Nghiên cứu “Quan hệ tình dục trước hôn nhân và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa năm 2018” được tiến hành trên 384 đối tượng sinh viên chính quy nhằm m
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCS Bao cao su
BPTT Biện pháp tránh thai
ĐTV Điều tra viên
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
TTN Thanh thiếu niên
THN Trước hôn nhân
VTN Vị thành niên
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 6
ĐẶT VẤN ĐỀ 8
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 11
1.2 Một số nghiên cứu trong nước và trên thế giới 14
1.3 Giới thiệu về trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa 26
1.4 Khung lý thuyết 26
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.3 Thiết kế nghiên cứu 29
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 29
2.5 Phương pháp thu thập thông tin 31
2.6 Xử lý số liệu 33
2.7 Biến số nghiên cứu 34
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 56
KẾT LUẬN 68
KHUYẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 79
PHỤ LỤC 1: BẢNG BIẾN SỐ 79
PHỤ LỤC 2: TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ 86
Trang 3PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MÔ TẢ KIẾN THỨC CỦA SV VỀ TDAT 89PHỤ LỤC 4: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 92PHỤ LỤC 5: PHIẾU PHÁT VẤN 93
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số phiếu phát ra và số phiếu hợp lệ thu được theo từng năm học 32
Bảng 2.2 : Các vấn đề gặp phải và các nội dung chỉnh sửa trong bộ câu hỏi được sau khi tiến hành thử nghiệm 33
Bảng 3.1: Một số thông tin chung về sinh viên 38
Bảng 3.2: Phân bố tỷ lệ QHTD THN theo năm học, tôn giáo, khu vực sống, đối tượng sống cùng (n= 384) 40
Bảng 3.3 : Độ tuổi QHTD trung bình lần đầu của SV theo giới (n=94) 42
Bảng 3.4: Tỷ lệ QHTD THN của SV theo nhóm tuổi (n=94) 42
Bảng 3.5: Mô tả đối tượng bạn tình của SV và địa điểm QHTD thường xuyên (n=94) 42
Bảng 3.6: Số bạn tình đã có tính tới thời điểm nghiên cứu của SV (n=94) 43
Bảng 3.7: Mô tả đối tượng, lý do QHTD lần đầu tiên và địa điểm QHTD đầu tiên của SV (n=94) 44
Bảng 3.8: Hành vi sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên của SV 44
Bảng 3.9: Hành vi sử dụng BPTT trong lần QHTD gần nhất của SV 46
Bảng 3.10 : Lý do chưa bao giờ quan hệ tình dục của SV (n=290) 47
Bảng 3.11: Thái độ chung của SV về QHTD THN (n=384) 48
Bảng 3.12: Thái độ của SV về QHTD THN theo giới (n=384) 49
Bảng 3.13: Điểm trung bình thái độ của SV về QHTD THN giới (n=384) 50
Bảng 3.14: Hành vi không lành mạnh của SV (N=384) 52
Bảng 3.15 Một số yếu tố thuộc về gia đình, bạn bè (N=384) 53
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu- xã hội học với hành vi QHTD THN của SV (n=384) 54
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa thái độ, kiến thức và hành vi QHTD THN của SV (n=384) 55
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa việc thực hiện hành vi không lành mạnh với QHTD THN 56
Bảng 3.19: Mối liên quan giữa yếu tố gia đình, bạn bè với hành vi QHTD THN 57
Trang 5TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
SV là nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội Hiện nay thanh thiếu niên nóichung và sinh viên nói riêng quan hệ tình dục trước hôn nhân có xu hướng tăng.Hành vi quan hệ tình dục không an toàn có thể gây nguy hại không chỉ cho sứckhỏe và ảnh hưởng hưởng tới cơ hội nghề nghiệp và công việc sau này của các em.Trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa hiện tại có 1501 SV đang theo học tại trường,trong trường không xây dựng khu kí túc xá, do vậy SV chủ yếu sống ngoại trú
Nghiên cứu “Quan hệ tình dục trước hôn nhân và một số yếu tố liên quan của sinh
viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa năm 2018” được tiến hành trên 384 đối
tượng sinh viên chính quy nhằm mô tả thái độ và thực trạng quan hệ tình dục trướchôn nhân của sinh viên, xác định một số yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trướchôn nhân của sinh viên.Thời gian nghiên cứu là từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 7năm 2018 Nghiên cứu được thực hiện bằng thiết kế nghiên cứu cắt ngang, phươngpháp nghiên cứu định lượng Thông tin được thu thập bằng bảng phát vấn, câu hỏi
tự điền khuyết danh
Tiến hành nghiên cứu trên 384 sinh viên trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa, phântích SPSS Kết quả cho thấy tỷ lệ SV đã QHTD là 24,4% (nam là 44,3%, nữ là20,1%) tỷ lệ QHTD của sinh viên năm thứ 3 (22,6%) thấp hơn năm thứ 1 (22,9%)
và năm thứ 2 (27,9%) Tuổi QHTD THN trung bình của SV là 19,2 (nam là 18,95
và nữ là 19,33) Quan điểm về QHTD THN của SV là cởi mở Tỷ lệ SV nam ủng hộquan điểm hiện đại về QHTD THN (85,7%) cao hơn so với nữ (68,2%) Các yếu tốliên quan đến thực trạng QHTD THN của SV được tìm thấy trong nghiên cứu đó
là : giới tính, thái độ về QHTD THN, mức độ xem khiêu dâm, sử dụng chất kíchthích, đi bar, vũ trường, bạn bè QHT, sự quan tâm của bố mẹ
Để SV thực hiện hành vi QHTD an toàn, các biện pháp đề ra phải đồng bộ trên cácnhóm đối tượng khác nhau: sinh viên, gia đình và nhà trường và các nhà hoạch địnhchính sách Đối với nhà trường, cần tăng cường công tác truyền thông và kỹ năngsống cho SV, kiểm tra và xử lý các hành vi không lành mạnh (hút thuốc lá, uốngrượu bia…) Đối với gia đình, cha mẹ cũng cần tạo không khí thoải mái và bổ sungkiến thức và kỹ năng trong việc giao tiếp với con cái Đối với SV, cần trang bị kiến
Trang 6thức về BPTT và quan điểm sống đúng đắn để phòng nguy cơ QHTD không antoàn Đối với các nhà hoạch định chính sách, cần tổ chức các chương trình truyềnthông đặc thù cho SV, kiểm soát văn hóa phẩm khiêu dâm và tư vấn cho cha mẹ cócon trong độ tuổi TTN về tình dục an toàn
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh viên là nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội, nắm giữ vận mệnh củadân tộc SV cũng là một lực lượng đông đảo trong cơ cấu dân số của nước ta Theothống kê, tính đến năm 2013, tổng số SV Đại học, Cao đẳng trên cả nước xấp xỉ 2,2triệu [2]
Ở giai đoạn SV, cơ thể và cơ quan sinh dục phát triển đến mức hoàn thiện, các
em có nhu cầu quan hệ tình dục đây là một nhu cầu sinh lý cơ bản của con người.Tuy nhiên, kinh nghiệm sống và kiến thức xã hội của các em sinh viên còn ít, tâmsinh lý chưa ổn định Mặc khác, hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa cùng với đó là
sự du nhập của các văn hóa không lành mạnh, chuẩn mực đạo đức và quan niệmsống của sinh viên bị ảnh hưởng, từ đó các em dễ có những hành vi nguy hại đếnsức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng trong đó có quan hệ tình dụckhông an toàn
Thực trạng tại Việt Nam hiện nay, thanh thiếu niên có quan hệ tình dụctrước hôn nhân đang trở nên phổ biến và có xu hướng gia tăng Theo kết quả điềutra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên lần thứ 2 (SAVY 2), tuổi QHTD lần đầucủa thanh niên Việt Nam cũng có xu hướng giảm từ 19.6 tuổi ở SAVY1 xuống còn18,1 ở SAVY2 [3] Cùng với thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng, tỷ lệnạo phá thai ngày càng cao Theo thống kê, Việt Nam là nước có mặt trong 5 quốcgia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới và đứng đầu châu Á, mỗi năm có khoảng
1 triệu trường hợp phá thai, trong tổng số ca nạo phá thai có khoảng 20-30% là phụ
nữ chưa kết hôn và khoảng 60-70% các ca nạo phá thai là sinh viên của các trườngcao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp [5] Do vậy, nếu nhóm trí thức này không cóhiểu biết về tình dục và sự chuẩn bị về tâm lý, các em có thể mang thai ngoài ýmuốn, nạo phá thai mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục…, ảnh hưởng việchọc hành cũng như cơ hội nghề nghiệp của cuộc sống sau này [11]
Trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa là trường đào tạo cán bộ y tế, sinh viên củatrường chủ yếu là sống ngoại trú do trường không có khu kí túc xá Phần lớn sinhviên khi vào trường là sống một môi trường mới, tự do hơn khi sống với gia đình
Trang 8Nhiều mối quan hệ được nảy sinh, đây được coi là yếu tố thuận lợi cho hành vi quan
hệ tình dục[13] Qua khảo sát nhanh, có tới 6/27 (chiếm tỷ lệ 22,2%) sinh viên đãquan hệ tình dục trước hôn nhân Mặt khác, sinh viên Trường cao đẳng y tế ThanhHóa mỗi năm có khoảng 2-3 SV nghỉ học hoặc bảo lưu kết quả liên quan tới vấn đềthai sản Từ trước tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành viQHTD THN ở nhiều khu vực tại Việt Nam nhưng chưa có một nghiên cứu nào vềQHTD THN được tiến hành trên đối tượng SV trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa
Câu hỏi cần đặt ra là : “Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh
viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa như thế nào? Những yêú tố nào liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên?” Nghiên cứu “Quan
hệ tình dục trước hôn nhân và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa, năm 2018” được thực hiện để trả lời các câu hỏi trên từ đó
góp phần giúp nhà trường, các cơ sở y tế có kế hoạch phù hợp chăm sóc sức khỏetình dục, sức khỏe sinh sản của sinh viên nói chung và sinh viên Y, Dược nói riêng
và hạn chế thấp nhất hậu quả do QHTD không an toàn để lại
Trang 9MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Caođẳng Y tế Thanh Hóa năm 2018
2 Mô tả thái độ về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Caođẳng Y tế Thanh Hóa
3 Xác định một số yếu tố liên quan (nhân khẩu học, cá nhân, gia đình, bạn bè)đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Y tếThanh Hóa
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
thành niên (VTN) là lứa tuổi từ 10-19 tuổi Thanh niên (TN) là những người trong
độ tuổi 15-24, những người trẻ tuổi là những người trong độ tuổi từ 10-24 tuổi, haycòn gọi là thanh thiếu niên (TTN)[4] Tại Việt Nam, lứa tuổi sinh viên (SV) chínhquy ở các trường cao đẳng, đại học phần lớn nằm trong độ tuổi 18-24 tuổi, mộtphần nhỏ SV có độ tuổi lớn hơn 24 do đi học muộn Như vậy, một phần SV từ 19tuổi trở xuống thuộc cả 2 nhóm VTN và thanh niên, một phần SV từ 20 tuổi trởlên nằm trong nhóm thanh niên [4]
Quan hệ tình dục: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, quan hệ tình dục
(QHTD) là nhu cầu tự nhiên về thể chất, tình cảm của con người QHTD là mộthành động mà hai người có thể thực hiện để tạo sự gần gũi, mang lại niềm vui chonhau, kích thích xúc cảm để đạt đến cực khoái Quan hệ tình dục bao gồm tất cả cửchỉ, hành động mang lại cho nhau khoái cảm như âu yếm, ôm hôn, kích thích đểtạo được khoái cảm Giao hợp chỉ là một trong những hình thức QHTD Tuy nhiên,trong phạm vi nghiên cứu này, QHTD được xét đến là một hình thức giao hợp.QHTD có thể xảy ra ở những người cùng giới, khác giới hoặc lưỡng giới Ngoài bộphận sinh dục, QHTD có thể được thực hiện bằng những bộ phận khác (đườngmiệng, đường hậu môn) [7]
được hiểu là việc SV chưa kết hôn nhưng đã có QHTD
(LTQĐTD) là các bệnh do lây nhiễm qua đường tình dục Bệnh có thể lây truyền
do quan hệ đồng giới, nhưng chủ yếu thường gặp là những người QHTD khác giới.Bệnh LTQĐTD thường gặp là lậu, giang mai, sùi mào gà, nấm, trùng roi, viêm gan
B và HIV Các lây nhiễm qua QHTD có thể gây bệnh ở cơ quan sinh dục tiết niệu
và ở cơ quan khác như da, xương, gan, thận, phổi [18]
Trang 11không có nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV/AID,hoặc gây ra thương tổn Hiện nay khái niệm tình dục an toàn còn được hiểu là tìnhdục không dẫn tới có thai ngoài ý muốn [15]
động lên cá nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai ở nữ giới Các BPTT thường ápdụng là thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể nhằm cắt đứt đường đi, ngăn cảnkhông cho trứng gặp tinh trùng, hoặc các nỗ lực của các cá nhân nhằm tránh thụthai [4]
Một số BPTT cơ bản:
* Các BPTT hiệu quả: Sử dụng bao cao su, sử dụng màng ngăn âm đạo, đặt vòngtránh thai, sử dụng thuốc tránh thai thông thường (dùng hằng ngày), sử dụng thuốctránh thai khẩn cấp, triệt sản
* Các BPTT kém hiệu quả: Xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh, kéo dài thờigian cho con bú
Thuốc tránh thai hằng ngày: là biện pháp tránh thai phải dùng liên tục và
đúng cách thì hiệu quả tránh thai lên tới 97-99%, nhưng thuốc tránh thai hằng ngàkhông giúp phòng tránh các bệnh LTQĐTD [8]
Bao cao su cho nam : BPTT có hiệu quả, an toàn, rẻ tiền, đồng thời là một
biện pháp phòng HIV/AIDS và BLTQĐTD BCS hoạt động theo nguyên tắc màngngăn, ngăn cản không cho trứng di chuyển vào âm đạo, do đó không xảy ra hiệntượng thụ thai.[8]
Viên uống tránh thai khẩn cấp: BPTT có hiệu quả ít nhất là 75%, uống càng
sớm càng có kết quả cao Tuy nhiên không bao giờ được dùng thường xuyên vì cótác dụng phụ[8]
Trang 12Biện pháp tránh thai bằng tính vòng kinh là phương pháp không an toàn do hiệu
quả tránh thai thấp đặc biệt đối với người có kinh nguyệt không đếu và đòi hỏi phải
có sự phối hợp với bạn tình[8]
với SV
trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống chúng ta có thể thu đượckiến thức từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những người xung quanh,sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng Kiến thức là một trong các yếu tốquan trọng giúp con người có thái độ cũng như suy nghĩ và tình cảm đúng đắn, từ
đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự việc[25]
tiêu cực hay trung lập về một cả thể (có thể là một người, một hành vi, một sự kiện,hay một thuộc tính nào đó) Thái độ thường bắt nguồn từ kiến thức, niềm tin vàkinh nghiệm thu được trong cuộc sống, đồng thời thái độ cũng chịu ảnh hưởng củangười xung quanh, môi trường, hoàn cảnh Thái độ phản ánh những điều người tathích hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản[25]
hành động” [25]
1.2 Một số nghiên cứu trong nước và trên thế giới
1.2.1 Thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên và sinh viên
Trên thế giới.
Tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân
Ngày nay trên thế giới việc QHTD THN của TTN không còn quá xa lạ Tuynhiên, tình hình QHTD THN ở TTN rất khác nhau giữa các quốc gia và châu lục.Tại châu Phi kết quả nghiên cứu của Melhado (2009) tiến hành ở 4 nước khu vựccận Sahara cho thấy ¾ nước này đếu có trên 50% TTN trong độ tuổi từ 18-19 đãtừng QHTD THN Còn tại các nước phương Tây như Mỹ tỷ lệ QHTD THN ở TTN
Trang 132 lần (16%) và cao nhất là ở Đài Loan (34%) Điều này có thể lý giải Đài Loan mặc
dù nằm trong khu vực châu Á nhưng ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong thờigian dài Trong khi đó Thượng Hải và Hà Nội có nền văn hóa đậm chất phươngĐông, đại đa số người dân không ủng hộ những hành vi tình dục ngoài hôn nhân[31]
Tuổi quan hệ tình dục lần đầu
Không chỉ tỷ lệ QHTN THN mà tuổi QHTD lần đầu cũng có sự khác biệt Nhìnchung VTN ngày nay có QHTD khá sớm Số liệu điều tra quốc gia về VTN Mỹ(2006) cho thấy 42% VTN nhóm 13-15 tuổi và 69% nhóm 16-18 tuổi đã QHTD[42] Nghiên cứu tại các trường trung học ở bang West Virginia (Mỹ), tỷ lệ VTN cóQHTD là 52% [45] Nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kì (2008) thấy rằng tuổi trung vị QHTDlần đầu là 16 tuổi ở nam và 17 tuổi ở nữ VTN và tỷ lệ VTN có QHTD có xu hướngtăng lên [38] Ở Thụy Điển, xã hội cởi mở về tình dục và kiến thức tình dục, SKSSđược giảng dạy trong trường phổ thông, tuổi được đồng ý QHTD là 15 tuổi [48]
Ở một số nước châu Phi, việc VTN có QHTD sớm và quan hệ với nhiều bạn tìnhkhá phổ biến Tại Nam Phi, trên 50% người trong độ tuổi 15-24 cho biết đã từng cóQHTD trước 18 tuổi [33] Trong khi đó, kết quả nghiên cứu ở Nigeria (2006) thấyrằng 19% nam và 6% nữ trong độ tuổi THPT đã QHTD Trong khi đó tuổi trungbình QHTD lần đầu ở nam là 15,7 tuổi và ở nữ là 16,1 tuổi Khoảng 1/4 VTN có sử
Trang 14Một số nghiên cứu được tiến hành ở Goa-Tê- Ma-La, Nigeria, Jamaica, TriềuTiên, Philippines, Thái Lan và Việt Nam thấy tỷ lệ cao TN biết về nguy cơ QHTDkhông an toàn, nhưng số sử dụng BCS chỉ chiếm tỷ lệ thấp VTN ở Nepal trongmột nghiên cứu vào năm 2010 sử dụng BCS chỉ chiếm khoảng 50% [39]
Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy tỷ lệ VTN sử dụng BPTT đạt 86% [41], và
tỷ lệ mang thai ở VTN là 5,7% [42] Tỷ lệ VTN mang thai ở các nước phát triển vàđang phát triển thấp hơn nhiều so với các nước kém phát triển [38]
Ở Việt Nam
TTN Việt Nam ngày nay đã cởi mở hơn và có xu hướng QHTD THN nhiều hơn
so với thế hệ trước Theo điều tra SAVY2, năm 2005, tính chung cho cả nhữngngười đã kết hôn lẫn những người chưa kết hôn, kết quả cho thấy có 9,5% TTN chobiết họ đã từng có QHTD trước hôn nhân Đối chiếu với tỷ lệ này ở SAVY1 là 7,6%[5]
Riêng trong nhóm TN đang là SV, một số nghiên cứu tại các trường Cao đẳng, Đạihọc công bố tỷ lệ QHTD trước hôn nhân ở SV nằm trong khoảng 10 – 30% [1, 10,12] cao hơn so với kết quả điều tra về VTN, TN nói chung (SAVY2) Đa số các
Trang 15nữ 11,9%) QHTD THN [18] Nghiên cứu của Vũ Hoàng Anh (2013) tại một trườngkhu vực đồng bằng Sông Hồng cho tỷ lệ 19,3% (21,4% nam và 12,6% nữ) [1] Năm
2014, nghiên cứu tại trường Cao đẳng Y tế Phú THọ cho kết quả 29,1% (42% nam
và 19,5% nữ), cá biệt có tới 9,5% nữ SV đã QHTD do bị ép buộc, cưỡng bức, lừagạt [9]; số sinh viên QHTD nhiều lần chiếm tỷ lệ cao [1]
Sử dụng biện pháp tránh thai
Tỷ lệ TTN sử dụng BPTT trong QHTD không cao Theo điều tra SAVY1,trong số VTN/TN chưa lập gia đình nhưng đã có QHTD, thì 80% không sử dụngBPTT trong lần QHTD đầu tiên Các lý do cũng cần được quan tâm như bản thânkhông muốn dùng (30%) và cho rằng bao cao su chỉ dùng cho mại dâm và ngườikhông chung thủy [13] Đây có thể là một trong những nguyên nhân làm cho thanh,thiếu niên không áp dụng BPTT trong những lần QHTD, đó cũng là nguyên nhânlàm tăng nguy cơ có thai ngoài ý muốn ở thanh, thiếu niên hiện nay [5] [3]
Trong điều tra SAVY2, trong số những người đã có QHTD THN thì chỉ có 38% có
sử dụng BCS trong lần quan hệ đầu tiên, mặc dù tỷ lệ sử dụng BCS tăng lên 58%trong lần QHTD gần đây nhất [3]
Trên đối tượng SV, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong năm 2013 có 39,3%trong tổng số sinh viên năm thứ 1 đã có QHTD sử dụng BPTT trong lần quan hệđầu tiên Trong đó BCS được 32,1% sử dụng nghiên cứu khác năm 2013 cho kếtquả khả quan hơn có 80,7% số SV sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên vàBPTT được sử dụng nhiều nhất là BCS (53,7%) Lý do không sử dụng BCS đượcnhắc đến nhiều nhất là: đối tượng cảm thấy ngượng, không biết cách sử dụng,không biết tìm mua ở đâu, không có dự định QHTD hoặc không thích sử dụng [1]
Trang 16Nghiên cứu của Lã Ngọc Quang và cộng sự (2014) trên sinh viên năm thứ nhất
và năm thứ 2 của trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ cho kết quả có đến 37,8% sinhviên không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu Chỉ có 39% sinh viên sử dụngBCS còn lại là sử dụng BPPTT không đảm bảo [12]
Như vậy, càng ngày TTN và SV đã có ý thức về QHTD an toàn, tuy nhiên tỷ lệkhông sử dụng BPTT cũng còn cao
Tuổi QHTD lần đầu
Tuổi QHTD lần đầu có xu hướng giảm Ở SAVY1 tuổi QHTD lần đầu trungbình là 19,6 đối với nam là 20 và với nữ là 19,4 tuổi Trong khi đó chỉ 3 năm sau, ởSAVY2, tuổi QHTD lần đầu trung bình toàn mẫu là 18,1 giảm 1,5 tuổi so vớiSAVY1 Con số này ở nam là 18,2 (giảm 1,8 tuổi so với SAVY1) và nữ là 18 (giảm1,4 tuổi so với SAVY1) Tỷ lệ TTN có QHTD cũng khác nhau giữa nông thôn vàthành thị Tỷ lệ TTN ở nông thôn từng có QHTD THN là 7,1%, ở thành thị là 9%
TN nông thôn có xu hướng QHTD sớm hơn TN đô thị (18 tuổi ở nông thôn và 18,4tuổi ở thành thị) [5,3]
Đối tượng QHTD và số lượng bạn tình
Đối với TTN, đối tượng mà họ QHTD lần đầu phần lớn là người yêu hoặcvợ/chồng tương lai, nhưng có một tỷ lệ TTN quan hệ với người hành nghề mại dâm.Đối với lần QHTD đầu tiên, tỷ lệ SAVY1 là 71,9% với người yêu, 10% với bạn bè,9,1% với gái mại dâm [5] ở SAVY2, 30% đã có QHTD với bạn tình trở thành ngườichồng/vợ của mình sau này, 70% khác có QHTD với người yêu, bạn bè và gái mạidâm 98,1%) Tỷ lệ QHTD với gái mại dâm ở SAVY2 giảm đi, hơn nữa có đến 87%
số TTN được hỏi chỉ có 1 bạn tình trong 1 năm qua, có 2 bạn tình chỉ chiếm 3,2%chứng tỏ giới trẻ đã có ý thức hơn về tình dục an toàn [3]
Nghiên cứu trên SV đại học cũng cho thấy phần lớn họ QHTD với người yêu
Có 88,6% SV nam và 100% SV nữ trường đại học tại Hải Dương đã từng QHTD
Trang 17với người yêu, có tới 17% SV nam có QHTD với gái mại dâm,; 61,5% SV đãQHTD với nhiều bạn tình [1,12] Nghiên cứu của Vũ Hoàng Anh cũng cho kết quảđối tượng SV QHTD lần đầu chủ yếu là người yêu (92,5%), có một số ít (3,6%) SVquan hệ với gái mại dâm và đều là nam SV Hầu hết nữ SV chỉ chung thủy với 1bạn tình (92,3%), tuy nhiên nam SV chỉ có 61,4% chung thủy với 1 bạn tình, đặcbiệt có 14,3% nam SV đã có QHTD với 3 bạn tình trở lên Có sự khác biệt đáng kể
về số bạn tình trung bình giữa nam và nữ [1] Đó là một điều rất đáng lo ngại về antoàn tình dục không chỉ ở nam SV Việt Nam mà còn nhiều quốc gia trên thế giới.Theo điều tra nghiên cứu trường hợp của WHO, ở Hàn Quốc , Thái Làn và Nepanhơn ½ nam giới đã QHTD với gái mại dâm Một số VTN nam có mối QHTD vớinhiều ban tình, 70% nam ở Hàn Quốc và 30% VTN nam ở Thái Lan có QHTD vớinhiều hơn 2 bạn tình [51]
Địa điểm QHTD
Với nhóm chưa lập gia đình, ở SAVY1, QHTD lần đầu ở nhà họ hoặc nhàbạn tình ciếm tủy lệ 28%, trong khi ở SAVY2 là 76,1% Điều này có thể giải thíchrằng sau 5 năm mức sống nâng cao, TTN đã có không gian riêng tại nhà từ đó tạođiều kiện thuận lợi hơn để QHTD, QHTD lần đầu tại khách sạn (nhà nghỉ) hay côngviên ở SAVY1 chiếm tỷ lệ tương ứng là 39,4% và 8% trong khi ở SAVY2 tỷ lệtương ứng là 17,5% và 0,8%
Khác với kết quả trong điều tra SAVY, địa điểm mà SV QHTD lần đầu tiêntrong một số nghiên cứu chủ yếu là nhà nghỉ, khách sạn [10,12] Nghiên cứu tạitrường Đại học Sao Đỏ 41, 3% SV QHTD lần đầu tại nhà nghỉ/khách sạn, tiếp đến
là tại ký túc xá/ nhà trọ là 30,3%, tại nhà đối tượng chỉ chiếm 14,7% [10] Có thểhiểu rằng với SV Đại học thường phải đi học xa nhà ít có không gian riêng nênchọn nhà nghỉ/khách sạn là nơi QHTD
1.2.2 Thái độ về QHTD trước hôn nhân của TTN và SV
Thái độ về QHTD trước hôn nhân của VTN thay đổi theo bối cảnh văn hóa
và sự phát triển kinh tế - xã hội Với văn hóa cởi mở, VTN dễ dàng tiếp cận được
Trang 18thông tin, được hướng dẫn sớm về SKSS cũng như tình dục Với nền văn hóa khắtkhe hơn như văn hóa phương Đông, vấn đề QHTD ở VTN được coi là vấn đề nhạycảm, ít đề cập đến Một cuộc khảo sát toàn cầu năm 2014 cho thấy việc chấp nhậnQHTD THN rất khác nhau giữa các quốc gia, châu lục Các quốc gia thuộc Châu Á,Trung Đông và Châu Phi cận Sahara số đông không chấp nhận việc QHTD THN.Các quốc gia Hồi giáo như Indonesia, Jordan, Pakistan và Ai Cập, từng có hơn 90%không chấp thuận, trong khi nhiều quốc gia Tây Âu như Tây Ban Nha, Đức, Pháp
có rất ít người không tán thành (dưới 10%) [43]
Nghiên cứu thái độ về QHTD THN ở VTN 15-19 tuổi thành phố Pokhara,Nepal năm 2013 cho kết quả: 59,2% VTN đồng ý với thái độ “quan hệ tình dụctrước hôn nhân là không tốt” Có hơn một nửa (56%) VTN cho rằng “ quan hệ tìnhdục trước hôn nhân là chấp nhận được nếu cả 2 cùng đồng ý” Sự chấp nhận thái độnày ở nam giới cao hơn ở nữ giới (70% so với 38%) Một tỷ lệ lớn nữ giới (79%)không đồng ý với ý kiến “quan hệ tình dục là cần thiết trước khi kết hộn”, tuy nhiênchỉ có 37% nam giới không đồng ý với ý kiến này Còn với thái độ “nam giới có thểQHTD THN còn nữ giới thì không thể thì có tới 77 % số VTN không đồng ý, 85%
nữ giới phản bản lại thái độ này Nhìn chung sự chấp nhận việc QHTD THN trongcác tình huống được đưa ra ở nam giới luôn cao hơn so với nữ giới [16]
Tại Ý, một nghiên cứu của Capuno và cộng sự đã tìm ra sự khác biệt giữaquan niệm của VTN nam và nữ về giá trị trinh tiết trước khi kết hôn Có đến 76%VTN nữ đồng tình với quan niệm phải giữ gìn trinh tiết trước khi kết hôn và tỷ lệnày đối với nam giới chỉ là 67% Cũng trong nghiên cứu này, thì quan niệm khôngcần giữ gìn trinh tiết trước hi kết hôn là 46% của VTN nam và 14% của VTN nữ Tình dục ở Việt Nam được biết đến là vấn đề nhạy cảm, ít được bàn luậncông khai và ngay trong việc giáo dục vấn đề này cũng được né tránh Theo thái độtruyền thống người con gái phải giữ được trinh tiết đến khi kết hôn.Tuy nhiên, VTNhiện nay tỏ ra cởi mở hơn về QHTD trước hôn nhân Tỷ lệ TTN của SAVY2 (2009)chấp nhận QHTD trước hôn nhân cao hơn của SAVY1 (2003); kết quả của SAVY2cho thấy có 37% VTN/TN cho rằng có thể QHTD trước hôn nhân với tình huống
Trang 19“nếu cả hai cũng tự nguyện” làm việc đó [3] Năm 2008, Nguyễn Thị Phương Yếnnghiên cứu trên 294 thanh niên chưa lập gia đình, từ 16-25 tuổi, cho thấy có 20,1%cho rằng tình yêu phải gắn liền với tình dục, nam TN xem trinh tiết là tiêu chuẩn đểgiữ gìn hạnh phúc sau khi lập gia đình và là tiêu chuẩn để đánh giá phẩm chất, đạođức và nhân cách của phụ nữ [26].Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nghị ở VTN 10 -
19 tuổi tại Chí Linh, Hải Dương (2009) Tỷ lệ VTN đồng ý “có thể QHTD nếu cảhai đều muốn” là 36% nam và 20% nữ [13] Một nghiên cứu về quan niệm tình dụctrước hôn nhân của SV trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Kết quả nghiên cứucho thấy 36,2 SV nam và 12,5% SV nữ đồng ý với quan điểm có thể QHTD THNtrong giai đoạn SV Lý do chính dẫn đến QHTD THN là do sự tò mò và sự hấp dẫn
về thể xác Nghiên cứu trên cũng cho thấy chỉ có 31,2% SV nam và trên 50% SV nữcoi trọng vấn đề trinh tiết và SV nam có thái độ thoáng hơn SV nữ vè quan niệQHTD THN [14]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thoa và cộng sự cho thấy một bộ phậnSVcó thái độ khá thoáng về QHTD THN Họ không còn coi đây là điều cấm kỵ và
có thể chấp nhận trong một số hoàn cảnh Chính vì vậy có 39,8% nam và 22,8% nữsinh viên cho rằng có thể QHTD THN nhưng phải an toàn [9]
Một nghiên cứu tại trường Đại học Cần Thơ tìm hiểu quan điểm của SV về QHTDTHN và cách giải quyết một sô vấn đề có liên quan Kết quả nghiên cứu cho thấy38,6% SV chấp nhận QHTD THN Những người chấp nhận QHTD THN cho rằngkhông cần quan tâm đến bạn đời của mình trước kia có quan hệ với ai mà cái chính
là tinh cách và tiết hạnh của người bạn đời của mình sau khi đã có gia đình Đây làquan điểm mới của SV [7]
Tác giả Nguyễn Thanh Thủy và cộng sự nghiên cứu quan điểm về QHTDTHN của SV tại một trường ĐH của một trường ĐH của tỉnh Hải Dương, năm
2012 Kết quả cho thấy tỷ lệ SV ủng hội việc bạn gái và bạn trai không nên QHTDTHN khá cao với tỷ lệ lần lượt là 63,3% và 55,4% Tuy nhiên, vẫn có đến 65% SVchấp nhận QHTD THN nếu 2 người đã ăn hỏi hoặc đính hôn; 58,6% SV chấp nhậnQHTD THN nếu cả 2 đều muốn [21]
Trang 20Như vậy, bên cạnh những ý kiến đồng tình với việc QHTD trước hôn nhânvẫn có nhiều sinh viên chỉ chấp nhận QHTD khi tương lai được đảm bảo (có côngviệc ổn định ) QHTD an toàn, có tiến tới hôn nhân, điều này cho thấy cũng khônghẳn những sinh viên không phải quá dễ dãi một cách “mù quáng” trong tình yêu mà
họ có sự cân nhắc nhất định
1.2.3 Các yếu tố khác liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của TTN và sinh viên
Yếu tố nhân khẩu –xã hội học
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi QHTD THN của TTN, trong đó
có các yếu tố: tuổi, giới của bản thân SV
Yếu tố giới
Yếu tố đề cập ở đây là sự khác biệt về giới ở TTN có QHTD THN Cácnghiên cứu chỉ ra, ở những người cùng độ tuổi, nam giới thường có QHTD trướchôn nhân phổ biến hơn nữ Các kết quả nghiên cứu ở SAVY2 cũng chỉ ra rằng nam
TN có tỷ lệ từng QHTD trước hôn nhân (kể cả những người hiện đã lập gia đình) là13,6% cao hơn 2 lần so với nữ là 5,2% Ở SAVY1 con số này cũng có sự chênhlệch khá lớn, ở nam đã từng có QHTD là 11,1% và ở nữ là 4% Ở Hà Nội, tỷ lệ namVTN và TN có QHTD trước kết hôn là 20,6%, cao gấp 1,5 lần so với nữ VTN và
TN (13,6%) [3]
Các nghiên cứu tại các nước trên thế giới cũng chỉ ra sự khác biệt về giới tronghành vi QHTD THN Trong một nghiên cứu tiến hành ở 14 quốc gia so sánh sựkhác biệt về giới ở lần QHTD đầu tiên cho thầy, tỷ lệ TTN chưa kết hôn trong độtuổi 15-19 ở Thái Lan và Philippin đã từng có QHTD rất thấp tương tương ứng là1% và 3% Trong khi đó tỷ lệ này ở nam TTN Philippin là 12% còn nam TTN TháiLan là 27% Tuổi bắt đầu có QHTD trước hôn nhân của nam giới cũng thấp hơn nữgiới Tỷ lệ TTN từ 20-24 tuổi có QHTD THN trước 15 tuổi ở Ghana, Mali,Tanzania, Jamaica và Mỹ là 14% trong khi tỷ lệ này ở nam lên đến 60% Như vậy,
Trang 21 Yếu tố cá nhân
Yếu tố hành vi lối sống
Một số hành vi lối sống không lành mạnh như xem phim khiêu dâm, sử dụngcác chất gây nghiện, thuốc lá; rượu bia ) đều có ảnh hưởng đến hành vi QHTDTHN xem phim khiêu dâm/đồi trụy Một số nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quannày với QHTD THN khi nghiên cứu của Raheel (2013) cho kết quả sinh viên cóhành vi sử dụng ma túy có nguy cơ QHTD trước hôn nhân gấp 2,5 lần những sinhviên không sử dụng rượu, bia nói riêng và các chất gây nghiện nói chung khôngnhững thúc đẩy QHTD THN mà còn dẫn tới việc TTN có QHTD không an toàn.Nguy cơ QHTD không an toàn khi uống rượu bia cao hơn so với những ngườikhông sử dụng chất kích thích này (40% so với 35%) Đặc biệt, uống rượu bia cònlàm tăng khả năng QHTD với những đối tượng bạn tình ngẫu nhiên (gái mại dâm,người mới quen biết ) [30]
Trang 22Ở Việt Nam SV càng truy cập vào các trang internet có nội dung khiêu dâm càng cónhiều thì khả năng đồng thuận cao trong các quan niệm cởi mở về tình dục: “ tìnhdục là nhu cầu cơ bản”, “tình dục gắn liền với tình yêu”, “tình dục là sự giải trí”Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh (2008) trên đối tượng TTN Gia Lâm, Hà Nộicho kết quả có mối liên quan giữa việc xem ấn phẩm đồ trụy với hành vi QHTDtrước hôn nhân (OR=10,5; p< 0,001) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hơn 40% TTNthú nhận bị kích thích và thậm chí 23% TTN thừa nhận muốn bắt chước hành vitrên phim ảnh [20]
Kiến thức về TDAT
Trong khi tình trạng QHTD ở SV ngày càng trở nên phổ biến thì một sốnghiên cứu gần đây về kiến thức QHTD nói chung về TDAT, các bệnh LTQĐTD,nạo phá thai còn nhiều hạn chế Theo điều tra quốc gia về SKSS VTN và TN ViệtNam SAVY2 thì 1/3 số người được trả lời đã nghe nói đến bệnh LTQĐTD nhưviêm âm đạo, hạ cam (7,6%), u sủi (11%) Khoảng 7% VTN trong SAVY 2 chưa
hề nghe tới BPTT từ bất kỳ nguồn nào Tỷ lệ VTN trả lời đúng câu hỏi về thời điểm
dễ có thai trong chu kỳ kinh của phụ nữ là khá thấp
Nghiên cứu dọc của Trường đại học Y tế Công cộng về thực trạng TTN tạiChí Linh – Hải Dương cho kết quả: một nửa số trường hợp được hỏi (9,6%) đã từngnghe nói về các BPTT Trong đó, BPTT được biết đến nhiều nhất là BCS với hơn4/5 số VTN/TN trả lời, tiếp theo là thuốc tránh thai với tỷ lệ 77,9% và dụng cụ tửcung cũng chiếm tỷ lệ 36% Khi được hỏi về thời điểm dễ thụ thai nhất, chỉ có12,8% VTN/TN trả lời đúng [17]
Nghiên cứu năm 2011 trên 243 SV của trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu chothấy có đến 97,9% SV nghe nói đến QHTD an toàn song chỉ có 49,8% hiểu đúng
về QHTD an toàn Vẫn còn 14% SV nghĩ rằng thuốc tránh thai có thể phòng tránhđược bệnh LTQĐTD, chỉ có 33,7% SV biết thời điểm dễ thụ thai nhất và 12% SVkhông biết cách sử dụng BCS đúng cách [23]
Trang 23Các nghiên cứu của tất cả các quốc gia trên thế giới trong những năm gầnđây cũng cho thấy hầu hết các SV còn thiếu kiến thức về QHTD nói chung Mộtnghiên cứu trên 2217 SV của trường đại học Ege, Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ cho thấyđiểm số trung bình trên các câu hỏi kiến thức là 16,29/30 Kiến thức của SV về cácđường lây truyền, các dấu hiệu và triệu chứng và nhóm có nguy cơ của bệnhLTQĐTD là không đủ [35] Nghiên cứu mới đây trên SV Đại học Philippines chothấy rằng các SV đại học được lự chọn vào nghiên cứu có kiến thức về BPTT thấp,
có 20% có kiến thức đầy đủ về BCS [37]
Yếu tố bạn bè.
TTN nói chung và sinh viên nói riêng ít nhiều chịu sự ảnh hưởng của bạn bè
do thời gian của họ chủ yếu là ở trường học, nơi làm việc Đặc biệt là những SVsống xa nhà, đi trọ học, sống ở kí túc xá thì bạn bè, người yêu là đối tượng gần gũi
và có nhiều ảnh hưởng tới họ Những người chịu tác động xấu từ bạn bè có tỷ lệQHTD THN cao gấp 2,6 đến 3,8 lần Tác động xấu từ bạn bè có ảnh hưởng đếnnam giới hơn là nữ giới Khi so sánh nhóm TTN ít chịu tác động từ bạn bè vớinhóm TTN chịu nhiều tác động tiêu cực từ bạn bè ở mức độ trung bình và cao thìTTN có xu hướng QHTD cao hơn là 4 và 7,5 lần.[13]
Một nghiên cứu khác chỉ ra những nam thanh niên biết bạn bè của mình cóQHTD THN thì có nguy cơ QHTD cao hơn 3,37 lần so với nhóm còn lại [45]
Việc trao đổi với bạn bè về các vấn đề liên quan tới tình dục cũng là một yếu tố liênquan đến QHTD THN của TTN Nghiên cứu trên hơn 1000 nam giới 15-19 tuổi tạiBangladet ch biết TTN từng nói chuyện với bạn bè về tình dục có QHTD THN caogấp 3 lần những người không trao đổi về vấn đề này [46]
Như vậy, yếu tố đồng đẳng, bạn bè là một phần rất quan trọng quyết định hành
vi QHTD của TTN và SV
Yếu tố gia đình
Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của mỗi cá nhân, tất cả những vấn đề
xã hội được các cá nhân tiếp nhận thông qua chất xúc tác đầu tiên là gia đình
Trang 24Chính vì thế gia đình là môi trường có thế mạnh để hình thành nhân cách mà xã hội
kì vọng và cung cấp những hiểu biết về sinh lý sinh sản cho VTN
TTN từ 18-24 tuổi ở Việt Nam đã bắt đầu cuộc sống tự lập tuy nhiên vẫn có sựảnh hưởng lớn từ gia đình Nếu gia đình không có những định hướng đúng đắn, có
sự quan tâm và giám sát TTN thì TTN có xu hướng QHTD cao hơn
Một nghiên cứu tại Philippin cho thấy nam giới Philippin có cái nhìn kháthoáng về việc QHTD THN của họ Thậm chí việc đó còn được coi là cách thể hiệnnam tính của họ Tuy nhiên việc nam giới Philippin sống cùng gia đình vẫn có tácdụng làm giảm nguy cơ QHTD THN ở nam (Ushma D & et al (2006) [37]
Một nghiên cứu tương tự ở Thái Lan, việc sống với gia đình có cả bố và mẹ
là yếu tố bảo vệ với hành vi QHTD THN của TTN Kết quả cho thấy, ở nữ TTN nếusống không cùng bố hoặc mẹ dẫn tới nguy cơ QHTD THN tăng lên 1,5 lần vàkhông sống với cả bố và mẹ làm nguy cơ này tăng lên 4 lần so với những ngườisống cùng bố và mẹ, còn đối với nam TTN không sống cùng cả bố và mẹ có nguy
vi trong cuộc sống như đi qua đêm, đi chơi về muộn, giao lưu với nhiều nhóm bạn
bè hay những hành vi, lối sống có hại cho sức khỏe khác [18]
Theo tác giả Nguyễn Linh Khiếu, chuyên gia nghiên cứu về gia đình và trẻ em.Trong một nghiên cứu của ông về quan niệm của xã hội đối với QHTD THN ởVTN cho thấy có đến 96,1% phụ huynh được phỏng vấn trả lời rằng QHTD ở lứatuổi VTN là không thể chấp nhận được Như vậy, trong khi đời sống tình dục ởVTN nói chung và SV nói riêng hiện có nhiều chuyển biến mới, với chiều hướngngày càng tăng, thì các em lại nhận được ít hơn sự trợ giúp từ gia đình Chính vì
Trang 25vậy, tác giả nhấn mạnh cần nâng cao năng lực giáo dục SKSS của cha mẹ trong giađình là phương pháp hiệu quả nhất trong việc giảm thiểu tỷ lệ QHTD THN, có thaingoài ý muốn cũng như tỷ lệ nạo phá thai của VTN [11]
1.3 Giới thiệu về trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa
Trường Cao đẳng y tế Thanh Hóa có tiền thân là trường Y sĩ Thanh Hóađược thành lập tháng 9 năm 1960 Tháng 2 năm 1981 trường được nâng cấp lênthành Cao Đẳng Thanh Hóa là một trong hai trường cao đẳng đầu tiên ở miền Bắcnước ta.Trường trực tiếp trực thuộc sự quản lý của Ủy Ban nhan dân tỉnh ThanhHóa, có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có trình độ về y, dược khoa bằng cáchình thức tập trung dài hạn bổ túc ngắn hạn và tại chức Với hơn 55 năm nhà trường
đã đào tạo cán bộ cho tỉnh, cho đất nước hơn 40.000 cán bộ, nhân viên y tế Hiệnnay, có đến hơn 80% cán bộ nhân viên đang công tác trong ngành y tế Thanh Hóatừng là sinh viên của trường Trường Năm học 2017 -2018 trường có tổng số SV là
5051 Tính tới thời điểm thu thập thông tin nghiên cứu (tháng 4 năm 2018).Sốlượng SV được đào tạo chính quy tại trường là 1501 SV nữ chiếm đa số với tỷ lệ82,1% (1233 SV) trong khi đó số SV nam là chiếm tỷ lệ 19,9% (298 SV) Tổng sốlớp cao đẳng chính quy là 40 và chỉ có 1 lớp trung cấp y sĩ năm thứ 2 (37 SV) Sốsinh viên được phân bố theo các năm như sau:
Bảng 1.1: Phân bố SV theo năm học
Trang 26Nhóm yếu tố tiền đề là những yếu tố bên trong của cá nhân, chúng được hìnhthành trên cơ sở kiến thức, thái độ, niềm tin, giá trị, chuẩn mực xã hội của mỗi cánhân, nhóm yếu tố này quyết định cách ứng xử của chúng ta, cho ta những suy nghĩ,cảm xúc về thế giới xung quanh
Nhóm yếu tố củng cố, tăng cường là những yếu tố ảnh hưởng từ phái ngườithân trong gia đình (cha mẹ, ông bà ), đó là nhóm người góp phần tạo nên niềm tin,giá trị, thái độ cho cộng đồng đó
Nhóm yếu tố tạo điều kiện thuận lợi là nhó liên quan đến nguồn lực nói chung
có ảnh hưởng lớn đến hành vi con người, là nhóm các yếu tố tạo điều kiện thuận lợicho việc thực hiện và duy trì hành vi của cá nhân
Nghiên cứu đã tham khảo và sử dụng có chọn lọc mô hình sao cho phù hợp vớitổng quan nghiển cứu, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, khả năng nghiêncứu Trong nghiên cứu này,hành vi sức khỏe là hành vi quan hệ tình dục trước hônnhân và được mô tả trên đối tượng SV trương Cao đẳng Y tế Thanh Hóa Đối vớiviệc tìm hiểu các yếu tố liên quan đến hành vi QHTD của SV nghiên cứu này dưatrên 4 nhóm yếu tố: nhân khẩu- xã hội học, cá nhân, gia đình và bạn bè
Trang 27xxvii
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng: Sinh viên trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa
- Đang học chính quy hệ cao đẳng/trung cấp tại trường
- Chưa từng kết hôn và tự nguyện đồng ý tham gia sau khi được nghe NCVgiải thích về mục đích của nghiên cứu
- Không có mặt trong thời gian thu thập thông tin
- Đã kết hôn tại thời điểm nghiên cứu
- Không có thái độ hợp tác/từ chối điền thông tin vào bảng hỏi
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện tại Trường cao đẳng y tế ThanhHóa
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2017 đến tháng 7/2018
Thời gian thu thập số liệu: từ đến 26/03/2018 đến 31/04/2018
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang, phương pháp nghiên cứu định lượng
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu
Áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể:
n = *DE
Trang 29Trong đó:
o n: Là cỡ mẫu tối thiểu số HS cần điều tra
o z: Hệ số tin cậy Với độ tin cậy 95% thì giá trị của Z = 1,96
o p: tỷ lệ sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân (p=0,237) theo kết quảnghiên cứu của Lê Thị Thương thực hiện trên đối tượng sinh viên trường Đại họcNội vụ năm 2015 [24]
o d: Sai số ước lượng tự định trước, d = 0,06
o DE: Hệ số thiết kế, DE =2 (vì sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm với đơn
Phương pháp chọn số lớp tham gia nghiên cứu: : Áp dụng phương pháp chọnmẫu cụm Toàn trường có 3 khóa sinh viên chính quy theo học với tổng số lớp là 41(năm 1 là 12 lớp, năm 2 là 13 lớp, năm thứ 3 là 16 lớp) Nghiên cứu đã lựa chọntổng số sinh viên của 11 lớp vào nghiên cứu
Cách chọn cụ thể lớp học được thực hiện như sau: Tên các lớp học trongcùng một khóa học được mã hóa và được ghi vào những tờ giấy có kích thước nhưnhau Gấp nhỏ các tờ giấy lại cho vào 1 hộp nhỏ NCV bốc thăm ngẫu nhiên và lựachọn 11 lớp Sau đó, trong các lớp còn lại, NCV chọn chủ đích 1 lớp để tiến hànhthử nghiệm bộ câu hỏi Kết quả bốc thăm thu được như sau:
Trang 30xxx
Trang 31Bảng 2.1: Số phiếu phát ra và số phiếu hợp lệ thu được theo từng năm học
Năm học hiện cóSố lớp Số lớpđược
chọn
Số SV hiện
có phiếu phát raSố lượng
Số phiếuhợp lệ
2.5 Phương pháp thu thập thông tin
2.5.1 Công cụ thu thập thông tin
Sử dụng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh Bộ công cụ được xây dựng dựa trêntham khảo công cụ nghiên cứu của Lê Thị Thương năm 2015 tại Đại học Nội Vụ[24], Phan Thanh Nguyệt năm 2010 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn[18]
2.5.2 Tiến trình thực hiện thu thập thông tin
Bước 1: Thử nghiệm bộ câu hỏi: bộ câu hỏi đã được thử nghiệm với 38
SV của 1 lớp học 2 ngày trước khi tiến hành trên toàn bộ SV đã chọn Ngay trên lớphọc, NCV ghi nhận các phản hồi trực tiếp của SV về tính logic và sự thống nhất của
bộ câu hỏi và sau khi phân tích kết quả 38 phiếu thu được đã điều chỉnh lại một sốcâu hỏi trong bảng hỏi cho dễ hiểu và phù hợp hơn với SV Kết quả thử nghiệm câuhỏi như sau:
Bảng 2.2 : Các vấn đề gặp phải và các nội dung chỉnh sửa trong bộ câu hỏi
được sau khi tiến hành thử nghiệm
Trang 321 Trong giấy đồng ý tham gia nghiên
cứu không có hướng dẫn đánh dấu X
vào ô đồng ý/không đồng ý
Đã thêm hướng dẫn “đánh dấu Xvào ô mà bạn lựa chọn” trước 2 ôđồng ý và không đồng ý
2 Câu B10, B12, B14 SV chưa biêt cách
lựa chọn đáp án Thêm từ “một hoặc nhiều lựachọn” sau mỗi câu hỏi
3 SV chưa hiểu “ Phật giáo” là gì Giải thích cho SV tránh gây nhâm
Bước 3: Thu thập thông tin
Mỗi một lớp có 1 NCV tham gia phát phiếu và giám sát quá trình điền phiếu,quá trình thu thập thông tin được tiến hành lần lượt như sau:
- NCV tiếp cận SV tại giảng đường vào cuối buổi, trước khi tiến hành phát phiếuNCV giới thiệu về bản thân, nghiên cứu đang tiến hành (mục đích, nội dung củanghiên cứu, tính trung thực và sự đảm bảo bí mật thông tin cho đối tượng tham gianghiên cứu), sau đó NCV xin phép sự đồng ý tham gia của đối tượng và hướng dẫn
về cách thức trả lời câu hỏi trong phiếu điều tra
- Kiểm tra tình trạng hôn nhân của SV và loại trừ SV đã kết hôn (theo danh sáchcủa Phòng Công tác quản lý Sinh viên và sự cung cấp thông tin của lớp trưởng)
- NCV hướng dẫn vị trí ngồi cho SV, để hạn chế sự trao đổi thông tin và giúp đốitượng yên tâm về tính bí mật của thông tin mà mình chia sẻ
- NCV phát cho mỗi đối tượng 1 phiếu điều tra và 1 phong bì Yêu cầu đối tượngsau khi hoàn thành phiếu điều tra gấp bỏ vào phong bì
- SV tự điền các thông tin vào bộ câu hỏi và có thể yêu cầu NCV giải thích bất cứcâu hỏi nào chưa hiểu rõ.Trong quá trình điền phiếu, NCV nhắc nhở và khuyếnkhích SV điền đầy đủ thông tin trong mục theo yêu cầu và không trao đổi với các
SV khác
Trang 33- Frequencies: Kiểm tra giá trị bất thường trong 1 biến
- If : tìm sự bất thường trong logic của bộ số liệu (biến “đã từng QHTD” vớibiến “lý do trong QHTD”, “số người QHTD”, “địa điểm QHTD”…)
Đối với đối tượng trả lời còn thiếu không quá 10% thông tin so với bộ câu hỏiđưa ra, NCV bổ sung thêm thông tin bằng cách lấy giá trị trung vị hoặc trung bìnhđối với biến định lượng và lấy giá trị phổ biến đối với biến định danh
Đối với những đối tượng trả lời thiếu nhiều hơn 10% thông tin so với bộ câu hỏiđưa ra, NCV loại bỏ phiếu
Các kết quả phân tích và trình bày số liệu dựa trên thứ tự 3 mục tiêu nghiên cứucủa đề tài
- Phân tích mô tả: sử dụng các thông số như tần số, tỷ lệ (dùng lệnh Frequencies)
Trang 34- Phân tích mối liên quan: yếu tố giới, yếu tố cá nhân( sử dụng chất kích thích,xem phim/tài liệu khiêu dâm, vui chơi tại các câu lạc bộ đêm/quán bar),) gia đình(sự quan tâm của bố mẹ, đối tượng sống cùng), bạn bè (số bạn bè từng QHTDTHN, bạn bè rủ rê thực hiện hành vi không lành mạnh, sự chia sẻ thông tin với bạnbè) và kiến thức, thái độ với hành vi QHTD THN
- Kiểm định Khi bình phương, mức ý nghĩa thống kê với p = 0,05, tính tỷ sốchênh (OR), có khoảng tin cậy 95%
2.7 Biến số nghiên cứu
2.7.1 Nhóm biến
học lực, năm học, hạnh kiểm
thích, đi vũ trường/ bar,
thời điểm dùng BCS, có thai khi QHTD lần đầu, thời điểm dễ có thai, các bệnhLTQĐTD, biết bệnh LTQĐTD, biểu hiện bệnh LTQĐTD, cách phòng bệnhLTQĐTD, biết về QHDT an toàn, khái niệm QHTD an toàn, hậu quả nạo pháthai, hậu quả QHTD không an toàn,
đồng ý của SV với quan điểm QHTD THN hiện đại bao gồm: QHTD THN chấpnhận được vì là nhu cầu sinh lý tất yếu, QHTD THN chấp nhận được khi 2 ngườisắp tiến tới hôn nhân, QHTD THN chấp nhận được miễn là sử dụng BPTT,QHTD THN chấp nhận được khi 2 người trưởng thành và lường trước hậu quả
mà họ đang làm, QHTD THN là bằng chứng của tình yêu, chấp nhận một người
đã từng QHTD THN làm người yêu, nam giới phải có trách nhiêm khi QHTDvới bạn gái, nam giới cần thiết phải có kinh nghiệm về tình dục THN Các biến
số thể hiện mức độ đồng ý của SV với quan điểm QHTD THN truyền thống baogồm: việc tránh thai là của nữ giới, con gái mất trinh tiết trước khi kết hôn khôngđáng được tôn trong, đàn ông được QHTD THN còn phụ nữ thì không, QHTDTHN là vi phạm đạo đức
Trang 35- Quan hệ tình dục, bạn tình, số bạn tình, nơi QHTD, lý do không QHTD
- Lần QHTD đầu tiên: nơi QHTD đầu tiên, sử dụng BPTT đầu tiên,lý do dùngBPTT đầu tiên, Lý do không dùng BPTT đầu tiên, tuổi QHTD đầu tiên, ngườiQHTD đầu tiên, lý do QHTD đầu tiên, lý do không QHTD,
- Lần QHTD gần nhất: BPTT gần đây, lý do dùng BPTT gần đây, lý do khôngdùng BPTT gần đây
(Bảng biến số chi tiết trong Phụ lục 1)
2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá
Tiêu chuẩn đánh giá thái độ, kiến thức của SV trong nghiên cứu này được xâydựng dựa trên tham khảo các nghiên cứu đã thực hiện trong nước liên quan đếnQHTD THN của TTN và SV : Lê Thị Thương năm 2015 tại Đại học Nội Vụ [24],Phan Thanh Nguyệt năm 2010 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn [18]
Tiêu chuẩn đánh giá về kiến thức
Phần đánh giá kiến thức gồm có 14 câu, mỗi 1 lựa chọn đúng có điểm số là0,5 hoặc 1 điểm Với loại câu hỏi cho thông tin “có biết/không biết” hoặc “ đã nghe/chưa nghe” điểm số mỗi câu là 0,5; các loại câu hỏi khác điểm số mỗi lựa chọn là1điểm Tổng điểm tối đa là 37 điểm SV có tổng điểm kiến thức từ 18,5 điểm trở lênđược đánh giá là có kiến thức tốt SV có tổng điểm kiến thức từ 18 điểm trở xuốngđược đánh giá là kiến thức chưa tốt
Tiêu chuẩn đánh giá thái độ
Phần đánh giá thái độ có 13 câu Thang đo được thiết kế dạng thang Likert
đo lường thái độ gồm 5 mức độ bao gồm: rất đồng ý, đồng ý, không biết/không ýkiến, không đồng ý, rất không đồng ý Các câu hỏi thể hiện thái độ ủng hộ (đồng ý/rất đồng ý) với quan điểm hiện đại được 1 điểm, và không ủng hộ (không đồng ý/rất
Trang 36(Chi tiết về tiêu chuẩn đánh giá trong Phục lục 2)
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này là hoàn toàn phù hợp về đạo đức nghiên cứu Nghiên cứuhoàn toàn đặt lợi ích của cộng đồng, sức khỏe của cộng đồng không vì một mụcđích nào khác Nghiên cứu được sự chấp thuận và hỗ trợ của trường Cao đẳng Y tếThanh Hóa
Trước khi được tiến hành thực tế, nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đứctrường Đại học Y tế Công cộng và Ban giám hiệu trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóathông qua
Trước khi tham gia nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ vềmục đích nghiên cứu và hoàn toàn có quyền quyết định tự nguyện tham gia vàonghiên cứu hay không
Nghiên cứu sử dụng phiếu điều tra tự điền khuyết danh, đảm bảo bí mật thôngtin của đối tượng Các thông tin đối tượng cung cấp hoàn toàn được bảo mật
Kết quả nghiên cứu được thông báo cho các đơn vị y tế có trách nhiệm liênquan để nhằm nâng cao hiệu quả công tác SKSS VTN
Trang 37xxxvii
Trang 38Bảng 3.1: Một số thông tin chung về sinh viên
Trang 39Theo kết quả Biểu đồ 3.1, trong kì học gần nhất, trong tổng số 384 SV, có72,7% được xếp loại học lực khá hoặc giỏi, SV đạt học lực trung bình 27,3% Đại
đa số SV có ý thức rèn luyện tốt với 97,6% SV có hạnh kiểm từ khá trở lên
Biểu đồ 3.1: Phân bố tỷ lệ SV theo học lực và hạnh kiểm kì học vừa qua
Học lực Hạnh kiểm
0 10
3.2 Thực trạng QHTD trước hôn nhân
Các thông tin được tìm hiểu nhằm mô tả thực trạng QHTD trước hôn nhân củasinh viên bao gồm: Tỷ lệ QHTD THN, đối tượng bạn tình, lý do, địa điểm QHTD,lần QHTD đầu tiên, lần QHTD gần nhất, lý do chưa bao giờ QHTD THN
3.2.1 Thực trạng chung về QHTD THN
Tỷ lệ QHTD của SV có sự khác nhau giữa các giới, năm học, khu vực sống,người sống cùng và tôn giáo và được mô tả trong bảng và biểu đồ sau:
Trang 40Chưa QHTD(n%)
Tổng(n)
Nữ 63 (20,1) 251 (79,9) 314
Năm học
Năm thứ 1 22 (22,9) 74(77,1) 96Năm thứ 2 36 (27,9) 93(72,1) 129Năm thứ 3 36 (22,6) 123 (77,4) 159
Tôn giáo
Không theo tôn
giáo 91 (24,6) 279 (75,4) 370 Thiên chúa giáo 3 (21,3) 11 (78,6) 14
2 lần (nam 44,3% và nữ 20,1%)
SV giữa các năm học không có sự chênh lệch nhiều về tỷ lệ QHTD THN SVnăm thứ 2 có tỷ lệ QHTD cao nhất (27,9%) trong khi đó SV năm thứ 3 và năm đầukhá tương đồng (22,6% và 22,9%) Như vậy, SV năm cuối lại có xu hướng QHTDTHN thấp nhất Xét về tôn giáo, trong tổng số 370 SV không theo tôn giáo, có 91
SV đã từng QHTD, chiếm tỷ lệ 26,6% cao hơn tỷ lệ SV đã từng QHTD trong nhómtheo Thiên chúa giáo là 3/14 (21,3%) Cũng như vậy, xu hướng QHTD THN của
SV thành thị (26,8%) mặc dù cao hơn nhưng cũng không khác biệt nhiều với SVxuất thân từ nông thôn (23,4%) QHTD THN của SV chịu sự tác động của đối