao học ứng dụng khóa 24 đã truyền đạt cho em những kiến thức rất bổ ích và tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Luật Hà Nội
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Cục quan hệ lao động và tiền lương, gia đình, bạn
bè đã tạo điều kiện, động viên giúp em hoàn thành Luận văn một cách tốt nhất
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù đã rất cố gắng nhưng với kiến thức lý luận, chuyên môn và kinh nghiệm thực tế vẫn còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót
Kính mong Quý Thầy, Cô đóng góp ý kiến để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRỊNH THỊ MAI HƯƠNG
Trang 5Bảng 1: Tiền lương tối thiểu chung từ năm 1995 - 2013 (vì từ 2013 ko có lương tối thiểu chung)
Bảng 2: Tiền lương tối thiểu vùng qua các năm từ năm 2009 - 2018
Hình 1: Tốc độ tăng tiền lương tối thiểu vùng, chỉ số giá, và GDP (%)
Hình 2: Quá trình biến đổi tiền lương tối thiểu vùng, chỉ số giá, và GDP (so với năm 2008)
Hình 3: Tốc độ tăng lương tối thiểu và tốc độ tăng năng suất lao động gia đoạn
2006 – 2018
Hình 4: Phân phối mức tiền lương/tiền công hàng tháng
Trang 61 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU 1.1 Khái niệm về tiền lương tối thiểu 7
1.2 Phân loại tiền lương tối thiểu 16
1.3 Bản chất, vai trò của tiền lương tối thiểu 19
1.4 Cơ sở xây dựng tiền lương tối thiểu 20
1.5 Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu 21
1.6 Pháp luật về tiền lương tối thiểu ở một số quốc gia trên thế giới 24
Kết luận chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 33
2.2 Thực trạng thi hành pháp luật Việt Nam về tiền lương tối thiểu 40
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam 48
Kết luận chương 2 64
Trang 7TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối thiểu 66 3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiền
lương tối thiểu 70 Kết luận chương 3 80 Kết luận 82
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tổ chức lao động Quốc tế (viết tắt là ILO) là một cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp quốc, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến lao động Nhiệm vụ chính của ILO là tăng cơ hội có việc làm tốt và thu nhập cho mọi người trong điều kiện tự do, công bằng, an toàn và đảm bảo nhân phẩm
Kể từ khi được thành lập năm 1919, tiền lương tối thiểu đã là sự quan tâm chính của ILO, “các điều khoản về mức tiền lương đủ sống” đã được nêu trong bản Hiến chương của ILO như một sự cải thiện về điều kiện lao động để đấu tranh với bất ổn xã hội và thúc đẩy hòa bình Hiện nay, ILO có 185 thành viên, Việt Nam từng là thành viên của ILO trong hai giai đoạn 1950-1976 và 1980-1985.Đến năm 1992, nước ta quay trở lại làm thành viên của tổ chức này Điều này cho thấy, sự cần thiết của các chính sách về lao động, đặc biệt là tiền lương tối thiểu của ILO có tầm ảnh hưởng như thế nào tới các quy định về mức tiền lương tối thiểu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, đáp ứng mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lần đầu tiên, tiền lương tối thiểu được ghi nhận một cách đầy đủ, toàn
diện trong văn bản quy phạm pháp luật đó là Bộ luật Lao động năm 1994 Theo đó,
“mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ
để tính các mức lương cho các loại lao động khác” Khái niệm này được coi là định hướng để Chính phủ đưa ra các điều chỉnh về mức lương tối thiểu sau này sao cho có thể đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình của họ
Kể từ năm 2006 - nay, mức lương tối thiểu ở nước ta được quy định thành hai loại
là mức lương tối thiểu chung (Bộ luật Lao động năm 2012 gọi là mức lương cơ sở) và mức lương tối thiểu vùng Từ đó đến nay, Nhà nước đã liên tục có những thay đổi về
Trang 9mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Tuy nhiên, trên thực tế, tốc độ trượt giá nhanh, chỉ số giá sinh hoạt tăng lên đáng kể dẫn đến mức lương tối thiểu của người lao động chưa đáp ứng được nhu cầu, mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ
Theo Phó Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam - Trần Văn Lý, “Mặc dù từ năm 2004 đến 2017, tốc độ tăng lương cơ sở đã lên tới 4, 5 lần, nhưng so với thị trường lao động còn quá thấp, chưa đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu cho công chức, viên chức So với lương tối thiểu vùng Chính phủ công bố năm 2018, mức tiền lương
cơ sở mới chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu sống tối thiểu Bên cạnh đó, chế độ nâng lương chưa phát huy, khuyến khích người có trình độ, năng lực làm việc hết khả năng
để có thu nhập cao hơn, mà còn tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ tiền lương” 1 Trước tình hình thực tiễn, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về tiền lương tối thiểu trong Bộ luật Lao động và sớm ban hành Luật tiền lương tối thiểu phù hợp với các tiêu chuẩn cơ bản được ILO ban hành Muốn làm được điều này, đòi hỏi phải có một sự nghiên cứu, tham khảo nghiêm túc từ những tổ chức, các nước có nền kinh tế tiên tiến, từ đó tìm ra phương pháp tối ưu, phù hợp với bối cảnh của nước nhà trong việc xác định tiền lương tối thiểu chính xác, rõ ràng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của người lao động làm công việc giản đơn nhất
Có thể nói, hiểu về tiền lương tối thiểu là một trong những vấn đề quan trọng được các ban, ngành, đoàn thể, người lao động và người sử dụng lao động hết sức quan tâm Một chính sách tiền lương tối thiểu hợp lý, thích ứng nhanh chóng, kịp thời với sự thay đổi của nền kinh tế và đáp ứng được nhu cầu, mức sống tối thiểu của người lao động là hết sức cần thiết Điều này góp phần tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước và tiến trình hội nhập của nước nhà
1
https://baomoi.com/tien-luong-tang-them-khong-du-bu-toc-do-truot-gia/c/23597524.epi
Trang 10Vì vậy, việc nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị, giải pháp phù hợp góp phần hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết Với mong muốn có thể góp một phần nhỏ bé cho việc hoàn thiện chính sách tiền lương
tối thiểu ở nước ta, học viên lựa chọn đề tài “Thực trạng pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam” làm bài luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tiền lương tối thiểu chung và pháp luật về tiền lương tối thiểu nói riêng không phải
là đề tài, vấn đề mới, đã có một số công trình nghiên cứu cấp trường về vấn đề này, trong đó, điển hình là: Nguyễn Văn Sơn (2000), Chế độ lương tối thiểu; Đào Duy Phương (2010), Chế độ pháp lý về tiền lương tối thiểu và hướng hoàn thiện; Trần Thị Thanh Huyền (2006), Tiền lương tối thiểu theo quy định của pháp luật Việt Nam; ; In Pone Khankeo (2008), Tiền lương tối thiểu một số vấn đề lý luận và thực tiễn; Phạm Thị Quỳnh Trang (2009), Tiền lương tối thiểu trong pháp luật lao động Việt Nam… Ngoài ra, cũng có rất nhiều bài viết của các nhà chuyên môn được đăng trên nhiều tạp chí chính trị, khoa học và pháp luật Từ năm 2012 trở lại đây, phải kể đến đó là: Nguyễn Quang Dũng (2012), Về mức lương tối thiểu áp dụng đối với công chức trong
cơ quan nhà nước, Tổ chức nhà nước, số 8/2012, tr 9 – 11; Đặng Quang Triều (2013), Tiền lương, mức sống tối thiểu của người lao động trong các doanh nghiệp hiện nay, Tuyên giáo, số 1/2013, tr 61 – 64; Đặng Quang Triều (2013), Tiền lương, mức sống tối thiểu của người lao động trong các doanh nghiệp và một số đề xuất, Lý luận chính trị số 3/2013, tr 76 – 80; Trần Minh Tiến (2013) , Bàn về đối tượng áp dụng mức lương tối thiểu vùng, Nghề luật, số 2/2013, tr 18 – 21; Đặng Như Lợi (2013), Một số vấn đề đặt ra trong việc xác định mức lương tối thiểu, Lý luận chính trị, số 7/2013, tr
52 – 55; Đặng Như Lợi (2013), Nên ban hành Luật tiền lương tối thiểu hay Luật tiền lương, Nghiên cứu lập pháp, số 13/2013, tr 29 – 33 và mới nhất là Bùi Ngọc Thanh (2016), Nhìn lại hành trình từ mức lương tối thiểu đến mức lương cơ sở, Nghiên cứu
Trang 11lập pháp, số 2 + 3/2016, tr 74 – 79; Nhóm tác giả (2018), Tiền lương tối thiểu ở Việt Nam: Một số quan sát và nhận xét ban đầu và rất rất nhiều các ý kiến chuyên gia được phỏng vấn, cho ý kiến trên nhiều trang báo giấy, báo điện tử
Các đề tài, công trình nghiên cứu, bài viết trên chỉ mới đi sâu làm rõ các vấn đề lý luận về tiền lương tối thiểu, một số bài trên tạo chí (từ năm 2013 trở lại đây) mới chỉ bàn về một số quy định pháp luật điển hình, đối tượng áp dụng của tiền lương tối thiểu,
từ đó, chỉ ra một số bất cập, hạn chế và kiến nghị trong việc áp dụng chính sách tiền lương tối thiểu Trong phạm vi nghiên cứu, bài viết này tiếp tục làm rõ các vấn đề lý luận về tiền lương tối thiểu nhưng tập trung phân tích thực trạng pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam hiện nay, cố gắng tiếp thu và trình bày tổng quát nhất để có cái nhìn chung, tổng quan về chính sách tiền lương tối thiểu và đưa ra một số kiến nghị, yêu cầu cơ bản nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ tất cả các vấn đề liên quan đền tiền lương tối thiểu là một phạm trù rất rộng, do vậy, trong trong phạm vi Luận văn này, học viên tập trung đi sâu nghiên cứu về: những vấn đề lý luận chung về tiền lương tối thiểu; thực trạng pháp luật
về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam trong đó làm rõ các vấn đề pháp lý về tiền lương tối thiểu theo pháp luật Việt Nam và thực trạng thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam; cuối cùng từ những phân tích đó đưa ra một số kiến nghị, yêu cầu
cơ bản nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu
ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thực tế, ở nước ta, chính sách tiền lương tối thiểu nói chung và tiền lương tối thiểu nói riêng đã qua nhiều lần cải cách theo hướng tích cực và có tiến bộ rõ nét qua từng
Trang 12lần sửa đổi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng được hội nhập sâu, rộng với nền kinh
tế quốc tế nói chung và nền kinh tế thị trường của các cường quốc trên thế giói nói riêng thì chính sách tiền lương tối thiểu nói chung và tiền lương tối thiểu nói riêng ở nước ta càng biểu lộ rõ sự không phù hợp, biểu hiện rõ nét nhất là mức lương tối thiểu chưa đáp ứng được nhu cầu, mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ -Một phần nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là do cách thức tiếp cận, xác định nhu cầu sống tối thiểu của người lao động ở nước ta chưa hoàn toàn phù hợp với xu hướng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam
- Để đạt được mục tiêu trên, Luận văn tập trung giải quyết những 3 cơ bản như sau: +) Làm rõ những vấn đề lý luận chung về tiền lương tối thiểu;
+) Nêu và phân tích thực trạng pháp luật về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam; +) Đề xuất một số kiến nghị, yêu cầu cơ bản nhưng thực sự cần thiết, cấp bách nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về quyền con người và quyền công dân trong xã hội; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu và các bài viết đăng trong các tạp chí của một số nhà khoa học Việt Nam
Ngoài ra, luận văn được viết trên sự tổng hợp của nhiều phương pháp khác nhau, chẳng hạn như: phương pháp phân tích, lịch sử, đối chiếu, tiếp đến là so sánh, đánh giá, thống kê, tổng hợp, cuối cùng là bình luận, quy nạp và diễn giải…
Trang 136 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đáp ứng mục đích, nhiệm vụ đề ra, luận văn có những ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn sau:
- Góp phần hệ thống hóa, bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý luận chung nhất
về tiền lương tối thiểu;
- Luận văn đã có sự so sánh pháp luật về tiền lương tối thiểu với một số quốc gia trên thế giới như ILO, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Philippines;
- Luận văn phân tích, đánh giá được thực trạng pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam trên hai phương diện pháp lý và thi hành;
- Trên cơ sở phân tích, so sánh và tổng hợp, luận văn làm rõ được phương pháp xác định nhu cầu, mức sống tối thiểu đang được áp dụng trong chính sách tiền lương tối thiểu tại Việt Nam Từ đó, Luận văn chỉ ra một số vấn đề bất cập, chưa phù hợp cần phải điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng chính sách tiền lương tối thiểu tại Việt Nam;
- Luận văn đề xuất được một số kiến nghị cần thiết, cấp bách trong việc hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối thiểu và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam trong điều kiện hiên nay;
7 Kết cấu của luận văn
Đáp ứng phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày qua 03 chương chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tiền lương tối thiểu
Chương 2: Thực trạng pháp luật về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU VÀ PHÁP
LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU 1.1 Khái niệm về tiền lương tối thiểu
1.1.1 Tiền lương
1.1.1.1 Quan niệm về tiền lương
Tiền lương theo cách hiểu đơn giản nhất là thước đo giá trị sức lao động Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến tiền lương lại vô cùng phức tạp, tiền lương có ảnh hưởng gián tiếp đến nhiều chính sách kinh tế - xã hội có liên quan Do đó, cần có các quan điểm, nhận thức rõ ràng về tiền lương thì các chương trình, đề án, chính sách về tiền lương mới có hiệu quả và chất lượng mong muốn
Có nhiều cách hiểu về tiền lương, ở Nhật Bản: “Tiền lương là thù lao bằng tiền mặt
và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc, như là nghỉ mát hàng năm, các ngày nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ Tiền lương không tính đến những đóng góp của người thuê lao động đối với bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí cho người lao động và phúc lợi mà người lao động được hưởng nhờ có những chính sách này Khoản tiền được trả khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động cũng không
được coi là tiền lương” Ở Pháp, “Sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng
cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vậ, mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động”2
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), tiền lương là “Sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền hoặc được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia,
do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn
2
http://quantrinhansu-online.com/tien-luong-la-gi-khai-niem-tien-luong/
Trang 15lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”3
Có thể nói, tiền lương có vai trò quan trọng đối với cả người lao động, người sử dụng lao động và toàn xã hội Đối với người lao động, tiền lương là nguồn thu nhập có tính chất thường xuyên, là nguồn sống chủ yếu của người lao động và gia đình của họ
Do đó, tiền lương là cơ sở định hướng nghề nghiệp, là mục tiêu phấn đấu trong suốt cuộc đời lao động Đối với người lao động, tiền lương khuyến khích tăng năng suất lao động, phát huy tài năng, sự sáng tạo và tích lũy kinh nghiệm ở họ Ở một mức độ nhất định, tiền lương khẳng định địa vị của người lao động trong gia đình và ngoài xã hội Đối với người sử dụng lao động, tiền lương là bộ phận quan trọng của chi phí sản xuất,
là một trong những căn cứ để người sử dụng lao động hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh, tổ chức và quản lý lao động trong đơn vị, đây được coi là đòn bẩy kinh tế, thúc đẩy tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng năng suất lao động và góp phần tăng trưởng kinh tế trong doanh nghiệp, tạo sức mạnh cạnh tranh trong thị trường, tạo lập và củng
cố lòng trung thành, sự gắn bó của người lao động với đơn vị sử dụng lao động Đối với Nhà nước và xã hội, tiền lương là bộ phận cấu thành thu nhập quốc dân, tiền lương tác động lên mọi mặt của đời sống – xã hội nói chung, ổn định đời sống của người lao động nói riêng, góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, phòng ngừa và hạn chế các tệ nạn xã hội, tội phạm và ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội 4…
Trang 161.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của tiền lương
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, tiền lương có các đặc điểm cơ bản sau5
: Thứ nhất, tiền lương trong nền kinh tế thị trường không mang tính chất đối kháng giữa người lao động và người sử dụng lao động mà được đặt trong mối quan hệ hợp tác trên cơ sở hai bên cùng có lợi Quan hệ lao động nói chung và tiền lương nói riêng chịu
sự quản lý của Nhà nước thông qua các quy định pháp luật mà trực tiếp là Bộ lao động – Thương binh và xã hội Dó đó, Nhà nước bằng nhiều cách thức khác nhau luôn giám sát, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về tiền lương để đảm bảo lợi ích chính đáng của người lao động
Thứ hai, xét trên phạm vi từng doanh nghiệp, tiền lương có mối quan hệ tỷ lệ thuận với mức tăng lợi nhuận, tăng năng suất lao động Xét trên phạm vi toàn xã hội, việc tăng tiền lương, thu nhập, mức sống dựa trên sự tăng năng suất lao động xã hội và tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế
Thứ ba, mức tiền lương được xác định căn cứ dựa trên giá trị sức lao động Đúng vậy, tiền lương được trả cho từng cá nhân người lao động là không giống nhau Sự khác biệt này dựa trên kết quả sự lao động của họ, tức là năng suất lao động, số lượng, chất lượng lao động và hiệu quả công việc mà họ đem lại trong điều kiện từng lao động
5 Lê Thị Quỳnh Hoa (2010), Pháp luật lao động về tiền lương doanh nghiệp - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 17nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ trong điều kiện lao động bình thường và điều kiện làm việc giản đơn nhất
1.1.1.3 Chức năng cơ bản của tiền lương
Theo quan điểm khoa học pháp lý lao động, tiền lương có 05 chức năng cơ bản, gồm 6:
Thứ nhất, tiền lương có chức năng là thước đo giá trị lao động, nói cách khác, tiền lương thể hiện giá cả sức lao động, phản ánh giá trị sức lao động của người lao động, gắn chặt với quá trình sản xuất vì nó được coi là yếu tố đầu vào của nền sản xuất, góp phần tạo ra của cải xã hội Vì vậy, tiền lương chính là thước đo giá trị sức lao động, được biểu hiện như giá trị lao động cụ thể của việc làm được trả công Hay, giá trị của việc làm được phản ánh thông qua tiền lương, việc làm có giá trị càng cao thì mức lương càng cao
Thứ hai, tiền lương giữ chức năng tái sản xuất sức lao động Tiền lương có vai trò
bù đắp – duy trì – phát triển sức lao động hiện tại cũng như tương lai của người lao động, nghĩa là tái sản xuất giản đơn, đồng thời mở rộng sức lao động
Thứ ba, tiền lương có chức năng kích thích sự hứng khởi, hăng say lao động và sức sáng tạo của người lao động Điều này thể hiện ở việc tạo ra “động lực” bên trong và
“đòn bẩy” bên ngoài đối với người lao động Thực tế, Nhà nước nói chung và người sử dụng lao động nói riêng sử dụng tiền lương như là phương tiện kích thích hữu hiệu về vật chất và tinh thần để người lao động yên tâm, phấn khởi, hăng say lao động sáng tạo
và tất nhiên tuân thủ ký luật lao động, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả công việc
Thứ tư, tiền lương có chức năng kích thích lao động và phát triển nguồn nhân lực, nói ngắn gọn là chức năng tích lũy Tiền lương là thu nhập chính đáng của người lao
Trang 18động, là phương tiện tích lũy của họ và gia đình nhằm giải quyết những nhu cầu vật chất, tinh thần trung hạn, dài hạn trong cuộc sống của họ Do vậy, mức tiền lương là đòn bẩy kinh tế quan trọng để định hướng sự quan tâm, động cơ trong lao động của người lao động Khi tiền lương tuy lệ thuận với hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp nói chung và cá nhân người lao động nói riêng thì người lao động sẽ quan tâm đến việc không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng công việc
Thứ năm, tiền lương có chức năng xã hội Cùng với việc kích thích không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền lương còn có vai trò kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ lao động Thực tế, việc duy mức tiền lương cao và không ngừng tăng chỉ được thực hiện trên cơ sở hài hòa các mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp
Do vậy, việc gắn tiền lương với hiệu quả công việc của người lao động và đơn vị kinh
tế sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, tương hỗ lẫn nhau và nâng cao hiệu quả cạnh tranh của Công ty trên thị trường Không những vậy, tiền lương còn tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ và văn minh
1.1.1.4 Cơ cấu, cơ sở xác định tiền lương
Lần đầu tiên, cơ cấu tiền lương được quy định tại Điều 90 Bộ luật lao động sửa đổi năm 2012 Cụ thể, cơ cấu tiền lương bao gồm: mức lương theo công việc hoặc chức danh; phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác Mức lương được xác định căn cứ vào giá trị của công việc hoặc yêu cầu cụ thể đối với từng chức danh lao động Phụ cấp lương được coi là khoản tiền bù đắp các yếu tố do biến động, thay đổi, phát sinh về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt và mức thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh Các khoản bổ sung khác được hiểu là các khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thục hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động , tiền thưởng, tiền ăn giữa ca trừ các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động
Trang 19Theo quy định tại Khoản 2 Điều 90 Bộ luật lao động sửa đổi năm 2012, Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động, tiền lương trả cho người lao động được dựa trên tiền lương được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, năng suất lao động, khối lượng và chất lượng công việc mà người lao động đã thực hiện Khối lượng và chất lượng lao động là căn cứ quan trọng nhất để xác định mức lương trả cho người lao động Còn năng suất lao động là yếu tố quyết định trực tiếp đến tiền lương của người lao động, vì để đạt hoặc vượt chỉ tiêu năng suất lao động có phần đóng góp của người lao động từ việc cung ứng sức lao động của họ
Ngoài ra, người sử dụng lao động phải đảm bảo trả lương bình đẳng, không phân biệt đối xử về giới tính, màu da, sắc tộc của người lao động làm giá trị công việc có giá trị như nhau
1.1.2 Tiền lương tối thiểu
1.1.2.1 Khái niệm tiền lương tối thiểu
Nhu cầu về ăn, ở, bảo vệ sức khỏe, duy trì giống nòi, học tập, giải trí, giao tiếp, đi lại… của mỗi cá nhân không giống nhau Tuy vậy, việc duy trì cuộc sống của con người nói chung cần phải được đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tối thiểu, hay còn gọi
là mức sống tối thiểu Đối với người lao động, mức sống tối thiểu được hiểu là nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ Qua đó, có thể thấy, mức sống tối thiểu của người lao động được đảm bảo thông qua các chính sách về tiền lương tối thiểu và các phúc lợi công cộng được Nhà nước bảo hộ
Hiện nay, tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về tiền lương tối thiểu Nhưng về cơ bản, tiền lương tối thiểu được xem xét, xác định dựa trên ba phương diện là học thuyết
về tiền lương tối thiểu của C.Mác; của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và trong nền kinh tế thị trường Cụ thể:
+ Quan niệm tiền lương tối thiểu của C.Mác C.Mác kết luận “chi phí sản xuất ra sức lao động đơn giản gồm chi phí sinh hoạt của người công nhân và chi phí tái sản xuất ra người công nhân Giá những chi phí sinh hoạt và chi phí tái sản xuất đó là tiền
Trang 20công Tiền công được quy định như vậy là tiền công tối thiểu”7 C.Mác cho rằng tiền lương là giá cả hàng hóa sức lao động, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu lao động, lên xuống xoay quanh giá trị của nó – giá trị sức lao động Giá trị hàng hóa sức lao động là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa sức lao động, đây là những
tư liệu sinh hoạt nhằm bù đắp lại sức lao động đã hao phí của người lao động, bao gồm
ba loại chi phí: (1) Chi phí nuôi sống và duy trì khả năng lao động của bản thân người lao động với tư cách là công dân tự do tự nguyện bán sức lao động; (2) Chi phí học tập
và đào tạo để trở thành người lao động; (3) chi phí để nuôi sống gia đình người lao động Tuy vậy, sức lao động chỉ tồn tại khi người lao động sống và tham gia vào các quan hệ xã hội giá trị sức lao động chủ yếu do yếu tố sinh lý quyết định, đây là giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết để người công nhân tự duy trì và tái sinh
+ Quan niệm tiền lương tối thiểu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Năm 1919, trong hiến chương thành lập, ILO đã khuyến cáo “bảo đảm mức tiền lương đủ sống cho người lao động” là một trong những nội dung nhằm hoàn thiện các điều kiện lao động,
an sinh xã hội và thúc đẩy hoà bình Trong Công ước số 26 ngày 30/5/1928, ILO cho rằng: “Tiền lương tối thiểu là mức trả công lao động thấp nhất trả cho người lao động làm các công việc đơn giản nhất đủ đảm bảo cho họ một mức sống tối thiểu với tư cách
là người chủ gia đình, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội" Đến năm 1970, tại Công ước 131 về tiền lương tối thiểu, ILO xác định “bảo đảm cho những người làm công ăn lương một sự bảo đảm xã hội cần thiết dưới dạng mức tiền lương tối thiểu đủ sống” Nói cách khác, tiền lương tối thiểu là mức tiền lương duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu cho người làm công ăn lương Một lần nữa, năm 1976, trong tuyên bố Chương trình hành động tại hội nghị thế giới 3 bên về việc làm, phân phối thu nhập và tiến bộ xã hội, ILO khuyến nghị “Bảo đảm mức sống tối thiểu là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế xã hội và chính sách tiền lương của mỗi nước”
7
C.Mác (1976), Lao động làm thuê và tư bản in lần thứ 2, Nxb Sự thật Hà Nội, tr 38 –
39
Trang 21+ Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương tối thiểu được coi là mức tiền lương thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường mà không một người sử dụng lao động nào có quyền trả thấp hơn Thông thường, tiền lương tối thiểu được luật hóa trên cơ sở có sự tham gia của đại diện người
sử dụng lao động và người lao động và trở thành mức thấp nhất theo quy định của pháp luật để trả cho người làm lao động trên thị trường Do đó, mức tiền lương tối thiểu không bao gồm các khoản tiền thưởng hoặc phúc lợi xã hội Cần phân biệt, mức lương tối thiểu và mức trợ cấp xã hội, mức lương tối thiểu và mức tiền lương thấp nhất được xác định thông qua thỏa ước lao động tập thể của các doanh nghiệp
Như vậy, có thể khái quát, tiền lương tối thiểu phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: (1) Tiền lương tối thiểu phải đảo bảo mức sống tối thiểu của người lao động ở trình độ lao động phổ thông, phù hợp nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định; (2) Tiền lương tối thiểu phải được tính đúng, tính đủ nhằm đảm bảo cho những người làm công ăn lương một sự bảo trợ xã hội cần thiết dưới dạng mức tiền lương tối thiểu đủ sống, không phân biệt thành phần kinh tế và khu vực kinh tế; (3) Tiền lương tối thiểu là yếu tố tác động đến mức tiền công trên thị trường lao động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tính đủ chi phí đầu vào và đầu tư hợp lý giữa các vùng, ngành, mở rộng môi trường đầu tư và hội nhập; (4) Tiền lương tối thiểu là công cụ điều tiết của Nhà nước nhằm bảo đảm xã hội đối với người lao động làm việc trong ngành nghề, khu vực có quan hệ lao động, thiết lập những ràng buộc kinh tế trong lĩnh vực sử dụng lao động, tăng cường trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động
+ Quan niệm tiền lương tối thiểu ở Việt Nam:
Mức lương tối thiểu được ghi nhận tại Điều 91 Bộ luật Lao động năm 2012, theo đó, mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ
và được xác lập theo vùng, ngành
Trang 22Mức lương tối thiểu vùng được Chính phủ công bố trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia Mức lương tối thiểu vùng được xác định căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức lương trên thị trường lao động Mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thẻ ngành nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố
Như vậy, có thể hiểu, tiền lương tối thiểu là số tiền tối thiểu do Nhà nước quy định căn cứ vào điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ phù hợp với từng thời giai đoạn phát triển của đất nước, người sử dụng lao động bắt buộc phải trả tiền lương cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường không được thấp hơn tiền lương tối thiểu đã được công bố này Nhìn chung, tiền lương tối thiểu do Chính phủ công bố phản ánh mức sống tối thiểu của người lao động làm công ăn lương trong từng thời kỳ nhất định Với nền kinh tế ngày càng phát triển, mức sống của người lao động ngày càng cao đòi hỏi tiền lương tối thiểu phải tăng theo để đảm bảo đời sống, nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình của họ
1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của tiền lương tối thiểu
Với khái niệm nêu trên, tiền lương tối thiểu có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tiền lương tối thiểu được xác định trong điều kiện lao động bình thường, phù hợp với người lao động làm công việc giản đơn nhất Người lao động làm công việc giản đơn nhất có thể hiểu là người lao động làm công việc đòi hỏi trình độ ở mức đơn giản nhất, không yêu cầu đã qua đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, tính chất công việc không phức tạp và không phụ thuộc nhiều vào khả năng lao động thực tế của người lao động đó Điều này có nghĩa là cường độ lao động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện bình thường, không có tính chất khó nhọc trong điều kiện tự nhiên bình thường và điều kiện xã hội ổn định nhất
Thứ hai, tiền lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động
và gia đình họ Nhu cầu sống tối thiểu được hiểu là nhu cầu tiêu dùng ở mức đọ tối thiểu
Trang 23về vật chất và tinh thần của người lao động và gia đình họ để người lao động có thể tồn tại và làm việc Nhu cầu này thường xuyênthay đổi và phụ thuộc vào mức sống chung cũng như giá cả sinh hoạt trung bình của từng địa phương Tuy nhiên, để có thể định lượng được nhu cầu sống tối thiểu là rất khó, do đó, mục đích phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ là rất khó thực hiện trên thực tế ngay cả với các quốc gia có điều kiện phát triển trên thế giới
1.2 Phân loại tiền lương tối thiểu
Việc phân loại tiền lương tối thiểu có ý nghĩa pháp lý quan trọng Thứ nhất, giúp chúng ta phân biệt được loại tiền lương tối thiểu này với loại tiền lương tối thiểu khác,
từ đó đưa ra được các cơ chế điều chỉnh hợp lý tuỳ thuộc vào đặc trưng của mỗi loại Thứ hai, đảm bảo được sự công bằng trong việc trả lương cho người lao động khi điều kiện lao động có những yếu tố khác nhau nhất định Hiện nay, có nhiều cách phân loại tiền lương tối thiểu khác nhau với những tiêu chí khác nhau cho thấy sự phong phú, đa dạng của tiền lương tối thiểu
1.2.1 Căn cứ vào tính chất và phạm vi áp dụng của tiền lương tối thiểu thì tiền lương tối thiểu gồm:
+ Tiền lương tối thiểu chung là mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định, được áp dụng chung, có tính bắt buộc đối với người lao động làm việc trong mọi ngành nghề, mọi khu vực trong phạm vi toàn quốc Có thể nói, tiền lương tối thiểu chung được áp dụng cho toàn xã hội, được coi là “lưới an toàn” về tiền lương cho toàn bộ những người lao động trong toàn xã hội không phân biệt vùng, ngành kinh tế, hoặc quan hệ lao động Được xem là cơ sở để xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương trong các khối cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc
Cách xác định tiền lương tối thiểu chung chủ yêu căn cứ vào nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ, mức sống chung đạt được và sự phân cực giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, khả năng chi trả của các cơ sản xuất kinh doanh hay mức tiền
Trang 24lương, tiền công đạt trong từng lĩnh vực ngành nghề, khả năng phát triển kinh tế của đất nước, mục tiêu và nội dung cơ bản của các chính sách lao động trong từng thời kỳ + Tiền lương tối thiểu vùng là mức lương tối thiểu áp dụng cho người lao động làm việc ở từng vùng lãnh thổ nhất định Mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố dựa trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia Tiền lương tối thiểu vùng căn cứ dựa trên mức lương tối thiểu chung và có tính đến những yếu tố đặc thù vùng lãnh thổ đó như điều kiện kinh tế của vùng, trình độ phát triển kinh tế của vùng, mức thu nhập bình quân trên đầu người của từng vùng, mức chi tiêu tối thiểu chung của vùng và các yếu tố có liên quan khác như điều kiện làm việc, ăn ở, đi lại, yếu tố địa lý…
Mặc dù, phạm vi áp dụng của tiền lương tối thiểu vùng hẹp hơn so với tiền lươngtối thiểu chung Nhưng, tiền lương tối thiểu vùng lại đáp ứng được sự khác biệt về không gian của các yếu tố chi phối tiền lương tối thiểu chung và nhấn mạnh yếu tố đặc thù của từng vùng cũng như chiến lược phát triển đối với từng vùng đó
Tuy vậy, phương pháp xác định mức tiền lương tối thiểu vùng phức tạp hơn tiền tối thiểu chung Bởi lẽ, tiền lương tối thiểu vùng được xác định vừa trên cơ sở tiền lương tối thiểu chung vừa trên cơ sở các chỉ số chênh lệch giữa các vùng như: thu nhập, mức chi tiêu bình quân giữa các vùng và chỉ số phát triển con người giữa các vùng, quan hệ cung cầu giữa các vùng nhưng tiền lương tối thiểu vùng phải bằng hoặc cao hơn tiền lương tối thiểu chung
Ở Việt Nam, từ tháng 01 năm 2008, chính sách tiền lương tối thiểu vùng lần đầu tiên được thực hiện thông qua việc Chính phủ ban hành Nghị định số 167/2007/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng Đây là một sự thay đổi lớn trong việc hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và đặc biệt là các quy định về lương tối thiểu mà Việt Nam đã cam kết với ILO kể từ khi là thành viên chính thức
Trang 25+ Tiền lương tối thiểu ngành cũng do Nhà nước quy định, được áp dụng trong phạm
vi một ngành hoặc một nhóm ngành có cùng tính chất kỹ thuật trên cơ sở tiền lương tối thiểu chung và các yếu tố lao động đặc thù của từng ngành nghề Tiền lương tối thiểu theo ngành phải bằng hoặc phải cao hơn tiền lương tối thiểu chung Như vậy, có thể thấy tiền lương tối thiểu ngành được xác định cho lao động giản đơn nhất đối với ngành hoặc nhóm ngành đó
+ Tiền lương tối thiểu trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là loại tiền lương tối thiểu đặc biệt, chỉ được áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế có trụ sở tại Việt Nam và có thuê mướn lao động là công dân Việt Nam
1.2.2 Căn cứ vào thẩm quyền quyết định và công bố thì tiền lương tối thiểu có
thể được chia thành tiền lương tối thiểu do Nhà nước công bố và tiền lương tối thiểu do doanh nghiệp tự ban hành và chỉ áp dụng trong phạm vi doanh nghiệp đó
+ Tiền lương tối thiểu do Nhà nước công bố có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ đối với chính sách tiền lương nói chung, sự tăng trưởng phát triển kinh tế - xã hội trong các thời kỳ nói riêng và có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của người lao động, gia đình họ
+ Tiền lương tối thiểu do doanh nghiệp tự ban hành và chỉ áp dụng trong phạm vi doanh nghiệp đó nhưng không được thấp hơn tiền lương tối thiểu chung, vùng và ngành do Nhà nước quy định Đây là một trong những chính sách tiền lương được Nhà nước khuyến khích để người sử dụng lao động trả lương cho người lao động cao hơn mức do Nhà nước quy định Tiền lương tối thiểu này phải được ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể
Trang 261.3 Bản chất, vai trò của tiền lương tối thiểu
Tiền lương tối thiểu là một bộ phận cấu thành tiền lương Do vậy, giống với tiền lương, về bản chất tiền lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ
sở giá trị sức lao động Tuy nhiên, giá cả sức lao động ở đây là giá cả thấp nhất của hàng hoá sức lao động
Như đã trình bày ở trên, tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định, được áp dụng bắt buộc trong phạm vi toàn quốc Theo đó, người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động bằng hoặc cao hơn tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định Tiền lương tối thiểu được xác định và quy định phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng, sức lao động tối thiểu của người lao động Tiền lương tối thiểu là căn cứ để người sử dụng lao động xây dựng thang lương, bảng lương, các khoản trợ cấp, phụ cấp phù hợp với các quy định của pháp luật Như vậy, có thể thấy tiền lương tối thiểu có vai trò hết sức quan trọng không chỉ là
sự đảm bảo có tính pháp lý của Nhà nước đối với người lao động trong mọi ngành nghề, vị trí địa lý tồn tại quan hệ lao động, đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ phù hợp với khả năng của nền kinh tế Tiền lương tối thiểu còn
là công cụ để Nhà nước điều tiết nhằm loại bỏ sự bóc lột sức lao động có thể xảy ra với người lao động trước sự yếu thế của họ so với người sử dụng lao động và sức ép thị trường Thực tế, hiện nay tình trạng thất nghiệp càng cao nguyên nhân một phần cung lao động nhiều hơn cầu, chất lượng lao động chưa đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của người
sử dụng lao động… điều này dẫn đến nguy cơ người sử dụng lao động có thể gây sức
ép, từ đó trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương mà họ đáng được hưởng
Do đó, quy định về tiền lương tối thiểu do Nhà nước công bố là điều hết sức cần thiết Ngoài ra, tiền lương tối thiểu được xác định trên cơ sở giá cả trung bình của thị trường trong nước, do đó, có thể bảo vệ sức mua của tiền lương, tạo sự cân bằng với giá cả thị trường trước sự gia tăng của lạm phát và các yếu tố kinh tế khác Đồng thời góp phần loại bỏ sự cạnh tranh không công bằngtrên thị trường lao động, đảm bảo cho
sự cạnh tranh luôn ở trong khuôn khổ pháp luật và lành mạnh hơn Một vai trò hết sức
Trang 27quan trọng khác của tiền lương tối thiểu là phòng ngừa tranh chấp lao động không cần thiết liên quan đến tiền lương tạo điều kiện cho sự phát triển quan hệ lao động bền vững, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước nhà
1.4 Cơ sở xây dựng tiền lương tối thiểu
“Tiền lương tối thiểu là mức trả công lao động thấp nhất trả cho người lao động làm các công việc đơn giản nhất đủ đảm bảo cho họ một mức sống tối thiểu với tư cách là người chủ gia đình, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội" Hội nghị Quốc tế của ILO họp ở Thái Lan (12/1990) đã khẳng định vai trò cần thiết của việc thiết lập chế độ tiền lương tối thiểu ở các nước, nhất là đối với các nước đang phát triển bởi tiền lương tối thiểu có ý nghĩa hết sức quan trọng, ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động, người
sử dụng lao động và sự phát triển chung của kinh tế xã hội
“Trong chừng mực có thể là thích hợp, xét theo thực tiễn và điều kiện quốc gia, những yếu tố cần lưu ý để xác định mức tiền lương tối thiểu gồm: Những nhu cầu của người lao động và gia đình họ, xét theo mức lương chung trong cả nước, giá cả sinh hoạt, các khoản trợ cấp an toàn xã hội và mức so sánh của các nhóm xã hội khác; Những yếu tố kinh tế, kể cả những đòi hỏi của phát triển kinh tế, năng suất lao động và mỗi quan tâm trong việc đạt tới và duy trì một mức sử dụng lao động cao”.8
Từ trên có thể thấy, việc xác định tiền lương tối thiểu phải dựa trên các tiêu chí chính về “nhu cầu của người lao động” và “yếu tố kinh tế”, cụ thể:
+ “Nhu cầu người lao động” bao gồm: Nhu cầu của người lao động và gia đình họ; mức tiền lương chung của quốc gia; chi phí sinh hoạt và các thay đổi liên quan; các chế
độ an sinh xã hội; các tiêu chuẩn sống tương đối của các nhóm xã hội
+ “Yếu tố kinh tế” bao gồm: các yêu cầu về phát triển kinh tế, mức độ năng suất và mong muốn đạt được, duy trì mức độ việc làm cao
8
Công ước số 131 (1972) về tiền lương tối thiểu đặc biệt đối với các nước đang phát triển, Điều 3
Trang 281.5 Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu
Công ước số 131 và Khuyến nghị số 135 của ILO đảm bảo rằng tiền lương tối thiểu được thiết lập ở một mức độ nhất định mà có thể đáp ứng nhu cầu của người lao động và gia đình của họ nhưng những tài liệu này không có sự chỉ dẫn chính xác về số tiền lương tối thiểu cụ thể hay thậm chí những loại nhu cầu nào được xem xét Điều này cho phép các nước thiết lập mức lương tối thiểu sau khi tham vấn đầy đủ với các đối tác xã hội ở mức độ phù hợp với hoàn cảnh của quốc gia, nhu cầu của người lao động và gia đình họ cũng như mức độ phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia Do đó việc xác định mức lương ối thiểu phải bằng các phương pháp có cơ sở khoa học, cụ thể:
Thứ nhất, căn cứ vào nhu cầu của người lao động và gia đình họ Nhu cầu này bao gồm các nhu cầu về sinh học và xã hội, muốn vậy, phải xác định được ngân sách chi tiêu của gia đình họ ở mức tối thiểu trong từng thời kỳ nhất định Có thể kể đến một số tiêu chí xác định nhu cầu tối thiểu như sau:
+ Nhu cầu tối thiểu về ăn Tiêu chí này được xác định dựa vào lượng calo trong thức ăn để có thể duy trì quá trình sinh học của con người trong 24 giờ Tuỳ thuộc vào điều kiện của từng thời kỳ mà hàm lượng chất đạm, chất béo, chất bột trong khẩu phần
ăn của người lao động là khác nhau Từ đó, Nhà nước khi xác định tiền lương tối thiểu,
sẽ phải đưa ra một thực đơn chuẩn chomột lao động là nam, là nữ để làm căn cứ tính lương tối thiểu trong thời kỳ đó Thông thường cơ thể người phụ nữ có mức nhu cầu năng lượng bằngkhoảng 90% nhu cầu năng lượng của nam Năng lượng nhu cầu của trẻ em từ 5 đến 6 tuổi bằng 60% mức nhu cầu ăn trung bình của một người lớn9
Trang 29+ Nhu cầu về mặc bao gồm quần áo, giày, dép… ở mức tối thiểu đủ để
sử dụng và có sự khác nhau phù hợp với các mùa tại mỗi quốc gia nhưng phải đủ ấm
về mùa đông, để che mưa, che nắng giản đơn khi hoạt động lao động ngoài trời phù hợp với thời gian sinh hoạt và đòi hỏi xã hội
+ Nhu cầu tối thiểu về nhà ở Nhà ở phải đủ diện tích cho lao động và gia đình có thể sinh hoạt ở mức tối thiểu, đảm bảo che chở cho họ khỏi mưa, nắng Hiện nay, nhu cầu tối thiểu về nhà ở được xác định: diện tích: 14m2; diện tích phụ: 4m2, loại nhà ở: nhà cấp 4
+ Nhu cầu trong thiết bị sinh hoạt, các dụng cụ, đồ dùng ở mức tối thiểu gồm: Giường, chiếu, chăn, màn, bàn ghế, bát, đĩa, ấm, chén, xoong, nồi và các nhu cầu vềđiện, nước
+ Nhu cầu tối thiểu về đi lại bao gồm: đi lại thường xuyên và không thường xuyên
Phương tiện đi lại, chi phí sửa chữa, thay thế và các chi phí khác có liên quan
+ Nhu cầu tối thiểu về học tập nhằm đảm bảo cho người lao động và con cái họ có điều kiện học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, sự hiểu biết, đáp ứng đòi hỏi tối thiểu
về trí thức, về trình độ chuyên môn không bị lạc hậu so với sự phát triển chung của xã hội
+ Nhu cầu tối thiểu về y tế, bảo vệ sức khoẻ bao gồm chi phí bảo hiểm y tế và chi
phí thuốc men thông thường
t: nhiệt độ trung bình của vùng;
a: Hằng số sinh học;
P: cân nặng trung bình
Trang 30+ Nhu cầu tối thiểu về văn hoá bao gồm: nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo giá trị nghệ thuật, nhu cầu hưởng thụ và tham gia các hoạt động vui chơi công cộng, tham gia lễ hội
Thứ hai, “yếu tố kinh tế” được xác định qua các tiêu chí khác như tăng trưởng GDP, tăng trưởng tiền lương, an sinh xã hội hoặc các tiêu chí liên quan đến thu nhập10
Trong đó: It là thu nhập quốc dân bình quân đầu người ở năm t;
Ito là thu nhập quốc dân bình quân đầu người ở năm to;
e là mức phát triển thu nhập quốc dân bình quân hàng năm
Gọi mức tiêu dùng bình quân đầu người ở năm t là Mt và tỷ lệ giữa quỹ tiêu dùng với thu nhập quốc dân là h, ta có: Mt = It xh
+ Xác định mức tiêu dùng tối thiểu là mức tiêu dùng bình quân và hệ số chênh
lệnh giữa các mức tiêu dùng bình quân và mức tiêu dùng tối thiểu Gọi hệ số chênh lệnh giữa mức tiêu dùng bình quân và mức tiêu dùng tối thiểu là K1, ta có, mức tiêu dùng bình quân đầu người ở mức tối thiểu được tính theo công chức: mm
M M / KTrong đó: mm
t
M là mức tiêu dùng tối thiểu bình quân đầu người ở năm t
+ Xác định tiền lương tối thiểu cho một người lao động bao gồm mức tiêu dùng tối thiểu bình quân đầu người và hệ số nuôi người ăn theo đối với một người lao động Gọi hệ số nuôi người ăn theo bình quân chung là K2 Tiền lương tối thiểu cho
10
Có thể minh họa qua công thức:
MWt = MWt-1+α (CPI) + β (tăng trưởng GDP) + γ(tăng trưởng tiền lương bình quân) + δ (khác)
Trong đó: (MWt và MWt-1 là mức tiền lương tối thiểu tương ứng cho năm t và t-1;
CPI đề cập đến lạm phát giá tiêu dùng; cả GDP và tiền lương tính theo thời hạn thực)
Trang 31một người được tính: t
L I h k
1.6 Pháp luật về tiền lương tối thiểu ở một số quốc gia trên thế giới
Tác giả trình bày các điểm cơ bản được điều chỉnh trong Luật tiền lương tối thiểu của 03 nước Châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc để có sự so sánh gần nhất
so với các quy định về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam
1.6.1 Luật Tiền lương tối thiểu ở Nhật Bản
- Mục đích của tiền lương tối thiểu nhằm cải thiện điều kiện lao động, ổn định cuộc sống của người lao động, nâng cao chất lượng của lực lượng lao động, đảm bảo công bằng cạnh tranh trong kinh doanh và đóng góp cho sự phát triển vững mạnh của kinh tế đất nước
có năng lực lao động yếu kém; Người đang trong thời gian thử việc; Người đang học việc hoặc đào tạo những kỹ năng cơ bản cần thiết cho công việc
- Các loại tiền lương tối thiểu: Tiền lương tối thiểu vùng và tiền lương tối thiểu đặc biệt (áp dụng cho một số ngành nghề hoặc công việc kinh doanh nhất định), được xác định trên cơ sở một giờ Tiền lương tối thiểu đặc biệt phải cao hơn tiền lương tối thiểu vùng
- Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu
+ Yếu tố xác định lương tối thiểu: Tiền lương tối thiểu quy định theo các vùng khác nhau và được xác định dựa trên căn cứ chi phí sinh hoạt, tiền lương và khả năng trả lương đối với một công việc lao động bình thường tại các vùng Việc xem xét chi phí sinh hoạt của người lao động phải bảo đảm người lao động có thể đảm bảo cuộc sống ở mức tối thiểu đầy đủ
Trang 32+ Cơ chế xác định tiền lương tối thiểu: Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi hoặc Giám đốc Các Sở Lao động sẽ yêu cầu Hội đồng tiền lương tối thiểu quốc gia hoặc Hội đồng tiền lương tối thiểu địa phương xem xét mức tiền lương tối thiểu của từng vùng và quyết định mức tiền lương tối thiểu vùng dựa trên ý kiến của Hội đồng tiền lương tối thiểu quốc gia hoặc Hội đồng tiền lương tối thiểu địa phương Khi bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi thấy mức tiền lương tối thiểu do Giám đốc Sở Lao động quyết định rất không hợp lý sẽ yêu cầu Giám đốc Sở Lao động sửa đổi hoặc hủy bỏ mức tiền lương tối thiểu đó Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi sẽ tham vấn ý kiến của Hội đồng tiền lương quốc gia trước khi đưa ra quyết định yêu cầu Giám đốc Sở Lao động sửa đổi hoặc hủy bỏ mức tiền lương tối thiểu Nếu phương án mà Hội đồng tiền lương tối thiểu đưa ra khó thực thi thì Bộ trưởng bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi sẽ yêu cầu Hội đồng xem xét lại nêu rõ lý do tại sao
- Hội đồng lương tối thiểu: Hội đồng thẩm tra tiền lương tối thiểu trung ương thuộc
Bộ lao động phúc lợi xã hội, Hội đồng thẩm tra tiền lương tối thiểu địa phương thuộc cục lao động cấp tỉnh, thành phố để thực hiện chức năng kiến nghị với Bộ trưởng Bộ lao động phúc lợi xã hội hoặc Cục trưởng Cục lao động tỉnh, thành phố về mức tiền lương tối thiểu tại các vùng khác nhau
+ Hội đồng tiền lương tối thiểu quốc gia (cấp trung ương) gồm 18 thành viên: 6 thành viên đại diện người lao động, 6 thành viên đại diện người sử dụng lao động và 6 thành viên đại diện công chúng Trong số 18 thành viên này sẽ có 9 thành viên tham gia Ủy ban kỹ thuật bao gồm: 3 thành viên đại diện người lao động, 3 thành viên đại diện người sử dụng lao động và 3 thành viên đại diện công chúng
Ủy viên được Bộ trưởng Bộ lao động phúc lợi xã hội hoặc Cục trưởng Cục lao động tỉnh thành phố bổ nhiệm và có nhiệm kỳ 2 năm, nhiệm kỳ của ủy viên được bổ sung là thời gian gia hạn của người phụ trách trước Ủy viên được coi là làm việc không thường trực Khi hết nhiệm kỳ, ủy viên vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho tới khi người kế vị được bổ nhiệm
Trang 33Chủ tịch Hội đồng tiền lương tối thiểu quốc gia là người được chọn trong số các Ủy viên đại diện cho bộ phận công ích Chủ tịch tổng thụ lý các nghiệp vụ của hội đồng Khi Chủ tịch gặp tai nạn hay sự cố, thì phải nhanh chóng chọn chủ tịch mới thay thế Hội đồng thẩm tra tiền lương tối thiểu khi được yêu cầu thẩm tra quyết định sửa đổi hoặc quyết định về Tiền lương tối thiểu, phải thành lập Hiệp hội chuyên môn Hiệp hội chuyên môn gồm các thành viên là Ủy viên đại diện cho người lao động có liên quan, Ủy viên đại diện cho bộ phận công ích
+ Cơ chế hoạt động: Cuộc họp của Hội đồng tiền lương quốc gia do Chủ tịch hội đồng triệu tập phải bao gồm ít nhất 1/3 thành viên từ mỗi bên mới có thể tổ chức Phương án tiền lương tối thiểu phải được đa số (quá bán) số thành viên hội đồng tán thành Trong trường hợp những người đồng ý và không đồng ý là như nhau Chủ tịch hội đồng sẽ là người quyết định
- Tổ chức thực hiện: Bộ trưởng Bộ lao động phúc lợi xã hội hoặc Cục trưởng Cục lao động tỉnh thành phố sau khi quyết định tiền lương tối thiểu tại các vùng khác nhau phải công bố rộng rãi quyết định đó Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo cho người lao động về lương tối thiểu
- Chế tài xử phạt: Người nào vi phạm các quy định về tiền lương tối thiểu sẽ bị xử phạt tù khổ sai 6 tháng trở xuống hoặc phạt tiền không quá 30 vạn yên
1.6.2 Luật Tiền lương tối thiểu ở Hàn Quốc
- Mục đích của Luật tiền lương tối thiểu nhằm bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, cải thiện chất lượng của nguồn nhân lực góp phần phát triển kinh tế xã hội
- Phạm vi, đối tượng áp dụng là doanh nghiệp, nơi làm việc có sử dụng lao động Ngoài ra, những trường hợp sau không áp dụng Luật tiền lương tối thiểu: (1) Doanh nghiệp chỉ sử dụng những người họ hàng sống cùng nhau, những người được thuê mướn làm việc nhà, thuỷ thủ đã được điều chỉnh bởi Luật thuỷ thủ hoặc đối với chủ tàu thuê mướn các thuỷ thủ đó; (2) Người lao động đang trong giai đoạn thử việc; Người thuộc diện phải giám sát hoặc làm việc ngắt quãng; Người có khả năng lao
Trang 34động kém một cách rõ rệt do thương tật thể lực và trí lực; Những người khác mà việc
áp dụng lương tối thiểu là không phù hợp
- Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu: Mức lương tối thiểu được xác định trên cơ sở một giờ, một ngày, một tuần hoặc một tháng Khi lương tối thiểu được xác định theo ngày, theo tuần hoặc theo tháng thì cũng phải có ghi chú mức lương theo giờ + Yếu tố xác định lương tối thiểu: Tiền lương tối thiểu được xác định sau khi xem xét mức chi phí sinh hoạt của người lao động, tiền công của người lao động cùng loại, năng suất lao động của người lao động cùng loại và tỷ lệ đóng góp của người lao động
đối với thu nhập quốc dân
+ Cơ chế xác định tiền lương tối thiểu: Căn cứ các yếu tố xác định tiền lương tối thiểu, trước ngày 5/8 hàng năm Bộ trưởng Lao động xác định lương tối thiểu và yêu cầu Hội đồng Lương tối thiểu thảo luận và sẽ quyết định lương tối thiểu theo đề xuất
mà Hội đồng Lương tối thiểu đã cân nhắc và thông qua
Hội đồng Lương tối thiểu cân nhắc kỹ lưỡng mức lương tối thiểu và trình đề xuất lương tối thiểu cho Bộ trưởng Lao động trong vòng 90 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu Nếu Bộ trưởng Lao động thấy rằng khó quyết định lương tối thiểu theo đề xuất mà Hội đồng Lương tối thiểu đã cân nhắc và đệ trình thì trong vòng 20 ngày yêu cầu Hội đồng Lương tối thiểu xem xét lại đề xuất đó trong vòng 10 ngày hoặc nhiều hơn và chỉ
rõ lý do đưa ra yêu cầu đó Hội đồng Lương tối thiểu sau khi nhận được yêu cầu phải
tiến hành xem xét lại và trình đề xuất đã được cân nhắc lại cho Bộ trưởng Lao động trong thời hạn quy định Khi tiến hành xem xét lại, nếu Hội đồng Lương tối thiểu bỏ phiếu đối với đề xuất lương tối thiểu ban đầu, với sự có mặt của đa số các thành viên
và sự tán thành của 2/3 thành viên có mặt thì Bộ trưởng Lao động sẽ quyết định lương
tối thiểu theo đề xuất này của hội đồng
- Hội đồng lương tối thiểu: Hội đồng lương tối thiểu được thành lập tại Bộ Lao động để thực hiện các chức năng sau: Xem xét và rà soát lại lương tối thiểu; Xem xét việc phân hạng doanh nghiệp để áp dụng lương tối thiểu; Nghiên cứu và đề xuất phát
Trang 35triển hệ thống lương tối thiểu; Xem xét các vấn đề khác liên quan tới lương tối thiểu và theo yêu cầu của Bộ trưởng Lao động
Hội đồng lương tối thiểu gồm 09 thành viên đại diện cho người lao động; 09 thành viên đại diện cho người sử dụng lao động; 09 thành viên đại diện cho lợi ích công Hội
đồng có 2 thành viên thường trực là thành viên đại diện cho lợi ích công
Nhiệm kỳ của thành viên là 03 năm nhưng có thể tái cử Khi có chỗ khuyết, thì nhiệm kỳ của thành viên thay thế chỗ khuyết là thời gian còn lại của người tiền nhiệm Khi hết nhiệm kỳ, thành viên vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho tới khi người kế vị được chỉ định hoặc được tiến cử
Hội đồng có một Chủ tịch và một Phó chủ tịch được bầu trong số các thành viên
cho lợi ích công Chủ tịch sẽ điều hành các công việc của Hội đồng và đại diện cho Hội
đồng Khi Chủ tịch không có khả năng thực hiện các nhiệm vụ của mình do một sự cố nào đó, Phó Chủ tịch sẽ thay thế Hội đồng có thể chỉ định 03 hoặc ít hơn thành viên
đặc biệt từ các quan chức của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan Các thành viên
đặc biệt có thể tham dự và phát biểu tại các cuộc họp của Hội đồng
Hội đồng thành lập Ủy ban kỹ thuật theo loại hình doanh nghiệp hoặc vấn đề đặc
thù để thực hiện các chức năng do Hội đồng phân công Uỷ ban kỹ thuật gồm một số
lượng bằng nhau các thành viên lao động, thành viên người sử dụng lao động và thành viên lợi ích công, mỗi bên không quá 5 người Ban thư ký được thành lập trong Hội
đồng để điều hành công việc của Hội đồng Ban Thư ký có 3 hoặc ít hơn nghiên cứu
viên để tiến hành việc nghiên cứu và khảo sát các vấn đề kỹ thuật cần đưa ra thảo luận
về lương tối thiểu, vv…
Hội đồng tổ chức họp khi Bộ trưởng Lao động hoặc 1/3 hoặc nhiều hơn các thành viên yêu cầu, hoặc nếu Chủ tịch thấy cần thiết Chủ tịch là người chủ trì cuộc họp Hội đồng, cuộc họp Hội đồng ra quyết định khi có mặt đa số thành viên và với sự tán thành
của đa số các thành viên có mặt Khi quyết định một vấn đề, Hội đồng phải có sự tham
dự của 1/3 hoặc nhiều hơn số thành viên đại diện cho người lao động và số thành viên
đại diện cho người sử dụng lao động
Trang 36- Tổ chức thực hiện: Sau khi Bộ trưởng Lao động quyết định, mức lương tối thiểu được công bố công khai và có hiệu lực vào ngày 01/01 năm sau Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo cho người lao động về lương tối thiểu
- Chế tài xử phạt: Người nào vi phạm các quy định về tiền lương tối thiểu sẽ bị xử phạt tù tới 3 năm hoặc phạt tiền không quá 20 triệu won hoặc cả hai hình phạt
1.6.3 Luật Tiền lương tối thiểu ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc, tiền lương tối thiểu đề cập đến thù lao thấp nhất mà người sử dụng lao động trả cho người lao động với điều kiện người lao động đã làm việc thường xuyên trong khoảng thời gian theo quy định của pháp luật hoặc thời gian quy định theo
vị tổ chức, cộng đồng xã hội cũng như nhân viên mà có quan hệ lao động
- Các loại tiền lương tối thiểu: Không có tiền lương tối thiểu quốc gia ở Trung Quốc Có hai loại tiền lương tối thiểu ở Trung Quốc là tiền lương tối thiểu theo tháng
và tiền lương tối thiểu theo giờ Tiền lương tối thiểu theo tháng áp dụng đối với nhân viên toàn thời gian, tiền lương tối thiểu theo giờ áp dụng đối với người lao động linh hoạt (nhân viên làm việc không trọn giờ) Nhân viên làm việc không trọn giờ là người làm việc không quá 4 giờ mỗi ngày và tổng cộng 24 giờ mỗi tuần cho cùng một người
sử dụng lao động
- Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu
+ Yếu tố xác định lương tối thiểu: Việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu phải tính đến chi phí sinh hoạt của cư dân đô thị, bảo hiểm xã hội trả bởi người lao động, quỹ tích lũy nhà ở, tiền lương trung bình, tỷ lệ thất nghiệp và mức độ phát triển kinh tế Một số tỉnh có tính toán về lương trung bình tổng thể, giá hàng hoá, hệ số về người phụ thuộc gia đình của người lao động, thu nhập và chi phí của các nhóm có thu nhập thấp, nhu
Trang 37cầu và cung cấp lao động, năng suất lao động và các chỉ số kinh tế liên quan đến một năm hoặc nhiều năm trước đây, ngoài ra có tính đến yếu tố thu hút vốn đầu tư FDI, khả năng chi trả của doanh nghiệp v.v , để điều chỉnh lại các mức lương tối thiểu
Việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu theo giờ phải được căn cứ vào mức lương tối thiểu ban hành hàng tháng Ngoài việc xem xét tổng thể về phí bảo hiểm hưu trí cơ bản
và các phí bảo hiểm y tế cơ bản do người sử dụng lao động trả (đối với công nhân làm việc không trọn giờ, họ phải trả tự trả), các yếu tố đặc biệt như khác biệt về sự ổn định làm việc, điều kiện làm việc, cường độ làm việc và phúc lợi giữa người lao động không trọn giờ và trọn giờ cũng phải được xem xét
+ Cơ chế xác định tiền lương tối thiểu: Cơ quan nguồn nhân lực tỉnh và an sinh xã hội phải thương lượng với công đoàn khu vực cùng cấp cũng như hiệp hội doanh nghiệp hoặc hiệp hội doanh nhân trước khi trình dự thảo cho Bộ nguồn nhân lực và An sinh Xã hội (MOHRSS) MOHRSS sẽ tư vấn với Tổng công đoàn toàn Trung Quốc (ACFTU) và Liên đoàn Doanh nghiệp Trung Quốc (CEC) và Hiệp hội giám đốc doanh nghiệp Trung quốc (CEDA) sau khi nhận được dự thảo từ mỗi tỉnh
Việc quy định và sửa đổi tiền lương tối thiểu do Sở Nguồn nhân lực và an sinh xã hội của mỗi tỉnh (vùng tự trị hoặc thành phố) dự thảo, bao gồm cả cơ sở điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh, tỷ lệ điều chỉnh và giải thích, sau đó nộp cho MOHRSS) để xem xét MOHRSS có thể đưa ra các kiến nghị để sửa đổi Dự thảo được coi là đã được phê duyệt nếu không có phản hồi sau 14 ngày
- Tổ chức thực hiện: Chính quyền nhân dân cấp tỉnh được trao quyền để công bố các mức tiền lương tối thiểu đã xem xét thông qua công báo chính quyền địa phương
và ít nhất một tờ báo trong khu vực Người sử dụng lao động cũng được yêu cầu công khai các mức tiền lương tối thiểu mới nhất trong vòng 10 ngày sau khi các mức này được công bố Mỗi tỉnh, khu tự trị hoặc thành phố lớn có thể thiết lập các tiêu chuẩn lương tối thiểu khác nhau, với các thành phố nhỏ trong tỉnh lựa chọn các tiêu chuẩn lương tối thiểu dựa trên tình hình khu vực của họ Cơ quan nguồn nhân lực và an sinh
xã hội trên cấp quận có trách nhiệm giám sát việc thực hiện các quy định này trong
Trang 38phạm vi hành chính của họ
- Chế tài xử phạt: Chưa được đề cập trong Luật tiền lương tối thiểu
Như vậy, các quốc gia tác giả đề cập trên đây đều ban hành Luật Tiền lương tối thiểu, trong đó, quy định rất rõ đối tượng, phạm vi áp dụng và quan trọng nhất là phương pháp xác định tiền lương tối thiểu, chức năng, nhiệm vụ cũng như thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền quyết định và ban hành tiền lương tối thiểu
Qua đó có thể dễ dàng nhận thấy những quy định về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và bất cập,
Kết luận chương 1
Tiền lương tối thiểu là một công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết quan hệ cung cầu lao động trong kinh tế thị trường, là công cụ để Nhà nước bằng quyền lực của mình bảo vệ người lao động trong toàn xã hội, đây là "lưới an toàn", là mức lương “sàn” thấp nhất nhưng phải đảm bảo được nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình
họ Tóm lại, tiền lương tối thiểu là căn cứ để xác định mức tiền công của các loại lao động, góp phần điều tiết cung - cầu lao động, phát triển thị trường lao động lành mạnh
Do vậy, việc tìm hiểu, làm rõ vai trò, các yếu tố cấu thành, phương pháp xác định, căn cứ tính tiền lương tối thiểu có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc Nhà nước công bố tiền lương tối thiểu qua từng thời kỳcó tính khả thi, từ đó, có những biện pháp nhằm chống nghèo đói, ngăn cản bần cùng hóa dưới mức cho phép, hạn chế tình trạng thất nghiệp, tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và thúc đẩy kinh tế phát triển
Có thể tóm lược, việc xác định tiền lương tối thiểu phải đảm bảo các tiêu chí sau11:
Hệ thống nhu cầu của người lao động và gia đình họ; Mức tiền lương chung đạt được; Chi phí sinh hoạt và sự biến động của giá cả sinh hoạt; Các khoản phúc lợi xã hội; Tương quan mức sống giữa các nhóm dân cư; Các yếu tố kinh tế, có thể bao gồm: mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, năng suất lao động, tổng mức việc làm và khả năng chi trả của các doanh nghiệp Việt Nam, với tư cách thành viên là thành viên chính thức của
11
ILO (1970), Khuyến nghị số 135 về xác định mức lương tối thiểu
Trang 39ILO, đã quy định, việc xác định tiền lương tối thiểu phải dựa trên cơ sở bảo đảm hài hòa các yếu tố cơ bản sau: (1) Nhu cầu các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của người lao động liên quan đến mức sống “tối thiểu” Đó là hệ thống nhu cầu các mặt tiêu dùng, dịch vụ tối thiểu của người lao động và gia đình họ với mức giá của các mặt hàng đó trên thị trường; (2) Mức tiền lương chung trên thị trường được xác lập thông qua cung cầu lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp Mức tiền lương chung trên thị trường phản ánh khả năng cung về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực, đồng thời cũng phản ánh khả năng tài chính và xu thế phát triển của cầu lao động Ngoài ra nó còn cho biết mức tiền công mà người lao động nhận được đã xứng đáng chưa, có bị bóc lột sức lao động hay không; (3) Mức độ phát triển mức sống dân cư, khả năng của nền kinh tế cũng như mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm tiền lương tối thiểu là công cụ chống nghèo đói, giảm bớt phân hóa trong xã hội, nâng cao mức sống của người lao động phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế; và (4) Tham khảo tiền lương tối thiểu của các nước lân cận và tương đương để vừa
bảo đảm yếu tố cạnh tranh, vừa bảo đảm yếu tố phát triển
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của tiền lương tối thiểu ở Việt Nam12
Sau ngày thành lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, qua các thời kỳ phát triển, trải dài theo lịch sử đất nước, tiền lương tối thiểu đã khẳng định được tầm quan trọng trong cải cách chính sách tiền lương, ổn định và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Do vậy, để hiểu rõ tiền lương tối thiểu,
ta phải nghiên cứu nó từ việc phân tích lịch sử đất nước qua các thời kỳ khác nhau từ trong thời chiến, thời kế hoạch hóa theo địn hướng xã hội chủ nghĩa và thời kỳ đổi mới Tác giả xin được phân tích thành bốn giai đoanh như sau:
2.1.1 Tiền lương tối thiểu trong giai đoạn từ năm 1946 – 1954
Ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhằm sớm ổn định tình hình đất nước, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 10-SL về việc tạm thời áp dụng các văn bản pháp luật của chế độ cũ để lại miễn là không trái với bản chất của chế độ XHCN Tuy nhiên, chưa có bất kỳ một văn ản nào đề cập đến tiền lương tối thiểu Với
tư tưởng tiến bộ của mình, sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc trả công cho công nhân, tầng lớp lao động trong xã hội, nhằm bảo vệ họ, ngày 12/3/1947 Hồ Chí Minh đã ký công bố Sắc lệnh số 29-SL quy định chế độ lao động trong toàn cõi Việt Nam Đây là lần đầu tiên, tiền công tối thiểu chính thức được ghi nhận trong một văn
bản pháp luật Theo đó, “Tiền công tối thiểu là số tiền công do Chính phủ ấn định theo giá sinh hoạt để một công nhân không chuyên nghiệp sinh sống một mình trong một ngày ở một khu vực nhất định” Về bản chất, định nghĩa “tiền công tối thiểu”nêu trên
không có sự khác biệt là mấy so với khái niệm tiền lương tối thiểu theo quan niệm
12
Bài luận chính sách – CS 13: Tiền lương tối thiểu ở Việt Nam, Một số quan sát và nhận xét ban đầu