năng bảo vệ, pháp luật có vai trò không thể phủ nhận trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể pháp luật, trật tự các quan hệ xã hội.Chức năng giáo dục của pháp luậ
Trang 1?GS TS Nguyễn ThỊ Thuận ' T Í S Phạm Thị Bắc Hà * •
m Nôẫ 2016
I
Trang 2B ộ Tư PHÁP
_ * * * _
CHỨC NĂNG BẢO VỆ CỦA LUẬT QUỐC TỂ -
M Ã SỐ: LH -2015-401 /Đ H L-H N
T "7 D Ò 0 SNỌHd
IỘN VH l ý m Òow IVQ 9N Q fìtíl
NậlA'ílHl Nll ĐtyỌKl m i 9Níltíi
Chủ nhiệm đề tài : PGS TS Nguyễn Thị Thuận
Thư kỷ đề tài : ThS Phạm Thị Bắc Hà
Ị TRUNG TÂM THÕNG TIN THƯ VIỆN
I TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI | PHÒNG, eọc -
Hà Nội - 2016
Trang 3DANH MỤC CÁC CHUYÊN ĐÈ TRONG ĐÈ TÀI
1 Khái quát về chức năng bảo vệ của luật quổc tế
2 Mục đích và nội dung bảo vệ của luật quốc tế
3 Các hình thức thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế
4 Giới hạn chức năng bảo vệ của luật quốc tể
5 Thực hiện chức năng bảo vệ luật quốc tế thông qua các biện pháp an ninh tập thể
6 Thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế thông qua hoạt động giải trừ quân bị và củng cố lòng tin
7 Thực hiện quyền tự vệ và chức năng bảo vệ của luật quốc tể
8 Thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tể bàng các biện pháp vũ trang tập thể
9 Thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế trong lĩnh vực môi trường
10 Hoạt động giải quyết tranh chấp của các tố chức q iu c tế liên chính phủ với việc thực hiện chức năng hảo vệ của luật quốc tế
11 Hoạt động giải quyết tranh chấp của các thiết chế tài phán với việc thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế
12 Chức năng bảo vệ của luật quốc tế trong lĩnh vực phòng chổng tội phạm quốc tế
13 Chức năng bảo vệ của luật quốc tế trong lĩnh vực tương trợ tư pháp V i dẫn độ tội phạm
14 Chức năng bảo vệ của luật quốc tế với việc xác lập và thực thi trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia
15 Chức năng bảo vệ của luật quốc tể với việc xác lập và thực thi trách nhiệm pháp lý của tổ chức quốc tế
Trang 4DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐÈ TÀI• .
Trang 6M Ụ C LỤC
A PHÀN MỞ ĐẦU 1
B BÁO CÁO TỎNG THUẬT 4
I L Ý L U Ậ N VÈ C H Ứ C N Ă N G BẢ O VỆ CỦ A L U Ậ T Q U Ố C T É 4
II CHỨC NĂNG BẢO VỆ CỦA LUẬT QUỐC TÉ TRONG MỘT SÓ LĨNH V ự c CỤ THẺ 17
III KÉT LUẬN 33
c CÁC CHUYÊN ĐÈ c ụ THẺ TRONG ĐÈ TÀI 36
Chuyên đề 1: Khái quát về chức năng bảo vệ của luật quốc tế 36
Chuyên đề 2: Mục đích và nội dung bảo vệ của luật quốc tế 48
Chuyên đề 3: Các hình thức thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế 57
Chuyên đề 4: Giới hạn chức năng bảo vệ của luật quốc tể 66
Chuyên đề 5: Thực hiện chức năng bảo vệ luật quốc tế thông qua các biện pháp an ninh tập thể 75
Chuyên đề 6: Thực hiện chửc năng bảo vệ của luật quốc tế thông qua hoạt động giải trừ quân bị và củng cổ lòng tin 85
Chuyên đề 7: Thực hiện quyền tự vệ vá chức năng bảo vệ của luật quổc tế 96
Chuyên đề 8: Thực hiện chức năng bảo vệ của luật quổc tế bằng các biện pháp vũ trang tập thể 104
Chuyên đề 9: Thực hiện chức năng bảo vệ của luật quổc tế trong lĩnh vực môi trường 116
Chuyên đề 10: Iỉoạt động giải quvểt tranh chấp của các tổ chức quốc tế liên chính phủ với việc thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế 136
Chuyên đề 11: Iloạt động giải quyết tranh chấp của các thiết chế tài phán với việc thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tể 145
Chuyên đề 12: Chức năng bảo vệ của luật quốc tế trong lĩnh vực phòng chổng tội phạm quốc tể 154
Chuyên đề 13: Chức năng bảo vệ của luật quốc tế trong lĩnh vực tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm 163
Chuyên đề 14: Chức năng bảo vệ của luật quốc tể với việc xác lập và thực thi trách nhiệm pháp \ỹ quốc tế của quốc gia 173
Trang 7Chuyên đề 15: Chức năng bảo vệ của luật quốc tế với việc xác lập và thực thi trách nhiệm pháp lý của tổ chức quốc tế 182
Trang 8PH Ầ N TH Ủ N H Á T
MỎ ĐAU
Tù góc độ lý luận, chức năng bảo vệ là một trong những chức năng cơ bản của luật quốc tế cũng như của luật quốc gia Tuy nhiên, thực tiễn giảng dạy, nghiên cửu về luật quốc tế ở Việt Nam hầu như không quan tâm đến vấn đề này Từ trước đến nay, trong hầu hết các chương trình giảng dạy cua các cơ SƯ đào tạo luật tại Việt Nam, luật quốc tế đều là môn học thuộc khối kiến thức bắt buộc Một sổ cơ sở đào tạo như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà N ội còn có cả mã ngành đào tạo cử nhân Luật quốc tế, thạc sỹ Luật quốc tế hoặc nghiên cửu sinh Luật quốc tế Nhưng thực tiễn giảng dạy nghiên cứu luật quốc tế ở các cơ sở đào tạo luật nói chung và Đại học Luật Hà Nội nói riêng hầu như mới tập trung vào các nội dung như' các vấn đề lý luận về luật quốc tế (bản chất, nguồn luật, chủ thể, quan hệ giữa luật quốc tế - luật quốc gia ); một sổ ngành luật và chế định pháp luật quốc tế như luật điều ước quốc tế, luật ngoại giao lãnh sự luật bièn quốc tế, giải quyểt tranh chấp quốc tể Đẻ nhận thức được đúng đắn vai trò và tầm quan trọng của luật quốc tế trong thế giới hiện đại, một trong những nội dung càn được quan tâm nghiên cứu là tiếp cận luậi quốc tế tù phương diện chức năng.Vì vậy, tập trung nghiên cứu để làm rõ các vẩn đề lý luận về chức năng bảo vệ cua luật quốc tế cũng như thực tiễn thực hiện chức năng bảo vệ thông qua quy định của một số nganh luật, chế định pháp luật thuộc hệ thống pháp luật quốc tế là hết sức cần thiết
II Tình hình nghiên cứu
Có thể knẳng định, ở Việt Nam hiện nay hầu như chưa có công trình nào trực tiếp đề cập và nghiên cứu vẩn đề về chức năng của luật quốc tế nói chung và chức năng 'ữằo vệ CLỈa luậl qưốc lế nói riêng Những vẩn dề chức năng của pháp Luật nói chung mới chỉ được đề cập đến trong một số giáo trình về Lý luận nhà nước và pháp luật Hệ thống tài liệu phục vụ nghiên cứu giảng dạy luật quốc tế ở Việt Nam, các sách tham khảo hoặc chuyên khảo về/liên quan đến Luật quốc tế hầu như chỉ tập trung vào những vấn đề thời sự hoặc truyền thống của luật quốc tế, còn giáo trình về
Trang 9luật quốc tế đều được kết cẩu khá giống nhau (ngoài phần chung đề cập một số vấn
đề lý luận về luật quốc tế, phần riêng tiếp cận một số ngành luật và chế định pháp luật cơ bản của luật quổc tế) Các đề tài nghiên cứu, bài viết đã được công bổ cũng chưa đề cập hoặc liểp cận chức năng bảo vệ của luật quốc tế
III Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đe tồi nghiên cứu hướng tới các mục đích sau:
Thứ nhất, nghiên cứu luật quốc tế với cách tiếp cận mới - từ phương diện
chúc năng, nhóm tác giả tập trung làm sâu sắc các vấn đề lý luận về chức năng bảo
vệ cùa luật quốc tế
Thứ hai, thông qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
chức năng bảo vệ của luật quốc tế, đưa ra những kết luận khoa học về chức năng bảo
vệ và một số giải pháp tăng cường hiệu quả của chức năng bảo vệ của luật quốc tế
Thứ ba, cung cấp nguồn tài liệu hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy
và học tập luật quốc tể đối với cả hộ đào tạo cử nhân và sau đại học ở Đại học Luật
Hà Nội nói riêng và các cơ sở đào tạo luật nói chung
IV P hạm vi ngh iên cứu đề tài
- Nghiên cửu những vẩn đề lý luận cơ bán về ỡhí 'C năng bảo vệ cua luật quốc tế
- Nghiên cứu thực tiễn về chức năng bảo vệ của luật quốc tế thông qua một sổ ngành luật và chế định pháp luật thuộc hệ thống luật quốc tế
V P h ư ơ n g pháp nghiên cứu
Đe đạt được mục đích nghiên cứu và đáp ứng các yêu cầu đặt ra, nhóm nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học pháp
lý như phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để làm rõ các vấn đề lý luận
VI N ội dung ngh iên cứu
Nội dung nghiên cứu chủ yếu của đề tài là những vấn đề lý luận về chức năng bảo vệ của luật quốc tế như cơ sở chức năng bảo vệ của luật quốc tế; cách thức thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế; giới hạn thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế bảo vệ của luật quốc tế T ừ đó, đề tài cũng sẽ đề cập thực tiễn thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế trong một sổ lĩnh vực như giải quyết tranh chấp, xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế, giái trừ quân b ị
2
Trang 10Các nội dung nơhiên cứu trên đây được thể hiện trong các chuyên đẻ ngbiên cứu sau:
Chuyên đề 1: Khái quát về chức năng bảo vệ của luật quốc tế
Chuyên đề 2: Mục đích và chức năng bảo vệ của luật quốc tế
Chuyên đề 3: Các hình thức thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế.Chuyên đề 4: Giới hạn chức năng bảo vệ cua luật quốc tể
Chuyên đề 5: Chức năng bảo vệ của luật quốc tế thông qua các biện pháp an ninh tập thể
Chuyên đề 6: Thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế thông qua hoạt động giải trừ quân bị và củng cổ lòng tin
Chuyên đề 7: Thực hiện quyền tự vệ và chức năng bảo vệ của luật quốc tể.Chuyên đề 8: Thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế bằng các biện pháp
Trang 11P H Ầ N T H Ú HAI BÁO CÁO TỎNG THUẬT
I LÝ L U Ậ N VÈ C H Ứ C N Ă N G B Ả O V Ệ CỦA L U Ậ T Q Ư ÓC TÉ
1 Khái quát về chức năng bảo vệ
Theo quan điểm học thuật đã được xây dựii? và ghi nhận, chức năng của pháp
luật được hiểu là “nhữngphương diện tác động chù yếu cùa pháp luật lên các quan hệ
xã hội và hành vi của các cả nhân” Pháp luật có các chức năng chủ yểu: "chức năng điều chỉnh, chức năng bảo vệ, chức năng giáo d ụ c”1 Trong quá trình thực hiện chức
năng, bản chẩt cũng như vai trò, giá trị xã hội của pháp luật được thể hiện đậm nét trong thực tiễn Bên cạnh việc phân loại nêu trên, dựa trên các cơ sờ tiêu chí khác nhau, các chức năng của pháp luật còn được chia thành chức năng đánh giá, chức năng nhận thức hoặc chỉ giới hạn trong 2 chức năng chủ yểu mà bất kì hệ thống pháp luật nào cũng đều có là chức năng điều chỉnh và chức năng bảo vệ
Chức năng điều chỉnh của pháp luật được thể hiện ở hai nội dung Thứ nhất,
pháp luật ghi nhận các quan hệ chủ yếu trong xã hội, chấp nhận loại hình quan hệ xã hội Cần thiết nào đó trong phạm vi điều chỉnh cửã mình Có thé nói, đây là quá trình
"trật tự hỏa ” các quan hệ xã hội của pháp luật, đưa chúng vào các khuôn mẫu, phạm
vi xác định Thứ hai, pháp luật phải bảo vệ cho sự phái Iriển và hoàn thiện các quan
hệ xã hội một cách ổn định và vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi tối ưu cho các quan
hệ xã hội đã được “trật tự hỏa ” phát triển theo định hướng nhất định phù hợp nhất
với quy luật vận động khách quan của quan hệ xã hội cũng như bảo đảm quyền lợi, lợi ích của cộng đồng Pháp luật thực hiện chức năng điều chình bằng các phương thức ấn định, cho phép, nghiêm cấm, khuyến nghị cũng như quy định các quyền và nghĩa vụ tương hỗ giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật
Cùng với chức năng điều chinh, pháp luật có chức năng bảo vệ các quan hệ
xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật bằng biện pháp áp dụng các nguyên tac, các quy phạm pháp lý bao vệ quá trình thực thi, tuân thủ pháp luật theo các trình
tự, thủ tục pháp lý nhất định đổi VỚI các hành vi vi phạm pháp luật Các hành vi này
sẽ được ngăn ngừa hoặc trừng phạt bằng hệ thong các biện pháp cưỡng chế ghi nhận trong chế định trách nhiệm phap lý do chủ thể có thẩm quyền thực hiện Với chức
1H o àn g Thị Kim Quế, Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quổc gia Hà Nội, 2007, tr.286.
4
Trang 12năng bảo vệ, pháp luật có vai trò không thể phủ nhận trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể pháp luật, trật tự các quan hệ xã hội.
Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức và từ ý thức đến hành vi xử sự của chủ thể pháp luật, hướng cho hành vi của họ phù họp với yêu cầu của pháp luật, của cộng đồng và chính bản thân chủ thể Chưc năng giáo dục làm cho chủ thể hữu quan nhận thức được rằng họ phải xử sự như thế nào khi ở vào hoàn canh mà pháp luật xác định và nếu không xử
sự như vậy thì họ - chủ thể pháp luật phải gánh chịu hậu quả tiêu cực như thể nào theo luật định
Các luận điểm khoa học về chức năng của pháp luật trên đây cũng hoàn toàn phù hợp với luật quổc tế Tuy nhiên, do bản chất và đặc trưng riêng của hệ thổng pháp luật này, các chức năng của luật quốc tế có những khác biệt nhất định
Trong khoa học luật quốc tế, thuật ngữ “chức năng” được hiểu rất rộng và đa
nghĩi như mục đích, nhiệm vụ, hoạt động, hành động, hiệu quả, kết quả Mặt
khác, cùng với thuật ngữ “chức năng ”, các thuật ngữ khác cũng có thể đuợc sử
dụn^ độc lập hoặc thay thế cho thuật ngữ chức năng2 Sự thiếu nhất quán, lộn xộn
trong sử dụng thuật ngữ “chức năng" trong thực tiễn quốc tế trong nhiều trường hợp 1à khi<:n thui 1 ngừ “chức nàng ” mất đt tính chất “chức nàng” và không còn là
côn£ cụ hiệu quả để nhận thức và hiểu biết khi nghiên cứu luật quốc tể Vì vậy, việc
đưa a một định nghĩa khoa học, thống nhất về “chức năng” là vô cùng cần thiết và
có thể tạo thuận lợi cho quá trình nghiên cứu các vấn đề lý luận quan trọng của luật
r ĩ
A 1 A
quôi tê
Theo nghĩa hiểu của khoa học pháp lỷ quốc tể, chức năng được coi là quá
trình ác động nhằm mục đích thực hiện các nhiệm vụ của luật quốc tế Khi thực hiện
chức lăn g của mình, luật quốc tế chỉ tác động trong phạm vi giới hạn thẩm quyền đã
ấn định Định nghĩa này đã chỉ rõ sự gắn bó giữa thuật ngũ “chức năng" với thuật ngữ 'nhiệm v ụ ”, theo đó “nhiệm v ụ ” là khuôn mẫu, còn “chức năng” là quá trình
đạt được khuôn mẫu (thực hiện nhiệm vụ) Bên cạnh đó, định nghĩa đã làm sáng tỏ
và phàn biệt thuật ngữ “chức năng" và thuật ngữ "thẩm quyền” Thẩm quyền được
hiểu ầ phạm vi tác động về khách thể, nghĩa là phạm vi các lính vực mà luật quốc tể
2 Ví dụ trong Hiến c h ư ơn g L H Q có tiểu mục với tiêu đề "chức năng và thầm quyền ” ghi nhận quyền hạn và nhiệm 'Ị1 cùa các cơ quan chính LHQ; Hiên chương ILO sử dụng thuật “chức năng” chỉ phạm vi nhiệm vụ của văn phong lao động quốc tế của ILO; Hiến chư ơng U N E S C O Điều 1 quy định về mục đích và nhiệm vụ của
Tô chứ:, trong khi đó H iên chư ơng W H O lại phân biệt mục đích với chức năng hoạt động của Tô chức quốc
Trang 13có quyền hoặc cần phải giải quyết và thẩm quyền không chỉ hiểu đơn giản là phạm vi các công việc mà còn bao gồm cả quyền lực để thực luện các công việc đó Như vậy, chức năng của luật quốc tế được giới hạn trong khuôn khố thẩm quyền của nỏ và việc thực hiện chức năng không được vượt quá thẩm quyền.
Trong khoa học pháp lý quốc tế, chức năng bảo vệ và chức năng điều chỉnh luôn được xếp ở hàng đầu và được khẳng định trong các tài liệu, sách báo, tạp chí
nghién cứu luật quốc tế của các quốc gia và quốc tế Đánh giá chung, chức năng bảo
vệ cửa luật quốc tể được hiểu là quá trình tác động nhằm mục đích thực thi nhiệm vụ bảo xệ các quyển lợi và lợi ích hợp pháp của các chủ thế luật quổc tế, trong đó có quốc gia - chủ thể quan trọng nhất của ỉuật quốc tế Phương diện tác động chủ yếu
của chức năng bảo vệ là nhằm ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm luật quốc
tế, bào vệ các chủ thể luật quốc tế (chủ thể được bảo vệ) và các quyền lợi và lợi ích hựp pháp được luật quốc tế quy định Chức năng bảo vệ của luật quốc tế được thể hiện '.rong các nguyên tắc, các quy phạm chung cũng như các quy phạm và nguvên tắc đ uyên ngành của các ngành hoặc chá định pháp luật thuộc hệ thống luật quốc tế điển hình như Luật nhân đạo quốc tế với các định chế quyền phòng vệ chính đáng, quyền thành lập các liên minh quân sự có tính chất phòng thủ, nghiêm cẩm việc sử dụng một số loại vũ khí Luật hình sự quốc tế với các chế đinh ngăn ngừa và trừng trị tội phạm quốc tể (tội ác quốc tế); chế định dẫn độ tội phạm, đặc biệt là dẫn độ tội phạm cỏ tính chất quốc tế để xét xử và trừng trị; chế định thẩm quyền xét xư hình sự quốc tế nhằm bảo vệ các quốc gia và cộng đồng dân cư trước thảm họa chiến tranh khủng bố quốc tế hay diệt chủng Chế định giải quyết tranh chấp của luật quốc tể quy định các nguyên tắc, các quy phạm jus cogens cùng hệ thống thiết chế quốc tế giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình Chế định trách nhiệm pháp lý quốc ể với các quy định về hình thức thực hiện trách nhiệm như bồi thuờng thiệt hại, trách nhiệm phi vật chất vừa góp phần thực thi mục đích bảo vệ vừa có tác dụng ngăn Igừa các hành vi vi phạm luật quốc tế trong đời sống quốc tể Ngoài ra, chức năng ^ảo vệ của luật quốc tế còn được thể hiện trong các chế định pháp lý quốc tể khác Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu chức năng bao vệ của luật quốc tế trong một số chế định nhất định Nghiên cứu chức năng bảo vệ của luật quốc tế tức là nghiêi cứu nội dung pháp lý của các chế định đã trình bày ở trên
■ Co’ sở của chức năng bảo vệ
- Cơ sở lý luận
6
Trang 14Cơ sở lý luận của chức năng bảo vệ nằm trong nội hàm bản chất, khái niệm và các dặc trưng của luật quốc tế.
Thỏa thuận là bản chất đặc trưng của luật quốc tế và xuyên suốt quá trình xây dựĩig, thực thi và đảm bảo tuân thủ luật quốc tế Thỏa thuận vừa dựa trên cơ sở bình đẳng vừa tạo ra sự bình đẳng trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia - chủ thể chủ yếu, cơ ban của luật quốc tể, qua đó tạo tiền đề bảo vệ các quốc gia có vị thế bình đăng trong toàn bộ lộ trình xây dựng, thực thi và đảm bảo thực thi luật quốc tế trong đời sổng quốc tể, không cho phép bất kì quốc gia nào xâm hại tới quyền và lợi ích họp pháp của các quốc gia khác Ngay cả các ngoại ]ệ do các quốc gia thỏa thuận như quyền veto của các nước ủy viên thường trực LHQ cũng nhằm đảm bảo hòa bình và
an ninh quốc tế, nếu các quốc gia này không lạm dụng nó3 Định nghĩa luật quốc tế trong bất kỳ sách báo, tài liệu nào cũng đều nhấn mạnh bản chất thỏa thuận của luật quốc tế, đồng thời bao quát khá đầy đủ các đặc trưng quan trọng của hệ thống pháp luật quốc tế, qua đó chức năng bảo vệ cua luật quốc tế đã được đề cao trong lý luận luật quổc tế, bởi vì nội dung các đặc trưng này qua phân tích phản ánh rõ và đây đủ hơn chức năng bảo vệ của luật quốc tế trong thực tiễn áp dụng luật quốc tể, cụ thể hơn
là các chế định pháp lý quốc tế có liên quan4
V(Vi đặc trung về đối tượng điều chỉnh, sự đani bảo quyền bình đẳng giữa các quốc gia đã được khẳng định tạo cơ sở bảo vệ các chủ thể luật quốc tể trước bất kì hanh vi xâm phạm nào tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ Trường hợp có sự vi phạm, chủ thể bị hại có thể sử dụng các biện pháp được luật quốc tế quy định bảo vệ mình trong quan hệ quổc tế Trong đặc trưng về chủ thể, dù quyền và nghĩa vụ pháp
lý của các loại chủ thể luật quốc tế có thể khác biệt nhưng về nguyên tắc, giữa các chủ thể luôn tồn tại sự bình đẳng và tự nguyện - nền tảng vững chắc cho hành vi bảo
vệ của các chủ thể theo đúng quy định của luật quốc tế
Đặc trưng tiếp theo là quá trình xây dựng và thực thi luật quốc tể của các chủ thể luật quốc tế Xuất phát từ sự bình đẳng, mỗi quốc gia đều có quyền tự nguyện trong quá trình xây dựng cũng như tham gia các điều ước quốc tế trên cơ sở đánh giá, cân nhắc quyền và lợi ích có thể có được với sự tôn trọng quyền, lợi ích của các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế Mặt khác, dù không có một bộ máy cưỡng chế
3 Năm ủy viên thường trực gồm Hợp chủng quổc Hoa kỳ, C ộng hòa Pháp, Liên bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung hoa, Vưcmg q u ố c Anh.
Trang 15tập trung chuyên trách như luật quốc gia nhưng khi quyền và lợi ích họp pháp bị xâm
h ạ c á c quốc gia đều có quyẽn sử dụng các biện pháp cưỡng chế rièng lẻ hoặc tập thé như tự vệ, trả đũa đơn phương hoặc các biện pháp an ninh tập thể được ghi nhận trcng các quy phạm luật quốc tế để bảo vệ mình Thông qua quá trình đảm bảo công bằig ờ mức độ khác nhau các quyền và lợi ích của các chủ thể, trật tự pháp lý quốc
tế iược bảo vệ trong tiến trình phát triển
Các luận điêni được thống nhất trong khoa học luật quốc tế về bản chất, khái num, các đặc trưng của luật quốc tế chính là cơ sở lý luận về chức năng của luật quic tế nói chung và chức năng bảo vệ nói riêng
Cơ sở pháp lý của chức năng bảo vệ của luật quốc tể chính là các nguyên tắc, qu/ phạm pháp lý quốc tế được ghi Iihận trong các điều ước quốc tể hoặc các tập qum quốc tế liên quan Tuy nhiên, để phục vụ mục đích nghiên cứu, đề tài chỉ tiếp cận nhóm nguyên tắc cơ bản và nhóm nguyên tắc, quy phạm chuyên ngành liên quan đến chức năng bảo vệ của luật quốc tể
V Các nguyên tắc cơ bản của ìuật quốc tế
Đây là Iihóm các nguyên tắc thể hiện đầy đủ và thỏa mãn các điều kiện:
+ Nguvên tắc cư bản cua luật quốc tế là nguvên tắc phổ cập toan c ìu va không bao gồm các nguyên tắc chuyên ngành
+ Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tể là các nguvên tắc jus cogens
+ Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được thừa nhận chung6
Ngày 24/10/1970 Đại hội đồng LHQ đã thông qua Tuyên bổ về các nguyên tắc luật quốc tể liên quan đến các quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc g.a phù hen với Hiến chương LHQ trong đó đã ghi nhận 07 nguyên tắc v ề cơ bản, những nguyên tắc này giống với các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến chương7
Với các nguyên tắc cơ bán của luật quốc tế, chức năng bảo vệ của luật quốc tế
có sở pháp lý rất rõ ràng và việc thực thi trên thực tế cũng đã đạt được những kếtqui nhất định Từ hệ thống nguyên tắc này, các chủ thể luật quốc tể đã xây dựng và hom thiện các nguyên tắc, quy phạm chuyên ngành cụ thể hóa chức năng bảo vệ của luậ quốc tế trong thực tiễn quốc tế
5 v< cơ chế th ực hiện chế tài của luật quốc tế, một số tài liệu sử dụng thuật ngữ “tự cưỡng chể” để chi tính chất đặc^-hù của cơ chê này.
fTMGIMO, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Quan hệ quốc tế, Mátxcơva, 2007.
7Xen thêm Đ iều 2 Hiến chương Liên hợp quốc.
8
Trang 16'r Các nguyên tắc và các quy phạm chuyên ngành của luật quốc tế
Trong một hệ thống pháp luật sẽ có các nguyên tắc, quy phạm pháp luật, chế định và ngành luật thực hiện chức năng bảo vệ với tính chất và mức độ triệt để hơn các chế định pháp luật khác, rhuộc nhóm này bao gồm: trách nhiệm pháp lý quốc tế, luật hình sự quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tể bằng các biện pháp hòa bình, luật
an ninh quốc tể
Trong chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế, các quy phạm tập quán quốc tế
có vai trò thong trị cho đến thời điểm hiện tại, mặc dù ngay từ năm 1956 ủ y ban luật quổc tế LHQ theo sự ủy nhiệm của Dại hội đồng đã tiến hành pháp điển hóa chế định này và đến năm 2001 đã hoàn thành bản dự thảo điều ước quốc tế về “trách nhiệm của quốc gia đổi với hành vi trái pháp luật quốc tế” Tuy nhiên, Đại hội đồng LHQ
đã không thông qua cho dù nhiều nội dung thể hiện các quy phạm tập quán quốc tế Măc dù thiếu vắng một điều ước quốc tể tổng thể cỏ tính toàn cầu về trách nhiệm pháp lý quốc tế nhưng chức năng bảo vệ của chế định này vẫn được bảo đảm thực thi bằng các quy phạm tập quán cũne như các quy phạm, quy định được ghi nhận trong một sổ điều ước quốc tế chuyên ngành như các điều khoản có liên quan của Công ước Luật biển 1982; Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong vũ trụ năm 1960 và một số các công ước chuyèn môn vè trách nhiệm đổi với thiệt hại vủ trụ, hạt nhàn
Luật HSQT đã ghi nhận các nguyên tắc như: không áp dụng thời hiệu tổ tụng đối với các tội phạm quốc tế (tội ác quốc tế), trừng trị bằng hình luật các tội ác quốc
t ể Ngoài ra, các tập quán quốc tế truyền thống có tính chất là nguyên tắc pháp luật chung như dẫn độ hoặc xét xử, không ai bị xét xử hai lần vì một hành vi phạm tội, không có tội nếu không có lu ật góp phần thực hiện hiệu quả chức năng bảo vệ Trong thực tiễn lập pháp quốc tế, các nguyên tắc, quy phạm của luật HSQT đã được pháp điển hóa và ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế có tính phổ cập như Quy chế Rome 1998 về Tòa án hình sự quốc tế (ICC), trước đó là các Hiệp ước thành lập Tòa
án Quân sự Nuremberg và Tokyo sau đại chiến thế giới thứ II; các điều ước quốc tế
đa phương toàn cầu về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm hình sự quốc tế; các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự hoặc dẫn độ tội phạm
Chế định giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế được hình thành dựa trên hai nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là cấm sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tể và giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, bao gồm các quy phạm
Trang 17ghi nhận quyền lựa chọn các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp: thỏa thuận lựa chọn hoặc thành lập các thiết chế tài phán; các quy phạm về trung gian, hòa giải Các quy phạm này được ghi nhận trong nhiều văn kiện như Công ước 1899 và Công ước 1907 về g ù i quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, Quy chế Tòa án công lý quốc tế8 Qu> chế Tòa án luật biển, Trọng tài luật biển9
Luật an ninh quốc tế có các nguyên tắc là cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ các qu/ển và lợi ích sổng còn của các quốc gia trong một thế giới ngày càng bất ổn, điển hình như nguyên tắc an ni ìh không chia cắt, nguyên tắc an ninh bình đẳng, nguyên tắc giải trừ quân b ị Nội dung pháp lý của các nguyên tắc này được ghi nhận trong Hièn chương LHQ; các điều ước quốc tế đa phương toàn cầu về giải trừ quân bị, các điều ước quốc tể khu vực; các thỏa thuận trong lĩnh vực giải trừ quân bị, xây dựng cái biện pháp củng cố lòng tin, thiết lập các khu vực phi hạt nhân; các thỏa thuận soi.g phương về hòa bình và hữu nghị
Khoa học luật quốc tế đã khẳng định cơ sở lý luận và pháp lý của chức năng bảo vệ của luật quốc tế được trình bày trên đây đã tạo dựng hệ thống nguồn luật hưmg tới mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các loại chủ thể luật quỏc tế, trong đó quốc gia - chủ thể quan trọng ìứiất, đặc biệt cần phải đưực bảo vệ troig đời sống quốc tế
Luật quốc tể bảo vệ các chủ thể của mình trong quá trình tham gia quan hệ quoc tể, cụ thể là bảo vệ các quyền và lợi ích của chúng khi tham gia vào đời sống qucc tế, đây là những lợi ích vật chất hoặc phi vật chất mà các chủ thể luật quốc tể mcng muốn đạt được thông qua việc thực hiện quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý đươc luật quốc tế ấn định Trong khoa học pháp lý quốc tế, các giá trị (lợi ích) kể trêi là khách thể của quan hệ pháp lý quốc tế, cụ thể hơn là các đổi tượng mà từ đó phit sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tể
2 Mục đích và nội dung chức năng bảo vệ của luật quốc tế
Trên cơ sở tiêu chí đặc trưng của sự tác động, quan hệ pháp luật quốc tế được chù thành: quan hộ pháp luật quốc tể điều chỉnh và quan hệ pháp luật quốc tế bảo vệ Quin hệ pháp luật điều chỉnh là quan hệ được hình thành dựa trên các quy phạm phip luật có chức năng điều chỉnh với nhiệm vụ tổ chức, phát triển và củng cổ các
8Văi bản này là một bộ phận cấu thành Hiến chư ơng Liên hợp quốc.
9Xen th êm các phụ lục VII, V lIIC ô n g ước Luật biền 1982.
10
Trang 18quan hệ xã hội theo mục đích cụ thể Còn quan hệ pháp luật bảo vệ là quan hệ đưọc xây dựng dựa trên nền tảng các quy phạm pháp luật có chức năng bảo vệ nhằm đảm bảo các quan hệ xã hội vận hành an toàn, phát triển ổn định và bền vững Quan hệ pháp luật bảo vệ là loại hình quan hệ gắn liền với hành vi vi phạm pháp luật, mọi hành vi này đều bị xử lý theo các quy định của pháp luật và đương nhiên các quan hệ pháp luật có chức năng bảo vệ được hình thành thông qua hoạt động áp dụng pháp luật (áp dụng các quy phạm pháp luật có mục đích phòng ngừa, ngăn chặn và trừng phạt hành vi vi phạm pháp luật).
Các quan hệ pháp luật bảo vệ luôn thể hiện trong nó chức năng bảo vệ, thể hiện phương diện tác động chủ yếu là bảo vệ các chủ thể pháp luật cùng quyền lợi, lợi )ch hợp pháp của chúng trong đời sổng xã hội Cũng như mọi quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật bao vệ bao gồm: chủ thể, khách thể và quyền, nghĩa vụ pháp
lý cua chủ th ể10 Nghiên L U ã đối tượng được bảo vệ của pháp luật chỉnh là tìm hiểu nội dung của quan hệ pháp lý bảo vệ dựa trên cơ sở các nguyên tắc, các quy phạm
cỏ chức năng bảo vệ cùng với mục đích của chủng Như vậy, khỉ đề cập tới đối tuọng bảo vệ của luật quốc tể, chúng ta phải nghiên cứu các quyền và nghĩa vụ pháp lý chủ thể và mục đích bảo vệ của hệ thống luật quốc tế, cụ thể là các ngành luật, chế định phảp luật, quốc tế cỏ chức năng ngăn ngửa, trừng trị C Ú C hành vì vi phạm luật quốc
tế trong các lĩnh vực của đời sổng quốc tế.
■ Mục đích bảo vệ của luật quốc tế
Các mục đích bảo vệ của luật quốc tế được nghiên cứu, phân tích và đúc kết
từ cac điều ước quốc tế đa phương toàn cầu quan trọng như Hiến chương LHQ, các cônị, ước quốc tế phổ cập về các lĩnh vực quan hệ quốc tế chuyên biệt, các văn kiện
9 r
* Ạ
quôc t ê
Mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của chức năng bảo vệ cùa luật quốc tế
là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Vì vậy, luật quốc tế có các nguyên tắc, quy phạn cho phép áp dụng các biện pháp tập thể có hiệu quả nhằm ngăn chặn sự đe dọa hòa bình cũng như loại bỏ chúng nhằm trừng phạt các hành vi xâm lược và các vi phạn hòa bình khác Bên cạnh đó, luật quốc tế còn có các quy phạm hạn chế và giải quyét các tranh chấp hoặc tình thế tranh chấp có thể dẫn đến việc đe dọa hòa bình và
an nnh quốc tế cũng như các nguyên tắc quy phạm mang tính chất bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động chức năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ toàn
Trang 19cầu hioặc khu vực trong quá trình thực tl)■ các nhiệm vụ quốc tế được giao phó như LHQ với các chiến dịch duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; tổ chức OSCE với sứ
m ệnh đảm bảo hòa bình, an ninh ở khu vực châu Âu
Mục đích tiếp theo của luật quốc tế trong quá trình thực hiện chức năng bảo
vệ cu a mình là nhằm phát triển các quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, dựa trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, dân tộc tự quyết và sử dụng các biện pháp phù hợp khác để củng cố hòa bình, an ninh chung, qua đó, giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa, x ã hội và nhân đạo, đảm bảo sự phát triển tiến bộ của các loại hình quan hệ quốc tế nêu trên ở phạm vi toàn cầu
Từ góc độ quyền con người, luật quốc tể với các nguyên tắc và quy phạm của mình có mục đích đạt được hệ thống chuẩn mực chung về quyền con người bằng các quy định ủng hộ và khuyến khích sự tôn trọng quyền con người và quyền tự do cho tất cá không có sự phân biệt đỗi xử vì lv do tôn giáo, chủng tộc, ngôn n g ữ từ đó
hạn chế xung đột, mâu thuẫn giữa các dân tộc, các tôn giáo, tránh được “sự va
cỉtạm ” giữa các nền văn minh.
Xuất phát từ cơ sở nghiên cửu về lý luận và thực tiễn quốc tể, có thể khẳng định luật quốc tế với những chức năng của mình (trong đó có chức năng bảo vệ) là công cụ pháp lý quốc tế quan trụng và cần tỉũết để thống nhắt hóa các hoạt động quốc tể nhằm hướng tới các mục đích nêu trên
Như đã khẳng định ở phần nghiên cứu trên, quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế trong mối quan hệ luật quốc tể bảo vệ là nội dung của quan hệ này, có thể coi nội dung đó là phần cốt lõi của quan hệ pháp luật bảo vệ với luận điểm: quan hệ pháp luật sẽ không tồn tại nếu như không có quyền và nghĩa vụ pháp lý cua các chù thể tham gia Nghiên cửu nội hàm các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể trong quan
hệ pháp lý quốc tế gắn liền với vấn đề quyền năng chủ thể luật quốc tế Chủ thể luật quốc tế khác nhau sẽ có quyền năng chủ thể không giống nhau Đồng thời, khi nghiên cứu quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ luật quốc tế bảo vệ cần lưu ý quyền chủ thể là khả năng xử sự (hành vi) của chủ thể quan hệ pháp luật được luật quốc tể bảo đảm thực thi và thụ hưởng bàng các biện pháp đặc thù của luật quốc
tể, còn nghĩa vụ pháp lý không phải là khả năng xử sự mà là hành vi bắt buộc phải
xử sự của chủ thể luật quốc tế với biện pháp chế tài đặc trưng của luật quốc tế, có
12
Trang 20rrmc đích cưỡng chế chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý Các hành vi xử sự này đuợc thể hiện ở dạng hành động hoặc không hành động.
Quốc gia có các quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ ban có tính chất chung thuộc phim vi bảo vệ của luật quốc tế Các quyền và nghĩa vụ này được hình thành và phát trièn phù hợp với quá trình phát triển tiến bộ của luật quốc tể.Điển hình như quyền bình đẳng về chủ quyền và bình đẳng pháp lý; quyền được tự vệ cá nhân hoặc tập th' Tương ứng với các quyền chủ thể cơ bản nêu trên, các quốc gia có các nghĩa
vụ pháp lý trong quan hệ pháp lý quốc tế như tôn trọng chủ quyền của các quốc gia trcng quan hệ quốc tế; Tôn trọng nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ eũig như biên giới quốc gia; Không sử dụng vũ lực và đe dọa bàng vũ lực trong qmn hệ quốc tể
Trong quan hệ pháp luật quốc tế bảo vệ, các quyền và nghĩa vụ pháp lý nêu trêi của quốc gia đã được bảo vệ, dựa trên các quy định về ngăn ngừa và trừng phạt các hành vi vi phạm luật quốc tế Tổng thể các quyền và nghĩa vụ này tạo nên nội hàn bao vệ của luật quốc tế, có thê th ắ n g định: việc thực hiện quyền và nghĩa vụ phip 1 ý của chủ thể là cầu nổi giữa chúng vói khách thể của quan hệ pháp luật với ngiĩa hiểu việc thực thi và tuân thủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý đều hướng tới nhĩng giá trị và lợi ích nhất định (đỏ là khách thể của ciuan hệ pháp luật)
Ngoài quốc gia là chủ thể chủ yếu, quan trọng nhất, luật quốc tể còn có các loậ chủ thể khác như tổ chức quốc tế liên chính phủ, một số chủ thể đặc biệt Chức năig bảo vệ cưa luật quốc tế cũng được thể hiện rõ trong lĩnh vực bảo vệ các chủ thể nàT cùng các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chúng trong đời sống quốc tế chỉ với một sự khác biệt quan trọng là phạm vi, mức độ các quyền và nghĩa vụ chủ thể của chmg thường hẹp hơn so với quốc gia còn mức độ bảo vệ thì hoàn toàn ngang bằng nhíu
3 Hình thức thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế
Từ góc độ học thuật, thực hiện chức năng bảo vệ của pháp luật chính là thực hiệi các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp củi chủ thể Thực hiện luật quốc tế là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quỵ định của pháp luật quốc tế trở thành kết quả hoạt động thực cế của các chủ thể luậ quốc tế Toàn bộ những hành vi xử sự được tiến hành phù họp với các yêu cầu,
đo hỏi của luật quốc tể đều được coi là kết quả thực hiện thực tế các quy phạm luật qutc tế theo đúng các quy định hữu quan của luật quốc tế
Trang 21Thực hiện chức năng bảo vệ của luật quổc tê năm trong nội hàm thực hiện các nguytn tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế thuộc các ngành luật, chể định luật quốc tể
có đặ: trưng nổi trội là bảo vệ Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện luậtquốc le có các hình thức thực hiện pháp luật quốc tể sau:
Hình thức tuân thủ: Tuân thủ luật quốc tể (hành vi xử sự thụ động) là hình
thức thuc hiện pháp luật, theo đó chủ thể luật quốc tể phải tự kiềm chế không được thực hiìn các hành vi xử sự m à luật quốc tể nghiêm cấm Ví dụ, trong Công ước
1988 vé ngăn ngừa và trừng trị các hành vi tra tấn, đói xử vô nhân đạo, dã man và hạ
thấp ) hin phẩm đã đưa ra quy định nghiêm cấm các hành vi ứng xử nêu trên đổi với
người tị giam giữ (tạm giam, tạm giữ, tù giam) Các quốc gia - thành viên Công ước phải có nghĩa vụ tuân thủ quy định này, việc tuân thủ như vậy là hành vi xử sự họp pháp vè được thể hiện ở dạng không hành động
iTinh thức th i hành: Thi hành luật quốc tể là hình thức thực hiện luật quốc tể,
trong đo chủ thể luật quốc tế thực hiện nghĩa vụ pháp lý cua mình bằng hành vi tích cực, the hiện ở dạng hành động Điểm giống nhau giữa hai hình thức thực hiện luật quốc tế nói trên là ở chỗ các chủ thể hữu quan đều có nghĩa vụ pháp lý phải thực hiện, nhmg khác nhau ở mức độ và dạng hành vi Ở hình thức tuân thủ, hành vi chủ thê đưẹc thể hiện ờ dạng không hiuh động, còn trong thi hành thì luôn được biểu hiện ở cạng hành động
Tinh thứ c s ử dụng: Hình thức thực hiện luật quốc tế mà các chủ thể hữu
quan thrc hiện các quyền và tự do pháp lý của mình như quyền phòng vệ chính đáng, qiyền an ninh tập th ể được luật quốc tế cho phép Khác với hai hình thức thực hitn nêu trên, hình thức sử dụng luật quốc tể có tính chủ động cao trong giới hạn cácquyền được phép Đây là quyền do vậy chủ thể luật quốc tể có thể thực hiện hoặc lđòng thực hiện các quy pliạm cho phép nêu trên, thể hiện tự do ý chí của chủthể mà :hông có sự áp đặt, bắt buộc bất kì nào
ỉìn h thứ c áp dụng: Hình thức thực hiện luật quốc tế trong đó cộng đồng
quốc tế (cả cấp độ toàn cầu hoặc khu vực) thông qua các tổ ohứt quốc tế hoặc cơ quan qiốc tế có thẩm quyền tố chức cho các chủ thể luật quốc tế thực hiện những quy địn cua luật quốc tể hoặc tự mình căn cứ vào luật quốc tể xây dựng các quy định làn phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt các quan hệ luật quốc tế cụ thể
Ở hĩnh hức này, các chủ thể luật quốc tế thực hiện quy định pháp lý quốc tế luôn chịu sự-an thiệp của các thiết chế quốc tể có thẩm quyền
14
Trang 22Trong nhiều trường họp, quan hệ pháp luật quốc tế đã xuất hiện nhưng do có
sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý nên các bên không thể thực hiện được các quyền và gánh vác nghĩa vụ của mình được Việc áp dụng luật quốc tế là cần thiết dựa trên cơ sở tự nguyện của các quốc gia tranh chấp tại cơ quan tài phán quốc tế Phán quyết được tuyên là kết quả cua việc áp dụng các quy định luật quốc tế một cách chính xác Thực tiễn xét xử của Tòa án quốc tế LIIỌ đã chứng minh cho hình thức áp dựng luật quốc tể trong trường hợp này
Xuất phát từ thực tiễn và lý luận, để thực hiện luật quốc tể trong không gian quốc gia, các quốc gia thường sử dụng 2 phương thức sau đây:
- Phương thức áp dụng trực tiếp: các quốc gia có quyền sư dụng trực tiếp các điều ước quốc tế mà quốc gia chấp nhận để điều chỉnh các quan hệ luật quốc tế phát sinh khi cần mà không phải có sự chuyển hóa luật quốc tế vào hệ thống luật quốc gia Tuy nhiên, mức độ áp dụng trực tiếp phụ thuộc vào quyết định của từng quốc gia như Luật cơ bản 1949 của Đức ghi nhận chỉ các nguyên tẳc được công nhận chung của luật quốc tế là một phần của luật quốc gia, như vậy chỉ các nguyên tắc nay được sử dụng trực tiếp, còn các điều ước quốc tế mà Đức là thành viên phải qua thủ tực chuyển hóa
do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng hình thức đạo luật liên bang, khi đó điều ước quốc tế mới có hiệu lực trong không giaii pháp lý CHLB Đức Theo luật Việt
N an các điều ước quốc tể (hoặc một phần của điều ước quốc tế) có nội dung chi tiết,
cụ thé và rõ ràng có thể được áp dụng trực tiếp mà không cần nội luật hóa12
- Phương thức áp dụng thông qua nội luật hóa:
Nội luật hóa là quá trình “chuyển” các nguyên tẳc, các quy phạm của luật
quốc tế vào hệ thống luật quốc gia để áp dụng nhằm đảm bảo các cam kết quốc tể được thực thi Trong thực tiễn, các cách thức sau đây thường được sử dụng13:
+ Biến đổi một văn bản điều ước quốc tể sang văn bản pháp lý quốc gia có chung đối tượng và phạm vi điều chỉnh
+ Dựa trên văn bản điều ước quốc tế, xây dựng văn bản pháp ìý quốc gia mới
có nội dung phù hợp với điều ước quốc tế
+ Bổ sung, sửa đổi văn bản pháp lý quốc gia hiện hành đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý phù họp với điều ước quốc tế
X e m th êm điều 6 Luật ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005.
l2M ộ t số tài liệu sử dụng thuật ngữ “chuyền hóa”
Trang 23Như vậy, nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng bảo vệ cm mình, Luật quổc tế cầm phải có hiệu lực pháp luật trong trật tự pháp lý quốc gia, qua đó bảo đảm việc thực hiện các quy phạm, các nguyên tắc luật quốc tế thông qua các hình thức tuân thủ, thi hành hoặc áp dụng.
về nguyên tắc, giới hạn của chức năng bảo vệ của luật quốc tế đưực xác định theo tiêu chí không gian, thời gian bảo vệ với yêu cầu cụ thể là trong một quan hệ phap luật quốc tế bảo vệ, chức năng bảo vệ của luật quốc té được thực hiện từ thời điếm nào, trong thời gian bao lâu và với những giới hạn nào trong không gian hiệu lực của luật quốc tế
Thời gian thực hiện chức năng bảo vệ cũng chính là thời gian thực hiện quan
hệ pháp luật quốc tế bảo vệ và như vậy gắn liền với thời điểm, thời hạn phát sinh và tồn tại các sự kiện pháp lý quốc tế cùng với hệ lụy của chúng là các tranh chấp quốc
tể Theo khoa học luật quốc tể, quan hệ pháp luật quốc tể xuất hiện, thay đổi và chấm dứt sự tồn tạ dưới tác động của các quy phạm luật quốc tế và tác động của các sự kiện pháp lý quốc tế, bao gồm sự biến pháp lý các loại và hành vi pháp lý của chủ thể luật quốc tế Chức năng bdơ vệ luật quốc tế xuất hiện cùng Jỉiẽ- VỚI thời điem phát sinh quan hệ pháp luật quổc tế bảo vệ, nghĩa là cùng lúc với thời điểm xuất hiện sự kiện pháp lý quốc tế
Luật quốc tế quy định hành vi hợp pháp có thể làm phát sinh quan hệ pháp luật quổc tế bảo vệ nếu trong luật quốc tể có nguyên tắc quy phạm tương ứng và thời điểm thực hiện hành vi này đồng thời là thời điểm khởi động chức năng bảo vệ của luật quốc tế trong toàn bộ quá trình thực hiện và chấm dứt hành vi pháp lý quốc tế
Hàntìi vi vi phạm luật quổc tế là yếu tổ chủ yểu “kích hoạt” chức năng bảo vệ của luật quốc tế, làm phát sinh quan hệ phát lý quốc tể bảo vệ Hành vi này là những
xử sự trái với các quy định, cam kết quốc tế gây ra thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất cho chủ thể khác hoặc cộng đồng quốc tế Từ đây quan hệ pháp luật quốc tế bảo vệ được hình thành giữa các chủ thê có liên quan, chức năng bảo vệ bắt đầu vận hành thông qua sử dụng các quy phạm ỉuậì quốc tế ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm đã, đang và sẽ được thực hiện trong tương lai
16
Trang 24- Giói hạn về không gian thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế
Trong phạm vi quốc gia, luật quốc tế cũng có hiệu lực thi hành khi các quốc
gia áp dụng các phưong thức trực tiếp hoặc nội luât hóa Tuy nhiên, luật quốc tế nói
chung và chức năng bảo vệ của nó nói riêng sẽ bị những hạn chế nhất định bởi
nguyên tắc chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công nội bộ của quốc gia cũng
như các trườno hợp miễn trách nhiệin pháp lý quốc tế
Trong phạm vi lãnh thổ, quốc gia toàn quyền thực hiện các hoạt động với điều
kiện các hành vi đó không bị luật quốc tế nghiim cẩm Như vậy, luật quốc tế khi
được áp dụng thực tế với chức năng bảo vệ của mình sẽ có những hạn chế nhất định
Công việc nội bộ của một quốc gia được xác định là “Các phương diện hoạt
động chủ yếu của nhà nước dựa trên cơ sở của chủ quyền quốc gia, bao gồm toàn bộ
những hoạt động mang tính chất đổi nội, đổi ngoại của quốc gia và được tiến hành
phù họp với luật quốc gia cũng như luật quốc tể ’’14 Luật quốc tế không được áp
dụng nhằm thực thi chức năng bảo vệ của mình trong các công việc nội bộ của một
quốc gia tiữ những trường hợp ngoại lệ 15, nói cách khác đây chính là giứi hạn thực
hiẹn chức năng bảo vệ của luật quốc tế
Các trường hợp miễn trách nhiệm pháp lý quốc tế trong khoa học luật quốc tế
CÓ thc được coi là giới hạn bao vệ của luật quốc tế Luật quốc tế với chức năng hao
vệ sẽ không được áp dụng nhằm ngăn ngừa hoặc xử lý các hành vi vi phạm luật quốc
tế trong một số trường hợp nhất định Dụ thảo Công ước về trách nhiệm pháp lý
quốc tể đã nêu rõ các trường hợp không thể đưa ra kết luận có sự vi phạm luật quốc
tế nhu trường hợp áp dụng biện pháp tra đũa, trường hợp bất khả kháng, trường hợp
có sự đồng ý hoặc yêu cầu của chủ thể bị hại16
LĨNH V ự c CỤ THẺ
1 Lĩnh vực an ninh quốc tế
1.1 Thực hiện chức năng bảo vệ thông qua biện pháp an ninh tập thể
Đảm bảo an ninh và hòa bình quốc tế là một trong các vẩn đề trọng tâm của
đời Síng quốc tế hiện đại Luật an ninh quốc tế được hình thành và phát triển, trong
14 Đại lọc Luật Hà N ộ i, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb C ô n e an nhân dân, 201
15X e m hêm điều 2 Hiến chương.
I6Đ iền lình như trường họp cùa N ga đổi với các hoạt động không kích IS tại Syria vừa qua.
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 25-đó an ninh toàn câu cũng như an ninh khu vực và giải trừ quân bị, củng cô ri'êm tin
là các bộ phận cấu thành quan trọng của ngành luật này17
Hệ thống an ninh tập thể là tổng họp các biện pháp an ninh được định hình
trong các ĐƯQT, gồm an ninh toàn cầu (trong khuôn khổ LHQ) và an ninh khu vực
Hệ thống an ninh toàn cầu được hiểu là hệ thống các biện pháp an ninh tập thể
duy trì hòa bình và an ninh quốc tế theo quy đ nh của Hiến chương LHQ Theo đó,
vấn đề duy trì hòa bình và an ninh quốc tế cần phải được xây dựng dựa trên cơ sở
nên tảng các nguyên tắc và quy phạm được công nhận chung của luật quốc tế (quy
phạm jus cogens) và được Đại hội đồng và Hội đồng bảo an thực hiện trong phạm vi
thẩm quyền đã được phân định rõ ràng Đại hội đồng có thẩm quyền thảo luận bất kì
vấn đề hoặc sự kiện liên quan tới việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, bao gồm
cả việc tìm hiểu, nghiên cứu các nguyên tắc họp tác chung trong vấn đề này, cũng
như có quyền đưa ra các khuyến nghị cho Hội đồng bảo an và các quốc gia thành
viên vào thời điểm trước hoặc sau khi thảo luận các vấn đề an ninh và hòa bình quốc
tế Khác với Đại hội đồng, với trách nhiệm chủ yếu và hàng đầu trong việc duy trì
hòa bình và an ninh quổc tế, Hội đồng bảo an cỏ quyền lực thực hiện các hoạt động
phòng ngừa và cưỡng chế, trong đó có việc sử dụng lực lượng vũ trang thống nhất
của các nước thành viên LHQ vào quá trình duy trì hòa bình và an ninh quốc tể trong
các trường hợp đe dọa hòa bình, xâm phạm hòa bình và hành vi xâm lược nhằm mục
đích duy trì hoặc tái phục hồi hòa bình, an ninh quốc tế
Bên cạnh sự tồn tại hệ thống an ninh toàn cầu, các tổ chức an ninh khu vực
nhằm mục đích duy trì hòa bình và an ninh quốc tế cũng được thành lập, hoạt động
trên cơ sở các ĐƯQT hữu quan và là một bộ phận cấu thành hệ thống an ninh quốc
tế toàn cầu Các biện pháp cưỡng chế vũ trang được thực hiện trong khu vực chỉ có
thể được tiến hành nhằm phản ứng với hành vi tấn công đã được thực hiện Đồng
thời, các biện pháp này sẽ được thi hành theo đúng quy định của Hiến chương, sau
đó sẽ được thông báo ngay cho Hội đồng bảo an
và cúng cố lòng tin
Biện pháp giải trừ quân bị và củng cố lòng tin được coi là các bộ phận cấu
thành cơ bản của luật an ninh quốc tế trong thế giới hiện đại
17M G IM O , Giảo trình Luật quốc tế, Nxb Quan hệ quốc tế, M átxcơva 2007, trang 405.
18
Trang 26Giải trừ quân bị được hiêu là ‘‘tông thê các biện phap đã được các quốc gia
thoa ỉhuận nhất trí áp dụng nham giảm bớt và tiến tới mục đích cuối cùng là thủ tiêu tu.in bộ các phương tiện vật chất tiến hành chiến tranh hoặc xung đột vũ trang”18.
Giải trừ quân bị được đảm bảo thực thi và tuân thủ như là một nguyên tắc của luát quốc tế và được thể hiện trong hệ thống các điều ước quốc tế về giải trừ quân bị vói sổ lượng rất lớn Điển hình như Công ước về nghiêm cấm nghiên cứu, sản xuất
và tàng trữ các vũ khí sinh học và có độc tổ và loại bỏ chủng năin 1972, Hiệp ước khòng phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968, Công ước về nghiêm cấm nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ và sử dụng vũ khí hóa học và hủy bỏ chủng năm 1993 Để mở rộng phim vi và nâng cao mức độ giải trừ vũ khí hạt nhân nhằm tiến tới một giải pháp tom diện và triệt để, cộng đồng quốc tế đã thiết lập các khu vực phi hạt nhân hóa trcng khuôn khổ các tổ chức quốc tế khu vực
Cùng với sự hình thành hệ thống các ĐƯQT về giải trừ quân bị, hệ thống các bi' n pháp kiểm soát cũng được xây dựng với tất cả sự đa dạng của các biện pháp nà', được thể hiện ở các cơ cấu, thành phần, loại hình kiểm soát nhàm đạt hiệu quả tối đa trong giải trừ quân bị Bên cạnh đó, các biện pháp củng cố lòng tin 19 gồm quan sái thông báo, thông tin trao đổi dừ liệu về vũ khí, lực lượng vũ trang và các hoạt độig quân s ự cũng đã được ghi trong nhiều ĐƯQT đi kèm Với quá trình này
1.3 Thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế thông qua quyền tự vệ
Từ góc độ lý luận, quyền tự vệ được hiểu là quyền của quốc gia được thực hun các hành vi trả đũa quân sự nhằm khôi phục nền độc lập chính trị và toàn vẹn lãih thổ bị quốc gia khác xâm phạm bằng hình thức tán công quân sự20 Với nội duig pháp IV như vậy, quyền tự vệ được khăng định là một trong các ngoại lệ của ngiyên tắc cẩm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
Tụ vệ cá thể được định nghĩa là các hành vi đáp trả quân sự được một quốc gia thực hiệi nhằm mục đích khôi phục lại quyền độc lập chính trị (chủ quyền quốc gia) và sự toài vẹn lãnh thổ đã bị quốc gia khác xâm phạm bằng các hành vi tấn công vũ trang củi minh21 Cơ sở pháp lý sử dụng vũ lực theo trình tự tự vệ đã được ghi nhận trong
18Đ.i học H ữ u nghị, Luật quốc tế, Nxb Pháp luật, M atxcova 1999, trang 290.
19 (ác biện pháp củng cố lòng tin được hiểu là các biện pháp tồ chức - kĩ thuật chuyên biệt được áp dụng nhãn mục đích đạt được sự hiêu biêt lẫn nhau, làm giảm sự đôi đâu quân sự, ngăn chặn các cuộc tân công bất ngchoặc c ác x u n g đột không lường trước, trong đó bao gồm cả xung đột vũ trang hạt nhân
20Đằu 51 Hiến chư ơng LHQ.
21T ỉ điền luật quốc tế, Nxb Quan hệ q uốc tế, M atxcova 1986.
Trang 27Điều >1 Hiển chương LHQ Điều kiện thực hiện quyền tự vệ theo quy định của luật
quốc ể bao gồm22:
+ Các hành V tự vệ này là cần phải được tiến hành nhằm chặn đứng cuộc tấn
công ếe dọa nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia Mục đích của
quyềi tự vệ là bằng hành vi quân sự chấm dứt cuộc tấn công đang diễn ra
có nục đích bảo vệ, giới hạn việc mở rộng hoạt động quân sự, khoanh vùng mức độ
của dién tranh hoặc xung đột vũ trang
-+ Các hành vi tự vệ càn được kết thúc ngay khi đã chặn đứng hoặc chấm dứt
các hàứr vi tấn công
Tự vệ tập thể được hiểu là các hành vi vũ trang của hai hay nhiều quốc gia
đáp tm I.ành vi tấn công của quốc gia khác nhằm mục đích khôi phục lại quyền độc
lập chính trị, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thỗ quốc gia là nạn nhân của hành vi tấn
công 'íản lược23 Như vậy, quốc gia bị tấn công có quyền đáp trả bàng biện pháp
quân sự cùng với các quốc gia đồng minh Cơ sở thực hiện quyền tự vệ tập thể có thể
xuất phit từ yêu cầu của quốc gia bị íấn công hoặc trong khuôn khổ ĐƯQT Sự giúp
đỡ quii sự có nhiều hình thức khác nhau từ cung cấp vũ khí, trang thiết bị quân sự
chọ đệntiến hành các hoạt động quân sự trục tiếp chống lại quốc gia xâm lược
chổng tội phạm quốc tế
21 Trừng phạt tội phạm quốc tế của các tòa án hình sự quốc tế
'Iheo ủ y ban luật quốc tế của LHỌ tội phạm quốc tế được xác định là các
hành vi chống lại pháp luật quốc tể, xâm phạm tới các quyền và nghĩa vụ thiêng
liêng củi nhân loại có tính chất sổng còn đối với xã hội văn mình24 Đây là những tội
phạm ruuy hiểm nhất, vì thế trong lý luận HSQT, loại hình tội phạm này còn được
gọi là tạ ác quốc tể và phải bị tiừng trị thích đáng
Trong lý luận luật quốc tế, tội phạm quốc tế là những hành vi của các cá nhân
b’ luật (Uổc tế nghiêm cấm Điều đặc biệt là các hành vi này được thực thi hay tuân
thủ là mân danh quổc gia hoặc nhằm thực hiện chính sách, dưừng iối quỏc gia Các
chủ thểphạm tội ác quốc tế phải gánh chịu trách nhiệm hình sự, tuy nYên trách
22V.L.Tôntưc, Luật guốc ré.Nxb Wolters Kluivver, M atx cova 2010.
23Từ đ iểnuật quốc tế, Nxb Quan hệ quốc tế, M a tx co v a 1986.
24 Đại họcLuật Hà N ộ i,Giáo trìnhLuật quắc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, trang 337.
20
Trang 28nhiện này của họ không loại bó trách nhiệm quốc tể của quốc gia mà cá nhân có mối
quam ệ công vụ
Tội phạm quốc tế bao gồm tội xâm lược, tội diệt chủng, tội chổng lại con nguờ và tội ác chiến tranh25 Các đặc trưng quan trọng cua tội phạm quốc tế được thể hện rất đa dạng Cụ ihể:
- v ề thẩm quyền xét xử: đổi với loại tộ phạm này, thẩm quyền xét xử được xác énh không chỉ dựa trên cơ sở các nguyên tắc phân định thẩm quyền chung như nguy'n tắc lãnh thổ, nguyên tắc quốc tịc h mà còn dựa trên nguyên tắc thẩm quyền tài pláa phổ cập Theo nguyên tắc này, các quốc gia liên quan đều có quyền sử dụng các biện pháp cần thiết để xác lập thẩm quyền xét xử của mình đổi với tội
phạm quốc tế được xác định theo luật hình sụ quốc tế mà không cần quan tâm đến việc ầành vi tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ nước nào, nhằm mục đích gì,
chốnị, lại ai và ai là người thực hiện hành vi tội phạm27
- Tội phạm quốc tế không chỉ bị xét xử và trừng phạt tại tòa án hình sự quốc gia theo luật quốc gia mà còn bị xét xử và trừng phạt tại tòa án hình sự quốc tể và iheo luát quốc tể (như Tòa án Nurumbe, Tòa án Tokyo 1946
■ Thời hiệu tổ tụng hoàn toàn không được áp dụng đối với tội phạm quốc tế Diều ĩiày thể hiện ý chí của cộng đồng quốc tẻ trong việc loại bo hoàn toàn các tụi ác
quốc tể ra khỏi đời sống quốc tế, đảm bảo ở mức độ cao nhất công lý quốc tế được thực thi28
Hệ thống toà án hình sự quốc tế được hình thành đã đáp ứng nhu cầu phát triển É1«P tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tể, góp phần trừng phạt hiệu quà các tội phạm quốc tế Ngoài những điểm chung, in ( i thiết chế tòa án cũng
có đặ; hù riêng phát sinh từ những hoàn cảnh, điều kiện cua đời sổng quốc tể
-lai tòa án quân sự quốc tế Nurumbe và Tokyo được thành lập trên cơ sở các ĐƯQThữu qua ọ v ề thực chất, đây là Tòa án của các nước thắng trận xét xử các tội phạm ciiển tranh của các nước thua trận trong đại chiến II Các vấn đề pháp lý của 2
25 Các qu' định liên quan đến nhóm tội p h ạm này đ ư ợ c ghi nhận trong cá c v ă n bản pháp !ý quốc tế như 04
C ô n g ư ớ(G iơ ne vơ về bảo hộ nạn nhân chiến tranh n ăm 1949 và 0 2 N ghị định th ư bổ sung năm 1977; C ông
ước n g ăn ig ừ a và trừng trị tội diệt chủng n ăm 1948; Q u y chê R om e về T ò a án hình sự q u ố c tế năm 1998
26M ột số ài liệu sử dụng thuật ngữ ‘thầm quyền tài phán toàn cầu
27 Nguyễi Thị Thuận, Luật hình sự quốc tế, Nxb C ông an nhân dân, H à Nội, 2007, trang 90.
28 Xem tlìm Q uy chế R o m a 1998 về thành lập T A H S q u ố c tế; C ô n g ư ớ c về k h ô n g áp dụng thời hiệu tố tụng
đôi với tẹ phạm chiến tranh và tội phạm ch ố n g lại nhân loại năm 1 968
29 Tòa ánvlurumbe theo Hiệp định London ngày 8 th áng 8 năm 1945, còn T ò a án T o k y o theo Hiệp định năm
Trang 29tòa đéu có tính lương dồng về nguyên tắc trong lĩnh vực thẩm quyền xét xử, cơ cấu tổ chức, trình tự thủ tục tố tụng, ra phán quyết và thi hành án Mặc dù đều là loại hình tòa
ad hoc nhưng các nguyên tắc pháp lý nền tảng của Quy chế tòa án quân sự quốc tế cùng với phán quyết được đưa ra đã được pháp điển hóa trong khuôn khổ LHQ vào năm 1946 trong Bản các nguyên tắc Nurumbe, trở thành kim chỉ nam cho hoạt động xét xử các tội phạm quốc tế, đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng xác định thẩm quyền tài phán và áp dụng luật quốc tế đối với tội phạm quốc tế tạí các Tòa án hình sự quốc tế trong tương lai
Khác với các tòa án quân sự quổc tẽ trên đây, Tòa án hình sự quốc tế về Nam
Tư cũ và Rwanda được thành lập dựa trên cơ sở các quyết định do HĐBA LHQ
thông qua30 trên cơ sở giải thích mờ rộng khái niệm “thẩm quyền ” của HĐBA trong
truòng hợp có đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế hoặc có hành vi xâm lược ở chưcmg VII Hiến chuưng Hoạt động của 2 Tòa án hình sự quốc tế về Nam Tư và Rwanda có tác động và ảnh hưởng quan trọng đổi với việc bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế thông qua việc, ngăn ngừa các quốc gia theo đuổi chính sách xâm lược, chính sách đi ngược lại với chuẩn mực quốc tế đồng thời trừng phạt các cá nhân, đặc biệt la các lãnh đạo nhà nước đã hoạch định, chuẩn bị và thực hiện các hành vi tội
p h ạ m q u ố c tế
Ngày 17 tháng 7 năm 1998, cộng đồng quốc tế đã nhẩt trí thông qua Quy chế
về tồ í án hình sự quốc tế tại Roma (Italia) Theo quy định, TAHSQT là cơ quan tài
phán :hường trực có thẩm quyền xét xử quốc tế và có tính bổ sung cho thẩm quyền xét x ì hình sự của tòa án quốc gia TAHSQT có tư cách pháp nhân quốc tế, có quyền năng thủ thể cần thiết cho việc thực hiện chức năng và mục đích của mình31 Theo Quy <hế, TAHSQT có thẩm quyền xét xử và trừng phạt 4 loại tội phạm, bao gồm: tội phậĩ n diệt chủng, tội phạm chống loài người, tội phạm chiến ưanh và tội xâm lược Theo điều 110, Phán quyết của tòa sẽ ấn định một trong các hình phạt: phạt tù giam
có tlhđ hạn, nhưng tối đa không quá 30 năm, phạt chung thân Ngoài ra, trong phán quyết có thể áp dụng hình phạt bổ sung như tịch thu tài sản, phạt tiền Mặc dù còn
có rulung hạn chế nhất định nhưng sự hình thành và phát triển của TAHSQT trong
30 việặndẫn đến VII của Hiến chư ơng L H Q , H Đ B A đã thông qua quyết định số 808 vào ngày 22 tháng 2 năm
1993 tlành lập TAHS quốc tế đối với các tội phạm quốc tế được thực hiện trên lãnh thổ N am Tư C ũ n g theo một trrìih tự thủ tục như vậy, ngày 8 th án g 11 năm 1994 HĐBA đã ra quyết định sổ 955 thành lập T A H S quốc
tê đốii ới các tội phạm quốc tế được thực hiện trên lãnh thồ Rvvanda và các tội phạm quốc tế do công dân Rvvamd thực hiện trên lãnh thổ các quốc gia láng giềng.
31Điềtu và 2 Q uy chế T A H S Q T Lahay 1998.
22
Trang 30đời sống quốc tế chắc chắn góp phần quan trọng và hiệu quả trong việc bảo vệ hòa
bình và an ninh quốc tế, ngăn chặn nguy cơ xung đột vũ trang và những hệ lụy
thường đi kèm v< ■ nó là tội ác chiến tranh, tội phạm chổng lơài người
tưong trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm
Khác với chức năng bảo vệ của luật quốc tế trong lĩnh vực phòng chống tội
phạm quốc tế, chức năng bảo vệ của luật quốc tế được thể hiện ở phương thức tác
động gián tiếp trong lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự, bao gom cả dẫn độ tội phạm
với tư cách là các công cụ pháp lý hỗ trợ cho toàn bộ hoạt động phòng chống tội
phạm, trong đó có cả tội phạm quốc tế, góp phần đảm bảo tối đa hiệu quả của cuộc
chiến ngăn ngừa và trừng phạt các loại tội phạm
Chế định tương trợ tư pháp hình sự và di 1 độ tội phạm là tống thể các nguyên
tắc, các quy phạm luật quốc tế điều chỉnh các vấn đề pháp lý phát sinh giữa các chủ
ihể luật quốc tể với nhautrong quá trình hợp tác giúp đõ lẫn nhau đấu tranh phòng
chống tội phạm32
Các quy định về tưưng trợ tư pháp hình sự thường điều chỉnh các vấn đề pháp
lý quan trọng như chuyển giao và tiếp nhận các loại gi iy tờ, tài liệu, thư tín có liên
quan đến vụ việc hìíih sự được thụ lý giải quyết, Thực hiện các hoạt (lộng tác nghiệp
điều tra - thẩm vấn như thẩm vấn các bị cáo, nghi phạm, lấy lời khai của nhân chứng
hoặc trưng cầu ý kiến tư vấn chuyên môn của các chuyên gia; Tiến hành các hành vi
khám xét, kiểm tra tư pháp nhằm thu hồi và chuyển giao vật chứng, chứng cứ vụ án,
thực hiện các hoạt động giám định cần thiết, kê cả các hành vi truy tìm tội phạm .33
Các vấn đề pháp lý về trình tự thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp hình sự được điều
chỉrh bởi cả luật quốc tế và luật quốc gia Trong thực tiễn, quốc gia cũng có thể từ
chối thực hiện yêu cầu tương trự tư pháp nếu việc đáp ứng có thể xâm phạm đến chủ
quyẻn quốc gia, an ninh và trật tự công cộng hoặc các quyền và lợi ích có tính chất
sống còn đối với quốc gia hoặc hành vi tương trợ tư pháp không phù hợp với các quy
định hiện hành của pháp luật nước được yêu cầu
Theo khoa học luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia trong đó có Việt
Nam, khái niệm dẫn độ tội phạm được hiểu khá thống nhất, là việc một nước chuyển
32 v ề thực chất, tương trợ tư pháp hình sự bao gồm cả vấn đề dẫn độ tội phạm, nhưng do tầm quan trọng c ủ a
dân cộ tội phạm, khi nghiên cứu các học già thường tácli ra đề nghiên cứu chuyên biệt các đ ặc thù của đ ịn h
chế my.
Trang 31giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có
mật trên lãnh thổ nước mình đe nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự
hcặc thi hành án đối với người đó34; hoặc là hành vi trợ giúp pháp lý được các quốc
gia hữu quan (quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu) thỏa thuận dựa trên cơ sở
pháp lý quốc tế được thể hiện ở nội dung: quốc gia được yêu cầu chu' ển giao thể
nhân đang hiện diện trên lãnh thổ nước mình cho quốc gia yêu cầu nhằm mục đích
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành phán quyết hình sự đã có hiệu lực đổi với
thể nhân bị dẫn độ33 Tuy nhiên, thực tiễn quan hệ pháp lý quốc tế cho thấy chủ thể
khác của luật quốc tế cũng tham gia quan hệ này36
Trên cơ sở chủ quyền, dẫn độ tội phạm là quyền của quốc gia chứ không phải
nghĩa vụ Bất kì quốc gia nào cũng đều có quyền tài phán đối với cá nhân hiện diện
trên lãnh thổ nước mình khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Trong trường hợp
có ĐƯQT thì dẫn độ tội phạm tuy là nghĩa vụ pháp lý nhưng chỉ được thực hiện với
một loạt các điều kiện và thủ tục cụ thể được ghi nhận trong ĐƯQT
Khi quan hệ pháp ]ý quổc tế về đẫn độ được hình thành, toàn bộ quá trình
thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng của các chủ thể hữu quan (quổc gia
yêu cầu và quốc gia được yêu cầu dẫn độ) sẽ được thực thi dựa trên các cơ sở pháp lý
quốc tế và quốc gia như các nguyên lắc cư bân trong dẫn độ tội phạm ,'7 trình tự thu
tục dẫn độ tội phạn cũng như một loạt các vấn đề khác quan trọng như các trường
hợp không dẫn độ, nếu cá nhân bị dẫn độ bị kết án vì một tội danh khác, hoặc bị kễt
án tử hình (mà luật của nước được yêu cầu không áp dụng án này), hay thời hiệu tố
tụng đã hết, hành vi vi phạm dẫn đến trách nhiệm dân sự - hành chính hoặc đã được
quốc gia ban hành quyết định ân x á
3 Lĩnh vực giải quyết tranh chấp quốc tế
giải quyết tranh chấp của các tổ chức quốc tế liên chính phủ
34Điều 32 Luật tương trợ tư pháp năm 2007.
3<; Nxb P k C i S P E C l , Lì/ậi quốc /eMatxcova, 2003, trang 353.
36 T AHS quốc tế về N am T ư và Rvvanda đã phát lệnh yêu cầu các quốc gia liên quan dẫn độ các tội p hạm quốc
tế trong cuộc nội chiến tại 2 nước này sang La hay để xét xử; T A H S quốc tế đã phát lệnh yêu cầu dẫn độ đối
với các lãnh đạo Libi trong cuộc nội chiến tại quốc gia Bẳc Phi này vào năm 2010 và 2011.
37Bao gồm ngu y ên tẳc có đi có lại; Nguyên tắc định danh kép tội phạm; Nguyên tắc không dẫn độ công dân
nước mình cho nước ngoai; Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị.
38 Theo Quy tắc chung, yêu cầu dẫn độ phải được lậpgồm tập hợp các giấy tờ, tài liệu, dử liệu cần thiết được
quốc gia yêu câu gửi theo kênh thông tin quốc tế được quy định, có thể là kênh ngoại giao hoặc tư pháp, nhằm
chứng minh cho m ục đích của yêu câu dẫn độ tội phạm.
24
Trang 32I hực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy các quốc gia thường giải quyết các tranh chấp giữa chúng trong khuôn khổ TCQT liên chính phủ mà họ là thành viên Mòi
TCQT đều có đặc trưng riêng trong cơ chế giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền
của mình,39 gắn liền với chức năng bảo vệ của luật quốc tế nói chung và của TCQT
nói riêng
3.1.1 Giải quyết tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ LHQ
Theo Hiến chưưng LHQ, Đại hội đồng và Hội đồng bảo an là những cơ quan
có quyền giải quyểt hòa bình các tranh chấp
Hội đồng bảo an là cơ quan có vị trí trung tâm trong giải quyết loại tranh chấp
nếu kéo dài có thể đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế40 Sau khi xác định tính chất
của vụ tranh chấp hay tình thế tranh chấp, Hội đồng bảo an có quyền tiến hành một
loạt các hành vi cần thiết phụ thuộc vào mức độ tính chất nguy hiểm của tranh chấp,
như yêu cầu các bên giải quyết bằng các biện pháp được quy định trong Điều 33
Hiến chương, khuyến nghị các bên những thủ tục và biện pháp cần thiết Hội đồng
bảo an có thể hoạt động theo sáng kiến riêng của mình hoặc lưu ý bất kì quốc gia
nào, Dại hội đồng và Tổng thư ký LHQ tới vụ tranh chấp cụ thể Ngoài ra, Hội đồng
bảo an có thể có các quyền hạn khác nếu điều đó là cần thiết cho mục đích thực thi
sứ mệnh gìn giữ hòa bìiứi và an ninh quốc tế, kể ca những quyền khòng được quy
định trực tiếp trong Hiến chương LHQ41
Đại hội đồng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các thủ
tục riêng của mình như khuyển nghị các biện pháp hòa giải bất kì tình huống nào,
khòng phụ thuộc vào nguồn gốc phát sinh; đưa ra nghị quyểt có tính chất chung như
Nghị quyết sổ 37/10 năm 1982 ghi nhận Tuyên bố Manila về giai quyết hòa bình các
tranh chấp quốc tế, cũng như nghị quyết có tính riêng biệt như Nghị quyết số 48/84B
năin 1993 kêu gọi các quốc gia khu vực Bancăng tăng cường tình đoàn kết trong nỗ
lực chung giải quyết khủng hoảng ở khu vực này; thông qua các quyết định về tiến
hành điều tra bất kì tranh chấp hoặc tình huống tranh chấp quốc tế nào phát sinh
Tổng thư ký có vai trò quan trọng trong giải quyết tranh chấp như đóng vai
trò trung gian, hòa giải; đệ trình vụ tranh chấp ra trước Hội đồng bảo an và yêu cầu
ngiiên cứu giải quyết Ngoài ra, trong hệ thống LHQ còn có các cơ quan và tổ
39Đii học Luật H à Nội, Giáo trình luật quắc tế, Nxb C ông an nhân dân, 2012.
4QXfm thêm điều 34 Hiến chương.
41V L T ô n s tư c , Luật quắc tế, Nxb Wolters Kluweis, M atx cova 2010.
Trang 33chúc chuyên môn khác cũng ghi nhận trong điều lệ (ĐƯQT thành lập) của mình thủ tụt giải quyết hòa bình các tranh chấp.
3.1.2 Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ tố chức quốc tế khu vực
■ Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ OSCE
Hệ thống giải quyết tranh chấp cua OSCE bao gồm 4 bộ phận: cơ chế OSCE đicu chỉnh tranh chấp (cơ chế Valet); ủ y ban OSCE về hòa giai; Tòa án hòa giải và trọng tài; thủ tục hòa giải theo chỉ dẫn
+ Cư chế Valet: thực hiện chức năng trung gian và hòa giải Cơ chế này sẽ đinc khởi động khi có yếu càu của một bên tranh chấp và thông báo cho các bên còn lại Cơ chế này bao gồm một hoặc nhiều thành viên do các bên thỏa thuận lựa chọn
từ danh sách ủy viên được xác định nhưng không có công dân của bên tranh chấp
Cc chế Valet có nhiệm vụ hỗ trợ các bên bằng cách đưa ra các nhận xét hoặc lời khuyến nghị chung hoặc riêng
+ ủ y ban OSCE về hòa giải: Hoạt động của ủ y ban được quy định trong Quy chi thông qua tại Stôckhôm năm 1992 như là sự bổ sung cho cơ chế Valet nêu trên Th:o đó, tranh chấp có thể được chuyển giao cho ủ y ban giải quyết, nếu các bèn traih chấp đồng ý Tuy nhiên, việc yêu cầu ủ y ban giải quyết cũng có thể được thực hiện theo trình tự đơn phương42 Các nghị quyễt cùa ủ y ban có tính chất khuyến nghị
là chủ yếu, tuy nhiên quổc gia thành viên có thể tuyên bố công nhận các khuyến nghị giả quyết do ủ y ban đưa ra có hiệu lực bắt buộc
+ Tòa án hòa giải và trọng tài: được thành lập theo các điều khoản hiện hành cỉu Công ước về hòa giải và trọng tài năm 199243 Theo đó, mỗi quốc gia thành viên
có ]uyền chỉ định hòa giải viên, trong đó ít nhất có một người là công dân nước mình
và một trọng tài viên và một phó trọng tài viên có thể là công dân nước mình hoặc côig dân của bất kì quốc gia thành viên nào Các hòa giải và trọng tài viên sẽ thành lập tòa án Nếu các bên đi đến thỏa thuận giải quyết thì nội dung giải quyết phải đươc ghi nhận và có chữ ký của các bên và thành viên ủ y ban; còn nếu không thành côig, ủ y ban xét xử sẽ soạn thảo báo cáo với kiến nghị giải quyết và thông báo cho các bên được biết Trong thời hạn 30 ngàv cảc bên' vẫĩi không thỏa thuạn được với
nhiU, ủ y ban sẽ gửi báo cáo cho Hội đồng bộ trưởng OSCE
42 Ciương II Quy chế của ù y ban O SC E về hòa giải.
43 Cing ước có hiệu Ịực vào năm 1997, xác định trụ sờ tòa án tại Giơnevơ.
26
Trang 34Tòa trọng tài cũng được thành lập sau khi Báo cáo được đệ trình cho Hội
đồng bộ trưởng OSCE, các quốc gia thành viên có thể ra tuyên bố công nhận thẩm
quyền bắt buộc của Tòa trọng tài Phán quyết của Tòa là chung thẩm
+ Thủ tục hòa giải theo chỉ dẫn: cơ chế giải quyết này được quy định trong
Bản các điều khoản về hỏa giải theo chỉ dẫn được thông qua năm 1992, theo đó, các
cơ quan của OSCE có thể ra lệnh cho các bên áp dụng các thủ tục hòa giải với mục
đích hỗ trợ các bên hữu quan trong giải quyết tranh chấp mà họ không thể điều chỉnh
được trong khoang thời gian hợp lý
v ề tổng thể, ASEAN có kliá nhiều văn bản quy định về cơ chế giải quyết
tranh chấp với nội dung khẳng định nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng biện pháp
hòa bình và thừa nhận quyền lựa chọn các cơ chế thích hợp kể cả cơ chế ngoài
ASEAN Theo các quy định hiện hành của ASEAN, tranh chấp phát sinh được chia
làm 2 loại: tranh chấp chính trị - an ninh và tranh chấp kinh tế - thương mại Đổi với
từng loại tranh chấp có cơ chế giải quyết đặc thù được ghi nhận trong các văn bản
pháp lý hữu quan Trong lĩnh vực kiiih tế, cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN
là sự “mô phỏng” cơ chế của W T 0 44 Đổi với lĩnh vực an ninh chính trị, cơ chế giải
quyết tranh chấp còn thiếu chặt chẽ45 Các văn bản quy định về cơ chế giải quyết
tranh chấp của ASEAN gồm Hiệp ước Rali năm 1976; Nghị định thư Viên chăn năm
2004; Hiến chương ASEAN năm 2007; Nghị định thư năm 2010
Ngoài ra, một số tổ chức quốc tế khu vực khác cũng có các cơ chế giải quyết
tranh chấp được vận hành khá hiệu quả như cơ chế giải quyết tranh chấp của Liên
đoàn các nước Ả rập; cua Liên minh châu Phi (TCQT thay thế cho Tổ chức thống
nhất châu Phi); của Tổ chức các nirớc chầu Mỹ
chức năng bảo vệ của luật quốc tế
Thiết chế tài phán quốc tế là cơ quan tài phán được hình thành dựa trên cơ sở
thỏa thuận hoặc thừa nhận của các chủ thể luật quốc tế nhằm thực hiện chức năng
giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình các chủ thể luật quốc tế thực thi
và tuân thủ các cam kết, các nghĩa vụ quốc tế Các thiểt chế tài phán quốc tế thường
được phân chia thành Tòa án quốc tế và Trọng tài quốc tế ngoài ra còn các thiết chế
tài phán đặc thù nằm trong khuôn khổ TCQT như DSB của WTO Tính chất cúa mỗi
44 Xem thêm Nghị định thư Viên Chăn n ă m 2004
Trang 35loại hình thiết chế tài phán phụ thuộc vào Quy chế, điều lệ, cơ cấu tổ chức và chức năng đặc thù cua từng loại theo sự xác định và lựa chọn của các chủ thể luật quốc tế4’.
Từ sau đại chiến II đến nay, nỉ lều thiết chế tòa án đã ra đờ như Tòa công lý quốc tế LHQ, Tòa luật biển quốc tế, Tòa án châu Âu, Tòa án kinh tể của SNG trcng đó, Tòa công lý có vai trò quan trọng trong đời sống quốc tế Cơ sở pháp lý hoat động của Tòa công lý là Hiến chương LHQ năm 1945 (Chương XIV từ Điều 92 đến Điều 96 quy định các vấn đề tố chức, thẩm quyền, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của Tòa); Quy chể hoạt động của Tòa47; Điều lệ (nội quy) làm việc của Tòa Cá; phán quyết và kết luận tư vấn của Tòa đã có ý nghĩa và giá trị quan trọng, đóng góp cho việc bảo vệ hòa bình và an ninh quổc tế Trong nhiều trường hợp, phán
q irết và kết luận tư vấn đã ngăn chặn được sự leo thang nguy hiểm của tranh chấp quòc tế, giảm thiểu mức độ nguy hiểm hoặc loại bỏ mối nguy hiểm cho đời sống quỏc tế phát sinh từ các tranh chấp mà Tòa thụ lý và giải quyết cũng như các vẩn đề quóc tế căng thẳng cần làm sáng tỏ từ góc độ luật quốc tể48
Một sổ thiết chế tài phán khu vực quan trọng khác như Tòa án Châu âu, Tòa
án kinh tế của SNG, Tòa án cua khối thị trường chung Đông Nam Phi, Tòa án của
cộrg đồng A ndes (M ĩ Latinh) hay Tòa án Trung M ỹ, Tòa án vùng C aribe cỏ
nhệm vụ giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên chủ yếu là các tranh chcp thương mại - kinh tế Đảm bảo quan hệ hữu nghị và thân thiện giữa các nươc ngay cả khi có tranh chấp, góp phần bảo vệ trật tự pháp lý quốc tế khu vực, tạo nền tảng vững chắc và ỗn định cho sự duy trì hòa bình và an ninh toàn cầu
Trọng tài quốc tể là phương thức đã được sử dụng từ lâu để giải quyết tranh chẾp phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế Đây là phương thức hữu hiệu, công bằrg, hợp lý và dễ được các Bên tranh chấp đồng ý lựa chọn Vì thế, nhiều ĐƯQT đa phiơng toàn cầu quan trọng như Hiến chương LHQ, Công ước Chicago năm 1946 về hàrg không dân dụng, Công ước Viên 1969 về luật ĐƯQT, Công ước 1982 về luật biểa đều quy định việc thành lập trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phĩt sinh
46Liặt q u ố c tế, Đại học Luật Hà Nội, H à Nội, 2012.
47 Điy chính là Phụ lục VI của Hiến ch ư ơ n g L H Q - bộ phận cấu thành Hiến chương.
48 Cic vấn đề pháp lý khác về Tòa án công lý quốc tế Liên hợp quốc, xem thêm Hiến chương Liên hợp quốc, nội |uy và Q u y chê của Tòa.
28
Trang 36Tòa trọng tài thường trực quốc tế (PCA) có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên (hiện nay có trên 100 quốc gia là thành
viên của cả 2 công ước) Từ khi thành lập cho đến nay, PCA đã giai quyết khá thài h công một số vụ tranh chấp như vụ Chủ quyền trên đảo Palmas (1928) giữa
Mỹ và Hà Lan, gần đây nhất là Tòa đã thụ lý và thực hiện các bước tố tụng đầu tiên trong vụ tranh chấp chủ quyền trên đảo giữa Philipin và Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, Việt Nam đã ra tuyên bổ với tư cách Bên có liên quan tới quyền và lợi ích của mình tại khu vực này Các tòa trọng tài quốc tế về luật biển ra đời trên cơ
sở Công ước Luật biển năm 198249, ngoài việc cùng các cơ quan tài phán khác giải quyết các tranh chấp quốc tể về biển cũng đã và đang tạo đuợc bước phát triển mới
của luật biển quốc tể nói riêng và luật quốc tế nói chung thông qua chính thực tiễn hoạt động của mình Ngoài ra, với sự linh hoạt, mềm dẻo và đảm bảo quyền chủ động cao của các bên, các tòa trọng tài adhoc cũng được sử dụng tương đổi phỗ biến để giải quyết tranh chấp trong mọi lĩnh vực
Hệ thống các thiết chế tài phán quổc tế đã tự khẳng định là công cụ hữu hiệu dam bảo sự ổn định và phát triển các loại hình quan hệ quốc tế ngày càng phức tạp và đa dạng Với công cụ pháp lý quốc tế hiệu quả này, luật quốc tế hiện
đại đi thực hiện tốt chức năng bảo vệ của m ình trung đời sống quốc tế thông qua
việc giải quyết các tranh chấp quốc tế phát sinh bằng phương thức tài phán, phù hợp \ứi từng hoàn cảnh tranh chấp cụ thể, đảm bảo các tranh chấp được loại bỏ kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể luật quốc tế
nhiệiH pháp lý quốc tế
Trách nhiệm pháp lý quốc tế là một trong những lĩnh vực mà chức năng bảo
vệ củi luật quốc tế được thể hiện khá rõ Chức năng này được thê hiện trong tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm của chế định trách nhiệm PLQT điiu chỉnh các vấn đề ph^D ý có liên quan trong toàn bộ quá trình xác lập và thực thi trách nhiệm pháp lý quốc ế của các chủ thể
Trách nhiệm trong luật quôc tế gồm có trách Iih iệ m chu quan và khách quan Tuy rhiên, trách nhiệm pháp lý quốc tế trong đời sỗng quốc tế vẫn chủ yểu là trách nhiện pháp lý chủ quan phát sinh từ hành vi bất hợp pháp gây ra cả thiệt hại vật chất
và ph vật chất
49X e m hêm Phụ lục VII Và Phụ lục VIII C ô n g ước Luật biển năm 1982.
Trang 37Trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan là loại hình trách nhiệm phát sinh từ hành vi vi phạm luật quốc tể, gây ra thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất và có thể cùng lúc cả 2 loại thiệt hại này Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song các hoạt động pháp điên hóa định chế trách nhiệm pháp lý của quốc gia đã không thành công Dự thảo Các điều khoản về trách nhiệm pháp lý của quốc gia đã được ủ y ban luật quốc
tế của LHQ hoàn thành nhưng vẫn chưa được cộng đồng quốc tế thông qua Mặc dù vậy nó vẫn được đánh giá như là nguồn bổ trợ của luật quốc t< ° Ngoài ra, một số các quy định về trách nhiệm pháp lý của quốc gia còn được ghi nhận trong các ĐƯQT, các nghị quyết của LHQ và các TCQT khác
Cơ sở xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan của quốc gia bao gồm hành vi vi phạm luật quốc tế; thiệt hại thực tể phát sinh và mói quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại phát sinh Phụ thuộc vào lĩnh vực vi phạm mà quyền truy cứu trách nhiệm có thể thuộc về quốc gia bị hại hoặc toàn thể cộng đồng Mức độ, tính chất và phạm vi của hành vi trái pháp luật được xác định rõ để đảm bảo các biện pháp chế tài được áp dụng phù hợp và chính xác Qua đó, chức năng bảo vệ của luật quốc tế mới thực sự có tác dụng ngăn ngừa và trừng trị các hành vi xâm phạm luật quốc tế (kể cả tội ác quốc tể và các vi phạm thông thường) Tuy nhiên, luật quốc tế cũng ghi nhận và cho phép việc tồn tại các hoàn cảnh có thể loại trù
trách nhiệm pháp lý quốc tể của quốc gia hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của quốc gia trong trường hợp không thể thực hiện được các nghĩa vụ pháp lý của mình Trong dự thảo Các điều khoản về trách nhiệm pháp lv của quốc gia, ủ y ban luật quốc tế tập hợp các điều khoản về hoàn cảnh miễn trừ trách nhiệm pháp lý quổc tế của quốc gia bao gồm:
+ Trường hợp các quốc gia đã đạt được thỏa thuận chung liên quan đến hành
vi trái với CaC nghĩa vụ pháp lý quốc tế hiện hành mà trước đó các quốc gia này tự nguyện cam kết thực thi Ví dụ, việc lực lượng vũ trang của nước này vào lãnh thổ của quốc gia khác được coi là hành vi xâm lược, vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế Tuy nhiên, một hành vi như vậy không thể bị coi là xâm lược nếu nó được thi hành theo một ĐƯQT giữa các quốc gia hữu quan như Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ cho phép lực lượng quân sự Mỹ được đồn trú trên lãnh thổ Nhật B ản
50 Luật quốc tế, M G I M O , N X B Quan hệ quốc tế, M a tx c o v a 2007.
30
Trang 38+ Trường hợp miễn trách nhiệm thứ hai xuất hiện khi hành vi của một quốc gia được thực hiện nhằm trả đũa hành vi trái pháp luật của quốc gia khác theo đủng nguyên tắc tương xứng do quốc gia tự mình thực hiện hoặc cũng có thể được LHQ
và các TCQT khu vực khác ủy nhiệm hoặc đồng ý
+ Trường hợp thứ ba là hoàn cảnh mà trong đó hành vi của quốc gia là bắt buộc và cần thiết do các sự biển không lường trước và không có khả năng kiểm soát Các sự biển này đã cản trở quốc gia thực thi và tuân thủ các nghĩa vụ và cam kết quốc te mà quốc gia tự nguyện thực hiện trước đó Ví dụ: các sự biển khách quan như động đất, lũ lụt, dịch bệnh, nước biển dâng
+ Trường hợp miễn trách nhiệm cuối cùng được ghi nhận trong dự thảo là trường hợp mà chủ thể có hành vi xử sự là đại diện quốc gia được thực hiện trong tình huống đặc biệt khẩn cấp, không có khả năng thoát hiểm nểu không có hành vi trái pháp luật quốc tế nhưng vì lý do kĩ thuật, phương tiện bay nước ngoài bắt buộc phải hạ cánh xuống lãnh thổ nước khác mà không được phép của quốc gia hữu quan
Tuy nhiên có ngoại lệ từ các trường hợp miễn trách nhiệm pháp ]ý nêu trên
Thứ nhất, quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm nếu cố tình tạo ra
các tình huống, các hoàn cảnh đế lẩn tránh không thực hiện cam kết quốc tể Thứ hai,
tồn tại điều ước quốc tế không cho phép khả năng viện dẫn các hoàn cảnh, các
trường họp đặc biệt khẩn cấp để miễn trách nhiệm pháp lý quốc tể
Cần lưu ý rằng việc quốc gia viện dẫn luật nước mình kể cả Hiến pháp không được coi là cơ sở dể miễn, trách nhiệm pháp lv quốc tể
Các nguyên tắc, các quy phạm luật quốc tế diều chỉnh trách nhiệm pháp lý quóc tế khách quan được ghi nhận trong các ĐƯQT, TQQT của các ngành luật chuyên biệt trong hệ thống luật quốc tể như luật vũ trụ, luật hàng không quốc tể Với sự hình thành định chể trách nhiệm này, chức năng bảo vệ của luật quốc tế đã đuợc mở rộng về phạm vi và có tính chuyên môn hóa cao khi trách nhiệm khách quan chỉ bao gồm trách nhiệm vật chất, cụ thể là hình thức thực hiện là bồi thường thiệt hại với mức trần bồi thường và khôi phục lại nguyên trạng ban đầu Cơ sở xác định trách nhiệm pháp quôc tế khách quan bao gồm: các nguyên tắc, các quy phạm luật quốc tế quy định các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các Bên phát sinh từ quan hệ trách nhiệm quốc tể khách quan; sự kiện pháp lý và mối quan hệ nhân quả giữa sự biến pháp lý nêu trên và thiệt hại vật chất thực tế phát sinh Đổi với chức năng bảo vệ của luật quốc tế, trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan có vai trò đặc
Trang 39biẻt quan trọng nhất là trong những lĩnh vực có khả năng gây ra tác động lớn đến toan cầu và khu vực như đối với lĩnh vực môi trường ngay cả khi sự tác động đến mỏi trường có sự tham gia của tổ chức, cá nhân thì trách nhiệm pháp lý quốc tể vẫn đặt ra cho chủ thể luật quốc tế - chú yếu là quốc gia khi có hành vi vi phạm các nghĩa
vụ pháp lý trong cam kết kểt quốc tế về môi trường mà mình đã ràng buộc
Trong quan hệ quốc tể, TCQT liên chính phủ không chỉ nhiều về số lượng hon so với quốc gia mà về vai trò, có thể thấy trong nhiều vấn đề quốc tể nếu không
có TCỌT thì không thể giải quyết có tính tổng thể được51 Tương tự như quốc gia, trách nhiệm của TCQT cũng phát sinh trên cơ sở hành vi vi phạm pháp luật quổc tế, thiệt hại thực tế phát sinh và cuối cùng là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại thực tế phát sinh Tuy nhiên, do tính chất phái sinh và hạn chế nêi trách nhiệm pháp lý quốc tế của TCQT không giổng với trách nhiệm pháp lý qiỗc tế của quốc gia và có một số đặc trưng riêng52 Cụ thể, TCQT chịu trách nhiệm
đố với các hành vi xử sự của các cơ quan và các thành viên, nhân viên đại diện thay mẹt cho TCQT; TCQT phải chịu trách nhiệm trong trường hợp đã thông qua các ngỊhị quyết, các quyết định ràng buộc hoặc cho phép các quốc gia thành viên thực hiện các hành vi trái pháp luật quốc tế; TCQT không thể viện dẫn các quy định, luật
lệ cùa mình đê biện miiứi cho hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, lẩn tránh trách nhệm pháp lý quốc tể
TCQT liên chính phủ có thể phai gánh chịu trách nhiệm vật chất cũng như tráih nhiệm pháp lý quốc tế chính trị (phi vật chẩt) Một số TCQT đã thành lập tòa
án hành chính để giải quyết các tranh chẩp phát sinh piữa TCQT với nhân viên Điển hìrh như Tòa hành chính của LIIQ có thẩm quyền thụ lý và giải quyết các tranh chíp, các vụ việc khiếu nại về việc không tuân thủ các điều kiện của hợp đồng lao độig hay các điều kiện bổ nhiệm trong thành phần nhân sự Ban thư kí LHQ53 TCỌT khmg có quyền từ chổi việc thực thi và tuân thủ các phán quyết do Tòa án hành clinh đưa ra54
51 vin đề môi trường toàn càu; vấn đề nhân quyền; vấn đề chống khủng bố
52M j I M O , Giáo trình ỉuật quốc /ế,Nxb Q uan hệ quốc tế, Matx cova 2007.
53Níhị quyết số 351 (IV) ngày 24/11/1949 phê chuẩn Quy chế Tòa hành chính.
54 Q-ian điếm này đă thề hiện rất rõ trong các kết luận tư vấn của Tòa án công lý quốc tế L H Q được thông qua ngà' 13 tháng 7 năm 1954 và ngày 23 tháng 10 năm 1956 v ề hiệu lực pháp lý của các T òa án hành chính ILO
v à l H Q
32
Trang 40IUL KÉT LUẬN
Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chức năng bảo vệ của luật quốc tế cũng như mỏt số ngành luật, chế định pháp luật thuộc hệ thống pháp luật quốc tể thể hiện rõ
ch rc năng bảo vệ, có thể rút ra những kết luận sau đây:
Thứ nhất, cũng giong như luật quốc gia, chức năng bảo vệ là một trong những
ch rc năng cơ bản của luật quốc tể v ề tổng thê, các nguyên tắc, quy phạm pháp luật qiốc tế liên quanđến chức năng bảo vệ không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp CUI các chu thể luật quốc tể mà còn góp phần quan trọng trong việc duy trì hòa bình
an ninh quốc tế thúc đẩy quan hệ họp tác phát triển Quan hệ quốc tế có xu hướng ngiy càng bình đẳng thực chất hơn là một trong những minh chứng cho kết quả tích cự: của chức năng bảo vệ của luật quốc tế
Thứ hai, thực tiễn thực hiện chức năng bảo vệ của luật quốc tế còn khá nhiều
bẩ: cập Bằng chứng là quyền và lợi ích họp pháp của nhiều quốc gia, đặc biệt là các qu)C gia nhỏ vẫn bị xâm hại, hòa bình thể giới vẫn bị đe dọa, xung đột vũ trang leo thung ở nhiều quốc gia, khu vực, môi trường sổng bị ô nhiễm đến mức báo động Trong không ít vụ việc vi phạm, luật quốc tế đã tỏ ra bất lực Những bất cập của việc thục hiện chuc năng bảo vệ bắt nguồn tò nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là các
ngiyên nhân sau:
- Cơ sở pháp lý quốc tế còn thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ
Cùng với xu hướng quốc tế hóa ngày càng gia tăng, bên cạnh những lợi ích
mà các quốc gia có thể nhận được từ việc tham gia quá trình này thì các quốc gia cŨẫg phải đổi diện với không ít những tiêu cực, bất ổn Tuy nhiên, các quy định liên qmn của luật quốc tể dường như chưa “cập nhật” những biến động của đời sống hiện đại Chính sự chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ của luật quốc tế đã dẫn đến việc giải thích
và áp dụng luật trong nhiều trường hợp rất khác nhau, thậm chí việc một sổ chủ thể luâ quốc tế đã cố tình tạo ra những biệt lệ cho riêng mình gây phương hại đến lợi ích họỵ pháp của các chủ thể khác Đây cũng chính là một trong những lý do dẫn đến sự gia tăng các tranh chấp quốc tế cũng như những căng thẳng dai dẳng trong quá trình giả quyết các tranh chấp này
Một sổ quốc gia khỏng tuân thủ các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế, lợi dụng vị thế của nước lớn xâm phạm quvền và lợi ích hợp pháp của quổc gia khic Điển hình là trường họp của Trung quốc với yêu sách phi lý về đường lưỡi