MỤC LỤCđiều chỉnh pháp luật 80 7 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá pháp luật, tình hình thi hành pháp luật, thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo văn b
Trang 2B ộ T ư PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
BẢO ĐẢM TÍNH XÃ HỘI CỦA PHÁP LUẬT
TRONG HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH
VĂN BẢN QUI PHẠM PHÁP LUẬT
Trang 3Nhóm chuyên đề /í luận về tính xã hội của pháp luật và yêu cầu bảo đảm tinh xã hội của pháp luật trong thực tiễn
1 Quan niệm về tính xã hội của pháp luật
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính xã hội của pháp luật
3 Yêu cầu bảo đảm tính xã hội của pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Nhóm chuyên đề bảo đảm tỉnh xã hội trong các hoạt động cụ thể của quá trình xây dựng văn bản qui phạm pháp luật
1 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật
2 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá pháp luật, tình hình thi hành pháp luật, thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo văn bản qui phạm pháp luật
3 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật ữong hoạt động đánh giá tác động trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm pháp luật
4 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm
5 Bảo đảm tính xã hội trong hoạt động thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản qui phạm pháp luật
6 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động soạn thảo nội dung văn bản qui phạm pháp luật
Chuyên đề sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài để kiến nghị xây dựng Luật Ban hành văn bản qui phạm pháp luật
đảm tính xã hội của pháp luật
DANH MỤC CHUYÊN ĐÊ
Trang 4DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN
Trang 5MỤC LỤC
điều chỉnh pháp luật
80
7 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá pháp
luật, tình hình thi hành pháp luật, thực trạng quan hệ xã hội liên quan
đến dự thảo văn bản qui phạm pháp luật
90
ưong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm pháp luật
99
9
•
Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động lấy ý kiến trong
quá trình soạn thảo văn bản qui phạm
114
bản qui phạm pháp luật
124
11 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động soạn thảo nội
dung văn bản qui phạm pháp luật
134
nhằm bảo đảm tính xã hội của pháp luật
146
Trang 6PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong mọi xã hội có nhà nước, pháp luật luôn được coi là phương tiện
nào cũng vừa có tính giai cấp, vừa có tính xã hội Pháp luật có tính giai cấp vì pháp luật được ban hành bởi nhà nước- một tổ chức của giai cấp cầm quyền và pháp luật luôn có mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền Pháp luật có tính xã hội vì pháp luật được ban hành ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội nhằm đảm bảo sự hài hòa trong sự tồn tại, phát triển của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó Pháp luật không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền mà còn bảo vệ lợi ích của các
cá nhân, tổ chức khác trong xã hội Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền nhưng không có nghĩa ý chí đó là tuyệt đối mà ý chí của giai cấp cầm quyền bị chi phối bởi những điều kiện xã hội cụ thể từ đó pháp luật nảy sinh và trong đó pháp luật được thực hiện Đồng thời, ý chí của các giai cấp, tầng lớp khác của xã hội cũng được thể hiện trong pháp luật ở những mức độ nhất định Mặc dù pháp luật luôn có tính giai cấp và tính xẵ hội nhưng mức độ và cách thức thể hiện của tính giai cấp, tính xã hội của pháp luật ở mỗi nhà nước, mỗi giai đoạn lịch sử đều có sự khác nhau Trong những thời kì xa xưa, ở các chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, tính giai cấp của pháp luật thường được coi
là trội hom so với tính xã hội Khi đó pháp luật được sử dụng như là phương tiện
để giai cấp cầm quyền thống trị xã hội, thực hiện sự cai trị đối với các giai cấp, các tầng lớp khác Tuy nhiên, xã hội phát triển đã kéo theo sự thay đổi về vai trò của pháp luật Ngày nay, xu hướng phổ biến trên toàn thế giới là nhà nước chuyển từ nhà nước cai trị sang nhà nước phục vụ Các nhà nước đều sử dụng pháp luật để quản lí hướng tới một xã hội phồn thịnh nói chung Không những thế, ở tất các quốc gia hiện nay đều có những vấn đề gần như thoát li hoàn toàn yếu tố giai cấp như vấn đề bảo vệ môi trường, chống tác động xấu do biến đổi khí hậu Tất cả những điều đó đã khiến cho tính xã hội của pháp luật ngày càng được coi trọng và phải được thể hiện rõ trong tinh thần chung cũng như trong các qui định cụ thể của pháp luật
Trang 7Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới Tuy nhiên, do những yếu tố đặc thù về lịch sử, chúng ta mới thoát ra khỏi chế độ phong kiến chưa lâu và ngay sau đó lại là một thời gian chiến tranh với nhận thức, tư duy mang nặng tính chủ quan, duy ý chí nên ít nhiều đã làm cho pháp luật không thực sự xuất phát từ những điều kiện, hoàn cảnh xã hội cụ thể, đã có lúc pháp luật lại chính là nhân tố cản trở xã hội phát triển Kể từ khi Đảng chủ trương đổi mới nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đổi mới cơ chế quản lí kinh tế kéo theo sự biến đổi sâu sắc nhiều lĩnh vực xã hội khác thì nhận thức về vai trò của pháp luật trong đời sống cũng có những thay đổi căn bản Mặc dù vậy, do thói quen, nếp nghĩ cũ đã ăn sâu không dễ gì xóa bỏ ngay, cũng như tư duy mới đòi hỏi cách làm mới không tránh khỏi lúng túng nên pháp luật vẫn chưa đảm bảo được tính xã hội ở mức độ đòi hỏi của xã hội dân chủ, hiện
Hàm lượng, mức độ biểu hiện của tính xã hội của pháp luật trong pháp luật thực định như thế nào trước hết phụ thuộc vào nhận thức của nhà nước, của
xã hội nói chung dẫn đến quyết tâm ghi nhận, bảo đảm tính xã hội của pháp luật Sau nữa, tính xã hội của pháp luật có được ghi nhận, bảo đảm hay không còn phụ thuộc vào các hoạt động cụ thể trong quá trình ban hành các văn bản qui phạm pháp luật
Hiện nay, thủ tục ban hành văn bản qui phạm pháp luật về cơ bản được quan tâm cả trong các qui định về thủ tục ban hành văn bản và trên thực tiễn thực hiện hoạt động này Tuy nhiên, tất cả các hoạt động đó đều có hai tầng ý nghĩa: một là, các hoạt động đó thuần túy là qui trình, là thủ tục thực hiện việc ban hành văn bản qui phạm pháp luật; hai là, thông qua các hoạt động đó để chuyển tải các vấn đề xã hội vào từng qui định của pháp luật Trong đó, tầng ý nghĩa thứ nhất được thể hiện tương đối tốt trên thực tế, nhưng tầng ý nghĩa thứ hai thì chưa thực sự được coi trọng và chính ở đây xuất hiện nhu cầu xem xét một cách nghiêm túc, khoa học để thấy được tính xã hội của pháp luật cần và có thể được bảo đảm như thế nào thông qua các hoạt động trong quá trình xây dựng văn bản qui phạm pháp luật để pháp luật thực sự là phương tiện quản lí tốt nhất để thúc đẩy xã hội phát triển nhanh, mạnh và bền vững
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 8Liên quan đến hoạt động xây dựng văn bản qui phạm pháp luật có khá nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau, bao gồm các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về nhà nước và pháp luật; các luận văn thạc sĩ; đề tài khoa học Có thể kể đến các công trình:
Một là, các bài tạp chí: Bàn về k ĩ thuật lập hiến của GS.TS Trần Ngọc Đường, Bàn về việc lấy ỷ kiến nhân dân đổi với Dự thảo Hiến pháp của Ths Tào Thị Quyên, Đánh giá tác động pháp luật của TS Nguyễn Thị Kim Thoa và ThS Nguyễn Thị Hạnh, Tham vấn công chúng của Nguyễn Đức Lam, Thẩm ưa
và giá trị của thẩm tra của PGS.TS Phan Trung Lý, Hoàn thiện qui định của pháp luật về qui trình, thủ tục rút gọn trong hoạt động lập pháp của Quốc hội
của TS Vũ Hồng Anh, Kiểm tra trước văn bản pháp luật của ThS Bùi Thị Đào, Nhân dán đóng góp ỷ kiến cho dự thảo văn bản qui phạm pháp luật của
ThS Bùi Thị Đào
Hai là, luận văn thạc sĩ: luận văn Thẩm định dự thảo văn bản qui phạm
pháp luật của Hội đồng nhản dân và ủ y ban nhân dân của Vũ Thị Thanh Tú;
luận văn “Văn bản quỉ phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản qui
phạm pháp luật của các cấp chính quyền thành phố Hải Phòng’ của Trần Mạnh
Tuệ; luận văn Lấy ý kiến đổi tượng tác động của văn bản quản lí hành chính
của Cao Kim Oanh
Ba là, đề tài khoa học cấp trường Kiểm tra, rà soát, xử lí, hệ thống hóa
văn bản qui phạm pháp luật do TS Bùi Thị Đào chủ nhiệm.
Các công trình nói trên đã bàn đến nhiều hoạt động, nhiều khía cạnh trong hoạt động ban hành văn bản qui phạm pháp luật nhưng thường là xem xét các vấn đề nghiên cứu dưới góc độ kĩ thuật xây dựng văn bản, như: mỗi hoạt động do ai thực hiện, thực hiện vào giai đoạn nào trong quá trình xây dựng văn bản, cách thức thực hiện như thế nào, những thuận lợi, khó khăn, ưu điểm, hạn chế của các hoạt động đó nhằm góp phần nâng cao chất lượng văn bản qui phạm pháp luật nói chung Các công trình đó không trực tiếp xem xét tính xã hội của pháp luật thông qua hoạt động ban hành văn bản qui phạm pháp luật, hoặc ít nhất thì đó cũng không được coi là mục đích nghiên cứu của công trình
Vì vậy, việc nghiên cứu chuyên sâu về bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động xây dựng pháp luật nhằm mục đích ban hành được các văn bản qui
Trang 9phạm pháp luật vừa là phương tiện để nhà nước quản lí xã hội một cách hiệu quả, vừa là phương tiện thuận lợi để người dân thực hiện, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình là phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân hiện nay.
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin
về nhà nước và pháp luật Các vấn đề thuộc phạm vi đề tài được nghiên cứu bằng những phương pháp truyền thống trong khoa học pháp lí như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh
5 Phạm vi và nội dung nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu khái quát về tính xã hội của pháp luật, về việc bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong từng hoạt động cụ thể của quá trình xây dựng văn bản qui phạm pháp luật Mặc dù đề tài nghiên cứu về bảo đảm tính xã hội của pháp luật thông qua các hoạt động cụ thể trong xây dựng văn bản qui phạm pháp luật nhưng vì tính xã hội của pháp luật là đại lượng không thể lượng hóa được, đồng thời mục đích bảo đảm tính xã hội của pháp luật lại
ẩn sâu bên trong mỗi hoạt động xây dựng văn bản nên không thể đo lường hoặc minh chứng bằng các số liệu thực tiễn hay các con số thống kê Vì vậy, đề tài
Trang 10chủ yếu nghiên cứu các vấn đề dưới góc độ lí luận, trên cơ sở các qui định của pháp luật và thực tiễn xây dựng pháp luật trong những năm gần đây.
6 Các chuyên đề nghiên cứu
Nhóm chuyên đề lí luận về tính xã hội của pháp luật và yêu cầu bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong thực tiễn
1 Quan niệm về tính xã hội của pháp luật
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính xã hội của pháp luật
3 Yêu cầu bảo đảm tính xã hội của pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Nhóm chuyên đề bảo đảm tính xã hội trong các hoạt động cụ thể của quá trình xây dựng văn bản qui phạm pháp luật
1 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật
2 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá pháp luật, tình hình thi hành pháp luật, thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo
3 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật ữong hoạt động đánh giá tác động trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm pháp luật
4 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm
5 Bảo đảm tính xã hội trong hoạt động thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản qui phạm pháp luật
6 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động soạn thảo nội dung văn bản qui phạm pháp luật
Chuyên đề sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài để kiến nghị xây dựng Luật Ban hành văn bản quì phạm pháp luật
Kiến nghị xây dựng Luật Ban hành văn bản qui phạm pháp luật nhằm bảo đảm tính xã hội của pháp luật
Trang 11PHẦN THỨ HAI BÁO CÁO TỎNG THUẬT
Đe tài: Bảo đảm tỉnh xã hội của pháp luật trong hoạt động xây dựng văn bản quỉ phạm pháp luật
1.1 Quan niệm về tính xã hội của pháp luật
1.1.1 Khái niệm tính xã hội của pháp luật
Pháp luật là một hiện tượng xã hội phức tạp gắn liền với nhu cầu tồn tại
và phát triển của loài người trong những điều kiện tự nhiên, xã hội cụ thể Trải qua các thời kì lịch sử khác nhau, ở các không gian khác nhau, pháp luật có vai trò, những nội dung và biểu hiện không giống nhau Tuy nhiên, xét về bản chất chung của pháp luật với nghĩa pháp luật là một công cụ của nhà nước được dùng để quản lí xã hội thì bản chất xã hội thường được xem xét ở hai khía cạnh
Đó là, tính giai cấp và tính xã hội của pháp luật
Cùng với tính giai cấp, tính xã hội cũng được coi là một thuộc tính của pháp luật Không chỉ là một thuộc tính của pháp luật tồn tại song song, hòa quyện với tính giai cấp, tính xã hội của pháp luật càng ngày càng được nói đến nhiều hơn trong các xã hội dân chủ, hiện đại
Sở dĩ pháp luật có tính xã hội trước hết là do chính nguồn gốc ra đời của pháp luật Nguồn gốc của pháp luật có thể được xem xét ở hai bình diện:
Một là, nguồn gốc khởi thủy của pháp luật, tức là do đâu mà xã hội loài
người cần đến pháp luật, v ề cơ bản, pháp luật được sinh ra do xã hội đã xuất hiện những lợi ích quá khác biệt của các nhóm, các giai cấp vượt quá khả năng điều chỉnh của các yếu tố điều chỉnh xã hội truyền thống như phong tục, tập quán, túi điều tôn giáo, đạo đức Do vậy, xã hội cần đến một yếu tố điều chỉnh
có khả năng điều chỉnh mạnh hom, có tính bắt buộc cứng rắn hom, đó chính là pháp luật Như vậy, pháp luật xuất hiện do nhu cầu của xã hội, không phải do sự
áp đặt đơn thuần của bất cứ cá nhân hay lực lượng nào trong xã hội Với các nhà nước phương Đông nhà nước xuất hiện chủ yếu do nhu cầu trị thủy và chống giặc ngoại xâm, pháp luật cũng được ra đời do yêu cầu phải liên kết những cá
Trang 12thể, những nhóm người riêng biệt trong những hoạt động chung ở phạm vi rộng lớn vì lợi ích chung Cho dù có sự khác nhau ít nhiều nhưng đều thể hiện một điểm chung thống nhất là pháp luật xuất hiện một cách khách quan do nhu cầu của chính bản thân xã hội khi xã hội phát triển đến một mức độ nào đó.
Hai là, nguồn gốc của các qui định cụ thể của pháp luật Điều này đã
được Mác khẳng định nhà lập pháp phải coi mình như nhà khoa học tự nhiên Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra chúng mà chỉ nêu chúng lên, ông ta biểu hiện những qui lật nội tại của những mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành vãn có ý thức Chúng ta sẽ phải chê trách nhà làm luật là vô cùng tùy tiện nếu như ông ta thay thế bản chất của sự việc bằng nhiều điểm bịa đặt của mình.Sự xuất hiện của các qui định cụ thể của pháp luật
là do yêu cầu của đời sống xã hội và nội dung của các qui định đó là do những điều kiện kinh tế- xã hội chi phối Điều này thể hiện ở chỗ các quốc gia có điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau thì nội dung pháp luật khác nhau, và ngay ở trong cùng một quốc gia thì pháp luật của các thời kì khác nhau cũng có nội dung khác nhau Mỗi quốc gia có thể học tập một cách có chọn lọc những điểm tiến bộ trong pháp luật của quốc gia khác, nhưng pháp luật không bao giờ có thể được “nhập khẩu” một cách tùy tiện
Mặt khác, pháp luật có tính xã hội là do mục đích sử dụng của pháp luật
•qui định nên Nói chung, pháp luật của mỗi nhà nước, mỗi giai đoạn được sử dụng để đạt được những mục đích cụ thể khác nhau, nhưng ở mức độ khái quát nhất thì pháp luật luôn có mục đích tạo ra và duy trì trật tự xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển trong sự ổn định Để đảm bảo cho xã hội phát triển một cách ổn định thì lẽ dĩ nhiên là pháp luật phải phù hợp với các qui luật vận động khách quan của xã hội Do đó việc xác định mục đích điều chỉnh, tác động tới quan hệ
xã hội bằng pháp luật không thể áp đặt duy ý chí, chủ quan hoặc nóng vội Việc hướng tới những mục đích để pháp luật có tính khả thi phải sát thực, phù hợp với đời sống thực tế việc và ý nguyện của nhân dân Thước đo tính xã hội của pháp luật là sự hài hòa các quyền, lợi ích và trách nhiệm của các chủ thể như cá nhân, tổ chức, nhà nước và xã hội Mọi sự tác động trái ngược các qui luật khách quan đều không thể có hiệu quả cao, càng không thể có kết quả bền vững Pháp luật cũng phải đảm bảo sự cân bằng tương đối giữa lợi ích của các thành
Trang 13viên, các nhóm trong xã hội; cân băng giữa lợi ích trước măt và lợi ích lâu dài; cân bằng giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích của cộng đồng Và điều tất yếu là lợi ích của giai cấp cầm quyền không thể tuyệt đối hóa, không phải lúc nào cũng
là un tiên hàng đầu
1.1.2 Các biểu hiện chủ yếu của tính xã hội của pháp luật
Thứ nhất, pháp luật không chỉ thể hiện ý chí, nguyện vọng của giai cấp
cầm quyền mà còn thể hiện ý chí, nguyện vọng của các giai cấp, tầng lóp khác trong xã hội Mức độ ghi nhận ý chí, nguyện vọng của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội của pháp luật nói chung tùy thuộc vào từng nhà nước, từng điều kiện lịch sử cụ thể Đồng thời, ngay tại một thời điểm thì pháp luật của một nhà nước cũng có mức độ thể hiện ý chí, nguyện vọng của các giai cấp, tầng lóp khác nhau tùy thuộc vào nội dung của các văn bản qui phạm pháp luật
cụ thể qui định về vấn đề gì
Thứ hai, pháp luật hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế nhằm đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của con người Lịch sử xã hội loài người đã cho thấy rõ rằng, nền kinh tế phát triển như thế nào không chỉ phụ thuộc vào các nguồn lực tự nhiên, xã hội mà còn phụ thuộc vào chính sách kinh tế của nhà nước Một chính sách kinh tế phù hợp có thể đưa nền kinh tế phát ừiển nhanh, mạnh, vững chắc Ngược lại, chính sách kinh tế không thích hợp có thể đẩy nền kinh tế vào tình trạng chậm phát triển, thậm chí khủng hoảng Sự phục hồi kinh
tế của Nhật bản sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự “hóa rồng” nhanh chóng của một số quốc gia châu Á là những minh chứng hùng hồn cho giá trị tác động tích cực của pháp luật đối với kinh tế
Pháp luật phù hợp với thực trạng của nền kinh tế, phù hợp với các qui luật phát triển kinh tế là điều kiện cần thiết cho kinh tế phát triển Tăng trưởng kinh tế sẽ tạo ra sự thịnh vượng chung của toàn xã hội do tạo ra nhiều hàng hóa, nhiều dịch vụ đa dạng, chất lượng cao hon Các nhu cầu của con người được đáp ứng ở mức độ ngày càng cao và thuận tiện hom Khi kinh tế phát triển, nhà nước nói riêng và xã hội nói chung có điều kiện để thực hiện nhiều chương trình mang tính xã hội rộng rãi hướng tới lợi ích của cả cộng đồng hoặc từng nhóm
xã hội chuyên biệt Hiện nay, pháp luật của các quốc gia đều không chỉ quan tâm tới việc xóa đói nghèo mà còn chú trọng đến việc nâng cao chất lượng cuộc
Trang 14sống Nói cách khác, con người là đích đến và cũng là trung tâm của phát triển kinh tể.
Thứ ba, pháp luật ghi nhận, bảo vệ các giá trị xã hội phổ biến, làm phong
phú thêm đời sống tinh thần của con người, định hướng hành vi của con người phù hợp với lợi ích chung Con người mong muốn kinh tế phát triển để có được cuộc sống sung túc, đầy đủ, nhưng con người cũng cần một xã hội ngày càng nhiều tính nhân văn hom Các giá trị xã hội đó có thể là những giá trị chung của nhân loại, không bị ngăn cách bởi biên giới quốc gia hay cách biệt thế hệ và cũng có những giá trị đặc thù cho từng khu vực, từng dân tộc Một mặt, các giá trị xã hội này có tính độc lập tương đối so với pháp luật, tồn tại song song với pháp luật Mặt khác, các giá trị đó vừa hỗ trợ cho pháp luật trong việc duy trì trật tự xã hội, vừa nương vào pháp luật để phát huy giá trị điều chỉnh hành vi của con người Rất nhiều giá trị xã hội được pháp luật ghi nhận, tạo điều kiện tồn tại, phát huy giá trị, bảo vệ Chẳng hạn, các giá trị công bằng, bình đẳng, nhân đạo là những giá trị xã hội được thừa nhận ở mọi thời đại Bản thân các giá trị này, tự bản thân chúng, có khả năng tác động vào nhận thức của con người, chi phối hành vi của con người, là thước đo trình độ văn minh của xã hội Tuy vậy, khi các giá trị này được pháp luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện thì khả năng tác động vào xã hội được tăng lên nhiều lần Các giá trị mang tính tinh thần hướng tới chân, thiện, mĩ được thể hiện trong các qui định về công nhận, bảo
vệ, phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các lễ hội truyền thống, các hình thức sinh hoạt tâm linh trong dân gian đã làm cho đời sống tinh thần của nhân dân phong phú, giữ gìn được nét đẹp truyền thống, khích lệ lòng tự hào dân tộc, là chất keo kết dính con người với nhau vượt qua không gian và thời gian
Thứ tư, pháp luật là phương tiện để đảm bảo cung ứng các dịch vụ công,
vừa giảm gánh nặng cho nhà nước, vừa tạo điều kiện cho mọi người được thụ hưởng các dịch vụ đa dạng với chất lượng cao Bất cứ nhà nước nào, xã hội nào thì cũng luôn có những hoạt động nhất định phải thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người Hiện nay, ở nước ta, việc cung ứng các dịch vụ công đang chuyển dần từ chỗ nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc chịu trách nhiệm cung ứng sang xã hội cung ứng dưới sự kiểm soát của nhà nước Khi chuyển
Trang 15trách nhiệm cung ứng dịch vụ công từ nhà nước sang xã hội thì pháp luật đóng vai trò là khung pháp lí cho việc thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ công và pháp luật là phương tiện quan trọng để kiểm soát việc cung ứng các dịch vụ đó, đảm bảo chất lượng của dịch vụ, bảo vệ lợi ích của cả người cung ứng dịch vụ và lợi ích của người thụ hưởng dịch vụ.
Thứ năm, pháp luật bảo vệ các nhóm người yếu thế trong xã hội Pháp
luật là một hiện tượng xã hội chỉ xuất hiện trong xã hội có giai cấp Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng có những lợi ích xã hội (lợi ích nhóm) khác nhau Trong các xã hội này bao giờ cũng có những nhóm người được coi là yếu thế hơn, dễ bị tổn thương hơn các nhóm khác Nếu không có sự hỗ trợ của xã hội thì những nhóm người này có thể ngày càng yếu thế hơn Họ bị hạn chế hoặc mất cơ hội tiếp cận, thụ hưởng những kết quả của sự phát triển kinh tế- xã hội họ bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển Hiện nay, khi xây dựng nền kinh tế thị trường, cùng với tác động tích cực không thể phủ nhận thì tất cả các quốc gia
có nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với mặt trái của nó, trong đó có vấn
đề là có những nhóm xã hội khó có thể thích ứng với kinh tế thị trường như người già, người khuyết tật, hay những nhóm dễ bị ảnh hưởng bất lợi như trẻ
em, phụ nữ, người dân tộc thiểu số Điều đó giải thích tại sao các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều rất quan tâm đến chính sách an sinh xã hội
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính xã hội của pháp luật
1.2.1 Yếu tố kỉnh tế
Kinh tế được hiểu một cách chung nhất là toàn bộ hoạt động của con người trong quá trình “sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất”, đó là quá trình bao gồm nhiều giai đoạn đan xen, liên hệ mật thiết với nhau, gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi va tiêu dùng Theo C.Mác yếu tố kinh tế quyết định
tính xã hội của pháp luật ở chỗ “quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn
chế độ kinh tể và sự phát ừỉển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định
Trong thòi kì bao cấp, phương thức quản lí kinh tế mang nặng mệnh lệnh hành chính đã làm hạn chẻ quyền chủ động, sáng tạo, quyền quyết định của người dân với tư cách cá thân về kinh tế Điều kiện kinh tế khó khăn lúc ấy khiến cho một số qui định của pháp luật như vấn đề giáo dục, chăm sóc sức
Trang 16khỏe của nhân dân dù được pháp luật qui định nhưng rất khó thực hiện trên thực
tế Trong những năm gần đây, nền kinh tế dần phục hồi đã tác động đến pháp luật theo hướng tích cực Pháp luật hiện hành không chỉ ghi nhận mà còn bảo đảm thực hiện quyền dân chủ của người dân về phương diện kinh tế Kinh tế phát triển cũng cho phép qui định và thực hiện chính sách đền om, đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, tôn vinh người có công với cách mạng: mẹ Việt Nam anh hùng, người đã từng tham gia quân ngũ, thanh niên xung phong Các chế
độ phúc lợi xã hội khác cũng không ngừng được mở rộng như chế độ đối với người cao tuổi, người khuyết tật, đối với các hộ nghèo, đối với đồng bào dân tộc thiểu số
1.2.2 Yếu tổ chỉnh trị
Chính trị biểu hiện trên thực tế ở thể chế chính trị, cương lĩnh đường lối chính trị cũng như vai trò của đảng phái đối với xã hội Khi chính trị có những thay đổi căn bản thì kéo theo sự thay đổi của pháp luật Quốc gia hiện đại nào cũng ghi nhận quyền bầu cử, ứng cử của công dân để thành lập cơ quan quyền lực của nhà nước, quyền biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý dân để trực tiếp quyết định các vấn đề trọng đại của quốc gia, quyền tự do ngôn luận, quyền biểu tình để thể hiện ý chí, nguyện vọng, quan điểm của mình về các vấn đề liên quan đến cá nhân cũng như của cộng đồng
Nhà nước ta hiện nay là nhà nước của liên minh giai cấp công nhân- nông dân và tầng lớp trí thức Lợi ích của tất cả các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội đều được quan tâm, được bảo vệ như nhau Pháp luật không chỉ thể hiện ý chí của một giai cấp nào mà đồng thời đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội Nhà nước không còn là công cụ thống trị xã hội
do một giai cấp nắm giữ nữa mà là tổ chức được lập ra đại diện cho toàn xã hội
và vì lợi ích toàn xã hội Nhà nước chuyển từ bộ máy cai trị thành tổ chức phục
vụ cộng đồng Rất nhiều các qui định trong hiến pháp từ “nhà nước cho phép”,
“nhà nước qui định”, “nhà nước tạo điều kiện” đã dần chuyển thành các qui định “công dân có quyền” Pháp luật là công cụ hữu hiệu để thực hiện và bảo vệ lợi ích của mọi thành viên trong xã hội
1.2.3 Yếu tổ truyền thống văn hoả
Trang 17Truyền thống văn hóa là một trong các nhân tố có tính nền tảng đối với pháp luật Các truyền thống văn hóa như đoàn kết, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong những hoàn cảnh khó khăn, truyền thống hiếu học, truyền thống uống nước nhớ nguồn ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháp luật Sự ghi nhận, bảo vệ các truyền thống văn hóa của dân tộc làm cho pháp luật trở thành phương tiện sử dụng đáng tin cậy của nhân dân trong đời sống để thực hiện và bảo vệ những quyền con người, quyền công dân mang tính nhân văn sâu sắc trong cuộc sống hàng ngày Những qui định của pháp luật về đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng; qui định chính sách của nhà nước, trách nhiệm của xã hội đối với người khuyết tật; những qui định về an sinh xã hội; các qui định về bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản văn hóa vật thể và phi vật th ể đều là những qui định chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố văn hóa truyền thống và những qui định này là minh chứng cụ thể, rõ ràng về tính xã hội của pháp luật.
1.2.4 Yếu tố quốc tế
Đối với hệ thống pháp luật của bất kỳ quốc gia nào thì sự tác động khách quan của điều kiện hoàn cảnh quốc tế luôn luôn là một vấn đề cần quan tâm Mặc dù nhân tố bên trong (tức là điều kiện tồn tại của quốc gia) có tính quyết định nhưng sự tác động từ các yếu tố quốc tế đối với tính xã hội của pháp luật cũng rất quan trọng
Đời sống quốc tế càng đa dạng, mang tính toàn cầu hóa sẽ không cho phép một quốc gia nào muốn phát triển mà thiếu đi sự hội nhập, hài hòa hóa với nền kinh tế thế giới.Nhìn chung, các công ước quốc tế có giá trị về nhân quyền, dân chủ, môi trường đã trực tiếp chi phối nội dung, phương hướng điều chỉnh của pháp luật ở từng quốc gia Tính xã hội của pháp luật trong trường hợp đó có tính phổ biến chung của cả nhân loại
1.2.5 Yếu tố nhận thức và thủ tục ban hành văn bản qui phạm pháp luật
Yếu tố nhận thức ảnh hưởng đến tính xã hội của pháp luật bao gồm nhận thức của xã hội nói chung, nhận thức của nhà nước và nhận thức của những người trực tiếp tham gia vào hoạt động ban hành văn bản qui phạm pháp luật Nhận thức của nhà nước, của xã hội nói chung, đặc biệt là ý thức hệ chi phối đời sống tư tường của con người trong xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến tính xã hội của pháp luật Nhận thức của người trực tiếp tham gia ban hành văn bản qui phạm
Trang 18pháp luật ảnh hưởng lìt lớn đên việc nhận diện và chuyên hóa các nội dung, giá trị xã hội vào các vănrân qui phạm pháp luật cụ thể.
Bên canh đó, tiủ tục ban hành văn bản qui phạm pháp luật cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính xã hội của pháp luật Thực chất thì bản thân thủ tục không có giá trị ảnh hrởng đến tính xã hội của pháp luật, nhưng các yếu tố khác
có thể được chuyển tá vào trong nội dung văn bản được ban hành như thế nào lại phụ thuộc vào thủ tục ban hành văn bản Bởi vậy, cũng có thể nói, thủ tục
ban hành văn bản qui phạm pháp luật là một yếu tố ảnh hưởng đến tính xã hội
Việt Nam hiện nay, cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, đang đứng trước mâu thuẫi phải giải quyết một cách khéo léo là tận dụng mọi cơ hội, mọi khả năng để phái triển kinh tế nhanh, đồng thời phải giảm thiểu những hậu quả bất lợi cả về tự rhiên và xã hội do phát triển kinh tế thuần túy gây nên và giải quyết các vấn đề xã hội
Pháp luật phải được coi là phương tiện tốt nhất để tạo ra và bảo đảm sự phát triển bền vững Một mặt, pháp luật tạo ra khuôn khổ cho các hoạt động về kinh tế, văn hóa, xã hội hướng tới phát triển bền vững Mặt khác, pháp luật phải
có khả năng kiểm scát được quá trình phát triển bền vững thông qua hệ thống chế tài phù hợp để htn chế, loại trừ các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển bền vững Bên cạnh đó, pháp luật phải bảo đảm được những nhu cầu ít nhất là ở mức tối thểu đối với các nhóm yếu thế trong xã hội như người già, người khuyết tật
Ngày 17/8/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
153/2004/QĐ-TTg về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững
ở Việt Nam, xác định các lĩnh vực kinh tế, xã hội, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ môi truờng, kiểm soát ô nhiễm môi trường cần ưu tiên trong phát
Trang 19triển bền vững Một trong các hoạt động được ưu tiên để phát triển bền vững thường xuyên được nhắc đến là xây dựng pháp luật Điều đó cho thấy pháp luật
là công cụ quan trọng để đảm bảo phát triển bền vững
2.2 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật để bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Vấn đề quyền con người thực sự được quan tâm trên bình diện quốc tế kể
từ sau hai cuộc chiến tranh thế giới, khi thế giới nhận thức rõ về những đau khổ nhân loại đã phải gánh chịu trong chiến tranh và nguy cơ con người bị áp bức, nghèo đói, bất bình đẳng vẫn tiềm ẩn Sự quan tâm này thể hiện trong quyết tâm của quốc tế trong việc gìn giữ hòa bình, công lí, thúc đẩy tiến bộ xã hội, được đánh dấu bằng sự ra đời của các văn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966
Quyền công dân do pháp luật qui định, phụ thuộc vào quan niệm của nhà nước về vị trí, vai trò của người dân trong xã hội và các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện các quyền đó
Mặc dủ quyền con người là những quyền tự nhiên, độc lập với nhà nước, nhưng trong xã hội có nhà nước thì các quyền con người muốn được thực hiện một cách chắc chắn thì phải được nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện Nói cách khác, pháp luật sẽ đóng vai trò lớn trong việc bảo đảm các quyền eon người
2.3 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật để bảo đảm an sinh xã hội
An sinh xã hội là công cụ để xây dựng một xã hội hài hòa, văn minh và không phân biệt đối xử An sinh xã hội có ba điểm đặc trưng: một là, an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình; hai là, sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng; ba là, mục đích của an sinh xã hội là giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố, rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập
Cũng iứư nhiều vấn đề xã hội khác, an sinh xã hội cũng cần có sự tham gia tích cực cua nhà nước và trách nhiệm bảo vệ các thành viên trong xã hội
17 TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 20tránh khỏi rủi ro, chia sẻ rủi ro của các thành viên trong xã hội cũng là trách nhiệm của nhà nước Ngày nay, an sinh xã hội đã trở thành một nội dung không thể thiếu trong pháp luật của các quốc gia.
Thực tế hiện nay có nhiều vấn đề mới nảy sinh, hoặc những vấn đề đã có nhưng hậu quả ngày càng rõ rệt và nặng nề hơn đòi hỏi quyết tâm cao của nhà nước mới có thể giải quyết được hoặc giảm thiểu rủi ro có thể gây ra Có thể nói, an sinh xã hội là vấn đề mang tính nhân văn sâu sắc Chính vì vậy, để bảo đảm an sinh xã hội, pháp luật phải đảm bảo được tính xã hội đậm nét
3 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật để hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của thời đại Hội nhập quốc tế mang lại cho các quốc gia những cơ hội lớn để phát triển như: mở rộng thị trường thúc đẩy thương mại, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng; tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp; giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ xã hội, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng đặt ra cho các quốc gia những thách thức, như: gia tăng tính cạnh tranh trong kinh doanh; làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài làm cho kinh tế quốc gia bị biến động theo những biến động của thị trường quốc tế; tăng nguy cơ kéo giãn cách biệt giàu, nghèo; tăng nguy cơ 'văn hóa dân tộc bị xói mòn, hủy hoại trước sự pha trộn, lấn át của văn hóa ngoại lai
Đẻ tận dụng tốt những cơ hội và hạn chế những bất lợi do hội nhập mang lại, nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật, v ề kinh tế, các văn bản pháp luật đều nhằm khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực canh tranh, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam để khai thác tốt hom các nguồn lực hiện có, tạo điều kiện cho người
học, công nghệ, các văn bản pháp luật tạo điều kiện cho việc phát triển khoa học, công nghệ trong nước, tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức trong nước được tiếp cận, ứng dụng, thụ
văn hóa, nhà nước có chính sách phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
Trang 21sắc dân tộc Một mặt, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, quảng
bá các giá trị văn hóa dân tộc ra thế giới Mặt khác, tiếp thu các giá trị văn hóa của thế giới để làm giàu thêm đời sống văn hóa của quốc gia Nói chung, ở khía cạnh này, tính xã hội của pháp luật được thể hiện đậm nét đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế của đất nước
2.1 BẢO ĐẢM TÍNH XÃ HỘI CỦA PHÁP LUẬT TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG CỤ THẺ CỦA QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUI PHAM PHÁP LUẢT• •
3.1 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật
3.1.1 Tính xã hội của pháp luật được bảo đảm thông qua sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau vào việc phát hiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật
Việc ban hành một văn bản qui phạm pháp luật được bắt đầu từ việc phát hiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật Sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau vào việc phát hiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật là điều kiện để văn bản pháp luật được ban hành xuất phát từ yêu cầu, lợi ích của các nhóm, các lực lượng xã hội khác nhau
Từ phía các cá nhân, các tổ chức xã hội thì nhu cầu điều chỉnh pháp luật thường được phát hiện dưới góc độ của đối tượng thi hành pháp luật Nhu cầu điều chỉnh pháp luật do cá nhân, tổ chức phát hiện, về cơ bản, phản ánh khá sát thực khả năng thực thi pháp luật và sự cân bằng, hài hòa lợi ích giữa nhà nước với xã hội, giữa các nhóm xã hội với nhau.Từ phía các cơ quan nhà nước, nhu cầu điều chỉnh pháp luật thường được phát hiện từ việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước,một mặt thể hiện rõ ý chí chủ quan của nhà cầm quyền, nhưng mặt khác cũng phản ánh nhu cầu khách quan của xã hội
Sự tham gia đồng thời của các chủ thể nói trên vào việc phát hiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật là điều kiện cần thiết để cơ quan có thẩm quyền lập chương trình xây dựng pháp luật có thể đưa vào chương trình những văn bản xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh thực tế của đời sống xã hội, phù hợp với điều kiện thực hiện
và đáp ứng nguyện vọng, bảo đảm quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong
<v 1 A •
xã hội
Trang 223.1.2 Tính xã hội của pháp luật được bảo đảm thông qua các căn cứ xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật
Một là, căn cứ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Đảng vừa là
một tổ chức chính trị, vừa là tổ chứcđại diện cho lợi ích của toàn dân tộc nên đường lối, chủ trương của Đảng vừa là định hướng chính trị, vừa phản ánh ý chí, nguyện vọng của đa số nhân dân, phục vụ lợi ích của toàn dân tộc Do đó, khi căn cứ đường lối, chính sách của Đảng để xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật thì nhu cầu đó không chỉ thể hiện tính giai cấp mà còn thể hiện tính xã hội sâu sắc
Hai là, căn cứ chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh
Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, an ninh, quốc phòng do nhà nước định ra nhằm đưa đất nước phát triển theo định hướng mà nhà nước mong muốn Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, an ninh, quốc phòng do nhà nước định ra mang tính giai cấp rõ ràng nhưng vẫn phải dựa trên nền tảng xã hội cụ thể và nhằm mục đích phát triển xã hội hợp qui luật
Ba là, căn cứ yêu cầu quản lí nhà nước, bảo đảm quyền, nghĩa vụ của công dân So với các căn cứ nói ưên, căn cứ yêu cầu quản lí nhà nước, bảo đảm
quyền, nghĩa vụ của công dân càng thể hiện tính xã hội của pháp luật nhiều hơn Việc bảo đảm quyền, nghĩa vụ của công dân chính là việc ban hành pháp luật vì lợi ích của số đông trong xã hội Các yêu cầu quản lí nhà nước luôn luôn thay đổi tương ứng với sự vận động thường xuyên của mọi mặt đời sống Bất cứ sự bảo thủ, trì trệ chủ quan nào của nhà nước, của người quản lí đều có thể dẫn đến những khó khăn, thất bại hay đánh mất những cơ hội thành công, phát triển
3.1.3 Tỉnh xã hội của pháp luật được bảo đảm thông qua các nội dung cần cỏ trong đề nghị xây dựng pháp luật.
Trong đề nghị xây dựng pháp luật có nhiều nội dung nhưng ảnh hưởng đến tính xã hội của pháp luật nhiều hơn cả là sự cần thiết ban hành văn bản; dự kiến các nguồn lực về tài chính, con người cho việc thực hiện; đánh giá tác động
sơ bộ của văn bản
Sự cần thiết ban hành văm bản được chứng minh từ nhiều góc độ pháp lí
và thực tiễn Từ góc độ thực tiễn, ban hành văn bản có thể là để pháp luật phù
Trang 23hợp hơn với những điêu kiện, hoàn cảnh, yêu câu mới trong quản lí; có thê là
điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn Và như vậy, chứng minh
sự cần thiết ban hành văn bản không thể không chứng minh yêu cầu của xã hội
đối với việc ban hành văn bản và giá trị xã hội của văn bản cần được ban hành
Dự kiến các nguồn lực về tài chính, con người cho việc thực hiện văn bản
và đánh giá tác động sơ bộ của văn bản là sự hình dung sơ bộ về việc nếu văn
bản được ban hành thì cần nguồn lực như thế nào để thực hiện, việc thực hiện
văn bản sẽ cần đến những điều kiện nào khác, khả năng thực hiện văn bản dễ
dàng hay khó khăn, việc thực hiện văn bản mang lại tác động tích cực hay tiêu
cực về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường Những nội dung này giúp cho cơ
quan có thẩm quyền giảm bớt tính chủ quan, áp đặt để đánh giá chính xác hơn
nhu cầu điều chỉnh pháp luật để pháp luật thực sự nảy sinh từ chính đời sống xã
hội và là phương tiện để nhà nước giữ gìn sự ổn định và thúc đẩy xã hội phát
triển
nhu cầu điều chỉnh pháp luật
Thủ tục xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật được qui định riêng đối
với từng loại văn bản qui phạm pháp luật Các văn bản càng có hiệu lực pháp lí
cao thì thủ tục xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật càng được qui định chi
Chẳng hạn thủ tục xác định nhu cầu ban hành luật, pháp lệnh có thể thấy
nhu cầu xây dựng luật, pháp lệnh được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin khác
nhau mà phần lớn trong đó là từ các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm
quyền quản lí ngành, lĩnh vực Đây là những cơ quan trực tiếp quản lí các
ngành, lĩnh vực trên thực tế và từ thực tiễn quản lí đó, các cơ quan này phát hiện
nhu cầu xây dựng luật, pháp lệnh Đồng thời, các đề nghị xây dựng luật, pháp
lệnh, ngoài việc phải có các nội dung cần thiết như đã nói ở trên, còn được Bộ
Tài chính cho ý kiến về tính hợp lí của nguồn tài chính, Bộ Nội vụ cho ý kiến về
tính hợp lí của nguồn nhân lực dự kiến cho việc thực hiện thực hiện văn bản;
được các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia ý kiến Tất cả các đề nghị đều
được ủ y ban pháp luật cùng Hội đồng dân tộc và các ủ y ban khác của Quốc hội
thẩm tra Sau nhiều lần xem xét ở các cơ quan khác nhau, Quốc hội mới quyết
Trang 24định đưa đề nghị vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Với thủ tục như
vậy, các khía cạnh xã hội, các yếu tố xã hội liên quan đến việc ban hành luật,
pháp lệnh và nội dung của luật, pháp lệnh dự định ban hành được xem xét khá
kĩ lưỡng
3.2 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá các văn bản qui phạm pháp luật, tình hình thi hành pháp luật, thực trạng
xã hội liên quan đến dự thảo văn bản qui phạm pháp luật
pháp luật liên quan đến dự thảo
Đánh giá các văn bản qui phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến dự thảo
có giá trị bảo đảm tính xã hội của pháp luật thể hiện ở nội dung đánh giá và mục
đích đánh giá
Thứ nhất, nội dung đảnh giá
Đe phục vụ cho việc xây dựng văn bản mới có chất lượng cao, khắc phục
những khiếm khuyết của pháp luật hiện hành, đảm bảo sự phù hợp giữa pháp
luật với thực tiễn, các văn bản pháp luật hiện hành cần được đánh giá về nhiều
nội dung, trong đó có ý nghĩa hơn cả trong việc bảo đảm tính xã hội của pháp
luật là đánh giá về tính hợp lí, tính toàn diện, tính khả thi của các qui định hiện
hành
Đánh giá tình hình thi hành pháp luật là làm rõ những thành công, hạn
chế của việc thực hiện các qui định của pháp luật so với mục tiêu, yêu cầu đặt ra
khi ban hành văn bản; xác định được những khó khăn, thuận lợi khi thực hiện
các qui định đó; chỉ ra và phân tích các nguyên nhân dẫn đến những thành công,
hạn chế để rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng dự thảo
văn bản
Đánh giá tính hợp lí của các văn bản hiện hành phải là sự đánh giá khách
quan, vô tư, xuất phát từ bản chất tự nhiên của sự vật, hiện tượng Ví dụ, đánh
giá Luật Thanh tra năm 2004 cho thấy Luật này có nhiều điểm hợp lí có thể kế
thừa như: Mục đích hoạt động thanh tra, nguyên tắc hoạt động thanh tra Bên
cạnh đó, Luật Thanh tra năm 2004 cũng có những vấn đề chưa hợp lí như:
Không qui định Chánh thanh tra các cấp, các ngành có thẩm quyền ra quyết
Trang 25định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Khi cơ quan thanh tra phát hiện vi phạm pháp luật, nhưng vì không có quyền ra quyết định thanh tra trong trường hợp nảy nên quyết định thanh tra không thể ban hành kịp thời (và vì vậy không thể tĩến hành thanh tra kịp thời) khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Tính toàn diện, tính khả thi thực chất cũng nằm trong phạm trù tính hợp lí nhưng thường được quan tâm một cách rõ rệt vì đây có thể coi là những biểu hiện cụ thể của tính hợp lí Nếu các qui định hiện hành không đảm bảo được tính toàn diện, không điều chỉnh được hết các tình huống phát sinh trên thực tế
sẽ làm giảm hiệu quả điều chỉnh của pháp luật Các qui định không có khả năng thực hiện thuận lợi trên thực tế cũng không có giá tri điều chỉnh cao
Thứ hai, mục đích đảnh giá
Đánh giá tính hợp lí của các vãn bản pháp luật có liên quan trực tiếp tới
dự thảo là phải chỉ ra được sự hợp lí và không hợp lí của các văn bản đó là gì; phải khẳng định được sự không hợp lí đó đã đạt đến mức độ không thể chấp nhận được, cần phải thay đổi các qui định hiện hành để khắc phục sự không hợp
lí đó Những khó khăn của việc thực hiện pháp luật cũng chỉ là cơ sở để thay đổi các qui định khi đó là khó khăn mang tính phổ biến, không phải là khó khăn nhất thời hay chỉ xảy ra trong một vài trường hợp, một vài địa phương
Cụ thể hơn, đánh giá các văn bản và tình hình thực hiện pháp luật liên quan tới nội dung d ự thảo là xác định những quan điểm, tư tưởng, nội dung tiếp tục kế thừa, những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng những thay đổi của lĩnh vực cần điều chỉnh phù hợp với tình hình mới Những đánh giá này sẽ giúp cho việc ban hành vãn bản mới lấp được các lỗ hổng pháp lí, khắc phục tính hỉnh thức của các qui định không có khả năng đi vào đời sống
3.2.2 Đánh giả hực trạng xã hội liên quan đến nội dung dự thảo
Sự điều chỉnh pháp luật của pháp luật chỉ có thể có hiệu quả cao khi phù hợp với hiện trạng của các quan hệ đó và khuynh hướng vận động của chúng trong tương lai
Khi đánh giá thrc trạng xã hội liên quan đến nội dung dự thảo thì cần xem xét mức độ phổ) biỉn của các tình huống, các quan hệ; tác động tích cực hay
Trang 26tiêu cực đối với xã hội của việc điều chỉnh các quan hệ đó; các yếu tố kinh tế, xã
hội, tự nhiên nào ảnh hưởng và ảnh hưởng như thế nào đến sự thay đổi của các
tình huống, quan hệ cần điều chỉnh Kết quả đánh giá này là cơ sở cho việc
quyết định cần hay không cần có qui phạm điều chỉnh, nếu cần thì các qui phạm
đó điều chỉnh theo hướng nào: cho phép, bắt buộc hay cấm đoán; qui định nghĩa
vụ, qui trình chặt chẽ hay linh hoạt Mục đích của đánh giá thực trạng xã hội
chính là tìm ra cơ sở xã hội để xây dựng văn bản qui phạm pháp luật Thông qua
hoạt động này pháp luật mới đúng là sự mô hình hóa các nhu cầu khách quan,
có thể phản ánh đúng những qui luật khách quan và những điều kiện cụ thể của
xã hội trong từng thời kì Bởi vậy, đánh giá thực trạng xã hội liên quan đến dự
thảo văn bản có giá trị bảo đảm tính xã hội của pháp luật rất lớn
3.3 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá tác động trong quá trình soạn thảo văn bản quỉ phạm pháp luật
tính xã hội của pháp luật
Khái niệm đảnh giả tác động
Đánh giá tác động pháp luật (Regulatory Impact Assessment - RIA) là
quá trình phân tích và đánh giá thông tin một cách hệ thống, qua đó xác định
được rõ ràng, chính xác vấn đề bất cập, cũng như giải pháp chính sách tốt nhấ
để giải quyết vấn đề đó
Báo cáo RIA cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết phục vụ việc ra quyết
định của các cơ quan nhà nước Mục đích cuối cùng của RIA là lựa chọn ra các
phương án phù hợp, khả thi nhất, dựa trên kết quả phân tích định tính và định
lượng tác động tiềm tàng của các giải pháp chính sách dự kiến RIA cũng giúp
cán bộ thẩm tra, thẩm định hiểu sâu sắc hơn về nội dung cơ bản của dự thảo văn
bản, tìm ra cách giải quyết vấn đề phù hợp, nhằm đảm bảo văn bản sẽ đem lại
cho xã hội lợi ích lớn hơn chi phí (bao gồm cả chi phí xây dựng và tổ chức thực
hiện văn bản)
Như vậy, từ các phân tích trên đây có thể khẳng định đánh giá tác động
chính là quá trình phân tích, đánh giá các phương án đặt ra, xác định các tác
động tích cực, tiêu cực của một chính sách pháp luật; bao gồm tập hợp các bước
Trang 27logic hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chính sách, qua đó tìm ra mặt lợi, mặt
hại của một qui định pháp luật sẽ tác động tới các quan hệ xã hội thuộc phạm
trù kinh tế, xã hội khi được ban hành đồng thời tìm ra giải pháp tối ưu nhất, có
lợi nhất
Vai trò của đánh giả tác động trong quá trình soạn thảo văn bản qui
phạm pháp luật.
Đánh giá tác động đối với dự thảo văn bản qui phạm pháp luật sẽ giúp cơ
quan có thẩm quyền có cái nhìn tổng thể, toàn diện về bất cập của xã hội sẽ
được giải quyết trong văn bản, trả lời cho câu hỏi có cần thiết phải ban hành văn
bản qui phạm pháp luật hay không và nếu cần thì xem xét và tìm ra phương án
giải quyết tốt nhất, góp phần nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế và tính
công bằng xã hội Mục đích cuối cùng là hướng tới việc cho ra đời một văn bản
qui phạm pháp luật có khả năng giải quyết kịp thời những vấn đề mà xã hội đặt
ra, đảm bảo nhiệm vụ chính trị, đảm bảo tính hợp pháp, hợp lí, phù hợp với thực
tiễn, điều chỉnh tốt các vấn đề trong xã hội nhưng không kìm chế sự phát triển
của nền kinh tế
RIA giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của pháp luật, hạn chế việc làm
tăng gánh nặng pháp luật tới các đối tượng, chi phí quản lí ở mức tối thiểu
nhưng đem lại hiệu quả vì đạt được mục tiêu đề ra
phạm pháp luật
Tỉnh toán, phân tích những lợi ích và chi phí:
Nguyên tắc chung là: nếu lợi ích mà giải pháp đem lại có giá trị lớn hom
chi phí mà nó tiêu tốn, giải pháp đó sẽ được coi là đáng triển khai, còn nếu chi
phí lớn hơn lợi ích thì đề xuất đó nên loại bỏ
Đánh giá tác động làmô tả những lợi ích tiềm năng của các qui định
tương lai, kể cả những lợi ích vô hình, không tính được bằng tiền; những ai sẽ
nhận được các lợi ích đó; xác định những lợi ích ròng tiềm năng, mô tả những
phương án khác có thể đạt được mục đích mà văn bản hướng tới với chi phí
thấp hơn; đồng thời phân tích những lợi ích và chi phí tiềm năng của các
phương án đó; giải thích những nguyên nhân pháp lí tại sao chúng có thể không
Trang 28được thông qua; giải thích tại sao các qui định đó không cần phải phân tích chi
phí-lợi ích
Đảnh giá các tác động
Quá trình thực hiện RIA phải đánh giá các tác động về kinh tế, xã hội,
môi trường, hệ thống pháp luật, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; khả
năng tuân thủ của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các tác động chính khác
Trong đó, đánh giá về mặt xã hội được hiểu là xem xét những tác động về
việc làm và thị trường lao động; tiêu chuẩn và các quyền liên quan đến chất
lượng việc làm; bảo vệ hay hòa nhập của nhóm xã hội; công bằng trong đối xử
và cơ hội; cuộc sống riêng của cá nhân và hộ gia đình; tiếp cận được với
phương tiện truyền thông, với công lí; dịch vụ y tế công cộng và an sinh xã hội;
tội phạm, khủng bổ và an ninh xã hội; hệ thống bảo vệ sức khỏe cộng đồng, hệ
thống giáo dục
Phân tích rủi ro, các tác động gián tiếp và không mong muốn.
Việc phát sinh các rủi ro, tác động gián tiếp và không mong muốn của
các chính sách, pháp luật khi áp dụng vào cuộc sống là điều rất dễ xảy ra Tuy
nhiên, khi có những phân tích hợp lí, logic những rủi ro này sẽ được hạn chế
tới mức thấp nhất
Phân tích rủi ro được sử dụng nhằm trả lời các câu hỏi quan trọng ban
đầu về việc có cần phải tiến hành quản lí bằng văn bản qui phạm pháp luật đối
với một vấn đề nào đó hay không Phân tích rủi ro sẽ liên quan tới: đánh giá
mức độ rủi ro cho xã hội của vấn đề; khả năng giảm thiểu rủi ro của từng
phương án; và xem xét liệu các biện pháp dự kiến là hiệu quả nhất nhằm xử lí
vấn đề hay không
đánh giả tác động.
Kết quả đạt được
Thực tế cho thấy, về cơ bản, các báo cáo RIA đối với dự án luật, pháp
lệnh đã tương đối hoàn chỉnh với những nội dung: Xác định rõ được các vấn đề
cần phải có sự can thiệp của cơ quan nhà nước; nguyên nhân của những bất cập
và nêu được tác hại đối với cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân nếu
Trang 29vấn đề không được giải quyết; xác định rõ mục tiêu phải đạt và nhiều báo cáo
RIA đã xác định được rõ các mục tiêu cụ thể đối với từng vấn đề được lựa chọn;
chỉ rõ được các phương án (có phương án giữ nguyên hiện trạng) và trong mỗi
phương án đều có lập luận, lí giải, có kết luận đề xuất lựa chọn phương án Các
báo cáo RIA soạn thảo đạt yêu cầu đều nêu được thực trạng của vấn đề và luận
giải được vấn đề cần giải quyết, đưa ra được các phương án cần đánh giá và lựa
chọn được các phương án giải quyết phù hợp chủ yếu dựa trên phân tích tác
động tích cực/tiêu cực, có số liệu làm cơ sở cho việc phân tích định lượng
Hạn chế
Nhiều báo cáo RIA mô tả vấn đề bất cập của xã hội một cách chung
chung như “chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, nhu cầu quản lí nhà nước
Hầu hết, các báo cáo RIA không phân tích tác động tiêu cực và tích cực theo
đúng nghĩa, mà chỉ nêu tác động chung chung mang tính lí thuyết, vẫn xảy ra
trường hợp các báo cáo thiếu số liệu phục vụ việc phân tích, thậm chí không có
bảng so sánh tổng hợp kết quả phân tích để người đọc dễ dàng so sánh và lựa
chọn Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng các báo cáo RIA chưa xác định được
nguyên nhân chính gây ra vấn đề bất cập cần được điều chỉnh bằng văn bản qui
phạm pháp luật; các lập luận, phân tích phương án giải quyết chưa đúng, chưa
đủ, chưa sâu, ; chưa nêu được đầy đủ các phương án khác nhau có khả năng
giải quyết vấn đề cũng như chưa phân tích đầy đủ các tác động tích cực và tiêu
cực của mỗi phương án đến các đối tượng chịu sự ảnh hưởng; kết luận lựa chọn
phương án chưa thuyết phục do chưa dựa trên cơ sở so sánh chi phí - lợi ích với
những thông tin, số liệu minh bạch Thậm chí không ít trường hợp báo cáo RIA
gần như được "bê nguyên xi nội dung của tờ trình”
3.4 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm pháp luật
3.4.1 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật thông qua việc lựa chọn đối tượng lẩy ỷ kiến
Đối tượng lấy ý kiến càng rộng rãi thì càng có nhiều khả năng văn bản
được bảo đảm tính xã hội nhiều hơn Tuy nhiên, việc lấy ý kiến mọi cá nhân, tổ
chức đối với tất cả các văn bản qui phạm pháp luật là không thể thực hiện được
Thông thường, đối tượng lấy ý kiến bao gồm:
Trang 30Một là, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến vấn đề vãn
bản điều chỉnh hay liên quan đến việc tổ chức thực hiện văn bản: Sự tham gia ý
kiến của các cơ quan đó cho phép nhìn nhận, đánh giá lĩnh vực văn bản điều
chỉnh hài hòa, đồng bộ với các lĩnh vực khác, hay để đảm bảo văn bản khi ban
hành có thể được thực hiện thuận lợi
Hai là, các chuyên gia, nhà khoa học am hiểu về vấn đề văn bản điều
chỉnh: Các chuyên gia, các nhà khoa học vốn không phải là nhà quản lí, không
bị chi phối, thúc ép bởi ý thức hệ giai cấp hay mục đích chính trị nhiều nên có
thể có ý kiến thuần túy về mặt khoa học, chuyên môn Các ý kiến chuyên môn
này chính là cơ sở lí luận vững chắc cho các qui định trong văn bản qui phạm
pháp luật
Ba là, các hội, các hiệp hội: Các hội, hiệp hội luôn đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của các thành viên, mục đích hoạt động chính của các hội, hiệp
hội là vì lợi ích của các thành viên Vì thế, ý kiến của các hội, hiệp hội không
phải là ý kiến của một, một vài cá nhân, đơn vị, cũng không phải ý kiến của hội,
hiệp hội với danh nghĩa là một tổ chức xác định mà là tiếng nói chung thống
nhất của nhiều cá nhân, tổ chức tập hợp trong hội, hiệp hội đó nên có sức mạnh
lan tỏa rất lớn
Cuối cùng là, đổi tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản: Đây là
các cá nhân, tổ chức, đơn vị có nghĩa vụ thực hiện nội dung văn bản qui phạm
pháp luật Bằng việc tham gia ý kiến, đổi tượng chịu sự tác động trực tiếp của
văn bản có thể thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình, đóng góp trí tuệ vào việc
xây dựng văn bản Có những trường hợp, đối tượng tác động của văn bản có thể
đưa ra những ý kiến mà các cơ quan nhà nước không hề nghĩ tới
3.4.2 Bảo đảm tinh xã hội của pháp luật thể hiện trong nội dung lẩy ỷ kiến và điều kiện cần thiết cho việc đóng góp ỷ kiến
Nội dung lấy ý kiến đối với các đối tượng khác nhau sẽ khác nhau Nội
dung nào được đưa rz lấy ý kiến đối tượng nào là do cơ quan, tổ chức soạn thảo
văn bản quyết định più hợp với pháp luật và phù hợp với khả năng đóng góp ý
kiến của đối tượng lấy ý kiến Lựa chọn chính xác vấn đề lấy ý kiến nhằm
hướng sự chú ý của cối tượng lấy ý kiến vào những vấn đề thực sự quan trọng,
cần thiết để tập trung được quan điểm, trí tuệ của người góp ý, đồng thời lại tiết
Trang 31kiệm thời gian lây ý kiên Nêu nội dung lây ý kiên là những vân đê liên quan đến các nhóm lợi ích khác nhau, những vấn đề cần có sự đồng thuận cao trong xã hội, hoặc những vấn đề ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của đối tượng tác động của văn bản thì sự đóng góp ý kiến của đối tượng tác động, một mặt, có thể giúp nhà nước tìm được phương án giải quyết vấn đề thỏa đáng nhất, mặt khác, động viên được công chúng đồng lòng, nhất trí, chủ động, tự giác tham gia giải quyết các vấn đề chung của nhà nước và xã hội.
3.4.3 Bảo đảm tỉnh xã hội của pháp luật qua cách thức, thời điểm, thời hạn lẩy ỷ kiến
Cách thức lấy ý kiến cho dự thảo văn bản gồm: lấy ý kiến trực tiếp; gửi
dự thảo để góp ý; tổ chức hội thảo; thông qua Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Mỗi cách thức nói trên có ưu thế và hạn chế riêng Lựa chọn cách thức lấy ý kiến phù hợp với đối tượng lấy ý kiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thể hiện chính xác ý kiến của đối tượng được lấy ý kiến
Tùy thuộc mục đích lấy ý kiến mà việc lấy ý kiến được thực hiện ở giai đoạn nào trong quá trình soạn thảo văn bản Khi cần có ý kiến về việc xác định những vấn đề cơ bản như đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản thì việc lấy
ý kiến được thực hiện ngay từ những bước đầu của giai đoạn soạn thảo văn bản Lúc này, nên lấy ý kiến các cơ quan, các chuyên gia, các nhà khoa học Lấy ý kiến đối tượng tác động trực tiếp của văn bản được thực hiện ở những bước cuối cùng của giai đoạn soạn thảo, trước khi chuyển sang giai đoạn thông qua văn bản Như vậy, việc tổ chức lấy ý kiến được thực hiện trong suốt giai đoạn soạn thảo văn bản phù hợp với mục đích, nội dung, đối tượng lấy ý kiến Điều này giúp cho cơ quan, tổ chức soạn thảo văn bản tập trung được trí tuệ của nhiều người trong việc xây dựng dự thảo, đồng thời góp phần tránh sự chủ quan, áp đặt trong việc định hướng xây dựng cũng như soạn thảo các qui định cụ thể của văn bản
3.4.4 Tiếp thu ý kiến
Các ý kiến đóng góp chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tiếp thu, chuyển tải vào nội dung văn bản qui phạm pháp luật Do vậy, cơ quan, tổ chức soạn thảo
Trang 32văn bản qui phạm pháp luật có trách nhiệm lây ý kiên đôi với dự thảo văn bản ủũng có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp để chỉnh lí
dự thảo Các ý kiến đóng góp được tổng hợp theo nhóm đối tượng Điều đó có nghĩa là việc tiếp thu các ý kiến hay không, tiếp thu đến mức độ nào không chỉ dựa vào số lượng các ý kiến đồng ý, phản đối nhiều hay ít mà còn phải xem xét các ý kiến đó xuất phát từ những cơ sở thực tiễn, lí luận hay pháp lí nào, hiệu quả thực hiện văn bản, tính khả thi của văn bản đó cao hay thấp khi tiếp thu hay không tiếp thu các ý kiến đó
Nói chung, mục đích lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm pháp luật là để đảm bảo tính xã hội của pháp luật Tuy nhiên, chất lượng của hoạt động này cũng chưa thật sự đáp ứng yêu cầu thực tế cũng như mong muốn của toàn xã hội Điều này xuất phát từ những nguyên nhân từ trong các qui định của pháp luật cũng như hoạt động lấy ý kiến trên thực tế:
Một là, chọn đối tượng lấy ỷ kiến Ngoại trừ các phương thức lấy ý kiến
mà ai cũng có thể tham gia, hoặc nội dung lấy ý kiến được qui định bắt buộc phải lấy ý kiến đối tượng nào thì cơ quan soạn thảo có thể chọn nhóm đối tượng để lấy ý kiến.Việc chọn đối tượng lấy ý kiến sẽ quyết định tính xã hội trong ý kiến được đóng góp, đó có thể thực sự là tiếng nói của xã hội hay không phụ thuộc vào nhóm được chọn có thực sự đại diện cho những đối tượng không được lựa chọn hay không
Hai là, chọn nội dung lấy ỷ kiến Cơ quan soạn thảo văn bản gần như
toàn quyền trong việc chọn nội dung lấy ý kiến Sự lựa chọn nội dung lấy ý kiến khó tránh khỏi cái nhìn chủ quan của cơ quan soạn thảo Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến vào quá trình soạn thảo văn bản
Ba là, thời hạn lấy ý kiến Nếu coi lấy ý kiến là hoạt động hữu ích, thiết
thực trong việc nâng cao chất lượng văn bản thì cần dành thời gian hợp lí cho việc lấy ý kiến Một số thời hạn lấy ý kiến theo pháp luật hiện nay rất ngắn, khó
có thể đảm bảo việc đóng góp ý kiến có chất lượng cao, việc lấy ý kiến như thế mang tính hình thức nhiều hơn thực chất
Bổn là, tiếp thu ỷ kiến Các ý kiến đóng góp được tổng hợp theo nhóm,
được nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lí dự thảo Cho dù các ý kiến đóng góp thể
Trang 33hiện chính xác ý chí của các nhóm trong xã hội, phản ánh chân thực các lợi ích
xã hội nhưng nếu cơ quan soạn thảo không có cái nhìn khách quan, khoa học,
cởi mở để đánh giá, tiếp thu ý kiến đóng góp thì những ý kiến thực sự có giá trị
chưa hẳn đã được thể hiện trong dự thảo Do vậy, dự thảo cũng không mang
tính xã hội nhiều
3.5 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản qui phạm pháp luật
3.5.1 Chủ thể thẩm tra, thẩm định
Chủ thể thẩm tra gồm ủ y ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các
ủ y ban khác của Quốc hội, các Ban của Hội đồng nhân dân Chủ thể thẩm định
bao gồm Bộ Tư pháp, tổ chức pháp chế của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
tư pháp ở địa phương
Như vậy, cơ quan thẩm tra, thẩm định có vị trí tương đối độc lập so với
cơ quan ban hành và cơ quan, tổ chức soạn thảo văn bản Đồng thời, cơ quan
thẩm định luôn là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn về pháp luật (cơ quan tư
pháp, tổ chức pháp chế), cơ quan thẩm tra là cơ quan chuyên trách về các lĩnh
vực khác nhau trong quản lí nhà nước, quản lí xã hội (các ủ y ban của Quốc hội,
các ban của Hội đồng nhân dân)
Với vị trí, tính chất như vậy, hoạt động thẩm tra, thẩm định của các cơ
quan đó góp phần bảo đảm tính xã hội của pháp luật bởi lẽ yếu tố chủ quan luôn
luôn có mặt làm cho cơ quan, tổ chức soạn thảo văn bản khó có thể nhận thấy
những sai sót, bất cập trong các qui định mà mình dự thảo Cơ quan ban hành
cũng dễ bị chi phối bởi cách nhìn nhận vấn đề của cơ quan, tổ chức soạn thảo
nên không dễ phát hiện những thiếu sót, bất cập đã thể hiện trong bản dự thảo
Như vậy, sự độc lập tương đối của cơ quan thẩm tra, thẩm định so với
cơ quan ban hành, cơ quan soạn thảo là yếu tố quan trọng để cơ quan thẩm tra,
thẩm định có thể phát hiện được những bất hợp lí, bất hợp pháp mà cơ quan, tổ
chức soạn thảo đã vô tình hoặc cố ý tạo ra, vừa giúp cơ quan, tổ chức soạn
thảo văn bản loại bỏ những khiếm khuyết của bản thảo, vừa giúp cơ quan ban
hành văn bản có thêm căn cứ để quyết định ban hành văn bản khách quan,
chính xác hơn
Trang 343.5.2 Nội dung thâm tra, thâm định
Nội dung thẩm tra, thẩm định khá rộng, nhung ảnh hưởng nhiều nhất đến tính xã hội của pháp luật là thẩm tra, thẩm định sự cần thiết ban hành văn bản và tính khả thi của dự thảo văn bản
Một là, thẩm tra, thẩm định sự cần thiết ban hành văn bản Mỗi văn bản
qui phạm pháp luật được ban hành là để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của các quan
hệ xã hội trên thực tế Nếu văn bản qui phạm pháp luật được ban hành không thực sự đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của đời sống xã hội thì vừa làm lãng phí thời gian, công sức, tiền của nhà nước, vừa làm giảm giá trị điều chỉnh của pháp luật nói chung
Hai là, thẩm tra, thẩm định tính khả thi của dự thảo văn bản, tức là kiểm
tra sự phù hợp giữa qui định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện văn bản một cách thuận lợi và hiệu quả Tính khả thi của văn bản cũng phụ thuộc vào mức độ phù hợp của các qui định trong văn bản với các yếu tố điều chỉnh xã hội khác như đạo đức, phong tục, tập quán vốn là những yếu tố điều chỉnh gần gũi với nhân dân
và được nhân dân tự giác tiếp nhận, thực hiện hom pháp luật Nếu thẩm tra, thẩm định bỏ qua nội dung này thì có thể làm giảm giá trị xã hội của văn bản được ban hành
3.5.3 Vai trò của hoạt động thẩm tra, thẩm định
Thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản qui phạm pháp luật có hai vai trò:
M ột là, tham mưu cho cơ quan soạn thảo hoàn thiện dự thảo văn bản Ý
kiến thẩm định được gửi lại cơ quan soạn thảo văn bản Cơ quan soạn thảo văn bản có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu và giải trình việc tiếp thu ý kiến thẩm tra, thẩm định Như vậy, với nội dung thẩm tra, thẩm định nói trên, đặc biệt là
về sự cần thiết phải ban hành văn bản và tính khả thi của văn bản, hoạt động thẩm tra, thẩm định có khả năng hướng cơ quan soạn thảo quan tâm thích đáng đến tính xã hội của văn bản
Hai là, tham mưu cho cơ quan ban hành văn bản trong việc quyết định
thông qua văn bản Báo cáo thẩm tra, thẩm định được đưa vào trong hồ sơ trình
dự thảo tới cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản và báo cáo thẩm tra, thẩm
Trang 35định cũng được trình bày tại phiên họp xem xét, thông qua văn bản Do ý kiến
của cơ quan thẩm tra, thẩm định là ý kiến đánh giá về dự thảo mang tính phản
biện nên ý kiến này tạo nên một góc nhìn khác với góc nhìn của cơ quan soạn
thảo về các vấn đề cần xem xét Trong trường hợp cơ quan soạn thảo đưa ra các
qui định mang tính chủ quan, áp đặt hay thiên lệch thì ý kiến thẩm tra, thẩm
định giúp cho cơ quan ban hành văn bản nhìn nhận vấn đề khách quan, toàn
diện hơn
Nói chung, thẩm tra, thẩm định góp phần bảo đảm tính xã hội của pháp
luật do hoạt động này là sự kiểm tra, đánh giá văn bản ngay trong quá trình soạn
thảo một cách toàn diện bởi các cơ quan hoạt động mang tính chuyên môn cao
và có vị trí tương đối độc lập Tuy vậy, hoạt động này vẫn có những hạn chế
làm ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm tính xã hội của pháp luật Điều đáng bàn
nhất có lẽ chính lànội dung thẩm tra, thẩm định
Trong nội dung thẩm tra không có sự cần thiết ban hành văn bản Vì vậy,
đối với các văn bản không được thẩm định mà chỉ thẩm tra thì sự cần thiết ban
hành văn bản không được xem xét bởi cơ quan đánh giá có tính phản biện (thẩm
tra) Với các dự thảo văn bản của các cơ quan nhà nước ở địa phương, nội dung
thẩm định về sự phù hợp của nội dung dự thảo với tình hình, điều kiện phát
triển kinh tế- xã hội của địa phương không phải là nội dung bắt buộc Những
qui định này làm giảm khả năng bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt
động thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản
3.6 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động soạn thảo nội dung văn bản qui phạm pháp luật
Tính xã hội của pháp luật có thể được biểu hiện ở việc ghi nhận và bảo vệ
những lợi ích chung của toàn xã hội, những quyền, lợi ích phổ biến của cá nhân,
tổ chức hoặc là bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự
tác động trực tiếp của một văn bản qui phạm pháp luật và đặc biệt bảo vệ quyền,
lợi ích của những cá nhân “yếu thế” trong xã hội như người khuyết tật, người
nghèo, người thuộc các dân tộc thiểu số, người già, trẻ em, phụ nữ
Soạn thảo nội dung văn bản qui phạm pháp luật là quá trình chuyển tải
các ý tưởng, các định hướng, các nguyên tắc, các quy tắc xử sự chung thành các
qui định cụ thể trong một văn bản qui phạm pháp luật Pháp luật có thể hiện
Trang 36được tính xã hội hay không, thể hiện tính xã hội như thế nào phụ thuộc nhiều
vào quá trình soạn thảo nội dung văn bản qui phạm pháp luật
3.6.1 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động soạn thảo nội dung dự thảo văn bản qui phạm pháp luật
Để bảo đảm tính xã hội của pháp luật, trong hoạt động soạn thảo nội dung
dự thảo văn bản qui phạm pháp luật cơ quan soạn thảo cần xác định được các
lợi ích xã hội cần ghi nhận, bảo vệ của một văn bản qui phạm pháp luật cụ thể là
quyền, lợi ích gì
Với những văn bản qui phạm qui định về một nhóm quan hệ xã hội cụ thể
hoặc qui định về một loại hoạt động quản lí nhà nước cụ thể thì xác định, ghi
nhận, bảo vệ quyền, lợi ích của đối tượng chịu sự tác động của văn bản là bảo
đảm tính xã hội của văn bản qui phạm pháp luật đó Với các văn bản qui phạm
pháp luật được ban hành để (chủ yếu) điều chỉnh mối quan hệ giữa một bên là
nhà nước, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước
với bên kia là các cá nhân, tổ chức (ví dụ như các văn bản qui phạm pháp luật
về các hoạt động tố tụng, về hoạt động thanh tra, về thuế, xử phạt vi phạm hành
chính ) thì tính xã hội của pháp luật chủ yếu được thể hiện thông qua việc qui
định các quyền, nghĩa vụ cho cá nhân, tổ chức, đặt ra trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước trong bảo vệ
quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức Nếu một văn bản qui phạm pháp luật được
ban hành nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau (như
pháp luật về dân sự, lao động, ngân hàng, bảo hiểm ) thì hài hòa lợi ích của
các bên, hướng các bên đến các lợi ích chung của xã hội, giới hạn sự can thiệp
của nhà nước vào quan hệ giữa dân cư với nhau là bảo đảm tính xã hội của pháp
luật và hạn chế tối đa việc lạm dụng quyền lực nhà nước
Các quyền, lợi ích xã hội có thể được qui định trực tiếp trong nội dung
văn bản qui phạm pháp luật nhưng cũng có thể không qui định trực tiếp thành
các điều khoản của văn bản qui phạm pháp luật mà vẫn được văn bản qui phạm
pháp luật đó bảo vệ Việc ghi nhận, bảo vệ quyền của các đối tượng trong xã hội
có thể thể hiện thành các nguyên tắc thực hiện một loại công việc, có thể là
quyền của các đối tượng cần được bảo vệ, có thể là nghĩa vụ của nhà nước, của
các đối tượng có liên quan Do có nhiều cách thức khác nhau để truyền tải các
Trang 37quyền, lợi ích xã hội vào nội dung văn bản qui phạm pháp luật nên cơ quan soạn
thảo lựa chọn cách thức nào tối ưu nhất phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của
qui định đó tới nội dung của văn bản qui phạm pháp luật hoặc kết quả đạt được
khi qui định quyền, nội dung đó
Để bảo đảm tính xã hội của pháp luật, hoạt động soạn thảo nội dung các
qui định của pháp luật phải bảo đảm chuyển tải được chính xác các chính sách,
các mục đích xã hội thành các điều luật cụ thể với ngôn ngữ và cách thức diễn
đạt rõ ràng, mạch lạc, tránh gây ra cách hiểu đa nghĩa về một nội dung Vì nếu
các bên trong quan hệ được pháp luật điều chỉnh hiểu khác nhau về một nội
dung thì bên mạnh hơn sẽ áp đặt cách hiểu của mình để giành lợi thế trước bên
yếu hơn
Khi soạn nội dung các qui định với nhóm chủ thể là người khuyết tật,
người nghèo, người thuộc các dân tộc thiểu số, người già, trẻ em, phụ nữ là
các đối tượng có nhiều bất lợi, bị hạn chế khả năng tiếp cận và thực hiện các
quyền, lợi ích của cá nhân đã được pháp luật ghi nhận thì phải đảm bảo các qui
định của pháp luật về nhóm đối tượng này chủ yếu gắn với việc hiện thực hóa
các quyền con người, quyền công dân của mỗi cá nhân
3.6.2 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong giai đoạn chỉnh sửa nội dung dự thảo sau khi tiếp thu ỷ kiến đóng góp, sau khi có ỷ kiến thẩm định,
thẩm tra
Cơ quan soạn thảo phải bảo đảm tất cả các ý kiến đóng góp của mọi cơ
quan, tổ chức, cá nhân đều được tiếp nhận Việc không tiếp nhận ý kiến đóng
góp của một cá nhân, tổ chức nào đó có thể làm cho việc tiếp nhận ý kiến phiến
diện, không đa chiều.Các ý kiến đóng góp cho dự thảo thể hiện sự đánh giá thực
tiễn thi hành pháp luật hoặc nhu cầu về điều chỉnh pháp luật cũng như mong
muốn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và của đối tượng chịu tác động trực tiếp
của văn bản về dự thảo văn bản qui phạm pháp luật Thường ý kiến của cơ quan
nhà nước sẽ xuất phát và hướng đến mục tiêu tạo thuận lợi cho cơ quan hoàn
thành nhiệm vụ do pháp luật qui định Ý kiến của đối tượng chịu tác động của
pháp luật, của cá nhân, tổ chức có liên quan nhằm bảo vệ quyền lợi ích của các
chủ thể đó hoặc tạo điều kiện cho chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
Trang 38một cách tốt nhất Các chuyên gia, các nhà khoa học đưa ra ý kiến trên cơ sở
những phân tích, đánh giá có tính khoa học hơn cả
Lựa chọn ý kiến đóng góp để tiếp thu, chỉnh lí dự thảo, xử lí các ý kiến
không được tiếp thu Để bảo đảm tính xã hội của pháp luật, việc tiếp thu các ý
kiến đóng góp vào dự thảo nên ưu tiên quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân,
các cá nhân, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi văn bản qui phạm pháp luật hom là
ưu tiên việc tạo ra sự thuận lợi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước Với
các ý kiến đóng góp liên quan đến quyền, lợi ích của những người “yếu thế” thì
cho dù ý kiến đó chỉ là thiểu số vẫn cần ưu tiên tiếp thu, chỉnh lí vào dự thảo
PHẠM PHÁP LUẬT NHẰM BẢO ĐẢM TÍNH XẴ HỘI CỦA PHÁP
LUẬT
Thứ nhất, về xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật
Một là, cần có những qui định nhằm tăng cường khả năng tham gia của
các tổ chức, cá nhân ngoài bộ máy nhà nước vào việc xác định nhu cầu điều
chỉnh pháp luật, đặc biệt là các tổ chức là đại diện cho đối tượng tác động trực
tiếp của vần bản Chẳng hạn, khi đối tượng tác động trực tiếp của văn bản là
doanh nghiệp thì rất cần có sự tham gia của các hiệp hội của các doanh nghiệp,
hay Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam; khi đối tượng tác động trực
tiếp của văn bản là người lao động thì nên có sự tham gia của Công đoàn
Hai là, cần tăng cường vai trò của các cơ quan quản lí hành chính nhà
nước trong hoạt động xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật Không chỉ qui
định các bộ có trách nhiệm phát biểu về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của
Chính phủ về các lĩnh vực mình quản lí, mà còn cần qui định trách nhiệm
phát biểu về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác
Ba là, pháp luật hiện hành không phân biệt thủ tục xác định nhu cầu ban
hành văn bản để cụ thể hóa văn bản của cấp trên và ban hành văn bản để điều
chỉnh vấn đề mới hoặc vấn đề thuộc thẩm quyền chủ động quyết định của cơ
quan ban hành văn bản Việc ban hành văn bản mới phải xuất phát từ nhu cầu
Trang 39của đời sống xã hội Trong khi việc ban hành văn bản cụ thể hóa văn bản cấp trên chủ yếu là xuất phát từ nhu cầu tổ chức thực hiện văn bản đó Thủ tục xác định nhu cầu trong trường hợp ban hành văn bản điều chỉnh về vấn đề mới phải chặt chẽ hơn so với thủ tục xác định nhu cầu trong trường hợp ban hành văn bản
để thi hành văn bản của cấp trên
Thứ hai, về đánh giá pháp luật, tình hình thi hành pháp luật, thực trạng các quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo
Hiện nay, pháp luật không qui định rõ hoạt động này cần được tiến hành khi nào Như vậy, cơ quan soạn thảo có thể lựa chọn những thời điểm khác nhau
để tiến hành hoạt động này Mỗi thời điểm đánh giá đều có ưu, nhược riêng Đối với các văn bản có hiệu lực pháp lí thấp, cần có thủ tục ban hành văn bản linh hoạt thì nên để cơ quan soạn thảo văn bản quyết định thời điểm đánh giá Đối với các văn bản có hiệu lực pháp lí cao, để đảm bảo giá trị khách quan của việc đánh giá có lẽ nên qui định thời điểm đánh giá là ngay khi được giao trách nhiệm soạn thảo văn bản để định hướng cho việc soạn thảo văn bản Trong trường hợp cần thiết, có thể đánh giá bổ sung trong quá trình soạn thảo các qui định cụ thể
để khẳng định thêm các cơ sở thực tế cho các qui định trong dự thảo
Bên cạnh đó, trách nhiệm của cơ quan soạn thảo đối với chất lượng của kết quả đánh giá và trách nhiệm trong việc sử dụng kết quả đánh giá đó vào quá trình soạn thảo văn bản như thế nào lại chưa được pháp luật qui định Nên chăng, pháp luật cần bổ sung những qui định có giá ữị gắn kết rõ rệt hơn kết quả đánh giá với nội dung của các qui định được cơ quan soạn thảo đưa ra, trong đó có trách nhiệm giải trình về những vấn đề đã được tổng kết nhưng không thể hiện trong dự thảo Kết quả đánh giá này cần được cung cấp cho tất
cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình soạn thảo văn bản qui phạm pháp luật, bao gồm cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân được lấy ý kiến cho
dự thảo Thậm chí, trong trường hợp cần thiết, một số chủ thể như cơ quan thẩm tra, thẩm định; cơ quan ban hành văn bản có thể yêu cầu đánh giá lại hay đánh giá bổ sung về những nội dung nhất định
Thứ ba, về thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản qui phạm pháp luật
Hiện nay, hoạt động thẩm tra, thẩm định tương đối khép kín, chỉ được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền thẩm tra, thẩm định Ngoại trừ trường hợp
Trang 40các dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực hoặc do
Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập Hội đồng thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học Để cơ quan thẩm tra, thẩm định có thể đánh giá được chính xác tính hợp lí của dự thào thì nên chăng pháp luật có qui định bắt buộc hoặc khuyến khích thu hút các chuyên gia, các nhà khoa học, trong trường hợp văn bản tác động đến các doanh nghiệp thì có cả các hiệp hội của các doanh nghiệp đó tham gia vào quá trình thẩm tra, thẩm định dự thảo
Hơn nữa, cần có qui định về những trường hợp bắt buộc phải thẩm định tính khả thi của văn bản qui phạm pháp luật của địa phương Chẳng hạn, những trường hợp văn bản qui định về vấn đề đặc thù ở địa phương; vấn đề mới mẻ, chưa có kinh nghiệm điều chỉnh trên thực tế; vấn đề mang tính nhạy cảm xã hội; vấn đề ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đại đa số dân cư ở địa phương
Thứ tư, vẻ lấy ý kiến trong quả trình soạn thảo
Cần có qui định những trường hợp nào bắt buộc phải lấy ý kiến của đối tượng nào, như: nếu đối tượng tác động trực tiếp của văn bản chủ yếu là thành viên của tổ chức xã hội nào thì phải lấy ý kiến của tổ chức xã hội đó; nội dung văn bản liên quan đến lĩnh vực quản lí của cơ quan nào thì phải lấy ý kiến của
cơ quan đó (trừ khi chính cơ quan này soạn thảo văn bản); trong trường hợp đối tượng tác động của văn bản là các nhóm yếu thế trong xã hội thì cần qui định cơ quan soạn thảo nhất thiết phải lấy ý kiến của đối tượng tác động, của các tổ chức đại diện cho quyền, lợi ích của họ và của cơ quan quản lí chuyên môn về vấn đề liên quan đến người yếu thế; qui định khi lấy ý kiến thì cơ quan soạn thảo phải có trách nhiệm cung cấp đủ thông tin cần thiết cho đối tượng lấy ý kiến để nâng cao chất lượng của ý kiến đóng góp; những khoảng thời gian lấy ý kiến cần được xác định hợp lí để đối tượng đóng góp ý kiến có đủ thời gian xem xét nội dung dự thảo cũng như các vấn đề lí luận, pháp lí, thực tế liên quan đến
dự thảo Khi qui định thời gian lấy ý kiến thì nên thống nhất qui định theo ngày làm việc để phù hợp với thực tế hiện nay có thể có những khoảng thời gian nghỉ các ngày lễ, tết khá dài, đảm bảo đối tượng được lấy ý kiến không bị mất cơ hội đóng góp ý kiến do thời gian lấy ý kiến trùng với thời gian nghỉ lễ, tết
Thứ năm, về thủ tục rút gọn trong ban hành văn bản quỉ phạm pháp luật