1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu pháp luật về quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của người tiêu dùng ở Việt Nam

174 70 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 18,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khắc phục những hạn chế về quyền của NTD trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và trong các luật chuyên ngành trước đó, Điều 8 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 đã quy định tương

Trang 2

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VÊ QUYỀN

ĐƯỢC CUNG CẤP THÔNG TIN VÀ BẢO

VỆ THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

Ở VIÊT NAM

TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI í PHÒNG ĐỌC _

Trang 3

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THựC HIỆN ĐÈ TÀI

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Vân Anh

Trường Đại học Luật Hà Nội

Các tác giả chuyên đề khoa học:

1 TS Nguyễn Thị Vân Anh

(Trường Đại học Luật Hà Nội)

4 ThS Nguyễn Ngọc Quyên & CN Phạm Phương Thảo

(Trường Đại học Luật Hà Nội)

Chuyên đề 4

5 ThS Nguyễn Văn Thành

(Cục Quản lý Cạnh tranh)

Chuyên đề 5

6 ThS Hoàng Minh Chiến & ThS Nguyễn Ngọc Quyên

(Trường Đại học Luật Hà Nội)

9 TS Nguyễn Thị Vân Anh & CN Phạm Phương Thảo

(Trường Đại học Luật Hà N ộ i)

Chuyên đề 9

10 ThS Phạm Quế Anh

(Văn phòng CƯTS Hà Nội)

Chuyên đề 10

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT

Việt Nam

Trang 5

MỤC LỤC

PHÀN I: TỎNG THUẬT KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÈ TÀI “NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VÈ QUYÈN ĐƯỢC CUNG CẤP THÔNG TIN VÀ BẢO

VỆ THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM ” 1

PHẦN II: CÁC CHUYÊN ĐẺ NGHIÊN c ứ u 44

Chuyên đề 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 44

Chuyên đề 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN Đ ư ợ c CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DỪNG 51

Chuyên đề 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 62

Chuyên đề 4: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN Đ ư ợ c CUNG CÁP THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 72

Chuyên đề 5: TH ựC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN Đ ư ợ c CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU D Ù N G 83

Chuyên đề 6: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 94

Chuyên đề 7: THIẾT CHẾ x ử LÝ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 110

Chuyên đề 8: THIẾT CHẾ x ử LÝ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO VỆ THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 121

Chuyên đề 9: T H ựC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG CẤP THÔNG TIN VÀ BẢO VỆ THÔNG TIN 129

Chuyên đề 10: QUYỀN Đ ư ợ c CƯNG CẤP THÔNG TIN VÀ BẢO VỆ THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG -KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ G IỚ I 137

PHỤ LỤC 1 : 153

PHỤ LỤC 2 : 157

TÀI LIỆU THAM KHẢO 167

Trang 6

PHẦN I TỎNG THUẬT KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÈ TÀI

“NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VÈ QUYÈN ĐƯỢC CUNG CẤP THÔNG TIN

VÀ BẢO VỆ THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

Ở VIỆT NAM”

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Quan hệ giữa người tiêu dùng (NTD) và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (thương nhân) là một loại quan hệ dân sự phổ biến trong xã hội Chúng được thiết lập, thực hiện và bảo vệ theo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

là nguyên tắc tự do thỏa thuận và nguyên tắc bình đẳng Tuy nhiên, trong mối quan

hệ giữa NTD và thương nhân, NTD thường ở vị trí yếu thế, bởi sự hạn chế về thông tin, về kiến thức chuyên môn đặc biệt là các thông tin và kiến thức liên quan đến đặc tính kĩ thuật, tính năng sử dụng, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm cũng như sự hạn chế về khả năng đàm phán hợp đồng và khả năng chịu rủi ro khi mua sản phẩm

Do đó, để tạo lập và đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ giữa NTD và thương nhân cần thiết phải có sự can thiệp mạnh mẽ của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD Việc ban hành pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD là để bảo vệ sự phát triển bền vững của xã hội

Trong quan hệ mua bán hàng hóa giữa NTD với thương nhân, thông tin là một yếu tố vô cùng quan trọng Bởi thực chất tương tác cung cầu trong nền kinh tế thị trường chính là chuỗi các quyết định của nhà sản xuất, nhà phân phối và của NTD trên thị trường Các quyết định này đều liên quan tới thông tin và đều dựa trên nền tảng thông tin mà các chủ thể tham gia tương tác (thương nhân, NTD v.v.) có được

Đó là những thông tin về hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân cung cấp cho NTD để NTD có cơ sở lựa chọn hàng hóa khi mua hàng Đó là những thông tin cá nhân của NTD mà thương nhân cũng rất cần biết để sản xuất hàng hóa phù họp với thị hiếu của NTD cũng như tiếp tục giữ mối quan hệ với khách hàng

Bởi vậy, quyền được cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ là một trong 8 quyền cơ bản của NTD được ghi nhận trong bản hướng dẫn bảo vệ NTD của Liên hiệp quốc năm 1985 Quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân hay còn gọi là quyền bảo vệ bí

Trang 7

mật đời tư cũng được ghi nhận trong tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền năm 1948

và trong Công ước Quổc tể về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 Quyền bảo

vệ thông tin của NTD là một khía cạnh của quyền bảo vệ bí mật đời tư NTD cần được pháp luật bảo vệ không để các thông tin cá nhân của mình bị khai thác vì mục đích thương mại trái ý muốn của họ

Ở Việt Nam, Luật bảo vệ quyền lợi NTD được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2010 và có hiệu lực từ 1/7/2011 đã ghi nhận quyền được cung cấp thông tin của NTD (Khoản 2 Điều 8) và vấn đề bảo vệ thông tin của NTD (Điều 6) Ngoài ra, quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD (gọi tắt là quyền liên quan đến thông tin của NTD) còn được quy định trong các luật khác Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền liên quan đến thông tin của NTD còn tồn tại một

số hạn chế, Luật bảo vệ quyền lợi NTD mới có hiệu lực hơn một năm nên chưa phát huy được nhiều tác dụng Trên thực tế, quyền liên quan đến thông tin của NTD chưa được bảo đảm Nhiều thương nhân đã đưa thông tin gian dối, sai lệch về chất lượng, công dụng, nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ mình cung cấp Hiện tượng, thông tin cá nhân của NTD được khai thác, sử dụng, mua bán vì mục đích thương mại trái với ý muốn của họ diễn ra khá phổ biến

Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu pháp luật về quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD ở Việt Nam” là rất cần thiết để lý giải cơ sở lý luận và thực tế của các quyền

.r

liên quan đến thông tin của NTD, nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về các quyền này, từ đó đưa ra một số giải pháp đảm bảo thực thi quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD Việt Nam trong nền kinh tế thị trường

Mặt khác, những nghiên cứu của đề tài này cũng rất thiết thực cho việc giảng dạy các vấn đề quyền của NTD và trách nhiệm của thương nhân đối với NTD, một trong những nội dung quan trọng của môn học Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi NTD tại trường Đại học Luật Hà Nội

1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sau một thời gian tương đối dài tìm hiểu tình hình nghiên cứu các vấn đề về quyền liên quan đến thông tin của NTD, chúng tôi nhận thấy trong các công trình khoa học đã được công bố hầu như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề này

Trang 8

Bảo vệ NTD, pháp luật bảo vệ NTD và đặc biệt là pháp luật về quyền liên quan đến thông tin của NTD là những nội dung nghiên cứu tương đối mới ở nước

ta Có thể thấy, gần đây để phục vụ cho việc xây dựng dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi NTD và đánh giá một năm thực thi Luật này thì các vấn đề này mới được xã hội

và các nhà khoa học quan tâm

Trong quá trình xây dựng dự án Luật bảo vệ quyền lợi NTD, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư Pháp đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm đảm bảo quyền lợi của NTD trong nền kinh tế thị trường Việt Nam” do tiến sĩ Nguyễn Mai Phương làm chủ nhiệm đề tài, nghiệm thu năm 2008 Đề tài nghiên cứu nhiều nội dung, trong đó có đề cập đến cơ chế bảo đảm các quyền nói chung của NTD Bởi vậy, những nội dung pháp lý liên quan đến quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD hầu như chưa được nghiên cứu Năm 2011, Trường Đại học Luật Hà Nội cũng đã nghiệm thu đề tài: “ Nghiên cứu vai trò của Hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ NTD tại Việt Nam” do Tiến sĩ Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm Đề tài này tập trung nghiên cứu vai trò của Hội bảo vệ NTD trong công tác bảo vệ NTD nói chung và trong việc đảm bảo các quyền của NTD nói riêng Do đó đề tài cũng chưa nghiên cứu sâu pháp luật về quyền liên quan đến thông tin của NTD

Sau khi Luật bảo vệ quyền lợi NTD thực thi được 1 năm, Bộ Công Thương, Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam, Viện Khoa học xã hội đã tổ chức một số hội thảo, tọa đàm nhàm đánh giá một năm triển khai thực thi Luật này Đó là: Hội thảo: “Nhìn lại một năm triển khai thực hiện Luật bảo vệ quyền lợi NTD” do Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng Bộ Công thương tổ chức tại Hà Nội ngày 18/7/2012; Hội thảo: “Nhìn lại một năm thực hiện Luật bảo vệ quyền lợi NTD” do VINASTAS tổ chức tại Hà Nội ngày 27/7/2012; Tọa đàm “Trách nhiệm của doanh nghiệp và quyền của NTD” do Viện khoa học xã hội tổ chức tại Hà Nội ngày 11/10/2012 Nội dung của các hội thảo và tọa đàm này không bàn đến quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD

Trên các tờ báo viết (Báo thương mại, Thời báo kinh tế, Báo An ninh Thủ

đ ô ) và báo điện tử trên các website (vietnamnet.com; tuoi tre.com; vietnamexpress.com; thanh nien.com ” đã đăng rất nhiều bài báo viết về việc mua bán trái phép thông tin của NTD trên mạng, về tình trạng thông tin khách hàng chưa

Trang 9

được bảo vệ thỏa đáng Những bài báo này chỉ mang tính chất đưa thông tin đến người đọc mà không mang tính chất nghiên cứu sâu.

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các vấn đề lý luận cũng như thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD thực sự cần thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn

1.3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài đặt ra mục đích nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ quyền lợi của NTD Trên cơ sở đó đưa ra một sổ kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật liên quan đến thông tin của NTD, giúp NTD bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Bên cạnh mục đích nghiên cứu đã nêu trên việc nghiên cứu đề tài này còn nhằm mục đích: Cung cấp tài liệu cho sinh viên, học viên nghiên cứu vấn đề quyền của NTD và trách nhiệm của thương nhân đối với NTD một nội dung quan trọng của môn học Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Trường Đại học Luật Hà Nội

và một số cơ sở đào tạo khác

Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản làm cơ sở xác định quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD

- Nghiên cứu nội dung pháp luật về các quyền liên quan đến thông tin của NTD ở Việt Nam

- Nghiên cửu thực tiễn thực thi pháp luật về quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD ở Việt Nam

- Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài trong việc thừa nhận và bảo đảm thực hiện quyền liên quan đến thông tin của NTD để Việt Nam tham khảo

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu, trong khi thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã sử dụng rộng rãi các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:

- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Trang 10

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cá nhân

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thống kê

1.5 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, đề tài này không

có tham vọng nghiên cứu tất cả các khía cạnh chính trị, kinh tế ảnh hưởng đến quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD mà tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền liên quan đến thông tin của NTD Mặt khác nghiên cứu pháp luật một số nước về quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin từ đó làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.6 Lực lượng tham gia nghiên cứu đề tài

Các cộng tác viên tham gia nghiên cứu đề tài là những giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội, các nhà khoa học thuộc các cơ quan nghiên cứu như: Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Viện Nhà nước và Pháp luật Ngoài ra còn có chuyên viên của Cục Quản lý cạnh tranh và chuyên gia của Văn phòng CUTS Hà Nội Đó

là những người có nhiều năm làm công tác giảng dạy, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực bảo vệ NTD ở Việt Nam (có danh sách kèm theo)

1.7 Quá trình nghiên cứu

Sau khi ký hợp đồng nghiên cứu khoa học với Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên đã thống nhất cách thức thực hiện đề tài và phân công nghiên cứu các chuyên đề cụ thể Đề tài được đánh giá là khó, hầu như không có tài liệu tham khảo nên các cộng tác viên cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình triển khai nghiên cứu Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, Chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên thường xuyên trao đổi với nhau để cùng làm rõ những vấn đề còn khúc mẳc

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành thu thập tài liệu

và thực hiện nhiều cuộc khảo sát Thứ nhất, khảo sát bằng việc phát 650 phiếu trưng

cầu ý kiến của nhiều đối tượng như, học viên tại chức học tại một số tỉnh thành của

3 miền đất nước (miền Bắc, miền Trung, miền Nam), cán bộ, giảng viên công tác tại

Trường Đại học Luật Hà N ội Thứ hai, phỏng vấn thăm dò ý kiến của một số cán

bộ Ban bảo vệ NTD của Cục quản lí cạnh tranh, một số chuyên gia pháp luật của Bộ

Trang 11

Tư pháp, Viện Nhà nước và pháp luật và một số hội viên của Hội Tiêu chuẩn và bảo

vệ NTD Việt Nam Trên cơ sở tài liệu thu thập và kết quả khảo sát, các cộng tác viên tiến hành viết chuyên đề của đề tài

2.1.1 Khái niệm về người tiêu dùng và các quyền của người tiêu dùng

Dưới giác độ kinh tế, NTD (consumer) là một khái niệm chỉ những chủ thể

tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế NTD là người mua nhưng khác với

việc mua nguyên liệu hoặc mua hàng để bán lại, họ là những người sử dụng hàng hỏa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó Dưới giác độ này, khái niệm NTD khác xa so với khái niệm người mua hàng (customer) Khái niệm người mua hàng rộng hơn so với khái niệm NTD, người mua hàng là bất cứ ai mua hàng hóa, dịch vụ nhằm bất cứ mục đích gì Dưới giác độ kinh tế, NTD là mọi chủ thể (cá nhân, tổ chức) tiêu thụ hàng hóa cho mục đích tiêu dùng không phải cho mục đích kinh doanh kiếm lời

Dưới giác độ pháp lý, việc xác định chủ thể nào là NTD rất quan trọng vì đó là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD Khái niệm NTD chỉ xuất hiện với tu cách là chủ thể pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ NTD ra đ ờ i'.Theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ thể luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân bán hàng hóa, dịch vụ Sở dĩ, NTD được ưu tiên so với thương nhân trong quan hệ tiêu dùng bởi họ có nhiều yếu thế hơn như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yểu về khả năng đàm phán khi giao kết hợp đồng, yếu về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dủng Bởi vậy, dưới giác độ pháp lý việc xác định chủ thể nào là NTD và là đối tượng được bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD có vai trò vô cùng quan trọng

Luật pháp của đa số các nước trên thế giới quy định, NTD chỉ là các cá nhân

và không coi tổ chức là NTD Các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức

1 Đại học Luật Hà N ội, Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD , Nxb Công an nhân dân, 2012, tr 8

Trang 12

tham gia mặc dù đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng sẽ được bảo

vệ theo pháp luật hợp đồng chứ không được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD2

Ở Việt Nam, khái niệm NTD được thừa nhận trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 và tiếp tục ghi nhận trong Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm

2010 Hai văn bản pháp luật này đều quy định: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.Như vậy có thể thấy, so với pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam có sự mở rộng hon Ngoài đối tượng là các cá nhân được pháp luật bảo vệ như thông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam còn coi các tổ chức cũng là NTD khi tổ chức đó mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng

Hiện nay, việc xác định tổ chức nói chung và thương nhân nói riêng có được coi là NTD hay không là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng khi tổ chức (trong đó có thương nhân) mua hàng hóa không nhằm mục đích bán lại được coi là NTD Có ý kiến phản đối cho rằng trong mọi trường hợp thương nhân mua hàng hóa, dịch vụ đều là những hành vi thương mại phụ thuộc, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của thương nhân nên đều phải được điều chỉnh theo pháp luật hợp đồng thương mại chứ không được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD3 Nhóm tác giả nghiên cứu đề tài này đồng tình với ý kiến thứ 2, do đó theo chúng tôi NTD chỉ là cá nhân và tổ chức không có chức năng kinh doanh Đặc biệt, đề tài tập trung nghiên cứu về các quyền liên quan đến thông tin trong công tác bảo vệ NTD nên NTD mà đề tài tập trung nghiên cứu là các cá nhân

Trên thế giới, vấn đề bảo vệ NTD bắt đầu được quan tâm sau chiến tranh thế giới thứ hai khi đó đã xuất hiện ý tưởng cần thiết phải bảo vệ NTD chống lại các hành vi lừa dối, gây nhầm lẫn, lạm dụng NTD đảm bảo sự an toàn cho người NTD khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ4 Điều này được chứng minh bằng sự ra đời và phát triển của Quốc tế NTD (CI) Năm 1960, tiền thân cửa CI là Liên hiệp các tổ chức quốc tế NTD (IOCU - International Union o f Consumers Association) được thành lập với 5 thành viên ban đầu của 5 nước (Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Mỹ) Đến nay, CI

2 Đại học Luật Hà N ội, Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, Nxb Công an nhân dân, 2012, tr 11

3 Trường Đại học Luật Hà N ội, Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, trl4

4 Nguyễn Thị Vân Anh, đề tài nghiên cứu khoa hoc cấp trường 2010: “Nghiên cứu vai trò của Hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ NTD ở Việt Nam hiện nay”, tr 42

Trang 13

có 267 thành viên ở 123 nước và vùng lãnh thổ Ngay từ những ngày đầu thành lập

CI đã đưa vào trong hoạt động tuyên truyền, vận động chính sách của mình về việc đấu tranh bảo vệ các quyền của NTD

Sau đó, với sự nỗ lực của CI, năm 1985, Liên Hiệp quốc ban hành “Bản hướng dẫn về bảo vệ N TD ” kèm theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số A/RES/39/248 ngày 16/4/1985 trong đó đã ghi nhận 8 quyền của NTD

Đó là các quyền:

- Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản

- Quyền được an toàn

- Quyền được thông tin

- Quyền được lựa chọn

- Quyền được lắng nghe

- Quyền được khiếu nại và bồi thường

- Quyền được giáo dục và đào tạo về tiêu dùng

- Quyền được có môi trường sống lành mạnh, bền vững

Ở Việt Nam, ngay khi ban hành Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 đã ghi nhận những quyền cơ bản của NTD thể hiện trong bản Hướng dẫn bảo vệ NTD của LHỌ năm 1985 Tuy nhiên, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 mới chỉ nêu tên các quyền của NTD mà chưa quy định rõ ràng cụ thể biểu hiện của các quyền cơ bản này nên gây hạn chế trong việc đưa ra các quy định để thực hiện các quyền này trên thực tế

Sau Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999, Luật chất lượng hàng hóa năm 2006 cũng đề cập tới 3 quyền của NTD trong lĩnh vực chất lượng hàng hóa Đó

là quyền được cung cấp thông tin, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền được đại diện thông qua tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD

Để khắc phục những hạn chế về quyền của NTD trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và trong các luật chuyên ngành trước đó, Điều 8 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 đã quy định tương đối rõ ràng các quyền cơ bản của NTD căn cứ vào hướng dẫn của LHQ theo đó, NTD có các quyền sau:

- Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp

Trang 14

- Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa: được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà NTD đã mua, sử dụng.

- Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

- Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật

có liên quan

- Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.Như vậy có thể thấy, Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 của Việt Nam đãghi nhận gần đủ và tương đối rõ ràng về các quyền của NTD theo bản hướng dẫn bảo vệ NTD của LHQ

Mặc dầu các quy định về quyền của NTD là những quy định khi đọc thấy rất chung chung mang tính nguyên tắc nhưng các quy định đó là tiền đề, là vấn đề quan trọng nhất của pháp luật bảo vệ NTD vì việc xác định các quyền của NTD là cơ sở pháp lý cốt lõi để định hướng cho quá trình xây dựng các văn bản pháp luật, các đạo luật chuyên ngành, các chính sách liên quan đến NTD nhằm bảo đảm cho các quyền của NTD được thực hiện trên thực tế Đồng thời việc xác định các quyền của NTD có ảnh hưởng trực tiếp đến các quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đổi với NTD cũng như trách nhiệm của các thiết chế bảo vệ

Trang 15

NTD Mặt khác, các quy định về quyền của NTD cũng là tiền đề để thương nhân

cụ thể hóa trách nhiệm của mình trong các quy tắc hoạt động cũng như các cam kết của mình đối với NTD

Trong sổ 8 quyền của NTD, quyền được tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ mà họ cung ứng có vai trò rất quan trọng đối với NTD cũng như đối với sự phát triển bền vững của xã hội

Ngoài quyền được cung cấp thông tin khi NTD tham gia giao dịch với thương nhân thì những thông tin cá nhân của NTD đã cung cấp cho thương nhân cũng cần phải được bảo vệ tránh bị thương nhân hoặc bên thứ ba sử dụng vào mục đích không chính đáng ảnh hưởng đến quyền lợi của NTD

2.1.2 Vai trò của thông tin trong quan hệ tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường

Theo lý luận về kinh tế thị trường của kinh tế học hiện đại NTD là một chủ thể quan trọng trên thị trường và cũng là một chủ thể quan trọng của nền kinh tế thị trường (bên cạnh các chủ thể khác đó là các thương nhân, các cơ quan quản lý nhà nước v.v) Họ chính là đối tượng phục vụ cuối cùng và cao nhất của các doanh nghiệp trong nền kinh tế NTD thực hiện việc bỏ phiếu bằng tiền để chọn lựa và quyết định việc cho phép doanh nghiệp nào tiếp tục tồn tại trên thị trường, nên được

cổ vũ để phát triển và doanh nghiệp nào nên bị loại khỏi thị trường5 Khi ấy, các nhà kinh tế thường coi NTD đang ở vị thế có chủ quyền đổi với thị trường hay còn gọi

là «chủ quyền của NTD» (consumer sovereignty) NTD là chủ thể quan trọng mà các doanh nghiệp hướng tới trong quá trình cạnh tranh trên thị trường Doanh nghiệp thắng được trong cạnh tranh là doanh nghiệp lôi kéo được nhiều NTD về phía mình

Mức độ cạnh tranh thường bị ảnh hưởng bởi phạm vi NTD có thể chủ động tham gia vào thị trường NTD chỉ có thể chủ động tham gia vào thị trường nếu: (i)

Họ được trang bị đầy đủ thông tin về các hàng hóa, dịch vụ, nhà cung cấp, và công nghệ đang sẵn có trên thị trường; (ii) Họ có thể so sánh giữa các dịch vụ, hàng hóa

đó về giá cả và chất lượng; (iii) Họ có thể dễ dàng tìm kiếm những hàng hóa, dịch

vụ và công nghệ mới; (iv) Họ có thể dễ dàng chuyển sang sử dụng hàng hóa, dịch

vụ của nhà cung cấp mà họ thấy hài lòng hơn

5 Paul A Samuelson & NVilliam D Nordhaus, Kinh tế học, bản dịch (Hà Nội: NXB Thống Kê,

2002) tr 95.

Trang 16

NTD chỉ có thể chủ động thực hiện các hoạt động nói trên nếu họ nắm được các thông tin về hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Có thể thấy, trong quan hệ mua bán hàng hóa giữa NTD với thương nhân, thông tin là một yếu tổ vô cùng quan trọng Bởi thực chất tương tác cung cầu trong nền kinh tế thị trường chính là chuỗi các quyết định của nhà sản xuất, nhà phân phối và của NTD trên thị trường Các quyết định này đều liên quan tới thông tin và đều dựa trên nền tảng thông tin mà các chủ thể tham gia tương tác (doanh nghiệp, NTD v.v.) có được Mặt khác, bản thân các tương tác này đều là các quá trình trao đổi thông tin Thiếu quá trình trao đổi thông tin, «cung» (bên bán) và «cầu» (bên mua) không thể biết tới nhau và không thể gặp nhau6.

Trong quan hệ mua bán giữa NTD và thương nhân bên mua (NTD) cần bên bán (thương nhân) cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin về hàng hóa, dịch vụ

mà mình có nhu cầu mua Khi cân nhắc quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ, NTD thường cân nhắc các chi phí/lợi ích của việc mua sắm này Đó là các loại chi

phí/lợi ích như sau:7 Lợi ích về sản phẩm; Lợi ích về hình ảnh, thẩm mỹ của sản

phẩm; Lợi ích về dịch vụ đi kèm; Lợi ích về con người (sản phẩm có tôn đẳng cấp của NTD lên hay không V.V.); Chi p h ỉ tiền bạc; Chi p h í thời gian; Chi p h í năng lượng; Chi p h í về tâm lý (sự thuận tiện, thoải mải khỉ sử dụng, tiêu dùng sàn phẩm/dịch vụ).

Có thể nói, những yếu tố kể trên sẽ ưở nên không còn nhiều ý nghĩa khi NTD thiếu các thông tin cần thiết về những yếu tố đó Thông tin chính là yếu tố thiết yếu giúp NTD trở thành NTD thông thái và sự thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch

cũng khiến cho quyền lợi của NTD bị xâm hại Thông tin là một yếu tổ đầu vào của

quá trình ra qicyết định của NTD Mất cân bằng đáng kể về thông tin trong giao

dịch với thương nhân sẽ ngăn cản NTD tự tin khi tham gia vào thị trường và làm biến dạng kết quả thị trường

Thông tin không đầy đủ, không phù hợp, và đôi khi gây nhầm lẫn ở các phân đoạn khác nhau trong quan hệ giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và NTD là một

6 Thực chất, để tham gia thị trường, không chì NTD cần thông tin từ doanh nghiệp mà bản thân các doanh nghiệp cũng cần thông tin về NTD để có thể thiết kế sản phẩm và các chương trình tiếp thị (marketing) phù hợp.

7 Philip Kotler and Kevin Lane Keller, Marketing Management, 14th ed (Boston: Pearson, 2012) at

147.

Trang 17

nguyên nhân quan trọng dẫn đến nhiều vụ khiếu nại của NTD ở bất cứ một thị trường nào Thiếu thông tin cũng ngăn NTD chuyển đổi giữa các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, và là một trong những nguyên nhân làm chất lượng phục vụ khách hàng kém trong nhiều lĩnh vực v ấ n đề này càng trầm trọng trong bối cảnh các hàng hóa, dịch vụ được cung cấp trên thị trường đang ngày càng đa dạng và phức tạp, trong khi những NTD thông thái nhất cũng chỉ có hiểu biết chuyên sâu, hay nắm giữ thông tin đáng kể trong một hoặc vài ngành.

Trong quá trình bán hàng cho NTD trong nền kinh tế thị trường, để giành được lợi thế, các nhà cung cấp phải phục vụ tốt nhất cho các khách hàng của mình Khi đó, NTD luôn được khuyến khích phải cung cấp càng nhiều thông tin về mình hơn càng thuận lợi hơn cho việc tư vấn lựa chọn sản phẩm phù hợp nhất với họ Sự

đa dạng trong nhu cầu của con người cũng như trong sự phát triển của các loại hình hàng hóa, dịch vụ cũng như sự phát triển của các phương tiện giao dịch điện tử càng làm cho việc khai thác thông tin khách hàng trở nên cần thiết nhưng cũng phức tạp,

đa dạng hơn Tập hợp tất cả các dữ liệu về NTD do nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ thu thập và quản lý trong quá trình thực hiện giao dịch với khách hàng hoặc qua

khảo sát được gọi là thông tin cá nhân của NTD hay thông tin về NTD Các thông

tin của NTD được thu thập và lun trữ bởi các doanh nghiệp trong quá trình xác lập giao dịch với NTD hoặc qua các khảo sát thị trường của họ, có thể bao gồm những thông tin cá nhân như sổ điện thoại, địa chỉ nhà riêng, số bảo hiểm xã hội, số chứng minh nhân dân, thói quen mua sắm hay các thông tin tài chính cá nhân như thông tin tài khoản ngân hàng, số thẻ tín dụng hoặc các thông số khác như: thời gian xem hàng hóa dịch vụ Online, các trang web ưa thích

Những thông tin khách hàng đã thu thập được lưu trữ, quản lý có thể cho phép doanh nghiệp một mặt đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trong một giao dịch trước mắt nhưng mặt khác nó cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận với khách hàng cũ của mình thông qua việc khai thác cơ sở dữ liệu khách hàng sẵn có Lưu trữ thông tin khách hàng chính là một phương thức để duy trì mối quan hệ bạn hàng ổn định cho nhà cung cấp đối với khách hàng truyền thống, bảo đảm giữ vững thị phần của họ một cách tiết kiệm Thay vì phải mở rộng quảng bá thương hiệu, tiếp thị sản phẩm, doanh nghiệp chỉ cần dò tìm trong cơ sở dữ liệu sẵn

có và liên lạc với khách hàng cũ Đồng thời, để mở rộng thị phần, doanh nghiệp

Trang 18

cũng cân điêu tra, thu thập thông tin đê đánh giá được thị hiếu, khuynh hướng mua sắm của khách hàng để từ đó có những điều chỉnh thích họp hoạt động kinh doanh của mình hướng tới những khách hàng tiềm năng Bởi vậy, trong con mắt của nhiều nhà doanh nghiệp, thông tin về NTD chính là một thứ tài sản quan trọng phục vụ cho các chiến lược marketing của họ Chính vì thế, thông tin về NTD luôn là một trong những nguồn tài nguyên mà không ít doanh nghiệp mong muốn có được để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.

2.1.3 Sự cần thiết phải quy định quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

Như phần trên đã trình bày, việc thương nhân cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD là nhu cầu cần thiết đối với NTD nhưng mặt khác, việc cung cấp thông tin cho NTD cũng là một nhu cầu mang tính chất tự thân của các thương nhân khi tham gia thị trường Chính vì vậy, pháp luật các nước thường quy định thông tin cho NTD và quảng cáo sản phẩm hàng hóa/dịch vụ là quyền của các doanh nghiệp khi tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho thị trường.8

Tuy nhiên, do quan hệ giữa thương nhân với NTD không luôn là quan hệ đồng thuận về lợi ích Do vậy, không phải lúc nào tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng mong muốn cung cấp mọi thông tin cần thiết cho NTD Chẳng hạn, các thông tin

mà tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp thường chỉ là những thông tin “tốt” đối với họ trong khi các thông tin “không tốt” (ví dụ: những thông tin về rủi ro tiềm ẩn

,r

khi sử dụng sản phẩm v.v.) thường không được cung cấp Do vậy, từ góc độ của NTD, khi tham gia thị trường, họ thường đối mặt với 2 thái cực: họ được cung cấp quá nhiều thông tin tốt về sản phẩm hàng hóa/dịch vụ (hoặc về tổ chức, cá nhân kinh doanh) trong khi họ lại không được cung cấp các thông tin về những mặt trái, những nguy cơ tiềm ẩn khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ Nói cách khác, đó là thái cực của tình trạng “thừa thông tin tốt” và tình trạng “thiểu thông tin cần thiết”

Đây chính là cơ sở thực tế mà pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD thường can thiệp để buộc các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết mà NTD quan tâm Các biện pháp được pháp luật sử dụng để bảo vệ NTD chính là: (i) Buộc các thương nhân kinh doanh phải ghi các thông tin cần thiết

8 Điều 103 Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam Xin xem thêm các quy định về quảng cáo trong Luật Quảng cáo năm 2012; các quy định về nhãn hàng hóa trong Nghị định số 89/2006/NĐ-

CP ngày 30/8/2006.

Trang 19

về hàng hóa trên nhãn sản phẩm của mình; (ii) Các nhà sản xuất, nhà phân phổi phải cung cấp các bản hướng dẫn sử dụng sản phẩm, trong đó có những lời cảnh báo cần thiết; (iii) Thương nhân phải niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ; (iv) cấm việc cung cấp thông tin, quảng cáo sai lệch cho NTD của tổ chức, cá nhân kinh doanh (nhà sản xuất, doanh nghiệp bán hàng V.V.) Ngoài ra, pháp luật còn quy định việc chủ động giáo dục, thông tin cho NTD từ phía các cơ quan nhà nước9.

Việc quy định và bảo đảm thực hiện đủng và đầy đủ quyền được thông tin của NTD (và cũng là nghĩa vụ cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh và của các chủ thể có liên quan khác) sẽ góp phần giúp cho NTD có điều kiện thực tế

để trở thành NTD thông thái Việc quy định và bảo đảm đúng và đầy đủ quyền được thông tin của NTD cũng chính là một trong những cách thức bảo đảm cho nền kinh

tể thị trường vận hành lành mạnh và theo đúng quy luật vốn có của nó

2.1.4 Sự cần thiết phải ghi nhận quyền bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng

Như phần trên đã trình bày, để thực hiện hoặc hướng tới thực hiện các hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ cho NTD, thương nhân cần thiết phải thu thập và quản

lý các thông tin cá nhân của NTD thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu cá nhân khách hàng Công việc này đem lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp và nhìn chung thì cơ sở dữ liệu khách hàng thường được các doanh nghiệp bảo mật một cách chặt chẽ Tuy nhiên, vấn đề trọng tâm của tất cả các doanh nghiệp chính là lợi nhuận, do

,r

đó họ sẽ không thể chi tiêu một cách vô hạn định cho công tác bảo mật thông tin khách hàng, ngoài ra, cạnh tranh không phải lúc nào cũng được duy trì một cách tuyệt đối, các doanh nghiệp vẫn thường có xu hướng liên kết, hợp tác hoặc thỏa hiệp, chia sẻ tài nguyên thông tin để cùng thu được lợi nhuận cao hom Do đó, trong quá trình kinh doanh, dữ liệu cá nhân của NTD có thể rò rỉ, bị thương nhân sử dụng sai mục đích hoặc cung cấp cho bên thứ ba dẫn đến các hành vi quấy rối NTD hoặc lừa đảo trong thương mại đặc biệt là thông qua hoạt động bán hàng Online đem lại những bất lợi cho NTD trong cuộc sống của họ Việc tiết lộ hay chia sẻ thông tin này cũng có thể bị lợi dụng bởi những kẻ xấu nhằm bôi nhọ danh

9 lain Ramsay, Consumer Law and Policy: Text and Materials on Regulating Consumer Markets,

2 nd ed (Oxíòrd: Hart Publishing, 2007) page 119-124.

Trang 20

dự khách hàng hoặc đánh cắp tài sản của họ thông qua việc sử dụng các thông số tài khoản hoặc thẻ tín dụng, thẻ mua hàng của họ.

Chúng ta đều biết, cơ sở dữ liệu cá nhân của NTD được hình thành chủ yếu từ

sự tin cậy của khách hàng trong quan hệ đối với thương nhân, bởi vậy, việc chia sẻ

thông tin khách hàng giữa các doanh nghiệp được xem là bội tín với khách hàng

Tuy nhiên vấn đề cốt yếu của việc tiết lộ hoặc chia sẻ thông tin khách hàng, kể cả thông tin tốt, mà không được sự đồng thuận của họ chính là vi phạm quyền riêng tư của NTD

Quyền riêng tư của NTD là một khía cạnh của quyền riêng tư (right to

privacy) của con người Quyền này đến nay đã được thừa nhận rộng rãi là một

quyền con người, được pháp luật các quốc gia và quốc tế bảo vệ Tuyên ngôn Quốc

tế Nhân quyền (UDHR) khẳng định: "không ai phải chịu sự can thiệp một cách tựỳ

tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyển được pháp luật bảo vệ chổng lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy"10 Quyền riêng tư được tái khẳng định trong

Điều 17 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR 1966) Điều luật này ngăn chặn những hành vi xâm phạm tùy tiện và bất hợp pháp vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự, uy tín của mọi người mà có thể do các quan chức nhà nước hay do những chủ thể khác gây ra (đoạn 1) Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực thi việc ngăn chặn những hành động xâm phạm tùy tiện và bất hợp pháp như vậy bởi các quan chức, cá nhân, tổ chức khác (đoạn 9)

Bảo vệ quyền riêng tư đối với thông tin cá nhân của con người thường được

các quốc gia quy định thành pháp luật bảo vệ dữ liệu cả nhân (personal data

protection) hay còn gọi là bảo vệ bỉ mật đời tư (personal confìdence).

v ề phạm vi, bảo vệ dữ liệu cá nhân hẹp hơn việc bảo vệ quyền riêng tư ở chỗ

dữ liệu cá nhân chỉ liên quan đến việc thu thập và sử dụng các thông tin cá nhân mà không bao gồm các quyền về tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm về nơi ở Bảo

vệ dữ liệu cá nhân khởi đầu dùng để chỉ việc bảo vệ dữ liệu có liên quan đến cá nhân trước sự lạm dụng Bảo vệ dữ liệu cá nhân dựa trên nguyên tắc mỗi người đều

có quyền tự quyết định là ai, khi nào và dữ liệu cá nhân nào của mình được phép cho người khác xem Tầm quan trọng của việc bảo vệ dữ liệu cá nhân đã tăng liên

10 Điều 12, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người 1948

Trang 21

tục từ khi kỹ thuật số phát triển vì thu thập, lưu trữ, giao chuyển và phân tích dừ liệu ngày càng đơn giản, dễ dàng Công nghệ internet, thư điện tử, điện thoại di động, giám sát bằng video và các phương pháp thanh toán điện tử tạo nên những khả năng mới để thu thập dữ liệu.

Bảo vệ thông tin của NTD là một bộ phận của lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân

Tuy nhiên, phạm vi của bảo vệ dữ liệu cá nhân rộng hơn, nó không bị giới hạn bởi các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng mà còn cả những lĩnh vực không liên quan đến thương mại Như vậy, có thể thấy quyền bảo vệ thông tin của NTD, có cơ sở từ quyền riêng tư của con người từ quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân.Bảo vệ thông tin NTD là một phần của bảo vệ quyền riêng tư của con người

và là nhiệm vụ của nhiều lĩnh vực như đạo đức, pháp luật Kinh nghiệm quốc tế cho thấy bảo vệ thông tin của NTD chủ yếu được đặt trong nhóm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân mà chưa được đề cập trực tiếp trong Luật bảo vệ NTD Nhóm tác giả nghiên cứu đề tài thấy rằng, pháp luật của Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malayxia, Indonexia chủ yểu quy định việc bảo vệ dữ liệu cá nhân thông qua các quy định của Hiến pháp, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự Riêng Malayxia là quốc gia đầu tiên trong khu việc Đông Nam Á đã thông qua và bắt đầu thực thi Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2010 (mục tiêu chính của Luật này là việc xử lý dữ liệu cá nhân, bảo đảm

bí mật thông tin cá nhân trong các giao dịch thương mại đảm bảo lợi ích chính

■5đáng của các cá nhân đó bởi bên sử dụng dữ liệu cá nhân là các thương nhân) Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh của Việt Nam, chúng ta chưa cỏ đủ điều kiện để ban hành riêng một đạo luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân Vì vậy, việc bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng đã được quy định trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

là hểt sức cần thiết

Từ những phân tích trên cho thấy, quyền được cung cấp thông tin và quyền được bảo đảm thông tin của NTD là những quyền mang tính chất tự nhiên, thiết yếu của con người trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, những quyền năng ấy không

tự nhiên được đảm bảo nếu chỉ dựa vào sự vận hành tự phát của nền kinh tế thị trường Những quyền năng này phải được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thông qua các quy định ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể có liên quan như các nhà sản xuất, các nhà phân phối, các phương tiện truyền thông, các cơ quan quản lý và bản

Trang 22

thân NTD Việc đảm bảo quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của NTD đều nhằm đảm bảo lợi ích cho NTD đồng thời đem lại lợi ích cho tổ chức, cá nhân kinh doanh và đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội.

2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền được cung cấp thông tin và bảo

vệ thông tin của người tiêu dùng

2.2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng

2.2.1.1 Khải quát quá trình phát triển quy định về quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng ở Việt Nam

Bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam nói chung và bảo vệ quyền được cung cấp thông tin cho NTD nói riêng là vấn đề còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam và chỉ thực sự được quan tâm khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD ra đời năm 1999

* Trước năm 1999, nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua hàng đã được đề cập trong Luật thương mại 1997 và Bộ luật dân sự 1995 Các quy định này còn khá chung chung, mang tính nguyên tắc và không có biện pháp đảm bảo thực hiện trên thực tế Hai văn bản này đều không quy định rõ thương nhân hay bên bán phải cung cấp những thông tin gì, bằng phương thức nào và vào thời điểm nào cho người mua hàng

* Từ năm 1999 đến năm 2010

Quyền được cung cấp thông tin của NTD lần đầu tiên được quy định cụ thể tại một văn bản pháp luật, đó là Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 Điều 11

Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD quy định, NTD có quyền được cung cấp các thông

tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hoá, dịch vụ trước

và trong khi giao dịch với thương nhân Điều 15 của Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp

thông tin cho NTD Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch

vụ phải thông tin, quảng cáo chính xác và trung thực về hàng hoá, dịch vụ; niêm yết

giá hàng hoả, dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hoá, dịch vụ của mình cho NTD.

Bên cạnh những quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999, quyền được cung cấp thông tin của NTD với tư cách là người mua hàng cũng được

trung tẩm thông tin thư viện í

Trang 23

đề cập gián tiếp trong quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về Nghĩa vụ cung cấp

thông tin và hirớng dẫn cách sử dụng của bên bán (Điều 442).

* Từ năm 2010 đến nay

Ngày 17/11/2010 Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã được Quốc hội nước ta thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2011 Luật bảo vệ quyền lợi NTD và Nghị định 99/2011/ND-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật này tiếp tục khẳng định NTD có quyền được cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà mình mua hoặc sử dụng đồng thời Luật cũng quy định nhiều nội dung liên quan đến việc bảo đảm quyền được cung cấp thông tin của NTD như: xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh; trách nhiệm của các

cơ quan truyền thông (của bên thứ ba); chế tài xử lý hành vi vi phạm quyền được cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của NTD

Ngoài những quy định tại Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010, một số văn bản pháp luật trong các lĩnh vực chuyên ngành cũng có một số quy định liên quan đến quyền được cung cấp thông tin của NTD như: Luật cạnh tranh năm 2004; Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi năm 2010); Luật quảng cáo năm 2012; Luật bưu chính năm 2010; Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, Luật giá năm 2012

2.2.1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền được cung

•s

cấp thông tin của người tiêu dùng

Pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền được cung cấp thông tin của NTD tập trung quy định các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, quy định một các khái quát về quyền được cung cấp thông tin

của NTD

Điều 8 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 quy định về các quyền của NTD trong đó quyền được cung cấp thông tin của NTD được quy định tại khoản 2 điều này Theo đó, NTD được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất

xứ hàng hoá; được cung cấp hoá đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà NTD đã mua, sử dụng Theo quy định này, NTD được cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ về 3 vấn đề cơ bản là: (1) Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; (2) Đối tượng của giao dịch

Trang 24

hàng hóa, dịch vụ (trong đó có thông tin như nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, các thông tin khác liên quan đến đối tượng giao dịch) và (3) Nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ (bao gồm các quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh, của NTD và của các bên có liên quan).

Thứ hai, quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc

cung cấp thông tin cho NTD

Trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin cho NTD của thương nhân thể hiện trong cả giai đoạn trước khi giao dịch và trong khi giao dịch với NTD

Trước khi giao dịch với NTD, theo Điều 12 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010, thương nhân có những nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho NTD như sau:

- Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật

- Niêm yết công khai giá hàng hoá, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ

- Cảnh báo khả năng hàng hoá, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của NTD và các biện pháp phòng ngừa

- Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hoá

- Thông báo chính xác, đầy đủ cho NTD về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch

Trong khi giao dịch với NTD, thương nhân phải có trách nhiệm:

- Việc ghi nhãn hàng hóa được quy định chi tiết tại Nghị định số 89/2006/NĐ-CP của Chính phủ về nhãn hàng hóa

Trang 25

- Việc niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ được quy định cụ thể trong Luật giá năm 2012.

- Việc cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ có bảo hành và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được quy định cụ thể tại Điều 21 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010

- Để bổ sung cho nghĩa vụ phải thông báo chính xác, đầy đủ cho NTD về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch, Điều 7 Nghị định 99/2011/ND-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi NTD ngày 27/10/2011 đã đưa ra các yêu cầu về hình thức, về ngôn ngữ mà hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung cần được đáp ứng

Thứ ba, quy định về trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin

về hàng hóa, dịch vụ cho NTD

Trong giao dịch với thương nhân, NTD tiếp cận với thông tin về hàng hóa, dịch vụ từ nhiều nguồn khác nhau mà một kênh quan trọng là qua các hoạt động quảng cáo, tuyên truyền được thực hiện bởi bên thứ ba là các cơ quan truyền thông Những thông tin do các chủ thể thứ ba (doanh nghiệp quảng cáo, đài truyền hình, đài phát thanh, công ty truyền thông ) giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp cho NTD có thể bị sai lệch, gây nhầm lẫn cho NTD Nhằm bảo vệ tối đa quyền được cung cấp thông tin của NTD, ngăn chặn khả năng bên thứ ba né tránh trách nhiệm, Luật bảo vệ quyền lợi NTD và Luật quảng cáo đã quy định về “Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD” Theo đó, bên thứ ba là bên cung cấp thông tin về hàng hóa dịch vụ của nhà cung cấp cho NTD (có thể thương nhân kinh doanh, có thể chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông) phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm: (i) Bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hoá, dịch vụ được cung cấp; (ii) Yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ cung cấp chứng cứ chứng minh tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hoá, dịch vụ; (iii) Chịu trách nhiệm liên đới về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ, trừ trường hợp chứng minh đã thực hiện tất cả biện pháp theo quy định của pháp luật để kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ; (iv) Tuân thủ các

Trang 26

quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về quảng cáo; (v) Tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về quảng cáo; (vi) Xây dựng, phát triển giải pháp

kỹ thuật ngăn chặn việc phương tiện, dịch vụ do mình quản lý bị sử dụng vào mục đích quấy rối NTD; (vii) Từ chối cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ

sử dụng phương tiện, dịch vụ do mình quản lý nếu việc sử dụng có khả năng dẫn đến quấy rối NTD; (vii) Ngừng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ

sử dụng phương tiện, dịch vụ do mình quản lý để thực hiện hành vi quấy rối NTD theo yêu cầu của NTD hoặc yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Thứ tư, quy định về chế tài và thiết chế xử lý đối với hành vi vi phạm pháp

luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD

Trong pháp luật bảo vệ NTD ở các quốc gia trên thế giới, chế định về xử lý các loại hành vi thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn đối với NTD (trong đó có việc quảng cáo gian dối và các loại hình thông tin gian dối, thiếu trung thực, gây nhầm lẫn khác) luôn được coi là một trong những chế định cơ bản của pháp luật về bảo vệ NTD (bên cạnh các chế định về hợp đồng tiêu dùng, trách nhiệm sản phẩm v.v.).11

Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã có các quy định về chế tài hành chính

và chế tài hình sự xử lý hành vi vi phạm của thương nhân trong việc vi phạm quyền được cung cấp thông tin của NTD Nghị định 19/2012/ND-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD đã quy định chế tài đối với hành vi

,r

quảng cáo lừa dổi NTD và các hành vi vi phạm của thương nhân, của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD như không cảnh báo khả năng hàng hỏa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của NTD và các biện pháp phòng ngừa, không cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện, thay thế của hàng hóa, che dấu, cung cấp không đầy đủ, sai lệch không chính xác cho NTD về các thông tin liên quan đến hàng hóa, đến uy tín, khả năng kinh doanh của thương nhân Theo đó hành vi quảng cáo lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho NTD sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, nếu

tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm không cung cấp thông tin cho NTD sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng còn bên thứ ba nếu vi phạm sẽ bị

11 Xem: August Horvath, et.a! (eds.), Consumer Protection Law Developm ents (ABA, 2009) at 1- 191; cũng xem: lain Ramsay, Consumer Law and Policy: Text and M aterials on Reguìating

Consumer Markets, 2nd ed (Oxíòrd: Hart Publishing, 2007) at 267-452.

Trang 27

phạt tiền từ 10.000.000 đến 30.000.000 đồng Ngoài ra bên vi phạm còn phải chịu các hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề và các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc cải chính công khai, buộc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho NTD.

Những dạng hành vi thông tin gian dối, nhầm lẫn đó đều bị coi là những hành

vi không chỉ xâm phạm trực tiếp quyền lợi của NTD mà còn là những hành vi xâm phạm trật tự công cộng Chính vì thế, các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD (chẳng hạn: ủ y ban thương mại liên bang Hoa Kỳ - us FTC; Văn phòng thương mại công bằng - OFT của Anh v.v.) đều được trao thẩm quyền điều tra, xử lý các doanh nghiệp có hành vi vi phạm quy định về thông tin, quảng cáo gian dối, sai lệch cho NTD

Ở nước ta hiện nay, các thiết chế có thẩm quyền xử lý các hành vi đưa thông tin gian dổi, sai lệch cho NTD khá đa dạng, trong đó phải kể tới ỉực lượng quản lý thị trường, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD ở Trung ương (Cục Quản lý cạnh tranh) và cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD ở địa phương (ủ y ban nhân dân các cấp) v.v Cụ thể, theo quy định tại Điều 27, 28, 29 Nghị định số 19/2012/NĐ-CP, Cục trưởng Cục quản lý cạnh tranh có thể xử phạt ở mức tối đa (đối với mỗi hành vi vi phạm) là 70 triệu đồng;12 Chủ tịch UBND cấp tỉnh cũng có thể xử phạt ở mức tối đa (đối với mỗi hành vi vi phạm) là 70 triệu đồng; Chủ tịch UBND cấp huyện có thể xử phạt ở mức tối đa là 30 triệu đồng; Chi cục trưởng Chi cục quản lý thị trường (cấp tỉnh) có thể xử phạt ở mức tối đa là 20 triệu đồng Ngoài

ra, các cơ quan hữu quan trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành về quảng cáo theo các quy định của Luật Quảng cáo năm 2012 (trước đó là Pháp lệnh quảng cáo năm 2001) cũng có quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo

2.2.1.3 Thực trạng thực thi pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng

Thực thi tốt pháp luật về quyền được cung cấp thông tin đem lại những lợi ích sau trong công tác bảo vệ NTD: (i) giúp NTD mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình; (ii) giúp tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, lành

12 Thực ra, việc xử lý quảng cáo gian dối còn được quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Thẩm quyền xử lý các loại vụ việc này cũng thuộc về Cục quản lý cạnh tranh.

Trang 28

mạnh; (iii) giúp cơ quan quản lý nhà nước tăng cường bảo vệ NTD trong hoạt động quản lý của mình.

Quá trình thực thi pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam đã bước đầu đạt được một số thành công như: (i) Các quy định về ghi nhãn hàng hóa bước đầu đã được thực hiện; (ii) Hoạt động quảng cáo bước đầu đã được định hướng; (iii) Thứ ba, hoạt động quảng cáo và các hoạt động xúc tiến thương mại khác từng bước được quản lý

Như vậy, bước đầu các hoạt động cung cấp thông tin nói chung và việc thực hiện các quy định của pháp luật về quyền được cung cấp thông tin cho NTD đã bắt đầu được triển khai thực hiện trên thực tể Tuy nhiên, thực tiễn công tác bảo vệ quyền lợi NTD trong thời gian qua cho thấy, các hành vi vi phạm pháp luật về bảo

vệ quyền lợi NTD liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin không những không giảm đi mà có xu hướng ngày càng gia tăng Những hạn chế chủ yếu trong việc thực thi pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD được thể hiện ở những mặt sau:

Thứ nhất, các quy định về ghi nhãn hàng hóa bị vi phạm rất phổ biến

Theo báo cáo của cơ quan quản lý thị trường, hành vi gian lận thương mại phổ biến nhất trên thực tế là hành vi vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa Các hành

vi vi phạm cụ thể như: nội dung không đúng, nội dung không chính xác, thiếu nhãn phụ đổi với hàng hóa nhập khẩu, kích thước hình thức nhãn không đúng quy định Điều này xuất phát có thể từ nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan như tổ chức, cá nhân kinh doanh không nhận thức được hoặc chưa hiểu đúng các quy định của pháp luật về ghi nhãn hàng hóa hoặc cũng có thể các tổ chức, cá nhân kinh doanh cổ tình thực hiện các hành vi vi phạm nhằm che giấu, cung cấp các thông tin gây nhầm lẫn cho NTD vì mục đích, động cơ nào đó

Thứ hai, các hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn, quảng cáo nhằm cạnh tranh

không lành mạnh vẫn tồn tại khá nhiều trên thực tể

Trước đây, hành vi quảng cáo chủ yếu chỉ được thực hiện thông qua một số hoạt động như: quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo trên báo viết, các biển quảng cáo thì ngày nay, với sự phát triển rất nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là sự ra đời và ứng dụng ngày càng rộng rãi của hệ thống internet, nhiều hình thức quảng cáo mới được ra đời như quảng cáo qua website, quảng cáo

Trang 29

qua email, quảng cáo thông qua tin nhắn Theo thống kê của Cục Quản lý cạnh tranh-BỘ Công Thương thể hiện trong báo cáo thường niên của Cục năm 2010 và năm 2011, trong số các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật cạnh tranh thì hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi

bị xử lý nhiều nhất

Thứ ba, NTD chưa thực sự được tiếp cận các thông tin đầy đủ về hàng hóa,

dịch vụ do cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD, Hội bảo vệ NTD và bản thân thương nhân chưa quan tâm đến công tác phổ biển thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD

Các hoạt động cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ đối với NTD vẫn chưa thực hiện một cách thường xuyên, đầy đủ và phong phú về hình thức Hầu hết NTD mới chỉ biết được các thông tin về hàng hóa, dịch vụ thông qua các thông tin ghi trên nhãn sản phẩm, thông tin qua quảng cáo với nội dung rất ít ỏi, sơ sài Theo báo cáo điều tra xã hội học do nhóm nghiêm cứu đề tài thực hiện (sau đây gọi tắt là báo cáo điều tra xã hội học) có 76,3% số người được hỏi đã chọn nhãn hàng hóa là cách thức để tìm hiểu thông tin về hàng hóa dịch vụ, 62,5% biết được những thông tin này qua quảng cáo, chỉ có 32,9% số người được hỏi cho biết họ có được thông tin

từ chính tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ trực tiếp cung cấp Các tổ chức, cá nhân kinh doanh chưa có những buổi tuyên truyền, cung cấp các tài liệu cụ thể, chi tiết về thông tin hàng hóa, dịch vụ NTD rất khó để tiếp cận các thông tin như: cách thức sử dụng hàng hóa, cách phân biệt hàng thật, hàng giả, cách bảo quản, vận chuyển sản phẩm, nguồn gốc sản phẩm, nguyên liệu đầu vào Thậm chí, các tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ còn cố tình vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng, khi mà có đến 38,3% số người tiêu dùng được hỏi cho biết, họ đã từng bị tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ từ chối cung cấp hóa đơn, chứng từ, các tài liệu liên quan tới giao dịch hay các thông tin cần thiết khác về hàng hóa dịch vụ mà mình đã mua, sử dụng

Các Hội bảo vệ NTD chưa làm tốt vai trò giáo dục NTD, chưa đưa ra nhiều cảnh báo cho NTD về hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD của thương nhân trong đó có hành vi đưa thông tin không đúng về sản phẩm, hàng hóa Cụ thể, theo báo cáo điều tra xã hội học 80,5% sổ người được hỏi cho rằng tổ chức cá nhân trực tiếp kinh doanh hàng hóa dịch vụ có nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin về

Trang 30

hàng hóa dịch vụ cho người tiêu dùng, 42,8% cho rằng trách nhiệm đó thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước, 39,7% chọn bên thứ ba là các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông, các tổ chức tham gia xây dựng thông tin về hàng hóa dịch vụ là đối tượng có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa dịch vụ, và chỉ có 22,3% số người được hỏi cho rằng trách nhiệm này thuộc về các tổ chức xã hội thực hiện công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Tuy nhiên nguyên nhân của tình trạng trên cũng xuất phát một phần từ ý thức cũng như thói quen của người tiêu dùng Bởi theo báo cáo điều tra xã hội học thì có đến 31,4% số người tiêu dùng cho biết đã từng chọn mua hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ Đặc biệt những mặt hàng người tiêu dùng chọn mua mà không rõ nguồn gốc xuất xứ, đa phần đều ỉà những mặt hàng thực phẩm tiêu dùng sinh hoạt hàng ngày

2.2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ thông tin của người tiêu dùng

2.2.2.1 Khái quát quá trình phát triến của các quy định về bảo vệ thông tin của người tiêu dùng ở Việt Nam

* Giai đoạn trước năm 1999

Thời điểm này, NTD Việt Nam chưa được Nhà nước quan tâm bảo vệ theo một văn bản pháp luật chuyên biệt mà chủ yếu được bảo vệ theo các quy định trong

Bộ luật dân sự năm 1995 Quyền được bảo vệ thông tin của NTD bắt nguồn tò quyền đối với bí mật đời tư NTD trước tiên cũng là một công dân, do đó họ cũng

có quyền được bảo vệ bí mật đời tư của mình theo quy định trong Bộ luật dân sự

Theo đó việc thu thập, công bổ thông tin, tư liệu về đời tư của cả nhân phải được

người đó đồng ỷ hoặc thân nhân của người đó đồng ỷ, nếu người đỏ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải được thực hiện theo quy định của pháp luật

* Giai đoạn tìr năm 1999 đến năm 2010

Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 đã trở thành một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của pháp luật bảo vệ NTD tại Việt Nam, lần đầu tiên NTD được bảo vệ bởi một văn bản chuyên biệt, chú trọng tới việc bảo vệ những lợi ích của NTD khi thực hiện giao dịch với thương nhân Tuy nhiên, trong Pháp lệnh này chưa có điều nào quy định về quyền được bảo vệ thông tin của NTD cũng như trách

Trang 31

nhiệm của các chủ thể trong việc bảo vệ thông tin NTD Tuy vậy, vào thời kì này, quyền được bảo vệ thông tin của NTD đã được đề cập gián tiếp tại Bộ luật hình sự năm 1999 về các Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác (Điều 125) và Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226).

Từ sau năm 2000, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ với sự gia tăng nhanh chóng việc ứng dụng khoa học công nghệ vào nền kinh tế Việt Nam nên thông tin cá nhân được sử dụng nhiều trong các giao dịch Bởi vậy, cần thiết phải có sự quan tâm hơn nữa của việc điều chỉnh bằng pháp luật để bảo vệ các thông tin của cá nhân Do đó, khá nhiều văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân ra đời tạo cơ sở pháp lý cho việc hiện thực hóa quyền được bảo vệ thông tin của cá nhân nói chung và NTD nói riêng như: Bộ luật dân sự 2005, Luật Giao dịch điện tử năm

2005, Luật Công nghệ thông tin 2006, Luật Viễn thông 2009, các nghị định, thông

tư hướng dẫn những Luật trên như:

- Nghị định 63/2007/NĐ - CP ngày 10/04/2007 Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin

- Nghị định 97/2008/NĐ - CP ngày 28/08/2008 v ề quản lý, cung cấp, sử dụng

dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet

- Nghị định 28/2009/NĐ - CP ngày 20/03/2009 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet

- Nghị định 83/2011/NĐ - CP ngày 20/09/2011 Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực viễn thông

- Thông tu 07/2008/TT - BTTTT ngày 18/12/2008 Hướng dẫn một số nội durg về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản

lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet

- Thông tư 25/2010/TT - BTTTT ngày 15/11/2010 Quy định việc thu thập, sử dụr.g, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân trên trang thông tin điện

tử koặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước

*Giai đoạn từ năm 2010 đến nay

Trang 32

Ngày 17/11/ 2010 Luật bảo vệ quyền lợi NTD được Quốc hội thông qua thay thế cho Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 vấn đề bảo vệ thông tin của NTD lần đầu tiên được quy định cụ thể tại Điều 6 Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm

2010 bao gồm: quyền được bảo vệ thông tin của NTD và trách nhiệm của tổ chức,

cá nhân kinh doanh trong trường hợp thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của NTD Điều 5 Nghị định số 19/2012/ NĐ - CP ngày 16/03/2012 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD đã đưa ra các chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm việc bảo vệ thông tin của NTD Đây là một sự

bổ sung cần thiêt và vô cùng quan trọng để đảm bảo cho NTD thực hiện quyền năng một cách đầy đủ hom

2.2.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ thông tin của người tiêu dùng

Thứ nhất, quy định một cách khái quát về quyền được bảo vệ thông tin của NTD

Quyền được bảo vệ thông tin của NTD quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật bảo

vệ quyền lợi NTD năm 2010 Theo đó “ NTD được bảo đảm an toàn, bỉ mật thông

tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu” Nghị định 19/2012/NĐ-CP của Chính phủ

quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD đã quy

định thông tin là bí mật cá nhân của NTD phải đáp ứng đủ 3 điều kiện: (i) ) Là thông

tin liên quan đến cá nhân NTD;(ii) Đã được NTD hoặc tổ chức, cá nhân có liên quan khác áp dụng các biện pháp bảo mật;(iii) Việc tiết lộ hoặc sử dụng thông tin này không có sự chấp thuận của NTD và có khả năng gây ảnh hưởng xẩu tới sức khỏe, tỉnh mạng, tài sản hoặc các thiệt hại về vật chất và tinh thần khác đối với NTD.

Ngoài Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010, vấn đề bảo vệ thông tin cũng được đặc biệt chú trọng tới trong Luật công nghệ thông tin năm 2006, Luật giao dịch điện tử năm 2005 và Luật viễn thông năm 2009 Sở dĩ những văn bản này quy định cụ thể về việc bảo vệ thông tin vì trên thực tế, những vụ việc liên quan tới vấn

đề mua bán thông tin cá nhân của NTD chủ yếu xuất phát từ các nguồn như internet hay thiết bị viễn thông Cụ thể, tại Luật công nghệ thông tin năm 2006 quy định “Cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân lưu trữ thông tin cá nhân của mình trên môi trường mạng thực hiện việc kiểm tra, đính chính hoặc hủy bỏ thông tin đó” Vậy NTD khi thực hiện việc cung cấp thông tin cho thương nhân trên mạng internet có

Trang 33

thể yêu cầu thương nhân phải đính chính lại những thông tin sai lệch hoặc hủy bỏ những thông tin đó khi thấy việc lưu trữ thông tin là không cần thiết hoặc có nguy

cơ để lộ thông tin ra bên ngoài Bên cạnh đó, NTD còn có quyền được bảo đảm bí mật các thông tin riêng chuyển qua mạng viễn thông công cộng theo quy định tại Điều 6 Luật viễn thông năm 2009

Thứ hai, quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc

bảo vệ thông tin của NTD

Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh về bảo vệ thông tin của NTD khi NTD tiến hành giao dịch với mình được quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau Điều 46 Luật giao dịch điện tử năm 2005 về bảo mật thông tin trong

giao dịch điện tử quy định: “Cơ quan, tỏ chức, cá nhân không được sử dụng, cung

cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Tương tự

như vậy, Luật công nghệ thông tin năm 2006 cũng quy định về trách nhiệm đối với việc thu thập, xử lý, lưu trữ thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng ở Điều 21, Điều 2213 Ngoài ra, Điều 6 Luật viễn thông năm 2009 cũng có quy định trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông trong việc bảo đảm bí mật thông tin của NTD

Hiện nay, trách nhiệm bảo vệ thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD được quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010

Theo đó, trường hợp thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của NTD thì tổ chức,

cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm sau:

- Thông báo rõ ràng, công khai trước khi thực hiện với NTD về mục đích hoạt động thu thập, sử dụng thông tin của NTD Việc này yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh phải tiến hành thông báo cho NTD trước khi tiến hành thu thập hay sử dụng thông tin của họ Đây là yêu cầu cần thiết đảm bảo cho quyền bí mật đời tư được quy định trong Bộ luật dân sự, NTD có quyền đồng ý hoặc không đồng ý cho phép thương nhân được thu thập những thông tin như tên, tuổi, địa chỉ của mình khi tiến hành giao dịch

13 Lại Việt Anh (2010), Bào vệ quyển lợi NTD trong thương mại điện từ ở Việt Nam, Hội thảo Pháp

ngữ khu vực “Bảo vệ quyền lợi NTD: Từ hai góc nhìn Á- Âu”, Hà Nội, 27&28/9/2010.

Trang 34

- Sử dụng thông tin phù hợp với mục đích đã thông báo với NTD và phải được NTD đồng ý Nếu NTD đồng ý cung cấp thông tin cho tổ chức, cá nhân kinh doanh thì tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm phải sử dụng những thông tin này đúng như đã thông báo với NTD, không được sử dụng cho mục đích khác như mua bán, chuyển nhượng cho bên thứ ba.

- Bảo đảm an toàn, chính xác, đày đủ khi thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của NTD Khi tổ chức, cá nhân kinh doanh tiến hành việc lưu trữ thông tin của NTD để sử dụng hay chuyển giao thì họ phải có những biện pháp bảo mật nhằm tránh việc để lộ những thông tin cá nhân của NTD ra bên ngoài, ảnh hưởng tới lợi ích của NTD Ngoài ra, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải đảm bảo thu thập thông tin chính xác và đầy đủ về NTD, tránh việc sai lệch thông tin dẫn đến hậu quả về mặt vật chất hay tinh thần cho NTD

-T ự mình hoặc có biện pháp để NTD cập nhật, điều chỉnh thông tin khi phát hiện thấy thông tin đó không chính xác Đây là một trách nhiệm quan trọng của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ thông tin của NTD, tuy nhiên trên thực

tế thường hay bị thương nhân bỏ qua Việc cho phép NTD sửa chửa kịp thời các sai sót về mặt thông tin vừa có lợi cho tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc chăm sóc khách hàng, vừa có lợi cho NTD tránh khỏi những thiệt hại không đáng có do thông tin sai sót gây nên, ví dụ như việc giao hàng sai địa chỉ, trừ tiền nhầm tài khoản

- Chỉ được chuyển giao thông tin của NTD cho bên thứ ba khi có sự đồng ý

,r

của NTD, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Quy định này đảm bảo cho thông tin của NTD không bị lợi dụng như một mặt hàng có thể mua bán, trao đổi để kiếm ĩợi nhuận cho tổ chức, cá nhân kinh doanh NTD thường chỉ đồng ý cung cấp thông tin của mình khi việc làm này là cần thiết cho việc thực hiện giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh và họ muốn thông tin này phải được đảm bảo bởi tổ chức,

cá nhân kinh doanh đó Nếu những thông tin này bị chuyển giao cho bên thứ ba sẽ kéo theo rất nhiều phiền toái cho NTD như việc bị gọi điện chào hàng, nhận những tin nhắn rác Vì vậy, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh là phải đảm bảo

bí mật thông tin của NTD, nếu NTD chưa đồng ý thì không được phép chuyển giao những thông tin này cho bên thứ ba

Pháp luật Việt Nam chỉ quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm

gì khi tiến hành thu thập, sử dụng hay chuyển giao thông tin của NTD mà không

Trang 35

quy định nguyên tắc cơ bản của việc thu thập, sử dụng thông tin của NTD phải là cần thiết để có thể thực hiện được hợp đồng giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh và một khi mục đích sử dụng thông tin đã hoàn thành thì thông tin của NTD phải được xóa ngay lập tức Điều này dẫn đến việc các doanh nghiệp tiến hành thu thập thông tin của NTD một cách thiếu chọn lọc, không cần thiết và sau đó lưu giữ lại, không sử dụng khiến cho những dữ liệu này dễ dàng bị lọt ra ngoài vì không được doanh nghiệp quan tâm bảo mật.

Thứ ba, quy định về chế tài và cơ quan xử lý vi phạm pháp luật về quyền bảo

vệ thông tin của NTD

Khi thông tin của NTD bị xâm hại thì cần thiết phải có biện pháp xử lý thích hợp để răn đe tổ chức, cá nhân vi phạm, và biện pháp xử phạt thường được sử dụng khi tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm việc bảo vệ thông tin của NTD chính là biện pháp xử phạt hành chính

Theo đó, Nghị định số 19/2012/ NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD tại Điều 5 đã quy định hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm về bảo vệ thông tin của NTD Đối với các hành vi: Không thông báo rõ ràng, công khai với NTD về mục đích trước khi thực hiện hoạt động thu thập, sử dụng thông tin của NTD; Sử dụng thông tin của NTD không phù hợp với mục đích đã thông báo với NTD mà không được NTD đồng ý; Không bảo đảm an toàn, chính xác, đầy đủ đối với thông tin của NTD khi thu thập, sử dụng, chuyển giao; Không tự điều chỉnh hoặc không có biện pháp để NTD cập nhật, điều chỉnh thông tin khi phát hiện thấy thông tin không chính xác; Chuyển giao thông tin của NTD cho bên thứ ba khi chưa có sự đồng ý của NTD, trừ trường hợp pháp luật

có quy định khác thì tổ chức, cá nhân kinh doanh sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng Mức phạt tiền sẽ tăng lên từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng nếu thông tin có liên quan là thông tin thuộc về bí mật cá nhân NTD Ngoài hình thức

xử phạt chính là phạt tiền, Nghị định còn quy định các biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp này đó là buộc tiêu hủy các tài liệu vi phạm có chứa đựng thông tin của NTD và buộc xây dựng các biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn thông tin của NTD

Ngoài ra, tổ chức, cá nhân kinh doanh còn có thể phải chịu các hình thức xử phạt hành chính quy định trong lĩnh vực pháp luật chuyên ngành Ví dụ, Nghị định

Trang 36

số 63/2007/ NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin hay Nghị định sổ 83/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực viễn thông Cụ thể tại Điều 6 Nghị đinh 63/2007/ND-CP quy định cá nhân sẽ bị phạt tiền từ năm trăm nghìn đồng đến hai triệu đồng khi: thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng mà không được sự đồng ý của người đó; thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cá nhân của người khác mà không thông báo cho người đó biết hình thức, phạm vi, địa điểm

và mục đích của việc thu thập, xử lý, sử dụng thông tin đó; không kiểm tra lại, đính chính hoặc hủy bỏ thông tin cá nhân của người khác lưu trữ trên môi trường mạng trong quá trình thu thập, xử lý, sử dụng thông tin khi có yêu cầu của chủ sở hữu thông tin đó; V.V Theo quy định tại Điều 39 Nghị định số 83/2011/ND-CP, đối với hành vi tiết lộ trái phép nội dung thông tin riêng của người sử dụng dịch vụ viễn thông sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đồng; người nào có hành vi mua bán hoặc trao đổi trái phép thông tin riêng của người sử dụng dịch vụ viễn thông sẽ bị phạt tiền từ 30 đến 50 triệu đồng Người vi phạm còn bị buộc thu hồi lợi nhuận do vi phạm mà có

Ngoài việc bị xử phạt hành chính, tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm việc bảo vệ thông tin của NTD còn có thể bị xử lý hình sự theo Điều 226 về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet: “Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm lợi ích của

cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”

Quy định về chế tài xử lý hành vi vi phạm quyền lợi của NTD nói chung

và quyền bảo vệ thông tin của NTD là một nội dung quan trọng giúp NTD khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, khi tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm nghĩa vụ này, thiết chế nào có thể

xử lý hành vi vi phạm và ra quyết định áp dụng chế tài mà pháp luật quy định

Có thể khẳng định, theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD (năm 2010) và trong một sổ đạo luật chuyên ngành, việc bảo đảm thực thi các quy định này thuộc trách nhiệm trước hết của các cơ quan quản lý nhà nước trong các ngành và lĩnh vực được phân công phụ trách Ví dụ, trong lĩnh vực về tài

Trang 37

chính, tín đụng, bảo hiểm, công việc thực thi pháp luật trước hết thuộc về các đơn vị hữu quan trong Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.Trong lĩnh vực y

tế, trách nhiệm bảo đảm thực thi pháp luật trước hết thuộc về Bộ Y tế và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế tại địa phương

Trong các lĩnh vực khác, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm bảo vệ thông tin của NTD được quy định thuộc về Cục quản lý cạnh tranh, Cục quản lý thị trường, chính quyền địa phương v.v Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chưa phân định rõ ràng và còn có sự chồng lấn về thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm bảo vệ thông tin của NTD giữa các cơ quan có thẩm quyền nêu trên

Theo Nghị định số 19/2012/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong

lĩnh vực bảo vệ NTD thì, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh có thẩm quyền: (1)

Phạt cảnh cáo; (2) Phạt tiền đến 70.000.000 đồng; (3) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; (4) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính và (5) áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như (a) buộc tiêu hủy các tài liệu vi phạm có chứa đựng thông tin của NTD; và (b) buộc xây dựng các biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn thông tin của NTD.

Theo quy định tại Nghị định số 19/2012/NĐ-CP, mỗi hành vi vi phạm về “bảo

vệ thông tin của NTD” mà tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện chỉ bị phạt ở mức

tối đa là 30 triệu đòng (tức là dưới 70 triệu đồng) Do đó, về nguyên tắc, Cục

trưởng Cục quản lý cạnh tranh có đầy đủ thẩm quyền để tiến hành xử phạt mọi hành

vi vi phạm quy định về “bảo vệ thông tin của NTD”

Cũng theo quy định tại Nghị định số 19/2012/NĐ-CP, Chủ tịch ủ y ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xử phạt ở mức tối đa là 30 triệu đồng (bằng với mức phạt tối đa đối với một hành vi vi phạm quy định về “bảo vệ thông tin của NTD” trong pháp luật về bảo vệ NTD) và Chủ tịch ủ y ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt ở mức tối đa là 70 triệu đồng (cao hơn mức phạt tối đa đối với một hành vi vi phạm quy định về “bảo vệ thông tin của NTD” trong pháp luật về bảo vệ NTD) Như vậy, có thể thấy, Chủ tịch ƯBND cấp huyện và Chủ tịch ƯBND cấp tỉnh đều có đầy đủ thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi phạm quy định về “bảo

vệ thông tin của NTD”

Trang 38

Ngoài ra, Chi cục trưởng Chi cục quản lý thị trường có thể xử phạt tới mức 20 triệu đồng (mức cao hơn mức phạt tối thiểu mà pháp luật quy định đối với hành vi

vi phạm quy định về bảo vệ thông tin của NTD, nhưng thấp hơn mức phạt tối đa mà pháp luật đã quy định đối với loại hình vi phạm này

Các lực lượng khác như cơ quan công an, thanh tra chuyên ngành của một số

Bộ, ngành cũng có thể có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm quy định về “bảo vệ thông tin của NTD” theo quy định của các văn bản khác có liên quan

Như vậy, có thể thấy ràng, việc một loại hành vi vi phạm có thể thuộc thẩm quyền xử lý của nhiều cơ quan khác nhau như vừa nêu chưa hẳn đã là giải pháp hợp

lý Nếu các cơ quan hữu quan không có sự phối, kết hợp với nhau thật tốt hoặc sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn một cách rõ ràng, có thể sẽ dẫn tới tình trạng buông lỏng trận địa đấu tranh phòng chống vi phạm

2.2.2.3 Thực trạng thi hành pháp luật vé bảo vệ thông tin của người tiêu dùng ở Việt Nam

Thứ nhất, hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ thông tin của NTD ở Việt Nam

vẫn diễn ra phổ biển

Theo báo cáo điều tra xã hội học của nhóm nghiên cứu đề tài thì có đến 75,8%

số người được hỏi cho rằng việc xâm hại thông tin người tiêu dùng hiện nay diễn ra rất phổ biển, thậm chí đối với khu vực thành thị con số này lên đến 85,8% số người tiêu dùng được hỏi Liên quan đến hậu quả của hành vi xâm hại thông tin người tiêu dùng, có 71,8% số người được hỏi cho ràng hành vi này gây ra những thiệt hại về tinh thần đối với họ, 57,1% cho rằng hành vi này có thể gây thiệt hại về vật chất Thậm chí 33,1% số người được hỏi còn cho rằng hành vi này có thể gây hại đến tính mạng sức khỏe người tiêu dùng

Việc vi phạm pháp luật về báo vệ thông tin của NTD ở Việt Nam hiện nay chủ yếu thể hiện thông qua các hành vi

* Mua bán thông tin cá nhân

Hiện nay tình trạng rao bán thông tin cá nhân trên mạng Internet rất phổ biển với việc cung cấp các thông tin khá cụ thể, chi tiết trong đó, thông tin quan trọng nhất trong các danh sách khách hàng là số điện thoại di động cá nhân Chỉ cần vào các trang web rao vặt, ta có thể dễ dàng thấy được những mẩu tin đăng bán thông

Trang 39

tin cá nhân với giá chỉ vài triệu đồng, kèm theo đó là các phần mềm phát tán thư rác

và tin nhắn được tặng miễn phí

NTD khi cung cấp thông tin cho tổ chức, cá nhân kinh doanh đều không nghĩ đến việc những thông tin cá nhân của mình có thể biến thành một thứ hàng hóa được mua bán, trao đổi với giá trị không hề nhỏ Thực tế cho thấy, rất nhiều khách hàng không hề biết rằng thông tin cá nhân của mình đã được cung cấp cho những đơn vị kinh doanh dịch vụ như viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ tin nhắn kết quả thi đấu thể thao, xổ số cho đến khi họ thấy bị làm phiền liên tục bởi các nhà cung cấp dịch vụ này Thực trạng này sẽ còn tiếp tục tái diễn nếu như tổ chức, cá nhân kinh doanh không ý thức được trách nhiệm trong việc bảo mật thông tin của NTD, những

tổ chức, cá nhân mua bán thông tin trên mạng không bị phát hiện xử lý thì thông tin của NTD vẫn sẽ tiếp tục là món hàng siêu lợi nhuận được đem ra trao đổi và quyền lợi của NTD sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong thời gian tới

* Hành vi ăn cắp thông tin tài khoản cá nhân như ăn cắp mật khẩu thẻ ATM,

ăn cắp thông tin trong thẻ tin dụng

Trong thời gian gần đây, ngân hàng cùng công an đã phát hiện nhiều vụ tội phạm sử dụng các thiết bị cài đặt trên máy ATM để ăn cắp dữ liệu thông tin chủ thẻ rồi chuyển sang thẻ trắng để rút tiền

Việc ăn cắp thông tin thẻ tín dụng đã xảy ra và điển hình là vụ việc Nguyễn Hoàng Yến, giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Yến Minh hoạt động trên lĩnh vực du lịch, lữ hành Lợi dụng việc một số hãng hàng không giá rẻ cho phép khách hàng đặt vé, thanh toán tiền qua mạng, bà giám đốc này đã sử dụng công nghệ cao để bẻ khóa, thâm nhập vào tài khoản cá nhân, thẻ tín dụng của hàng trăm chủ thẻ trong nước và nước ngoài để đặt vé máy bay, chi trả tiền vé cho các hãng hàng không giá rẻ, sau đó nhận tiền mặt từ khách.hàng có nhu cầu mua vé thật Việc làm này gây thiệt hại cho cả phía các hãng hàng không và các cá nhân bị xâm nhập tài khoản.14

Có thể thấy, việc ăn cắp các thông tin tài khoản cá nhân ngày càng tinh vi, lợi dụng sơ hở của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo mật thông tin của khách hàng, một số đối tượng đã lừa đảo, ăn cắp thông tin để rút tiền hoặc mua bán hàng hóa bất hợp pháp, thu lợi bất chính

14 http://www.sggp.org.vn/SGGP 12h/2007/10/125913/

Trang 40

* Hành vi nghe lén điện thoại di động:

Hiện nay, phần mềm, thiết bị nghe lén điện thoại, xem tin nhắn, ghi âm trộm

từ xa để theo dõi người khác được mua bán tràn lan, công khai Chỉ cần vào Google gõ từ khóa “nghe lén điện thoại”, hàng chục website mua bán các phần mềm này đã nhanh chóng hiện ra Thậm chí, một số nơi còn rao bán thiết bị nghe lén xuyên tường, cho phép người dùng chỉ cần đặt nó áp vào tường là có thể nghe được âm thanh ở phòng bên cạnh dễ dàng15

Thứ hai, sự giám sát việc bảo vệ thông tin NTD của các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền chưa chặt chẽ

Trong những năm gần đây, các cơ quan chức năng đã có sự chú ý đến vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của NTD khi trên thực tế, những thông tin cá nhân đã trở thành một loại hàng hóa có lợi nhuận rất lớn Tuy nhiên, vấn đề kiểm tra, giám sát

và xử lý các trường hợp vi phạm về bảo vệ thông tin của NTD lại do nhiều cơ quan cùng đảm nhiệm như Cục quản lý cạnh tranh, Cục thương mại điện tử và công nghệ thông tin, Công an, Thanh tra Bộ Thông tin và truyền thông D o đó, dẫn đến tình trạng chồng chéo thẩm quyền khi xử lý vi phạm liên quan đến vấn đề bảo vệ thông tin của NTD, từ đó dẫn đến việc quyền lợi của NTD có thể bị ảnh hưởng do các cơ quan này đùn đẩy trách nhiệm hoặc không thống nhất về cách thức xử lý vi phạm.Ngoài ra, các cơ quan chức năng còn chậm trong việc xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi rao bán thông tin cá nhân của NTD hoặc các tổ chức, cá nhân kinh

,r

doanh tiến hành thu thập và sử dụng thông tin của NTD sai mục đích Các trang web, các mục rao vặt trên mạng đăng bán thông tin cá nhân của NTD xuất hiện ngày càng nhiều nhưng việc xử lý hầu như không đáng kể

Thứ ba, các tổ chức, cá nhân kinh doanh, cũng như bản thân người tiêu dùng

chưa quan tâm đến việc bảo vệ thông tin cá nhân của NTD

Các tổ chức, cá nhân kinh doanh thường yêu cầu NTD cung cấp các thông tin

cá nhân cần thiết để thực hiện giao dịch Bên cạnh đó, nhiều công nghệ hiện đại như cookie, phần mềm gián điệp, định vị toàn cầu và các cơ sở dữ liệu số hóa cũng cho phép các doanh nghiệp chuyên kinh doanh trên Internet có thể dễ dàng thu thập và

xử lý thông tin cá nhân phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau Các tổ chức quảng cáo trực tuyến cũng luôn đẩy mạnh hoạt động thu thập, thiết lập, thậm chí kinh

15 http://dantri.com.vn/xa-hoi/nghe-len-dien-thoai-de-nhu-choi-674519.htm

Ngày đăng: 28/07/2019, 19:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w