Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với NTD không chỉ được đề cập trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm ph
Trang 2B ộ T ư PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
ĐÈ TÀI
TRÁCH NHIỆM CỦA TỎ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH TRONG VIỆC BẢO VỆ
QUYÈN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Mã số: LH - 2015 - 413/ĐHL - HN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: THS, GVC HOÀNG MINH CHIÉN
THƯ KÝ ĐẺ TÀI : ThS Nguyễn Ngọc Quyên
Trang 3NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TH ỤC HIỆN ĐÈ TÀI
Chủ nhiệm đề tài: ThS, GVC HOÀNG MINH CHIẾN
Trường Đại học Luật Hà Nội Các tác giả chuyên đề khoa học:
1 PGS, TS Nguyễn Thị Vân Anh & ThS Nguyễn Ngọc Quyên
(Trường Đại học Luật Hà Nội)
7 ThS.GVC Hoàng Minh Chiến & ThS Nguyễn Ngọc Quyên
8 ThS.Hồ Tùng Bách
(Cục Quản lý cạnh tranh)
Chuyên đề 8
9 ThS.Cao Xuân Quảng
10 ThS Phạm Quế Anh
(Văi phòng CUTS Hà Nội)
Chuyên đề 10
11 ThS, GVC Hoàng Minh Chiến & ThS Phạm Phương Thảo
& ThS Trần Thị Phương Liên
(Truông Đại học Luật Hà Nội)
Chuyên đề 11
Trang 4HĐTM, ĐKGDC Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
Thiương nhân Tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
VINASTAS Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng
Việt Nam
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I: TỐNG THUẬT KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÈ TÀI
"TRÁCH NHIỆM CỦA TỎ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT • • • •VIỆT N AM ” 1•
P H Ầ N II: C Á C C H U Y Ê N Đ Ề N G H I Ê N c ứ ư 54
Chuyên đề 1: TỒNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA TÓ CHỨC, CÁ NHÂNKINH DOANH TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI 54NGƯỜI TIÊU DÙNG 54Chuyên đề 2: c ơ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHÚC, CÁ NHÂN KINH DOANH TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢINGƯỜI TIÊU DỪNG 65Chuyên đề 3: TRÁCH NHIỆM CỦA TỒ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANHTRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG 72Chuyên đề 4^TRÁCH NHIỆM CỦA TỒ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH
• TRONG VIỆC CƯNG CẤP BẰNG CHỨNG GIAO DỊCH CHO NGƯỜI TĨÊƯ
DỪNG 88Chuyên đề 5: TRÁCH NHẸM CỦA TỒ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANHTRONG VIỆC BẢO HÀNH HÀNG HOÁ, LINH KIỆN, PHỤ KIỆN 105Chuyên đề 6: TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH TRONG VIỆC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THEO MẪU, ĐIỀU KIỆN GIAODỊCH CHUNG 123Chuyên đề 7: TRÁCH NHỆM SẢN PHẨM CỦA TỒ CHỨC, CÁ NHÂN KINHDOANH 143Chuyên đề 8: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ x ử LÝ ĐỐI VỚI T ồ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH KHI VI PHẠM TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ QUYỀN LỢINGƯỜI TIÊU DỪNG 159Chuyên đề 9: THựC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH TRONG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 182
Trang 6Chuyên đề 10: KINH NGHIỆM QƯỒC TẾ VÈ TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ
CHÚC, CÁ NHÂN KINH DOANH TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIỂU DÙNG 219Chuyên đề 11: MỘT SÓ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ TĂNG CƯỜNG THựC THI PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA TÓ CHỨC, CÁ NHÂN KINHDOANH TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DỪNG 234
TÀI LIỆU THAM KHẢO 256
Trang 7PHẦN I TÓNG THUẶT KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÈ TÀI
"TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYÊN LỌÌ NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM"
1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng (NTD) luôn đóng vai trò trung tâm Khi đã nhìn nhận vấn đề NTD là trung tâm của nền kinh tế, tức là hàng hóa dịch vụ của thương nhân đưa ra luôn đặt ra mục tiêu là hướng tới sự tiêu thụ, sử dụng của NTD và NTD sẽ đem lại lợi nhuận cho thương nhân khi chi trả tiền cho hàng hóa dịch vụ họ sử dụng Ngoài việc thu lợi nhuận chính đáng khi kinh doanh của thương nhân, thì trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của họ cũng luôn phải đặt lên hàng đầu Quan hệ giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (thương nhân) là một loại quan hệ dân sự phổ biến trong xã hội Chúng được thiết lập, thực hiện và bảo vệ theo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là nguyên tắc tự do thỏa thuận và nguyên tắc bình đẳng Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa NTD và tổ chức cá nhân kinh doanh, NTD thường ở vị trí yếu thế hơn về mặt kiến thức pháp lý, sự hạn chế về thông tin chuyên sâu so với tổ chức, cá nhân kinh doanh Trong khi
đó lợi nhuận luôn là mục tiêu cao nhất và cuối cùng của bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh nào Việc theo đuổi mục tiêu này khiến nhiều doanh nghiệp bỏ qua những quyền lợi của người tiêu dùng Đây là mặt trái của kinh tế thị trường đồng thời là mặt trái của hội nhập kinh tế quốc tế khi áp lực cạnh tranh gay gắt ngày càng tăng buộc doanh nghiệp phải tính đến mọi phương cách nhằm tối đa hóa lợi nhuận bất chấp cả việc vi phạm thô bạo đến quyền lợi chính đáng thậm chí gây nguy hại đến tính mạng và sức khỏe của NTD Hơn nữa, sự vi phạm này ngày càng tinh vi, phức tạp làm cho NTD khó nhận biết và phòng tránh Thực tế
ở Việt Nam trong thời gian qua cũng đã minh chứng cho điều này, như: nước
Trang 8tương của 17 nhà sản xuât nước tương bât châp lương tâm đã vượt quá hàm lượng cho phép đối với chất 3-MCPD - một chất có nguy cơ gây ra ung thư cho người sử dụng, vụ sữa bột pha thành sữa tươi, các vụ ngộ độc nghiêm trọng do
ăn phải các chất độc có trong thực phẩm, rau quả là những ví dụ điển hình trong nước Không những thế NTD Việt Nam còn phải chịu hậu quả của các doanh nghiệp làm ăn không chân chính từ nước ngoài như sữa bột nhiễm melamin, hoa quả bảo quản bằng các chất độc hại của Trung Quốc
Trước những nguy cơ tiềm ẩn như vậy, cần có một cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi NTD bằng việc gắn trách nhiệm của thương nhân đối với sự an toàn của các sản phẩm mà họ sản xuất hay cung ứng Vì thế, trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân kinh doanh chính là một chế định pháp lý không thể thiếu để bảo vệ lợi ích của NTD, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa thương mại như hiện nay Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đã quan tâm xây dựng chế định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh từ những thập kỷ 60 của thế kỷ trước Ở Việt Nam, chế định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đang còn là một chế định pháp luật tương đối mới, tuy vậy Pháp luật bảo vệ NTD Việt Nam thời gian qua đã và đang dành sự quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện chế định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh Đặc biệt là sau khi Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 được Quốc hội thông qua, chế định trách nhiệm của tổ chức cá nhân kinh doanh đã thực sự được coi là một chế định pháp
lý không thể thiếu trong hệ thống pháp luật bảo vệ NTD Việt Nam Tuy nhiên,
so với yêu cầu về thực tiễn, Pháp luật bảo vệ NTD Việt Nam vẫn chưa thực sự
đủ mạnh để có thể trấn áp được các hành vi vi phạm đang diễn ra ngày càng nhiều và phổ biến như hiện nay Do vậy, việc hoàn thiện chế định trách nhiệm của tổ chức cá nhân kinh doanh trong pháp luật bảo vệ NTD Việt Nam là một yêu cầu hết sức cấp thiết
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài:
“Trách nhiệm của tồ chức, cá nhăn kinh doanh trong việc bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam ” là rất cần thiết để lý giải cơ sở lý luận và thực
tế, nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó đưa ra một số
Trang 9giải pháp đảm bảo thực thi trách nhiệm bảo vệ NTD của tố chức, cá nhân kinh doanh theo pháp luật bảo vệ người tiêu dùng.
Mặt khác, những nghiên cứu của đề tài này cũng rất thiết thực cho việc giảng dạy các vấn đề quyền của NTD và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD, một trong những nội dung quan trọng của môn học Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi NTD tại trường Đại học Luật Hà Nội
1.2 Tình hình nghiên cứu
Sau một thời gian tương đối dài tìm hiểu tình hình nghiên cứu các vấn đề
về trách nhiệm bảo vệ NTD của tổ chúc, cá nhân kinh doanh theo pháp luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam, chúng tôi nhận thấy trong các công trình khoa học đã được công bố hầu như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề này
Có thể kể đến một số một số đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ tư pháp, của Trường Đại học Luật nghiên cứu cơ chế bảo vệ người tiêu dùng trong đó có
đề cập đến trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh Đó là:
- Viện nghiên cứu khoa học pháp lí - Bộ tư pháp, ‘Trác/ỉ nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp - công cụ pháp lí bảo vệ người tiêu dừng”, Đe tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ, Lê Hồng Hạnh (chủ nhiệm), Hà Nội, 2010
- Viện nghiên cứu khoa học pháp lí - Bộ tư pháp, “Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dừng ở Việt Nam ”,
Đe tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Nguyễn Thị Vân Anh (chủ nhiệm), Hà Nội, 2014
- Trường Đại học Luật Hà Nội, “Nghiên cứu pháp luật về quyền được cung cắp thông tin và bảo vệ thông tin của người tiêu dùng ở Việt Nam ”, Đe tài
nghiên cứu khoa học cấp trường, 2013
Ngoài ra, vấn đề về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh còn được
đề cập rải rác tại các bài báo, bài tạp chí như:
- "Một sổ vấn đề về luật trách nhiệm sản phẩm cộng đồng chung Châu Âu", Nguyễn Am Hiểu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2010, tr.43-45.
- 'Trách nhiệm nghiêm ngặt và miễn, giảm trách nhiệm trong pháp luật về trách nhiệm sản phẩm'', Phạm Thị Phương Anh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
Trang 10số 10/2010, tr.26-33.
- "Một sổ vấn đề chung về chế định trách nhiệm sản phảm và vai trò của chế định này dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng", Trần Thị Quang Hồng -
Trương Hồng Quang, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2010, tr.25-34
- "Pháp luật trách nhiệm sản phâm của Canada", Trương Hồng Quang,
1.3 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh ;
- Làm sáng tỏ thực trạng pháp luật và thực tiễn về trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh ở Việt Nam;
- Đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện cơ sở trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh đáp ứng yêu cầu hội nhập
1.4 Nội dung, phạm vi nghiên cứu của Đe tài
- Cơ sở lý luận về vấn đề trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam
- Thực trạng pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam;
- Kinh nghiệm các nước trong việc thừa nhận và bảo đảm thực hiện trách nhiệm hảo vệ người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, đề tài này không có tham vọng nghiên cứu tất cả các khía cạnh chính trị, kinh tế mà tập
Trang 11trung nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của tố chức, cá nhân kinh doanh Ngoài ra, còn nghiên cún pháp luật bảo
vệ người tiêu dùng về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh của một số quốc gia khác từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đe đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng rộng rãi các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:
Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp luật so sánh
Phương pháp thống kê
1.6 Lực lượng tham gia đề tài
Các cộng tác viên tham gia nghiên cứu đề tài là những giảng viên của Trường Đại học Luật Hà Nội, các nhà khoa học thuộc các cơ quan nghiên cứu như: Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Viện Nhà nước và Pháp luật Ngoài
ra còn có chuyên viên của Cục Quản lý cạnh tranh và chuyên gia của Văn phòng CUTS Hà Nội Đó là những người có nhiều năm làm công tác giảng dạy, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực bảo vệ NTD ở Việt Nam (có danh sách kèm theo)
1.7 Quá trình nghiên cứu
Sau khi ký hợp đồng nghiên cứu khoa học với Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên đã thống nhất cách thức thực hiện đề tài và phân công nghiên cứu các chuyên đề cụ thể Đe tài được đánh giá là khó, không nhiều tài liệu tham khảo nên các cộng tác viên cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình triển khai nghiên cứu Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, Chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên thường xuyên trao đổi với nhau để cùng làm rõ những vấn đề còn khúc mắc
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành thu thập tài liệu và thực hiện nhiều cuộc khảo sát như phỏng vấn thăm dò ý kiến của một số cán bộ Ban bảo vệ NTD của Cục quản lí cạnh tranh, một số chuyên gia pháp
Trang 12luật của Bộ Tư pháp, Viện Nhà nước và pháp luật và một số hội viên của Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam Trên cơ sở tài liệu thu thập và kết quả khảo sát, các cộng tác viên tiến hành viết chuyên đề của đề tài.
2.1.1 Khái niệm về người tiêu dùng
Dưới giác độ kinh tế, NTD (consumer) là một khái niệm chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế NTD là người mua nhưng khác với
việc mua nguyên liệu hoặc mua hàng đế bán lại, họ là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó Dưới giác độ này, khái niệm NTD khác xa so với khái niệm người mua hàng (customer) Khái niệm người mua hàng rộng hơn so với khái niệm NTD, người mua hàng là bất cứ ai mua hàng hóa, dịch vụ nhằm bất cứ mục đích gì Dưới giác độ kinh tế, NTD là mọi chủ thể (cá nhân, tổ chức) tiêu thụ hàng hóa cho mục đích tiêu dùng không phải cho mục đích kinh doanh kiếm lời
Dưới giác độ pháp lý, việc xác định chủ thể nào là NTD rất quan trọng vì
đó là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD Khái niệm NTD chỉ xuất hiện với tư cách là chủ thể pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ NTD ra đời \
Theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ thể luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân bán hàng hóa, dịch vụ
Sở dĩ, NTD được ưu tiên so với thương nhân trong quan hệ tiêu dùng bởi họ có nhiều yếu thế hơn như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu về khả năng đàm phán khi giao kết hợp đồng, yếu về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng Bởi vậy, dưới giác độ pháp lý việc xác định chủ thể nào là NTD
và là đối tượng được bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD có vai trò vô cùng quan trọng
Trang 13Luật pháp của đa số các nước trên thế giới quy định, NTD chỉ là các cá nhân và không coi tổ chức là NTD Các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ mà
tổ chức tham gia mặc dù đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng
sẽ được bảo vệ theo pháp luật hợp đồng chứ không được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD2
Ở Việt Nam, khái niệm NTD được thừa nhận trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 và tiếp tục ghi nhận trong Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 Hai văn bản pháp luật này đều quy định: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiếu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình,
tổ chức”
Như vậy có thể thấy, so với pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam có sự mở rộng hơn Ngoài đối tượng là các cá nhân được pháp luật bảo vệ như thông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam còn coi các tổ chức cũng là NTD khi tổ chức đó mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng
Hiện nay, việc xác định tổ chức nói chung và thương nhân nói riêng có được coi là NTD hay không là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng khi tổ chức (trong đó có thương nhân) mua hàng hóa không nhằm mục đích bán lại được coi là NTD Có ý kiến phản đối cho rằng trong mọi trường họp thương nhân mua hàng hóa, dịch vụ đều là những hành vi thương mại phụ thuộc, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của thương nhân nên đều phải được điều chỉnh theo pháp luật hợp đồng thương mại chứ không được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD3 Nhóm tác giả nghiên cứu đề tài này đồng tình với ý kiến thứ 2, do đó theo chúng tôi NTD chỉ là cá nhân và tổ chức không có chức năng kinh doanh
2.1.2 Khải niêm, đăc điểm trách nhiêm của tồ chức, cả nhàn kinh doanh đối với ngirời tiêu dùng
Trách nhiệm là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
2 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, Nxb Công an nhân dân, 2012, tr 11
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, tr 14
Trang 14Theo cách hiểu thông thường thể hiện trong từ điển tiếng Việt, “Trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”4.
Dưới giác độ pháp lý, khái niệm trách nhiệm pháp lý, hiện nay còn nhiều tranh luận khác nhau Có ý kiến cho rằng, trách nhiệm pháp lý bao gồm hai loại trách nhiệm, trách nhiệm theo nghĩa tích cực và trách nhiệm theo nghĩa tiêu cực5 Trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tích cực là sự tự giác, chủ động của chủ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý phù hợp với yêu cầu của pháp luật cả
về nội dung, hình thức và đem lại những kết quả khả quan, tích cực cho đời sống
xã hội Cũng có ý kiến cho rằng, trách nhiệm pháp lý chủ yếu được hiểu theo
nghĩa tiêu cực, theo đó: “trách nhiệm pháp lý là sự bắt buộc phải gánh chịu hậu quá pháp lý bất lợi do có hành vi vi phạm pháp luật”6 Theo nghĩa này trách
nhiệm pháp lý luôn gắn liền với việc sự cưỡng chế của nhà nước
Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm trách nhiệm pháp lý, tuy nhiên, có thể hiểu trách nhiệm pháp lý là những ràng buộc mà chủ thể pháp luật phải tuân thủ và gắn liền với việc áp dụng các chế tài do pháp luật quy định khi chủ thể đó có hành vi vi phạm pháp luật
Trong quá trình hoạt động, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ7
K tham gia vào nhiều quan hệ pháp lý khác nhau nên cũng phải thực hiện nhiều loại trách nhiệm trong các lĩnh vực khác nhau như trách nhiệm về thuế, trách nhiệm về chứng từ, trách nhiệm về bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có trách nhiệm đối với NTD Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với NTD không chỉ được đề cập trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
4 Xem: Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), Nxb Đà Nằng và Trung tâm từ điển tiếng Việt, 1997, tr 985
5 Xem: Lê Vương Long (chù biên) “Trách nhiệm pháp lý một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay” NXB Công an nhân dân, 2008, tr 9.
6 Xem Nguyễn Thị Hồi “Những nội dung căn bàn cùa môn học lý luận nhà nước và pháp luật” NXB Tư pháp,
2010, tr 445 Xem Bộ tư pháp- Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật hoc, Nxb từ điển bách khoa và Nxb tư pháp,
2 0 0 6 tr 803
1 Tổ chức kinh doanh là những tổ chức được thành lập nhàm mục đích kinh doanh bao gồm: doanh nghiệp tư
nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, các hợp tác xã
8 Cá nhân kinh doanh bao gồm cả những cá nhân có đăng ký kinh doanh và cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh như người bán hàng rong, làm dịch vụ thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh.
Trang 15nhau Vì vậy, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không đưa ra một khái niệm chung về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng mà chỉ quy định các trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng.
Theo quan điểm ở trên về trách nhiệm pháp lý thì có thể hiểu rằng, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng là nghĩa vụ mà
tỏ chức, cá nhân kinh doanh phải có bổn phận tuân thủ theo quy định của pháp luật đối với người tiêu dùng Trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ các trách nhiệm đổi với người tiêu dùng thì phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
đối với NTD là loại trách nhiệm được pháp luật quy định, thể hiện thái độ của nhà nước trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD
Thứ hai, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh phát sinh trong mối
quan hệ với NTD
Thứ ba, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có
xu hướng bất lợi đổi với tổ chức, cá nhân kinh doanh và tùy thuộc vào hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh mà họ phải chịu các chế tài khác nhau
Thứ tư, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD được
điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau
2.1.3 Cơ sở lý luận của việc xác định trách nhiệm của tổ chức, cả nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ra đời làm thay đổi những nguyên tắc truyền thống của luật dân sự khi áp dụng đối với các giao dịch mang tính tiêu
Trang 16dmg Bên cạnh việc quy định thêm cho người tiêu dùng những quyền không có tpng quan hệ dân sự truyền thống, lĩnh vực pháp luật này cỏn ràng buộc thương mân thêm những trách nhiệm mới Thay vì thuần túy thực hiện nghĩa vụ đã thỏa tluận trong hợp đồng, các thương nhân còn phải gánh chịu những trách nhiệm vri NTD cho dù giữa họ và NTD không tồn tại những giao dịch trực tiếp Cơ sở cia sự ràng buộc trách nhiệm này, cũng như cơ sở cho sự ra đời của Luật bảo vệ qiyền lợi người tiêu dùng, được dựa trên các vấn đề chính trong giao dịch dân
Sĩ của tô chức, cá nhân kinh doanh với NTD:
Thứ nhất, sự bất cân xứng thông tin giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh
VI người tiêu dùng;
Thứ hai, chênh lệch khả năng đàm phán giữa các bên;
Thứ ba, khác biệt về khả năng gánh chịu rủi ro từ quá trình tiêu dùng
i Thông tin bất cân xứng
Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Iníòrmation) xuất hiện vào niững năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hên đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là Gsorge Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng được trao giải Nobel knh tế học Đây là trạng thái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin - giữa các chủ trê giao dịch có mức độ nắm giữ thông tin không ngang nhau Một người sẽ có ứông tin nhiều hơn so với người khác về đối tượng được giao dịch Điều này tdín tới nhiều hệ lụy xấu, có hại cho thị trường
Trường hợp thông tin không được công bố đủ để người mua hiểu một cách X1C thực, đầy đủ và kịp thời, họ có thể chấp nhận giao dịch theo hướng lựa chọn
tĩii với ý muốn (adverse selectỉon) thực sự của họ là mua được hàng tốt và giá
<CÍ phải chăng Hậu quả là người bán cũng không còn động lực để sản xuất hàng
<ec giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp hơn chất lixmg trung bình trên thị trường Điều này có hại cho sự phát triển của thị Itriơng và nền kinh tế nói chung
Trong trường hợp thông tin bị giấu diếm bởi bên bán, nó cũng đem lại kết qiả tương tự và những suy thoái đạo đức kinh doanh (moral hazard) sẽ xảy ra
Trang 17Người mua tin tưởng vào người bán, còn ngưòi bán hình thành động cơ làm lợi cho mình bất chấp hậu quả gây thiệt hại cho bên mua Ngoài nhũng tác hại về vật chất của người mua, giấu diếm thông tin cũng gây tổn hại cho thị trường.Đối phó với tình trạng thông tin bất cân xứng, các nhà kinh tế học cho rằng
cẩn hai biện pháp là báo tin và dò tin.
Báo tin (screening) là hoạt động của người bán, tức của bên có thông tin
Họ sẽ phải cung cấp thông tin về sản phẩm từ nguồn gốc xuất xú, thành phần cấu tạo, cách thức sử dụng, những tác dụng phụ hoặc rủi ro khi sử dụng sản phấm cho đến các thông tin liên quan đến bản thân doanh nghiệp sản xuất như tên gọi, địa chỉ, lĩnh vực hoạt động, tính họp pháp của việc sản xuất hoặc phân phối,
Dò tin (signaling) là hoạt động của người mua, họ có thể tự mình tìm hiểu
hoặc thông qua các thực thể trung gian để lấy thông tin về hàng hóa, dịch vụ cũng như thông tin về nhà cung cấp
Trước thành tựu này của kinh tế học, giới lập pháp dường như tự tin hon
trong việc xác định nghĩa vụ báo tin của bên bán đối với hàng hóa, dịch vụ, các
nhán kinh doanh trong trường hợp này còn được hiểu là sự đáp ứng các quyền
về thông tin của NTD Minh bạch thông tin là nghĩa vụ, trách nhiệm của tất các các thương gia, đặc biệt khi nó liên quan đến hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng Theo
đó, công khai thành phần nguyên liệu, nguồn gốc xuất xứ, hướng dẫn sử dụng với những cảnh báo rủi ro chi tiết được xác định là trách nhiệm của người sản xuất, phân phối Đương nhiên, nếu một vụ việc được chỉ ra là bị che giấu thông tin, người sản xuất, phân phối phải chịu trách nhiệm bồi thường theo pháp luật bảc vệ người tiêu dùng
Thông thường, các trách nhiệm này của thương nhân gồm các lĩnh vực: Thông tin chất lượng sản phẩm, hàng hoá
Trình bày nhãn mác đúng quy cách, không gây nhầm lẫn
Thông tin hướng dẫn sử dụng, điều kiện bảo quản, hạn sử dụng
Cảnh báo các rủi ro hư hỏng hoặc biến chất hoặc gây tai nạn cháy, nổ, phít tán chất độc
Trang 18Thông tin bảo hành, đổi trả sản phẩm.
ii Chênh lệch khả năng đàm phán
Trong luật học, kinh tế và khoa học xã hội, “chênh lệch khả năng đàm phán” là khái niệm chỉ trường hợp một bên trong một cuộc mặc cả có nhiều hơn các lựa chọn thay thế và tốt hơn so với bên kia Điều này dẫn đến tình trạng một bên có quyền lực lớn hơn hơn các bên khác để có thể chọn ký hoặc không ký kết Điều này làm cho một bên sẽ đạt được điều kiện thuận lợi hơn trong giao dịch so với phía bên kia Chênh lệch khả năng đàm phán thường làm cho tự do hợp đông bị méo mó, tạo ra sự phân biệt đối xử, và dẫn đến các thất bại thị trường
“Chênh lệch khả năng đàm phán” thường xuất hiện trong những điều kiện sản xuất lớn, cung cấp dịch vụ hàng loạt Các hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được biên soạn kỹ lưỡng nhằm tránh mất thời gian đàm phán đối với các giao dịch giổng nhau Hiển nhiên, kết quả đạt được từ việc cắt giảm này thông qua việc biên soạn các điều kiện giao dịch chung đã được chứng minh, đặc biệt trong ngành tài chính, bảo hiểm và ngân hàng Tuy nhiên, có một khía cạnh khác mà ngày càng trở nên quan trọng là hợp đồng theo mẫu thường được
sử dụng bởi các doanh nghiệp có khả năng thương lượng mạnh mẽ Bên yếu thế, đang có nhu cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ, thường xuyên không ở trong một vị trí để có thể mua của nhà cung cấp khác với các điều kiện tốt hơn, hoặc là vì tác giả của các hợp đồng theo mẫu có vị trí độc quyền hoặc bởi vì tất cả các đối thủ cạnh tranh đều sử dụng các điều khoản tương tự
Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh vì vậy sẽ phải nêu đầy
đủ các điều khoản bắt buộc về hàng hóa, dịch vụ từ số lượng, chất lượng, đơn vị tính, đơn vị thanh toán Mọi trường hợp ép buộc, áp đặt bên kia sẽ bị coi là vi phạm nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện của hợp đồng và có thể bị tòa án tuyên là
vô hiệu
Đối với các điều kiện giao dịch chung, hợp đồng theo mẫu đều phải trình bày minh bạch, dễ hiểu và được kiểm soát bởi cơ quan nhà nước, hội dân sựhoặc tòa án theo các hình thức đăng ký, phê chuẩn hoặc kiện dân sự
Trang 19iii Khác biệt về khả năng gánh chịu rủi ro
Sự ra đời của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng được nhiều học giả cho
rằn;g, nó là sự họp lý hóa giữa bất đổi xứng thông tin và chênh lệch khả năng
đànn phán giữa các bên Tuy vậy, ngoài việc khắc phục bất đối xứng thông tin và
nguiy cơ lạm dụng quyền lực đàm phán, không ai phủ nhận rằng, việc xử lý rủi
ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm giữa người tiêu dùng và thương nhân luôn
có sự chênh lệnh mà nguyên nhân của nó không phải lúc nào cũng do thiếu
thôiĩig tin hoặc bất cân xứng về khả năng đàm phán Đó là rủi ro về an toàn trong
sử dụng sản phẩm, rủi ro về xử lý, giải quyết tranh chấp khi có sản phẩm lỗi, hư
hỏng hoặc gây thiệt hại ngoài ý muốn
Trách nhiệm sản phẩm là một quy định có tính đặc thù của pháp luật bảo
vệ người tiêu dùng trong thế kỷ XX Theo đó những người chịu trách nhiệm đối
với khuyết tật của sản phẩm tiêu dùng có thể không phải là người gây ra khuyết
tật đó nhưng có tham gia vào chuỗi hoạt động đưa sản phẩm đến tay người tiêu
dùng Đó có thể là nhà sản xuất, người đại lý, người vận chuyển hoặc người bán
lẻ Hầu hết các nước trên thế giới đều có luật trách nhiệm sản phẩm nằm trong
hoặc độc lập với luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trong việc giải quyết tranh chấp, bên cạnh việc giảm nhẹ gánh nặng cho
NTD trong xử lý rủi ro trong quá trình sử dụng sản phẩm như giảm nhẹ nghĩa vụ
chứng minh tới mức đảo nghĩa vụ, nhà làm luật các nước đều quy định tổ chức,
cá nhân kinh doanh phải chứng minh điều ngược lại với cáo buộc của NTD Họ
phải chứng minh không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi sản xuất,
cung cấp hàng hóa, dịch vụ với những thiệt hại của NTD hay chứng minh mình không có lỗi trong việc gây ra các khuyết tật của sản phẩm
Trường hợp không thể chứng minh được mình được miễn trách nhiệm, họ phải chịu trách nhiệm đối với những cáo buộc của nguyên đơn về khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ mà mình đã sản xuất, thiết kế hoặc cung cấp
2.1.4 Các loai trách nhiêm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng
Trang 20Đây là nội dung đặc thù của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Ngoài những nghĩa vụ theo thỏa thuận và được điều chỉnh bởi các ngành luật tư thì người cung cấp, hàng hóa, dịch vụ cho NTD phải gánh chịu thêm nhiều íỊghĩa vụ mang tính hành chính do pháp luật quy định để đảm bảo cho quyền lợi của NTD Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ngoài việc được quy định tại nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau thì đã điược Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 khái quát lại ở những trách nhiệm cơ bản nhất tại Chương II như sau:
/ Trách nhiệm cung cấp thông tin cho người tiêu dùng: Theo hướng dẫn
của Liên hiệp quốc, quyền được cung cấp thông tin là một trong tám quyền cơ bản của NTD Thông tin là một trong những yếu tố mà NTD quan tâm nhất khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng được định hướng đế giảm thiểu sự "bất đổi xứng về mặt thông tin của người tiêu dùng" NTD cần có những thông tin cơ bản nhất về hàng hóa, dịch vụ như: nguồn gốc xuất xứ, giá cả, chất lượng, tính năng, bảo hành, phương thức thanh toán cũng như về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó như: địa điểm kinh doanh, địa điểm thực hiện việc bảo hành, sửa chữa hàng hóa Tuy nhiên, NTD khó có thể tiếp cận được những thông tin này do những hạn chế về
độ chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn cũng như phương tiện để thực hiện, trừ khi được thương nhân cung cấp thông tin cho Vì vậy, việc quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân kinh doanh là cần thiết và là một trong những nghĩa vụ cơ bản nhất, quan trọng nhất trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
ii Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch: Bằng chứng giao dịch là
hình thức ghi nhận giao dịch giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh khi mua,
sử dụng hàng hóa dịch vụ Bằng chứng giao dịch có thể là hợp đồng, có thể là hóa đơn thanh toán hoặc bất kỳ tài liệu, chứng từ nào có liên quan để ghi nhận
m ột giao dịch đã được xác lập Bằng chứng giao dịch không chỉ để xác nhận
m ột giao dịch NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh mà còn là chứng cứ quan
Trang 21trpng đê NTD có thê thực hiện việc khiêu nại, khởi kiện trong trường hợp có h?nih vi vi phạm quyền lợi của mình.
Ui Trách nhiệm trong việc thực hiện họp đồng theo mẫu, điều kiện giao
luợng khách hàng lớn đã lựa chọn giải pháp là đưa ra các quy định, hợp đồng mẫu, điều kiện bán hàng áp dụng cho tất cả khách hàng của mình Do NTD không được trực tiếp đàm phán, thỏa thuận các điều khoản trong các hợp đồng theo mẫu cũng như phải chấp nhận các điều kiện giao dịch chung một cách bị đóng nên trong nhiều trường hợp NTD gặp rất nhiều rủi ro Mặc dù, Bộ luật dân
sự năm 2005 hay Bộ luật dân sự 2015 đã có những quy định về hợp đồng theo mẫu tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế khi áp dụng đối với NTD do đó Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã kịp thời bổ sung những quy định về trach nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc thực hiện hợp đồng theo
mẫu, điều kiện giao dịch chung như tại Điều 16 quy định về Điểu khoản của hợp đong giao kết với người tiêu dùng, điều kiện giao dịch chung không cỏ hiệu lực
đó là các hợp đồng, các điều kiện giao dịch chung có nội dung xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng hay quy định về nghĩa vụ đăng ký hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành 9
iv Trách nhiệm bảo hành hàng hoá, linh kiện, phụ kiện: thông thường, khi
chào bán hàng hóa, tổ chức, cá nhân kinh doanh luôn đưa ra những cam kết, hứa hẹn hấp dẫn về chế độ bảo hành Tuy nhiên, khi đã xác lập giao dịch và phát sinh nghĩa vụ bảo hành thì không phải lúc nào tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng thực hiện cam kết một cách nghiêm túc Nhiều trường hợp, tổ chức, cá nhân kinh doanh tìm mọi cách để từ chối nghĩa vụ bảo hành hoặc đổ lỗi cho NTD và tìm lý do khác để trốn tránh nghĩa vụ bảo hành hoặc cố tình trì hoãn việc bảo hành hoặc thực hiện việc bảo hành nhiều lần làm cho NTD chán nản và từ bỏ việc bảo hành Vì vậy Điều 21 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
Trang 22đã quy định vê trách nhiệm của tô chức, cá nhân đôi với việc bảo hành hàng hóa, linh kiện tạo cơ sở pháp lý vũng chắc cho việc bảo vệ NTD.
hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp có những khuyết tật, kể cả trong trường hợp người này không có lỗi đối với những khuyết tật đó Đáng lưu ý là, việc đảo ngược nghĩa vụ chứng minh lỗi, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chứng minh mình không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại Trường họp không thể chứng minh được mình được miễn, họ phải chịu trách nhiệm đối với những cáo buộc của NTD về khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ mà mình đã sản xuất, thiết kế hoặc cung cấp Trách nhiệm này được thể hiện trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 ở hai khía cạnh đó là: Trách nhiệm thu hồi hàng hoá có khuyết tật ( Điều 22) và Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá có khuyết tật gây
ra (Điều 23,24) Hàng hoá có khuyết tật nếu được lưu hành rộng rãi có thể gây
ra thiệt hại rất lớn cho người tiêu dùng cả về sức khoẻ, tính mạng cũng như tài sản do đó cần phải được thu hồi, sửa chữa và nếu đã gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải kịp thời bồi thường nhằm bù đắp những tổn hại gây ra cho NTD
2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
2.2.1 Khái quát quá trình phát triển quy định về trách nhiệm của tồ chức, cá nhăn kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trách nhiệm bảo vệ quyền lợi NTD không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân NTD, của các cơ quan Nhà nước, của toàn xã hội mà còn là trách nhiệm riêng của các tổ chức, cá nhân kinh doanh đã được pháp luật quy định Tuy nhiên, vấn đề này chỉ bắt đầu nhận được sự quan tâm từ khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 ra đời
bảo vệ quyền lợi NTD đã được đề cập đến trong Luật thương mại 1997 tại Điều
9 và Bộ luật dân sự 1995 Tuy nhiên, các quy định về trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân kinh doanh còn rất hạn chế, nằm rải rác, đồng thời chưa có biện pháp bảo đảm thực hiện trên thực tế Hai văn bản này đề cập đến trách nhiệm cung
Trang 23cấp thông tin nhưng không quy định rõ phải cung cấp thông tin gì, hay đề cập đến trách nhiệm sản phẩm của thương nhân nhưng chưa quy định rõ sản phẩm nào, hàng hoá có khuyết tật là gì, quy định về hợp đồng theo mẫu nhưng chỉ dừng lại ở khái niệm.
* Từ năm 1999 đến năm 2010:
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi NTD lần đầu tiên được quy định tại một chương (chương III) trong văn bản pháp luật là Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 Theo đó, dù chưa quy định đầy đủ nhưng về vấn đề cung cấp thông tin được quy định tại Điều 15, trách nhiệm sản phẩm tại Điều 14, trách nhiệm bảo hành hàng hoá tại Điều 16, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá có khuyết tật gây ra tại Điều 17.Bên cạnh những quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm
1999, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh với việc bảo vệ quyền lợi NTD còn được đề cập gián tiếp trong các quy định của Bộ luật dân sự 2005 về chất lượng của vật mua bán10, nghĩa vụ bảo hành n , nghĩa vụ cung cấp thông tin12, các quy định về hợp đồng, bồi thường thiệt hại Ngoài ra trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với việc bảo vệ quyền lợi NTD còn được quy định nằm rải rác trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như: Luật giao dịch điện tử 2005, Luật Điện lực 2004, Luật chất lượng sản phẩm hàng hoá 2007, Luật Viễn thông 2009
* Từ năm 2010 đến nay:
Ngày 17/11/ 2010 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được Quốc hội thông qua thay thế cho Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 và Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật này tiếp tục quy định bổ sung các nội dung cụ thể, chi tiết liên quan đến trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD như: bổ sung các loại trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân kinh doanh (Trách nhiệm trong việc thực hiện Hợp đồng theo
10 Điều 430 Bộ luật dân sự 2005
11 Điều 445 Bộ luật dân sự 2005
12 Điều 442 Bộ luật dân sự 2005
Ị TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯƠNG ĐAI H0C LUAT HA NỌI PHÒNG ĐỌC - 3 3 4
Trang 24mẫu và điều kiện giap dịch chung; Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch ); chế tài xử lý hành vi phạm khi tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm các nghĩa vụ phải thực hiện đối với NTD.
Khác với các lĩnh vực khác lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD có nội hàm rất rộng, liên quan đến hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Chính vì vậy, hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD trong đó có trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD cũng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Như vậy, ngoài các quy định của Luật bảo vệ quyền lợi NTD, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá đối với NTD còn được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác như: Luật giá 2012, Luật Quảng cáo 2012, Luật Bưu chính 2010, Luật điện lực sủa đổi bổ sung 2012, Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật các nghị định, thông tư hướng dẫn những Luật trên như:
Nghị định 177/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật giá
Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 11 năm
2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD
Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định 02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yểu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18 tháng 6 năm 2014 ban hành mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành nhằm hướng dẫn cụ thể các nội dung được giao trong Luật
2.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm của thương nhăn trong việc bảo vệ quyền lợi NTD
Pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh
doanh trong việc bảo vệ quyền lợi NTD tập trung quy định các nội dung cơ bản
sau:
Trang 25Thứ nhảt, quy định cụ thê trách nhiệm của tô chức, cá nhân kinh doanh
đối với NTD từ điều 12 đến điều 23 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010, chi tiết
từng hành vi như sau:
- Quy định về trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch
Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch là một chế định trách nhiệm hết sức đặc biệt trong Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 Cụ thể, tại Khoản 1
Điều 20 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 quy định như sau: “Tổ chức, cá nhân kỉnh doanh hàng hoá, dịch vụ có trách nhiệm cung cấp cho người tiêu dùng hóa đơn hoặc chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch theo quy đinh của pháp luật hoặc theo yêu cầu của người tiêu dùng Như vậy có thể thấy Luật bảo vệ quyền
lợi NTD 2010 đã quy định một cách hết sức linh hoạt trong vấn đề trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch của tổ chức cá nhân kinh doanh Tuy nhiên quy định tại Điều 20 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 cũng không nêu rõ người tiêu dùng có quyền yêu cầu ngay khi giao dịch, hay trước và sau khi giao dịch
họ vẫn có quyền yêu cầu cung cấp bằng chứng giao dịch cho mình
- Quy định trách nhiệm của tổ chức cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
Theo đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm phải cung cấp những thòng tin sau cho NTD:
(i) Trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa
Việc ghi nhãn hàng hóa ngoài quy định khoản 1 Điều 12 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 còn được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 89/2006/NĐ-CP của Chính phủ về nhãn hàng hóa Có thể thấy, nhãn hàng hóa là một trong các yếu tố quan trọng mà NTD cần nắm bắt được trước khi quyết định mua hoặc sử dụng hàig hóa, trên nhãn hàng hóa có chứa các thông tin như tên hàng hóa, tên và địa chi của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, xuất xứ của hàng hóa.(ii) Trách nhiệm niêm yết giá hàng hóa dịch vụ
Khoản 2 Điều 12 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 quy định các tổ chức
cá nhân kinh doanh phải niêm yết công khai giá hàng hoá, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ
Trang 26(iii) Trách nhiệm cảnh báo hàng hóa.
Cảnh báo khả năng hàng hoá, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của NTD và các biện pháp phòng ngừa được quy định tại khoản 3 Điều 12 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 Do NTD thường không có
đủ trình độ chuyên môn để nhận thức được những nguy hiểm mà sản phẩm họ mua mang lại
(iv) Trách nhiệm cung cấp thông tin về khả năng thay linh, phụ kiện
Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của
hàng hoá được quy định tại khoản 4 Điều 12 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 Sửa chữa, thay thế linh, phụ kiện là vấn đề thường phát sinh sau khi NTD đã mua và sử dụng sản phẩm được một thời gian Trong trường họp hàng hóa của NTD khi bị hỏng hóc không có linh kiện để thay thế thì hàng hóa đó sẽ không còn đáp ứng được nhu cầu sử dụng của NTD
(v) Trách nhiệm cung cấp thông tin về hướng dẫn sử dụng và bảo hành sản phẩm hàng hóa
Hướng dẫn sử dụng là thông tin vô cùng quan trọng đối với NTD, vì có được hướng dẫn, NTD mới có thể khai thác triệt để các tính năng, công dụng của sản phẩm, đồng thời tránh những thiệt hại có thể gây ra đối với NTD do
sử dụng sản phẩm sai cách Bên cạnh đó, đối với các sản phẩm được bảo hành thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp đầy đủ thông tin về bảo hành như điều kiện để được bảo hành
(vi) Trách nhiệm cung cấp thông tin về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
Thông báo chính xác, đầy đủ cho NTD về họp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch là quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010
hòng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
Để đảm bảo tốt nhất quyền được cung cấp thông tin của NTD, ngoài quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, Luật
Trang 27báo vệ quyền lợi NTD 2010 còn quy định thêm cả trách nhiệm của bên thứ ba
trong việc cung cấp thông tin đến NTD Nhằm bảo vệ triệt để quyền lợi của
NTD, Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 đã quy định về trách nhiệm của bên thứ
b a trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD tại Điều 13 bao
gồm hai trường hợp: trường hợp thông thường khi tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ cung cấp thông tin cho NTD thông qua bên thứ ba thì bên thứ
ba có các trách nhiệm như bảo đảm cung cấp chính xác, đầy đủ thông tin; yêu
cầu thương nhân cung cấp chứng cứ chứng minh tính chính xác, đầy đủ của
thông tin và chịu trách nhiệm liên đới về việc thông tin không chính xác, không
đầy đủ về hàng hoá, dịch vụ và trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hơá, dịch vụ cung cấp thông tin cho NTD thông qua phương tiện truyền thông thì
chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông ngoài những
trách nhiệm như của bên thứ ba, còn có các trách nhiệm đặc thù khác như:
+ Xây dựng, phát triển giải pháp kỹ thuật ngăn chặn việc phương tiện,
dịch vụ do mình quản lý bị sử dụng vào mục đích quấy rối NTD;
+ Từ chối cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ sử dụng
phương tiện, dịh vụ do mình quản lý nếu việc sử dụng có khả năng dẫn đến
quẩy rối NTD;
+ Ngừng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ sử dụng
phương tiện, dịch vụ do mình quản lý để thực hiện hành vi quấy rối NTD theo
yêu cầu của NTD hoặc yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung
v ề trách nhiệm của thương nhân trong việc thiết lập HĐTM, ĐKODC với
NTD Vấn đề hình thức của HĐTM, ĐKGDC được quy định theo Luật BVNTD
201 o 13 và quy định chi tiết hơn tại Điều 7 Nghị định 99/2011/NĐ-CP Theo đó,
HĐTM phải được lập thành văn bản và phải đáp ứng đủ các điều kiện: ngôn
n g ữ sử dụng bằng Tiếng Việt, nội dung phải rõ ràng, dễ hiểu; cỡ chữ ít nhất là
12; nền giấy và màu mực thể hiện nội dung HĐTM phải tương phản với nhau
Trang 28Như vậy, Luật BVNTD 2010 đã có những bước tiến lớn so với Pháp lệnh BVQLNTD 1999 cũng như Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh khi quy định khá chi tiết về hình thức của HĐTM, ĐKGDC.
v ề trách nhiệm của thương nhân trong việc thực hiện HĐTM, ĐKGDC
BLDS 2005 và Luật thương mại điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể đệc lập, bình đẳng với nhau về mặt pháp lý Thương nhân có nghĩa vụ phải thòng báo đầy đủ, chính xác cho NTD về HĐTM, ĐKGDC 14
- Quy định về trách nhiệm bảo hành hàng hoá , linh kiện , phụ kiện của thsơng nhân đối với người tiêu dùng.
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo hành hàng hcá, linh kiện phụ kiện được quy định ở khá nhiều các văn bản luật như Bộ luật dân sự, Luật chất lượng sản phẩm hàng hoá, Luật thương mại, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản dưới luật khác Tuy nhiên, khi đi sâu vào vấn đề nghĩa vụ bảo hành thì điều 21 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là điều luật quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo hành hàng hoá, linh kiện, phụ kiện rõ ràng và cụ thể nhất Điều này có nghĩa rằng thương nhân có trách nhiệm phải thực hiện đúng theo quy định của
đi ỉu luật này Các quy định đều mang tính chất hướng dẫn quy tắc ứng xử của
tổ chức, cá nhân kinh doanh trong quá trình bảo hành với NTD như phải thực hiẹn nghĩa vụ bảo hành, việc chịu chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hoá linh kiạn, phương thức đổi hàng hoá linh kiện, các trường họp không khắc phục đvợc lỗi
- Quy định về trách nhiệm sản phẩm của tổ chức, cá nhân kinh doanh:
Trách nhiệm sản phẩm được quy định tại các điều 22, 23 và 24 của LuậtBíO vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, bao gồm: trách nhiệm thu hồi hàng hoá
cc khuyết tật, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá có khuyết tật gây ra,
m ễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá có khuyết tật gây ra
i) Trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam không dựa trên yếu tố lỗi, hay còn
g ậ là trách nhiệm nghiêm ngặt, trách nhiệm này đưa ra cơ chế bảo vệ người tiêu
Trang 29dùng một cách hiệu quả nhất bởi vì theo trách nhiệm này, doanh nghiệp sẽ phải chiịu trách nhiệm hoàn toàn đối với sản phẩm khuyết tật của mình kể cả khi họ không có lỗi gây ra khuyết tật.
ii) Đe xác định doanh nghiệp có phải chịu trách nhiệm sản phấm haykhông, ta cần xác định được sản phẩm ở đây là những sản phẩm nào Theo quy định tại Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, chỉ những hàng hơá có khuyết tật mới là đối tượng của trách nhiệm sản phẩm Như vậy, phạm vi đối tượng áp dụng trách nhiệm sản phẩm chỉ bao gồm hàng hoá mà không bao gồm dịch vụ Ngoài ra, quy định trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2Ơ10 là tất cả các loại hàng hoá, không loại trừ bất kỳ hàng hoá nào, đều có thể
là đối tượng áp dụng của trách nhiệm sản phẩm, chỉ cần hàng hoá đó có khuyết tật gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng, bao gồm ba loại khuyết tật: khuyết tật
do thiết kế; khuyết tật trong quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ vàkhuyết tật do cảnh báo không đầy đủ
iii) Chủ thể chịu trách nhiệm: Theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
2010 thì trách nhiệm sản phẩm áp dụng với các chủ thể sau:
+ Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa;
+ Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa;
+ Tổ chức, cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãnhiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất,nhập khẩu hàng hóa;
+ Tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa có khuyết tật cho ngườitiêu dùng trong trường hợp không xác định được tổ chức, cá nhân có tráchnhiệm bồi thường thiệt hại bên trên
Việc khuyết tật của hàng hoá xuất hiện ở khâu nào của chuỗi quy trình sản xuất, cung ứng đến tay NTD, lỗi của chủ thể nào, người tiêu dùng không cần biết đến mà chỉ cần đòi bồi thường thiệt hại theo thứ tự nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, người bán trực tiếp Giả sử NTD đòi bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất nhưng lỗi gây ra khuyết tật là của bên tổ chức, cá nhân phân phối thì nhà sản xuất có thể đòi bồi hoàn khoản đã bồi thường cho người tiêu dùng từ tổ chức, cá
Trang 30nhân phân phổi Việc phân định trách nhiệm giữa các chủ thể, ai là người thực
sự phải bồi thường thiệt hại sẽ được giải quyết ở một vụ kiện khác, không liên quan tới NTD
Thứ hai, quy định về chế tài và thiết chế xử lý đối với hành vi vi phạm
pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với NTD
Khi quyền lợi của NTD bị xâm phạm do tổ chức, cá nhân kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ của mình thì cần phải có các biện pháp xử phạt để răn đe các tố chức, cá nhân vi phạm và biện pháp thường được sử dụng đó là biện pháp xử phạt hành chính.Theo đó, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP và Nghị định 124/2015/NĐ-CP
(sủa đổi, bổ sung một sổ điều của nghị định 185/2013/NĐ-CP) quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD đã chính thức thay thế cho Nghị định số 19/2012/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD.Tại Điều 1 Nghị định số 185/2015/NĐ-CP đã quy định cụ thể về phạm vi
áp dụng của Nghị định này, theo đó, đổi với các hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực chuyên ngành như giá, quảng cáo thương mại thì sẽ được xem xét xử lý theo các văn bản xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tương ứng Ví dụ, hành
vi vi phạm về niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ sẽ xem xét xử lý theo Nghị định 109/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá (mặc dù hành vi vi phạm về giá có thể được xem xét theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP với khía cạnh là trách nhiệm cung cấp thông tin cho NTD)
Cũng theo Nghị định này đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, tổ chức,
cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền Và mức phạt tiền tối đa mà tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chịu đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD là 100.000.000 đồng So với Nghị định 19/2012/NĐ-CP, mức phạt tiền tối đa tại Nghị định 185/2013/NĐ-CP đã được nâng lên mức 100.000.000 đ (tăng 30.000.000 đ so với mức cũ là 70.000.000đ)
Trang 31Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tô chức, cá nhân vi phạm hàn h chính còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung như;: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; Tịch thu tang vật, phưrcmg tiện được sử dụng để vi phạm hành chính Hay các tố chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả tùy từng hành vi vi phạm.
Xử lý các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD quy định tại Nghị định 185/2013/NĐ-CP tương đổi bao quát các hành vi vi phạm theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi NTD Nhìn chung mới chỉ tập trung vào các vi phạm về cung cấp thông tin, bảo hành hàng hoá, về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chưng, đối với hàng hoá có khuyết tật
Quy định về chế tài xử lý hành vi vi phạm quyền lợi NTD nói chung và về
xử phạt các tổ chức, cá nhân kinh doanh khi xâm phạm quyền lợi của NTD là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật bảo vệ NTD giúp NTD khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp cũng như góp phần răn đe các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với NTD Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khi các tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm nghĩa vụ này, thiết chế nào có thể xử lý hành vi vi phạm và ra quyết định áp dụng chế tài mà pháp luật quy định
Có thể khẳng định, theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 và trong một số đạo luật chuyên ngành, việc bảo đảm thực thi các quy định này thuộc trách nhiệm trước hết của các cơ quan quản lý nhà nước trong các ngành
và lĩnh vực được phân công phụ trách Ví dụ, trong lĩnh vực về tài chính, tín dụng, bảo hiểm, công việc thực thi pháp luật trước hết thuộc về các đơn vị hữu quan trong Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.Trong lĩnh vực y tế, trách nhiệm bảo đảm thực thi pháp luật trước hết thuộc về Bộ Y tế và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế tại địa phương
Trong lĩnh vực khác, từ Điều 100 đến Điều 104 Nghị định 185/2013/NĐ-
CP cũng như Nghị định 124/2015/ NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều đều quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính đối với hành vi của các tổ chức, cá nhân
Trang 32kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các trách nhiệm pháp
luật quy định đối với NTD thuộc về Chủ tịch ƯBND các cắp /5(mức xử phạt tối
đa của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là 100.000.000 đồng); Quản lý thị trường
/ố(mức xử phạt tối đa của Chi cục trưởng Chi cục quản lý thị trường là
50.000.000 đồng); Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Thanh tra chuyên ngành17 Như vậy, Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan
giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Tuy nhiên, hiện tại, Cục lại không có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra
và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD Theo Nghị định cũ số 19/2012/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ NTD thì, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh có thẩm quyền: (ỉ) Phạt cảnh cáo; (2) Phạt tiền đến 70.000.000 đồng; (3) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền phải chăng đây là bước thụt lùi
so với Nghị định cũ? Thực tế cho thấy đây là một thiếu sót cơ bản dẫn tới việc
cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD cấp trung ương nhưng lại không có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực phụ trách
Như vậy, có thể thấy rằng, theo quy định có việc một ioại hành vi vi phạm
có thể thuộc thẩm quyền xử lý của nhiều cơ quan khác nhau như vừa nêu chưa hẳn đã là giải pháp hợp lý Nếu các cơ quan hữu quan không có sự phối, kết hợp với nhau thật tốt hoặc sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn một cách rõ ràng, có thể sẽ dẫn tới tình trạng chồng chéo và buông lỏng trận địa đấu tranh phòng chống vi phạm
2.2.3 Thực trạng thi hành pháp luật về trách nhiệm của tồ chức, cả nhăn kinh doanh đối với người tiêu dùng ở Việt Nam
Thực thi tốt pháp luật về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh
trong việc bảo vệ quyền lợi NTD đem lại những lợi ích sau trong công tác bảo
vệ NTD: (i) giúp NTD mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu
của mình; (ii) giúp tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh; (iii)
15 Điều 101 Nghị định 185/2013/NĐ-CP
16 Điều 102 Nghị định 185/2013/NĐ-CP
17 Điều 103 Nghị định 185/2013/NĐ-CP
Trang 33giúp cơ quan quản lý nhà nước tăng cường bảo vệ NTD trong hoạt động quản lý của mình.
Quá trình thực thi pháp luật về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh dcanh trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam đã bước đầu đạt đuợc một số thành công như: (i) Các quy định về trách nhiệm của tổ chức cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp bằng chứng giao dịch bắt đầu được thực hiện (ii) Hoạt động kiểm soát họp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung, nghĩa vụ bảo hành thương nhân được tăng cường quản lý; (iii) Đồng thời nghĩa
vụ của tổ chức cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng từng bước được quản lý chặt chẽ
Ví dụ : * Đối với việc thực hiện trách nhiệm thu hồi hàng hoá có khuyết tật: Việc thực hiện thu hồi hàng hoá có khuyết tật được tiến hành đối với các loai hàng hoá phát sinh khuyết tật từ thiết kế, do đó thiệt hại mà hàng hoá gây ra đối với người tiêu dùng có thể rất lớn nếu không kịp thời được nhà sản xuất tiến hàih thu hồi lại Các doanh nghiệp rất quan tâm đến việc thu hồi hàng hoá có khuyết tật do lo sợ vấn đề chi phí bồi thường thiệt hại cho NTD Con sổ vụ việc thu hồi hàng hoá có khuyết tật do Cục quản lý cạnh tranh, Bộ công thương từ 6
vụ năm 2013 đã tăng lên 19 vụ năm 2014 và năm 2015
* Đối với việc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá có khuyết tật gây ra: Các vụ việc khiếu nại của NTD gửi đến cho Cục quản lí cạnh traih liên quan đến chất lượng của sản phẩm đã tăng lên đáng kể, từ năm 2013
là 200 vụ, đến năm 2014 là 1000 vụ và cho đến năm 2015 đã là hơn 10000 vụ Gop phần vào việc tăng số lượng vụ việc khiếu nại của người tiêu dùng đến Cục quản lí cạnh tranh chính là việc đưa vào hoạt động Tổng đài hỗ trợ người tiêu dìng (Call center) của Cục từ tháng 3 năm 2015 cũng như thông qua hòm thư
điẻn tử về bảo vệ người tiêu dùng "bvntd@moit.gov.vn".
Như vậy, bước đầu các hoạt động thi hành pháp luật về trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được triìn khai thực hiện trên thực tế và có những hiệu quả rõ rệt Tuy nhiên, thực tiễn công tác bảo vệ quyền lợi NTD trong thời gian qua cho thấy, các hành vi vi
Trang 34phạm pháp luật vê bảo vệ quyên lợi NTD liên quan đên trách nhiệm của tô chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi NTD không những không giảm đi mà có xu hướng ngày càng gia tăng Những hạn che chủ yểu trong việc thực thi pháp luật về trách nhiệm của tố chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:
Thứ nhất, về trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch của tổ chức, cá
nhân kinh doanh là những vi phạm rất phổ biến
Theo báo cáo thường niên của Cục quản lý cạnh tranh, năm 2014, Cục Quản lý cạnh tranh đã tiếp nhận và hỗ trợ tư vấn giải quyết trên 1000 vụ việc khiếu nại của người tiêu dùng liên quan đến nhiều loại hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng thuộc các lĩnh vực khác nhau So với năm 2013, số lượng vụ việc đã tăng lên 4,6 lần cho thấy sự nỗ lực, cố gắng và những kết quả tích cực mà Cục Quản
lý cạnh tranh đã đạt được trong công tác này Tuy nhiên, trong số những vụ việc được khiếu nại tới Cục quản lý cạnh tranh, chưa có vụ việc nào được cho là vi phạm điển hình về trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch Các vụ việc khiếu nại chủ yếu xoay quanh những vấn đề liên quan đến chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ
Trên thực tế, các vụ việc vi phạm liên quan đến trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch xảy ra khá nhiều và có những tình tiết tương đối phức tạp Hiện nay, người tiêu dung Việt Nam vẫn còn có thói quen mua hàng hóa không
rõ nguồn gốc xuất xứ, vì vậy việc người tiêu dùng bị từ chối cung cấp bằng chứng giao dịch (các hóa đơn chứng từ về việc mua sản phẩm) diễn ra hết sức phổ biến
Thứ hai, thương nhân cung cấp thông tin không chính xác, đầy đủ về hợp
đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
Theo thống kê của Cục, sau ba năm thực hiện đăng ký, 100% các hồ sơ đăng ký lần đầu khi xem xét đều phát hiện có các điều khoản vi phạm quyền lợi người tiêu dùng Trong số này có khoảng 15% số hồ sơ đăng ký vi phạm lừ 35 điều khoản trở lên, thậm chí có gần một phần ba trong tổng số hồ sơ vi phạm nói trên vi phạm từ 50 đến 80 điều khoản Tính trong tổng số hồ sơ không được chấp thuận từ năm 2012 đến nay, có khoảng 80% doanh nghiệp đã sửa đổi hồ
so để hoàn thành thủ tục đăng ký
Trang 35-(Nguôn: Thông kê của Cục Quàn lý cạrìh tranh www.vca.gov.vn)
Thứ ba, nhiều doanh nghiệp chưa chủ động tích cực tìm hiểu và thực thi
các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD và không chủ động thực hiện trách nhiệm liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, yêu cầu của NTD Một ví
dụ điển hình là trách nhiệm thu hồi sản phẩm hàng hóa khuyết tật số liệu từ Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương cho thấy hầu hết các doanh nghiệp
đã và đang thực hiện việc thu hồi sản phẩm khuyết tật trong những năm vừa qua
là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thậm chí trong đó nhiều doanh nghiệp đã thực hiện việc thu hồi tự nguyện Trong khi đó, đối với các vụ việc thu hồi sản phẩm của một sổ doanh nghiệp trong nước, hầu hết đều được thực hiện sau khi có yêu cầu thu hồi từ cơ quan quản lý Theo quy định của Luật Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong vòng 07 ngày kể từ khi người tiêu dùng có yêu cầu, doanh nghiệp phải tiếp nhận và xử lý yêu cầu thương lượng hoặc yêu cầu xử lý của người tiêu dùng Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã
cố tình gây khó dễ, tạo ra các trở ngại về thủ tục, thời gian, khoảng cách, chi phí
để không tiếp nhận và giải quyết yêu cầu cho người tiêu dùng Thậm chí nhiều doanh nghiệp khi bán hàng không cung cấp địa chỉ liên hệ hoặc các thông tin khác liên quan đến hàng hóa và doanh nghiệp mặc dù đây đều là những thông tin bắt buộc phải cung cấp theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trang 36Thứ tư, trong việc trách nhiệm bảo hành, nhiều doanh nghiệp còn thờ ơ
với người tiêu dùng, không cung cấp giấy bảo hành một số trường hợp còn trốn
tránh nghĩa vụ bảo hành với người tiêu dùng Nhiều doanh nghiệp khi tiếp nhận
hàng hóa mang đến bảo hành của người tiêu dùng không cung cấp giấy tiếp
nhận bảo hành, trong đó ghi rõ thời hạn thực hiện bảo hành Điều này trước hết
làm cho người tiêu dùng không xác định được thời hạn bảo hành, không chủ
động được công việc của họ và luôn phải ở trong trạng thái chờ đợi Từ phía
doanh nghiệp, việc không đưa ra thời hạn bảo hành dẫn đến trách nhiệm của
doanh nghiệp bị buông lỏng, không bị áp lực về thời hạn bảo hành nên thường
có xu hướng kéo dài thời gian bảo hành Một sổ vụ việc được ghi nhận tại Cục
Quản lý cạnh tranh cho thấy, thời gian bảo hành đối với hàng hóa kéo dài hơn 2
năm Ngoài ra trong nhiều vụ việc, người tiêu dùng ở xa địa điểm bảo hành
nhưng phải đi lại năm lần bảy lượt để mang máy đến bảo hành Nhiều NTD đã
yêu cầu được đổi sản phẩm mới hoặc hoàn trả lại tiền nhưng đơn vị bảo hành từ
chức, cá nhân kinh doanh
Thứ nhất, liên quan đến vấn đề thông tin cho NTD, ngoài trách nhiệm
cung cấp thông tin trung thực, đầy đủ và không gây nhầm lẫn, Luật Bảo vệ
quyền lợi NTD 2010 đã quy định rõ những thông tin thuộc diện phải cung cấp
cho NTD nhằm tăng khả năng cân nhắc, lựa chọn của NTD, đồng thời đề cao
tirách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD, bởi thực tế bao giờ
nihà cung cấp cũng hiểu rõ hơn so với NTD về sản phẩm, chất lượng và các khả
măng rủi ro khi sử dụng hàng hoá, dịch vụ
Trang 37Tuy nhiên, với mỗi trách nhiệm cung cấp thông tin mà Luật quy định, như: ghi nhãn hàng hoá, công bố về khả năng gây tác hại của sản phẩm, thông báo về điều kiện bảo hành, thay thế linh kiện cho NTD đều chưa có quy định cụ thể trơng Luật Bảo vệ quyền lợi NTD mà nằm rải rác trong các vãn bản pháp luật khác nhau, như: Luật quảng cáo 2012, Luật giá 2012, Luật sở hữu trí tuệ 2005, Nghị định 89/2006/NĐ-CP về nhãn hàng hoá Việc quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau, dẫn đến NTD khó nắm bắt được nội dung các quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của mình Do đó, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD cần có văn bản hướng dẫn quy định cụ thể và chi tiết hơn để thương nhân
và NTD biết được các trách nhiệm cũng như quyền lợi trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ (NTD có quyền được biết thông tin gì? Phương thức cung cấp thông tin ra sao?) Ví dụ như pháp luật bảo vệ NTD của Liên Minh Châu Âu quy định rất rõ, trước khi có giao dịch xảy ra, thương nhân có nghĩa vụ thông báo cho người tiêu dùng về nguồn gốc, đặc tính, thành phần và cách sử dụng sản phẩm; chất lượng, số lượng, chủng loại cũng như đơn vị sử dụng phổ biến; các điều kiện giao dịch (kinh tế và pháp lý) chung bao gồm thông tin đầy đủ về giá, thuế giá trị gia tăng và các loại thuế, phí khác; ngày sản xuất và ngày hết hạn sử dụng của sản phẩm; hướng dẫn sử dụng; và đặc biệt là những vẫn đề NTD cần lưu ý khi muốn rút khỏi/chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ.18
Thực tế có không ít các thương nhân đã đưa các thông tin gian dối, sai lệch
về chất lượng, công dụng, nguồn gốc xuất xứ hàng hoá, dịch vụ do mình cung cấp nhằm tối đa hoá lợi nhuận gây thiệt hại đến quyền lợi của nhiều NTD và pháp luật cần định hướng cách ứng xử trong trường hợp này Cụ thể, pháp luật cần quy định trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh có các hành vi gian dối trong việc cung cấp thông tin đối với NTD thì hợp đồng giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với NTD đã được giao kết trước đó sẽ bị vô hiệu, NTD có quyền đòi lại các khoản tiền đã thanh toán cho tổ chức, cá nhân kinh doanh mà không phải trả lại hàng hoá, dịch vụ đã mua
Ií8 Xem thêm Chi thị số 2 0 1 1/83/EU về Quyền của người tiêu dùng, Điều 5 & 6
31
Trang 38Thứ hai, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần sửa đổi và bổ sung một số
quiy định về ghi nhãn hàng Trong Nghị định 89/2006/NĐ-CP về ghi nhãn hàng hoiá có quy định một sổ trường hợp không bắt buộc phải ghi nhãn hàng hoá, nhiư: thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến không có bao bì và bán trực tiếp cho NTD Thực tiễn cho thấy đây là những mặt hàng nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ NTD và là vấn đề nóng trong thời gian qua Vì vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần quy định về bao bì nhãn mác phải thể hiện xuất xứ, hạn sử dụng để kiểm soát được nguồn hàng nhập khẩu cũng như hạn sử dụng của thực phẩm để bảo vệ NTD
Ngoài ra, các quy định và hướng dẫn về dán nhãn hàng hoá nhập khẩu không rõ ràng khiến cho cơ quan Hải quan không có cơ sở để kiểm soát đối với những sai phạm về ghi nhãn hàng hoá Nhiều trường hợp nhãn hàng hoá trên bao bì thương phấm hàng hoá phản ánh không đúng bản chất, nguồn gốc của hàng hoá nhưng cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn cấp
hồ sơ công bố theo nhãn mà doanh nghiệp đăng ký Để khắc phục tình trạng này chúng ta phải yêu cầu khai báo rõ tên hàng, chủng loại, nhãn hiệu hàng hoá Đồng thời không công nhận việc ghi xuất xứ hàng hoá theo kiểu “sản xuất theo công nghệ của ”, “sản xuất theo tiêu chuẩn của ” để đảm bảo việc kiểm soát có hiệu quả hàng nhập khẩu Giống như quy định của Đài Loan, tất cả các sản phẩm, hàng hóa được mua bán trên lãnh thổ Đài Loan phải được gắn nhãn theo đúng quy định của pháp luật về gắn nhãn hàng hóa của Đài Loan Hàng ngoại nhập phải được gắn nhãn lại bằng tiếng Hoa với các nội dung không kém hơn nhãn gắn tại quốc gia xuất xứ gốc của hàng hóa (Điều 24) Bên cạnh việc gắn nhãn, thương nhân phải cung cấp đầy đủ giấy tờ về bảo hành, trong trường hợp có chính sách bảo hành, với tất cả các thông tin cần thiết (Điều 25)
Thứ ba, pháp luật hiện hành chưa quy định các nguyên tắc thu thập, sử
dụng thông tin của NTD nên dẫn đến việc thông tin của NTD không được các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện các biện pháp bảo mật và trong nhiều trường hợp gây thiệt hại cho NTD Vì vậy, cần phải quy định về các nguyên tắc thu thập, sử dụng thông tin NTD theo hướng sử dụng thông tin đúng mục đích đã
Trang 39thòng báo với NTD và được NTD cho phép, khi mục đích sử dụng thông tin hoàn thành thì thông tin đó phải được xoá ngay khỏi dữ liệu của tổ chức, cá nhân kinh doanh19 Có như vậy thì dừ liệu cá nhân của NTD mới được bảo vệ một cách an toàn nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NTD Song song vói việc quy định các nguyên tắc thu thập, sử dụng thông tin của NTD, cần sửa đổi chế tài phạt vi phạm cụ thể là tăng mức phạt tiền vì mức xử phạt hiện tại chưa đủ sức răn đe (mức xử phạt tối đa là ba mươi triệu đồng) và đối chiếu với lợi ích thu được từ hành vi vi phạm quá lớn nên nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh vẫn vi phạm quy định này.
• Các quy định về trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch
Cần bổ sung thêm các quy định pháp luật liên quan đến tính chính xác của bàng chứng giao dịch Hiện nay, theo quy định tại Điều 20 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010, mới chỉ dừng lại ở quy định yêu cầu tổ chức cá nhân kinh doanh
có trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch cho NTD Tuy nhiên, bằng chứng giao dịch là gì, cần đảm bảo những yếu tố nào thì Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 cũng như Nghị định 99/2011/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 lại chưa đề cập đến Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp giữa NTD và tổ chức cá nhân kinh doanh, đồng thời tạo kẽ hở để tổ chức, cá nhân kinh doanh “lách luật” như
đã đề cập ở chuyên đề trước Trong ví dụ về dán tem bảo hành cho thấy, tổ chức, cá nhân kinh doanh rõ ràng đã thực hiện đầy đủ quy định về cung cấp bằng chứng giao dịch cho NTD Tuy nhiên, với cách cung cấp bằng chứng giao đị;h như vậy, NTD sẽ không thể đảm bảo được những quyền lợi chính đáng theo như cam kết của tổ chức, cá nhân kinh doanh Hay trong ví dụ về vụ việc nẹp tiền vào tài khoản ngân hàng cho thấy, trường hợp này dù NTD có bằng chứng giao dịch sát thực, nhưng nếu như không có quy định về tính khách quan cỉa bằng chứng giao dịch, phía tổ chức cá nhân kinh doanh (Ngân hàng) hoàn tom có thể sử dụng bằng chứng giao dịch khác để “loại bỏ” bằng chứng của NTD, gây khó khăn cho NTD trong việc đòi lại quyên lợi chính đáng của mình
Trang 40T ừ những phân tích trên cho thấy, việc bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến tính chính xác của bằng chứng giao dịch giữa tổ chức cá nhân kinh doanh và NTD là cần thiết Pháp luật không cần phải quy định chi tiết, rõ ràng, chính xác
“bằng chứng giao dịch” là những gì, mà thay vào đó, nên quy định theo hướng bằing chứng giao dịch cần đảm bảo những yếu tố nào? Theo đó, bằng chứng giao dị<ch phải đảm bảo những yêu cầu như sau: (i) Là chứng cứ ghi nhận giao dịch đãì được xác lập giữa NTD và tổ chức cá nhân kinh doanh; (ii) Tồn tại độc lập, khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của các bên trong giao dịch; (iii) là căn
cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh nếu có và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng
Trong bối cảnh mà sự vi phạm quyền lợi NTD đang ở mức báo động thì việc hoàn thiện cơ chế pháp lý về bảo vệ quyền lợi NTD đang được đặt ra một cách bức thiết Một trong những bất cập trong việc bảo vệ NTD hiện nay là sự thiếu vắng chế độ trách nhiệm của thương nhân đổi với những sản phẩm mà họ cưng cấp cho NTD Vì vậy, trước hết, cần thiết phải bổ sung khái niệm “trách nhiệm sản phẩm” trong quy định của pháp luật Việt Nam để phù hợp với thông
lệ quốc tế tránh nhầm lẫn với chế định trách nhiệm BTTH thông thường Dựa trên các đặc điểm của trách nhiệm sản phẩm chúng ta có thể xây dựng khái niệm
như sau: “Trách nhiệm sản phẩm là trách nhiệm của tổ chức, cả nhản kinh doanh hàng hoả trong việc bồi thường đổi với các thiệt hại gây ra bởi khuyết tật của hàng hoá mà họ đã cung cấp cho NTD trong quá trình kinh doanh
Tiếp đến, cần bổ sung quy định về thời hiệu áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm trong Luật BVQLNTD Bởi lẽ việc xác định sản phẩm có khuyết tật cũng như việc khuyết tật của sản phẩm có thể gây hại cho NTD thường xảy ra trong thời gian rất dài Chính vì vậy, pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới quy định về thời hiệu áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm dài hơn rất nhiều so với thời hiệu áp dụng các quy định pháp luật dân sự thông thường Nhiều quốc gia lựa chọn thời hiệu 10 năm kể từ ngày sản phẩm được đưa vào lưu hành và 3 niăm kể từ thời điểm NTD biết thiệt hại hoặc buộc phải biết thiệt hại đó BLDS