Trong nlìững năm qua, pháp luật đã chú ý nhiều hơn tới yếu tố phát triển bền vững trong các dự án đầu tư thông qua các qui định về bảo vệ môi trường như luật hóa yêu cầu thực hiện đánh g
Trang 1ya
m u s - i - 7 M 2
Trang 2BÔ T ư PHÁP •
VIÊN KHOA HOC PHÁP LÝ • •
yiCVÌ^ÓL
ĐỀ TÀI
ĐẢM BẢO LỒNG GHÉP YÊU CẢU PHÁT TRIỂN BÈN VỮNG TRONG CÁC D ự ÁN
Trang 3DANH SÁCH CÁN B ộ THAM GIA ĐÈ TÀI
1 TS Nguyễn Thị Dung, Trưởng Bộ môn Luật Thương mại và
đầu tư, Khoa Pháp luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội
2 TS Vũ Thị Lan Anh, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật,
Đại học Luật Hà Nội
3 TS Vũ Đặng Hải Yến, Ban pháp chế, Tổng công ty đàu tư và
kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)
4 TS Nguyễn Văn Phương, Trưởng Bộ môn Luật Môi trường,
Khoa Pháp luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội
5 TS Doãn Hồng Nhung, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
6 CN Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp
7 ThS Dương Minh Thúy, Vụ Pháp chế, Bộ Tài nguyên và Môi
Trang 41.1.2 Phát triển bền vững và mối liên hệ giữa dự án đầu tư với việc đảm bảo các yêu 16cầu phát triển bền vững
1.2 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO LỒNG GHÉP CÁC YÊU 22 CẦU VỀ PHÁT TRIÉN BỀN VỮNG TRONG CÁC D ự ÁN ĐẦU TƯ
1.2.1 Quan niệm về lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư 221.2.2 Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo lồng ghép các yêu cầu về phát triển 23bền vững đối với các dự án đầu tư
1.2.3 Lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư và những 28 đảm bảo của pháp luật
1.3 KINH N G H ỆM QƯỐC TẾ TRONG VIỆC SỪ DỤNG PHÁP LUẬT ĐÊ QUẢN LÝ 34 CÁC D ự ÁN ĐẦU T ư THEO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chương 2 THựC TRẠNG PHÁP LUẬT VÈ LỒNG GHÉP CÁC YÊU CÀU VÈ 46
PHÁT TRIỀN BÈN VỮNG TRONG CÁC D ự ÁN ĐẦU TƯ
2.1 ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH HỆN HÀNH TRONG VIỆC ĐẢM BẢO LỒNG 46GHÉP CÁC YÊU CẦU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VŨNG TRONG CÁC Dự ÁN ĐẦU TƯ
2.1.1 Pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong đảm bảo yêu 46cầu phát triển bền vững đối vói các dự án đầu tư
2.1.2 Pháp luật trong việc đảm bảo quyền lợi và phát huy vai trò giám sát của cộng 60đông dân cư địa phương
2.1.3 Pháp luật về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với việc lồng ghép yêu 71cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
2.2 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LỒNG GHÉP CÁC YÊU CẦU PHÁT TRIÊN BỀN 79
VỮNG TRONG CÁC D ự ÁN ĐẦU TƯ - ĐÁNH GIÁ TỪ CÁC D ự ÁN c ụ THÊ
Trang 52.2.2 Những hạn chế ở khía cạnh đảm bảo sự phát triển bền vững
2.2.3 Những nguyên nhân điển hình
3.1.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo phát triển bền vững trong các dự án 9
3.1.2 Các định hướng hoàn thiện việc đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền 9vững trong các dự án đầu tư
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ c ụ THỂ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 1 (3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo các chủ thể thực hiện các yêu cầu phát 1(triển bền vững
3.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vai trò, trách nhiệm của nhà nước đảm bảo 1 ]lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
3.2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hoạt động của nhà đầu tư trong các 11
PHẦN II BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
Trang 6PHẦN I BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
Trang 7PHẦN M Ỏ ĐẦU
1 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THựC TIẺN CỦA ĐÈ TÀI
Phát triển bền vững là yêu cầu tất yếu của mọi quá trình phát triển và đòi hỏi sự kết họp chặt chẽ, họp lý và hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển, gồm:
phát triển kinh tế - tiến bộ xã hội - bảo vệ môi trường Tại Việt Nam, quan điểm
phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước1, Chương trình Nghị sự số
21, trong nhiều văn bản pháp luật khác của Nhà nước và được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X và đặc biệt của Đại hội Đảng lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
Quá trình phát triển luôn song hành cùng với các dự án đầu tư Do vậy, việc đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững trong quá trình triển khai các dự án đầu tư chính là yếu tố không thể thiếu trong việc đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững nói chung Những tác động vi mô đối với sự phát triển bền vững theo những chiều khác nhau trong tổng thể sẽ tác động tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong nlìững năm qua, pháp luật đã chú ý nhiều hơn tới yếu tố phát triển bền vững trong các dự án đầu tư thông qua các qui định về bảo vệ môi trường như luật hóa yêu cầu thực hiện đánh giá tác động môi trường trong các dự án đầu tư, sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào các dự án đầu tư, những chế tài và hình phạt nghiêm khắc đối với việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Tuy
cho thấy yêu cầu phát triển bền vững chưa thực sự được đảm bảo một cách có hiệu quả và phố biến trong các dự án đầu tư Điều này đã và đang tác động không tốt tới sự phát triển bền vững của đất nước Nhiều vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình triển khai các dự án, đặc biệt là các dự án đô thị hoá, dự án phát triển khu công nghiệp do tính chất phức tạp và phạm vi ảnh hưởng của chúng quá lớn Nhiều dự án công nghiệp được triển khai trên những khu vực lẽ ra cần ưu tiên phát triển nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực và giữ gìn ổn định xã hội ở nông thôn Tình trạng phát triển tràn lan các dự án sân golf, khu vui chơi giải trí
1 "Bào vệ môi trường là một nội dung cơ bàn lứiông thể tách rời trong đường lối, ch 11 trương và kế hoạch phát
triển kinh tể - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sò' quan trọng bào đàm phát triển bền vững, thực hiện thẳng lọi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".
Trang 8cung là ví dụ về tính thiếu bền vững của các dự án Bên cạnh đó, do thiếu kiểm soát ỏ tiêu chí phát triển bền vững, nhiều khu vực dân cư nơi có sự phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hiện đang rơi vào tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng Đây là những yếu tố thực sự đi ngược lại với các yêu cẩu về phát triển bền vững.
Thực tế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Những dự án thiếu yểu tố phát triển bền vững được triển khai do tư duy nhiệm kỳ của lãnh đạo, do yếu kém về năng lực quản lý của lãnh đạo, do tham nhũng hoặc do kém hiểu biết
về phat triển bền vững Tuy nhiên, trong số những những nguyên nhân kể trên cần
kể đến nguyên nhân về thể chế, tức là sự bất cập của hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật Có thể khẳng định rằng hệ thống pháp luật hiện hành chưa có được những đảm bảo chắc chắn, có hiệu lực cho việc lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong quá trình xây dựng, phê duyệt và triển khai các dự án đầu tư
Phát triển bền vững là một tập hợp các yêu cầu phức tạp, đa dạng và liên quan đến nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội, sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích cộng đồng Hệ thống pháp luật phù hợp với phát triển bền vững cần phải thể hiện các yêu cầu này thông qua việc xác định các tiêu chí cụ thể, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả các chủ thể liên quan (cơ quan quản lý, tổ chức, cá nhân triển khai dự án, tổ chức và cá nhân khác
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) trong tất cả các giai đoạn của một dự án đầu
tư, tù quá trình quy hoạch, lập, phê duyệt, triển khai và vận hành dự án đầu tư Mặt khác, các quy định này phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế trong từng giai đoạn và đảm bảo tính khả thi Để xây dựng được các chế định pháp luật đáp úng được yêu cầu này cần có những cứu lý luận và thực tiễn, tập hợp các yêu
cầu \ề phát triển bền vững, xác định mức độ và hình thức thể hiện các yêu cầu
phát triển bền vững này trong các qui định pháp luật Trên cơ sở những nghiên cửu lý luận, trong đó có việc nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, rà soát, đánh giá hậ thống pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện để đưa ra những giải pháp nhằn đảm bảo phát triển bền vững cho các dự án là một đòi hỏi bức xúc hiện nay của cuá trình phát triển đất nước
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn như vậy, nhóm nghiên cứu đã chọn
Đề tii “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tu ”.
Trang 9Ở nước ngoài:
Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững nhìn từ góc độ phiáp lý khá đa dạng và phong phú Để gắn với yêu cầu nghiên cứu và phạm vi nghiêỉn cún của Đề tài, một số công trình chủ yếu sau đây được nghiên cứu và tiếp cận:
1 Konrad Adenauer Stiữtung Towards a Green Ecomiiomy, Singapore, 2(012
2 ADB, Capacity Building for Environmental Lavv' in the Asia and p^aciíìc Region, Manila, 2003
3 GM Bates, Envừonment Law in Australia, Butterv/orths, 1995
4 Ngel J Martin, John Rice, Sumit K Lodhia, Sustainable Develcnpment Planning: A Case of Public Participation using Online Forums
5 Business strategies for sustainable development, Based on the book Busines Strategy for Sustainable Development: Leadership and Accoontability for the 9(Ds
6 Juan D.Quintero, Mainstreaming Conservation n Inírastructure P'rojects Case Studies from Latin America Washington, 2007
7 Aníonio M.A Pedro, Mainstreaming Mineral Wealth in Grow/th and Poverty Reduction Strategies Addis Ababa, Ethiopia
8 Making the Connection, The GRI Guidỉlines and the NUGC Communication on Progress
9 World Business Council for Sustainable Devdopment, Statoil aind BP, Case Study, 2005
10 B R Bradley, G T Daigger, R Rubin, G Tchobanogloius, The Sustainable development case for onsite waswater treatnent
Trang 10Đối với các công trình nước ngoài được tham khảo, Đe tài có những nhận xét sau đây:
Thứ nhấi, :ác công trình này tiếp cận rất sát với các yêu cầu đối với dự án
đầu tư nhìn từ gó: độ phát triển bền vững Các nghiên cứu này còn đưa ra các tiêu chí đánh giá mirc độ phát triển bền vững của doanh nghiệp Sự đa dạng trong tiếp cận và xây dựng tiêu chí phát triển bền vững của doanh nghiệp tạo ra sự đa dạng trong các yêu cằi đối với dự án mà doanh nghiệp triển khai thực hiện
Thứ hai, các nghiên cứu này tiếp cận chủ yếu từ khía cạnh xã hội, tăng
trưởng và tác đ k g môi trường
Thứ ba, rất nhiều vấn đề liên quan đến các dự án phát triển được đề cập
trong các công tìn h nghiên cứu này đang là những vấn đề Việt Nam đối mặt ở thời điểm hiện nay
Thứ tư, CcC công trình nghiên cứu này ít đề cập những khía cạnh pháp lý
đảm bảo phát íriển bền vững trong các dự án và không có bất cứ thông tin hay phân tích nào liêi quan đến Việt Nam
Ở trong m ớ c :
Trong niưc có một số công trình nghiên cứu về phát triển bền vững nhìn từ góc độ thể chế tong đó có vấn đề xây dựng pháp luật Một số nghiên cứu về phát triển bền vữngcí thể kể đến gồm:
1 "Tiến ú i môi trường bền vũng” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi
trường, Đại học long hợp Hà Nội;
2 "Nghiéi cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoãt r (2003) do Viện môi trưòng và phát triển bền vững, Liên hiệp
các Hội Khoahoc - Kỹ thuật Việt Nam thực hiện;
3 Võ Hả Long, Phát huy vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững
ở Việt Nam hỉêr nay, Tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà Nội, số 5/2009.
4 Nguyei Văn Động, Hoạt động xây d\mg pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, ĐH Luật Hà Nội, số
5/2009
Trang 115 Nguyễn Văn Động, Cách thức xác định các yếu tổ phát triển bền vững của pháp luật và lồng ghép chúng vào quá trình xây dụng pháp luật, Tạp chi Luật
học, ĐH Luật Hà Nội, số 5/2010;
6 Bộ Tư pháp, Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dụng pháp luật - Nhũng vấn đề lý luận và thực tiễn, đề tài NCKH cấp Bộ năm
2008, Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Văn Động
7 Nguyễn Minh Đoan, Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ đảm bào yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay, Tạp
người và thiên nhiên, Hà Nội, 4/2009
Tuy nhiên, qua việc tham khảo các công trình nghiên cứu kể trên có thê thấy một số vấn đề sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu trong nước hiện tại chỉ mới đề cập đến phát triển
bền vững ở tòng thành tố khác nhau, thiếu sự liên hệ trong tổng thể Như vậy, có thể thấy các công trình này chưa tạo ra được một cách tiếp cận và nhìn nhận tổng thể các vấn đề và yêu cầu khác nhau của phát triển bền vững
Thứ hai, các nghiên cứu trong nước kể trên đề cập chủ yếu các vấn đề liên
quan đến báo cáo Đánh giá tác động môi trường, Báo cáo môi trường chiến lược chứ chưa có nghiên cứu sâu về cơ chế đối thoại môi trường,, cơ chế tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào bảo vệ môi trường, giám sát bảo vệ môi trường -
Trang 12những vấn đề rất quan trọng trong việc đảm bảo tính phát triển bền vững của dự
án đầu tư
Thứ ba, các nghiên cứu kể trên đề cập chủ yếu đến vai trò của pháp luật
trong đảm bảo phát triển bền vững ở những góc độ chung, phương thức và mức
độ thể chể hóa chính sách môi trường Rất ít những thông tin hoặc đề xuất liên quan đến việc thể chế hóa các yêu cầu cụ thể của phát triển bền vững đối với dự
án đầu tư cũng như việc tổ chức thực hiện pháp luật trong từng dự án cụ thể
Thứ tư, các công trình nghiên cứu này hầu như ít chú trọng đến việc phân
tích và mổ xẻ các tình huống cụ thể để từ đó có những thông tin cần thiết cho việc thể chế hóa sát hơn với đòi hỏi của cuộc sổng
Những đánh giá tổng quan nêu trên cho thấy Đề tài mà Bộ Tư pháp giao cho Nhóm nghiên cứu rất có giá trị bởi không chỉ tính cá biệt, tính mới mẻ mà còn có giá trị đối với tình trạng đầu tư bất chấp nhũng yêu cầu phát triển bền vững như hiện nay ở nước ta và sự “lãng quên” vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật trong việc đảm bảo cho các dự án có mức độ phát triển bền vững cần thiết
3 MỤC TIÊU NGHIÊN c ứ u
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn cần thiết cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo để các dự án đầu tư đáp ứng được các yêu cầu phát triển bền vững trên tất cả các phương diện kinh tế,
xã hội và môi trường
Để đạt được mục tiêu này, đề tài đặt ra một số mục tiêu cụ thể như sau:
- Xác định những yêu cầu về phát triển bền vững cần được đảm bảo trong tất cả các giai đoạn của dự án đầu tư và vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo các yêu cầu này
- Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về các dự án đầu tư xét từ những yêu cầu đảm bảo các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư tò góc
độ vai trò và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan
- Đánh giá thực tế triển khai các giai đoạn của dự án đầu tư và nhận diện những yêu cầu cần đáp ứng để đảm bảo sự phát triển kinh tế xã hội bền vững
- Đề xuất xây dựng các chế định pháp luật hoặc các giải pháp pháp lý nhằm đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
Trang 134 NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u
Trong phạm vi đề tài cấp Bộ, Nhóm nghiên cứu tập trung nghiên cứu các vấn đề về phát triển bền vững và những biểu hiện, những yêu cầu của chúng trong hoạt động xây dựng và triển khai các dự án đầu tư Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là những qui định pháp luật được áp dụng trong các Dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư Với phạm vi và đối tượng như vậy, Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:
- về nghiên cứu lý luận: (i) Xác định những yêu cầu về ph át triển bền
vững cần được lòng ghép trong các dự án đầu tư (nghiên cứu mối quan hệ giữa
yêu cầu phát triển bền vững với việc triển khai các dự án đầu tư; các yêu cầu về phát triển bền vững cần được lồng ghép trong các giai đoạn của dự án đầu tư; xác định các chỉ tiêu đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đối với
các dự án đầu tư; (ii) Nghiên cứu vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo các
yê u cầu phát triển bền vững đối với các dự án đầu tư (xác định vai trò của pháp
luật trong việc đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các du-
an đầu tư; các chế định pháp luật cần có và nội dung của các chế định này nhằm đảm bảo lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư)
- về nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu pháp luật của một số
quốc gia trên thế giới trong việc đảm bảo lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư (bao gồm các quy định về lập báo cáo tiền khả thi, phê duyệt, triển khai dự án đầu tư, quản lý, giám sát các dự án đầu tư, sử dụng quy hoạch và các công cụ khác trong quản lý các dự án đầu tư, đảm bảo sự tham gia và lợi ích của cộng đồng dân cư trong các dự án đầu tư )
- về nghiên cứu thực tiễn: (i) Rà soát, hệ thống hoá các quy định hiện hành về các dự án đầu tư và đánh giá mức độ đáp ứng các yêu cầu về phát triển bền vững trong các quy định này (bao gồm mức độ đáp ứng các yêu cầu về phát triển bền vững và mức độ phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên); (ii) Nghiên cứu một số tình huống điển hình về phê duyệt, triển khai dự án đầu tư trên thực tế và đánh giá trên cơ sở các chỉ tiêu về đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững và phân tích những điểm yếu của các quy định pháp luật hiện hành trong việc đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
Trang 145 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
Để thực hiện tốt đề tài và đạt được mục tiêu đã đề ra, trong quá trình nghiên cứu, ngoài các phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp suy luận logic, đề tài đã tiến hành nghiên cứu bằng cả một số phương pháp nghiên cứu đặc thù khác như sau:
- Phương pháp phân tích : Phân tích các yêu cầu chung về phát triển bền
vững, các yêu cầu đối với pháp luật nhàm đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, các khó khăn trong việc đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững trong thực tiễn triển khai các dự án đầu tư để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện các chế định pháp luật liên quan đến quản lý các dự án đầu tư
- Phương pháp so sánh' Việc nghiên cứu so sánh được áp dụng đối với
việc thu thập, đánh giá và tham chiếu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, các qui định của các thiết chế quốc tế về lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững ttrong quy trình của một dự án đầu tư Tuy nhiên, do giới hạn của nguồn kinh phí,
Đề tài không sử dụng đầy đủ các tiêu chí của luật học so sánh do không có điều kiện khảo sát thực địa những tác động của pháp luật đối với những dự án cụ thể trong các nước được chọn nghiên cứu Đề tài chỉ dừng lại ở việc so sánh các qui định pháp luật và đưa ra các bình luận, nhận định dựa trên một số báo cáo về phát triển bền vững
- Phương pháp xã hội học: Đề tài tổ chức khảo sát một số dự án cụ thể
như là những tinh huống nghiên cứu Bên cạnh đó, Đề tài cũng có những trao đổi, phỏng vấn với những cá nhân, tổ chức nhằm thu thập những thông tin cần thiết cho việc đánh giá thực trạng
- Phương pháp tồng hợp: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong
việc đề xuất kiến nghị cần thiết đối với việc xây dựng và hoàn thiện các chế định pháp luật nhằm lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư dựa trên phân tích quan điểm lý luận và sổ liệu, đánh giá thực tiễn
- Phương pháp đối thoại: Phương pháp này được sử dụng tại các Toạ đàm,
Hội thảo mà đề tài tổ chức hoặc tham gia Thông qua các cuộc đối thoại trực diện với các nhà khoa học, nhà quản lý, các chủ dự án và đại diện cộng đồng dân cư địa phương về các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến lồng ghép các yêu cầu
Trang 15về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, Đe tài tìm cách thu thập và đánh các quan điểm lý luận, các đánh giá thực tiễn cũng như các số liệu cụ thể.
6 KẾT CẤU BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
Ngoài Mục lục, Phần mở đầu, Báo cáo chuyên đề, Danh mục tài liệu tham khảo thì Báo cáo phúc trình có những nội dung chính sau đây:
Chương 1 Một sổ vấn đề lý luận về lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư.
Chương 2 Thực trạng pháp luật về lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư.
Chương 3 Một sổ kiến nghị hoàn thiện pháp luật đảm bảo lồng ghép yên cầu phát triển bền vững trong các dự án đần tư.
Trang 16C h ư o n g 1 MỘT SÓ VẤN ĐẺ LÝ LUẬN VÈ LỒNG GHÉP YÊU CẦU
PHÁT TRIẺN BÊN VỮNG TRONG CÁC D ự ÁN ĐẦU TƯ
1.1 D ự ÁN ĐẦU TƯ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA Dự ÁN ĐẦU TƯ VỚI PHÁT TRIỂN BÈN VỮNG
1.1.1 Một số khái niệm công cụ cơ bản
Để có cơ sở giải quyết các nội dung của vấn đề nghiên cứu, ở phần này nhóm nghiên cứu làm rõ thêm một số khái niệm về đầu tư, dự án đầu tư và phát triển
Theo cách hiểu thông thường, đầu tư "là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ"2 Ket quả được tạo ra trong tương lai có thể là sự gia tăng về giá trị, có thể tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế Ở góc độ kinh tế, "hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội"3 Ở góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác Hoạt động đầu tư có thể có tính chất thương mại hoặc phi thương mại Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh, với bản chất là "sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận" Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam đã định nghĩa: "đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư"4
Có thể thấy, theo quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam thì khái niệm đầu tư khá rộng, bao gồm cả việc bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình lẫn vô hình
Ở góc độ môi trường, đầu tư là hoạt động của các tổ chức, cá nhân sử dụng các nguồn lực và thông qua các hình thức đầu tư để tác động vào môi trường, có
2 T iu ò ig Đại học Kinh tế qưổc dân (2003), Giáo trinh kinh tế đầu tư, N X B Thống kẽ, Hà N ội, tr 16.
3 Vũ Chí Lộc (1997), Giáo trình đầu tư nước ngoài, N X B Giáo dục, Hà N ộ i, tr 5.
4 Khoản 1, Điều 3 Luật đầu tư năm 2005.
Trang 17thể là môi trường nước (đổi với dự án thủy điện, thủy lợi), môi trường đất (đối với
dự án trồng trọt, chăn nuôi, môi trường không khí (đối với các dự án có lượng phát thải khí) tạo ra sự phát triển Mọi hoạt động đầu tư đều diễn ra trong một điều kiện môi trường cụ thể
Hoạt động đầu tư là hoạt động tương đối đa dạng và có thể tiếp cận tò các góc độ khác nhau, cụ thể như sau:
- Căn cứ vào mục đích đầu tư, có thể chia thành: Đầu tư phi lợi nhuận và
đầu tư kinh doanh Đầu tư phi lợi nhuận là việc sử dụng các nguồn lực để thực hiện các hoạt động không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận Ví dụ, Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng; cá nhân đầu tư mua sắm tài sản phục vụ sinh hoạt tiêu dùng Đầu tư kinh doanh là hoạt động đầu tư sử dụng các nguồn lực để kinh doanh thu lợi nhuận bằng nhiều hình thức và phương thức tổ chức khác nhau như: Đầu tư vốn thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư phát triển quy mô kinh doanh, họp tác kinh doanh theo hợp đồng, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
- Căn cứ vào nguồn vốn đầu tư, có thể chia đầu tư thành: Đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài Đầu tư trong nước được hiểu là hoạt động đầu tư được tiển hành bởi các nguồn lực đầu tư của nhà nước và của các tổ chức, cá nhân trong nước Luật Đầu tư năm 2005 quy định đầu tư trong nước lả việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam5 Đầu tư nước ngoài (còn gọi là đầu tư quốc tế) được hiểu bao gồm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài Đây là những hoạt động đầu tư có sự luân chuyển vốn đầu tư trên phạm vi quốc tế Hoạt động đầu tư nước ngoài được tiến hành tại Việt Nam, bằng nguồn vốn của tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc định cư ở nước ngoài Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư
Tuy nhiên, xuất phát từ hai loại đầu tư này, tại Việt Nam hiện nay chưa thống nhất quan niệm về nhà đầu tư nước ngoài Mặc dù đây là một nội dung quan trọng của Luật đầu tư năm 2005 nhưng lại không được xác định một cách rõ ràng Trong Luật Đầu tư có sử dụng rất nhiều khái niệm khác nhau có liên quan đến việc xác định nhà đầu tư, bao gồm: nhà đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế 100% vốn trong nước hoặc
5 Khoản 13, Đ iều 3, L uật Đầu tư năm 2005.
Trang 18nước ngoài, tổ chức kinh tế liên doanh, nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào
Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, các khái niệm này chưa được xác
định rõ ràng Ví dụ, “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” thì khác gì “tổ
chức kinh tể liên doanh”; tại sao lại phân biệt “tổ chức kinh tế 100% vốn nước
ngoài”; “tổ chức kinh tế 100% vốn trong nước”; “doanh nghiệp Việt Nam” là
doaiứi nghiệp nào? “doanh nghiệp nước ngoài là doanh nghiệp nào”? Điểm mấu
chốt và còn nhiều tranh cãi liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài là chưa có tiêu
chí ihống nhất để xác định quốc tịch của doanh nghiệp Cụ thể: “doanh nghiệp
được thành lập ở Việt Nam có sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài” thì có
phải là nhà đầu tư nước ngoài không? Nếu có thì với điều kiện gì? Nếu không coi
doanh nghiệp được thành lập ở Việt Nam có sở hữu của tổ chức, cá nhân nước
ngoai là nhà đầu tư nước ngoài như kinh nghiệm một số nước thì có thể có nguy cơ
bị “lách luật” để kinh doanh trong ngành, nghề hạn chế đầu tư nước ngoài Việc
không coi họ là nhà đầu tư nước ngoài sẽ làm phát sinh rất nhiều khó khăn Cụ thể:
(i) Tỷ lệ sở hữu bao nhiêu là họp lý (49-51 hay 75-25, ?);
(ii) Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nếu tỷ lệ sở hữu thay đổi và do
đó thay đổi về thương quyền kinh doanh thì xử lý như thế nào?
(iii) Không thể xác định được địa vị pháp lý của các doanh nghiệp thế hệ
F2, F3,
Có thể nhận thấy chỉ riêng Luật Đầu tư sẽ không thể giải quyết được một
cách triệt để vấn đề xác đinh doanh nghiệp được thành lập ở Việt Nam có sở hữu
của :ổ chức, cá nhân nước ngoài có phải là nhà đầu tư nước ngoài không Các quy
định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện sẽ phải cụ thể hóa quy định này
trong các trường hợp cụ thể6
- Căn cứ vào mức độ và hình thức tham gia quản lí của nhà đầu tư đối với doarh nghiệp, có thể chia đầu tư thành: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Đầu
tư t ạ c tiếp là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lí,
điều hành quá trình sử dụng các nguồn lực đầu tư Theo Luật Đầu tư năm 2005,
các lình thức đầu tư trực tiếp bao gồm: Đầu tư vào tổ chức kinh tế, đầu tư theo
hợp iồng, đầu tư phát triển kinh doanh, đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại
doarh nghiệp Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà ở đó nhà đầu tư không trực
P h ò ì g T h ư o n g m ạ i v à C ô n g n g h i ệ p V i ệ t N a m ( 2 0 1 1 ) , B á o c á o r à s o á t L u ậ t đ ầ u t ư n ă m 2 0 0 5 , n g u ồ n :
Trang 19tiếp tham gia quản lí hoạt động đầu tư Khác với đầu tư trực tiếp, trong hoạt động đầu tư gián tiếp, người đầu tư vốn và người quản lý, sử dụng vốn là hai chủ thể khác nhau và có thẩm quyền chi phối khác nhau đối với nguồn lực đầu tư Những hoạt động đầu tư mà nhà đầu tư không trực tiếp nắm quyền quản lí, kiểm soát và điều hành hoạt động kinh doanh đều có tính chất là đầu tư gián tiếp như đầu tư tài chính, nhượng quyền, cho vay, cho thuê.
- Căn cứ vào lĩnh vực đầu tư, hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư công
nghiệp, đầu tư nông nghiệp, đầu tư tài chính, đầu tư bất động sản, đầu tư y tể, giáo dục
- Căn cứ vào hình thức của lợi ích do đầu tư đem lại, hoạt động đầu tư bao
gồm: Đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư tài sản vật chất và sức lao động Đầu tư tài chính là loại đầu tư theo đó chủ đầu tư sử dụng vốn đầu tư để cho vay, để mua các chứng chỉ có giá và hưởng lãi suất Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư Đầu tư thương mại là hoạt động đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá mua và giá bán Loại đầu tư này cũng không làm hình thành tài sản mới mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của nhà đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa7 Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động (được gọi chung là đầu tư phát triển) là hoạt động đầu tư trong đó nhà đầu tư bỏ vốn để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh, cải thiện và nâng cao điều kiện sống của con người
- Căn cứ vào mức độ gãy tác động môi trường Hiện nay, xuất hiện sự phân
loại dự án đầu tư căn cứ vào mức độ tác động đến môi trường Có thể khẳng định rằng hoạt động đầu tư nào cũng sẽ gây tác động môi trường, hiểu theo nghĩa môi trường bao gồm cả thành tố sinh thái tự nhiên và thành tố xã hội nhân văn Tuy nhiên, sự phân loại các hoạt động đầu tư trên đây cho thấy, khi xem xét yếu tố và mức độ gây tác động môi trường thì yếu tố môi trường quan trọng nhất được đánh giá là yếu tố sinh thái tự nhiên Trong các hoạt động đầu tư, có dự án chi hướng đên khai thác tài nguyên thiên nhiên và có dự án hướng đến việc bảo vệ môi trường, giảm thiểu sử dụng các nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng đến môi trường (được coi là đầu tư xanh)
Trang 20Hoạt động đầu tư của nhà đầu tư phải được tiến hành dưới hình thức là các
dự án đầu tư Dự án đầu tư có thể được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa hẹp, dự
án đầu tư được hiểu là sự thể hiện về mặt văn bản, tài liệu các ý tưởng đầu tư Theo Luật Đầu tư năm 2005, “dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”8 Có thể nhận thấy khái niệm này không thực sự rõ ràng và có thể hiểu theo hai cách hoàn toàn trái ngược nhau Theo nghĩa rộng, mọi hoạt động đầu tư, mua sắm tài sản có thể coi là dự án đầu tư Do đó, các hoạt động này đều
có thể phải đăng ký hoặc thẩm tra để cấp giấy chứng nhận đầu tư Ngược lại theo nghĩa hẹp, kinh doanh dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tư vấn không phải lập dự án
và làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư Thực tế, không chỉ các nhà đầu tư kinh doanh dịch vụ mà cả cơ quan quản lý nhà nước rất lúng túng trong việc xin cấp hoặc quyết định cấp Giấy chứng nhận đầu tư
Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005, việc phân biệt dự án đầu tư trong nước, dự án đầu tư nước ngoài rất quan trọng để xác định thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư cho một dự án đầu tư cụ thể Mặc dù vậy, pháp luật hiện hành không quy định tiêu chí xác định thế nào là “dự án đầu tư trong nước hay dự án đầu tư nước ngoài” Khái niệm “dự án đầu tư” không rõ ràng dẫn đến cách hiểu
và áp dụng tùy tiện, đặc biệt cách hiểu “dự án đầu tư” đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam Với quy định “nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư” đã dẫn đến một thực tế là, những doanh nghiệp chỉ đầu tư vào các ngành nghề dịch vụ (thiết kế, tư vấn, thương mại) nhưng vẫn phải khoác lên một cái vỏ “dự án” Thực ra, khái niệm hiện nay
về dự án chỉ là một cách thể hiện câu chữ, chưa cho thấy bản chất của “dự án đầu tư” Xem xét nhiều giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dự án được ghi nhận chính là “dự án thành lập công ty ” Sự mập
mờ này cũng gây khó khăn cho việc quy định về chuyển nhượng dự án, chấm dứt
dự án Rõ ràng, khi dự án đầu tư là dự án thành lập doanh nghiệp thì các quy định
về nội dung này trong Luật Đầu từ có xu hướng gắn việc chấm dứt, chuyển nhượng dự án với chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, của một tổ chức kinh tế
Khoản 8 Đ iều 3 Luật Đầu tư năm 2005.
Trang 21Đi theo cách của Luật đầu tư năm 2005, xét về nội dung, dự án đầu tư là bản giải trình kinh tế kỹ thuật, là báo cáo nghiên cứu khả thi trong đó thể hiện rõ các nội dung về phương án kinh tế, tài chính, lao động, đất đai, môi trường (hình thức đầu tư, thời gian, địa điểm, lĩnh vực đầu tư, giải phóng mặt bằng và tái định
cư, kỹ thuật và công nghệ, kiến trúc và xây dựng, nguồn vốn, nguồn lao động ) Tuy nhiên, dự án đầu tư cũng được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là sự thể hiện trên thực tế các ý tưởng đầu tư, bao gồm cả việc thể hiện về mặt văn bản và thể hiện bằng các hoạt động đầu tư cụ thể Đề tài sẽ tiếp cận khái niệm về dự án đầu
tư theo nghĩa thứ hai này
Thứ ba, khái niệm phát triển.
Khái niệm "phát triển" được hiểu là "biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít
đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đcm giản đến phức tạp"9 Bên cạnh đó, từ
điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam định nghĩa "phát triển" ỉà
"biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp"10 Đây là cách hiểu thông thường ở góc độ ngôn ngữ và cho phép khẳng định một sổ nội dung thuộc về "phát triển", đó là:
(i) Phát triển có thể là một quá trình tự thân, không có sự tác động từ con người, đó là những biến đổi, phát triển của tự nhiên Phát triển cũng có thể là một quá trình nhân tạo, do con người tác động vào các yếu tổ tự nhiên để "làm cho biến đổi" Trong đời sống xã hội, "phát triển" với ý nghĩa là sự biến đổi do tác động của con người là phổ biến, bởi con người luôn luôn tìm cách tạo ra sự phát triển để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của mình;
(ii) Mọi sự vật hiện tượng thuộc về tự nhiên hay xã hội đều có thể ở trong
sự biến đổi hay được làm cho biến đổi Do đó, quá trình phát triển được diễn ra ở mọi mặt: phát triển tự nhiên, phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội, phát triển an ninh quốc phòng Ở mỗi lĩnh vực phát triển lại bao gồm nhiều thành tố khác nhau, như phát triển kinh tế bao gồm phát triển nông nghiệp, phát triển công nghiệp, phát triển thương mại hàng hóa, phát triển thương mại dịch vụ hay phát triên tự nhiên bao gồm phát triển thảm thực vật, thảm động vật, phát triển nguồn đất, nguồn nước
^ V i ệ n n g ô n n g ữ h ọ c ( 1 9 9 7 ) , T ừ đ i ể n T i ế n g V i ệ t , N X B Đ à N a n g , tr 6 1 5
Trang 22Việc phân tích trên cho thấy có một sự liên hệ chặt chẽ giữa các khái niệm
phát triển đầu tư và dự án đầu tư Dự án đầu tư chính là hình thức cụ thể của hoạt
động đầu tư Bằng các dự án đầu tư cụ thể, con người sử dụng các nguồn nhân lực,
nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác trong tự nhiên và xã hội để hiện thực
hóa các ý tưởng của mình, tạo ra những sự biến đổi đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế xã hội và tự nhiên Có thể nói, hoạt động đầu tư, thông qua các dự án đầu tư,
chính là hoạt động tạo ra sự phát triển kinh tế xã hội một cách có chủ đích
1.1.2 Phát triển bền vững và mối liên hệ giữa dự án đầu tư vói việc đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững
triển bền vững
Khái niệm "phát triển bền vững" ra đời trong bối cảnh nhân loại chính thức
nhận rõ mâu thuẫn của của hai hiện tượng là "phát triển", "môi trường" và nỗ lực
tim kiếm giải pháp làm hài hòa mâu thuẫn đó Trong đó, "môi trường" được hiểu
là toàn bộ những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật
tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy"11, là "sự kết
hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát
triển của một thực thể hữu cơ"12 Bên cạnh đó, Bách khoa toàn thư về môi trường
(xuất bản năm 1994) cũng định nghĩa: “Môi trường là tổng thể các thành tố sinh
thái tự nhiên, xã hội - nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp
lên phát triển, lên đời sổng và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ"
Hoạt động phát triển có tác động mạnh mẽ đến môi trường với biểu hiện: môi
trường tự nhiên được cải tạo tích cực, phục vụ cho nhu cầu của con người, đồng
thời cũng mang lại các nguy cơ ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường (đối
với cả môi trường tự nhiên và xã hội) Ngược lại, suy thoái, ô nhiễm môi trường
cũng tác động tiêu cực đến lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Chính
những mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển như phân tích ở trên đã dẫn đến
sự xuất hiện các quan niệm và các lý thuyết khác nhau về phát triển
Một là, lý thuyết đình chỉ tăng trưởng có nội dung làm cho sự tăng trưởng
kinh tế bằng (0) hoặc mang giá trị (-) để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của trái
đất Ví dụ: Quan điểm dừng dự án khai thác Bauxit ở Việt Nam do lo ngại sự cố
bùn đỏ giống như ở Hung ga ri
' ' V i ệ n n g ô n n g ữ h ọ c ( 1 9 9 7 ) , T ừ đ i ể n T i ế n g V i ệ t , N X B Đ à N a n g , tr 6 1 8
Trang 23TRỤNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN
TRƯỜNG DẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI 17
PHÒNG ĐỌC
Hai là: Lý thuyết về phát triển bền vững có nội dung khuyến khích phát
triển kết hợp hài hòa với vấn đề bảo vệ, tái tạo môi trường để ngăn chặn sự suy thoái thảm họa Ví dụ: Quan điểm tiếp tục dự án khai thác Bauxit sau khi kiểm tra củng cố và đảm bảo an toàn về môi trường trong quá trình triển khai dự án Mặc dù về lý thuyết, cách tiếp cận về dự án bauxit được coi là ví dụ cho quan điểm này song thực tế thì xã hội vẫn còn nhiều quan ngại về những như án như
vây Như vậy, lý thuyết về phát triển bền vững có nội dung nhấn mạnh phát triển
trong mức độ duy trì chất lượng môi trường, giữ cân bằng giữa môi trường và phát triển
"Phát triển bền vững" là phạm trù được hình thành do nhu cầu của việc bảo
vệ môi trường Bản chất của phát triển bền vững là sự kết hợp giữa phát triển với việc duy trì môi trường Yếu tố cơ bản của phát triển bền vững là quyền phát triển
và sự cần thiết phải chăm sóc môi trường Mặc dù chưa có định nghĩa toàn diện
và thống nhất về phát triển bền vững, song thực chất đó là mối liên kết không thể tách rời giữa phát triển và bảo vệ môi trường13 Khái niệm “phát triển bền vững” chính thức được sử dụng và phổ biến rộng rãi vào năm 1987, trong Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Tương lai chung của chúng ta) của ủ y ban Môi trường và Phát triển thể giới (WCED), theo đó phát triển bền vững được hiểu là
"sự phát triển có thể đáp ímg được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai "14 Đây
là quá trình phát triển phải bảo đảm có sự kết họp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Nói theo một cách khác, kinh tế - xã hội - môi trường là ba mặt của sự phát triển, có tác động lẫn nhau và nếu duy trì được sự cân đối giữa chúng thì tạo ra được sự phát triển bền vững Phát triển kinh tế, phát triển xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của các thể nhân, pháp nhân, của mỗi quốc gia cũng như của nhân loại nhàm đáp ứng các nha cầu hiện tại, còn "bảo vệ môi trường" là yếu tố quyết định mức độ ảnh hường đến khả năng đáp úng nhu cầu của các thế hệ mai sau
Từ khái niệm chính thức về phát ừiển bền vững do WCED sử dụng và phố biến rộng rãi vào năm 1987 Tuy nhiên, các tư liệu lịch sử cho thấy quan điểm về phát triển bền vũng đã hình thành từ sớm hơn Từ những năm 60 của thế kỷ XX, các cuộc thảo luận của Câu lạc bộ Rôma đã đưa đến sự xuất hiện trên diễn đàn lý
J Đ ạ i h ụ c L u ậ t H à N ộ i ( 2 0 0 8 ) , G i á o t r ì n h L u ậ t M ô i t r ư ờ n g , N X B C ô n ^ a n n h ậ n d ậ n , -t ià J 4 ữ L - Í L _ lj L _
' Báo c á o Brundtland c ủ a U y ban M ô i trường v à Phát tr iể n Thế g iớ i (W C E D p - ft\T 7 r ir i
Ỉ7 r j? j> T
Trang 24luận các tư tưởng về phát triển bền vững Năm 1972, trong Tuyên ngôn của Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ nhất về môi trường tại Xtốckhôm (Thụy Điển), mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường đã chính thức được đề cập trong một văn bản của tổ chức quốc tế lớn nhất và có uy tín nhất trên thế giới Báo cáo Những giới hạn của tăng trưởng đã khái quát sự quá độ từ tăng trưởng theo chiều rộng sang trạng thái cân bằng động trên quy mô toàn cầu, từ tăng trường về lượng sang tăng trưởng về chất (có giới hạn), xác lập trật tự kinh tế thế giới mới Tiếp theo, vào khoảng giữa những năm 70 của thể kỷ XX, Chương trình môi trường của Liên hợp quốc đã sử dụng thêm những khái niệm mới: phát triển không phá hủy, phát triển sinh thái với nội dung cơ bản là phát triển nhưng không phá vỡ cân bằng sinh thái, phát triển một cách thích hợp với môi trường, giảm nhẹ tác động xấu vào môi trường tự nhiên xung quanh15 Đầu thập niên 80 của thế kỷ
XX, thuật ngữ "phát triển bền vững" lần đầu tiên được sử dụng trong của thế kỷ
XX, ấn phẩm " Chiến lược bảo tồn thế giới" do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài
nguyên thiên nhiên quốc tế công bố, cùng với sự trợ giúp của Quỹ động vật hoang
dã thế giới, Chương trình môi trường Liên hiệp quốc, UNESCO và FAO Nội dung của khái niệm phát triển bền vững trong tài liệu này được hiểu rất đơn giản,
đó là: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kỉnh tế
mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" Khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới tò
sau báo cáo Brundrland (1987) Kể tò sau báo cáo Brundtland, khái niệm "bền vững" trở thành khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề trong "phát triển"16 với nội hàm
là sự phát triển hài hòa về kinh tế, xã hội và môi trường
Như vậy, quan điểm phát triển bền vững thừa nhận sự phát triển đươc diễn
ra trong mối quan hệ tổng thể, liên đới giữa các yếu tố kinh tế - văn hóa, xã hội - môi trường Phát triển kinh tế không được hủy hoại văn hóa, tạo ra bất công xã
hội, gia tăng cách biệt giàu nghèo và tàn phá môi trường Các chính sách phát triên kinh tê, qui hoạch vùng và đô thị, khai thác tài nguyên vì thê phải được thiết kế trong một tầm nhìn tổng thể, dài hạn, có xét đầy đủ đến các khía cạnh kinh tế - văn hóa, xã hội - môi trường, sao cho sự phát triển của ngày hôm nay
5 Lương Đình Hải, Tạp chí triết h ọc, nguồn: http://w ww chungta.com /D esktop.aspx/ChungTa-SuvN oam /V an-
iỊ o a /Phat trien xa hoi ben vung/?SearchTerm s=ph% c3% alt+tri% eI% bb% 83n+b% el% bb% 81n+v% el% bb
%afng
’ Bách khoa toàn thư mở W ikipedia:
bttB7/vj.w ikipedia.ora/w iki/Ph% C 3% A lt tri% El% BB% 83n kinh t% El% BA% BF
Trang 25phải là tiền đề cho sự phát triển của ngày mai, chứ không phải là sự tàn phá, hỉ hoại và tai ương mà thế hệ sau phải gánh chịu Phát triển bền vững phải là s đồng tiến hóa của tự nhiên và xã hội dưới hình thức chỉnh thể tự nhiên - xã hệ trong đó, những tiến bộ xã hội ừong mỗi bước đi không gây tác hại cho sinh thể
là cơ sở bảo tồn cho cả sinh thái lẫn nhân loại
1.1.2.2 M ục đích và yêu cầu của phát triển bền vững
Bản chất của phát triển bền vững là giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển \ môi trường (bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) Nhằm gi quyết mâu thuẫn này, các mục đích cụ thể được các quốc gia đặt ra là:
(i) Phát triển bền vững nhằm đạt được sự đầy đủ về vật chất; sự giàu có \ tinh thần và văn hoá; sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hộ
sự hài hoà giữa con người và tự nhiên;
(ii) Phát triển bền vững nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưr không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, đảm bảo s phát triển hài hoà cả về 3 mặt Kinh tế - Xã hội - Môi trường, trong đó:
- Phát triển bền vững về kinh tế là việc đảm bảo kết hợp hài hòa a;iữa nụ
tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởr kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khc học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch
- Phát triển bền vững về xã hội là việc phải xây dựng một xã hội có nt
kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định, đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ > hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy c
và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội
- Phát triển bền vững vé' môi trường là việc sử dụng tài nguyên thiên nhi í
tái tạo trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng \ chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hc
lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên ) Amôi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lí động và học tập của con người ) không bị các hoạt động của con người làm nhiêm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ sản xuất và sinh hoạt được >
Trang 26lý tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường trong sạch17
Yêu cầu của phát triển bền vững được hiểu là "những điều cần phải đạt được"18, những nhiệm vụ đặt ra đối với những chủ thể nhất định nhằm đạt được mục đích của phát triển bền vững Với góc độ tiếp cận này, yêu cầu đảm bảo phát triển bền vững được đặt ra đối với cộng đồng quốc tế, đối với mỗi quốc gia, các nhà đầu tư và cộng đồng dân cư nói chung Cụ thể:
(i) Đối với cộng đồng quốc tế: Việc ký kết các điều ước quốc tế, tổ chức các diễn đàn, hội nghị ở tầm khu vực và quốc tế về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là những những hoạt động quan trọng tạo ra sự đồng thuận, liên kết, phối hợp hành động giữa các quốc gia trong bảo vệ môi trường và đảm bảo phát triển bền vững
(ii) Đối với mỗi quốc gia: Nhà nước có vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách, xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo mục tiêu bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Ở phạm vi toàn quốc, vai trò này của nhà nước là rất quan trọng và không thể thiếu, có ý nghĩa đảm bảo thực hiện đồng bộ và nhất quán yêu cầu phát triển bền vững, điều
mà các chủ thể trực tiếp hoạt động đầu tư, kinh doanh không có khả năng thực hiện do tính giới hạn của mỗi dự án đầu tư của họ
(iii) Đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động phát triển: Các chủ thể này trực tiếp thực hiện các hoạt động tạo ra phát triển, cũng có nghĩa họ là nhân tố trực tiếp gây tác động môi trường, bao gồm cả tác động tích cực và tác động tiêu cực Yêu cầu đảm bảo phát triển bền vũng gắn liền với dự án đầu tư của
họ, từ khâu lập dự án, tổ chức thực hiện và khai thác và sử dụng kết quả đầu tư Ở tất cả các công đoạn này, ngoài hiệu quả kinh tế (lợi nhuận) của dự án, các chủ đầu tư cần thiết phải quan tâm đến tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường Điều này đòi hỏi nhà đầu tư phải thận trọng, kỹ lưỡng trong việc phân tích các yếu tố kinh tể - kỹ thuật của dự án đầu tư, đánh giá tác động xã hội, tác động môi trường, đồng thời có trách nhiệm tìm kiếm giải pháp loại trừ, hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực có thể xảy ra trong khuôn khổ dự án đầu tư
7 hông tư số 01/2005/T T-BK I1 ngày 9/3/2005 cùa Bộ Kế hoạch và Đầu tư về triển khai thực hiện Quyết định của 1 hù tuớng Chính phù về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở V iệt Nam.
Xem: Từ điển T iếng V iệt (1997), N X B Đà Nang, tr 1129.
Trang 27(iv) Đối với cộng đồng dân cư: Cộng đồng dân cư là chủ thể cuối cùng thụ hưởng lợi ích của sự phát triển, đồng thời cũng là chủ thể trực tiếp gánh chịu hậu
quả về môi trường hình thành từ các dự án phát triển, cộng đồng dân cư cũng là
nhân tố đóng vai trò đáng kể trong việc đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững
thông qua vai trò: tham gia vào quá trình hình thành chủ trương, chính sách, pháp
luật' giám sát của cộng đồng dân cư thông cơ chế đại diện chính thức như Quốc
hội Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ chế khác Ngoài ra, cộng đồng dân cư
với ý thức pháp luật, ý thức công dân của mình, cũng là chủ thể trực tiếp và chủ
động đảm bảo tính bền vững về văn hóa, xã hội, môi trường
1.1.23 Vai trò của các dự án đầu tư trong việc đảm bảo phát triển bền vũng
Hoạt động đầu tư là hoạt động tạo ra sự phát triển Tuy nhiên, xét tổng thể
lợi ích hiện tại và tương lai mà hoạt động đầu tư đem lại, sự phát triển ấy có thể là
phát triển bền vững, có thể là phát triển không bền vững Sự phát triển bền vững,
ở một góc độ khác chính là sự phát triển trong thế cân bằng Chỉ có sự phát triển
cân bằng mới đảm bảo lợi ích cho tất cả các thành tố của quá trình phát triển và
để cho tất cả cùng có cơ hội phát triển, đảm bảo tạo cơ sở cho sự phát triển diễn ra
một cách bền vững Sự cân bằng đó bao gồm:
Sự cân bằng về tự nhiên: đòi hỏi sự cân bằng giữa lợi ích của con người
với môi trường xung quanh và đảm bảo "sự phát triển trong hiện tại không làm
mất đi cơ hội của các thế hệ tương lai" Sự cân bằng về tự nhiên còn được gọi là
cân bằng về môi trưòng
Sự cân bằng về mặt kinh tế: cân bằng về nguồn lực bỏ ra và lợi ích đạt
được, đảm bảo tính hiệu quả với nguồn lực được khai thác một cách tối ưu
Sự cân bằng về xã hội: đảm bảo lợi ích của tất cả các chủ thể trong quá
trình phát triển, để cho "không ai bị bỏ lại phía sau"19
Nếu như các dự án đầu tư chính là kênh để chuyển tải các ý tưởng đầu tư
thành hiện thực, là hình thức cụ thể của hoạt động đầu tư và là hoạt động cụ thể
tạo ra sự phát triển lứiân tạo thì cũng có nghĩa rằng việc đảm bảo các yếu tố phát
triển bền vững trước hết phải xuất phát từ các dự án đầu tư Như đã phân tích, sự
phát triển bao gồm phát triển tự nhiên và phát triển bởi tác động của con người
Khác với sự phát triển tự nhiên thường diễn ra trong thế cận bằng tương đối, sự
Xem Báo cáo Dự án hỗ trợ tổng kết 20 năm đổi mới ở V iệt Nam (2 0 0 5-2009).
Trang 28phát triển do con người tạo ra (phát triển nhân tạo) có rủi ro cao hon về tính thiếu
bền vững Tính rủi ro này xuất phát từ các nguyên nhân sau:
- Sự phát triển nhân tạo do con người tiến hành và khi tiến hành các hoạt
động đầu tư có thể quá chú trọng đến lợi ích của con người mà xem nhẹ hoặc
không đủ khả năng tiến hành các biện pháp cần thiết để duy trì hoặc tái lập lại sự
cân bằng tự nhiên, khai thác quá mức các tài nguyên tự nhiên vượt quá khả năng tái
tạo dẫn đến tài nguyên bị suy kiệt hoặc gây ra các hiện tượng ô nhiễm, suy thoái
hoặc sự cố môi trường Kết quả của nó chính là sự thiếu bền vững về tự nhiên
- Chủ thể của các hoạt động đầu tư có thể quá chú trọng đến việc thu lợi
nhuận bằng cách thu hẹp lợi ích của các chủ thể liên quan (người lao động, cộng
đồng dân cư địa phương, của người tiêu dùng ) dẫn đến sự mất cân bàng giữa
các chủ thể liên quan đến quá trình đầu tư, là nguồn gốc tiềm ẩn của những xung
đột, những bất ổn xã hội và đe dọa sự bền vững về mặt xã hội
- Chủ thể của hoạt động đầu tư cũng có thể quá chú trọng đến lợi ích kinh
tế trước mắt hoặc không tính toán đầy đủ các yếu tố chi phí khiến cho sự phát
triển trở nên thiếu bền vững ở khía cạnh kinh tế
Điều này cho thấy, đảm bảo sự phát triển bền vững ở các dự án đầu tư là
nhân tố quan trọng để đảm bảo sự bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội
1.2 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO LÒNG GHÉP CÁC YÊU CẦU VÈ PHÁT TRIẺN BÈN VỮNG TRONG CÁC D ự ÁN ĐẦU TƯ
1.2.1 Quan niệm về lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các
dự án đầu tư
Khái niệm lồng ghép xuất phát từ thuật ngữ "mainstreaming" trong tiếng
Anh, được giải nghĩa là đưa vào dòng chảy Do vậy, lồng ghép phải được hiểu là
phải làm cho một yếu tố, một lĩnh vực nào đó trở thành một thành phần, một bộ
phận không tách rời của toàn bộ quá trình phát triển mà các chủ thể (có thể là
doanh nghiệp, tổ chức, nhà nước) hướng đến Khái niệm “lồng ghép” được sử
dụng nhiều trong một số lĩnh vực như bình đẳng giới, giáo dục pháp luật với mục
đích thể hiện nội hàm tương tự Ví dụ, Khoản 7, Điều 5 của Luật Bình đẳng giói
Việt Nam năm 2006 định nghĩa lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản
qui phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng
cách xác định các vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm,
nguôn lực để giải quyết vấn đề giói trong các quan hệ xã hội được văn bản qui
Trang 29phạm pháp luật điều chỉnh Tương tự, nhiều Chương trình quốc gia về dân số, về
bảo vệ môi trường đều sử dụng thuật ngữ lồng ghép với nội hàm tương tự Tuy
nhiên bản thân khái niệm lồng ghép trong tiếng Việt không thể hoàn toàn phản
ánh đúng nội hàm khái niệm “mainstreaming” được sử dụng trong các văn bản
pháp luật quốc tế Do đó có không ít những nhận thức sai về khái niệm này
Do sự đa dạng trong nhận thức về khái niệm lồng ghép nên trong nghiên
cứu này, lồng ghép được hiểu là việc kết hợp các yêu cầu phát triển bền vững
trong xây dựng và thực hiện các dự án khác nhau
Các dự án đầu tư là yếu tố tạo ra sự phát triển, và cũng là yếu tố quyết định
sự phát triển bền vững hoặc không bền vững Điều này xuất phát từ thực tế là tính
bền vững không có sẵn trong mỗi dự án đầu tư mà ngược lại, trong các dự án luôn
tiềm ẩn những rủi ro đe dọa sự phát triển bền vũng Do vậy, đặt ra các yêu cầu
phát triển bền vững đối với các dự án đầu tư phải là một hoạt động mang tính chủ
động với vai trò tích cực của các chủ thể liên quan, không chỉ những người trực
tiếp thực hiện dự án đầu tư mà cả các chủ thể khác có liên quan đến quá trình này
Để có thể chủ động đưa các yêu cầu của phát triển bền vững vào các dự án đầu tư
thì phát triển bền vững không chỉ được coi như một yếu tố để đánh giá, xem xét
mà phát triển bền vững phải trở thành nhân tố nội tại của dự án đầu tư đó Để đạt
được điều này, mỗi một hành động, một thành tố, một bước nào đó trong quá
trình đầu tư đều phải tuân thủ và phải đảm bảo các yêu cầu về phát triển bền
vững Có nghĩa là để đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, tất yếu phải có sự lồng
ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
Như vậy, lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
chính là đưa các yêu cầu phát triển bền vững vào các thành tố của dự án đầu tư và
đảm bảo mỗi thành tố của dự án đầu tư đều đáp ứng được các yêu cầu về phát
triển bền vững, tà đó tạo ra sự phát triển bền vững chung cho xã hội
1.2.2 Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo lồng ghép các yêu cầu
vê phát triển bền vững đối vói các dự án đầu tư
Các hoạt động đầu tư, nhất là các dự án đầu tư đều có những tác động nhất
định đến các thành tố của đời sống kinh tế, xã hội Nấu các dự án đầu tư không
hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, lợi ích của toàn xã hội và chỉ phục vụ
cho lợi ích một nhóm thiểu số thì chắc chắn môi trường bị ảnh hưởng bởi những
hệ quả không lưòng Ví dụ, dự án xây dựng Nhà máy xi măng Tây Ninh với việc
Trang 30cho phép phá 300ha vùng lõi rừng phòng hộ của hồ Dầu Tiếng sẽ tạo ra những hậu quả lớn cho môi trường Khu dự trữ nước ngọt này sẽ mất đi nguồn cung cấp nước việc xử lý không tốt những chất thải của nhà máy xi măng dẫn tới nguồn nước vừa thiếu, vừa ô nhiễm sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát triển nông nghiệp của các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, TP Hồ Chí Minh và Tiền Giang nói riêng và
cả nước nói chung Trong những trụ cột cơ bản của phát triển bền vững có tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội trong đó vấn đề lớn nhất nhất và phức tạp nhất chính là bảo vệ môi trường Tính phức tạp đó bắt nguồn từ nhiều quan niệm không đúng về môi trường, về bảo vệ môi trường, sự hy sinh lợi ích môi trường vốn liên quan đến toàn thể cộng đồng, toàn thể xã hội vì lợi ích của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong nhiều trường họp Mâu thuẫn giữa lợi ích môi trường với tăng trưởng kinh tế chính là hiện thân của các mâu thuẫn xã hội Bất cứ dự án đầu tư nào cũng hàm chứa mâu thuẫn này Do vậy, việc lồng ghép phát triển bền vững vào từng giai đoạn của dự án đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển của mọi quốc gia, dân tộc
Các dự án đầu tư không đương nhiên tạo ra sự phát triển bền vững Hơn nữa, chính yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi nhà đầu tư phải có thêm nhiều chi phí bổ sung và ảnh hưởng lợi ích trước mắt của họ Trong đa sổ các trường hợp, nhà đầu tư, doanh nghiệp sẵn sàng bỏ qua các yêu cầu về bảo vệ môi trường để tạo lợi nhuận cao cho dự án đầu tư Nếu không có những ràng buộc chặt chẽ thì đây là khoảng trổng cho việc đảm bảo phát triển bền vững trong các dự án Vì vậy pháp luật cần tạo ra những yêu cầu đối với doanh nghiệp trong việc chủ động lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư Sự lồng ghép này được thực hiện thông qua việc áp đặt trách nhiệm lên các chủ thể liên quan đến quá trình đầu tư, bao gồm các chủ thể quản lý quá trình đầu tư và các chủ thể khác chịu tác động của quá trình đầu tư Có hai chủ thể quản lý hoạt động đầu tư, ở cấp
vĩ mô là nhà nước và ở cấp vi mô là nhà đầu tư Nhà đầu tư quản lý hoạt động đầu
tư với nội dung chính là quyết định và kiểm soát việc sử dụng vốn vào các hoạt động đầu tư nhằm đạt được mục đích đầu tư Để đảm bảo thực hiện được mục đích đầu tư, quản lý của nhà đầu tư được tiến hành từ khâu lập dự án đầu tư và trong suốt quá trình tổ chức thực hiện dự án đầu tư Nhà đầu tư có vai trò trực tiếp trong việc lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong dự án của mình Tuy nhiên, phần lớn các nhà đầu tư chỉ nhìn nhận các yếu tố lợi ích trong phạm vi một
dự án và hiệu quả kinh tế luôn là yếu tố quan trọng nhất đối với họ Điều này dẫn
Trang 31đến nguy cơ là sự phát triển của dự án không đảm cân bằng với những lợi ích bên ngoài dự án (như lợi ích môi trường, lợi ích của các chủ thể liên quan) không đảm bảo cân bằng giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài (do nhà đầ phải chịu sức ép về hiệu quả kinh tế trước mắt) hoặc không đảm bảo cân bằn:
ích giữa người chủ và người làm công trong phạm vi dự án Tất cả những yế
này đe dọa sự phát triển bền vững và đòi hỏi vai trò của một chủ thể quản tầm vĩ mô, đó là nhà nước Là người quản lý ở tầm vĩ mô, nhà nước có t nhiệm quản lý các dự án đầu tư để duy trì sự cân bằng về lợi ích có khả năng ỉ: dọa bởi sự phát triển của từng dự án đầu tư, đảm bảo lợi ích kinh tế của một d cân bằng với những lợi ích về môi trường, với lợi ích chung của xã hội, những người làm công ăn lương Bằng các công cụ như quy hoạch, chiến 1 chính sách và pháp luật, nhà nước thiết lập một trật tự chung cho các hoạt động
tư, đảm bảo các dự án đầu tư được thực hiện trong thế hài hòa về lợi ích và bảo hiệu quả kinh tế xã hội chung của quốc gia Trong các công cụ để áp đặt cầu và trách nhiệm đảm bảo phát triển bền vũng, pháp luật được coi là côn: quan trọng đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định vì các lý do sau đây:
- Pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho sự quản lý của nhà nước, cũng tạo c pháp lý cho các chủ thể tham gia vào các hoạt động đầu tư Mọi hoạt động các chủ thể tham gia vào các dự án đầu tư đều phải phù họp với pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cũng đều phải phù họp các quy định pháp luật liên quan
- Tất cả các công cụ khác của nhà nước như quy hoạch, chiến lược hoạch cũng đều phải được thể chế hóa thành pháp luật; các quy hoạch, kế ho chiến lược thường bao gồm những giải pháp có tính định hướng và có giá tr; buộc thông qua văn bản pháp luật ban hành, tức là biến nó trở thành pháp luật bản chất, pháp luật là sự thể hiện các nội dung của quy hoạch, chiến lược chính sách của Nhà nước bằng những quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể các chủ thể Chiến lược, quy hoạch được xác đinh cho giai đoạn dài hoặc nhiều giai đoạn Các dự án đầu tư là những giải pháp cụ thể để triển khai c lược, qui hoạch song bản thân chiến lược, qui hoạch khó có thể chi tiết hóa yêu cầu của phát triển bền vững Pháp luật với nhũng quy định cụ thể, có ràng buộc cao hoàn toàn có thể thực hiện được sứ mệnh này
Thực tiễn cho thấy tăng trưởng kinh tế không phải lúc nào cũng song 1 với phát triển và càng không phải lúc nào cũng đồng hành với phát triển
Trang 32vữnơ Các yêu cầu bảo đảm phát triển bền vững không phải lúc nào cũng phù họp với lợi ích kinh tế của nhà đầu tư Do đó, các công cụ như quy hoạch, chiến lược
và đặc biệt là pháp luật có tác dụng buộc các chủ thể kinh tế tuân thủ yêu cầu phát triển bền vững Việc sử dụng pháp luật và chính sách để bảo đảm phát triển bền vững cần có sự linh hoạt nhất định Ví dụ để khuyến khích các nhà đầu tư sử dụng công nghệ xanh thì nên chú trọng tạo ra các chính sách ưu đãi về tín dụng, ưu đãi thuế Nếu cần hạn chế tình trạng ô nhiễm thì pháp luật cần áp dụng các chế tài có khả năng triệt tiêu động lực của hành vi vi phạm Ví dụ, nhà đầu tư tìm cách xả chất thải chưa qua xử lý vào môi trường nhằm tiết kiệm chi phí, tối đa hóa lợi nhuận thì chế tài áp dụng cần triệt tiêu lợi nhuận này thông qua mức phạt tương ứng với lợi nhuận có thể thu được từ việc xả chất thải không qua xử lý
Các yêu cầu phát triển bền vững trong các giai đoạn của dự án đầu tư chỉ được lồng ghép, thực hiện khi pháp luật có quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể Nói một cách khác, ngoài lương tâm, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, chủ đầu tư thì các quy phạm pháp luật chính là cơ sở quan trọng nhất đảm bảo yêu cầu lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các giai đoạn của dự án đầu tư Trong tổ chức thực hiện chiến lược phát triển bền vững, pháp luật có vai trò cực kỳ lớn Pháp luật không chỉ đưa ra các cam kết pháp lý chung, các quyền
và nghĩa vụ cụ thể của chủ đầu tư mà còn thiết lập những thiết chế thực thi và giám sát việc thực hiện các yêu cầu phát triển bền vững20 Pháp luật là cơ sở, nền tảng của phát triển bền vững Chỉ trên cơ sở nền tảng pháp luật vững chắc, phát triển bền vững mới có có thể được đảm bảo Để nhìn nhận vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các giai đoạn của
dự án đầu tư, cần phải phân tích những ưu thế của nó:
Thứ nhất, pháp luật tạo cơ sở pháp lí cho việc đảm bảo phát triển bền vững
từ khâu xây dựng Chiến lược, kế hoạch đến khâu tổ chức thực hiện Pháp luật qui định những căn cứ xây dựng Chiến lược, kế hoạch phát triển, thể chế hóa các nhiệm vụ, các giải pháp trong đó thành những quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những chủ thể tham gia thực hiện chiến lược và kế hoạch phát triển Đối với các
dự án đầu tư, pháp luật xác định các yếu tố liên quan đến phát triển bền vững cần quan tâm để lồng ghép vào các giai đoạn của dự án đầu tư Như đã nêu ở trên, nếu không có những quy phạm pháp luật về lồng ghép các nội dung phát triển bền
ĩh S V õ Hải Long, Phát huy vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ờ V iệt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học số 5 /2009, tr 22.
Trang 33vữnơ trong các dự án thì sẽ không đảm bảo sự triển bền vững của những dự án đó
và của cả đất nước
Hai là, pháp luật điều chỉnh các hành vi, quá trình xã hội nhằm đạt được
các mục tiêu phát triển bền vững Điều chỉnh pháp luật thực chất là quá trình chuyển các yêu cầu của pháp luật thành các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật, tức là chuyển thành những hành vi mà chủ thể phải thực hiện hoặc được thực hiện Quá trình này diễn ra theo nhiều bước, thông qua các phương tiện trình tự thủ tục được pháp luật quy định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế - xã hội, chất lượng các quy phạm pháp luật, quy trình tổ chức thực hiện và ý thức pháp luật của các chủ thể Đối với phát triển bền vững, pháp luật tác động đến hành vi của các chủ thể ở hai phương diện: (i) bảo đảm sự phát triển có kết họp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa ba trụ cột: tăng trưởna kinh tế, bảo
vệ môi trường và công bằng xã hội; (ii) bảo đảm mục tiêu mà lĩnh vực tm cột này cần đạt được để đảm bảo phát triển bền vững
Ở phương diện thứ nhất, pháp luật thiết kế mô hình tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách có khả năng kết họp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa các yếu tố cơ bản của phát triển bền vững Ớ phương diện thứ hai, pháp luật là nhân tố bảo đảm sự phát triển liên tục, ổn định lâu dài; tạo cơ sở giải quyết các vấn đề về công bằng
xã hội, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường Dưới góc độ của dự án cụ thế, các chủ đầu tư sẽ phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục xin cấp phép đầu tư, nội dung dự án đầu tư, phải đáp ứng yêu cầu mà phát triển bền vững tđặt
ra, tức là những yêu cầu liên quan đến cả đầu tư mở rộng qui mô sản xuất, mở rộng và hiện đại hóa hạ tầng lẫn các vấn đề về đảm bảo công bằng xã hội và bảo
vệ môi trường Tất cả các quy định đều được xây dựng với mục tiêu hướng các chủ thể có liên quan đến những hành vi hợp pháp, có lợi cho xã hội nói chung
Ba là, pháp luật tạo cơ chế pháp lí giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá
trình phát triển bền vững nói chung và trong các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự
án đầu tư phát triển Pháp luật dự liệu các tình huống, vấn đề có thể xảy ra trong
sự vận động của xã hội, xác định biện pháp, cách thức, trình tự, thủ tục giải quyết nhằm ổn định các quan hệ xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực môi trường và xã hội
Cuối cùng, pháp luật giữ vai trò định hướng sự phát triển của các quan hệ xã
hội hướng tới sự phát triển bền vững Sự ổn định của pháp luật đã hàm chứa yếu tố
Trang 34phát triển bền vững Với một dự án đầu tư, các quy định của pháp luật sẽ xác định
rõ nhữno yếu tố nào cần lồng ghép, phải xử lý để đảm bảo phát triển bền vững
Như vậy, chính pháp luật phải được coi là công cụ quan trọng để đảm bảo
lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
1.2.3 Lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đẩu tư và những đảm bảo của pháp luật
Để có thể lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án
đầu tư, bân thân các quy định pháp luật phải có những đảm bảo nhất định, có
nghĩa là phải đáp ứng được những đòi hỏi đặt ra trong quá trình thực hiện việc
lồng ghép Sự phát triển bền vững là sự phát triển cân bằng về lợi ích và vì thể để
có sự cân bằng đó, tất cả các yếu tố lợi ích đều phải được tính đến và giải quyết
hài hòa bằng pháp luật, tức là bằng việc quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
pháp lý của các chủ thể tham gia hoặc có liên quan đến các dự án đầu tư
thành tố) của phát triển bền vững
Để đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án
đầu tư, các quy định pháp luật cần điều chỉnh đầy đủ các vấn đề khác nhau phát
sinh từ những lĩnh vực được coi là trụ cột của phát triển bền vững gồm: tăng
trưởng kinh tế; công bằng, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường Khi điều chỉnh
các vấn đề về lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, pháp
luật cũng phải đáp ứng được ba khía cạnh này: (i) để đảm bảo sự tăng trưởng kinh
tế bền vững các quy định pháp luật cần buộc các chủ thể cân đối nguồn lực, sử
dụng chúng một cách hiệu quả cho dự án đầu tư và đảm bảo rằng việc sử dụng
các nguồn lực không lãng phí, có tương xứng giữa chi phí và lợi ích hướng tới
hiệu quả kinh tế; (ii) để đảm bảo sự phát triển bền vững về mặt xã hội, pháp luật
phải ràng buộc các nhà đầu tư khai thác lợi ích kinh tế từ dự án thực thi các trách
nhiệm đối với xã hội, đối với cộng đồng dân cư; (iii) để đảm bảo sự phát triển bền
vững vê mặt môi trường, pháp luật phải ràng buộc các nhà đầu tư để đảm bảo rằng
quá ừình triển khai các dự án đầu tư không gây tổn hại tới môi trường (không làm ô
nhiêm môi trường, suy thoái hay sự cố môi trường trong quá trình đầu tư và vận
hành dự án), khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên không có khả
năng tái tạo và khuyến khích sử dụng tài nguyên có khả năng tái tạo
Trang 35Phát triển bền vững đặt ra cho pháp luật yêu cầu phải chú trọng toin diện
đến các yếu tố của phát triển bền vững song trong từng bối cảnh cụ thể của dự án
thì mức độ có thể khác nhau Tuy nhiên, về tổng thể cần chú trọng đến yếu tố xã
hôi và môi trường Điều này xuất phát từ thực tế là tăng trưởng kinh tế sê không
mang lại sự phồn vinh nếu không đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường Thậm chí, tăng trưởng kinh tế thuần túy có thể mang lại nhiều nguy cơ
xung đột xã hội Mặt khác, nếu một dự án chỉ tập nhằm đạt được lợi ích kinh tế
bằng mọi giá, không quan tâm đến tính xã hội và môi trường thì bản thân dự án sẽ
không mang lại kết quả như mong muốn của nhà đầu tư cả trước mắt cũng như
lâu dài Thực tiễn của đất nước cho thấy có nhiều dự án bị phá sản ngay từ đầu do
vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của cộng đồng Điều mà bất cứ nhà lập pháp,
hoạch định chính sách cũng dễ nhìn thấy là các lợi ích kinh tế không phải lúc nào
cùng đồng hành với lợi ích xã hội và môi trường, chưa nói đến sự xung đột gav
gắt Xu hướng chung của các nước trên thế giới là kết hợp hài hòa pháp luật kinh
doanh, pháp luật đầu tư nhằm tạo ra những sự gắn kết và mang tính định hướng
công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, hạn chế việc thuần túy chạy theo lợi nhuận
án đầu tư
Các yêu cầu liên quan đến các trụ cột của phát triển bền vững cần được đáp
ứng trong suốt quy trình của dự án đầu tư Một dự án đầu tư thường được trải qua
ba giai đoạn chính: lập dự án; tổ chức triển khai; và vận hành, khai thác Nếu như
khâu lập dự án đầu tư chỉ chủ yếu là thể hiện ý tưởng, tính toán nguồn lực, cân
nhắc hiệu quả trên giấy tờ thì tổ chức triển khai dự án đầu tư và vận hành dự án
đầu tư là việc hiện thực hóa các ý tưởng đó, biến chúng thành kết quả khai thác
phục vụ lợi ích của nhà đầu tư Đây cũng là giai đoạn nhà nước thực hiện vai trò
quản lý, kiểm soát của mình thông qua nhiều công cụ khác nhau trong đó pháp
luật giữ vai trò quyết định Vai trò quản ]ý của nhà nước ở trong các giai đoạn này
là buộc các chủ đầu tư rà soát các điều kiện cần thiết để đảm bảo yêu cầu phát
triển bền vững của dự án đầu tư Đây là những cơ hội lớn cho Nhà nước đảm bảo
đê các dự án đầu tư ngay từ đầu đã đáp ứng các yêu cầu của phát triển bền vững,
ít nhất là trong các giải pháp đầu tư Những cơ hội này bao gồm:
- Giai đoạn trước khi triển khai dự án đầu tư: việc thực hiện kiểm soát tính
bên vững của các dự án đàu tư trước khi triển khai (còn được gọi là tiền kiểm) là
hoạt động đưọc thực hiện trước khi nhà đầu tư tiến hành hoạt động đầu tư trên
Trang 36th ir tế Trong giai đoạn này, việc kiểm tra được tiến hành căn cứ vào các tài liệu
dư án đã được lập, điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường nơi dự định triển khai dự
án Việc rà soát trước khi triển khai dự án là hết sức quan trọng bởi nó cho phép ngàn ngừa và triệt tiêu ngay từ đầu những nguy cơ xung đột với phát triển bền vững mà dự án có thể tạo ra Sự ngăn ngừa, triệt tiêu như vậy được thực hiện thông qua kiểm tra các nội dung như: dự án đầu tư có dựa trên những phân tích đầv đủ các tác động môi trường hay không; có đưa ra được những biện pháp cần thiết để giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường hay không; có cân bằng được lợi ích của các chủ thể liên quan hay không; có tiềm ẩn những xung đột khi triển khai hay không Do ở giai đoạn này, phần lớn các yếu tố được kiểm soát đều mang tính chất giả định nên đòi hỏi người kiểm soát phải có chuyên môn cao, có các công cụ cần thiết để thực thi việc kiểm soát Bên cạnh đó, lợi ích kinh tế cũng như quyền chủ động tổ chức hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư cũng cần được tôn trọng Do vậy, bên cạnh các biện pháp kiểm soát, việc xác định các giới hạn pháp lý trong kiểm soát các hoạt động đầu tư nhằm tránh cản trở triển khai dự án cũng là yêu cầu mà pháp luật phải đáp ứng
- Giai đoạn triển khai dự án: trong giai đoạn triển khai dự án, các biện
pháp cụ thể nhằm duy trì các yếu tố bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường như
đã được đề cập sẽ được thực thi trên thực tế Việc ràng buộc trách nhiệm của các nhà đầu tư thực thi các biện pháp này trong giai đoạn triển khai dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng vì mang lại giá trị thực Những hồ sơ dự án có thể rất tốt song không phải toàn bộ nội dung tốt đó của dự án đều được chủ đầu tư đưa vào thực tiễn Trong giai đoạn này, cơ quan nhà nước cần thực thi vai trò kiểm soát và cộng đồng dân cư cần phát huy vai trò giám sát của mình để đảm bảo các nhà đầu
tư thực thi các giải pháp đảm bảo phát triển bền vững được cam kết trong các hồ
sơ thiết kế dự án được chấp thuận
- Giai đoạn vận hành dự án (giai đoạn khai thác): Trên thực tế, giai đoạn
này có thể độc lập hoặc nằm trong giai đoạn triển khai dự án Tương tự giai đoạn triển khai dự án, nhà đầu tư cũng cần thực thi các nghĩa vụ pháp luật đã quy định nhằm tôn trọng các lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường Trách nhiệm thực hiện các giải pháp thường xuyên, đầy đủ các giải pháp đảm bảo phát triển bền vững cần được nhà đầu tư thực hiện và được quản lý chặt chẽ của cơ quan nhà nước, sự giám sát từ cộng đồng dân cư địa phương Điều này có ý nghĩa quan trọng không kém giai đoạn triển khai Thực tế cho thấy có nhiều cam kết xã hội của nhà đầu tư
Trang 37(xây dựng trường học, hạ tầng, thu hút lao động địa phương) chỉ được thực hiện
chiếu lệ và sau đó bị lãng quên dần và mất hẳn sau khi dự án hoạt động vài năm
thậm chí vài tháng
liên quan đến dự án đầu tư
Có ba nhóm chủ thể cơ bản tham gia hoặc liên quan đến các dự án đầu tư,
đó là: (i) nhà đầu tư; (ii) các cơ quan quản lý nhà nước và (iii) cộng đồng dân cư,
bao gồm cả những người làm việc trong các dự án đầu tư và cộng đồng dân cư địa
phương nơi triển khai dự án đầu tư
Các nhà đầu tư là người tổ chức quá trình đầu tư, sử dụng các nguồn lực hiện
có để hiện thực hóa các ý tưởng nhằm đạt được mục đích đầu tư của mình Thông
thường, lợi ích kinh tế là quan trọng nhất và thường được các chủ thể này quan tâm
hơn cả Vì vậy, pháp luật yêu cầu các chủ thể này quan tâm và bảo vệ những lợi ích về
môi trường tự nhiên, lợi ích của người dân và lợi ích chung của xã hội
Cộng đồng dân cư mặc dù không phải là những người trực tiếp triển khai
dự án, nhưng có thể khẳng định là có mối liên hệ hết sức mật thiết đến dự án bởi
các yếu tố sau:
- Thứ nhất, cộng đồng dân cư là đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi
quá trình triển khai dự án Trong đa số trường hợp, cộng đồng dân cư sẽ bị mất
một phần, hoặc thậm chí là toàn bộ diện tích đất đang sinh sống và canh tác để tạo
mặt bằng triển khai dự án Đồng thời, những hoạt động của dự án sẽ làm thay đổi
môi trường sinh sống của cộng đồng cả về mặt tự nhiên và xã hội nên họ rất dễ bị
tổn thương bởi quá trình này (ô nhiễm môi trường, hệ sinh thái biến đổi, tài
nguyên cạn kiệt, đời sống văn hóa bản địa bị pha trộn) Quá trình triển khai các
dự án đều chứa đựng những khả năng xung đột tiềm tàng với cộng đồng dân cư
và nếu không được giải tỏa, những xung đột tiềm tàng này sẽ xảy ra trên thực tế,
ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả của dự án, đồng thời tạo ra những bất ổn, mất an
ninh trật tự trong xã hội Vụ việc hàng ngàn người dân vây Ban điều hành Dự án
Golden Hill xã Hòa Liên (huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nằng) ngày 30/8/2011
cho thây những nguy cơ mà việc giải quyết không thỏa đáng nhũng vân đê với
cộng đông dân cư có thể mang lại là rất nghiêm trọng21
Ngàỵ 30/8/2011, hàng ngàn người dân xã Hòa Liên, huyện Hòa V ang, Thành phố Đà N ang đã đến vây ráp
Ban điêu hành Dự án Golden Ilill Theo lý giải của m ột người có trách nhiệm, sở d ĩ người dàn bức xúc như
Trang 38- Thứ hai cộng đồng dân cư cũng có thể là đối tượng được hưỏng lợi từ dự
án Tùy từnơ trường họp cụ thể, các dự án triển khai tại địa bàn có thể giúp tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống, nâng cao dân trí và khả năng hưởng thụ vãn hóa của người dân địa phương hoặc được sử dụng các công trình hạ tầng mà việc phát triển dự án mang lại
Như vậy, một trong những yếu tổ đảm bảo sự phát triển bền vững của dự
án chính là sự hài hòa về lợi ích giữa các chủ đầu tư và cộng đồng dân cư địa phương Sự hài hòa về lợi ích này sẽ đạt được khi các yếu tố tác động tiêu cực được giảm thiểu và khả năng hưởng lợi từ quá trình phát triển dự án gia tăng Bên cạnh đó, người dân địa phương cũng là chủ thể có khả năng giám sát hữu hiệu các việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường sinh thái trong các dự án đầu tư
và vai trò này cần được phát huy như một trong những nhân tố của phát triển bền vũng Đe có thể đảm bảo lợi ích cũng như phát huy vai trò của cộng đồng dân cư địa phương, bên cạnh việc kêu gọi thái độ họp tác của các chủ đầu tư dự án và người dân, pháp luật cần quy định chặt chẽ trách nhiệm của các chủ đầu tư dự án đối với cộng đồng dân cư, cơ chế cần thiết để phát huy vai trò và trách nhiệm của người dân địa phương
Các cơ quan quản lý nhà nước: các cơ quan nhà nước là chủ thể giám sát,
quản lý trong việc đảm bảo cho các yêu cầu về phát triển bền vững được thực thi trong quá trình triển khai dự án đầu tư Pháp luật cần quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nưóc trong hoạt động kiểm tra, giám sát quá trình đầu tư, trao cho các cơ quan này các công cụ cần thiết để thực thi trách nhiệm của mình
Như vậy, ở góc độ chủ thể, để đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển trong các dự án đầu tư, pháp luật cần quy định đầy đủ các nội dung sau:
- Quyền và trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực thi các yêu cầu về phát triển bền vững;
- Đảm bảo lợi ích và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng dân cư đối vói các dự án đầu tư nhằm đảm bảo phát triển bền vững;
vậy là do nhiều yếu tố, dồn nén lâu nay gây nên Thứ nhất là do bức xúc về bụi bặm trong suốt thời gian qua, mạc dù đã rât nhiêu lần người dân khiến nghị phản ánh rồi chặn xe, nhưng vẫn không được xử lý triệt để Nhưng nghiêm trọng hơn là việc người dân thôn Quan Nam 5 bị một số đối tượng xông vào nhà chém bị thương, trong khi đó, trưóc đây vài tháng đã có 2-3 vụ người dân chặn xe ben do bụi đã bị 1 số đối tượng hăm dọa lô i chém bị thương nhưng vẫn chua đirực làm rõ khiến người dân càng bức xúc.
(Xem: Bửu Lân, Hàng ngàn người dân vây ráp dự án Golden Hill, V TC N ew s, 30/8/201 1, nguồn:
J iiB ;//v tc ĩvn^/2 -2 9 9 6 9 9 /x a -h o i/c a -iig a n -n g u o i-d a n -v a v -ra p -b a n -d u -a n -g o ld e n -h ilỉs h tiT i')
Trang 39- Thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản
lý nhằm đảm bảo các chủ thể khác thực thi các yêu cầu về phát triển bền vững
điều chỉnh các dự án đầu tư hướng tới phát triển bền vững
Không phải tất cả lợi ích đều có thể được cân bằng hoặc được đảm bảo bởi
các quy định của pháp luật Vì vậy, để đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững
trong các dự án đầu tư, pháp luật cân nhắc các yếu tố khác tác động đến hành vi
của các chủ thể tham gia hoặc có liên quan đến quá trình đầu tư nhằm tạo ra sự
kết hợp hài hòa giữa thể chế quan phương và phi quan phương nhằm đạt mục tiêu
đặt ra một cách hiệu quả nhất
Trong nền kinh tế thị trường, chủ thể tham gia các dự án đầu tư đều bị chi
phối bởi các quy luật thị trường, đặc biệt là qui luật cạnh tranh Cạnh tranh chính
là động lực quan trọng nhất thúc đẩy các chủ đầu tư thực hiện các giải pháp khác
nhau nhằm nâng hiệu quả của các dự án, các hoạt động sản xuất kinh doanh Qui
luật cạnh tranh sẽ đào thải các nhà đầu tư thiếu hiệu quả Chính vì vậy, các nhà
đầu tư luôn chịu sức ép của thị trường, sức ép của hiệu quả kinh tế trong các dự
đầu tư mà họ triển khai Nhà đầu tư có thể sử dụng nhiều biện pháp, trong đó có
các công cụ thị trường, công cụ xã hội để tìm cách giảm chi phí, tăng hiệu quả
Trong những công cụ kinh tế đó thì có những công cụ được pháp luật qui định, có
những công cụ pháp luật không thể qui định được Với nguyên tắc “doanh nghiệp
cá nhân được quyền làm những gì pháp luật không cấm và cơ quan nhà nước chi
được làm những gì pháp luật cho phép”, việc pháp luật tạo ra được môi trường tự
do cho các chủ đầu tư dự án nâng cao hiệu quả, nâng cao tính cạnh tranh song vẫn
đảm bảo phát triển bền vững chính là đòi hỏi của thực tiễn kinh tế thị trường
Điều này có nghĩa là các nhà đầu tư cần có những quyền chủ động nhất định trong
tổ chức quản lý, triển khai dự án nhằm đạt được hiệu quả kinh tế, đạt được mục
đích đầu tư do họ đặt ra
Đê đáp ứng đòi hỏi nêu trên của thực tiễn kinh tế thị trường, trong việc
lông ghép những yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, pháp luật
cân xác định chính xác giới hạn can thiệp vào các khâu, các giai đoạn của dự án
Việc xác định giới hạn này cần thực hiện dựa trên nguyên tắc cần tạo sự chủ
động, sự linh hoạt của chủ đầu tư mà qui luật cạnh tranh đặt ra đồng thời cũng
đàm bảo vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước Sự can thiệp của pháp luật chỉ
Trang 40đăt ra đối với những hoạt động của Dự án tiềm ẩn hoặc gây ra xung đột với lợi ích
tổng thể của nền kinh tế, với lợi ích xã hội và lợi ích môi trường
Phân tích ví dụ sau đây có thể là một minh chứng cho sự tác động của kinh
tế thi trường và vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo phát triển bền vững của dự
án và của nền kinh tế Tỉnh Tây Ninh được Chính phủ phê duyệt cho xây dựng Nhà
máy xi măng dầu tiếng Giai đoạn II của Dự án này được triển khai với việc phá bỏ
300ha rừng nguyên sinh của vũng lõi hồ Dầu Tiếng Trong Dự án này có sự xung
đột rất lớn giữa yếu tố tăng trưởng, công bằng, an sinh xã hội Nhìn từ góc độ tăng
trưởng, Tây Ninh cần đến dự án với nhiều lý do khác nhau, trong đó có nguồn thu
cho ngân sách địa phương, đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng, phát triển công nghiệp địa
phương Tuy nhiên, dự án này đặt môi trường Hồ Dầu tiếng nói riêng và Tây Ninh
nói chung vào nguy cơ lớn Hồ Dầu Tiếng cung cấp nước sản xuất nông nghiệp,
sinh hoạt của TP Hồ Chí Minh, Bình Phước, Tiền Giang và Tây Ninh Nguồn nước
hồ Dầu Tiếng lại phụ thuộc vào rừng, đặc biệt là 300ha rừng nguyên sinh ở vùng
lõi Nước cạn và bị ô nhiễm do sản xuất của Nhà máy xi măng ảnh hưởng đến sản
xuất nông nghiệp và sinh hoạt của một vùng rộng lớn Như vậy, xét cả về ảnh
hưởng kinh tế vĩ mô lẫn bảo vệ môi trường Dự án nhà máy xi măng Tây Ninh đều
có sự xung đột giữa cộng đồng với chủ đầu tư, giữa Tây Ninh với các tỉnh lân cận
Chính vì vậy, pháp luật cần giải quyết tốt xung đột này, tức là có những can thiệp
nhất định để làm sao cho qui mô của nhà máy xi măng Tây Ninh không hàm chứa
nguy cơ này Vì thế sự can thiệp của pháp luật đối với qui mô đầu tư, đối với đánh
giá tác động môi trường mà dự án đầu tư này mang lại cần được thực hiện Không
chỉ riêng dự án nhà máy xi măng Tây Ninh mà nhiều dự án đầu tư khác đều tiềm ẩn
xung đột giữa lợi ích môi trường, xã hội và tăng trưởng trong lúc pháp luật hiện
hành thì chưa đảm bảo được sự can thiệp có hiệu lực
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TÉ TRONG VIỆC s ử DỤNG PHÁP LUẬT ĐẺ QUẢN LÝ CÁC D ự ÁN ĐẦU TƯ THEO YÊU CẦU PHÁT TRIẺN BÈN VỮNG
Trong phạm vi đề tài, nghiên cứu sẽ đề cập đến kinh nghiệm của một nước
có tính tương tự với Việt Nam về chế độ chính trị (Trung Quốc) và một nước phát
triển (Singapore) như sau:
1.3.1 Singapore
Tại Singapore, thực chất không có khái niệm pháp- luật đầu tư nói chung
Hoạt động đầu tư được thực hiện thông qua các dự án đầu tư Để quản lý tốt các