THAHS là công tác lớn, quan trọng nên Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho hoạt động này như: Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 199
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI • • • •
ĐỀ TÀI
XÂV DựNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
MÔN LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH s ự
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆ TRƯỜNG BẠI HỌC LUẬT HÀ N'
PHÒNG DỌC - /Ị $ ỉ )
-CHỦ NHIỆM ĐÈ TÀI: TS ĐỎ THỊ PHƯỢNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 3NHỮNG NGƯỜI TH ựC HIỆN ĐÊ TÀI
Chủ nhiệm đề tài: TS Đỗ Thị Phượng - Phó phụ trách Bộ môn Khoa học điều
tra tội phạm, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 1, 2, 8 và 9)
Thư ký đề tài: Ths Mai Thanh Hiếu - Phó bộ môn Luật tố tụng hình sự, TrườngĐại học Luật Hà Nội (chuyên đề 4)
Những ngưòi tham gia thực hiện:
1 TS Phan Thanh Mai - Chủ nhiệm Khoa Pháp luật hình sự, Trường Đại học Luật
4 TS Mai Bộ- Thẩm phán Toà án quân sự Trung ương (chuyên đề 7 và 12)
5 Ths Nguyễn Hải Ninh- Giảng viên chính Bộ môn Luật tố tụng hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên dề 13)
6 Ths Lê Thị Thuý Nga- Giảng viên khoa Đào tạo thẩm phán, Học viện Tư pháp (chuyên đề 11)
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 52 Xây dựng nội dung giảng dạy môn Luật thi hành án hình sự 14
3 Xây dựng phương pháp giảng dạy môn Luật thi hành án hình sự 59
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng nội dung và phương 67pháp giảng dạy môn Luật thi hành án hình sự
2 Khái niệm, nhiệm vụ và nguyên tắc của Luật thi hành án hình sự 80
9 Thi hành các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên 189
10 Kiểm sát thi hành án hình sự và các bảo đảm điều kiện cho hoạt động 201thi hành án hình sự
12 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước trong quản lý công tác 226thi hành án hình sự
13 Phương pháp giảng dạy môn Luật thi hành án hình sự 238
Trang 61 Tính cấp thiết của đề tài
1 Luật thi hành án hình sự (THAHS) được Quốc hội Khoá 12, kỳ họp thứ
7 thông qua ngày 17 tháng 06 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2011 với 182 Điều là một văn bản pháp lý quan trọng nhằm thực hiện các nội dung trong phán quyết đúng đắn của Toà án Hiến pháp Việt Nam khẳng định: Các bản án, quyết định của TAND đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những người và đơn vị hữu quan phải chấp hành nghiêm chỉnh Yêu cầu mang tính nguyên tắc hiến định này đã khẳng định hiệu lực thi hành của tất cả các phán quyết của toà án khi có hiệu lực pháp luật, đồng thời khẳng định ý nghĩa quan trọng của vấn đề thi hành án nói chung và THAHS nói riêng Việc nghiên cứu, tìm hiểu, tuyên truyền, giáo dục Luật THAHS tới các tầng lớp nhân dân nói chung và sinh viên luật nói riêng nhằm đưa đạo luật này nhanh chóng đi vào cuộc sống xã hội là một việc làm rất cần thiết ở Việt Nam hiện nay
2 Trong chương trình đào tạo cử nhân luật của trường Đại học Luật Hà Nội mới chỉ giảng dạy về pháp luật THAHS trong môn Luật TTHS chứ chưa có môn Luật THAHS Sinh viên mới chỉ được trang bị những kiến thức về pháp luật THAHS một cách cơ bản mà chưa được trang bị một cách có hệ thống, chuyên sâu
3 Trường đại học Luật Hà Nội là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý lớn nhất của cả nước Đứng trước yêu cầu của công cuộc phát triển đất nước, nhà trường phải không ngừng đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cải tiến phương pháp giảng dạy Việc đưa các nội dung môn học pháp luật mới trong đó có môn Luật THAHS vào giảng dạy là một trong những việc làm nhằm đáp ứng mục tiêu này Tuy nhiên để đưa môn học Luật THAHS vào giảng dạy cần phải có những nghiên cứư, luận giải thấu đáo về cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như xuất phát từ đòi hỏi của cuộc sống
Trang 7Xuất phát từ những lý do chủ yếu trên đây, nghiên cứu đề tài: “Xây dựng
nội dung và phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS” là việc làm có ý nghĩa
về mặt lý luận và thực tiễn nhàm sớm đưa môn Luật THAHS vào giảng dạy cho
sinh viên thuộc các hệ đào tạo của trường đại học Luật Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
- v ề tài liệu phục vụ cho giảng dạy môn luật thi hành án: Hiện nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về luật THAHS Có thể kể đến những
công trình tiêu biểu như: Giáo trình luật THAHS Việt Nam của GS.TS Võ Khánh
Vinh và PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng đồng chủ biên (NXB CAND, Hà Nội
năm 2008); Đề cương giáo trình Luật THAHS Việt Nam trong cuốn: Hệ thống tư
pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền của GS.TSKH Lê
Văn Cảm (NXB Đại học quốc gia Hà Nội năm 2009 trang 473- 477); Luật
THAHS (NXB Tư pháp năm 2010); Giảo trình Luật TTHS Việt Nam (Trường
Đại học Luật Hà Nội- NXB Công an nhân dân năm 2008); Bình luận khoa học
Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003 của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp,
(NXB Tư pháp năm 2004); Một số vẩn đề về hình ph ạ t tử hình và thi hành hình
phạt tử hình của Phạm Văn Lợi (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2006)
v ề các bài viết đăng trên các tạp chí tiêu biểu như: M ột sổ vấn đề về thi hành
hình phạt tử hình của Võ Khánh Vinh, Tạp chí TAND số 20 năm 2004; Thủ tục thi hành án tử hình của Đỗ Thị Phượng, Tạp chí Luật học số 7 năm 2006; Một sô vấn đề lý luận và thực tiễn về thi hành hình phạt tử hình của Trần Quang Tiệp,
Tạp chí Luật học số 12 năm 2004; Vũ Trọng Hách, Hoàn thiện quản lý nhà nước
trong lĩnh vực THAHS ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006; Võ Khánh
Vinh, M ột số vấn đề về thi hành hình phạt tử hình, Tạp chí TAND, tháng 10/2004; Phạm Văn Lợi (Chủ biên), M ột sổ vấn đề về hình ph ạ t tử hình và thi
hành hình p h ạ t tử hình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; Lê Cảm, Bàn về
hệ thống các cơ quan tiến hành tổ tụng và thi hành án trong chiến lược cải cách Ỉ'JC pháp, Tạp chí Kiểm sát, số 02 tháng 1/2009; Nguyễn Hải Ninh, Hoàn thiện cuy định của pháp luật về hoãn và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, Tạp chí
Trang 8luật học, số 02/2007; Mai Thanh Hiếu, Xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra
thi hành, Tạp chí luật học, số 05/2010; Trần Minh Hưởng, Bình luận khoa học
luật THAHS và các quy định mới nhất về THAHS, Nxb Thời Đại, 2010
- v ề tình hình giảng dạy môn Luật THAHS tại các cơ sở đào tạo cử nhân luật trong cả nước: Môn luật THAHS được đưa vào giảng dạy tại trường đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 có số tín chỉ là 2; là môn tự chọn cho
sinh viên chính qui của khoa pháp luật hình sự (xem phụ lục 1 và 2) Tại Khoa
Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, môn luật THAHS là một môn học tự
chọn cho sinh viên của chuyên ngành Tư pháp hình sự có số tín chỉ là 2 (trong
đó có 10 tiết lý thuyết, 2 tiết bài tập, 10 tiết thảo luận và 8 tiết tự nghiên cứu)
(xem phụ lục 3) Tại Viện đại học Mở Hà Nội, môn luật thi hành án đã được đưa vào giảng dạy hơn 10 năm nay tại khoa Đào tạo từ xa với số tiết là 45 tiết cho hệ
cử nhân (trong đó có 15 tiết giảng và 30 tiết tự nghiên cứu) Còn ở Trung tâm đào tạo từ xa của Đại học Huế, luật THAHS được dạy cho học viên chuyên ngành luật với số tiết giảng là 10
Tuy nhiên nghiên cứu về vấn đề: Nội dung và phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS thì dường như chưa có một công trĩnh nào đề cập, tìm hiểu Đây là một công trình đầu tiên ở nước ta nghiên cứu một cách trực diện, có hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS, xác định những vấn đề cụ thể của nội dung môn học này
3 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết các yêu cầu của đề tài, nhóm đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
1 Phương pháp nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê Nin; Quan điểm đường lối của Đảng về cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo đại học;
2 Phương pháp phân tích, so sánh luật học, đánh giá;
Trang 93 Phương pháp tổng họp, qui nạp;
4 Phương pháp chuyên gia, trao đổi ;
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt được các mục đích chủ yếu là:
+ Xác lập hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng nội dung
và phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS;
+ Xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS;
+ Làm cơ sở cho việc biên soạn giáo trình Luật THAHS
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ của một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, đề tài:
“Xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS” có phạm vi
nghiên cứu cụ thể sau:
1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS
2 Nghiên cứu các nội dung chi tiết của môn học Luật THAHS
3 Nghiên cứu các phương pháp phù hợp cho việc giảng dạy và học tập môn Luật THAHS
6 Bố cuc của đề tài
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, phụ lục, đề tài có bố cục cụ thể như sau:
Phần 1- Tổng thuật kết quả nghiên cứu
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS
2 Xây dựng nội dung giảng dạy môn Luật THAHS
3 Xây dựng phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS
Phần 2- Các chuyên đề nghiên cứu
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS
2 Khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc của Luật THAHS
Trang 103 Hệ thống cơ quan THAHS
4 Thi hành án tử hình
5 Thủ tục thi hành án phạt tù và chế độ quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân
6 Chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt và chăm sóc y tế đối với phạm nhân
7 Đặc xá
8 Thi hành án treo
9 Thi hành các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên
10 Kiểm sát THAHS và các bảo đảm điều kiện cho hoạt động THAHS
11 Khiếu nại, tố cáo trong THAHS
12 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước trong quản lý công tác THAHS
13 Phương pháp giảng dạy môn Luật THAHS
Trang 11PHẦN 1
LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH s ự
DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN LUẬT THI HÀNH ÁN
HÌNH SỤ
THAHS
Thứ nhất, Luật THAHS là một ngành luật có vị trí quan trọng trong hệ
thống pháp luật Việt Nam Luật THAHS được ban hành đánh dấu bước phát
triển quan trọng trong hoạt động lập pháp của Nhà nước ta nói chung, trong lĩnh
vực THAHS nói riêng, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước
ta đối với người chấp hành án, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo
vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp, cải cách hành chính cũng như bảo đảm tốt hơn quyền tự do, dân chủ của
công dân THAHS liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật
tự, an toàn xã hội; góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ pháp chế XHCN THAHS là công tác lớn,
quan trọng nên Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã ban hành nhiều văn bản quy
phạm pháp luật làm cơ sở cho hoạt động này như: Pháp lệnh Thi hành án phạt tù
năm 1993 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2007); Các Nghị định quy
định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ; thi hành hình phạt tà cho
hưởng án treo; hướng dẫn biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng; hướng
dẫn thi hành hình phạt cấm cư trú, quản chế; trục xuất; ban hành Quy chế trại
giam; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công
an Trên cơ sở pháp lý đó, trong thời gian qua, hoạt động THAHS đã được tổ
chức, thực hiện bảo đảm sự nghiêm minh, khoan hồng, nhân đạo, góp phần đấu
tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã
Trang 12hội, phục vụ yêu câu xây dựng và bảo vệ Tô quôc Tuy nhiên, trước yêu câu mới của thực tiễn, hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, pháp luật về THAHS đã bộc lộ những hạn chế, nhiều quy định không còn phù họp, chưa đồng bộ với quy định có liên quan đến công tác THAHS trong một sổ đạo luật như Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức VKSND, Luật Công an nhân dân Những tồn tại, hạn chế của pháp luật làm cho hoạt động THAHS gặp nhiều bất cập, vướng mắc, các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực THAHS mới chỉ quan tâm nhiều đến thi hành hình phạt tù,
tử hình, trục xuất mà chưa quan tâm đúng mức đến việc thi hành các hình phạt khác; chưa có tổ chức bộ máy chuyên trách quản lý thống nhất việc THAHS; đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ THAHS còn thiếu về số lượng và chưa bảo đảm về chất lượng, chế độ chính sách còn chưa bảo đảm; cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác này chưa được đầu tư tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ
Thứ hai, THAHS là một ngành luật thu hút được sự quan tâm đặc biệt của
xã hội, là kiến thức không thể thiếu được của cán bộ làm công tác THAHS Hiện nay trong chương trình đào tạo của trường đại học Luật Hà Nội, những qui định
về thủ tục THAHS được giảng dạy như một phần trong môn luật TTHS (môn bắt buộc), còn những vấn đề liên quan đến công tác thi hành án phạt tù và tổ chức thi hành án phạt tù được giảng dạy trong môn luật lao cải (môn tự chọn) Việc xé lẻ phần THAHS để giảng dạy như vậy cũng bởi do qui định về THAHS không nằm trong một văn bản thống nhất Điều đó làm cho sinh viên rất khó nghiên cứu một cách có hệ thống Việc ban hành Luật THAHS dẫn đến việc hợp nhất các văn bản về THAHS vào một hệ thống Điều đó không có nghĩa THAHS không còn liên quan đến ngành luật TTHS nữa mà ngược lại nó sẽ giúp cho việc hoàn thiện hơn các văn bản pháp luật Do vậy không thể chỉ nghiên cứu trình tự, thủ tục TTHS để chỉ nắm được việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử như thế nào
mà cần phải nghiên cứu cả Luật THAHS để nắm được kết quả của quá trình đó
ra sao Việc phân chuyên ngành học trong trường đại học Luật Hà Nội chỉ mang tính chất tương đổi và có tính “ước lệ”, bởi lẽ:
Trang 13Một là, hệ thống pháp luật là một thể thống nhất có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau; giữa các mảng pháp luật có những vùng “giao thoa”1 Hơn nữa trong một vụ án hình sự, các mối quan hệ xã hội nảy sinh có sự gắn kết rất chặt chẽ, khăng khít và phức tạp, nên để điều chỉnh mối quan hệ này phải sử dụng nhiều mảng pháp luật khác nhau có liên quan trong đó có pháp luật hình
Bộ công an (mà cụ thể là cục, ban quản lý trại gi am t hậm chí làm tại ƯBND,
tư pháp, công an xã, phường, thị trấn địa phương trong cả nước Điều đó cho thấy nếu không được trang bị kiến thức về Luật THAHS một cách chi tiết thì sinh viên sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi làm việc tại những nơi đó Đặc biệt đối với đối tượng là các cán bộ tư pháp xã, công an xã ở các địa phương trong cả nước đang theo học tại các lớp tại chức luật của đại học Luật Hà Nội thì việc nắm kỹ các thủ tục, trình tự, thẩm quyền thi hành các loại hình phạt, nhất là án treo, án cải tạo không giam giữ là rất cần thiết cho công việc hiện tại của họ
Thứ ba, sinh viên của trường đại học Luật Hà Nội chưa được trang bị một cách có hệ thống và chưa được tiếp cận một cách trực diện các kiến thức về Luật THAHS
Có thể thấy một số nguyên nhân sau đây:
- Do qui định của pháp luật THAHS bị xé lẻ nên việc nghiên cứu không thành hệ thống, khó tiếp thu được hết nội dung các qui định của pháp luật
- Do số tiết quá ít để nghiên cứu về pháp luật THAHS nên sinh viên sẽ không có điều kiện tiếp cận một cách toàn diện về vấn đề này
- Do chưa được chú trọng để giảng dạy về pháp luật THAHS như một môn học nên chưa có những bước chuẩn bị về học liệu (giáo trình) cũng như giáo viên giảng dạy
Trang 14Thứ tư, trường đại học Luật Hà Nội là một trong những trường đào tạo
liật lớn nhất cả nước Hiện nay trường đại học Luật đang xây dựng đề án về đổi
nới toàn diện để trở thành trường trọng điểm về đào tạo luật học của cả nước
tieo đúng tinh thần của Nghị quyết số 42/NQ- BCT của Bộ Chính trị về cải cách
ti pháp Muốn vậy thì một trong những giải pháp cơ bản là đổi mới nội dung
chương trình giảng dạy, cải tiến phương pháp giảng dạy, xây dựng thêm nhiều
nôn học mới, nhiều chuyên ngành mới (trong đó có môn học Luật THAHS) Có
rhư vậy thì nội dung đào tạo của nhà trường mới không bị “xơ cứng”, lạc hậu
\ới thực tiễn và đáp ứng sự kỳ vọng của Đảng và Nhà nước về vị trí và vai trò
của trường đại học Luật Hà Nội trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và
hệ thống giáo dục đại học nói riêng ở Việt Nam
Giáo dục và đào tạo trong điều kiện hội nhập toàn cầu hoá về kinh tế
không thể “đóng khung” trong mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo luật trong
phạm vi quốc gia mà phải mở rộng mối quan hệ hợp tác với những trường đại
học luật danh tiếng hàng đầu trên thế giới Điều này lại càng là yêu cầu bức thiết
cối với Việt Nam- một quốc gia đang phát triển có trình độ giáo dục đại học nói
chung và giáo dục, đào tạo luật nói riêng ở trình độ giáo dục đại học nói chung
\à giáo dục, tào tạo luật học nói riêng ở trình độ thấp kém, lạc hậu; bởi lẽ, chỉ có
thông qua việc mở rộng mối quan hệ họp tác với các trường đào tạo luật hàng
cầu của thế giới, trường đại học Luật Hà Nội mới có cơ hội để giao lưu học tập
kinh nghiệm và tiếp cận với những phương thức giảng dạy, đào tạo mới về luật
học Trên cơ sở đó, nhà trường mới có điều kiện đổi mới nội dung và cải tiến
phương pháp giảng dạy, đào tạo, nhằm cung cấp cho đất nước một đội ngũ các
chuyên gia pháp lý có đủ năng lực đáp ứng sự đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng
cất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế2 Chính vì đòi hỏi như vậy, nội dung
và chương trình đào tạo của trường đại học Luật hà Nội cần phải từng bước đổi
n ớ i bằng việc xây dựng và đưa vào chương trình giảng dạy các chuyên ngành
dào tạo mới (ngành luật mới)
giảng dạy môn Luật THAHS
Thứ nhất, về tình hình giảng dạy môn Luật THAHS tại các cơ sở đào tạo
cử nhân luật trong cả nước
Trang 15Môn Luật THAHS được đưa vào giảng dạy tại trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 có số tín chỉ là 2; là môn tự chọn cho sinh viên chính qui của khoa pháp luật hình sự (xem phụ lục 1 và 2) Tại Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, môn Luật THAHS là một môn học tự chọn cho sinh viên của chuyên ngành Tư pháp hình sự có số tín chỉ là 2 (trong đó có 10 tiết lý thuyết, 2 tiết bài tập, 10 tiết thảo luận và 8 tiết tự nghiên cứu) (xem phụ lục 3) Tại Viện đại học Mở Hà Nội, môn luật thi hành án đã được đưa vào giảng dạy hon 10 năm nay tại khoa Đào tạo từ xa với số tiết là 45 tiết cho hệ cử nhân (trong đó có 15 tiết giảng và 30 tiết tự nghiên cứu) Còn ở Trung tâm đào tạo từ
xa của Đại học Huế, Luật THAHS được dạy cho học viên chuyên ngành luật với
số tiết giảng là 10 Hiện nay một số cơ sở đào tạo luật đang chuẩn bị đưa vào giảng dạy môn Luật THAHS như khoa Luật trường đại học Vinh, khoa Luật trường đại học Kinh tế quốc dân Một trong những khó khăn chính của các cơ
sở đào tạo luật này để đưa vào giảng dạy môn Luật THAHS là chưa có giáo trình làm học liệu cơ bản cho môn học và đội ngũ giáo viên chưa đầy đủ
Thứ hai, muốn đạt được hiệu quả của công tác THAHS, bảo vệ được các quyền con người trong hoạt động này đòi hỏi cần có một nghiên cứu một cách
có hệ thống và đầy đủ
Thực tế cho thấy hoạt động THAHS có nhiều diễn biển phức tạp, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người bị kết án Nếu chúng ta không có những qui định rõ ràng, thống nhất thì việc nghiên cứu và áp dụng sẽ rất khó khăn Việc xây dựng Luật THAHS là một bước tiến bộ trong xây dựng pháp luật của Việt Nam Từ đây, việc nghiên cứu về Luật THAHS sẽ có hệ thống hon Nó không những giúp cho sinh viên, học viên mà còn giúp cho tất cả người dân có thể nghiên cứu, tìm hiểu một cách dễ hiểu, dễ tiếp thu hơn Tuy nhiên, pháp luật
và đời sống là hai mảng có mối quan hệ gắn bó, mật thiết và hỗ trợ cho nhau Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống là cực kỳ quan trọng trong đó có hoạt động phổ biến kiến thức pháp luật cho sinh viên Tuy nhiên nếu không đưa Luật THAHS trở thành một môn học sẽ không có tác
Trang 16dụng hấp thụ tối đa kiến thức đó Khi trở thành một môn học (dù là môn tự chọn) sinh viên cũng sẽ được nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống hon.
Thứ ba, chuẩn bị cho xã hội một nguồn cán bộ có năng lực làm nhiệm vụ THAHS tại các địa phương cũng là một nhiệm vụ quan trọng cho trường đại học Luật Hà Nội Hiện nay đội ngũ cán bộ làm việc trong các lĩnh vực THAHS còn yếu Một trong những nguyên nhân chủ yếu là sinh viên đã không được nghiên cứu kỹ về nội dung pháp luật THAHS khi còn học trong trường đại học Do hiện nay phần THAHS chỉ là một vấn đề trong nội dung giảng dạy của môn luật TTHS nên sinh viên chỉ được nghiên cứu những vấn đề cơ bản của pháp luật THAHS Hơn nữa THAHS chỉ chiếm một phần qui định nhỏ trong BLTTHS nên khi nghiên cứu sinh viên cũng không chú trọng như một số phần khác của BLTTHS Bên cạnh đó, Pháp lệnh thi hành án phạt tù và các văn bản khác liên quan đến THAHS chỉ được dạy cho sinh viên chuyên ngành pháp luật hình sự như một chuyên đề tự chọn Chính từ thực tế nghiên cứu này cho thấy, sinh viên chưa được trang bị kiến thức đầy đủ về pháp luật THAHS Do đó khi ra trường, được tuyển vào các cơ quan như trại giam, phòng, đội thi hành án sinh viên gặp rất nhiều khó khăn để tiếp nhận công việc
Thứ tư, việc xây dựng môn luật THAHS để đưa vào giảng dạy cho sinh viên là sự cần thiết, là nhu cầu của thực tiễn Tất nhiên không phải bất cứ một đạo luật nào sau khi ban hành cũng được đưa vào giảng dạy thành một môn học trong các cơ sở đào tạo luật Việc xây dựng một môn học để giảng dạy cho sinh viên phải xuất phát từ vị trí, vai trò của lĩnh vực pháp luật đó đối với sự phát triển của đời sống xã hội, tính cấp thiết, nhu cầu của thực tiễn cũng như nguyên
lý, phương châm, mục tiêu giáo dục3 Tiếp cận theo khía cạnh nhận thức này thì việc xây dựng nội dung môn học luật THAHS là rất cần thiết, vì THAHS là một vấn đề luôn được xã hội quan tâm Luật THAHS là mảng không thể thiếu được của quá trình thực thi pháp luật, là kết quả của hoạt động TTHS Việc hoàn thiện pháp luật THAHS là một đòi hỏi cấp thiết nhằm giúp Nhà nước trấn áp, cải tạo và giáo dục người phạm tội, tăng cường hiệu quả của công tác đấu tranh
Trang 17phòng chống tội phạm Do đó, nhu cầu của xã hội đang đặt ra áp lực đối với
trường đại học Luật Hà Nội là phải nhanh chóng xây dựng và đưa nội dung môn
luật THAHS vào giảng dạy cho sinh viên
Thứ năm, việc xây dựng môn luật THAHS để đưa vào giảng dạy cho sinh
viên là nâng cao chất lượng đào tạo về luật trong cơ sở đào tạo luật nói chung và
của trường đại học Luật Hà Nội nói riêng
Nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu hàng đầu của tất cả các cơ sở đào
tạo luật trong cả nước nói chung và trương đại học Luật Hà Nội nói riêng Chất
lượng đào tạo được thể hiện qua trình độ năng lực, chuyên môn của giáo viên,
khả năng tiếp cận và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn của sinh viên sau
khi ra trường Một cơ sở có chất lượng đào tạo tốt là một cơ sở mà sinh viên sau
khi ra trường có thể nhanh chóng thích nghi và từng bước khẳng định được năng
lực, tài năng trong các vị trí công tác; đồng thời sinh viên của cơ sở đào tạo đó
được các đon vị sử dụng “săn đón”, đặt hàng khi họ ra trường với chế độ đãi ngộ
đặc biệt hấp dẫn Để làm được việc này, cơ sở đào tạo phải luôn trau dồi, suy
nghĩ, tìm tòi đổi mới qui trình đào tạo, cải tiến nội dung, phương pháp giảng
dạy; kịp thời cập nhật những kiến thức pháp luật m ới cho sinh viên4 Việc xây
dựng nội dung và đưa môn học luật THAHS vào chương trình giảng dạy của
trường đại học Luật Hà Nội là một trong những việc làm đi theo định hướng
này
1.3 Nội dung chương trình môn Luật THAHS
Trên sự nghiên cứu lý luận và thực tiễn như trên, qua sự khảo sát nội dung
chương trình giảng dạy của các cơ sở đào đạo luật trong cả nước, chúng tôi thấy
môn học luật THAHS cần được đưa vào giảng dạy trong trường đại học Luật Hà
Nội vói nội dung chương trình cụ thể như sau:
1.3.1 Muc tiêu của môn hoc luât THAHS• • •
- Trang bị những kiến thức lý luận về khái niệm, nhiệm vụ, các nguyên tắc
cơ bản của luật THAHS
Trang 18- Trang bị các kiến thức cơ bản về luật THAHS như Hệ thống tổ chức TPAHS, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong THAHS; Thủ tục thi hành án phạt tù; Thi hành án tử hình; Thi hành các loại án khác; Thi hành biộì pháp tư pháp; Kiểm sát THAHS và những bảo đảm điều kiện cho hoạt động TTAHS; Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THAHS; Nhiệm vụ, quyền hạn của cơquan nhà nước trong công tác THAHS.
- Trang bị những kiến thức thực tiễn về hoạt động THAHS
- Nâng cao năng lực phân tích và đánh giá những ưu điểm và hạn chế của hệthống pháp luật THAHS
- Nâng cao năng lực đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật THAHS
1.3.2 Chương trình của môn học luật THAHS
Môn luật THAHS được xây dựng với thời lượng 2 đơn vị tín chỉ được giaig dạy cho sinh viên, học viên thuộc tất cả các hệ đào tạo của trường đại học Luật Hà Nội (hệ đại học chính qui, văn bằng 2 chính qui, hệ đại học tại chức văn bằng 2; hệ đại học tại chức; hệ trung cấp luật) Môn học này được giảng dạy cho sinh viên cuối năm thứ 3 hoặc đầu năm thứ 4 sau khi họ đã được trang bị kiến thức pháp luật có liên quan của các môn học luật hình sự, luật TTHS
Tài liệu chuẩn bị cho giảng dạy môn luật THAHS sẽ bao gồm: giáo trình luật THAHS; sách đề cương môn học luật THAHS; sách bình luận luật THAHS; luật THAHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan; các tài liệu, sách, báo nghiên cứu về luật THAHS
Phương pháp giảng dạy: kết họp giữa phương pháp giảng dạy độc thoại truyền thống với phương pháp đối thoại, trao đổi với sinh viên, phương pháp tình huống, phương pháp nêu vấn đề, phân tích, diễn giải, phương pháp thảo luận nhóm để truyền tải kiến thức của môn luật THAHS
1.3.3 Nôi dung của môn hoc luăt THAHS• o • •
Vấn đề 1 Khái niệm, nhiệm vụ và nguyên tắc của luật THAHS
Vấn đề 2 Hệ thống cơ quan THAHS và cơ quan nhà nước trong quản lý công tác thi hành án hình sự
Vấn đề 3 Thi hành án tử hình
Trang 19v ấn đề 4 Thi hành án phạt tù
Vấn đề 5 Thi hành các loại án khác
Vấn đề 6 Thi hành biện pháp tư pháp
Vấn đề 7 Kiểm sát THAHS
Vấn đề 8 Khiếu nại, tố cáo trong THAHS
ÁN HÌNH S ự
2.1 Khái niệm, nhiệm vụ và nguyên tắc của Luật THAHS
2.1.1 Luật THAHS- một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam
- Khái niệm: Luật THAHS là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình THAHS nhằm đảm bảo thi hành trong thực tế
các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
Điều 12 Hiến pháp năm 1992 qui định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN” Việc thi hành bản án,
quyết định của Toà án phải được quán triệt sâu sắc nguyên tắc này Nhiệm vụ
bảo vệ pháp luật đòi hỏi phải phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi vi
phạm pháp luật, đặc biệt là các hành vi phạm tội Đối với các hành vi phạm tội,
Toà án ra bản án hoặc các quyết định khác bắt buộc người đó phải thi hành
nhằm trừng trị đồng thời giáo dục, cải tạo người phạm tội, thực hiện công lý,
công bằng xã hội THAHS chính là việc thực hiện công lý, công bằng xã hội
trong thực tế Như vậy, đảm bảo thi hành các phán quyết của Toà án là nhiệm vụ
sống còn của Nhà nước, của toàn xã hội, nó liên quan trực tiếp đến tính nghiêm
minh của cả hệ thống pháp luật, đến uy tín của Nhà nước Vì vậy, yêu càu các
bản án, quyết định của Toà án trong đó đặc biệt là các bản án hình sự phải được
xã hội đặc biệt tôn trọng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải chấp hành nghiêm
chỉnh Các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự không chỉ
hướng tới mục đích là ra bản án và quyết định đúng đắn mà còn đảm bảo sao
Trang 20cho bản án và quyết định đó khi đã có hiệu lực phải được đưa ra thi hành kịp thời và triệt để.
Có thể nhận thấy bản chất của THAHS thể hiện ở những đặc điểm cơ bảnsau:
Thứ nhất, THAHS với tính chất là một hoạt động chấp hành, cho dù căn
cứ để thi hành là bản án và quyết định của Toà án, nhưng quá trình THAHS được thực hiện với những hoạt động, biện pháp, cách thức không mang tính tố tụng
Thứ hai, trong quá trình thi hành, các cơ quan thi hành án bao gồm một hệ thống các cơ quan có thẩm quyền mà không phải là các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan quản lý THAHS (cơ quan quản lý THAHS thuộc Bộ Công an
và cơ quan quản lý THAHS thuộc Bộ Quốc phòng); Cơ quan THAHS (trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu; cơ quan THAHS Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan THAHS Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, cơ quan THAHS quân khu và tương đương) và cơ quan được giao một số nhiệm vụ THAHS: Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu, ủ y ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Thứ ba, trong quá trình thi hành án, các đối tượng thi hành án phải có nghĩa vụ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp đã được xác định trong bản án, quyết định của Toà án; các cơ quan có thẩm quyền thi hành án phải có trách nhiệm trong việc giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, của Nhà nước và xã hội, giáo dục họ trở thành người công dân có ích cho xã hội
Thứ tư, THAHS trước hết là hoạt động của cơ quan Nhà nước Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình xã hội hoá hoạt động THAHS cũng đang được tiến hành với nhiều triển vọng Theo đó, THAHS sẽ có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, gia đình của người bị kết án
Trang 21- Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của luật THAHS:
Đối tượng điều chỉnh của Luật THAHS là những quan hệ xã hội phát sinh
£Íữa các chủ thể khác nhau trong quá trình THAHS Do nội dung của các bản
Én, quyết định của Toà án trong lĩnh vực hình sự rất đa dạng và phong phú nên các quan hệ phát sinh trong quá trình THAHS cũng hết sức phức tạp Có thể chia các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình THAHS thành những nhóm cơ tản sau:
Thứ nhất, những quan hệ phát sinh ngay sau khi bản án hình sự có hiệu
\xc pháp luật, nghĩa vụ thi hành án bản án của các cơ quan chức năng, nghĩa vụ
chấp hành bản án của người bị kết án, việc nhập trại, phân loại trại, phân chế độ giam giữ, cải tạo
Thứ hai, những quan hệ phát sinh trong quá trình giáo dục, cải tạo thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ của những người bị kết án nói chung và những trại dặc biệt; quyền và nghĩa vụ của cơ quan thi hành hình phạt tù
Thứ ba, những quan hệ phát sinh trên cơ sở những sự kiện phát lý xảy ra trong quá trình giáo dục, cải tạo; khám chữa bệnh, kiểm tra, thanh tra, gặp gỡ Thứ tư, những quan hệ của các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức
xã hội góp phần vào quá trình giáo dục, cải tạo những người bị kết án
Phương pháp điều chỉnh của Luật THAHS là những cách thức mà nó dùng để tác động đến các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình THAHS về
cơ bản, Luật THAHS có hai phương pháp điều chỉnh đó lã: Phương pháp quyền
uy và phương pháp phối họp- chế ước
Phương pháp quyền uy là phương pháp thể hiện sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ đó và khả năng cưỡng chế thực hiện tối đa Thông thường phương pháp này được sử dụng để điều chỉnh quan hệ Nhà nước thông qua các
cơ quan được uỷ quyền với người phải chấp hành án hình sự Nhà nước áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc người phải chấp hành án phải thực hiện các nội dung
đã được thể hiện trong bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Toà án mà không phụ thuộc vào ý chí của người phải chấp hành án hay của bất kỳ cơ quan,
Trang 22tô chức nào.
Phương pháp phối hợp- chế ước: là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân trong quá trình THAHS Ví dụ: sự phối hợp giữa cơ quan Viện kiểm sát với cơ quan quản lý trại giam để bảo đảm hiệu quả thi hành án phạt tù
2.1.2 Nhiệm vụ của Luật THAHS• • •
Nhiệm vụ của pháp luật THAHS không thể tách rời khỏi nhiệm vụ của cả
hệ thống pháp luật nói chung và của hệ thống tư pháp hình sự nói riêng Tuy nhiên với tư cách là một ngành luật, THAHS có những nhiệm vụ cụ thể đặc thù với tính cách là hình thức thể hiện việc thực hiện nhiệm vụ chung Những nhiệm
vụ chính của luật THAHS đó là:
Thứ nhất, bảo đảm bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án phải được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế
Thứ hai, cải tạo, giáo dục người bị kết án để họ không phạm tội mới và trở thành người có ích cho xã hội, tạo các điều kiện cần thiết để họ tái hoà nhập cộng đồng và bằng cách đó thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm
Thứ ba, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phòngngừa tội phạm nói chung, động viên khuyến khích sự tham gia của xã hội vàcông dân vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội Ị ầẹutíũ TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆ 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ N( ị
2.1.3 Nguyên tắc của luật THAHS PHÒNG ĐỌC ' J
- Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN trong THAHS:
Điều 4 luật THAHS qui định: “Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Bản án, quyết định có hiệu lực thỉ hành phải được cơ quan, tẻ chức, cá nhân tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh ”
Nội dung của qui định trên xác định: khi thực hiện các hoạt động THAHS, các cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức, cá nhân, người bị kết án phải triệt để tuân thủ các qui định của Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân
Ị ibBUUG TÂM THÔNG TIN THƯVIỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ l\]( PHÒNG ĐỌC / i $ f) -
THAHS:
Trang 23Toàn bộ quá trình THAHS, tò khâu tổ chức đến việc triển khai công tác
tH hành án đều phải được đặt trong khuôn khổ pháp lý chặt chẽ Các qui định cia luật THAHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan cần được tuân thủ, ciấp hành nghiêm chỉnh, nhất quán Muốn vậy, các cơ quan thi hành án phải có trích nhiệm tổ chức thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định của Toà án đã
co hiệu lực pháp luật, loại bỏ sự tuỳ tiện, vô tổ chức, thiếu kỷ luật trong lĩnh vực
tH hành án và phải xử lý nghiêm minh mọi biểu hiện vi phạm pháp luật trong lhh vực thi hành án, bao gồm những vi phạm từ phía những người có nghĩa vụ cầấp hành án và những người có trách nhiệm tổ chức việc thi hành án Các qui đnh của luật THAHS phải được tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh, nhất quán Các cơ quan thi hành án có trách nhiệm tổ chức thi hành nghiêm chỉnh các bản
án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, loại bỏ sự tuỳ tiện, vô tổ chúc, thiếu kỷ luật trong lĩnh vực thi hành án và phải xử lý nghiêm minh mọi biểu hiện vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thi hành án, bao gồm cả những vi phạm pháp luật từ phía những người có nghĩa vụ chấp hành án và những người
co trách nhiệm tổ chức việc thi hành án
- Nguyên tắc bảo đảm nhân đạo XHCN:
“Bảo đảm nhân đạo XHCN; tôn trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án ” (Điều 4 Luật THAHS).
Trong THAHS, nguyên tắc nhân đạo thể hiện tín ưu việt của chế độ xã hội cũng như truyền thống nhân đạo của dân tộc ta Tư tưởng nhân đạo thể hiện ngay trong mục đích của hoạt động THAHS là nhằm thực thi công lý, bảo đảm
sự công bằng cần thiết cho mọi thành viên trong xã hội trước pháp luật, bảo vệ
có hiệu quả các loại lợi ích trong xã hội Do vậy, nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi trưcc hết, hoạt động THAHS phải bảo đảm có hiệu quả, hài hoà các loại lợi ích khá: nhau, tôn trọng nhân phẩm, danh dự đối với những người chấp hành án Nguyên tắc nhân đạo trong THAHS thể hiện ở qui chế giảm, miễn, hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, ở chế độ ăn, mặc, ở, học tập, lao động của phạm nhâi trong thời gian chấp hành án Nguyên tắc nhân đạo giúp cho người chấp
Trang 24hành án hình thành thói quen sinh hoạt cộng đồng, ý thức tuân thủ, phục tùng pháp luật của người phải chấp hành hình phạt, mặt khác, tránh tâm lý mặc cảm,
tự ti, thù địch, xa lánh cộng đồng của những người này sau khi hết thời hạn chấp hành hình phạt để giúp họ dễ dàng tái hoà nhập cộng đồng Tuy nhiên, nguyên tắc nhân đạo trong tổ chức và hoạt động THAHS không đồng nghĩa với việc nương nhẹ, bỏ qua một cách vô căn cứ đối với những người không chấp hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực của pháp luật của Toà án Việc thực hiện nguyên tắc nhân đạo nhưng không được làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật cũng như không được phép vi phạm các nguyên tắc khác về tổ chức và hoạt động THAHS
- Nguyên tắc kết họp giáo dục, cải tạo và cưỡng chế:
“Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất và mức độ phạm tội, độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành á n ” (Điều 4 Luật THAHS) Sự tự nguyện thi hành án là một trong những
yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho hoạt động thi hành án được diễn ra thuận lợi,
có hiệu quả Do đó luật THAHS đưa ra những qui định nhằm khuyến khích người có nghĩa vụ thi hành án tự nguyện thực hiện những nghĩa vụ mà bản án,
quyết định của Toà án yêu cầu: “Khuyến khích người chấp hành án ăn năn hối
cải, tích cực học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt h ạ i” (Điều 4
luật THAHS) Trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với họ là cần thiết để hoạt động thi hành án đạt được mục đích đề ra Biện pháp cưỡng chế, bắt buộc phải thi hành được xem là biện pháp cuối cùng để bảo đảm hiệu lực, tính nghiêm minh của pháp luật và của bản án được tuyên nhân danh Nhà nước, đồng thời để bảo đảm quyền và lợi ích họp pháp, chính đáng của người phải thi hành án và những người khác có liên quan Việc vận dụng nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế trong tổ chức và THAHS đòi hỏi phải tìm ra sự kết họp đúng đắn, họp lý giữa các biện pháp giáo dục, cải tạo và cưỡng chế Mối quan hệ kết hợp đó cần phải được xây dựng trên cơ sở nhận thức về mức độ, liều lượng khác nhau của sự kết họp các biện pháp giáo dục, cải tạo, thuyết phục và các biện
Trang 25pháp cường chế đối với việc thi hành từng loại án khác nhau cũng như đối với từng loại người bị kết án khác nhau Việc áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất và mức độ phạm tội, độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá
và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án Có như vậy mới tăng được hiệu quả của công tác THAHS Bên cạnh đó, trong một số trường họp khi thi hành án đối với những đối tượng đặc biệt như người chưa thành niên cũng cần xác định rõ mục đích của thi hành án là: “chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ
họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người có ích cho xã hội ” (Điều 4 Luật THAHS).
- Nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân:
THAHS là lĩnh vực hoạt động có liên quan trực tiếp tới các quyền và tự
do cơ bản được qui định trong Hiến pháp như: quyền tự do thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín Do đó, nguyên tắc tôn trọng và bảo
vệ các quyền cơ bản của con người phải được quán triệt đầy đủ trong tổ chức và hoạt động THAHS Khi THAHS, các cơ quan và cá nhân có nhiệm vụ thi hành
án phải tôn trọng và bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân Các
cơ quan có thẩm quyền và các cá nhân chỉ được áp dụng các biện pháp cưỡng chế khi có đầy đủ các căn cứ và chỉ tron giới hạn được pháp luật qui định Các
cơ quan thi hành án và các cá nhân có thẩm quyền cần phải tôn trọng sự tự nguyện thi hành án của những người bị kết án và các tổ chức, cá nhân khác Sự
tự nguyện của người phải thi hành án được coi là một trong những yếu tố quan trọng giúp hoạt động thi hành án được diễn ra thuận lợi, có hiệu quả Điều này còn thể hiện sự thành công trong công tác thi hành án của các cơ quan thi hành
án, không chỉ giúp được những chi phí không cần thiết mà còn giúp được duy trì
được mối quan hệ đồng thuận trong sinh hoạt xã hội Bên cạnh đó: “Bảo đảm
quyền khiếu nại, tổ cáo những hành vi, quyết định trải pháp luật trong hoạt động THAHS" (Điều 4 Luật THAHS) cũng là một trong những nội dung của
việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong THAHS
Trang 26- Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình vào việc giáo dục cải tạo người chấp hành án:
Thi hành án hình sự là hoạt động mang tính phức tạp cao mà hiệu quả của
nó không chỉ phụ thuộc nhiều vào sự nỗ lực của các cơ quan thi hành án chuyên
trách mà còn phụ thuộc vào sự tham gia của các cơ quan nhà nước, chính quyền
địa phương, tổ chức, cá nhân và gia đình của người bị kết án Do vậy bảo đảm
sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình vào việc giáo dục cải tạo
người chấp hành án được coi là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt
động THAHS và cần phải được vận dụng thực hiện nghiêm túc trong thực tiễn
Trong lĩnh vực THAHS, pháp luật qui định ngoài các cơ quan chuyên trách thi
hành án phạt tù, hình phạt trục xuất, hình phạt tiền, tịch thu tài sản thì chính
quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc
làm việc được đảm nhiệm thi hành những hình phạt khác như: quản chế, cấm cư
trú, cải tạo không giam giữ, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm một
số chức vụ hoặc cấm làm một số nghề nhất định
2.2 Hệ thống cơ quan THAHS và cơ quan nhà nước trong quản lý
công tác thi hành án hình sự
thẩm quyền trong THAHS
Hệ thống cơ quan THAHS là một bộ phận quan trọng của hệ thống tổ
chức THAHS có nhiệm vụ trực tiếp THAHS Theo quy định khoản 2 Điều 10 Luật THAHS, cơ quan THAHS gồm có: Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu; Cơ quan THAHS Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan THAHS Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và cơ quan THAHS quân khu và tương đương
Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu (sau đây gọi là trại giam) là nơi thi hành án phạt tù; quản lý, giam giữ, cải tạo những người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định
Trang 27của Bộ Công an, Bộ quốc phòng Theo qui định tại Điều 16 Luật THAHS, trại giam được tổ chức gồm các phân trại, khu giam giữ, nhà giam, các công trình phục vụ việc quản lý giam giữ, phục vụ sinh hoạt, chăm sóc y tế, giáo dục cải tạo phạm nhân; các công trình phục vụ làm việc, sinh hoạt của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức công tác tại trại giam Tổ chức bộ máy quản lý của trại giam gồm có Giám thị, Phó giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan; chiến sĩ và công nhân, viên chức Giám thị, Phó giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng phải là người đã tốt nghiệp đại học Cảnh sát, đại học An ninh, đại học Luật trở lên và bảo đảm các tiêu chuẩn khác theo quy định của Chính phủ.
Cơ quan THAHS Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là cơ quan THAHS Công an cấp tỉnh)
Theo Điều 13 Luật THAHS cơ quan THAHS Công an cấp tỉnh có nhiệm
vụ, quyền hạn giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh quản lý, chỉ đạo công tác THAHS trên địa bàn cấp tỉnh: chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra công tác THAHS đối với trại tạm giam, cơ quan THAHS Công an cấp huyện; tổng kết công tác THAHS và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý THAHS thuộc Bộ Công an Ngoài việc giúp cơ quan quản lý thi hành
án, cơ quan THAHS Công an cấp tỉnh còn trực tiếp thực hiện những hoạt động thi hành án
Cơ quan THAHS Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cơ quan THAHS Công an cấp huyện) Theo qui định tại Điều 15 Luật THAHS, Cơ quan THAHS Công an cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn giúp Trưởng Công an cấp huyện quản lý, chỉ đạo công tác THAHS trên địa bàn cấp huyện: hướng dẫn nghiệp vụ công tác THAHS theo thẩm quyền đối với ủ y ban nhân dân cấp xã; chỉ đạo, kiểm tra Công an cấp xã trong việc giúp ƯBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ THAHS theo quy định của Luật THAHS này; thực hiện thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý THAHS thuộc Bộ Công
Trang 28Cơ quan THAHS quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan THAHS cấp quân khu) có nhiệm vụ, quyền hạn giúp Tư lệnh quân khu quản lý: chỉ đạo công tác THAHS trên địa bàn quân khu và tương đương; chỉ đạo nghiệp
vụ và kiểm tra công tác THAHS; quản lý trại giam thuộc quân khu; tổng kết công tác THAHS và thực hiện thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý THAHS thuộc Bộ Quốc phòng
Ngoài các cơ quan thi hành án còn có các cơ quan được giao một số nhiệm vụ THAHS Khoản 3 Điều 10 Luật THAHS quy định Cơ quan được giao một số nhiệm vụ THAHS gồm:
- Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu (sau đây gọi là trại tạm giam): Điều 17 Luật THAHS qui định trại tạm giam có nhiệm vụ, quyền hạn tiếp nhận, quản lý giam giữ người bị kết án tử hình; trực tiếp quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân chấp hành án tại trại tạm giam theo quy định của Luật THAHS
- ủ y ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là ủ y ban nhân dân cấp xã): Điều 18 Luật THAHS qui định ủ y ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân và án treo Công an cấp xã tham mưu, giúp ủ y ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật THAHS
- Đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương (sau đây gọi là đơn vị quân đội): Điều 19 Luật THAHS qui định đơn vị quân đội có nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân và án treo theo quy định của Luật THAHS
Tòa án cũng là chủ thể tham gia vào quá trình thi hành án Điều 20 Luật THAHS qui định Tòa án trong THAHS có nhiệm vụ, quyền hạn ra quyết định
Trang 29thi hành án; quyêt định thành lập Hội đông thi hành án tử hình; ra quyêt định
hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án phạt tù; miễn, giảm thời hạn chấp
hành án; kéo dài thời hạn trục xuất; rút ngắn thời gian thử thách đối với người
được hưởng án treo; xem xét, giải quyết việc cho nhận tử thi của người chấp
hành án tử hình; gửi bản án, quyết định được thi hành và quyết định, tài liệu có
liên quan cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật THAHS; thực
hiện chế độ thống kê, báo cáo về THAHS theo thẩm quyền và nhiệm vụ, quyền
hạn khác theo quy định của Luật THAHS
THAHS
Quản lý nhà nước trong công tác THAHS là quản lý về tổ chức của các cơ THAHS và quản lý toàn bộ hoạt động THAHS đối với người chấp hành án Quản lý nhà nước trong công tác THAHS có các đặc điểm sau đây:
- Cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước trong công tác THAHS không chỉ bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước mà còn bao gồm các cơ quan tư pháp Bỡi lẽ, theo quy định tại Chương XIV Luật THAHS, thì các cơ quan nhà nước sau đây có thẩm quyền quản lý cồng tác THAHS: Chính phủ, Bộ Công an,
Bộ Quốc phòng, TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Lao động, thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, ƯBND cấp tỉnh và ƯBND cấp huyện Trong đó, Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Lao động, thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện là các cơ quan quản lý nhà nước; còn TAND tối cao, VKSND tối cao là các cơ quan tư pháp Theo quy định tại Điều 10-12 Luật THAHS, thì ở Bộ Công an và Bộ Quốc phòng có cơ quan quản lý THAHS giúp Bộ trưởng thực hiện các nhiệm vụ trong công tác quản lý THAHS
- Nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan nhà nước trong công tác THAHS được quy định cụ thể trong Luật THAHS từ Điều 170 đến Điều 182 (sẽ được trình bày tại điểm 2 Chuyên đề nay)
- Nội dung quản lý nhà nước trong công tác THAHS bao gồm: chỉ đạo các
cơ quan về công tác THAHS; ban hành hoặc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm
Trang 30quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về THAHS; đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy định về THAHS trái với quy định của Luật THAHS; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về THAHS; quyết định việc đưa người chấp hành án phạt
tù có thời hạn từ 5 năm trở xuống không phải là người chưa thành niên, người nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma tuý để phục vụ việc tạm giam, tạm giữ; chỉ đạo và tổ chức thực hiện và phổ biến, giáo dục các văn bản quy phạm pháp luật về THAHS; ban hành các biểu mẫu, giấy
tờ, sổ sách về THAHS; Ban hành và thực hiện chế độ thống kê về THAHS; quản
lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan THAHS; quyết định thành lập cơ quan THAHS; đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức trong THAHS; bồi dưỡng, huấn luyện, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ THAHS; chỉ đạo lực lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp, cảnh
vệ tư pháp thực hiện phối họp truy bắt người chấp hành án bỏ trốn; áp giải người có quyết định THAHS để thi hành án; giải tán, tạm giữ người có hành vi cản trở, chổng đối việc thi hành án; phối họp đơn vị vũ trang nhân dân khác và chính quyền địa phương để chủ động triển khai lực lượng hỗ trợ THAHS trong trường hợp cần thiết; kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác THAHS; giải quyết khiếu nại, tố cáo về THAHS theo quy định của Luật THAHS; quyết định kể hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm điều kiện cho hoạt động của cơ quan THAHS
Việc quản lý nhà nước trong công tác THAHS có ý nghĩa rất lớn đối với việc: - Bảo đảm cho việc tổ chức cơ quan THAHS đúng quy định của pháp luật Bởi lẽ, theo quy định tại các Điều 171, 172 Luật THAHS, thì Bộ Công an và Bộ Quốc phòng có quyền thành lập cơ quan THAHS Nhưng số lượng cơ quan THAHS do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thành lập bị khống chế bởi quy định tại Điều 10 Luật THAHS và chỉ bao gồm: Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu; Cơ quan THAHS Công an
Trang 31tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan THAHS Công an huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Cơ quan THAHS quân khu và tương đương
- Bảo đảm cho công tác THAHS được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Bởi lẽ, các cơ quan quản lý THAHS (Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng) có nhiệm vụ: chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật về THAHS; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong công tác THAHS;
đình chỉ, bãi bỏ hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy định về
THAHS trái với quy định của Luật THAHS
Xem xét việc kháng nghị bản án tử hình là thủ tục bắt buộc, không phụ thuộc người bị kết án có đề nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hay không
Theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 258 BLTTHS, sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án TANDTC và bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng VKSNDTC
Theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 258 BLTTHS, sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng VKSNDTC
Việc gửi ngay bản án tử hình cho Viện trưởng VKSNDTC là để kịp thời thông báo về việc áp dụng hình phạt tử hình Viện trưởng VKSNDTC không thể quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị chỉ trên cơ sở kiểm tra bản án tử hình, mà phải kiểm tra toàn bộ hồ sơ vụ án như quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 258 BLTTHS: “Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và
hồ sơ vụ án, Viện trưởng VKSND tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc
Trang 32quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm” Ở thời điểm “sau
khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật” trong hồ sơ vụ án gửi ngay lên Chánh
án TANDTC đương nhiên phải bao gồm bản án tử hình Do đó, bản án được gửi ngay lên Viện trưởng VKSNDTC chỉ là bản sao bản án tử hình
2.3.1.2 Thủ tục xem xét việc ân giảm hình phạt tử hình
Việc ân giảm hình phạt tử hình là việc Chủ tịch nước xem xét chính sách của Nhà nước và trường họp phạm tội cụ thể để quyết định ân giảm hoặc không
ân giảm hình phạt tử hình khi có đon xin ân giảm của người bị kết án
Xem xét việc ân giảm hình phạt tử hình không phải là thủ tục bắt buộc đương nhiên mà phụ thuộc vào ý chí xin ân giảm của người bị kết án Nếu người
bị kết án không xin ân giảm hoặc chỉ kêu oan(5) thì Chủ tịch nước không có quyền tự mình ân giảm hình phạt tử hình Người bị két án tử hình được gửi đơn xin ân giảm trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật(6), hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm giữ nguyên bản án tử hình{7)
Xem xét việc ân giảm hình phạt tử hình không phải là kiểm tra tính có căn
cứ và hợp pháp của bản án tử hình mà chỉ xem xét chính sách của Nhà nước (chính sách nhân đạo, chính sách ngoại giao, chính sách đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ) và trường hợp phạm tội cụ thể để quyết định ân giảm hoặc không ân giảm Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC phải trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về trường hợp người bị kết án xin ân giảm.(8)Điều kiện thi hành hình phạt tử hình:
- Trong trường hợp người bị kết án tử hình không xin ân giảm:
( 5) Trường hợp người bị kết án tử hình chi làm đơn có nội dung kêu oan thì đơn phải được gửi ngay lên Chánh
án T A N D T C (điểm i, tiếu m ục 1.1, mục 1, Phần II N ghị quyết số 02/2007/N Q -H Đ T P ngày 02/10/2007 cùa Hội
đồng thẩm phán T A N D T C hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm “Thì hành bàn án và quyết
định cù a io à án” của BLTTHS); hoặc Văn phòng Chủ tịch nước trả hồ sơ về cho TAN DTC để Chánh án
TA N D T C giải quyết theo thẩm quyền (Đ iều 9 Quy chế số 72 QC/LT V PC T N -T A N D TC ngày 30/10/2003 phối hợp côn g tác giữa văn phòng Chủ tịch nước và TA N D TC ) Đom có nội dung kêu oan cùa người bị kết án tử hình được T A N D T C xem xét như đơn đề nghị giám đốc thẩm.
(6) Đoạn 3, khoản 1, Điều 258 BLTTHS.
(7) Đ iểm h, tiểu m ục 1.1, mục 1, phần II Nghị quyết số 02/2007/N Q -H Đ T P ngày 02/10/2007 cùa HĐTP
TA N D T C hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm “ Thi hành bàn án và quyết định cùa Toà án"
cùa BLTTHS
(8) Khoản 4 Đ iều 25 Luật tổ chức T A N D năm 2002, khoán 6 Đ iều 33 Luật tổ chức V K SN D năm 2002.
Trang 33Trong trường hợp này, bản án tử hình được thi hành nếu toà án xử sơ thẩm
đã nhận được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC hoặc đã nhận được quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm của TANDTC giữ nguyên bản án
tử hình
- Trong trường hợp người bị kết án tử hình xin ân giảm:
Trong trường hợp này, bản án tử hình được thi hành nếu toà án xử sơ thẩm
đã nhận được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC, quyết định không kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC và bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình hoặc đã nhận được quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm của TANDTC giữ nguyên bản án tử hình và bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình
sơ thẩm khác nhau thì chánh án toà án đã xử sơ thẩm vụ án sau cùng ra quyết định thi hành án và thành lập hội đồng thi hành hình phạt tử hình
- Hình thức và trình tự thi hành án tử hình: Thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc
Việc thay thế hình thức xử bắn bằng tiêm thuốc độc vì những lý do sau: việc xử bắn tuy có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm cao, nhưng cũng bộc lộ bất cập: 1) Thi hành hình phạt tử hình bằng xử bắn ảnh hưởng nặng nề đến tâm
Trang 34lý, tư tưởng cán bộ, chiến sỹ trực tiếp làm nhiệm vụ thi hành án “Thực tế cho
thấy, đã có không ít cán bộ, chiến sỹ do không chịu đựng nổi áp lực và căng thẳng về tâm lý cũng như quan niệm đạo đức truyền thống nên đã không yên tâm công tác, thậm chí có cản bộ, chiến sỹ sau một sổ lần thực hiện nhiệm vụ thi hành án đã có biểu hiện bất ổn về tinh thần ”.(9) 2) Thi hành hình phạt tử hình
bằng xử bắn khiến nhiều địa phương gặp khó khăn về pháp trường Hiện nay, trong 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mới có 07 tỉnh, thành phố có pháp trường cố định; 18 tỉnh, thành phố do bắn nhiều làn ở một địa điểm nên đã
tự hình thành pháp trường và 36 tỉnh, thành phố chưa có pháp trường thi hành án
tử hình, mỗi lần thi hành án tử hình phải liên hệ, tìm pháp trường và trong nhiều trường hợp phải đưa người bị kết án tử hình trong nhiều vụ án khác nhau ra thi hành cùng một thời điểm; 3) Thi hành hình phạt tử hình bằng xử bắn làm cho
thi thể người bị thi hành án không còn nguyên vẹn, “gây cảm giác là làm đau
đớn về thể xác cho người bị kết án khi chết, gây kinh hoàng cho người bị kết
án và thân nhân của họ ”.(10) Hình thức thi hành hình phạt tử hình cần được thay
đổi theo hướng hiện đại và nhân đạo hon Thi hành hình phạt tử hình bằng tiêm
thuốc độc “ưu việt hơn so với các hình thức khác mà các nước trên thế giới
đang áp dụng Ưu điểm nổi trội của hình thức thi hành án này là ở chỗ nỏ giảm bớt sự đau đớn trước khi chết và giữ nguyên vẹn xác của người bị thi hành hình phạt tử hình, có khả năng áp dụng trong điều kiện như nước ta, cũng như làm giảm áp lực tâm lý cho những người được giao nhiệm vụ trực tiếp thi hành
' ” ( > 1 )
án '
Theo quy định tại Nghị định số 82/2011/NĐ-CP ngày 16-9-2011, thuốc tiêm để sử dụng cho thi hành án tử hình bao gồm: thuốc dùng để gây mê: Sodium thiopental; thuốc dùng để làm liệt hệ thần kinh và cơ bắp: Pancuronium bromide và thuốc dùng để ngừng hoạt động của tim: Potassium chloride Một liều gồm 3 loại thuốc nói trên
Quy định của Luật THAHS về hình thức thi hành án tử hình là tiêm thuốc
(9) V õ Khánh V inh, “Một số vấn đề vệ thi hành hình phạt tử hình”, Tạp ch í TAND, tháng 10/2004, tr 18 ( 10) Phạm Văn Lợi (Chù biên), M ộ t s ố vấn đề về hình p h ạ t lừ hình và thi hành hình p h ạ t tứ hình, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà N ộ i, 2006, tr 122.
(" ) Phạm Văn Lợi (Chù biên), M ột s ố vấn đề về hình p h ạ t tử hình và thi hành hình p h ạ t lừ hình, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà N ộ i, 2006, tr 151, 152.
Trang 35độc thì phải huỷ bỏ khoản 3 Điều 259 BLTTHS hiện hành: “Hình phạt tử hình
được thi hành bằng xử bắn
Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án tử hình phải kiểm tra danh bản, chỉ bản, hồ sơ lý lịch của người chấp hành án tử hình; trường hợp người chấp hành án là nữ thì Hội đồng phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật hình sự
Hình phạt tử hình không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử và không được thi hành đối với phụ nữ đang ở trong tình trạng đó Khoản 6 Điều 5 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 chỉ quy định không thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ đang có thai nên việc không thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi là sự mở rộng của pháp luật Việt Nam so với quy định của Công ước
Trước khi bị đưa ra thi hành án tử hình, người chấp hành án được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại thân nhân
Trình tự thi hành án tử hình được thực hiện như sau: 1) Căn cứ quyết định thi hành án tử hình và yêu càu của chủ tịch hội đồng thi hành án tử hình, cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc cảnh vệ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án đến nơi làm việc của hội đồng thi hành án tử hình; 2) Thực hiện yêu cầu của hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn thuộc công an nhân dân hoặc quân đội nhân dân tiến hành lăn tay, kiểm tra danh bản, chỉ bản, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên quan; chụp ảnh, ghi hình quá trình làm thủ tục lăn tay, kiểm tra và lập biên bản; báo cáo hội đồng thi hành án tử hình về kết quả kiểm tra; 3) Chủ tịch hội đồng thi hành án tử hình công bố quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC, quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC không chấp nhận kháng nghị của Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC, quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình Ngay sau khi chủ tịch hội đồng thi hành án công bố các quyết định, cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc
Trang 36cảnh vệ tư pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người chấp hành án
để người đó tự đọc Trường hơp người chấp hành án không biết chữ, không biết tiếng Việt hoặc không tự mình đọc được thì hội đồng thi hành án tử hình chỉ định người đọc hoặc phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe Quá trình công bố và đọc các quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và lưu vào hồ sơ; 4) Theo lệnh của chủ tịch hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn do cơ quan THAHS cấp tỉnh, cơ quan THAHS cấp quân khu chỉ định thực hiện việc thi hành án và báo cáo kết quả cho chủ tịch hội đồng; 5) Theo lệnh của chủ tịch hội đồng thi hành án tử hình, bác sỹ pháp y xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho hội đồng; 6) Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản thi hành án; báo cáo về quá trình, kết quả thi hành án cho TANDTC, VKSNDTC, cơ quan quản lý THAHS Cơ quan THAHS công an cấp tỉnh, cơ quan THAHS cấp quân khu làm thủ tục khai tử tại ƯBND cấp xã nơi thi hành án; 7) Cơ quan THAHS công an cấp tỉnh, cơ quan THAHS cấp quân khu có trách nhiệm bảo quản tử thi, tổ chức mai táng, vẽ sơ
đồ mộ người đã bị thi hành án UBND cấp xã nơi thi hành án có nhiệm vụ phổi họp với cơ quan THAHS công an cấp tỉnh, cơ quan THAHS cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ của người đã bị thi hành án; 8) Trong thời hạn 03 ngày, kể tà ngày thi hành án, cơ quan THAHS công an cấp tỉnh, cơ quan THAHS cấp quân khu thông báo cho thân nhân của người đã bị thi hành án biết, trừ trường họp quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật THAHS
- Giải quyết việc xin nhận tử thi, hài cốt của người bị thi hành án tử hình:
Trước khi thi hành án tử hình, thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người chấp hành án được làm đơn có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã nơi
cư trú gửi chánh án tòa án đã xét xử sơ thẩm đề nghị giải quyết cho nhận tử thi của người chấp hành án để an táng; trường họp người chấp hành án là người nước ngoài thì đơn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam của nước mà người chấp hành án mang quốc tịch và phải được dịch ra tiếng Việt
Trang 37- Hoãn thi hành án tử hình: Hội đồng thi hành án tử hình quyết định hoãn thi hành án tử hình trong trường họp sau: 1) Người bị kết án thuộc trường hợp
người chưa thành niên phạm tội, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử; 2) Có lý do bất khả kháng; 3) Ngay
trước khi thi hành án người chấp hành án khai báo những tình tiết mới về tội
phạm (khoản 1 Điều 58 Luật THAHS)
Trường hợp hoãn thi hành án đối với người chưa thành niên phạm tội, phụ
nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét
xử thì hội đồng thi hành án báo cáo chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án
để báo cáo Chánh án TANDTC
Trường hợp hoãn thi hành án vì có lý do bất khả kháng hoặc ngay trước khi thi hành án người chấp hành án khai báo những tình tiết mới về tội phạm mà lý
do hoãn không còn thì chánh án tòa án ra quyết định thi hành án yêu cầu hội đồng thi hành án tiếp tục thực hiện việc thi hành án Trường hợp có sự thay đổi thành viên hội đồng thì chánh án tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định
bổ sung thành viên hội đồng hoặc thành lập hội đồng thi hành án theo quy định tại Điều 55 của Luật THAHS
lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo trở thành người lương thiện và có ích cho xã hội
Dưới góc độ là một hoạt động mang tính chất hành chính - tư pháp phức tạp và nhạy cảm hoạt động thi hành án phạt tù có liên quan đến quyền tự do dân chủ của người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân, những đối tượng của việc thi hành án phạt tù Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì tù có thời hạn là buộc người bị kết án tù phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong
Trang 38một thời gian nhất định với mức tối thiểu là ba tháng và tối đa là hai mươi năm.12 Trường hợp người bị kết án về nhiều tội hoặc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án tù có thời hạn thì thời hạn tối đa là ba mươi năm Như vậy đối tượng phải chấp hành án phạt tù theo quy định trên là người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân và bản án kết tội đối với họ đã có hiệu lực pháp luật và có quyết định thi hành Ngoài ra, còn có bản án của tòa án được thi hành ngay theo quy định của BLTTHS13 Theo Luật THAHS thì, người đang chấp hành hình phạt tù được gọi là phạm nhân và như vậy có thể nói, đối tượng chấp hành án phạt tù là phạm nhân.
- Căn cứ thi hành án phạt tù: Căn cứ để thi hành án phạt tù là những bản
án quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật14 và đã có quyết định thi hành,
đó là điều kiện cần thiết để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành án Theo Điều 2 của Luật THAHS thì bản án, quyết định được thi hành bao gồm bốn loại
Thứ nhất, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thihành
Thứ hai, bản án hoặc quyết định của tòa án được thi hành ngay theo quy định của BLTTHS
Thứ ba, quyết định của tòa án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp hành
án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định thi hành án: quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tà tại Việt Nam cho nước ngoài
Thứ tư, bản án quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng
2.4.1.2 Những quy định của pháp luật về thủ tục thi hành án phạt tù
- Quyết định thi hành án phạt tù và thi hành quyết định thi hành án phạt
tù: Sau khi bản án phạt tù có thời hạn, tà chung thân có hiệu lực pháp luật thì
12 Xem Điều 33 BLH S năm 1999.
13 Xem khoán 2 Điều 2 Luật TH A H S và Điều 228 BLTTHS.
14 Vụ pháp chê B ộ C ông an (1994), pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 và những văn bàn hướng dẫn, N X B CAND, HN Điều 2
Trang 39Chánh án tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành.
- Việc thi hành quyết định thi hành án phạt tù phải tuân thủ đúng quy định tại Điều 22 Luật THAHS
- Hoãn chấp hành án phạt tù: Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền quyết định cho người bị kết án phạt tù đang tại ngoại được ngừng chấp hành hình phạt trong một thời gian nhất định khi có căn cứ theo quy định của pháp luật Sau khi đã có quyết thi thi hành án phạt tù, người bị kết án phạt tù đang tại ngoại có thể được hoãn chấp hành án phạt tù trong những trường họp sau nếu họ có nơi làm việc ổn định, hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ rảng, đồng thời sau khi bị xử phạt tù không có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng và không có căn cứ cho rằng họ có thể bỏ trốn
- Tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù: Tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền quyết định cho người bị kết án phạt tà đang chấp hành án phạt tù được ngừng chấp hành trong một thời gian nhất định khi có càn cứ theo quy định của pháp luật
- Thủ tục giảm, miễn chấp hành án phạt tù: Cơ quan có quyền đề nghị g:ảm thời hạn chấp hành án phạt tù là: Trại giam; trại tạm giam thuộc Bộ Công an; trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng; Cơ quan THAHS Công an cấp tỉnh, cơ quan THAHS cấp quân khu; Cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hanh án phạt tà có trách nhiệm lập hồ sơ và chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án xem xét, quyết đinh
2.4.1.3 Chế độ quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân
- Chế độ quản lý giam giữ phạm nhân: Sau khi được cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận người chấp hành hình phạt tù, người đó phải chịu sự quản lý, gam giữ của trại giam Trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù có trách nhiệm
tc chức giam giữ phạm nhân theo quy định tại Điều 27 Luật THAHS
- Chế độ học tập, học nghề và được thông tin của phạm nhân: Để việc gáo dục phạm nhân có hiệu quả, Điều 28 Luật THAHS quy định, trong thời
Trang 40gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân phạm nhân phải học pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hóa, học nghề Đối với phạm nhân chưa biết chữ thì trại giam, trại tạm giam phải tổ chức cho họ được học văn hóa để xóa mù chữ Đối với phạm nhân là người nước ngoài thì được khuyến khích học tiếng Việt.
- Chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động của phạm nhân: Đe phạm nhân biết quý trọng những đồng tiền và sản phẩm do sức lao động của mình làm
ra, trong thời gian chấp hành án phạt tù họ được tổ chức lao động phù hợp với
độ tuổi, sức khỏe và đáp ứng yêu cầu quản lý, giáo dục, hòa nhập cộng đồng Giống như những người lao động khác, phạm nhân không phải lao động trong những ngày thứ bảy, chủ nhật và các ngày lễ, tết Thời gian phạm nhân lao động
và học nghề không được quá 8 giờ trong một ngày trừ trường hợp đột xuất hoặc thời vụ Trong trường hợp này Giám thị trại giam có thể yêu cầu phạm nhân làm thêm giờ nhưng không được quá 2 giờ trong một ngày Nếu phạm nhân lao động thêm giờ hoặc lao động trong ngày thứ bảy, chủ nhật thì được nghỉ bù hoặc bồi dưỡng bằng tiền hoặc hiện vật
- Trả lại tự do cho phạm nhân: Việc trả tự do cho phạm nhân được quy định tại Điều 40 Luật THAHS, theo đó trước khi phạm nhân hết hạn chấp hành
án phạt tù, trại giam, trại tạm giam phải thông báo cho cơ quan THAHS Công an cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành xong
án phạt tù về cư trú, làm việc về kết quả chấp hành án phạt tù, hình phạt bổ sung mà phạm nhân còn phải chấp hành và thông tin cần thiết khác có liên quan
để xem xét, sắp xếp, tạo lập cuộc sống bình thường cho người đó Nếu không xác định được nơi người chấp hành xong án phạt tà về cư trú thì trại giam, trại tạm giam Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan THAHS Công an cấp tỉnh đề nghị với ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chấp hành án hoặc cơ quan tổ chức khác để tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù về cư trú
2.4.2 Chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm só cy tế đối với phạm nhăn
Chế độ ăn, ở và mặc đối với phạm nhân được quy định tại Điều 42 Luật THAHS Theo đó, phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về gạo, rau xanh, thịt, cá, đường, muối, nước mắm, bột ngọt, chất đốt Đối với phạm nhân