1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong điều kiện sửa đổi bộ luật dân sự

359 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 359
Dung lượng 29,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dề cập tới một hoặc một vài quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếi: tố nước ngoài, như bài viết của các tác giả: TS.Nguyễn Hồng Bắc với bài viết "Luật áp dụng đổi với người khôn

Trang 1

-'ị' V

• Ị \ • 4£5r'‘**ãí ' '

• , "' v' f ,4T” •?,ố?* •• & <-: '• - ’ 4 '

Trang 2

H À NỘI - 2015

Trang 3

NHỮNG NGƯỜI THỤC HIỆN ĐÊ TÀI CHỦ NHIỆM ĐÈ TÀI

t r ư ờ n g đ ạ i h ọ c l u ậ t Hà Nộ i

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS Bộ luật dân sự

BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự

BTTH Bồi thường thiệt hại

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

ĐƯQ T Điều ước quốc tế

HĐTTTP Hiệp định tương trợ tư pháp

SHTT Sở hữu trí tuệ

TAND Toà án nhân dân

TPQT Tư pháp quốc tể

TQQT Tập quán quốc tế

TRIPs Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương

mại của quyền sở hữu trí tuệWIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 5

M Ụ C LỤC

PHẦN TH Ứ NHẤT: TỒNG TH UÂ T KÉT QUẢ N G H IÊN cứ u 7

1 PHẦN MỞ Đ Ầ U 7

1.1 Tính cấp thiết của đề t à i 7

1.2 Tình hình nghiên c ứ u 9

1.3 Muc đích nghiên cún của đề t à i 10

1.4 Nôi dung nghiên c ứ u 11

1.5 Pham vi nghiên cứu đề tà i 11

1.6 Phương pháp nghiên c ú n 11

2 PHẦN NÔI D U N G 12

2.1 Khái quát chung về quan hê dân sư có yếu tố nước ngoài 12

2.1.1.Khái niêm quan hê dân sư có yếu tố nước n g o à i 12

/ 2.1.2 Xung đột pháp luật và giải quyêt xung đột pháp luật phát sinh từ các quan r t hê dân sư có yêu tô nước n g o à i 15

- > 2.1.3 Sự hình thành và phát triên của pháp luật Việt Nam vê quan hệ dân sự có yêu tô nước ngoài 18

2.2 Quy định của Bộ Luật Dân sự 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài 22 2.2.1 Quy đinh về pham vi quan hê dân sư có yếu tố nước n g o à i 22

2.2.2 Quy đinh về vấn đề áp dung pháp l u â t 23

2.2.3 Quy đinh về năng lưc chủ thể của cá nhân người nước ngoài 25

2.2.4 Quy đinh về năng lưc chủ thể của pháp nhân nưcrc ngoài 27

\ \ r t r 2.2.5 Quy định vê quyên sỏ' hữu đôi với tài sản (hữu hình) có yêu tô nước ngoài ?8 2.2.6 Quy định về thừa kế có yếu tố nước n g o à i 30

Trang 6

2.2.7 Quy định về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài 312.2.8 Quy định về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 332.2.9 Quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài 37

2.3 Thực tiễn thi hành và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ Luật Dân sự 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài 39

2.3.1 Thực tiễn thi hành các quy định của Bộ Luật Dân sự 2005 về quan hệ dân

sự có yếu tố nước ngoài 39

2.3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ Luật Dân sự 2005

về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài trong bối cảnh sửa đổi Bộ Luật Dân sự

60

PHẦN THỨ HAI: CÁC CHU Y ÊN Đ Ề 72CHUYÊN ĐỀ 1 :_PHÁP LU ẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ DÂN s ự CÓ YẾU

TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT N A M TRONG ĐIÈU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC

TẾ VÀ NHỮNG V Á N ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT NƯỚC TA

CHUYÊN ĐỀ 4:_MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ c ơ BẢN VỀ VẤN ĐỀ ÁP DỤNG PHÁP LU ẬT TẠI ĐIỀU 759 BỘ LUẬT DÂN s ự NĂM 2005 1322

Trang 7

CHUYÊN ĐỀ 5:_PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ DÂN s ự c ó YẾU

TỐ NƯỚC NGOÀI Ở MỘT s ố NƯỚ C THEO TRƯYÊN TH Ố N G COM MON LAW ĐIÊN HÌNH TRÊN THÉ G I Ó I 1477CHUYÊN ĐÊ 6:_PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ D Â N s ự c ó YẾU

TỐ NƯỚC NGOÀI ở M Ộ T s ố N ƯỚC THEO TRU Y ỀN THỐNG CIVIL LAW ĐIỂN HÌNH TRÊN THỂ G I Ớ I 1699

CHUYÊN ĐỀ 7 :_GÓP PHẦN SỬA ĐỒI, B ồ SUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUAN HỆ DÂN S ự CÓ YÉU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT DÂN

S ự NĂM 2005 (THEO D ự THẢO NGÀY 17.6.2014) 1922

CHUYÊN ĐÊ 8 :_T H ựC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ H O À N THIỆN QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT DÂN s ự ' 2005 VỀ QUAN HỆ N H Â N THÂN VÀ PHÁP NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC N G O À I 2311CHUYÊN ĐỀ 9:_ĐÁNH GIÁ T H ự C TRẠNG QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN S ự 2005 VÊ QUYỀN SỞ H Ữ U TÀI SẢN VÀ TH Ừ A KÉ CÓ YẾU T ố NƯỚC N G OÀ I 2444

CHUYÊN ĐÈ 10:_ĐÁNH GIÁ T H ự C TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN S ự 2005 VỀ HỢP ĐỒNG DÂN s ự CÓ YẾU TỐ NƯỚ C NGOÀI 2566

CHUYÊN ĐÊ 11 :_QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN s ụ ' 2005 VÊ GIAO

DỊCH DÂN S ự ĐƠN PHƯƠNG, GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN s ự VẮNG MẶT VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP Đ Ồ NG CÓ YẾU T ố NƯỚC NGOÀI - T H ự C TRẠNG V À KIẾN NGHỊ H O À N T H I Ệ N 2777CHUYÊN ĐÊ 12:_QUYÊN TÁC GIẢ CÓ YẾU TỐ N Ư Ớ C N GOÀI TRONG

B ộ LUẬT DÂN S ự 2005 - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2944

CHUYÊN ĐỀ 13 :_QƯYỀN SỎ HỮU CÔNG NGHIỆP, QUYÈN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG CÓ YẾU TÓ NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT DÂN

S ự 2005 - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN T H I Ệ N 310

Trang 8

CHUYÊN ĐỀ 14:_ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIÊU TRA XẢ HỘI HỌC VÈ THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN S ự 2005 VỀ QUAN HỆ D Â N s ự c ó YẾU TỐ NƯỚC N G O À I 325PHIẾU KHẢO S Á T 337DANH MỤC TÀI LIỆU TH AM K H Ả O 353

Trang 9

IHẦN THÚ NHẤT: TỎNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u

1.ĨHẦN M Ở ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Troig bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà hoàn toàn đóng cửa với bên ngoài Quá trình toàn câu hóa đã tạc động lực phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội đối với tất cả các quốc gia, /ùng lãnh thổ trên thế giới Bên cạnh những lợi ích to lớn đó, các quốc gia cũng ìhải đối mặt với hàng loạt các vấn đề mang tính toàn cầu như vấn đề môi trườrg, tội phạm quốc tế, di dân tự do v.v Cùng với đó, các quan hệ giữa công dân pháp nhân của các nước với nhau ngày càng tăng về số lượng, mở rộng về pạm vi, nội dung trong nhiều lĩnh vực khác nhau như dân sự, thương mại, lao ộng, hôn nhân gia đình, tố tụng dân sự v.v

Nh.m thúc đẩy và mở rộng giao lưu dân sự quốc tế đồng thời bảo vệ triệt

để, kháchquan quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong các quan hệ dân sự

có yếu tốiước ngoài, mỗi quốc gia trên thế giới đều xây dựng pháp luật riêng để điều ehỉm những quan hệ này Pháp luật nước ta về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngai có lịch sử hình thành từ khá lâu, song chỉ thực sự phát triển trong vài thập niêngần đây, trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của các nước trên thế giới và đảm bảoỉiều chỉnh hiệu quả, phù hợp với thực trạng kinh tể, chính trị, xã hội cũng nhiyêu cầu hội nhập của nước ta Trước biến động mạnh mẽ và không ngừng cu giao lun dân sự quốc tế, đòi hỏi pháp luật của mỗi quốc gia điều chỉnh lĩn vực này cũng phải liên tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm điều chỉn có hiệu quả các quan hệ phát sinh Pháp luật Việt Nam về quan hệ dân sự C(yếu tố nước ngoài cũng không phải là một ngoại lệ

Php luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là nền tảng hình thành ngnh Tư pháp Quốc tế ỏ Việt Nam hiện nay, Tư pháp Quốc tế có phạm

vi điều QỈnh rộng, bao gồm các quan hệ nhân thân và tài sản phát sinh từ các lĩnh vực lân sự, lao động, hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại, tố tụng dân sự \v có yêu tô nước ngoài Các quy phạm tư pháp quốc tế không được

Trang 10

xây dựng tập trung trong một đạo luật riêng vê Tư pháp Quôc tê mà năm rải rác trong ĩứ iáu văn bản khác nhau thuộc các lĩnh vực có liên quan, như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Luật Trẹrag tài Thương mại, Bộ Luật Lao động v.v.

Mặ'C dù được điều chỉnh bởi nhiều quy định nằm rải rác trong các văn bản khác nhau, song quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định đầy đủ và toàn diện nhất trong Phần thứ bảy của BLDS 2005, bao gồm quy định về phạm

vi quan h ệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài, nguyên tắc xác định pháp luật điều chỉnh các quan hệ cụ thể v.v Sự xuất hiện Phân thứ bảy của BLDS 2005, quả thực, đã đóng góp không nhỏ vào việc điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ tư pháp quốc tế nói chung, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng ở nước ta trong thời kỳ hội nhập Cùng với tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng và ngày càng mạnh mẽ của Việt Nam trong 20 năm qua, các quan hệ dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cũng phát triển không ngừng, ngày càng đa dạng về nội dung và gia tăng về số lượng Tuy nhiên, những số liệu thống kê bước đầu từ các cơ quan nhà nước có trực tiếp xử lý các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã cho thấy một thực tế là, việc áp dụng các quy định của BLDS 2005 đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài lại rất hạn chế, không tương xứng với mức độ gia tăng cũng như sự thay đổi đa dạng về nội dung của các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: do các cơ quan có thẩm quyền, các chủ thể có liên quan chưa nhận thức được ý nghĩa của việc áp dụng các quy phạm xung đột đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế; trình độ, năng lực áp dụng pháp luật của thẩm phán, cán bộ còn nhiều hạn chế khi giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài v.v trong đó, hạn chế, bất cập của chính các quy định tại Phần thứ bảy BLDS 2005 cũng là một nguyên nhân quan trọng hàng đầu Vì vậy, để đáp ứng được yêu cầu phát triển của nước ta trong giai đoạn mới, việc sửa đổi, bổ sung cũng như xây dựng mới các quy định tại Phần thứ bảy BLDS 2005 như:

Trang 11

khái niệĩi quan hệ dân sự có yêu tô nước ngoài, nguyên tăc áp dụng pháp luật nước ngoài, quốc tịch của pháp nhân nước ngoài, năng lực chủ thể của người nước ngíài, quan hệ họp đồng, quan hệ thừa kế v.v là một yêu cầu cấp thiết Đặc biệ'., tại kỳ họp thứ 3, tháng 6 năm 2012, Quốc hội khóa XIII của Nước Cộng hca XHCN Việt Nam đã ban hành Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 20.3 và toàn khóa, trong đó đề cập tới việc sửa đổi, bổ sung BLDS 2005

Chúng t)i cho rằng, trong thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu đề tài: “Quan hệ

dân sự có yếu tố nước ngoài trong điều kiện sửa đổi B L D S ” là cần thiết, có ý

nghĩa cẻ về lý luận và thực tiễn

1 2 Tinh hình nghiên cứu

Hiện nay các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức có liên quan, theo sự chỉ đạo cua Chính phủ đã có những báo cáo, đánh giá bước đầu về thực tiễn thi hành cá; quy định của BLDS 2005 Tuy nhiên, phần lớn các báo cáo chưa đề cập hoặc đề cấp khá sơ sài, phiến diện thực trạng và thực tiễn thi hành các quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài

E>ãcó một số luận văn thạc sỹ, bài viết đăng trên tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, tạp chí Dân chủ và Pháp luật v.v dề cập tới một hoặc một vài quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân

sự có yếi: tố nước ngoài, như bài viết của các tác giả: TS.Nguyễn Hồng Bắc với

bài viết "Luật áp dụng đổi với người không quốc tịch, người có nhiều quốc tịch"

đăng trêi tạp chí Luật học số 7 năm 2006; ThS.Nguyễn Bá Bình với bài

viết "Quen hệ dân sự có yếu tố nước ngoài - một sổ vấn đề áp dụng pháp luật

theo quy ỉịnh tại phần 7 Bộ luật dân sự năm 2005" đăng trên tạp chí Luật học số

10 năm 1006; TS.Nguyễn Trung Tín với bài viết "Tư pháp quốc tế Việt Nam

trong chcng đường 60 năm bảo vệ, xây dụng và phát triển đất nước" đăng trên

tạp chí Nià nước và Pháp luật sổ 8 năm 2007; TS.Nguyễn Bá Diến với bài viết

"về trácl nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế hiện đại" đăn' trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4 năm 2007; Luận văn thạc sỹ

của Lê Thu Hường về "Một sổ vẩn đề pháp lý và thực tiễn về trách nhiệm bồi

Trang 12

thường ìhiệt hại ngoài hợp đông có yêu tô nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

và pháp luật nước ngoài", đã bảo vệ thành công năm 2011 Bên cạnh đó, cũng

đã có một Luận án tiến sĩ liên quan tới việc nghiên cún hoàn thiện quy định điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong BLDS năm 1995 của TS.Nguvễn Công Khanh, đã bảo vệ thành công năm 2003

Nhìn chung, các công trình khoa học nêu trên mới chỉ nghiên cứu một hoặc mòt số nội dung của Phần thứ bảy BLDS 2005 Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Công Khanh mặc dù là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thông

về Phần thứ bảy của BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nhung đó là Phần 7 :ủa BLDS 1995 đã được thay thế bằng Phần thứ bảy của BLDS 2005 Các bác cáo, đánh giá thực tiễn thi hành BLDS 2005 của các Bộ, Ngành, Địa phương có liên quan, mặc dù có đề cập ít nhiều tới quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, song cũng chỉ dừng lại ở mặt thực tiễn áp

dụng céc quy định, chưa có những phân tích sâu sắc, đánh giá toàn diện về mặt

lý luận Có thể khẳng định rằng, cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy địm tại Phần thứ bảy của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

13 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Eề tài tập trung phân tích và đánh giá thực trạng (pháp luật và thực tiễn thi hàrứ) các quy định hiện hành trong BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước nịoài, so sánh đối chiếu với pháp luật nước ngoài, pháp luật quốc tế về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và đề xuất kiến ngiị hoàn thiện

í ế t quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên :ứu, học tập và giảng dạy cho các giảng viên, cán bộ nghiên cứu, sinh viên, hcc viên tại các cơ sở đào tạo pháp luật, viện nghiên cứu cũng như cho các đối tượig khác có quan tâm

Trang 13

.4 Nội dung nghiên cứu

• Nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn các quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

• Đánh giá thực trạng (pháp luật và thực tiễn thi hành) quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

• So sánh đối chiếu với pháp luật một số nước điển hình trên thế giới, một

số điềi ước quốc tế quan trọng điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

■ Tìm ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLDS 2005 về quan hậ dân sự có yếu tố nước ngoài và đề xuất kiến nghị hoàn thiện

Ĩ.5 Phạm vi nghiên cứu đề tài

E)ầ tài chỉ tập trung vào phân tích, đánh giá (pháp luật và thực tiễn thi hành) các quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan các quy định này và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, đề tài sẽ đề xuất các kiến nghị then chốt, hoàn thiện các quy định cúc BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

1.6 Phương pháp nghiên cứu

E>ề giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, đề tài cần vận dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận biện chúng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng tỉồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, quán triệt đường lối, chủ chương, chính sach của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Các phương pháp nghiên cứu cụ thể cũng được

sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học

Trang 14

2 PHẦN NỘI DƯNG

2.1 Khái quát chung về quan hệ dàn sự có yếu tổ nước ngoài

2 1.1 Khái niệm quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài

Cùng với quá trình toàn cầu hóa, quan hệ hợp tác giữa các quốc gia ngày càng được mở rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Quan hệ trên bình diện quốc tế không chỉ được thể hiện ở quan hệ giữa các nước với nhau mà còn

là quan hệ giữa cá nhân, pháp nhân của các nước với nhau Trước đây cũng như hiện tại, có nhiều thuật ngừ để chỉ quan hệ pháp lý giữa công dân và pháp nhân của các nước phát sinh trong giao lun dân sự quốc tế, như: “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” , “quan hệ dân sự có nhân tố nước ngoài”, “quan hệ dân sự quốc tế”v.v.‘ Trong số đó, “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” là thuật ngừ được khoa học pháp lý Việt Nam sử dụng phổ biến hơn cả Tuy nhiên, hiện nay, trên thế giới, khái niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” vẫn chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất Theo quy định tại Điều 1 Đạo luật Tư pháp quốc tế

của Ba Lan 2011 thì: “Đ ạo luật s ẽ quy định luật áp dụng đoi với các quan hệ

thuôc luật tư cỏ liên quan đến hơn m ột quốc g ia ” Tương tự, tại khoản 2 Điều 1

Bộ luật Tư pháp quốc tế của Bulgari xác định: “Quan hệ thuộc luật tư có yếu tố

nước ngoài là quan hệ có liên quan đến hai hay nhiều quốc g ia ” Trong Bản

hướng dẫn về một số vấn đề liên quan đến Luật về áp dụng pháp luật đối với quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung

Hoa 2010, Toà án Nhân dân Tối cao nước này đã giải thích: uquan hệ dân sự có

yếu tổ r.ước ngoài” là các quan hệ thuộc một trong các trường hợp sau:

0 một hoặc các bên chủ thể là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc người không quốc tịch;

( i) nơi thường trú của một bên hoặc các bên liên quan nằm ngoài lãnh thổ Cộng h')a dân chủ nhân dân Trung Hoa;

'”S.ĐỖ Văn Đại và PGS.TS Mai Hồng Q u ỳ (2 0 0 6 ), Tư p h á p q u ố c té Việt N am , Nxb.Đại học Quốc gia

TP.HỒ Ch Minh, tr 13 -14.

Trang 15

(iii) Khách thể của quan hệ nằm ngoài lãnh thổ của Cộng hòa dân chủ

nhân dân Trung Hoa;

(iv) Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ dân sự

xảy ra ở ngoài lãnh thổ CHDCND Trung Hoa; hoặc

(v) các trường hợp khác có thể được coi là quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài.2

Tại Việt Nam, khái niệm quan hệ dân s ự có yếu tổ nước ngoài được ghi nhận khá cụ thể tại Điều 758 BLDS 2005 Theo đó, “quan hệ dân sự có yếu tổ

nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhât m ột trong các bên tham gia là cơ quan,

tô chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tô chức Việt Nam nhung căn

cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đỏ theo p h á p luật nước ngoài, p h á t sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước n g o à i”.

Căn cứ vào quy định trên, phạm vi các QHDS có yếu tố nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của Phần thứ bảy BLDS 2005, hay có thể nói là của chế định QHDS có yếu tố nước ngoài của BLDS 2005, trước tiên phải là các quan hệ dân

sự theo nghĩa rộng, nghĩa là bao gồm các quan hệ dân sự thông thường, quan hệ hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động.3 Còn, yếu tố nước ngoài trong các QHDS theo nghĩa rộng này được thể hiện như sau:

Thứ nhất, các QHDS trong đó có ít nhất một bên chủ thể mang yếu tố

nước ngoài Chủ thể đó có thể là pháp nhân, tổ chức hoặc cá nhân mang quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch; chủ thể đó cũng có thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài cho dù vẫn mang quốc tịch Việt Nam Đây là loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phổ biến nhất trong tư pháp quốc tế Các quan hệ này có thể hiện diện dưới dạng quan hệ hôn nhân giữa người Việt Nam với người nước ngoài, hợp đồng thuê nhà giữa người Việt Nam với người

2 http://www.he.ora/articỉe.asp?id=:3Q849

3 Theo Điều 1, B L D S 2005.

Trang 16

nước ngoài, hợp đồng mua bán hàng hoá giữa pháp nhân Việt Nam với pháp nhân nước ngoài v.v.

Thứ hai, các QHDS giữa các chủ thể Việt Nam nhưng có một số tác nhân

liên quan tới các mối quan hệ đó có yếu tố nước ngoài Cụ thể là:

Trường hợp một, các QHDS phát sinh giữa các chủ thê Việt Nam song lại

có căn cứ để xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài Ví dụ: Hai công ty của Việt Nam kinh doanh trong lĩnh vực hoá thực phẩm, đều có trụ sở tại Việt Nam, đã ký kết hợp đồng mua bán hóa chất với nhau tại Thái Lan nhân một hội trợ quốc tế được tổ chức tại đây, hợp đồng ghi rõ sẽ được thực hiện tại Việt Nam Ví dụ trên cho thấy, việc ký họp đồng ở nước ngoài (Thái Lan) chính là cơ sở làm phát sinh quan hệ hợp đồng giữa hai công ty Việt Nam với nhau Quan hệ hợp đồng này là quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài và thuộc phạm vi điều chỉnh của Tư pháp Quốc

tế Giả sử có phát sinh tranh chấp về hình thức hay nội dung của hợp đồng và vụ việc do toà án Việt Nam giải quyết, thì toà án Việt Nam sẽ phải xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tranh chấp theo các qui tắc của Tư pháp quốc tế Việt Nam

Trường hợp hai, QHDS giữa các chủ thể Việt Nam vẫn được coi là

QHDS có yếu tổ nước ngoài nếu tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Ví dụ: Hai công dân Việt Nam ký kết với nhau một hợp đồng mua bán một căn

hộ chung cư cao cấp đang tồn tại ở Anh ở trường hợp này, mặc dù các bên trong hợp đồng mua bán đều là công dân Việt Nam, song bản thân quan hệ lại là quan hệ tư pháp quốc tế, tức là quan hệ có yếu tố nước ngoài vì đối tượng của quan hệ là căn hộ chung cư đang tồn tại ở nước ngoài Quan hệ này có mối liên

hệ với hai hệ thống pháp luật quốc gia, đó là pháp luật Việt Nam và pháp luật Anh Và chi phải xác định cơ sở pháp lý cụ thể để điều chỉnh quan hệ, thì phải dựa vào các qui tắc của Tư pháp quốc tế Việt Nam để chọn ra hệ thống pháp luật điều chỉm phù hợp nhất

Trang 17

Trong khi đó, một số quốc gia như Anh, Mỹ, Nhật Bản v.v lại không có

quy định giải thích về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, học lý

cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp tại các nước, về cơ bản, đều thừa nhận

quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là các quan hệ dân sự có liên quan đên hai

hay nhiều quốc gia Sự "liên quan này" được thể hiện rất đa dạng, chăng hạn

như: quan hệ được thực hiện ở nước ngoài, các bên chủ thể quan hệ có quốc tịch

khác nhau, các bên chủ thể quan hệ có nơi cư trú hoặc trụ sở thương mại ở các

nước khác nhau, sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ xảy ra ở nước ngoài, tài

sản là đổi tượng của quan hệ tồn tại ở nước ngoài.4

Tóm lại, quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài là quan hệ dân sự (hiểu theo

nghĩa rộng) có sự liên quan tới hơn một quốc gia Sự liên quan đó được thể hiện

ở các dấu hiệu như: một hoặc các bên chủ thể của quan hệ là người nước ngoài,

nơi cư trú hay trụ sở kinh doanh của chủ thể quan hệ ở các nước khác nhau, tài

sản là đối tượng của quan hệ hay sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm

dứt quan hệ ở nước ngoài v.v các dấu hiệu này có thể xuất hiện đơn lẻ hoặc kết

hợp đan xen với nhau trong một quan hệ cụ thể tuỳ theo hoàn cảnh của vụ việc

phát sinh

2.1.2 X ung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật phát sinh từ các quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài

Do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cũng như phong tục,

tập quán v.v nên pháp luật của các quốc gia khác nhau không bao giờ hoàn toàn

giống nhau Trong khi đó, như đã nêu trên, một đặc điểm chung của các quan hệ

dân sự có yếu tố nước ngoài được thừa nhận rộng rãi trên thế giới đó là, các

quan hệ này luôn liên quan đến hai hay nhiều quốc gia hay nói cách khác, các

quan hệ này luôn liên quan đến ít nhất là hai hệ thống pháp luật Hai nguyên

nhân trên đã làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật từ quan hệ dân sự có

yếu tổ nước ngoài - hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau đều

4 Clarkson and Jonathan Hi 11(2002), Joffey on the con /ìỉct o flc n \’s , second edition, Lexisnexis UK, tr 1; R.H.Graveson(1969), The con fĩict o f la w s , sixth edition, Svveet & Maxvveỉl, London, tr.3-7; c F Forsyth( 1981),

P rivate ỉn tern a íio n a l L a \\\ Rustica Press LTD,W ynberg, Cape, tr 1-3.

Trang 18

có thể liược áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Do

đó, vấr đề đặt ra là, phải xác định được hệ thống pháp luật cụ thể sẽ được áp dụng đẳ điều chỉnh một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khi quan hệ đó phát sinh.5

Nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài cũng như giải quyết tiện tượng xung đột pháp luật, các quốc gia đã xây dựng và ban hành hệ thống ;ác quy phạm tư pháp quốc tế, đặc biệt là quy phạm thực chất và quy phạm }.ung đột

Duy phạm thực chất là quy phạm phân định trực tiếp quyền và nghĩa vụ

của các bên khi tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Quy phạm thực chất được ghi nhận trong các điều ước quốc tế hoặc trong pháp luật quốc gia, hoặc trong các tập quán quốc tế

Duy phạm xung đột là quy phạm xác định luật pháp của nước nào sẽ được

áp dụng để giải quyết quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài trong một tình huống thục tế Quy phạm xung đột được ghi nhận trong pháp luật của từng quốc gia hoặc ghi nhận trong các điều ước quốc tế

Như vậy, có thể thấy, khác với quy phạm thực chất, quy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết quan hệ pháp luật mà chỉ quy định việc chọn pháp luật nưcc này hay nước khác để điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, việc “chọn luật” này không phải phụ thuộc vào ý chí của nhà chức trách

hoặc mong muốn của các bên tham gia quan hệ mà phải “căn cứ vào tỉnh chất,

đặc điển của từng mối quan hệ ”6 Chính vì vậy, các nguyên tắc chung để lựa

chọn luìt áp dụng điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (hay còn gọi là cic kiểu hệ thuộc cơ bản) đã được thừa nhận rộng rãi trong tư pháp quốc

tế các rước, bao gồm:

+ Luật nhân thân (LeX personalis): bao gồm hai loại biến dạng là Luật quốc tịch (Lexpatriae) là luật của quốc gia mà đương sự là công dân và Luật nơi

5 Trường Đại học Luật KN(2008), G iá o trình Tư p h á p Q u ố c tể, N X B C ông an nhân dân, Hà N ộ i, tr 28.

6 \Iguyễn Tiến Vinh - "C họn lu ật á p dụng đ ố i vớ i quan hệ dân sự cỏ yếu tố nước n g o à i”, Tạp chí

Nghiên CÚI Lập pháp số 6/2003.

Trang 19

cư trú (lex domicilii) được hiểu là luật của nước nơi mà đương sự có nơi cư trú

ổn định Hai kiểu hệ thuộc này đều thuộc quy chế nhân thân của cá nhân (Status personals) Nguyên tắc Luật nhân thân được sử dụng rất rộng rãi trong Tư pháp quốc tế của nhiều nước trên thế giới mà chủ yếu là trong các quan hệ dân sự liên quan đến vấn đề nhân thân của cá nhân, như: kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi v.v

+ Luật quốc tịch của pháp nhân (Lex socỉetatis): là luật của quốc gia mà

pháp nhân mang quốc tịch Quốc tịch của pháp nhân thường được xác định thông qua một trong ba dấu hiệu cơ bản: nơi đặt trung tâm quản lý của pháp nhân; nơi đăng ký thành lập của pháp nhân; nơi pháp nhân tiến hành hoạt động, kinh doanh chủ yếu Luật quốc tịch của pháp nhân được sử dụng để điều chỉnh nhiều vắn đề của pháp nhân như: năng lực pháp luật, tư cách pháp nhân, cơ cấu

tổ chức, phá sản

+ Luật nơi có vật (Lex rei sitae): được hiếu là vật (tài sản) đang ở đâu thì

luật của nước đó sẽ được áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến vật (tài sản) đó Hệ thuộc này thường được áp dụng để giải quyết các quan hệ về

sở hữụ, thừa kế có yếu tố nước ngoài

+ Luật do các bên ký kết hợp đồng lựa chọn (Lex voluntatis): được áp

dụng tror.g các quan hệ về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, chủ yếu là trong lĩiứ vực thương mại và hàng hải quốc tế Quy định của hệ thuộc này xuất phát từ rụuyên tắc cơ bản của hợp đồng là tự nguyện, tự do ý chí và hoàn toàn bình đẳng thỏa thuận giữa các bên

+ Luật nơi thực hiện hành vi (Lex loci actus): bao gồm rất nhiều loại như Luật nơi <ý kết hợp đồng (Lex loci contractus), Luật nơi thực hiện nghĩa vụ (Lex

loci soluĩtionis), Luật nơi thực hiện hành động (Lex loci actus) v.v.

+ _,uật nơi vi phạm pháp luật (Lex locỉ delicti commỉssi): được hiếu là

trách nhiìm bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật được giải quyết theo pháp

luật nơi ló hành vi vi phạm pháp luật và gây ra thiệt hại Đây là một hệ thuộc

được hìm thành từ rất sớm trong Tư pháp quốc tế vả được ghi nhận trong hầuhêt tư phip quôc tê của các nước trên thê giới TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUÂT HÀ NỘI

Trang 20

Ngoài ra còn có một số hệ thuộc khác như, Luật nước người bán (Lex

vendỉtoris), Luật tiền tệ (Lex monetae), Luật tòa án (Lex fo rỉ) v.v.

2.1.3 Sự hình thành và p h á t triển của p h á p luật Việt Nam về quan hệ dãn

sự có yếu tố nước ngoài.

Có thể chia quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về

quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ra thành hai giai đoạn, đó là trước và sau

Đại hội Đảng năm 1986 Trước Đại hội Đảng năm 1986 nền kinh tế nước ta là

nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp Quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế,

chính trị, khoa học kỹ thuật của nước ta chủ yếu diễn ra với các nước XHCN

dựa trên những nguyên tắc phi thị trường Có rất ít quan hệ được thiểt lập với

các nước tư bản chủ nghĩa Trong bối cảnh chung đó, các quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài đã không có nền tảng để phát triển mạnh mẽ được Nội dung và số

lượng các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cũng rất đơn giản và hạn chế

Việc xây dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có

yếu tổ riiUỚc ngoài, vì vậy, chưa được chú trọng, chưa trở thành vấn đề cấp thiết

Phạm ví quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của

pháp luậl Việt Nam thời kỳ này còn khá hẹp, chủ yếu chỉ bao gồm các quan hệ

có sự tham gia của cá nhân, pháp nhân nước ngoài, mà chưa mở rộng sang các

quan h ệ có những yếu tố nước ngoài khác, và khi phải áp dụng pháp luật để giải

quyết qiuan hệ, thì đó sẽ là pháp luật Việt N am 7

tiến hàm? mạnh mẽ đã dẫn tới xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng các quan hệ

\ í dụ: Thông tu số 11/TATC ngày 12/7/1974 của Tòa án Nhân dân Tối cao về thủ tục giải quyết ly

hôn có yếtu 0 nước ngoài quy định thẳm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề ly hôn và

khẳng địnhi ảng, khi giải quyết vấn đề này thì tòa án Việt N am phải áp dụng pháp luật Việt Nam Hay, tại Quyết

định 1 2 2 /C I ngày 2 5 /4 /1 9 7 7 của Hội đ ồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú và làm ăn

sinh sốn g (ở Việt Nam , quy định trong vấn đề quyền s ở hữu, thừa kế, chọn ngành, chọn nghề, quyền và nghĩa vụ

học tập, laìođộng, cư trú, đi lại của người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống ở Việt Nam, do pháp luật Việt

Nam quy cđịih.

Trang 21

dân sự có yêu tô nước ngoài Đê kịp thời đáp ứng yêu câu điêu chỉnh pháp luật trong tình hình mới, nhiều văn bản pháp luật liên quan tới quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài đã được ban hành mà tiêu biểu là: Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Hàng hải 1990, Bộ luật Lao động 1994, Luật Hàng không dân dụng 1991, Luật quốc tịch 1988, Luật Hôn nhân và gia đình 1986, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 (sửa đổi, bổ sung năm 1990 và 1992), Pháp lệnh Hợp đồng dân

sự 1991, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh Lãnh sự 1990, Pháp lệnh Hải quan 1990, Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ 1988, Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 1989, Pháp lệnh Bảo

hộ quyền tác giả, Pháp lệnh thừa kế 1991 v.v Bên cạnh việc ban hành những văn bản pháp luật trong nước, Nhà nước ta cũng đã tiếp tục tham gia thêm vào một số điều ước quốc tế song phương và đa phương trong các lĩnh vực thương mại và hàng hải, hàng không quốc tế, đầu tư nước ngoài, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, tương trợ tư pháp v.v

Có thè nói, các quy định được xây dựng kịp thời trong thời điểm này đã khắc phục đ jạc phần nào tình trạng không có pháp luật điều chỉnh quan hệ dân

sự có yếu tố nước ngoài ở một số lĩnh vực nhất định Ngoài ra, các quy định của pháp luật V ệt Nam trong giai đoạn này đã chính thức cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài đối với một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bằng cả quy phạm xung lột một chiều và quy phạm xung đột hai chiều Tuy nhiên, đánh giá một cách tổig quát, hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự

có yếu tố nvớc ngoài vẫn còn rất ít về số lượng, chưa đa dạng về nội dung điều chỉnh và nằn phân tán trong các văn bản pháp luật khác nhau

Khắcphục thực tế này, nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế, BLDS 1995 đã được ban hành với Phần 7 về quan hệ dân sự có yếu

tố nước n g ài Phần 7 BLDS 1995 bao gồm 13 điều khoản quy định về phạm vi quan hệ dâi sự có yếu tố nước ngoài, những nguyên tắc chọn luật áp dụng chung, và cuy định điều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cụ

Trang 22

thể.8 Mặc dù đã xây dựng được những nguyên tắc chung nhất cho việc xác định pháp luật đều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài căn bản và nội dung nhữrg nguyên tắc này đã có sự tương đồng nhất định với Tư pháp quốc tế trên thế giới, song thực tiễn thi hành quy định tại Phần 7 BLDS 1995 đã cho thấy khôns ít tồn tại, hạn chế Chẳng hạn như, phạm vi của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài quy định tại Điều 1 của Phần 7 BLDS 1995 đã không có trường hợp quan hệ dân sự giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định

cư ở nướcr.goài; Phần 7 cũng không có quy định điều chỉnh vấn đề thừa kế có yếu tố nươc ngoài, không có quy định điều chỉnh giao kết họp đồng vắng mặt, hay trường hợp hạn chế năng lực hành vi, tuyên bố mất năng lực hành vi của công dân nuớc ngoài, hành vi pháp lý đơn phương v.v Tuy vậy, việc xây được Phần 7 BLBS 1995 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là một dấu ấn quan trọng trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển lý luận và thực tiễn pháp

luật nước tí về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Quả thực, Phần 7 BLDS

1995 đã gó) phần không nhỏ vào việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong giao lưu dâi sự quốc tế, là một yếu tổ quan trọng đảm bảo thực hiện thắng lợi quá trình hạ nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta

Do cìủ trương xây dựng phần 7 BLDS 1995 của nước ta chỉ dừng lại ở

những vấn iề đã rõ ràng, nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc trong thực tế phát triển

kinh tế, gia) lun quốc tế,9 vì vậy, vẫn còn nhiều nội dung pháp lý khác, như đã

đề cập ở tréi, chưa được quy định điều chỉnh trong Phần 7 BLDS 1995 Những thiếu hụt n;y đã được cố gắng bù đắp bằng cách đưa vào nội dung điều chỉnh

8 N ội a n g của phần thứ bảy B L D S 1995 bao gồm: Điều 826 là điều định nghĩa về Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngai; Điều 827 quy định về việ c áp dụng pháp luật dân sự C H X H C N Việt Nam, điều ước quốc tế, tập quán quốc t và pháp luật nước ngoài; Điều 828 về nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế; Điều 89 về căn cứ chọn pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch hoặc người nước ngoài có nhiều quốc tịch ước ngoài; Điều 830 quy định về nănệ lực pháp luật dân sự của người nước; Điều 83 1 quy định

về năng lực hàn vi dân sự cùa người nước ngoài; Điều 832 về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài; Điều 83;về quỵền sở hữu tài sản; Điều 834 về hợp đồng dân sự; Điều 835 về bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng; Đ iề i8 3 6 về quyền tác giả; Điều 837 về quyền sở hữu cô n g nghiệp và Điều 838 quy định về chuyên giao công nghệ.

9 T ờ tnh số 5529/P C ngày 3 0 /9/1995 của Chính phủ trình Quốc hội về việc tiếp thu ý kiến nhân dân,

các ngành, các ấp và đại biểu Quốc hội, chỉnh lý Dự thảo BLDS có ghi rồ “đ à y là m ột vắn đô p h ứ c tạp, chủng

ta lạ i chưa cổ kìh nghiệm tro n g ỉ hực té, d o đ ỏ v iệ c qu y định p h ả i thận trọn g, ỉrư ở c m ắt ch ì quy định cá c ván đỏ

đ ã rồ nhằm đ á p cn g yê u cầu bức x ú c tro n g thực tế p h á t triền kinh tổ, g ia o hnt qu ôc tẻ hiện nciy

Trang 23

của các văn bản pháp luật có liên quan khác như Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996, Luật Thương mại 1995, Bộ luật hàng hải sửa đổi 1995, Luật hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi 1995, Luật hôn nhân và gia đình 2001, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 v.v.

Mặc dù vậy, qua thời gian khoảng gần 10 năm đi vào thực hiện, thực tiễn hội nhập quốc tế của nước ta cũng như nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn mới cần phải được giải quyết một cách căn bản bằng pháp luật trong đó có các vấn đề của tư pháp quốc

tế Chính vì vậy, chúng ta đã xây dựng và thông qua BLDS mới vào năm 2005, trong đó có Phần 7 BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, v ề cơ bản, Phần 7 BLDS 2005 một mặt đã kế thừa những nội dung chủ đạo, thiết thực trong Phần 7 BLDS 1995, mặt khác đã sửa đổi, bổ sung thêm một số nội dung mới v ề số lượng điều khoản, Phần 7 BLDS 2005 đã tăng thêm 7 điều so với Phần 7 BLDS 1995, gồm tất cả 20 điều (từ Điều 758 đến Điều 777) v ề nội dung, ngoài việc giữ lại các nội dung thiết thực của Phần 7 BLDS 1995, Phần 7 BLDS 2005 đã có một số nội dung mới như: Điều 763, 764 quy định các quy tắc xác định người nước ngoài không có năng lực hành vi dân sự, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, quy định việc xác định người nước ngoài bị mất tích hoặc đã chết; Điều 767, 768 quy định các vấn đề liên quan đến thừa kể có yếu tố nước ngoài; Điều 771 BLDS 2005 quy định việc giao kết hợp đồng dân

sự vắng mặt có yếu tố nước ngoài; Điều 777 BLDS 2005 quy định về thời hiệu khởi kiện Bên cạnh BLDS 2005 điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài, nhiều quy định mới liên quan tới những giao dịch dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài chuyên ngành khác cũng đã được bổ sung vào các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan như: Luật Thương mại 2005, Luật Hàng không Dân dụng 2006, Bộ luật Hàng hải 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Nhà ở

2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật Trọng tài Thương mại 2010 v.v

Năm 2013 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp sửa đổi của nước cộng hoà XHCN Việt Nam Đây là bản Hiến pháp được đánh giá có những thay đổi toàn

Trang 24

diện, quan trọng, tạo động lực mới cho sự phát triển của đất nước trong bối cảnh

nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới

WTO và nhiều thiết chế quốc tế quan trọng khác Nhằm cụ thể hoá Hiến pháp

2013, cũng như điều chỉnh kịp thời bằng pháp luật những đòi hỏi cấp bách từ

những biến động nhanh chóng trong thực tiễn đời sống dân sự quốc tế thời kỳ

hội nhập, một lần nữa lại đặt ra cho Nhà nước ta nhiệm vụ phải sửa đổi BLDS

2005, trong đó có Phần 7 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, cũng như các

văn bản pháp luật khác có liên quan Mặt khác, thực tiễn thi hành Phần 7 BLDS

2005 từ năm 2005 đến nay, cũng đã cho thấy, nhiều vấn đề trong Phần 7 chưa

được xử lý triệt để, nhiều vấn đề đã nảy sinh hoặc mới phát sinh trong thực tế

chưa có quy định điều chỉnh, một số vấn đề còn chồng chéo, không ít vấn đề

được giải quyết chưa tương thích với pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế

v.v chăng hạn như: phạm vi của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; vấn đề

chọn luật áp dụng trong trường họp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế

mà Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến pháp luật của nước có nhiều hệ thống

pháp luât (các nước Liên bang như LB Nga, Hoa Kỳ ); vấn đề dẫn chiếu đến

pháp luật của nước thứ ba; các quy định về áp dụng luật đối với các vật quyền

có yếu tố nước ngoài; quy định về áp dụng tập quán quốc tế trong hợp đồng có

yếu tố nước ngoài; quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố

nước ngoài v.v Hàng loạt những tồn tại, hạn chế như vậy trong Phần 7 của

BLDS 2005 cũng đang đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải sớm hoàn thiện Phần

7 của BLDS 2005 nhằm đáp ứng yêu cầu điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực

dân sự có yếu tố nước ngoài trong tình hình mới

2.2 Quy định của Bộ Luật Dân sự 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

2.2.1 Quy định về phạm vỉ quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài

Phạm vi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định cụ thể tại

Điều 758 BLDS 2005 Theo đó “quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài là quan

hệ dân ;ự cỏ ít nhất m ột trong các bên tham gia là cơ quan, to chức, cá nhân

Trang 25

nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia ỉà công dân, tô chức Việt Nam nhưng căn cứ đê xác lập, thay đỏi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Kết hợp với quy định tại Điều 1 BLDS 2005 về phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005,10 có thể xác định rằng, các QHDS có yếu tố nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của Phần thứ bảy BLDS 2005 trước tiên phải là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, nghĩa là bao gồm các quan hệ dân sự thông thường, quan hệ hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động Còn, yếu tố nước ngoài trong các QHDS theo nghĩa rộng này được thể hiện như sau:

Thứ nhất, QHDS trong đó có ít nhất một bên chủ thể mang yếu tố nước

ngoài Chủ thế đó có the là pháp nhân, to chức hoặc cá nhân mang quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch; chủ thể đó cũng có thế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài cho dù vẫn mang quốc tịch Việt Nam

Thứ hai, QHDS phát sinh giữa các chủ thể Việt Nam song lại có căn cứ để

xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài

Thứ ba, QHDS giữa các chủ thể Việt Nam nhung tài sản liên quan đến quan hệ đó tồn tại ở nước ngoài

Cac yếu tố nước ngoài này có thể chỉ xuất hiện riêng lẻ trong một quan hệ dân sự rhưng cũng có thể xuất hiện kết hợp, đan xen với nhau trong một quan

hệ tuỳ ứ e o từng hoàn cảnh cụ thể

2.2.2 Quy định về vấn đề áp dụng pháp luật

Xa ất phát từ tính chất đặc thù của các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, 43 là luôn vượt ra khỏi phạm vi lãnh thố của một quốc gia, liên quan đến hai hay ihiều quốc gia nên một trong những vấn đề được coi là nền tảng và cần

110 Diều 1 B L D S 2 0 0 4 quy định: "Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử cỉủacá nhân, pháp nhân, chù thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dlâi sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọỉ chung là quan hệ dân sự)."

Trang 26

phải xác định một cách chuân xác đê có thê điêu chỉnh các quan hệ này, đó là vấn đề lụa chọn pháp luật áp dụng, v ấ n đề này đã được quy định từ BLDS 1995

và tiếp tục được ghi nhận tại Điều 759 BLDS 2005 v ề cơ bản, Điều 759 đã quy định đưcc những vấn đề pháp lý cơ bản nhất liên quan đến việc áp dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Quy định này thể hiện sự cố gắng của các nhà làm luật trong việc đưa ra một cách toàn diện và đầy đủ nhất những vấn đề pháp lý xung quanh việc áp dụng luật Cụ thể là:

Thứ nhất, căn cứ vào quy định tại Điều 759 BLDS 2005 có thể xác định,

pháp luậ' được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bao gồm pháp luật quốc gia (bao gồm pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài), ciều ước quốc tế và tập quán quốc tế Bên cạnh đó, Điều 759 cũng đã đưa ra nguyên tắc, điều kiện cũng như thứ tự ưu tiên áp dụng các loại nguồn trong việc điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài, v ề nguyên tắc, pháp luật của nước cộng hoà XHCN Việt Nam sẽ được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Pháp luật nước ngoài cũng sẽ được áp dụng troig trường hợp có sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột trong pháp luật Việt N an hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc trong trường hợp các 3ên trong hợp đồng thỏa thuận áp dụng Mặc dù khoản 3 Điều 759 cho phép các bên trong hợp đồng thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, song lại chưa đề oấp đến việc cho phép họ thoả thuận áp dụng các nguồn luật khác như tập quán quốc tế, điều ước quốc tế

Tỉứ hai, liên quan đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán quốc

tế trong /iệc điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài, phát sinh một

số trườrg hợp đặc biệt là bảo lưu trật tự công cộng và dẫn chiếu ngược, đều được qu/ định về cách thức giải quyết tại khoản 3 và 4 Điều 759 Theo đó, với

việc sử (ụng cụm từ “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam ” thay cho cụm từ ‘trật tự công c ộ n g ”, pháp luật Việt Nam đưa ra điều kiện tiên quyết để

áp dụngpháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế đó là việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Trang 27

Với trường hợp dẫn chiếu ngược theo quy định tại Khoản 3 Điều 759 thì pháp luật Việt Nam chấp nhận hiện tượng dẫn chiếu ngược, tức là khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài mà pháp luật nước đó lại

có quy pnạm dẫn chiếu ngược trở lại áp dụng pháp luật Việt Nam thì pháp luật của Việt Nam sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Đ:>i với một dạng khác của dẫn chiếu là dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ 3, Điều 759 của BLDS 2005 hiện không có quy định điều chỉnh

Thứ ba, việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

sẽ được ỉặt ra trong trường họp có quy định khác nhau giữa điều ước quốc tế và quy định của BLDS Đặc biệt theo quy định tại Điều 759, tập quán quốc tể cũng

sẽ được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nhưng

chỉ trong trường hợp quan hệ đó “không được Bộ luật này, các văn bản pháp

luật khá: của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã nội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dán sự giữa các bên điềi chỉnh

2.2.3 Quy định về năng lực chủ thể của cá nhản người nước ngoài

Đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, việc xác định năng lực chủ thể (bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự) của người niớc ngoài là một yêu cầu rất cần thiết Chính vì vậy, vấn đề năng lực chủ thể của người nước ngoài cũng đã được pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của cácquốc gia trên thế giới điều chỉnh khá chi tiết Tại Việt Nam, vấn đề năng lực chủ thể của người nước ngoài được quy định tại Điều 761 (về năng lực pháp luật dâi sự của người nước ngoài), Điều 762 (về năng lực hành vi dân sự của người rước ngoài) và được làm rõ thêm tại Điều 6, 7 Nghị định 138/2006/NĐ-

CP củaChính phủ Theo đó, vê nguyên tắc chung, năng lực pháp luật dân sự và năng Iịc hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước rrà người đó là công dân

,uy nhiên, trong trường hợp ngoại lệ, nếu đối với năng lực pháp luật dân

sự, phái luật Việt Nam dành cho người nước ngoài chế độ đối xử quốc gia, theo

Trang 28

đó, người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nem, thì đối với năng lực hành vi dân sự, chế độ pháp lý này không còn được áp dụng để xác định năng lực hành vi của cá nhân người nước ngoài Theo khoản 2 Điều 762 BLDS 2005, trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự trên lãnh thổ Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó sẽ được xác định theo pháp luật Việt Nam.

vẫn liên quan đến vấn đề năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài, BLDS 2005 đồng thời đưa ra quy định về việc xác định người nước ngoài không

có, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; bị mất tích hoặc chết tại Điều 763 và Điều 764 Theo đó, việc xác định một người nước ngoài không có,

bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tuân theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch hoặc pháp luật Việt Nam (trong trường hợp người nước ngoài cu trú tại Việt Nam) Tương tự, việc xác định một người nước ngoài mất tích hoặ; chết phải tuân theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch vào thời điểm trước khi có tin tức cuối cùng về việc mất tích hoặc chết hoặc pháp luật Việ Nam (trong trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam) Đây là những quy phạm hoàn toàn mới của BLDS 2005 so với BLDS 1995

Đối với trường hợp người nước ngoài là người không quổc tịch, người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài, Điều 760 BLDS 2005 và Điều 5 Nghị định 138 đã đưa ra cách thức để xác định luật quốc tịch cho những chủ thể này Theo đó, trong trường họp Bộ luật Dân sự hoặc các văn bản pháp luật khcC của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luìt của nước mà người nước ngoài là công dân thì:

-Pháp luật áp dụng đổi với người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi nguời đó cư trú; nêu người đó không có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật Cộng hjà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

-Pháp luật áp dụng đôi với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nươc n^oài là pháp luật của nước mà người đó có quôc tich và cư trú vào thời điem pnát sinh quan hệ dân sự; nêu người đó không cư trú tại một trong các

Trang 29

nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có

quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân

- Đương sự có nghĩa vụ chứng minh trước cơ quan có thẩm quyên của Việt Nam về mối quan hệ gắn bó nhất của mình về quyền và nghĩa vụ công dân

với hệ thống pháp luật của nước được yêu cầu áp dụng Trong trường hợp đương

sự không chứng minh được về mối quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ

công dân của mình đối với hệ thống pháp luật được yêu cầu thì pháp luật Việt

Nam được áp dụng

2.2.4 Quy định về năng lực chủ thể của pháp nhản nước ngoài

Định nghĩa “pháp nhãn nước n g o à i” cho đên nay chỉ được đê cập tại

khoản 5 Điều 3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP của Chính phủ như sau: “Pháp

nhân nước n g o à i” là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài

Khoản 4 Điều 3 Nghị định này quy định thêm: “Cơ quan, tổ chức nước n g o à i”

là các cơ quan, tổ chức không p h ả i là cơ quan, tô chức Việt Nam được thành lập

theo pháp luật nước ngoài, bao gồm cả cơ quan, tổ chức quốc tế được thành lập

theo pháp ỉuật quốc tế ”

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được quy định tại

Điều 765 Bộ Luật Dân sự 2005 và cụ thể hóa tại Điều 10 Nghị định

138/2006/NĐ-CP Điều 765 Bộ Luật Dân sự quy định :

“ I Năng lực p h á p luật dân sự của p h á p nhân nước ngoài được xác định

theo pháp luật của nước nơi p h á p nhân đó được thành lập, trừ trường hợp quy

định tại khoản 2 Đ iều này.

2 Trong trường hợp p h á p nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác

định theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ”

Như vậy, trừ trường hợp ngoại lệ nêu ở khoản 2 Điều 765, BLDS đã sử

dụng nguyên tắc luật nơi pháp nhân thành lập để xác định năng lực pháp luật

dân sự của pháp nhân nước ngoài Khoản 2 Điều 765 BLDS quy định rõ đối với

pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì

Trang 30

năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân đó được xác định theo pháp luật Việt Nam (mà không tuân theo luật nơi thành lập pháp nhân), cụ thê là quy định của BLDS, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp v.v và các văn bản pháp luật khác

lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đổi với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đ ó Điều

đó có nghĩa rằng, pháp luật Việt Nam sẽ quyết định vấn đề tổ chức, cá nhân nước ngoài có thể có quyền sở hữu đối với loại tài sản nào trên lãnh thổ Việt Nam? quyết định cơ sở phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu cũng như nội dung và phạm vi thực hiện quyền sở hữu của họ đối với tài sản đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam Mặt khác, pháp luật và thực tiễn của Việt Nam cũng thừa nhận quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng như tố chức, cá nhân Việt Nam đối với những tài sản tồn tại ở nước ngoài nếu quyền đó hình thành trên cơ sở pháp luật nước ngoài nơi có tài sản đó Khi tài sản đó được đưa vào Việt Nam một cách hợp pháp thì Việt Nam vẫn thừa nhận quyền sở hữu của các chủ tài sản đó Tuy nhiên, về nội dung, phạm vi của quyền sở hữu trong trường hợp này, phải do pháp luật Việt Nam qui định (pháp luật của nước nơi tài sản đang tồn tại) Nguyên tắc luật nơi có tài sản cũng được pháp luật Việt Nam áp

dụng để định danh tài sản Theo khoản 3 Điều 766 BLDS 2005 thì “v/ệc phân

Trang 31

biệt tài sản là động sản hoặc bât động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi cỏ tài sản

Mặc dù nguyên tắc luật nơi có tài sản là nguyên tắc chủ đạo trong giải quyết xung đột pháp luật từ quyền sở hữu tài sản, song cũng có những ngoại lệ

Theo khoản 2 Điều 766 của BLDS 2005 thì: “Quyền sở hữu đối với động sản

trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, nếu không có thoả thuận k h á c Như vậy pháp luật Việt Nam

áp dụng hệ thuộc luật của nước nơi tài sản được chuyển đến hoặc hệ thuộc luật

do các bên thoả thuận lựa chọn để xác định quyền sở hữu đối với tài sản trên đường vận chuyển (quá cảnh), trên cơ sở ưu tiên áp dụng trước hệ thuộc luật do các bên thoả thuận

Đối với các trường hợp liên quan đến máy bay, tàu biển, theo khoản 4 của

Điều 776 BLDS 2005 thì “v/ệc xác định quyền sở hữu đổi với tàu bay dân dụng

và tàu biển tại Việt Nam p h ả i tuân theo pháp luật về hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Cụ thể, theo

khoản 1 Điều 4 Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 thì: “Pháp luật

của quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay được áp dụng đổi với quan hệ xã hội

p h á t sinh trong tàu bay đang bay và áp dụng đ ể xác định các quyền đổi với tàu

b a y ” Điều 3 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 qui định rằng “trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đên quyền sở hữu tài sản trên tàu biển'’'' thì

pháp luật được chọn để áp dụng là “luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ

quốc tịch Như vậy đối với các quan hệ sở hữu và các quan hệ tài sản trong lĩnh

vực hàng không dân dụng và hàng hải quốc tế, hệ thuộc luật nơi có tài sản không đư?c áp dụng mà chủ yếu là áp dụng các hệ thuộc luật quốc kỳ, hoặc hệ thuộc luậ nơi đăng ký quốc tịch Ngoài ra, hệ thuộc luật nơi có tài sản cũng không đuạc áp dụng để điều chỉnh các quan hệ sở hữu phát sinh trong một số lĩnh vực rhư: các quan hệ về tài sản của pháp nhân nước ngoài khi pháp nhân đó

bị giải thè, phá sản; các quan hệ về tài sản liên quan đến các tài sản của quốc gia đang tồn tại ở nước ngoài; các quan hệ về sở hữu đổi với các đối tượng của

Trang 32

quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài; các quan hệ liên quan tới tài sản là đối tượng của đạo luật về quốc hữu hoá.

2.2.6 Quy định về thừa kế có yếu tố nước ngoài

Pháp luật Việt Nam lần đầu tiên đã ghi nhận các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Điều 767 (thừa kế theo pháp luật) và Điều 768 (thừa kế theo di chúc) của BLDS 2005

Đối với thừa kế theo pháp luật, về nguyên tắc chung, pháp luật Việt Nam

sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế trước khi chết đê

điều chỉnh Khoản 1 Điều 767 BLDS 2005 qui định: "Thừa kế theo pháp luật

phải tuân theo p h á p luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khỉ chết" Còn đối với trường hợp thừa kế đối với di sản là bất động sản

thì cũng giống với hầu hết pháp luật các nước, Việt Nam sử dụng hệ thuộc luật

nơi có bất động sản Khoản 2 Điều 767 BLDS 2005 qui định: “Quyền thừa kế

bất động sản p h ả i tuân theo p h á p luật của nước nơi có bất động sản đó

Đối với việc thừa kế theo di chúc, pháp luật Việt Nam qui định hai vấn đề chính: năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc và hình thức của di chúc (Điều 768 BLDS 2005) về năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc thì

sẽ áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của người lập di chúc (khoản 1 Điều 768

luật nơi lập di chúc (khoản 2 Điều 768 BLDS 2005) Đổi với di sản không có người thừa kế, pháp luật Việt Nam xác định quyền sở hữu của Nhà nước đối với

di sản không có người thừa kế tại các khoản 3, 4 Điều 767 BLDS 2005 Theo

đó, pháp luật Việt Nam dựa vào việc sử dụng kết hợp hệ thuộc luật nơi có bất động sản và luật quốc tịch của người để lại di sản Khoản 3, 4 Điều 767 BLDS

2005 qui định: di sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về Nhà nước nơi có bât động sản đó, còn di sản không có người thừa kế là động sản thì thuộc

về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết

Trang 33

2 2 7 Quy định về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tổ nước ngoài

Trong thời đại “bùng nổ thông tin” như hiện nay, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã và đang trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với các cá nhân, tổ chức cũng như các quốc gia Tuy nhiên, khác với quyền sở hữu đối với các tài sản hữu hình, quyền sở hữu trí tuệ mang tính chất lãnh thổ Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trên cơ sở pháp luật của quốc gia nào thì sẽ chỉ được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó, trừ trường hợp được bảo hộ theo các điều ước quốc tế hữu quan Vì vậy, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam sẽ căn cứ trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt N am là thành viên Tại BLDS 2005, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài đã được quy định tại Điều 774, Điều 775 và Điều 776 Các quy định trên đã đưa ra các điều kiện để người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Cụ thể, theo Điều 774 BLDS 2005, quyền tác giả của người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam nếu thuộc hai trường hợp sau:

- Người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có tác phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam (chưa công bố ở đâu trên thế giới), hoặc người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam

- Người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố, sử dụng tại Việt N am trên cơ sở điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam kí kêt hoặc tham gia, không phụ thuộc vào việc có công bố tác phẩm lần đầu tiên tại Việt Nam hay không

Trong khi đó, theo Điều 775 BLDS 2005, Nhà nước CHXNCN Việt Nam

đã chính thức ghi nhận việc bảo hộ quyên sở hữu công nghiệp, quyền đối với giông cây trông cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam, trong hai trường hợp:

Người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có đôi tượng sở hữu công nghiệp, giông cây trông được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp văn

Trang 34

bằng bảo hộ Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các đối tượng phải được

cấp văn bằng bảo hộ thì quyền sở hữu công nghiệp mới phát sinh, bao gồm:

sáng chế kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, nhãn hiệu, chỉ

dẫn địa b Đối với giống cây trồng, để được bảo hộ, nhà tạo giống phải được cơ

quan có tnẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ Để được cấp văn bàng bảo hộ thì các

đổi tượng đó phải đáp ứng các điều kiện bảo hộ được quy định trong pháp luật

Việt N an cũng như điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

- Người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có đối tượng sở hữu công nghiệp, gióng cây trồng được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận

bảo hộ Quy định này chỉ đúng với quyền sở hữu công nghiệp Đây là các đối

tượng của quyền sở hữu công nghiệp mà việc bảo hộ không cần phải thông qua

việc cấp vin bằng bảo hộ, bao gồm: bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng, tên

thương mậ

Khcng chỉ quy định điều kiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của người nước

ngoài, phập nhân nước ngoài tại Việt Nam, BLDS 2005 còn đưa ra cơ sở pháp lý

để bảo hộ các quyền này, đó là trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam là

thành viêr và pháp luật Việt Nam Theo đó, quyền tác giả, quyền sở hữu công

nghiệp cũig như quyền đổi với giống cây trồng của người nước ngoài và pháp

nhân nước ngoài tại Việt Nam sẽ được nhà nước Việt Nam bảo hộ trên cơ sở các

điều ước ỊUốc tế về quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với

giống câytrồng mà Việt Nam là thành viên mà tiêu biểu là một số điều ước quốc

tế như: C')ng ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật (Việt Nam than gia năm 2004), Công ước Rome 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất lản ghi âm và tổ chức phát sóng (Việt Nam tham gia năm 2007), Công ước Paris 1883 về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Việt Nam tham gia năm 1981), Tloả ước Madrid 1891 vê đăng kí quốc tế đối với nhãn hiệu hàng hoá (Việt Nan tham gia năm 1981), Nghị định thư Madrid (1989) liên quan đến Thoả ướcMadrid (Việt Nam tham gia năm 2006), Hiệp định TRIPs 1994 - Hiệp

Trang 35

định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Việt Nam tham gia năm 2007).

Ngoài ra, quyền sở hữu trí tuệ của người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam còn được bảo hộ trên cơ sở các quy định hiện hành của Việt Nam, bao gồm các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 (từ Điều 736 đến Điều 750); quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), các văn bản pháp luật khác có liên quan

Vấn đề chuyển giao công nghệ có yếu tố nước ngoài cũng đã được điều chỉnh tại Điều 776 BLDS 2005 Theo đó, việc chuyến giao nói trên sẽ phải tuân theo:

- Thứ nhất, các quy định của pháp luật CHXHCN Việt Nam về chuyển giao công nghệ, mà trước tiên là các quy định tại Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006, Chương XXXVI về “Chuyển giao công nghệ” ; các Điều từ 754 đến Điều 757 của BLDS 2005 và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về vấn

đề này

- Thứ hai, các quy định của các điều ước quốc tế về chuyển giao công

nghệ mà CHXHCN Việt Nam là thành viên

- Thứ ba, pháp luật của nước ngoài, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của

việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

v ề cơ bản, nội dung của các quy định về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài tại phần thứ 7 BLDS 2005 là phù hợp với đặc điểm, tính chất của quyền sở hữu trí tuệ, phù họp với điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội của Việt Nam cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế

2.2.8 Quy định về hợp đồng dân sự có yếu tổ nước ngoài

Tiến trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ đã khiến các quan hệ hợp đồng

có yếu tổ nước ngoài tăng lên đáng kể Chính yếu tố nước ngoài trong quan hệ họp đồng dân sự và sự khác nhau trong quy định pháp luật các nước về tính hợp pháp của một họp đồng đã làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật từ quan

hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài Điều này đặt ra yêu cầu cần phải lựa

Trang 36

chọn pháp luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tổ nước ngoài

trong quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ này Tại Việt Nam,

những nguyên tắc lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng dân sự

có yếu tố nước ngoài đã được ghi nhận từ Điều 769 đến Điều 772 Bộ luật dân sự

2005 Nội dung của các điều luật này được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung

các quy định trước đây của BLDS 1995 Cụ thể là:

- Nguyên tắc xác định luật áp dụng đối với nội dung của hợp đồng

Xuất phát từ nguyên tắc tự do họp đồng, các bên tham gia hợp đồng có

quyền thỏa thuận mọi vấn đề liên quan đến nội dung hợp đồng, trong đó bao

gồm cả việc lựa chọn pháp luật để giải quyết tranh chấp phát sinh từ nội dung

của hợp đồng Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận,

luật áp dụng cho nội dung của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài trước tiên

là luật do các bên tham gia quan hệ họp đồng thỏa thuận.11 Nguyên tắc đó cũng

đã được thừa nhận trong pháp luật Việt Nam, mà cụ thể là tại Điều 769 BLDS

2005 Đoạn 1 khoản 1 Điều 769 BLDS 2005 quy định rõ: “Quyền và nghĩa vụ

của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện

hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác Như vậy, theo quy định của pháp

luật Việt Nam hiện hành, cơ sở đầu tiên để xác định luật áp dụng cho quyền và

nghĩa vụ của các bên trong họp đồng là sự thỏa thuận của các bên tham gia quan

hệ hợp đồng Tuy nhiên, quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng của các bên bị

hạn chế theo đoạn 2 khoản 1 và khoản 2 Điều 769 BLDS 2005, đó là khi “hợp

đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải

tuân theo pháp luật Việt Nam ” và “Hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt

Nam phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngoài ra, việc áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn để điều chỉnh nội

dung của hợp đồng phải đảm bảo rằng, việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp

dụng đó “không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam ” và

11 Điều 1 - 3 0 1 (c)(2) ucc, Điều 41 Luật của C H D C N D Trung Hoa về áp dụng pháp luật trong quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Nghị định Rome 1 (Rom e I Regulation) 2008.

Trang 37

“nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này (BLDS 2005) và các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ”L

Trong trường hợp không có sự thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng đê giải quyết các tranh chấp về nội dung hợp đồng giữa các bên tranh chấp, pháp luật của đại đa số các nước và các điều ước quốc tế đều cho phép các cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ lựa chọn luật áp dụng trên cơ sở các nguyên tắc của tư pháp quốc tế như: luật nơi thực hiện hợp đồng, luật nước người bán, luật có mối quan

hệ chặt chẽ nhất với họp đồng.13 Theo đoạn 2 khoản 1 Điều 769 BLDS Việt

Nam năm 2005: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định

theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác ” và “ Trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thục hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ” Như vậy, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam khi giải quyết các

tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ sử dụng hệ thuộc luật nước nơi thực hiện hợp đồng trong trường hợp không có thỏa thuận về luật áp dụng để giải quyết nội dung tranh chấp

- Nguyên tắc xác định luật áp dụng đối với hình thức của hợp đồng Điều 770 BLDS 2005 đã quy định về nguyên tắc xác định luật áp dụng đối vói hình thức của họp đồng theo hệ thuộc luật nơi giao kết họp đồng như

sau: “Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết

hợp đ o n g ” Bên cạnh đó, Điều 770 có quy định thêm: “Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước đó, nhung không trái với quy định về hình thức họp đồng heo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng ĩược giao kết ở nước ngoài đỏ vẫn được công nhận tại Việt Nam” Quy

định rày đã mở rộng phạm vi hiệu lực về hình thức hợp đồng, không những tạo điều Hện cho các giao dịch dân sự quốc tế phát triển mà còn góp phần ngăn

12 Đoạn 2 Khoản 3 Điều 759 BL D S 2005.

ThS Bành Quốc Tuấn - Xác định luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Itạ Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, số 04 thána 04/2010 - Tạp chí Phát triển và Hội nhập.

Trang 38

chặn sự lạm dụng vấn đề hợp đồng vô hiệu về hình thức mà một trong các bên

cố tình tạo ra

Đối với các họp đồng dân sự có liên quan đến bất động sản, theo khoản 2

Điều 770 BLDS 2005: “Hĩnh thức hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hoặc

chuyển giao quyền sở hữu công trình, nhà cửa và các bât động sản khác trên lãnh thỏ Việt Nam p h ả i tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ”

Trong quá trình giao kết hợp đồng dân sự, đặc biệt là các họp đồng dân sự

có yếu tố nước ngoài, có nhiều trường họp, các bên tham gia họp đồng không có điều kiện gặp nhau để trực tiếp đàm phán về các điều khoản của hợp đồng cũng như kí kết hợp đồng Tuy nhiên, với sự bùng nổ của khoa học công nghệ, đặc biệt

là công nghệ thông tin, các bên có thể thể hiện ý chí của mình trong việc xác lập quan hệ hợp đồng thông qua các phương tiện như thư từ, điện tín, email v.v mà không cần trực tiếp gặp nhau Đối với những trường hợp giao kết họp đồng dân

sự vắng mặt như vậy, có hai vấn đề cần điều chỉnh đó là, thời điểm giao kết hợp đồng và nơi giao kết hợp đồng Để giải quyết xung đột pháp luật về thời điểm giao kết và nơi giao kết hợp đồng trong trường họp hợp đồng dân sự có yểu tố nước ngoài được giao kết vắng mặt, pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 771 BLDS 2005 như sau: “Trong trường hợp giao kết hợp đồng vắng mặt thì việc xác

định nơi giao kết hợp đồng p h ả i tuân theo pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi cỏ trụ sở chỉnh của pháp nhân là bêu đề nghị giao kết hợp đồng ”

và “Thời điểm giao kết hợp đồng vắng mặt được xác định theo pháp luật của

nước của bên đề nghị giao kết hợp đồng nếu bên này nhận được trả lời chấp nhận của bên được đề nghị giao kết hợp đồng Như vậy, pháp luật được áp dụng để xác

định nơi giao kết họp đồng dân sự vắng mặt là pháp luật của nước bên đề nghị giao kết họp đồng cư trú đối với cá nhân và có trụ sở chính đối với pháp nhân Để xác định thời điểm giao kết hợp đồng, pháp luật được áp dụng là pháp luật của nước của bên đề nghị giao kết họp đồng nếu bên này nhận được trả lời chấp nhận của bên được đề nghị giao kết hợp đồng

Trang 39

Tưyng tự như quy định về giao kết họp đồng dân sự vắng mặt có yếu tô nước ngcài, Bộ luật dân sự năm 1995 không quy định về giao dịch dân sự đơn phương 3Ộ luật dân sự năm 2005 đã bổ sung vấn đề này tại Điều 772 như sau:

“Trong quan hệ giao dịch đơn phương, quyền và nghĩa vụ của bên tự nguyện thực hiện quan hệ giao dịch đơn phương được xác định theo pháp luật của nước nơi cư trú hoặc nơi có hoạt động chính của bên đó ” Quy định trên cho thây hệ

thuộc luật nơi cư trú hoặc luật nơi có hoạt động chính của bên tự nguyện thực hiện giac dịch đơn phương được dùng để giải quyết xung đột pháp luật về giao dịch dân sự đơn phương có yếu tố nước ngoài

2.2.9 Quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cỏ yếu tố nước ngoài

BTTH ngoài hợp đồng là một trong những chế định quan trọng trong ngành luật dân sự của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, khi các giao lưu dân sự đang diễn ra ngày càng đa dạng và phức tạp giữa các chủ thể ở các quổc gia khác nhau thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có yếu tổ nước ngoài đã trở thành một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của Tư pháp quốc tế Đe điều chỉnh trách nhiệm BTTH r.goài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, Tư pháp quốc tế trên thế giới thường sử dụng một số hệ thuộc sau :

- Laật nơi xảy ra hành vi vi phạm

- Laật nơi phát sinh hậu quả của hành vi vi phạm

- Liật nhân thân trong đó bao gồm luật quốc tịch và luật nơi cư trú

Trong đó, luật nơi xảy ra hành vi vi phạm “lex loci delỉcti C om m issi” được

sử dụng phổ biến hơn cả Bởi vì hệ thuộc luật này có ưu điểm nổi bật là đơn

giản, dỉ áp dụng, chắc chắn và có thể dự tính trước trong việc xác định trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.114

,41 s N guyễn H ồn g Bắc, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Luật Hà Nọi “T R Á C H NHIỆM D Â N s ự DO TÀI S AN GÂY THIỆT H/.I - V Á N Đ Ề LÝ L U Ậ N V À TH ỤC TIEN”, Năm 2009.

Trang 40

Tại Việt Nam, vân đê trách nhiệm bôi thường thiệt hại ngoài hợp đông

được quy định tại Điều 773 BLDS 2005 v ề nguyên tắc chung, “Việc bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy

ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi p h á t sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt

h ạ i” (khoản 1 Điều 773) Bên cạnh nguyên tắc chung, BLDS 2005 cũng quy

định một số ngoại lệ của nguyên tắc xác định luật áp dụng trong quan hệ BTTH ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài tại khoản 2, khoản 3 Điều 773 Bộ luật dân

sự năm 2005 như sau:

- BTTH ngoài họp đồng có yếu tố nước ngoài do tàu bay, tàu biển gây ra ở

không phận quốc tế hoặc biển cả “được xác định theo pháp luật của nước mà

tàu bay, tàu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp pháp luật về hàng không dân dụng và p h á p luật về hàng hải của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác” Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 quy định: “Pháp luật qucc gia nơi xảy ra tai nạn do tàu bay va chạm hoặc gây cản trở nhau, do tàu bay đang bay gây thiệt hại cho người thứ ba ở mặt đất được áp dụng đổi với việc bồi thường thiệt hại 15 Như vậy, theo quy định của Luật hàng không dân

dụng V ệt Nam, hệ thuộc luật nơi xảy ra tai nạn dùng để giải quyết xung đột pháp luát đổi với các trường họp BTTH ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài do tàu bay gây ra

Ngoài ra, Bộ luật hàng hải năm 2005 quy định: “Trong trường hợp quan hệ

pháp luât liên quan đến tai nạn đâm va, tiền công cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm xảy ra tại nội thuỷ hoặc lãnh hải của quốc gia nào thì áp dụng pháp luật của quóc gia đó Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm

va hoặc cứu hộ xảy ra ở biển cả thì áp dụng pháp luật của quắc gia mà Trọng tài hoặc Toà án của quốc gia đầu tiên đã thụ lý giải quyết tranh chấp.

Tru'ờng hợp tai nạn đâm va xảy ra ở biên cả hoặc trong nội thuỷ, lãnh hải của qucc gia khác giữa các tàu biên có cùng quôc tịch thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch ”

15 Khoản 4 Điều 4 Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006

Ngày đăng: 28/07/2019, 18:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w