TỐNG THUẬ T KẾT QUẢ NG H IÊN c ứ u Đ Ề TÀIKHÁI QUÁT VỀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 QUA MỘT s ố CHÉ ĐỊNH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
MỐI LIÊN HỆ GIỮA LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 VỚI CÁC VÃN BẢN
Trang 3TỐNG THUẬ T KẾT QUẢ NG H IÊN c ứ u Đ Ề TÀI
KHÁI QUÁT VỀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 QUA MỘT s ố CHÉ ĐỊNH C ơ BẢN TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC VÃN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC
THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH NÃM 2000 TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
NỘ I D U N G CÁC CHUYÊN ĐỀ N G H IÊN c ứ u ĐỀ TÀIĐánh giá sơ lược Luật Hôn nhân và gia đình trong mối liên
hệ với các văn bản pháp luật khácChế định kết hôn trong mối liên hệ với các văn bản pháp
luật khác
Xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng trong
mối liên hệ với các vãn bản pháp luật khác
Đăng ký quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong mối liên
hệ với các văn bản pháp luật khác
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác
Giao dịch dân sự do vợ chồng thực hiện và trách nhiệm dân
sự của vợ chồng trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật
khác
M ột sổ vấn đề về bất động sản và giao dịch liên quan đến
bất động sản thuộc tài sản của vợ chồng trong mối liên hệ
với Luật Đất đai năm 2003 và Luật Nhà ở năm 2005
Trang
1
6 6
Trang 4Một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng 172
trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật kinh doanh
Xác định tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng 179
trong các giao dịch tại các tổ chức tín dụng trong mối liên
hệ với các văn bản pháp luật Ngân hàng
Chế định xác định cha, mẹ, con trong mối liên hệ với các 194
liên hệ với các văn bản pháp luật khác
Pháp luật áp dụng cho quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu 241
tố nước ngoài theo Luật Hôn nhân và gia đình trong mối
liên hệ với các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã
Trang 5DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THựC HIỆN
Trường đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 1
Trường đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 2
Trường đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 3,
Trường đại học Luật H à Nội Chuyên đề 9
9 TS NGƯYẺN PHƯƠNG LAN Trường đại học Luật H à Nội Chuyên đề 11
10 TS NGÔ THỊ HƯỜNG Trường đại học Luật H à Nội Chuyên đề 12
11 TS NGUYỄN THAI MAI Trường đại học Luật H à Nội Chuyên đề 13
12 TS NGUYEN THỊ LAN VÀ ThS Trường đại học Luật Hà Nội; Chuyên đề 14
Nam
Trang 6PHẦN MỞ ĐÁU
1.1.TÍNH CÁP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế như hiện nay đã dẫn tới một hệ quả đương nhiên là các mối quan hệ xã hội đa dạng hơn, phức tạp hơn, trong
đó có các mối quan hệ hôn nhân và gia đình và các mối quan hệ ngoài gia đình nhưng chủ thể tham gia là thành viên trong gia đình Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các vãn bản hướng dẫn thi hành đã phần nào điều chỉnh có hiệu quả các mối quan hệ này Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành chỉ mới tập trung điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các chủ thể là thành viên của gia đình với nhau một cách độc lập mà ít quan tâm và chưa đặt các quan hệ hôn nhân và gia đình trong mối quan hệ tổng thể với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác để điều chỉnh nhóm quan hệ giữa một bên chủ thể là thành viên gia đình và người thứ ba trong các quan hệ thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội Mặt khác, các văn bản pháp luật khác về dân sự, thương mại, doanh nghiệp khi điều chỉnh các quan hệ pháp luật thuộc ngành luật của mình cũng ít có mối liên hệ với pháp luật Hôn nhân và gia đình khi chủ thể của các quan hệ đó đang là thành viên trong gia đình Mấu chốt cùa vấn đề chính là ở chỗ khi áp dụng pháp luật điều chỉnh những quan hệ pháp luật cụ thể xảy ra trong thực tế sẽ không tránh khỏi những xung đột về mặt pháp lý, cũng như những xung đột về mặt lợi ích giữa các chủ thể trong chính mối quan hệ đó và các chủ thể có liên quan mật thiết với họ từ quan hệ hôn nhân, quan hệ gia đình Chính điều này đã có tác động, không chỉ hạn chế hiệu quả điều chỉnh của pháp luật mà còn ảnh hưởng trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong tổng thể các mối quan hệ xã hội Vì vậy, việc đặt Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ở vị trí trung tâm, trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác để nghiên cứu, tìm hiểu những điểm tương thích, khác biệt cũng như những vướng mắc, bất cập trong quá trình điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ giữa thành viên trong gia đình với người thứ ba trong các lĩnh vực của đời sống xã hội là rất cần thiết trong bối cảnh xã hội hiện nay Việc nghiên cứu này không loại trừ tham vọng xây dựng được một khung pháp lý về Hôn nhân và gia đình mang một diện mạo hoàn toàn mới, có tính tương thích với các văn bản pháp luật khác, đồng thời, trong một chừng mực nhất định, có thể định hướng cho việc sửa đổi, bổ sung những quy định mới trong từng văn bản pháp luật cụ thể cũng có tính tương thích và có mối liên hệ biện chứng, thống nhất với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 phù hợp với
xu hướng vận động của xã hội, nhằm mục tiêu đảm bảo sự kết hợp hài hòa lợi ích của cá nhân, gia đình và xã hội
Trang 7Với tất ca các lý do trên, chúng tôi cho ràng việc lựa chọn đề tài “m ối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các văn bản pháp luật khác” để nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay là thiết thực, có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn.
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
Các quan hệ hôn nhân và gia đình rất gần gũi với đời sống thực tế, vì vậy, những mối quan hệ này cũng dành được nhiều sự quan tâm của xã hội Dưới góc độ pháp lý, các học giả, chuyên gia pháp lý cũng dành nhiều thời gian nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Trong những thập niên vừa qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về vần đề hôn nhân
và gia đình Đó là các công trình khoa học ở bậc đại học đến các công trình khoa học ở bậc sau đại học và các đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Tuy nhiên, các công trình khoa học này chỉ mới dừng lại nghiên cứu ở các mức độ: (i) Nghiên cứu chuyên sâu về một chế định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình như chế định tài sản giữa vợ và chồng (Xem luận án tiến sỹ luật học với đề tài “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000” (2005) TS Nguyễn Văn Cừ); chế định cấp dưỡng (xem luận án tiến
sỹ luật học với đề tài “Chế định cấp dưỡng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2006) của TS Ngô Thị Hường); chế định Nuôi con nuôi (xem luận án tiến sỹ luật học với đề tài
“Cơ sờ lý luận và thực tiễn của chế định pháp lý về nuôi con nuôi” (2007) của TS Nguyễn Phương Lan) (xem đề tài khoa học cấp trường “Hoàn thiện chế định nuôi con nuôi trong Luật HN&GĐ năm 2000” (2007) chủ nhiệm đề tài là TS Ngô Thị Hường); Chế định xác định cha, mẹ, con (Xem luận án tiến sỹ luật học với đề tài “Xác định cha,
mẹ, con trong pháp luật Việt Nam” (2008) của TS Nguyễn Thị Lan) ; Tình trạng nam
nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn (xem đề tài khoa học cấp trường
“Giải quyết hậu quả trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn” (2006) chủ nhiệm đề tài là TS Nguyễn Văn Cừ); v ấ n đề tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh (Xem đề tài khoa học cấp trường “Tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh” (2008) chủ nhiệm đề tài là TS Nguyễn Phương Lan), (ii) Nghiên cứu toàn bộ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để phát hiện các bất cập trong các chế định cụ thể (xem đề tài khoa học cấp trường “nghiên cứu, phát hiện những bất cập của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” (2010) chủ nhiệm đề tài là TS Nguyễn Văn Cừ) Trong một phạm vi nhất định, từng đề tài nêu trên cũng đã phần nào đề cập đến những vấn đề có mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 với các văn bản pháp luật khác, nhưng chưa mang tính toàn diện Có thể khẳng định rằng, cho đến nay, trong điều kiện kinh tể xã hội ngày càng có nhiều sự thay đổi và phát triển, các chủ thể mối quan hệ hôn nhân và gia đình tham gia vào nhiều các mối quan hệ
Trang 8thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các văn bản pháp luật khác có liên quan để tạo ra một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh, điều chỉnh có hiệu quả các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp đan xen giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học, với tiêu đề “M ối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các văn bản pháp luật khác” không có sự trùng lặp với các đề tài nghiên cứu khoa học khác.
1.3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của học thuyết Mác - Lê Nin Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở gắn liền giữa lv luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề
Phương pháp nghiên cứu đề tài bao gồm một số phương pháp như phương pháp phân tích, tồng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp vừa mang lại cho đề tài một cái nhìn tổng quát vấn đề cần nghiên cứu, vừa làm cho luận án có chiều sâu hom
+ Phương pháp lịch sử, so sánh luôn được sử dụng song hành trong việc nghiên cứu đề tài Bời vi, khi đặt Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong mối liên hệ với lịch sử lập pháp, đối chiếu với pháp luật chuyên ngành khác, cũng như với pháp luật các nước thì đề tài mới giải quyết được triệt để vấn đề cần nghiên cửu Từ đó, đề tài có được những bình luận, đánh giá chính xác về những ưu điểm và nhược điểm của vấn đề nghiên cứu
+ Phương pháp định lượng, định tính được sử dụng khi xử lý những số liệu thực tế Từ đó
đề tài đảm bảo tính chân thực và có sức thuyết phục cao
1.4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
+ Phát hiện và tháo gỡ được những điểm vướng mắc, bất cập và không thống nhất giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản pháp luật khác trong quá trình điều chỉnh các quan hệ pháp luật
+ Loại bỏ những quy định không phù hợp làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, cũng như những quy định có thể gây ra những khó khăn trong việc áp dụng pháp luật
+ Xây dựng được những giải pháp hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong mối liên hệ thống nhất, biện chứng với các văn bản pháp luật khác nhằm đảm bảo sự dung hòa giữa lợi ích của gia đình và lợi ích của cá nhân, và cao hơn nữa là đảm bảo lợi
Trang 9chung của xã hội.
+ Bổ sung nguồn tài liệu đảm bảo chất lượng tổt, phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các tổ chức, cơ quan, trường đại học và đặc biệt là cho sinh viên Luật đang theo học loại hình đào tạo tín chỉ hiện nay
+ Đặc biệt, trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đề tài có thể là một tài liệu tham khảo, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, cũng như các quan hệ giữa một bên chủ thể là thành viên trong gia đình với người thứ ba ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
1.5 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
Đối tượng của việc nghiên cứu đề tài là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong sự kết hợp với các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Dân sự (2005); Bộ luật Tố tụng dân
sự (2004); Luật Nuôi con nuôi (2010); Luật Doanh nghiệp (2005); Luật Thương mại (2005); Luật Đất đai (2003); Luật Nhà ở (2005) để đảm bảo tính toàn diện và sâu sắc của đề tài nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đề tài sẽ nghiên cứu tương đối toàn diện cả về lý luận và thực tiễn việc điều chinh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong mối liên
hệ với các văn bản pháp luật khác đối với các quan hệ giữa các chủ thể là thành viên trong gia đình với nhau và với ngưới thứ ba trong các quan hệ ở một số lĩnh vực của đời sống xã hội Trong quá trình nghiên cứu, đề tài có thể tham chiếu pháp luật một số nước trên thế giới nhằm đảm bảo hiệu quả nghiên cứu được toàn diện hơn
1.6 NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
+ Đánh giá sơ lược hiệu quả điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác ở từng bối cảnh xã hội cụ thể
+ Nghiên cứu một số chế định cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác như: kết hôn, xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản, những giao dịch mà vợ, chồng là một bên chủ thể, vấn đề xác định cha, mẹ, con, vấn đề nuôi con nuôi, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
+ Tổng hợp những vướng mắc, bất cập và không thống nhất giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các văn bản pháp luật khác trong quá trình điều chỉnh các quan hệ pháp luật Từ đó, xây dựng được những giải pháp hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình
Trang 10năm 2000 trong mối liên hệ thống nhất, biện chứng với các văn bản pháp luật khác nhằm đảm bảo sự dung hòa giữa lợi ích của gia đình và lợi ích của cá nhân, và cao hơn nữa là đảm bảo lợi chung của xã hội.
Trang 11Phần thứ nhất TÔNG THUẬT KÊT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
1.1 KHÁI QUÁT VÊ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC
Ngay sau kh i đất nước ta được thành lập, nhà nước ta chưa có điều kiện để xây dựng một đạo luật hôn nhân và gia đình Trong giai đoạn này chỉ có hai văn bản liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình bao gồm:
Sắc lệnh số 97/1950/SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong Dân luật (sau đây gọi tắt là sắc lệnh số 97/1950/SL); sắc lệnh số 159/1950/SL ngày 17 tháng 11 năm 1950 về ly hôn (sau đây gọi tắt là sắc lệnh số 159/1950/SL) Như vậy, trong giai đoạn này, các quan hệ dân sự và hôn nhân gia đình vẫn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật trước đó như Bộ dân luật Bắc Kỳ (1931) nhưng có xóa bỏ một số quy định được coi là ảnh hưởng đến sự bình đẳng nam nữ cũng như ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân trong xã hội lúc bấy giờ
Xét trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác trong giai đoạn này, chúng tôi thấy không có nhiều vân bản pháp luật liên quan đến việc điều chinh các quan hệ hôn nhân và gia đình, tiêu biểu có Hiến pháp 1946, đây là bản hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trong đó quy định một số nội dung cơ bản về quyền
và nghĩa vụ của công dân, cụ thể là:
+ Bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế trong xã hội như phụ nữ, trẻ em, người già: “đàn
bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9); “những công dân già cả hoặc tàn tật không được làm việc thì được giúp đỡ, trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng.” (Điều 14);
+ Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân (Điều 12);
+ Bảo đảm nơi cư trú của người nước ngoài: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam”
Xuất phát từ những nguyên tắc chung của Hiến pháp, các văn bản pháp luật trong giai đoạn này đã cụ thể hóa trong nội dung và chế định cụ thể
Sắc lệnh số 97/1950/SL có nhiều quy định rất tiến bộ với các đặc điểm là xóa bỏ quyền gia trưởng của người đàn ông trong gia đình; xóa bỏ việc để tang là điều kiện để hôn nhân có giá trị pháp lý; Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình; Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các con, đặc biệt là con trong giá thủ Chẳng hạn sắc lệnh quy định: “Người đàn bà có toàn năng lực về mặt hộ” (Điều 6) đã thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội; Đặc biệt,
Trang 12sắc lệnh này đã có quy định về thời kỳ cư sương giá thú nhưng thể hiện rất rõ tính mềm dẻo linh hoạt nhàm đảm bảo tối đa quyền kết hôn, quyền làm mẹ của người phụ nữ cũng như quyền xác định cha, mẹ, con, quyền thừa kế “người đàn bà góa chỉ có thể lấy chồng sau mười tháng, nhưng trong thời hạn ấy, người vợ góa vẫn có thể tái giá nếu chứng rõ được rằng mình không có thai hoặc đang có thai với chồng trước” (Điều 3) đây là quy định rất phù hợp với pháp luật Dân sự, tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng pháp luật trên thực tế Trong sự so sánh với pháp luật thực định thì có thể thấy ràng nội dung này của Sắc lệnh số 97/1950/SL là rất độc đáo và phù hợp với phong tục, tập quán, đạo đức xã hội.
Sắc lệnh số 159/1950/SL với các đặc điểm là xóa bỏ việc để tang là điều kiện để hôn nhân có giá trị pháp lý; Bảo vệ phụ nữ và thai nhi trong việc ly hôn; đơn giản hóa thủ tục ly hôn, thống nhất luật lệ ly hôn trong toàn quốc cũng đã cụ thể hóa được các nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp năm 1946 như khi người vợ có thai có thể xin tòa hoãn đến sau
kỳ sinh nở
Năm 1959 văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình đầu tiên được ban hành, đó là Luật Hôn nhân và gia đình nâm 1959 (Luật có hiệu lực vào ngày 13/1/1960) với các nguyên tắc tự do, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích của các con
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 gồm 6 chương với 35 điều đã điều chinh kịp thời những quan hệ cơ bàn của đời sống hôn nhân gia đình như kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ giừa vợ chồng, giữa cha mẹ và con, cụ thể hóa các nguyên tắc hiến định
Cũng trong giai đoạn này, Hiến pháp năm 1959 đã được ban hành thay thế Hiến pháp 1946, trong đó ghi nhận có ghi nhận các quyền cơ bản của công dân, đặc biệt Hiến pháp năm 1959 đã nhấn mạnh đến một số nguyên tắc như bình đẳng trước pháp luật, bảo
vệ bà mẹ và trẻ em, của người già yếu, bệnh tật, mất sức lao động, bảo hộ hôn nhân và gia đình
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đảm bảo kết hôn tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng “cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ cấm lấy vợ lẽ” (Điều 3) Đặc biệt, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã ghi nhận cho vợ chồng chế độ tài sản giữa vợ chồng
là chế độ toàn sản “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” (Điều 15) Tức là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 không ghi nhận quyền sở hữu riêng của vợ chồng Trong mối liên hệ với Hiến pháp 1959, có thể thấy rằng Hiến pháp đã thừa nhận quyền sở hữu tài sản của công dân Nhưng khi công dân đó thực hiện quyền kết hôn thì họ lại mất đi quyền sở hữu về tài sản riêng cho mình, mà chỉ còn quyền tư hữu tài sản chung với vợ hoặc chồng mình Nếu đặt
Trang 13trong bối cảnh lúc bấy giờ thì đây là một quy định tương đối hợp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ với tư cách là vợ Bời vì, giai đoạn đó tài sản của gia đình
và xã hội không nhiều, mặt khác, những tư tưởng lạc hậu phong kiến vẫn còn rất nặng nề trong quần chúng nhân dân như trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền của người phụ nữ, tính gia trưởng của người đàn ông trong gia và điều đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ Chính quy định này đã đặt địa vị của người phụ nữ ngang hàng với nam giới, tạo được sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình Thêm vào đó là quy định “Đàn bà góa có quyền tái giá, khi tái giá, quyền lợi của người đàn bà góa về con cái và tài sản được bảo đảm” (Điều 8) Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959 cũng dành nhiều quy định đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ em với tư cách là con (không kể con trong giá thú hay con ngoài giá thú, con đẻ hay con nuôi) nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1959 “Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích của người mẹ và trẻ em, bảo đảm sự phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ” Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định việc thuận tình ly hôn chỉ cần đảm bảo sự tự nguyện ly hôn giữa vợ và chồng là được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn (Điều 25) mà không phải thông qua thủ tục hòa giải để xem xét bản chất quan hệ hôn nhân Quy định này đã quá đề cao quyền tự do cá nhân của vợ chồng mà coi nhẹ sự bền vững của gia đình và lợi ích hợp pháp của các con
Năm 1986, do tính cấp bách của đời sống xã hội có nhiều thay đổi căn bản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã được thay thế bằng một đạo luật mới - Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, đây là đạo luật được ban hành trong giai đoạn đất nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới Do đó, nội dung của đạo luật này mang những màu sắc mới cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội lúc bấy giờ Ngay sau khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được ban hành thì Hiến pháp 1992 thay thế Hiến pháp năm 1980 Đây
là cũng là bản Hiến pháp đầu tiên kể từ khi đất nước ta thay đổi về cơ chế quản lý, hội nhập và phát triển Trong đó quy định tương đối đầy đủ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo đảm sự bình đẳng giới, cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ Đặc biệt, Hiến pháp 1992 dành điều 64 để nói lên tầm quan trọng của gia đình đối với mỗi cá nhân và xã hội Tiếp theo đó là Bộ luật Dân sự năm 1995 và một số các văn bản trong lĩnh vực doanh nghiệp, thương m ại cũng được ban hành đã tạo ra một cơ chế pháp lý tương đối toàn diện trong việc điều chỉnh các quan hệ thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Trong mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 với một số văn bán pháp luật khác, chúng tôi tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau:
+ Thứ nhất, về điều kiện kết hôn, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định độ tuổi kết hôn “nam từ 20 tuổi trờ lên, nữ từ 18 tuổi trờ lên mới được kết hôn” và chưa có sự hướng dẫn cụ thể nên dẫn đến nhiều cách tính tuổi khác nhau Trong mối liên hệ với Bộ
Trang 14luật Dân sự năm 1995, nếu tính theo tuổi tròn đủ sẽ đảm bảo sự tương thích và thuận lợi hơn trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến các quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan
sơ đăng ký kết hôn phải có giấy xác nhận của tổ chức y tế được cấp chưa quá ba tháng, xác nhận hiện tại người đó không bị nhiễm vi rút HIV (Điều 7 Nghị định số 184/1994/NĐ-CP ngày 30/11/1994 của Chính phủ về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài) Điều này
là không đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể trong việc kết hôn và dẫn đến sự khó khăn trong thực tiễn giải quyết thù tục đăng ký kết hôn
Luậl Hôn nhân và gia đình năm 1986 chỉ thừa nhận việc kết hôn phải được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không thừa nhận các nghi thức kết hôn khác Tuy nhiên, trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác như Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTPTANDTC ngày 20 tháng 1 năm 1988 hướng dẫn một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 không coi việc kết hôn vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn là trái pháp luật, từ đó đã dẫn tới những khó khăn nhất định trong việc xem xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân, thuật ngữ hôn nhân thực tế vẫn được sử dụng và áp dụng trong việc giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình và các vụ việc dân sự, trong mối liên hệ với Bộ luật Dân sự năm 1995, đặc biệt với chế định thừa kế, bồi thường thiệt hại
Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986 quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về tài sản còn tương đối khái quát, chưa
cụ thể và chi tiết, do đó, trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật doanh nghiệp 1999 là chưa tương thích và thống nhất khi vợ chồng dùng tài sản chung để thực hiện các giao dịch dân sự hay dùng tài sản chung đế
Trang 15thành lập doanh nghiệp, góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp; Hoăc khi vợ chồng là người bị thiệt hại và được bồi thường thiệt hại Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng hay trách nhiệm về tài sản của vợ chồng trong những trường hợp này gặp nhiều khó khăn và vướng mắc.
Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, Điều 23 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định “Con từ 16 tuổi trở lên còn sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống gia đình, và nếu có thu nhập riêng thì phải đóng góp vào nhu cầu của gia đình”; Điều 25 quy định “cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổi gây ra Trong trường hợp cha mẹ không có khả năng
mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường Con chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên chiụ trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình đối với các thiệt hại
do hành vi trái pháp luật của mình gây ra Nếu con không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường” Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ đối với con chưa thành niên luôn lấy mốc xác định là dưới 15 tuổi và
từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cha mẹ trước hay cho con trước Như vậy, giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Bộ luật Dân
sự năm 1995 là không có sự thống nhất với nhau
Thứ tư, về xác định cha, mẹ, con, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định
cụ thể về quyền yêu cầu nhận cha, mẹ, con Trong mối liên hệ với Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 1986 “Trong những trường hợp cha hoặc mẹ xin nhận con hoặc không nhận con thì phải xác định ai là cha, là
mẹ đứa trẻ” Quy định này dẫn tới việc nếu một người đang là cha, là mẹ chứng minh được mình không phải là cha, mẹ đứa trẻ nhưng không chứng minh được ai là cha, mẹ đứa trẻ thì vẫn phải nhận đứa trẻ là con Đây là quy định không tương thích và phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Hoặc Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định “con ngoài giá thú có quyền xin nhận cha, mẹ kể cả trong trường hợp cha mẹ đã chết” Trong mối liên hệ với chế định thừa kế trong dân sự, có thể gây ra nhiều khó khăn trong việc áp dụng pháp luật, trong đó thường có sự tranh chấp giữa người con và những người thân thích của cha hoặc mẹ đã chết mà người con đang muốn nhận và việc xác định tư cách pháp lý cho những chủ thể này là rất khó khăn theo pháp luật tố tụng
Thứ năm, về nuôi con nuôi, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 chưa quy định
cụ thể về hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi nên sẽ rất khó khăn trong việc áp dụng pháp luật về xác định quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên gia đình, về thừa kế trong mối liên hệ với Luật dân sự
Trang 16Năm 2000, điều kiện kinh tế xã hội trong hơn thập niên vừa qua có nhiều thay đổi đáng kề, sự tham gia của mỗi cá nhân vào các mối quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau ngày càng đa dạng và phức tạp hom Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã được ban hành thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.
Trong hơn thập niên vừa qua, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những đóng góp tích cực trong việc ổn định các mối quan hệ trong gia đình, gìn giữ những chuẩn mực những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Trên cơ sở quy định từng chế định cụ thể về hôn nhân và gia đình, về cơ bản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, cũng như quyền và lợi ích của người thứ ba có liên quan Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là một hành lang pháp lý cho cách ứng xừ của các chủ thể trong các mối quan hệ cụ thể, là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc giải quyểt các vụ việc về hôn nhân
và gia đình Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng bộc lộ nhiều nhược điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế khách quan, đặc biệt là trong các giao lưu dân
sự, kinh tế thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế Điều này đã làm ảnh hưởng không chỉ đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình mà còn làm ảnh hường đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ban khi tham gia vào các quan hệ có chủ thể
là thành viên trong gia đình
Cũng trong thời gian này, các văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội
đã được xây dựng và ban hành như Luật Đất đai năm 2003, Luật nhà ở năm 2005, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004; Luật người cao tuổi Răm 2006; Luật Kinh doanh bất động sản năm 2007, Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 .nhằm điều chỉnh kịp thời những quan hệ phát sinh trong xã hội Các văn bản pháp luật này có liên quan và ảnh hưởng nhất định tới các quan hệ hôn nhân và gia đình do Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh Trong đó có những quy định đã đảm bảo sự tương thích, phù hợp và thống nhất với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nhưng cũng có nhiều quy định không có sự gắn kết, bổ sung cho nhau khi điều chỉnh các nhóm quan hệ trong cùng một lĩnh vực cụ thể Vì vậy, ảnh hưởng đến hiệu quả điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, dẫn đến sự khó khăn và vướng mắc trong việc thực tiễn áp dụng pháp luật
Với sự giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng Tuy nhiên, sự phù hợp giữa pháp luật quốc gia
và các văn bản pháp luật quốc tế đó vẫn còn có những điểm hạn chế nhất định
Trang 171.2 LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 QUA MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH c ơ BẢN TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC
1.2.1 Kết hôn trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác
1.2.1.1 về điều kiện kết hôn
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định độ tuổi kết hôn đối với nam là từ
20 tuổi trở lên, đối với nữ là từ 18 tuổi trở lên (Điều 9) Tiếp theo đó, các văn bản hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình quy định nam chỉ cần bước sang tuổi 20, nữ bước sang tuổi 18 là được kết hôn1 Xét trong mối liên hệ với Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân
sự, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới, chúng tôi thấy nổi lên một vấn đề sau: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã mở rộng phạm vi kết hôn cho người nữ chưa thành niên Chính điều này sẽ gây ra những trở ngại nhất định trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ của người vợ chưa thành niên trong quan hệ với chồng, với người thứ ba như về xác định quyền sở hữu tài sản, quyền được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, quyền ly hôn, quyền đại diện cho con chưa thành niên Chẳng hạn, trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật tố tụng dân sự, do hướng dẫn về độ tuổi kết hôn như vậy nên Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “những quy định chung” của Bộ luật Tổ tụng dân sự năm 2004 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 01/2005/NQ- HĐTP) đã cho phép người vợ chưa thành niên vẫn được tham gia tố tụng độc lập như người đủ 18 tuổi2 Đây được coi là một giải pháp tình thế khi có sự không thống nhất giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các văn bản pháp luật khác Chính vì vậy,
có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này: có ý kiến cho ràng để đảm bảo sự tương thích với các văn bản pháp luật cần quy định độ tuổi kết hôn của nam và nữ là từ đủ 18 tuổi; ý
1 Nghị định số 70/2001/N Đ -C P ngày 3 tháng 10 năm 2001 cùa Chính phủ quy định chi tiết Luật HN&GĐ (sau đậy gọi tắt là Nghị định số 70 /2 0 0 1/NĐ-CP) quy định “Nam đang ở tuối hai mươi, nữ đang ờ tuổi mười tám thì đủ điều kiện vể tuối két hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.” (Điêu 3); Nghị quyêt sô 02/2000/NQ-HĐTPTANDTC ngày ngày 23 tháng 12 năm 2000 cùa Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân tối cao hựómg dẫn áp dụng một sô quy định cùa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sau đây gọi tăt là Nghị quyẽt sô 02/2002/N Q -H Đ TPTAN D TC ) hướng dẫn: “ a Điều kiện kết hôn quy định tại điềm 1 Điều 9 là: "Nam từ hai mươi tuổi trỡ lẽn, nữ từ mười tám tuổi trở lên” Theo quy định này thì không bắt buộc nam phải từ đù hai mươi tuôi trở lên, nữ phải từ đú mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó, nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuối mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn” (điêm 1)
2 Mục 1 của phần III hướng dẫn: Ngoại trừ những người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chẽ năng lực hành vi dân sự, nếu trong trường hợp pháp luật có quy định khác, thì người chưa đủ mười tám tuổi vẫn có thể có đẩy
đù năng lực hành vi tố tụng dân sự Ví dụ: Đ iều 9 của Luật HN&GĐ quy định nữ từ mười tám tuoi trờ lên được kết hôn và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/N Q -H Đ T P thì nữ đã bước sang tuôi mười tám mà két hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn Do đó, khi có yêu cầu Toà án giải quyết các vụ việc vẽ hôn nhân và gia đình thì họ có quyền tự mình tham gia tố tụng”
Trang 18kiến khác lại cho rằng cần quy định độ tuổi kết hôn là nữ từ đủ 18 tuổi, nam là 20 tuổi vì
sự phái triển về tâm sinh lý cùa hai giới là không đồng nhất
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về sự tự nguyện kết hôn (khoản 2 Điều 9), tức là các bên kết hôn phải có sự thống nhất giữa ý chí và bảy tỏ ý chí và thể hiện đung với tâm tư tinh cảm của các bên Đây là sự khác biệt giữa tự nguyện trong việc kết hôn và tự nguyện trong việc thực hiện các hợp đồng dân sự Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định một trong các trường hợp cấm kết hôn là
“đang mất năng lực hành vi dân sự” (khoản 2 Điều 10) Hai điều kiện này có mối liên hệ
và bổ sung cho nhau nhằm đảm bảo nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Đây cũng là
sự tương thích với Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về người mất năng lực hành vi dân sự3 Tuy nhiên, vấn đề này lại dẫn đến một vướng mắc trong thực tiễn là nếu một người
bị tâm thần hoặc mắc một bệnh khác mà không có khả năng nhận thức hành vi nhưng chưa bị Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì họ có được kết hôn không? xét theo điều kiện về sự tự nguyện thì có thể coi như họ không thể hiện được ý chí và bày tỏ ý chí nhưng xét về điều cấm kết hôn và theo cách xác định một người bị mất năng lực hành vi dân sự phải có quyết định của Tòa án thì họ lại không thuộc diện bị cấm kết hôn Chính điều này sẽ dẫn đến một thực tế cả người dân lẫn cán bộ tư pháp hộ tịch có thể “lách luật” vì những mục đích khác nhau trong đó bao gồm cả những mục đích mang ý nghĩa tiêu cực Nếu có uỷ ban vẫn cho họ kết hôn vì coi như họ không vi phạm điều cấm kết hôn thì sẽ dẫn đến hệ quả là người kết hôn với họ yêu cầu ly hôn do không thể chung sống với người tâm thần, hoặc họ yêu cầu huỷ việc kết hôn vì cho rằng
đó là kết hôn trái pháp luật Điều này cũng dẫn đến những vướng mắc trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự Đặc biệt là yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện Bởi vì, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2000/HĐTPTANDTC thì vi phạm sự tự nguyện là có hành vi lừa dối hoặc cưỡng ép kết hôn nhưng trong trường hợp này thì người kết hôn với người bị tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi không hề bị lừa đối hay cưỡng ép kết hôn Vậy họ có quyền yêu cầu khởi kiện huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hay không? Việc xác định này rất quan trọng để áp dụng các thủ tục tố tụng giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình cần bổ sung diện chủ thể được quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn do vi phạm sự tự nguyện Cũng có quan điểm cho rằng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ cần quy định điều kiện tự nguyện kết hôn là đủ, không cần phải quy định về điều cấm kết hôn giữa những người bị mất năng lực hành vi
3 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chù được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết quả cùa tổ chức giám định (Điều 22)
Trang 19dân sự nữa Nhưng quan điểm này sẽ vấp phải khó khăn trong việc giải quyết vấn đề tuỳ tiện kết hôn trong thực tiễn áp dụng pháp luật do việc xác định yếu tố tự nguyện là không
dễ dàng
Xét trong mối liên hệ với Luật Nuôi con nuôi năm 2010 dẫn đến một vấn đề là điều kiện cấm kết hôn không cấm con nuôi và con đẻ của một người hoặc con nuôi và con nuôi của một người kết hôn, trong khi đó, Luật Nuôi con nuôi lại quy định mập mờ
về mối quan hệ giữa người con nuôi với những thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi4 Điều này dẫn đến những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật
1.2.1.2 về hủy việc k ế t hôn ừảipháp luật
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 “kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định’'5 Vì vậy, khi việc kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn được coi là căn cứ để Tòa
án hủy việc kết hôn trái pháp luật Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, trong đó ghi nhận quyền yêu cầu của Viện kiểm sát và ủ y ban bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Điều 15) Trong mối liên hệ với
Bộ luật Tố tụng dân sự thì viện kiểm sát không còn chức năng này nữa Do sự tách nhập giữa các bộ, ngành nên ủ y ban bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em không còn tồn tại được Do đó, khi sửa đổi bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình cần phải quy định cho tương thích với Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật khác
Trong giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật, Nghị quyết số 02/2000/NQ- HĐTPTANDTC hướng dẫn một số trường hợp không máy móc xử hủy việc kết hôn ưái pháp luật khi đáp ứng được một số điều kiện nhất định (điều 16) Tuy nhiên, cách hướng dẫn này vẫn bỏ ngỏ vấn đề xác định thời điểm bắt đầu tính thời kỳ hôn nhân cho các trường hợp này, thêm vào đó là bỏ ngỏ những trường hợp kết hôn trái pháp luật, không
có yêu cầu xử huỷ, nếu sau đó một trong hai bên chết hoặc họ muốn ly hôn thì có được công nhận là vợ chồng không nếu tại thời điểm một trong hai bên chết hoặc ly hôn các bên đã đủ tuổi kết hôn? Nếu được công nhận là vợ chồng thì thời điểm tính quan hệ vợ chồng như thế nào? Điều này là rất quan trọng để đảm bảo sự thống nhất với các chế định khác như xác định cha, mẹ, con; xác định tài sản chung, tài sản riêng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như một số chế định trong Bộ luật Dân sự như chế định thừa kế, bồi thường thiệt hại
4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010
5 Khoản 3 Điều 8
Trang 20Đối với trường hợp xử lý việc kết hôn trái pháp luật khi vi phạm độ tuổi kết hôn, trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác, đã phân định rõ các mức độ xử lý Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định xử hủy việc kết hôn do thiếu tuổi luật định nhưng vẫn có ngoại lệ cho trường hợp tại thời điểm yêu cầu hủy các bên đã đủ tuổi kết hôn và bản chất hôn nhân đạt được Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm
2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính
tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi tắt là Nghị định số 110/2013/NĐ-CP) qui định xử lý hành vi tảo hôn6; Bộ luật Hình sự quy định tội tảo hôn nếu đã bị xử phạt hành chính Như vậy, các văn bản pháp luật đã quy định tương đối đồng bộ và thống nhất các mức độ xử lý đỗi với hành vi vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn Đó là, khi tồn tại việc kết hôn dưới tuổi luật định,
đã bị xử hủy nhưng vẫn cố tình duy trì quan hệ đó, sau đó đã bị xử lý hành chính nhưng
họ vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó thì bị xử lý về hình sự Tuy nhiên, nếu sau đó, các bên
đã đủ tuổi kết hôn thì có bị xử lý hình sự nữa không? Trong mối liên hệ với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quan hệ này không phải là kết hôn trái pháp luật nữa Quan hệ của họ cũng không thuộc trường hợp ngoại lệ của việc xử lý huỷ kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi mà chỉ lả trường hợp chung sống như vợ chồng không có giá trị pháp lý Vậy cần có hướng dẫn cụ thể về thời điểm xử lý trường hợp này để dễ áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ việc thực tế
Đối với hậu quả của hủy kết hôn trái pháp luật, phần quan hệ liên quan đến tài sản
và con cái có thể do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được sẽ do Tòa án giải quyết theo những nguyên tắc luật định (Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Trong mối liên hệ với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc việc dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Tuy nhiên, trong trường hợp các bên không thỏa thuận được, tức là có tranh chấp về con cái và tài sản thì Tòa án
sẽ giải quyết như thế nào? Nếu vẫn gộp toàn bộ yêu cầu của các đương sự vào thì không
có cơ sở giải quyết, nếu tách phần yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật riêng, phần tranh chấp về tài sản và con cái riêng thì gây nên sự phức tạp, phiền toái, lãng phí thời gian và kinh phí cho đương sự Đây là điểm chưa thống nhất giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
1.2.2 Quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác
1.2.2.1 Quyền và nghĩa vụ về nhân thân
6 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với
người chưa đù tuổi két hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó (Điều 47)
Trang 21v ề cơ bản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác đã quy định tương đối thống nhất và phù hợp về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng, cũng như tạo ra cơ chế bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng được thực hiện trên thực tế Trong đó phải kể đến Luật bình đẳng giới, Luật phòng, chống bạo lực gia đình.
1.2.2.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản
* Xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
Có thể khẳng định rằng, tài sản của vợ chồng và các vấn đề liên quan đến tài sản của vợ chồng là vấn đề phức tạp nhất trong toàn bộ các chế định mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đề cập đến Việc nghiên cứu vấn đề này trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác càng thấy được tính phức tạp đa dạng về tài sản cũng như các quan hệ
về tài sản mà vợ chồng là chủ thể Vì vậy, trước hết cần xác định hai căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng là thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài sản Đây sẽ là cơ sở rất quan trọng để xử lý các vấn đề về tài sản của vợ chồng
Trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác, chúng tôi tập trung vào một số văn bản pháp luật sau đây:
Thứũhẩt, xác định tài sản trong mối liên hệ với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005:
Có quan điểm cho rằng, tài sản thuộc sở hữu trí tuệ là một loại tài sản đặc biệt, thường do chính chủ thể là một bên vợ, chồng trực tiếp sáng tạo ra, không liên quan đến chồng hoặc vợ của họ Mặt khác, tài sản thuộc sở hữu trí tuệ là vô hình không giống như các loại tài sản khác, thường phải bằng khả năng đặc biệt, có tính sáng tạo và trình độ chuyên môn nhất định mới tạo ra được Giá trị của nó là vô cùng Đặc biệt, công dụng và sức lan tỏa của nó đôi khi không phụ thuộc cả vào người sáng tạo ra nó và vai trò của nó
có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống xã hội Vì vậy, cần xác định tài sản trí tuệ là tài sản riêng của bên vợ, chồng là người trực tiếp (bằng cách này hay cách khác) tạo ra tài sản
đó Nếu xác định là tài sản chung của vợ chồng, không loại trừ khả năng giá trị, công dụng của tài sản đó bị kìm hãm, không được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, mặt khác, có thể làm ảnh hưởng đến bản thân người vợ, chồng là người trực tiếp lao động, sáng tạo Ý kiến khác thì lại cho rằng, xét dưới góc độ hôn nhân và gia đình, bản thân người vợ, người chồng là người sáng tạo ra tài sản đó, nhưng thường trong đời sống hôn nhân, chồng hoặc vợ của họ cũng có phải tạo điều kiện tốt nhất để họ có những kết quả tốt nhất Mặt khác, tài sản trí tuệ đó lại phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, và đây phải được coi là một dạng tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung của vợ chồng
Trang 22Thứ hai, xác định tài sản trong mối liên hệ với Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Nhà ở năm 2005, Luật Đất đai năm 2003, Luật Doanh nghiệp năm 2005:
- Khi vợ, chồng là người bị thiệt hại trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Có ý kiến cho rằng, nếu tài sản bị thiệt hại là tài sản chung của vợ chồng thì đương nhiên khoản tiền bồi thường thiệt hại là tài sản chung của vợ chồng, ngược lại, nếu tài sản bị thiệt hại là tài sản riêng của một bên vợ, chồng thì khoản tiền bồi thường thiệt hại là tài sản riêng của người có tài sản Nếu một bên vợ, chồng bị thiệt hại đến sức khỏe và được bồi thường thiệt hại thì phải là tài sản riêng của họ để họ chữa trị để hồi phục sức khỏe Nếu một bên vợ, chồng bị thiệt hại đến tính mạng thì khoản tiền bồi thường thuộc di sản thừa kế của họ, trừ khoản tiền bồi thường bù đắp thiệt hại về tinh thần cho những người thân thích của họ Ý kiến khác thì lại cho rằng, cần đặt tài sản bị thiệt hại, hay người bị thiệt hại trong mối quan hệ về hôn nhân và gia đình để xem xét từng khoản bồi thường cho hợp lý, chứ không thể suy đoán mặc nhiên là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng được
- Đối với tài sản do vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng có được từ những căn cứ do pháp luật dân sự quy định như xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu; Xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy; Xác lập quyền sở hữu đối với vật bị đánh rơi, bỏ quên; Xác lập quyền sở hữu đối với gia SÚC bị thất lạc; Xác lập quyền sở hữu đổi với gia cầm bị thất lạc; Xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước cần được xác định là tài sản chung của vợ chồng vì thời điểm có được tài sản nằm trong thời kỳ hôn nhân
- Những khoản lợi ích vật chất mà vợ, chồng có được trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần xác định là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng? v ấ n đề này cần phải được xem xét trong mối liên hệ với Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trong việc phân chia và thụ hưởng lợi nhuận từ tài sản, pháp luật kinh doanh quy định chủ thể kinh doanh là các tổ chức lợi nhuận, được thành lập, hoạt động với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và phân chia lợi nhuận cho các thành viên góp vốn theo tỷ lệ vốn góp, trừ khi quy ước nội bộ hoặc pháp luật có quy định một tỷ lệ thụ hưởng lợi nhuận khác Các thành viên góp vốn cũng có quyền chủ động sử dụng lợi nhuận được phân chia theo ý chí của mình trong đó bao gồnm cả tái đầu tư vào tài sản của chủ thể kinh doanh Khác với cách thức điều chỉnh của pháp luật kinh doanh, pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành quy định theo nguyên tắc (mặc dù không có rõ ràng, minh thị) gia đình hoặc vợ chồng cùng thụ hưởng hoa lợi, lợi tức không phụ thuộc những hoa lợi, lợi tức đó phát sinh từ tài
Trang 23sản chung hay tài sản riêng.7 Khi quy định về việc thụ hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản của vợ chồng như vậy dường như nhà làm luật mới chỉ nhìn nhận tài sản của vợ chồng dưới góc độ là tài sản tiêu dùng mà chưa có tiếp cận đầy đủ cả dưới góc độ tài sản
đó là hàng hóa, vốn góp trong chu trình sản xuất, kinh doanh, thương mại điều đó có thể gây cản trở cho việc phát huy giá trị tài sản của vợ chồng, sự thông thoáng trong giao dịch, đầu tư, cũng như quyền lợi của người thứ ba
Luật Doanh nghiệp năm 2005 qui định khá cụ thể những khoản tiền lương, tiền thưởng, tiền thu lao và những lợi ích vật chất khác mà các thành viên công ty với tư cách
là giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị được hưởng8 Qui định này có liên quan mật thiết đến quan hệ hôn nhân và gia đình mà đặc biệt là quan hệ giữa vợ chồng trong việc xác định tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của một bên vợ, chồng Tuy nhiên, việc xác định này trở nên khó khăn hơn khi phần góp vốn vào doanh nghiệp là tài sản riêng của một bên vợ chồng nhưng phần lợi tức thu được lại nằm trong thời kỳ hôn nhân, cần phân biệt hai loại lợi ích vật chất mà vợ, chồng được hưởng Thứ nhất, tiền lương hàng tháng của những người là thành viên hội đồng thành viên, giám đốc và tổng giám đốc theo kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tiền lương này được tính vào chi phí kinh doanh theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp9, khoản lợi ích vật chất này đương nhiên được coi là tài sản chung của vợ chồng, vì đó là thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh có trong thời kỳ hôn nhân Thứ hai, lợi tức được chia hàng năm theo mức vốn mà vợ chồng đóng góp vào doanh nghiệp để đầu tư kinh doanh Trong những trường hợp này, khoản lợi tức đỏ có thể coi là tài sản chung của
vợ chồng (theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) được không? Hay nó vẫn là tài sản riêng của bên vợ, chồng đã đưa tài sản riêng vào hoại động sản xuất kinh doanh (theo Luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp)?
-T ài sản mà vợ chồng được tặng cho cần được đặt trong mối liên hệ với Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật nhà ở năm 2005, Luật Đất đai năm 2003 để xác định thời điểm phát sinh quyền sở hữu tài sản và xác định đó là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng, v ề nguyên tắc, cần phải căn cứ vào ý chí của người tặng cho tài sản là cho chung vợ chồng hay cho riêng một bên vợ, chồng, hình thức thể hiện của việc tặng cho và loại tài sản tặng cho:
7 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định : “tài sản chung cùa vợ chồng gồm tài sàn thu nhập do lao động, hoạt động sàn xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 27);
“trong trường hợp chia tài sản chung cùa vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng cùa mỗi người” (Điều 30).
8 Điều 58, 59, 117 - Luật Doanh nghiệp năm 2005
9 Điều 58, 73, 117 Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 24- Đối với hợp đồng tặng cho tài sản là động sản thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ thời điểm người được tặng cho nhận tài sản Neu động sản đó phải đăng ký quyên
sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ thời điểm đăng k ý 10
- Đối với hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản thì hợp đồng tặng cho phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký nếu bất động sản
đó theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho là thời điểm đăng ký Trừ trường hợp bất động sản đó không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sả n '1 Hoặc bất động sản là nhà ở thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm hợp đồng được công chứng12 Đây là vấn đề còn nhiều vướng mắc trong thực tể khi vợ chồng được cha mẹ tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở nhưng không lập thành văn bản Sau rất nhiều năm
vợ chồng người con ly hôn và cha mẹ không thừa nhận việc cho Trong trường hợp này thường người vợ là người thiệt thòi vì không có căn cứ pháp lý chứng minh về việc tặng cho tài sản
- Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, Luật Hôn nhân và gia đình quy định quyền sử dụng đất có sau khi kết hôn là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất Quy định này cần phải được xem xét trong mối liên hệ với Nghị định số 70/2001/NĐ-CP và Luật Đất đai năm 2003 để phân định rõ trường hợp nào là tài sản chung của vợ chồng, tài sản nào là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, mà vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng được nhà nước giao, giao khoán là tài sản chung của vợ chồng; đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng mà vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng được nhà nước giao
là tài sản chung của vợ chồng13 Đất ở mà một bên vợ, chồng hoặc vợ chồng được nhà nước giao là tài sản chung của vợ chồng; Quyền sử dụng đất mà vợ chồng hoặc một bên
vợ chồng được nhà nước cho thuê là tài sản chung của vợ chồng14; Quyền sử dụng đất mà
vợ chồng được chuyển đổi chung, chuyển nhượng chung, được thừa kể chung, được nhận thế chấp chung là tài sản chung của vợ chồng15; Phần quyền sử dụng đất được giao chung với hộ gia đình cũng được coi là tài sản chung của vợ chồng16
10 Điều 466 - Bộ luật Dân sự năm 2005
11 Điều 467 - Bộ luật Dân sự năm 2005
12 Điều 107 - Luật Nhà ợ năm 2005
13 Điều 24 - N ghị định số 70/2001/N Đ -C P
14 Điều 25 - Nghị định số 70/2001/N Đ -CP
15 Đieu 26 - Nghi đỊnh sộ 7 0 /2 0 0 1/NĐ-CP
16 Điều 27 - Nghị định số 70/2001/N Đ -C P
Trang 25- Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sờ hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả
vợ chồng Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài đó là tài sản chung (Khoản 2, 3 điều 27) Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu có rất nhiều văn bản pháp luật đề cập đến như Điều 167 Bộ luật Dân sự quy định “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Ngoài ra,
ở mỗi lĩnh vực cụ thể cũng có những quy định riêng như Luật Đất đai, Luật nhà ở, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ Theo quy định của các văn bản pháp luật này thì không phải tài sản nào cũng có thể đứng tên
cả vợ và chồng Trong thực tế hiện nay có rất nhiều tài sản phải đăng ký quyền sở hữu nhưng chỉ có một số tài sản có thể đứng tên hai vợ chồng với tư cách là đồng chủ sở hữu như quyền sử dụng đất mà vợ chồng xác lập quyền sở hữu sau khi Luật Đất đai năm 2003
có hiệu lực17, quyền sở hữu nhà ở mà vợ chồng xác lập quyền sở hữu sau khi Luật nhà ở năm 2005 có hiệu lực18, hoặc một số đối tượng thuộc sở hữu công nghiệp còn lại một số tài sản khác như xe máy, ô tô, tàu thuyền chỉ đứng tên có một người mà không thể đứng tên hai vợ chồng được, v ề vấn đề này có quan điểm cho rằng đối với phương tiện giao thông cơ giới thì việc đăng ký mang tính chất quản lý, lưu hành phương tiện, chưa
có văn bản nào khẳng định giá trị của việc đăng ký nhàm xác lập quyền sở hữu Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng việc đăng ký đổi với các phương tiện giao thông vận tải cơ giới ngoài ý nghĩa mang tính chất quản lý, lưu hành phương tiện còn có ý nghĩa dưới góc độ pháp luật dân sự, đó là vấn đề công nhận quyền sở hữu, giá trị pháp lý liên quan đến xác lập giao dịch, vấn đề đối kháng với người thứ ba ; hoặc đối với nhà ở hoặc quyền sử dụng đất đã được xác lập quyền sở hữu trước thời điểm Luật Đất đai có hiệu lực (năm 2003) hoặc đối với trường hợp người vợ hoặc người chồng là người nước ngoài, là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện được đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thì trong giấy chửng nhận quyền sở hữu nhà, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất vẫn đứng tên một bên vợ hoặc chồng Đặc biệt, Luật Đất đai đồng nhất quyền
sử dụng đất của vợ chồng nằm trong trường hợp chủ thể sử dụng đất là hộ gia đình Theo khoản 3 Điều 43 Nghị định 181 /2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (sau đây gọi tắt là Nghị định 181/2004/NĐ-CP) đã có quy định khác biệt so với Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 đối với việc ghi tên người sử
17 Điều 48 - Luật đất đai năm 2003
18 Điều 12 - Luật nhà ở năm 2005
Trang 26dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: "3 Đối với hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định sau:
a) Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả vợ và chồng thì ghi
cả họ, tên vợ và họ, tên chồng; trường hợp hộ gia đình đề nghị chỉ ghi họ, tên vợ hoặc họ, tên chồng thì phải có văn bản thoả thuận của vợ và chồng có chứng thực của Uỳ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
b) Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất là tài sản chung của cả hộ gia đình không thuộc trường hợp quỵ định tại điểm a khoản này thì ghi họ, tên chủ hộ.
c) Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất mà vợ hoặc chồng là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại Điều 121 của Luật Đất đai thì chỉ ghi họ, tên vợ hoặc họ, tên chồng là cá nhân trong nước.
Đối với hộ gia đình sử dụng đất mà vợ hoặc chồng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc trường hợp quy định tại Điều 121 của Luật Đất đai thì việc ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được ửiực hiện theo quỵ định tại điểm a và điểm b khoản này ”
Bên cạnh đó, như trên chúng tôi đã đề cập đến, do Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định về độ tuổi kết hôn đối với nữ giới là từ 18 tuổi Từ đó, trên thực tế có thể dẫn đến tình huống người vợ là người chưa thành niên Vậy, khi vợ chồng đi đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản thì người vợ chưa thành niên có được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu không? Hiện nay Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/8/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là Nghị định 88/2009/NĐ-CP) không quy định về việc người chưa thành niên được hay không được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay quyền sở hữu nhà ở v ề đăng ký
xe, theo Luật Giao thông đường bộ năm 2008, thông tư số 36/2010/TT-BCA ngày 12/10/2010 của bộ Công An quy định về đăng ký xe quy định về hồ sơ đăng ký xe phải
có chứng minh nhân dân, thẻ học viên, sinh viên theo hệ tập trung từ 2 năm trở lên của các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, học viện, giấy giới thiệu của trường; chứng từ chuyển nhượng xe (cho, tặng, hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật, vãn bản thừa kể theo quy định của pháp luật ) (Điều 7) trong đó cũng không đề cập đến việc người chưa thành niên có được đứng tên quyền sở hữu đối với xe mô tô, ô tô hay không? Đây chính là những quy định còn chưa thống nhất giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 và các vãn bản pháp luật có liên quan khác, cần phải có hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung kịp thời
Trang 27Đối với sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiển gửi, thể tín dụng đứng tên vợ hoặc chồng, trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật ngân hàng sẽ rất khó xác định tài sản chung, tài sản riêng cùa vợ chồng Căn cứ vào các văn bản pháp luật ngân hàng có thể kết luận rằng: nếu tên của vợ hoặc chồng được ghi trên sổ tiết kiệm hoặc giấy tờ có giá thì cá nhân vợ, chồng là chủ sở hữu của số tiền gửi hoặc giấy tờ có giá Tuy nhiên, nếu căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, người được ghi trên sổ tiết kiệm hoặc giấy tờ có giá không đương nhiên là chủ sở hữu của sổ tiền gửi hoặc giấy tờ có giá đó v ề nguyên tắc, khi có tranh chấp, nếu người đứng tên không chứng minh được đó là tài sản riêng thì đó vẫn là tài sản chung của vợ chồng, v ấn đề này sẽ trở nên phức tạp hơn khi vợ hoặc chồng
sử dụng sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá vào các giao dịch dân sự
* Xác định quyền, nghĩa vụ của vợ chồng và trách nhiệm dân sự cùa vợ chồng trong các giao dịch do vợ, chồng thực hiện
- Giao dịch do một bên vợ chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình:
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng19 Trong mối liên hệ với Bộ luật dân sự năm 2005 có thể thấy có sự không thống nhất trong cách dùng thuật ngữ giữa hai văn bản pháp luật Đặc biệt là bản chất của trách nhiệm dân
sự trong Luật Dân sự có sự khác biệt nhất định với bản chất của trách nhiệm liên đới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Trách nhiệm dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2005 bao gồm trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo Điều 25 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 chính là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do một bên vợ chồng thực hiện nhàm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Tuy nhiên, nếu trong trường hợp vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ hoặc chậm thực hiện nghĩa v ụ thì
sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự cho vợ chồng và đây cũng là trách nhiệm dân sự của vợ chồng Với bản chất như vậy thì trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 không hoàn toàn nằm trong trách nhiệm dân sự nói chung trong Bộ luật Dân sự năm 2005 mà trách nhiệm liên đới của vợ chồng là sự kết hợp giữa nghĩa vụ liên đới và trách nhiệm dân sự trong Bộ luật Dân sự Do đó, cần có sự sửa đổi trong Luật Hôn nhân và gia đình để có sự thống nhất và phù hợp với Bộ luật Dân sự
Khi phát sinh trách nhiệm liên đới của vợ chồng thì vợ chồng sẽ cùng nhau gánh chịu nghĩa vụ bằng tài sản chung hợp nhất của vợ chồng Chủ thể có quyền có quyền yêu cầu vợ chồng hoặc yêu cầu vợ hoặc yêu cầu chồng thực hiện toàn bộ nghĩa vụ Nếu tài sản chung của vợ chồng không đủ thực hiện nghĩa vụ thì vợ, chồng phải có trách nhiệm
19 Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu cùa gia đình (Điều 25)
Trang 28dùng tài sản riêng của mình thực hiện cho đủ và không có quyền đòi lại tài sản Tức là giữa vợ và chồng không phát sinh nghĩa vụ hoàn lại tài sản cho nhau sau khi đã thực hiện trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhàm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Đây cũng là điểm khác biệt với Bộ luật Dân sự 2005 do tính chất cộng đồng đặc biệt trong quan hệ hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, hiện nay trong thực tiễn có rất nhiều giao dịch do một bên vợ, chồng thực hiện, không phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nhưng khoản hoa lợi, lợi tức từ việc thực hiện giao dịch đó (như vay tiền kinh doanh, hụi, họ ) lại phục vụ cho nhu cầu chung của gia đình như mua nhà cửa, đất đai cho cả gia đình ở Khi phát sinh nghĩa vụ phải trả nợ thì không thể xác định là trách nhiệm liên đới của vợ chồng, người nào vay người đó phải trả Người vợ hoặc người chồng còn lại cũng không đồng ý bán tài sản để lấy tiền cho chồng hoặc vợ của họ trả nợ Trong trường hợp này thường phải thực hiện việc chia tài sản chung của vợ chồng trước rồi mới có thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể có liên quan Vì vậy, nên chăng trong những trường hợp một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch không phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nhưng bên còn lại biết và hoa lợi, lợi tức từ giao dịch đó phục
vụ cho nhu cầu của gia đình thì cần xác định nghĩa vụ trả nợ là nghĩa vụ chung của vợ chồng
- Giao địch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng
Trong phần này, chúng tôi tập trung nghiên cứu những giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn, hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, hoặc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh20 Bởi vì những giao dịch này luôn phải có sự thỏa thuận của vợ chồng
Trong mối liên hệ với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, có thể thấy thật sự khó khăn khi xác định tính hợp pháp của các giao dịch liên quan đến tài sản thuộc sở hữu trí tuệ do tính chất dặc biệt của loại tài sản này Trong thực tiễn, khi một bên vợ, chồng là người trực tiếp sáng tạo ra sản phẩm, thường họ là người quyết định đối với số phận của sản phẩm đó mà không có sự thỏa thuận của vợ chồng Vậy giao dịch này có được coi là hợp pháp hay không? Nếu đặt giả sử bất kể một giao dịch nào liên quan đến tài sản trí tuệ cũng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng thì sẽ kìm chế sự lao động sáng tạo nghệ thuật, khoa học kỹ thuật cũng như lãng phí những thành quả lao động của người tạo ra tài sản
vô giá đó Vì vậy, cần phải có những hướng dẫn cụ thể cho vấn đề này
20 Khoản 3 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 29Trong mối liên hệ với Bộ luật Dân sự năm 2005 (như xác định một người bị mât năng lục hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, tuyên bố một người chết, mất tích), Luật Nhà ở năm 2005 cần xác định những trường hợp đặc biệt cho tính hợp pháp trong các giao dịch do vợ, chồng thực hiện như: trường hợp vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì giao dịch dân sự liên quan đến tài sản thuộc quyền sở hữu chung sẽ
do ngươi chồng hoặc người vợ còn lại toàn quyền quyết định vì người này là người giám
hộ và là người đại diện đương nhiên của chồng hoặc vợ mình; trường hợp người chồng hoặc người vợ bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì khi thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng cần thiết vẫn phải có ý chí của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhằm đảm bảo lợi ích của bản thân người đó và gia đình Vì vậy, nếu một bên vợ hoặc chồng là người vắng mặt hoặc bị tuyên bố là mất tích thì người vợ hoặc người chồng còn lại với tư cách là người quản lý tài sản của người vắng mặt chỉ được thực hiện giao dịch dân sự như hợp đồng bán tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng hoặc tài sản riêng của người đó khi tài sản đó có nguy cơ bị hư hỏng21 và “trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung vắng mặt mà được tòa
án tuyên bố là mất tích thì các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung còn lại được quyền bàn nhà ở đó, phần giá trị quyền sở hữu nhà ở của người mất tích được xử lý theo qui định của pháp luật dân sự”22 Việc áp dụng qui định này để giải quyết cho vợ chồng được bán nhà là tài sản chung khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất tích là phù hợp với thực tế của đời sống xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai bên vợ chồng cũng như đảm bảo quyền lợi của người thứ ba khi họ là chủ nợ của người chồng hoặc vợ
bị tuyên bố mất tích hoặc người thứ ba là người mà người vợ hoặc người chồng bị tuyên
bố mất tích đang phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng
Trong trường hợp vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà có văn bản ủy quyền của chồng hoặc vợ mình thì giao dịch dân sự này là hợp pháp Quy định này hoàn toàn phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2005 Trong thực tế hiện nay, việc thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến nhà ở và quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng, trong trường hợp vợ, chồng có ủy quyền cho nhau hoàn toàn có thể kiểm soát được Đặc biệt là đối với quyền sử dụng đất
mà vợ chồng xác lập quyền sở hữu sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực23, quyền sở hữu nhà ở mà vợ chồng xác lập quyền sở hữu sau khi Luật nhà ở năm 2005 có hiệu lực24 Tuy nhiên, đối với nhà ở hoặc quyền sử dụng đất mà trong giấy chứng nhận quyền sở
21 Khoản 2 - Điều 76 và Điêu 79 - Bộ luật Dân sự 2005
22 Điều 96 - Luật Nhà ờ 2005
23 Điều 48 - Luật đất đai năm 2003
24 Điều 12 - Luật nhà ở năm 2005
Trang 30hữu nhi, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên một bên vợ hoặc chồng thì khi thực hiện giao dịch dân sự đối với tài sản này thì ý chí của vợ chồng được thể hiện như thế nàc để giao dịch đó là hợp pháp? Theo Bộ luật Dân sự 2005, người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thể hiện đầy đủ tư cách pháp lý của chủ sở hữu tài sản, vì vậy, họ có toàn quyền trong việc định đoạt tà sản đó Nhưng do luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khẳng định, dù một bên
vợ, chồng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu thì tài sản đó vẫn có thể là tài sản chung của vợ chồng Vì vậy, trong thực tiễn áp dụng, khi tiến hành thủ tục cần thiết,
cơ quai nhà nước có thẩm quyền vẫn đòi hỏi phải có ý kiến của cả hai vợ chồng Điều này là không hợp lý vì có nhiều trường hợp tài sản đó là tài sản riêng của một bên vợ, chồng
Bên cạnh đó, như trên chúng tôi đã phân tích về việc đăng ký quyền sử dụng đất của hộ gia đình sẽ dẫn tới một hiện tượng đang tồn tại trên thực tế là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đa phần sẽ chỉ ghi tên duy nhất chủ hộ Trong khi đó, hộ gia đình không chỉ có vợ, chồng chủ hộ mà còn có các thành viên khác, nếu chỉ ghi tên vợ hoặc chồng thì không đảm bảo quyền lợi của các chủ thể khác Bởi vì, có thể dẫn đến việc trong các giao dịch bất động sản, sẽ có sự “lập lờ” và khó phân định được đây là tài sản riêng của người đứng tên trong giấy chứng nhận hay là tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản chung của hộ gia đình Từ đó sẽ dẫn đến hiện tượng tẩu tán phá tán tài sản của hộ Nếu quyền sử dụng đất đó là tài sản chung của hộ thì khi thực hiện các giao dịch đều phải
có sự đồng ý của tất cả cáca thành viên của hộ theo quy định của pháp luật25 Do đó, Các quy định của pháp luật cần có sự tách bạch tài sản chung giữa vợ chồng và tài sản chung của hộ gia đình
Đối với giao dịch ủy quyền về quyền sử dụng đất, bao gồm: ủy quyền quản lý, khai thác, sử dụng và ủy quyền đứng tên quyền sử dụng đất; ủy quyền định đoạt quyền sử dụng đất của người có quyền sử dụng đất hợp pháp cho một người khác Trong mối liên
hệ với Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì chỉ quy định chung về uỷ quyền mà không có quy định riêng cho uỷ quyền về quyền sử dụng đất Từ
đó, dẫn đến những quan điểm trái chiều, có quan điểm cho rằng, quyền sử dụng đất mà
Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai đều thừa nhận là một loại tài sản nên không cần thiết phải
có quy định riêng về ủy quyền Từ đó, các trường hợp ủy quyền về quản lý, khai thác,
25 Khoản 2, Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định: ‘Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bàn tặng cho quyền sừ dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vôn bàng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tất cà các thành viên có đù năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ùy quyền theo quy định cùa pháp luật về dân sự”.
Trang 31đứng tên hay định đoạt về quyền sử dụng đều hợp pháp đều được công nhận Nếu có tranh chấp, mâu thuẫn và tranh chấp về những giao dịch có liên quan đến trường hợp ủy quyền thì Tòa án vẫn công nhận các giao dịch hợp pháp phát sinh từ việc ủy quyền nếu
đó là sự ủy quyền hợp pháp Quan điểm khác lại cho ràng, quyền sử dụng đất là một quyền tài sản đặc thù, bị chi phí bởi chủ thể có quyền sở hữu đối với tài sản đó là Nhà nước Vì vậy, các giao dịch liên quan tới tài sản là quyền sử dụng đất không giống như các giao dịch tài sản khác, phải được quy định riêng, cụ thể, chặt chẽ hơn Nếu Luật Đất đai không quy định vấn đề ủy quyền trong các giao dịch có liên quan tới quyền sử dụng đất thì các cơ quan thực thi pháp luật phải từ chối công nhận việc ủy quyền trong các giao dịch bất động sản cho dù đó là ủy quyền quản lý, khai thác, sử dụng và định đoạt Luật Đất đai hiện hành như đã chỉ dẫn ở trên chỉ thừa nhận việc ủy quyền đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ngay cả Luật Nhà ở hiện nay cũng chỉ thừa nhận việc ủy quyền quản lý mà không ủy quyền định đoạt Đây là điểm không tương đồng giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật Đất đai 2003, Luật Nhà ở 2005 Chúng tôi cho ràng, khi một tài sản đã xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của một chủ thể thì cần thiết phải trao quyền tự chủ cho chủ thể có quyền sở hữu với tài sản đó Vì vậy, cần phải thừa nhận việc ủy quyền trong giao dịch về quyền sử dụng đất, về nhà ở không chỉ ở phạm quản lý, sử dụng mà còn bao hàm cả quyền định đoạt Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện các giao dịch dân sự về nhà đất của vợ và chồng
Đối với những tài sản còn lại thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bao gồm cả những tài sản là động sản nhưng phải đăng ký quyền sở hữu là đối tượng của giao dịch dân sự sẽ rất khó xác định đã có sự thỏa thuận của vợ chồng hay chưa Bởi vì, những giao dịch này đôi khi không cần phải công chứng Nhất là trong thời gian hiện nay, nhà nước đang mở rộng hoàn tất việc đăng ký xe cho các chủ thể đang sử dụng xe không chính chủ Bên cạnh đó pháp luật dân sự không qui định việc ủy quyền nhất thiết phải được lập thành văn bản26 Trong khi đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 lại quy định vợ chồng ủy quyền cho nhau phải được lập thành văn bản27 Trong thực tế khi vợ hoặc chồng dùng tài sản có giá trị lớn mua tài sản như xe máy, ô tô thì bên bán không đòi hỏi người mua xuất trình văn bản ủy quyền của chồng hoặc vợ Hoặc ngược lại khi vợ hoặc chồng bán tài sản có giá trị lớn thì người mua cũng không yêu cầu bên bán xuất trình văn bản ủy quyền của chồng hoặc vợ Đặc biệt, hiện nay một bên vợ hoặc chồng tự ý mua nhà ở hoặc được chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không hỏi ý kiến của chồng hoặc vợ mình, thậm chí có hành vi giấu diếm việc mua bán, có trường hợp đợi sau khi ly hôn họ mới làm thủ tục sang tên đổi chủ Nếu người vợ hoặc người chồng của họ không phát hiện ra,
26 Điều 142 - Bộ luật Dân sự năm 2005
27 Điều 24 - Luật HN&GĐ năm 2000
Trang 32hoặc họ khône, yêu cầu sự can thiệp của cơ quan nhà nước thì hợp đồng này vẫn được phát siiih và có hiệu lực trên thực tế Nếu sau này người chồng hoặc người vợ còn lại phát hiện ra việc thực hiện hành vi mua bán đó và có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ thì họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh rằng người kia đã sử dụng tài sản chung thực hiện hợp đồng mua bán tài sản.
Trong thực tiễn còn có những giao dịch không thể hủy bỏ được do tính chất đặc biệt của nó, chẳng hạn việc mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán của vợ, chồng
là không thể kiểm soát được Bên cạnh đó, người vợ, người chồng đứng tên sở hữu cổ phiếu có thể dùng làm tài sản bảo đảm để vay vốn ngân hàng mà không cần phải có sự ủy quyền của chồng hoặc vợ mình Điều này có thể gây ra những hậu quả nhất định cho gia đình Vậy, xét mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với Luật Chứng khoán 2006 cần phải có một cơ chế chung đảm bảo cho tính hợp pháp của các giao dịch này mà không làm ảnh hường đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ, người chồng còn lại
Ngoài ra còn phải kể đến các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm, vay tín dụng bàng tài sản bảo đảm Trong mối liên hệ với pháp luật về ngân hàng28, trong thực tiễn cho thấy, khi một bên vợ, chồng đến ngân hàng thực hiện giao dịch tiền gửi, mà đơn
cử là gửi tiết kiệm thì cán bộ ngân hàng không quan tâm đến việc số tiền đó là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của người thực hiện giao dịch, họ cũng không cần biết tình trạng hôn nhân của khách hàng Hiện nay, giấy tờ duy nhất mà khách hàng cần xuất trình khi thực hiện giao dịch tiền gửi tại các ngân hàng là chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn (trong đó chứa đựng những thông tin cá nhân của khách hàng
mà không liên quan gì đến hôn nhân của họ) Theo quy chế về tiền gửi tiết kiệm thì chủ
sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm (Điều 6) Từ đó, một thực tế
là sau khi gửi tiền tiết kiệm, khách hàng đó hoàn toàn có thể đến ngân hàng thực hiện việc rút tiền tiết kiệm hoặc các giao dịch khác liên quan đến gửi tiền tiết kiệm mà mình đứng tên Như vậy, nếu tiền gửi tiết kiệm là tài sản chung của vợ chồng thì rõ ràng có sự khác biệt và không thống nhất Pháp luật về giao dịch tiền gửi chỉ quan tâm đến quyền lợi của khách hàng - người trực tiếp thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm mà không quan
28 Luật các tổ chức tín dụng (2010) và quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành theo quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 cùa thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam và được sửa đổi bổ sung một số điều theo quyết định số 47/2006/Q Đ -N H N N (sau đây gọi tắt là quy chế về tiền gửi tiết kiệm).
Trang 33tâm đến yếu tố hôn nhân và gia đình của khách hàng Quy định này có thể tạo ra vấn đề lạm quyền của vợ hoặc chồng đối với tài sản như tẩu tán hoặc phá tán tài sản
Đối với khách hàng là người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi khi thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm, ngoài việc xuất trình chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn thì còn phải xuất trình giấy tờ chứng minh số tiền gửi ngân hàng là tài sản riêng của mình như được thừa kế, tặng cho Nếu người chưa thành niên từ đủ 17 tuổi 1 ngày đến dưới 18 tuổi là vợ với tư cách là khách hàng thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm sẽ có sự khác biệt đối với khách hàng là vợ chồng đã thành niên (không phải chứng minh nguồn gốc tài sản) Việc người vợ chưa thành niên thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm có thể số tiền gửi đó là tài sản chung của vợ chồng Vậy, việc yêu cầu họ chứng minh tài sản đó là tài sản riêng hoàn toàn là không thể thực hiện được Do đó, trong thực tế, khi người vợ là người chưa thành niên thì người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi ngân hàng thường là người chồng Đây cũng là một vấn đề còn chưa thống nhất giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các vãn bản pháp luật về ngân hàng
Mặt khác, nếu trường hợp một bên vợ, chồng đứng tên trên thẻ tiết kiệm đã sử dụng thẻ tiết kiệm làm tài sản cầm cố tại các tổ chức tín dụng vay nợ nhưng đến hạn trả nợ mà không trả được thì tổ chức tín dụng cho vay có quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm chuyển số tiền gửi tiết kiệm của bên vay cho tổ chức tín dụng cho vay để thu hồi
nợ Trong trường hợp này tổ chức tín dụng cho vay mặc nhiên thừa nhận người vay là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm nên họ được quyền xử lý tài sản cầm cố theo quy định của pháp luật Rõ ràng đây là việc làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người
vợ hoặc chồng còn lại khi họ không biết, không buộc phải biết về việc chồng hoặc vợ mình đã dùng thẻ tiết kiệm để cầm cố vay nợ, trong khi số tiền tiết kiệm là tài sản chung của vợ chồng Đặt trong mối liên hệ với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì hợp đồng cầm cố tài sản để vay nợ này liệu có hợp pháp không khi không có sự thỏa thuận của vợ chồng? tổ chức tín dụng cho vay có quyền thu hồi nợ trên khoản tiền gửi tiết kiệm hay không? Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng thì trong hợp đồng tín dụng luôn phải có mục đích của việc sử dụng vốn vay là kinh doanh hay dịch vụ đời sống, tiêu dung
cá nhân29 Tuy nhiên, việc xác định mục đích sử dụng vốn vay là rất khó khăn trong thực tiễn
29 Điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng
Trang 34Do Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản pháp luật hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cho phép người chưa thành niên kết hôn nên sẽ dẫn đến những khó khăn trong việc vợ chồng cùng thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, trong những trường hợp cụ thể chủ thể của giao dịch dân sự nhất thiết phải là người đã thành niên, có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ30 Người chồng trong trường hợp này không phải là người đại diện cho người
vợ, do đó, không thể một mình thực hiện giao dịch được Nếu hai vợ chồng vẫn tiến hành thực hiện giao dịch hoặc người chồng tự ý thực hiện giao dịch thì giao dịch này bị coi là
vô hiệu Vì vậy, trong những trường hợp này phải đợi cho đến khi người vợ đạt được độ tuổi mà pháp luật quy định thì vợ chồng có thể thực hiện được các giao dịch dân sự
* Trách nhiệm tài sản của vợ chồng trong quan hệ nghĩa vụ
Để xác định trách nhiệm tài sản của vợ chồng trong quan hệ nghĩa vụ cần vận dụng nguyên tắc chung của Luật Dân sự kết hợp với các quy định cụ thể trong Luật HN&GĐ Trước hết, căn cứ vào ý chí của vợ, chồng trong việc thiết lập các giao dịch và tài sản tham gia giao dịch là tài sản chung hay riêng, có những biệt lệ nào không? Từ đó mới có thể xác định đúng trách nhiệm tài sản của vợ chồng được Trong trường hợp vợ hoặc chồng tự ý thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng mà bên kia không biết thì khi phát sinh trách nhiệm dân sự, người đó phải thực hiện trách nhiệm dân sự bằng tài sản riêng của mình, phần tài sản của họ trong khối tài sản chung Giao dịch này được coi là vô hiệu toàn bộ Cũng có ý kiến cho rằng hợp đồng chỉ vô hiệu một phần vì phần tài sản của người thực hiện giao dịch có trong khối tài sản thuộc sở hữu chung đó vẫn có hiệu lực pháp luật Theo quan điểm của chúng tôi, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, về nguyên tắc, không phân biệt được phần tài sản của mỗi bên vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng chỉ được xác định phần quyền cụ thể của mỗi bên khi chia tài sản chung khi có lý do chính đáng trong thời kỳ hôn nhân hoặc khi vợ, chồng chết, khi vợ chồng ly hôn Do đó, khi một bên vợ hoặc chồng tự ý thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản thuộc sở hữu chung của
vợ chồng được coi là vi phạm điều kiện để giao dịch dân sự hợp pháp, đó là vi phạm sự
tự nguyện trong giao kết hợp đồng dân sự31; hoặc có thể còn thuộc trường hợp giao dịch
vô hiệu do bị lừa dối32 (cố ý làm cho bên kia hiểu sai lệch về đối tượng của giao dịch dân
sự như nói dối tài sản đó là tài sản riêng của mình chứ không phải là tài sản chung của vợ chồng) Phương thức kiện đòi tài sản được áp dụng theo qui định của Bộ luật Dân sự
30 Điều 143 - Bộ luật Dân sự 2005
11 Điều 122 - Bộ luật Dân sự 2005
32 Điều 132 - Bộ luật Dân sự 2005
Trang 35Trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật về kinh doanh, việc xác định trách nhiệm tài sản trong quan hệ nghĩa vụ càng trở nên phức tạp hơn Các văn bản pháp luật về kinh doanh có quy định tương đối rõ ràng, minh thị về chế độ chịu trách nhiệm dân sự của chủ thể kinh doanh Đối với chủ thể kinh doanh là pháp nhân thì chủ thể kinh doanh đó phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình đối với những nghĩa vụ do người đại diện của pháp nhân xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền, thành viên của pháp nhân không phải
sử dụng tài sản riêng để thanh toán nghĩa vụ cho pháp nhân trừ khi có thỏa thuận khác Đối với chủ thể là thể nhân thì thể nhân đó phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng cả tài sản đưa vào kinh doanh và các tài sản riêng khác Trong khi đó, Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành lại chưa có quy định cụ thể, rõ ràng phạm vi nghĩa vụ tài sản do vợ chồng chịu trách nhiệm bằng tài sản chung hoặc tài sản riêng Nguyên tắc tài sản riêng được sử dụng thanh toán nghĩa vụ chung trong trường hợp tài sản chung không đủ thanh toán nghĩa vụ Quy định này là phù hợp nếu chi đơn giản thực hiện nghĩa vụ đáp ứng như cầu thiết yếu của gia đình, còn thanh toán nợ trong kinh doanh việc áp dụng nguyên tắc này có nhiều phức tạp về sự minh bạch và sự công bằng
* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của vợ chồng
Nếu vợ chồng cùng gây thiệt hại thì được xác định là bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra theo điều 616 Bộ luật Dân sự Trong trường hợp vợ, chồng cùng gây thiệt hại thì xác định trách nhiệm liên đới đặc biệt hom so với những trường hợp chịu trách nhiệm liên đới do Bộ luật Dân sự 2005 điều chỉnh Vợ chồng phải bồi thường bằng tài sản chung hợp nhất Nếu tài sản chung của vợ chồng không đủ để bồi thường thì vợ chồng có trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mỗi bên theo thỏa thuận hoặc theo kỷ phần được xác định Ngay cả trong trường hợp vợ chồng không còn tài sản chung
mà một bên có tài sản riêng thì bên đó vẫn phải dùng tài sản riêng để bồi thường thiệt hại
và điều đặc biệt là giữa vợ chồng không phát sinh nghĩa vụ hoàn lại Trong trường hợp người vợ là người chưa thành niên mà tài sản chung của vợ chồng không đủ, hoặc không
có để bồi thường thiệt hại, vợ, chồng cũng không có tài sản riêng thì nên áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
“người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thưởng bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của minh” (Khoản 2 điều 606 Bộ luật Dân sự 2005) Tuy nhiên, trong trường hợp này cha mẹ của người vợ chưa thành niên chỉ phải bồi thường phần thiệt hại do con gái của mình gây ra Do đó, phần còn thiếu sẽ phải đợi khi vợ chồng
có tài sản chung hoặc một bên vợ, chồng có tài sản riêng
Trang 36Nếu vợ hoặc chồng là người gây thiệt hại thì cần áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 để phân định các trường hợp khi họ là người mất năng lực hành vi dân
sự, (đầu tiên phải lấy tài sản của họ để bồi thường, nếu không đủ thì phải trích phần tài sản của họ trong khối tài sản chung của vợ chồng (nếu người còn lại không đồng ý dùng tài sản chung bồi thường), nếu vẫn không đủ thì phải xác định lỗi thuộc về ai thì người đó phải dùng tài sản riêng của mình để bồi thường tiếp Như vậy, có thể người vợ hoặc người chồng còn lại là người giám hộ cho chồng hoặc vợ mình và có lỗi thì họ phải dùng tài sản riêng để bồi thường phần thiệt hại do chồng hoặc vợ của mình gây ra.)
Nếu người vợ hoặc người chồng là người của pháp nhân gây thiệt hại, là người của
cơ quan tiến hành tố tụng gây thiệt hại, là cán bộ công chức gây thiệt hại thì cần xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong mối liên hệ với Bộ luật Dân sự 2005, Luật Bồi thường nhà nước 2009 và các văn bản pháp luật khác có liên quan33 Trong những trường hợp này khi có thiệt hại xảy ra, pháp nhân, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành
án, cơ quan quản lý nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại Sau đó, tùy vào mức độ lỗi của người gây thiệt hại khi đang thực hiện nhiệm vụ được giao mà những cơ quan này yêu cầu người gây thiệt hại hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật34 Nghị định số 118/2006/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ về xử
lý trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức (sau đây gọi tắt là Nghị định số 118/2006/NĐ-CP) quy định “Cán bộ, công chức gây thiệt hại có trách nhiệm bồi thường theo quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cấp có thẩm quyền Nếu cán bộ, công chức không đủ khả năng bồi thường một lần sẽ bị khấu trừ 20% tiền lương hàng tháng cho đển khi bồi thường đủ theo quyết định của người có thẩm quyền; Nếu bên gây thiệt hại thuyên chuyển công tác, thôi việc, nghỉ hưu thì cơ quan quản lý đã bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại có thể kết hợp với cơ quan mới hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú thu cho đến khi đủ số tiền phải hoàn trả (Điều 3); Luật Bồi thường nhà nước (2009) quy định “Việc hoàn trả có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần Trường hợp việc hoàn trả được thực hiện bằng cách trừ dẫn vào lương hàng tháng của người thi hành công vụ thì mức tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% thu nhập từ tiền lương hàng tháng” (Điều 62) Việc khấu trừ vào lương của bên vợ hoặc chồng gây thiệt hại trong trường hợp này, nếu xét dưới góc độ họ là những các nhân riêng lẻ là hoàn toàn phù hợp, nhưng xét dưới góc độ họ với tư cách là
33 Nghị định số 118/2006/N Đ -C P ngày 10 tháng 10 năm 2006 cùa Chính phủ về xử lý trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức (gọi tắc là Nghị định số 118/2006/NĐ-CP), Nghị định số 2 7 /2 0 12/NĐ-CP ngày 6 tháng 4 năm
2012 quy định vê xử lý kỳ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả cùa viên chức (Gọi tăt là Nghị định
2 7 /2 0 12/NĐ-CP)
34 Điều 618, 619, 620 Bộ luật Dân sự 2005
Trang 37vợ, chồng trong mối liên hệ với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là không thỏa đáng
và phù hợp Bởi vì, trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn dựa vào lỗi của người gây thiệt hại trừ những trường hợp khác do pháp luật quy định Người vợ, người chồng của người gây thiệt hại không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vì vậy, họ cũng không có trách nhiệm hoàn trả tài sản cho cơ quan cùng với người gây thiệt hại
* về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
v ề quyền yêu cầu chia tài sản chung còn có nhiều tranh cãi trong thực tiễn áp dụng pháp luật bởi vi Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ thừa nhận vợ chồng là người có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Trong mối liên hệ với Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định về chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung (không có sự phân biệt sở hữu chung hợp nhất hay sở hữu chung theo phần)
“Trong trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung, nếu các chủ sở hữu chung đã thỏa thuận không phân chia tài sản chung trong một thời hạn thì mỗi chủ sở hữu chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó, khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để chia Trong trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi người đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền chia tài sản chung
để nhận tiền thanh toán và được tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bàng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán”35 Vậy người thứ ba có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân hay không? Trong thực tể có nhiều trường hợp, một bên vợ chồng muốn trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người thứ ba nên không yêu cầu chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân, điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba nếu không cho họ quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng Nếu cho người thứ ba được quyền yêu cầu chia tài sản chung thì có thể dẫn đến trường hợp ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình như chỗ ở, phương tiện kiêm sống, đi lại của vợ chồng, việc học hành của con cái
Mặt khác, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định những lý do chính đáng
và hướng dẫn cụ thể về những trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng bị coi là vô hiệu Nhưng lại không quy định quyền yêu cầu hủy bỏ việc chia tài sản khi việc chia tài
35 Điều 224 Bộ luật Dân sự 1995
Trang 38sản đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản Trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác, có thể vợ chồng tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại, kinh tế và dẫn đến phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản nhưng lại [én lút chia tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ Vậy ai là người có quyền yêu cầu hủy bỏ việc chia này? quyền và lợi ích cùa người thứ
ba sẽ được bảo vệ như thế nào trong các giao dịch đó? Và hậu quả pháp lý về tài sản của việc hủy bò việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xử lý như thể nào? Đây là vấn đề mà pháp luật còn bỏ ngỏ Đặt giả thiết cho phép người thứ ba được quyền yêu cầu toà án huỷ bỏ việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo quyền lợi của
họ thì liệu có mâu thuẫn không khi xác định quyền yêu cầu chia tài sản chỉ thuộc về vợ chồng, gắn liền với nhân thân của vợ chồng? và không cho phép người thứ ba yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng? Xét cho đến cùng việc người thứ ba yêu cầu chia tài sản hay yêu cầu huỷ bỏ việc chia tài sản đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Nếu quá tuyệt đối quyền của vợ chồng thì vợ chồng rất dễ lạm quyền để ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác
Bên cạnh đó, xét trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác như Luật doanh nghiệp, luật thương mại, việc chia tài sản còn phải chịu sự chi phối và bị hạn chế trong những trường hợp nhất định như khi vợ chồng đã đầu tư tài sản chung vào các doanh nghiệp thì tài sản đó thuộc tài sản của công ty, việc chuyển nhượng vốn, đầu tư kinh doanh Ví dụ, Khoản 3 Điều 133 Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Thành viên hợp danh không được chuyền m ột phần hoặc toàn bộ phần vốn góp cùa mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chắp thuận của các thành viên hợp danh còn lạ ì\ Như vậy, trong trường hợp này, vợ chồng chỉ có thể yêu cầu chia phần góp vốn là tài sản chung của vợ chồng khi được các thành viên hợp danh của công ty đồng ý
Đối với công ty cổ phần, Khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định:
“Có đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật n à ỳ\ Khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 nói ở quy định này quy định về hạn chế chuyển nhượng cổ phần đối với
cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ đông sáng lập Do đó, nếu vợ chồng có tài sản chung là cổ phần trong công ty cổ phần mà không phải là cổ phần ưu đãi biểu quyết hoặc cổ phần của cổ đông sáng lập thì vợ, chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung này như những tài sản thông thường khác
Tương tự, đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, thành viên công ty chỉ được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp của mình “cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào báii’ (khoản 2 Điều 44 Luật doanh
Trang 39nghiệp năm 2005) Trong trường hợp này, vợ, chồng muốn được chia (nhận chyển nhượng một phần vốn góp) khi đã thực hiện việc chào bán phần góp vốn cho các thành viên khác của công ty mà hết hạn các thành viên này không mua.
v ề lý do chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải là chính đáng, nhưng ngay
cả trong Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP cũng bỏ ngỏ việc giải thích thế nào là lý do chính đáng mà chỉ đưa ra một số trường hợp việc chia tài sản bị coi là vô hiệu Mặt khác, trong những trường hợp văn bản chia tài sản cần phải công chứng, chứng thực thì cơ quan công chứng cũng không phải là cơ quan có thẩm quyền xem xét lý do chia có chính đáng hay không mà chi xác định sự thoả thuận chia của các bên qua ý chí của họ được thể hiện bằng chữ ký trong văn bản chia Do đó, pháp luật hôn nhân và gia đình cần quy định cụ thể về vấn đề này
v ề hậu quả pháp lý, trong mối liên hệ với Nghị định số 70/2001/NĐ-CP dẫn đến những cách suy đoán khác nhau khi xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng cũng như dẫn đến sự hồ nghi về chế độ tài sản chung của vợ chồng liệu có chấm dứt sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân? Bởi vì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ dự liệu cho hoa lợi lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia là tài sản riêng, từ đó dẫn đến cách hiểu là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác vẫn là tài sản chung? Nghị định số 70/2001/NĐ-CP hướng dẫn vượt quá những quy định chung của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản nên có quan điểm cho rằng điều đó đã dẫn đến sự mâu thuẫn với nguyên tắc chung của việc xác định tài sản chung theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Mặt khác, Nghị định số 70/2001/NĐ-
CP còn quy định về khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng36 dẫn đến sự suy đoán
là việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân dẫn đến chế độ tài sản chung của vợ chồng chấm dứt, thay vào đó là chế độ tài sản tách riêng tài sản Theo quan điểm của chúng tôi, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chỉ làm thay đổi nguyên tắc xác định tài sản chung, tài sản riêng mà không làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng (kể cả trong trường hợp chia toàn bộ tài sản) Do đó, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP dùng thuật ngừ “khôi phục chế độ tài sản” là không đúng, cần thay thế bằng cụm từ “thoả thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung” thì hợp lý hơn
* về thừa kể tài sản là nhà ở thuộc tài sản chung của vợ chông:
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ghi nhận quyền thừa kế tài sản của vợ chồng
và tạm hoãn phân chia di sản thừa kế có sự tương thích và phù hợp với quy định của Bộ
36 Điều 10, 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
Trang 40luật Dân sự 20 0537 Trong mối liên hệ với Luật Nhà ở cho thấy pháp luật đặc biệt quan tâm và bảo vệ quyền thừa kế và lợi ích của người vợ hoặc người chồng còn sống Tuy nhiên, chính điều này có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế khác: ‘'Nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất mà người thừa k ế là một hoặc các chu sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung còn lại thì những người này được thừa kế nhà ở
đó theo di chúc hoặc theo pháp luật Trường hợp có người thừa k ể không phải là chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất thì người thừa k ế được thanh toán phần giá trị nhà ở mà họ được thừa kế. Như vậy, trong trường hợp tài sản để thừa kế là nhà ở thuộc
sở hữu chung giữa vợ và chồng thì người còn lại sẽ đương nhiên được chuyển quyền sở hữu toàn bộ các căn nhà được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và những người thừa kế còn lại chỉ được hưởng giá trị nhà ở mà họ được thừa kể Trong mối liên hệ trở lại với Bộ luật Dân sự 2005, có thể thấy quy định này mâu thuẫn với các quy định về thừa kế trong việc phân chia di sản theo di chúc và theo luật Luật Nhà ở đã đặt quan hệ hôn nhân vượt lên trên các quan hệ huyết thống và nuôi dưỡng; đặc biệt còn chi phối cả quyền tự do ý chí của người lập di chúc
1.2.3 Xác định cha, mẹ, con trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác
1.2.3.1 về xấc định thời k ỳ hôn nhân trong trưởng hợp kết hôn toái pháp luật không bị
xử hủy để xác định diện con chung của vợ chồng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong mối liên hệ với Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTPTANDTC, thời kỳ hôn nhân cần được xác định trong trường hợp không máy móc hủy việc kết hôn trái pháp luật Thời kỳ hôn nhân được tính từ thời điểm hai bên nam nữ được cấp giấy chứng nhận kết hôn hay thời điểm Tòa án quyết định không máy móc xử hủy việc kết hôn đó? Nếu lấy thời điểm được cấp giấy chứng nhận kết hôn thì có thể hai thời kỳ hôn nhân song song tồn tại nếu việc kết hôn vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng Nếu lấy thời điểm Tòa án quyết định không máy móc xử hủy thì chẳng khác gì là việc kết hôn đó bị hủy rồi họ kết hôn lại Việc xác định thời điểm này có ý nghĩa trong việc xác định cha, mẹ, con Do đó, cần có hướng dẫn
cụ thể cho trường hợp này
1.2.3.2 về xác định thời gian mang thai tối thiểu và tối đa để xác định diện con chung của vợ chồng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong mối liên hệ với Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 cho thấy nếu chỉ qui định về thời gian mang thai tối đa là không hoàn toàn phù hợp Hơn nữa, nếu chỉ căn
cứ vào hai thời điểm là ngày người chồng chết và ngày bản án, quyết định của Toà án xử
37 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000