Thực tế này đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu một cách tổng thể về quyền lập hội trong pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia; đồng thời trên cơ sở đánh giá thực trạng các quy địn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-* -
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP TRƯỜNG
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN LẬP HỘI VÀ
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Hồng Yến Thư ký đề tài: ThS Phạm Hồng Hạnh
Hà Nội – 2018
Trang 2
DANH SÁCH CÁC TÁC GIẢ THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
TƯ CÁCH THAM GIA
1 TS Nguyễn Thị Hồng Yến Trường Đại học Luật Hà Nội Chủ nhiệm
2 ThS Phạm Hồng Hạnh Trường Đại học Luật Hà Nội Thư Ký
3 Chuyên gia Vũ Ngọc Bình Viện dân số, gia đình và trẻ em Tác giả
4 ThS Nguyễn Tiến Đức Viện Nhà nước và Pháp luật Tác giả
5 ThS Đỗ Quí Hoàng Trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả
6 TS Nguyễn Thị Kim Ngân Trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả
7 ThS Nguyễn Hữu Phú Bộ Ngoại Giao Tác giả
8 TS Nguyễn Thị Xuân Sơn
Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả
9 ThS Trần Thị Thu Thủy Trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả
10 ThS Lã Minh Trang Trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả
11 ThS Ngô Thị Trang Học Viện Ngoại Giao Tác giả
Trang 3DANH SÁCH HỆ CHUYÊN ĐỀ CỦA ĐỀ TÀI
Chuyên đề 3: Pháp luật của một số quốc gia
châu Âu và châu Mỹ về quyền lập hội và
kinh nghiệm đối với Việt Nam
ThS Phạm Hồng Hạnh
& ThS Đỗ Quí Hoàng
4
Chuyên đề 4: Pháp luật của một số quốc gia
châu Á về quyền lập hội và kinh nghiệm đối
với Việt Nam
Chuyên đề 6: Thực tiễn bảo đảm quyền lập
hội và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả trong đảm bảo quyền lập hội tại Việt
Nam
TS Nguyễn Thị Xuân Sơn
7
Chuyên đề 7: Một số góp ý xoay quanh nội
dung Dự thảo Luật về hội của Việt Nam
ThS Nguyễn Hữu Phú
Trang 41
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: BÁO CÁO TỔNG HỢP CỦA ĐỀ TÀI 5
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5
I Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 5
II Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 7
III Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 9
V Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
CÁC KẾT QUẢ CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 12
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN LẬP HỘI 12
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của quyền lập hội 12
1.2 Định nghĩa và đặc điểm của quyền lập hội 16
1.3 Mối quan hệ giữa quyền lập hội với các quyền dân sự, chính trị khác 25
II PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN LẬP HỘI 30
2.1 Nội dung các văn kiện pháp lý quốc tế phổ cập về quyền lập hội 30
2.2 Các thiết chế quốc tế bảo vệ quyền lập hội 41
III PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN LẬP HỘI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 54
3.1 Pháp luật về quyền lập hội của một số quốc gia trên thế giới 54
3.2 Kinh nghiệm cho Việt Nam 61
IV PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN LẬP HỘI CỦA VIỆT NAM 64
4.1 Sự hình thành và phát triển các quy định về quyền lập hội ở Việt Nam 64
4.2 Chủ trương, chính sách của Đảng về hội và quyền lập hội 68
4.3 Quyền lập hội trong các bản Hiến pháp của Việt Nam 71
4.4 Quy định về quyền lập hội trong các văn bản pháp luật hiện hành 75
4.5 Một số nhận xét về quy định hiện hành của Việt Nam về quyền lập hội 80
V QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN LẬP HỘI TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 86
5.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về hội của Việt Nam 86
5.2 Một số giải pháp cụ thể 87
Trang 52
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG HỆ CHUYÊN ĐỀ CỦA ĐỀ TÀI………95
CHUYÊN ĐỀ 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN LẬP HỘI 96
1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUYỀN LẬP HỘI 96 1.1 Khái lược lịch sử hình thành và phát triển của quyền con người 96
1.2 Sự hình thành và phát triển của quyền lập hội gắn với các quyền dân sự, chính trị……… 99
2 QUYỀN LẬP HỘI DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN 102
2.1 Quyền lập hội – một trong các quyền con người cơ bản 102
2.2 Quyền lập hội trong pháp luật quốc gia với tư cách là quyền công dân 110
3 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN LẬP HỘI VỚI CÁC QUYỀN DÂN SỰ, CHÍNH TRỊ KHÁC 114
3.1 Cơ sở của mối quan hệ giữa quyền lập hội với các quyền dân sự, chính trị khác……….…………114
3.2 Nội dung của mối quan hệ giữa quyền lập hội với các quyền dân sự, chính trị khác 115
CHUYÊN ĐỀ 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN LẬP HỘI 120
1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN LẬP HỘI 121
1.1 Quyền thành lập và gia nhập hội 125
1.2 Quyền tự do hoạt động, điều hành hội và được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô lý 130
1.3 Các giới hạn đối với quyền tự do lập hội 132
2 CÁC THIẾT CHẾ QUỐC TẾ BẢO VỆ QUYỀN LẬP HỘI 136
2.1 Thiết chế trong khuôn khổ Liên hợp quốc 137
2.2 Thiết chế trong khuôn khổ ILO 143
CHUYÊN ĐỀ 3: PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU ÂU, CHÂU MỸ VỀ QUYỀN LẬP HỘI VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 151
1 PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU ÂU VỀ QUYỀN LẬP HỘI 151
1.1 Pháp luật về quyền lập hội của Phần Lan 151
1.2 Pháp luật về quyền lập hội của Ba Lan 159
1.3 Pháp luật về quyền lập hội của Croatia 165
Trang 63
2 PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU MỸ VỀ QUYỀN LẬP HỘI
173
2.1 Pháp luật về quyền lập hội của Hoa Kỳ 173
2.2 Pháp luật về quyền lập hội của Mexico 178
3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 181
CHUYÊN ĐỀ 4: PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á VỀ QUYỀN LẬP HỘI VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 187
1 PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN LẬP HỘI CỦA CÁC NƯỚC ASEAN 187
2 PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á KHÁC VỀ QUYỀN LẬP HỘI 197
2.1 Pháp luật về quyền lập hội của Nhật Bản 197
2.2 Pháp luật về quyền lập hội của Trung Quốc 205
3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 213
CHUYÊN ĐỀ 5: QUYỀN LẬP HỘI TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 217
1 SỰ HÌNH THÀNH HỘI VÀ QUYỀN LẬP HỘI Ở VIỆT NAM 217
2 CƠ SỞ PHÁP LÝ GHI NHẬN QUYỀN LẬP HỘI Ở VIỆT NAM 223
2.1 Quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng về hội và quyền lập hội ở Việt Nam……….…224
2.2 Quy định về quyền lập hội trong các bản Hiến pháp của Việt Nam 229
2.3 Quy định của các văn bản pháp luật về quyền lập hội 238
3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN LẬP HỘI Ở VIỆT NAM 246
CHUYÊN ĐỀ 6: THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN LẬP HỘI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG ĐẢM BẢO VÀ THI HÀNH QUYỀN LẬP HỘI TẠI VIỆT NAM 253
1 CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN LẬP HỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 254
2 THỰC TIỄN ĐẢM BẢO QUYỀN LẬP HỘI Ở VIỆT NAM 261
2.1 Thực tiễn quản lý nhà nước về thành lập hội tại Việt Nam 261
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về hoạt động hội tại Việt Nam 265
Trang 74
3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VỀ ĐẢM BẢO
QUYỀN LẬP HỘI TẠI VIỆT NAM 269
CHUYÊN ĐỀ 7: MỘT SỐ GÓP Ý XOAY QUANH DỰ THẢO LUẬT VỀ HỘI CỦA VIỆT NAM 274
1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG LUẬT VỀ HỘI 274
2 QUY ĐỊNH VỀ THÀNH LẬP HỘI 276
3 QUY ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP HỘI 281
4 QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ GIÁM SÁT CỦA NHÀ NƯỚC 284
5 QUY ĐỊNH VỀ TÀI CHÍNH CỦA HỘI 287
6 CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI 289
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 291
Trang 85
PHẦN THỨ NHẤT: BÁO CÁO TỔNG HỢP CỦA ĐỀ TÀI
-
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
I Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Cùng với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp…tự do lập hội cũng là một trong những quyền dân sự, chính trị cơ bản của con người đã được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật của các quốc gia
Tại Việt Nam, để đảm bảo quyền lập hội của công dân, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 52 ngày 22 tháng 4 năm 1946 về hội và Sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957 về “Luật quy định quyền lập hội”; Đồng thời, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Tính cho đến nay, Việt Nam cơ bản đã có một hệ thống các văn bản dưới luật ghi nhận về quyền lập hội của người dân
Hiện nay, các hội ở nước ta phát triển khá đa dạng với quy mô, phạm vi
và tính chất hoạt động khác nhau Tính đến tháng 12/2014, cả nước có 52.565 hội, trong đó có 483 hội hoạt động trên phạm vi cả nước, 52.082 hội hoạt động trên phạm vi địa phương Đối với hội đặc thù thì số lượng là 8792 hội (28 hội hoạt động trên phạm vi cả nước, 8764 hội hoạt động ở phạm vi địa phương)1 Một số hội đã được xác định là tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp và 10 hội được thành lập đảng đoàn để lãnh đạo hoạt động; các hội còn lại được xác định là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nhân đạo Nhiều hội đã phát huy tốt vai trò tập hợp, đoàn kết hội viên, có đóng góp tích cực vào việc bảo vệ, xây dựng và phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên Tuy nhiên,
1 Tờ trình của Chính phủ trình quốc hội về Dự thảo Luật về Hội tháng 9/2015
Trang 9về các hội ở Việt Nam
Bên cạnh đó, tốc độ phát triển kinh tế thế giới thay đổi, quá trình hội nhập vào sân chơi toàn cầu của các quốc gia ngày càng sâu sắc cũng đặt ra những thách thức mới cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam Thực tế cho thấy, khi các hiệp định thương mại thế hệ mới, trong đó có siêu Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái BÌnh Dương (CPTPP) có hiệu lực, Việt Nam và các quốc gia sẽ bắt đầu đón nhận những luồng gió mới về đầu tư và phát triển thương mại mà Hiệp định này mang lại, tuy nhiên, một trong những thách thức phải giải quyết chính là sự xuất hiện của các tổ chức/hội bên ngoài Công đoàn Việt Nam Điều này tạo ra không ít áp lực cho tổ chức đại diện người lao động truyền thống của Việt Nam cũng như các quy định hiện hành về hội ở nước ta Chính vì vậy, rà soát các quy định về hội và xây dựng Luật về hội là một trong những hoạt động quan trọng nhằm cụ thể hóa các quy định trong Hiến pháp, đồng thời cũng là để Việt nam thực thi các cam kết của mình trong các văn kiện quốc tế có liên quan
Thực tế này đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu một cách tổng thể về quyền lập hội trong pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia; đồng thời trên
cơ sở đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền lập hội để đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về quyền lập hội của Việt Nam nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 2013, bảo đảm thực hiện quyền lập hội của công dân, phát huy vai trò của hội và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với hội là cần thiết
Trang 107
II Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Ở Việt Nam, hiện nay có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đề cập đến vấn đề quyền lập hội như: Lã Khánh Tùng, Nghiêm Hoa, Vũ Công Giao
(Chủ biên), Hội và tự do hiệp hội – một cách tiếp cận dựa trên quyền, Nxb Hồng Đức, 2015; PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh (Chủ biên), Pháp luật về quyền
tự do lập hội, hội họp hòa bình trên thế giới và của Việt Nam, Nxb Hồng Đức, 2015; PGS TS Tào Thị Quyên, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Các quy định pháp luật về tổ chức xã hội của một số nước trên thế giới và giá trị có thể thảm khảo đối với Việt Nam, Tạp chí Tổ chức Nhà nước tháng 8/2016;
TS Ngô Hữu Phước, Quyền lập hội trong luật quốc tế và pháp luật một số nước, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, ngày 18/11/2016; PGS.TS Vũ Công Giao (chủ biên), Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013 - lý luận và thực tiễn, Nxb Hồng Đức, 2016; PGS.TS Vũ Văn Nhiêm, Góp ý về định hướng xây dựng Luật về hội và một số vấn đề khác, Tạp chí Khoa học và pháp lý số tháng 2/2017; ThS Nguyễn Văn Huệ, Chính sách, pháp luật về hội và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện Dự thảo Luật về hội, Tạp chí Khoa học và pháp lý số tháng 2/2017; TS Cao Vũ Minh, Nguyễn Nhật Khanh, Luật
về hội – cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện quản lý nhà nước về hội, Tạp chí Khoa học và pháp lý số tháng 2/2017; TS Phan Nhật Thanh, Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Dự thảo Luật về Hội, Tạp chí Khoa học và pháp lý số tháng 2/2017; ThS Nguyễn Tú Anh, Bàn về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hội trong Dự thảo Luật về hội, Tạp chí Khoa học và pháp lý số tháng 2/2017; PGS.TS Nguyễn Văn Vân, Quy chế pháp lý về tài chính, tài sản của hội trong Dự thảo Luật về Hội, Tạp chí Khoa học và pháp lý số tháng 2/2017; TS Đỗ Minh Khôi, Địa vị pháp lý của hội trong hoạt động xây dựng pháp luật, Tạp chí Khoa học và pháp lý số tháng 2/2017; TS Lê Minh Hùng, Bàn về quyền và nghĩa vụ của hội có đăng ký trong Dự thảo Luật về hội, Tạp
chí Khoa học và pháp lý số tháng 2/2017…Ngoài ra, vấn đề về quyền lập hội cũng đã trở thành chủ đề nghiên cứu, trao đổi của một số hội thảo được tổ chức bởi các cơ quan, tổ chức tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu của các công trình
Trang 118
kể trên chủ yếu tập trung vào khai thác những khía cạnh riêng lẻ liên quan đến quyền lập hội như quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật các quốc gia về quyền lập hội, cơ chế bảo đảm quyền lập hội…
Ở nước ngoài, vấn đề hội và quyền lập hội, cơ chế đảm bảo quyền lập hội cũng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu (chủ yếu là các bài viết tạp chí) về các khía
cạnh khác nhau của quyền lập hội như: Alan Bogg, Freedom of Association, University of Oxford, 2015; Leon E Irish & Karla W Simon, Freedom of Association: Recent Developments Regarding the “Neglected Right”, the
American Society of International Law Human Rights Interest Group
Newsletter, Volume 9, No 1 and 2, p.37, 2015; Craig D Bavis, The Freedom
of Association: The Emerging Right to Strike Consensus in International and
Domestic Labour Law, Victory Square Law Office, July 17, 2015; Lee
SWEPSTON, Human rights law and freedom of association: Development through ILO supervision, International Labor Review, Vol 137 (1998), No.2; Thomas I Emerson, Freedom of Association and Freedom of Expression, The
Yale Law Journal, Vol 74, 1964…
Nhìn chung, nghiên cứu các công trình trên có thể rút ra một số nhận xét:
Thứ nhất, nhìn chung, đã có những nghiên cứu bước đầu khá cụ thể về
các quy định liên quan đến hội và quyền lập hội trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Những kết quả nghiên cứu này rất hữu ích, cần được kế thừa và tiếp tục làm sâu sắc hơn Tuy nhiên, nhìn tổng thể, chưa có công trình nào dưới dạng đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá tổng thể cả góc độ lý luận, pháp lý và thực tiễn về quyền lập hội trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Thứ hai, một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài chỉ làm rõ quyền
lập hội trong lĩnh vực lao động, chứ chưa đi vào nghiên cứu rõ mối quan hệ giữa quyền lập hội với các quyền dân sự- chính trị khác như quyền tự do hội họp, quyền tự do biểu đạt, ngôn luận…
Thứ ba, việc xây dựng pháp luật nói chung và quy định về quyền lập hội
nói riêng cần tính đến yếu tố đặc thù về kinh tế - văn hóa và truyền thống pháp
Trang 129
luật của các quốc gia, chính vì vậy khi đề xuất những kinh nghiệm của các nước cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội của Việt Nam cần lưu ý đến những đặc thù này để đảm bảo tính hợp lý, khả thi
Thứ tư, các đề xuất hoàn thiện pháp luật về quyền lập hội của Việt Nam
còn dàn trải, nhiều quan điểm
III Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài hướng tới một số mục tiêu cơ bản sau:
- Thứ nhất, cung cấp những kiến thức lý luận về quyền lập hội
- Thứ hai, làm rõ những quy định về quyền lập hội và đảm bảo quyền lập
hội trong pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Thứ ba, nghiên cứu, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền lập hội tại Việt
Nam trên các phương diện
- Thứ tư, cung cấp nguồn học liệu cho sinh viên, học viên đang theo học
tại trường hoặc những người làm công tác nghiên cứu về các vấn đề của quyền con người nói chung và quyền lập hội nói riêng
IV Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền lập hội, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập
và mở cửa như hiện nay; đồng thời tiếp cận về quyền lập hội dưới góc độ tính phổ biến, đặc thù của quyền con người
Để thực hiện những mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, Đề tài sẽ được tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin Đối với từng nội dung cụ thể, đề tài sẽ sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp
so sánh luật học, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cụ thể và khả thi Trong đó:
Trang 1310
- Phương pháp phân tích, thống kê, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn là phương pháp chủ đạo được sử dụng trong hầu hết các chuyên đề của đề tài
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành
và phát triển của quyền lập hội trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
- Phương pháp hệ thống được sử dụng để xâu chuỗi và tìm ra sự nhất quán giữa các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến quyền lập hội Qua
đó, đề tài đánh giá, kiến nghị một cách hệ thống và toàn diện các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường bảo đảm quyền lập hội cho người dân
- Phương pháp so sánh: Đây cũng là một phương pháp quan trọng nhằm phân tích và đối chiếu các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
về quyền lập hội; ngoài ra phương pháp này cũng được sử dụng hiệu quả trong việc so sánh các quy định về quyền lập hội của các quốc gia khác với Việt Nam nhằm đưa ra những đánh giá, bình luận cần thiết cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề nghiên cứu…
V Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, ngoài những vấn
đề lý luận chung về quyền con người và quyền lập hội, nhóm tác giả sẽ đi vào nghiên cứu các quy định về quyền lập hội trong các điều ước đa phương phổ cập về quyền con người, liên hệ pháp luật một số quốc gia và rút ra một số kinh nghiệm cho việc hoàn thiện khung pháp lý về quyền lập hội ở Việt Nam Với phạm vi này, nhóm tác giả sẽ không đi sâu nghiên cứu về quyền lập hội trong các điều ước tế khu vực và song phương, đặc biệt là quy định trong các hiệp định thương mại thế hệ mới (ví dụ: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP))
VI Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thứ nhất, những vấn đề pháp lý và thực tiễn được nêu ra trong đề tài có ý
nghĩa khoa học và là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng các chủ trương, chính sách về vấn đề quyền lập hội, góp phần
Trang 1411
thể chế hóa và củng cố hơn nữa quan điểm nhất quán của Nhà nước ta về vấn
đề quyền lập hội, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay
Thứ hai, những đề xuất được nêu ra trong đề tài là những đóng góp khoa
học thiết thực phục vụ quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền lập hội và tiến trình chỉnh sửa Dự thảo Luật về hội
Thứ ba, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tham khảo hữu ích
cho các cơ quan, các chuyên gia trong việc bổ sung vào báo cáo quốc gia về quyền con người mà Việt Nam sẽ phải đệ trình lên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc năm 2017 - 2018
Thứ tư, cung cấp tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy của
giảng viên và sinh viên trong Trường Đại học Luật Hà Nội, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu cũng như các cá nhân, tổ chức có quan tâm
Trang 1512
CÁC KẾT QUẢ CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
-
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN LẬP HỘI
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của quyền lập hội
1.1.1 Sự phát triển của quyền lập hội với tư cách là một trong các quyền dân sự, chính trị cơ bản của con người
Hội nói chung và quyền lập hội nói riêng xuất phát từ những nhu cầu, đặc tính tự nhiên và cơ bản của con người.2 Bản tính của đời sống nhân loại không phải nằm ở sự tách biệt như thường gặp ở một số loài động vật mà luôn
có xu hướng quần cư, liên kết Một trong những nhu cầu cơ bản của con người theo Maslow là cảm giác được thuộc về (sense of belonging).3 Vì vậy, xu hướng liên kết dựa trên những đặc tính gần gũi của con người là điều mang tính phổ biến và luôn được bắt gặp ở bất kỳ cộng đồng cư dân nào
Từ thời sơ khai, con người đã biết tụ họp và hình thành nên các cộng động nguyên thuỷ như thị tộc, bộ lạc Plato đã mô tả một vài “câu lạc bộ” là nơi các thị dân Hy Lạp lui tới để thưởng thức nghệ thuật, nghe giảng về thiên văn học và khoa học.4 Dưới thời Đế chế La Mã, các đoàn hội phải xin phép chính quyền để thành lập và hoạt động; nếu không có thể bị trừng phạt về mặt hình sự Sau này, sự trỗi dậy của phong trào đấu tranh vì quyền con người đã củng cố hơn vị trí của quyền lập hội (hay hiệp hội) Điều này cho thấy lập hội
là nhu cầu tự nhiên và tất yếu của con người trong một xã hội, nó được hình thành khá sớm và thuộc thế hệ quyền con người thứ nhất – thế hệ quyền dân
sự, chính trị Cùng với quyền lập hội, thế hệ này bao gồm các quyền và tự do
cá nhân, tiêu biểu như quyền sống, quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo tín ngưỡng, tự do biểu đạt, quyền được bầu cử, ứng cử, quyền được xét xử công bằng… Các quyền này gắn liền với tự do cá nhân – một phạm trù mà ở góc độ
2 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2012), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con
người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
3 Theo tháp nhu cầu của Maslow, lần đầu tiên được công bố tại A.H Maslov (1943), “A Theory of Human
Motivation”, Psychological Review 50 (1943):370-96
4 Plato, Protagoras, trong Roderick Long, Civil Society in Ancient Greece: The Case of Athens
Trang 1613
nhất định, mang tính đối trọng với phạm trù quyền lực của Nhà nước Mục đích của thế hệ quyền này về cơ bản là để hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền và sự tùy tiện xâm hại đến cuộc sống tự do của cá nhân con người từ phía các quan
chức và cơ quan Nhà nước
Cùng với hệ thống quyền con người nói chung, các quyền dân sự, chính
trị (trong đó có quyền lập hội) được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc
tế kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt với việc Liên hợp quốc
thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người vào năm 1948 và Công
ước về các quyền dân sự, chính trị vào năm 1966 Điều 20 Tuyên ngôn quy
định: “Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính chất hoà bình Không
ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn” Ngoài ra, trong bản Tuyên ngôn
này, quyền lập hội cũng đã được quy định gắn kết với quyền tự do hội họp như một thể thống nhất Cũng trong năm 1948, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước số 87 về tự do lập hội và bảo vệ quyền lập hội Công ước
số này một lần nữa khẳng định quyền lập hội với tư cách là một trong những quyền dân sự, chính trị không thể thiếu của mỗi cá nhân, cụ thể là của người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời các quốc gia có trách nhiệm phải bảo đảm các quyền đó của công dân5
Phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người, trong đó có quyền lập hội, đến Công ước về quyền dân sự, chính trị
năm 1966, quyền lập hội đã được quy định tách riêng tại Điều 22: “Mọi người
có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình” Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, các
quyền dân sự, chính trị là trọng tâm trong cuộc vận động về quyền con người của các nước tư bản chủ nghĩa Điều này bắt nguồn từ thực tế là một số quyền dân sự, chính trị, trong đó có quyền lập hội, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự
5 Điều 2 Công ước số 87 quy định: “Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt dưới bất kỳ
hình thức nào, đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó” Nguồn
ve-quyen-duoc-to-chuc-103343.aspx, truy cập ngày 5/8/2018
Trang 17https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Lao-dong-Tien-luong/Cong-uoc-87-nam-1948-quyen-tu-do-hiep-hoi-bao-14
do tín ngưỡng, tôn giáo từ lâu đã được coi là những giá trị nền tảng, bất khả xâm phạm trong đời sống và nền văn hóa ở các nước tư bản6 Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các nước xã hội chủ nghĩa phản đối và phủ nhận các quyền dân sự, chính trị Ở các nước xã hội chủ nghĩa, quyền dân sự, chính trị cùng với quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được bảo đảm và tôn trọng như nhau
Cho đến hiện nay, quyền lập hội vẫn tiếp tục được ghi nhận và bảo đảm thực hiện Khác với tính chất ban đầu chỉ là quyền của từng cá nhân riêng lẻ, quyền lập hội phát triển và dần đã trở thành không chỉ là quyền cá nhân mà còn
là quyền của nhóm người có chung mục đích, ý tưởng, nghề nghiệp, sở thích, quan điểm chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng…
1.1.2 Sự phát triển của quyền lập hội với tư cách là một trong các quyền
cơ bản của công dân trong hệ thống pháp luật quốc gia
Ở cấp độ quốc gia, ngoài việc được thừa nhận như là một quyền con người
cơ bản, quyền lập hội còn được quy định là một trong các quyền của công dân với hai xu hướng, đó là:
(i) Xu hướng thứ nhất, quyền lập hội được quy định chỉ dành cho những người mang quốc tịch quốc gia với tư cách là quyền công dân chứ không dành cho tất cả các cá nhân cư trú trên lãnh thổ quốc gia Chẳng hạn, Điều 25 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Ngoài ra, Khoản 1 Điều 2 Nghị định số
45/2010/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam quy định về tổ chức, hoạt động và
quản lý hội cũng giải thích: “Hội được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam…”
(ii) Xu hướng thứ hai, quyền lập hội được quy định dành cho tất cả các cá nhân cư trú trên lãnh thổ quốc gia không phân biệt cá nhân đó là công dân quốc gia hay người nước ngoài hoặc người không quốc tịch Chẳng hạn, Điều 30 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 quy định: “Mọi người đều có quyền lập hội, bao
6 Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Sđd, tr 70
Trang 1815
gồm cả quyền gia nhập công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình…”7 Hay Điều 64 Hiến pháp Thái Lan năm 2007 quy định: “Mọi người được tự do liên kết và hình thành hiệp hội, liên minh, nghiệp đoàn… hoặc bất kỳ nhóm nào khác”8 Trong
những trường hợp này, đối với công dân của quốc gia, quyền lập hội là quyền công dân; còn đối với các cá nhân khác quyền lập hội là quyền con người
Mặc dù có những cách quy định khác nhau, nhưng điều đó không có nghĩa
là quyền lập hội với tư cách là quyền con người hoàn toàn độc lập với quyền lập hội với tư cách là quyền công dân (kể cả khi pháp luật quốc gia quy định quyền lập hội chỉ dành cho công dân quốc gia) Trước hết, quyền lập hội với tư cách là quyền công dân chính là quyền con người trong một xã hội cụ thể với một hệ thống pháp luật cụ thể do Nhà nước thừa nhận và quy định Mỗi cá nhân công dân khi thực hiện quyền lập hội, đồng thời là chủ thể của hai loại quyền: quyền con người và quyền công dân Hơn nữa, quyền lập hội với tư cách là quyền con người đã trở thành những chuẩn mực pháp lý quốc tế được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về quyền con người Các điều ước quốc tế này xác lập các nghĩa vụ khá cụ thể với quốc gia thành viên, trong đó có nghĩa vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về quyền con người, quyền công dân phù hợp với quy định của điều ước quốc tế Xuất phát từ sự tận tâm thiện chí thực hiện điều ước quốc tế, quốc gia thành viên sẽ chuyển hóa nội dung các chuẩn mực pháp lý quốc tế về quyền con người (trong đó có quyền lập hội) vào
hệ thống pháp luật quốc gia và thể hiện trước tiên thông qua các quyền công dân mà quốc gia dành cho những người mang quốc tịch nước mình, sau đó là những quyền của người nước ngoài hoặc người không quốc tịch đang sinh sống trên lãnh thổ quốc gia đó Quốc gia luôn phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm
và thực hiện các quyền này, dù nó là quyền chỉ dành cho công dân quốc gia hay quyền dành cho tất cả các cá nhân cư trú trên lãnh thổ quốc gia Chính điều này
Trang 191.2 Định nghĩa và đặc điểm của quyền lập hội
1.2.1.Định nghĩa hội và quyền lập hội
Trong tiếng Anh, “hội” thường được thể hiện qua hai thuật ngữ là Association và Society Trong đó, “Association” là một dạng thức liên kết của các cá nhân có chia sẻ cùng một mục đích, làm cùng một loại hình công việc 10;
còn “Society” là từ để chỉ một cộng đồng có tổ chức, tại đây mối liên hệ, liên
9 Nguyễn Văn Quân, Khái niệm về hội trong pháp luật Cộng hoà Pháp và góp ý hoàn thiện khái niệm về hội của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử Nguồn
hoan-thien-khai-niem-ve-hoi-cua-viet-nam, truy cập ngày 10/8/2018
http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/khai-niem-ve-hoi-trong-phap-luat-cong-hoa-phap-va-gop-y-10 Dictionary of Contemporary English (2009), New edition for Advanced learners, Pearson Longman, p 88
Trang 2017
kết giữa các thành viên đa dạng và phức tạp hơn nhiều Sự liên kết này không đơn giản dựa trên tiêu chí mục đích, sở thích chung, mà còn có thể là những đặc điểm văn hoá, tôn giáo, văn hoá tương đồng Cả hai khái niệm này đều có
từ gốc Latin là socius/socielis, hàm ý là sự liên hệ, giao lưu, đồng hành giữa
con người với nhau trong đời sống.11
Trong Từ điển tiếng Việt, danh từ “hội” có hai nghĩa gần nhau dùng để
chỉ: (i) cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người tham dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt; hoặc (ii) tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động12 Hay trong Từ
điển hành chính của tác giả Tô Tử Hạ thì“Hội là tổ chức tự nguyện của các công dân, tổ chức cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích, tập hợp lại nhằm đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của hội viên, không vì mục đích vụ lợi.” 13 Bên cạnh đó, Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 2) cũng đưa ra
một định nghĩa khác về “hội” như sau: “Hội là tổ chức của những người cùng nghề nghiệp hay cùng chính kiến, tự nguyện và tập hợp lại để tiến hành các hoạt động kinh tế như buôn bán, sản xuất, kinh doanh hoặc các hoạt động văn hóa, xã hội, hay cũng có thể là chính trị được thành lập theo thể thức do pháp luật quy định Hội có điều lệ, quy định tôn chỉ, mục đích, cơ cấu tổ chức hoạt động.” 14
Dưới góc độ pháp lý quốc tế, định nghĩa về “hội” cũng đã được quan tâm nghiên cứu Trong Báo cáo A/HRC/20/27 của Báo cáo viên đặc biệt về quyền
tự do hội họp hoà bình và hiệp hội Maina Kiai gửi Hội đồng nhân quyền Liên
hợp quốc năm 2012 thì “hội” được hiểu là bất kỳ nhóm cá nhân hoặc thực thể pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung 15 Một số loại hội điển hình bao
11 Lã Khánh Tùng, Nghiêm Xuân Hoa, Vũ Công Giao, Hội và Tự do hiệp hội: Một cách tiếp cận dựa trên
quyền (NXB Hồng Đức, 2015), tr 11
12 Trung tâm từ điển học (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội, tr.592
13Tô Tử Hạ (2008), Từ điển hành chính, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội, tr 129.
14Từ điển bách khoa Việt Nam (2002), (tập 2), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2002, tr 363
15 Report of the Special Rapporteur on the Rights to Freedom of Peaceful Assembly and of Association, Maina Kiai (A/ HRC/20/27), p.13, para 51 Nguồn
https://www.ohchr.org/Documents/HRBodies/HRCouncil/RegularSession/Session20/A-HRC-20-27_en.pdf
2, truy cập ngày 3/8/2018
Trang 2118
gồm tổ chức xã hội dân sự, câu lạc bộ, hợp tác xã, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, đảng phái chính trị, công đoàn, tổ chức và hiệp hội trực tuyến16 Thuật ngữ “tự do lập hội” (freedom of association ) cũng được đề cập trong văn bản A/59/401 của Đại diện đặc biệt Tổng thư ký Liên hợp quốc về những người
bảo vệ nhân quyền, theo đó: Tự do lập hội liên quan đến quyền của các cá nhân được tương tác và tổ chức với nhau để cùng nhau bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ lĩnh vực quan tâm chung 17
Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization – ILO) cũng đã đưa ra định nghĩa về quyền tự do lập hội (freedom of associations) là
quyền của người lao động và người sử dụng lao động được thành lập và tham gia vào các tổ chức mà họ lựa chọn, đây là quyền không thể tách rời của một
xã hội tự do và cởi mở18
Tại Việt Nam, định nghĩa “hội“ cũng đã được đề cập đến ngay trong những văn bản đầu tiên của nước ta, theo đó Sắc lệnh số 52/SL ngày 22/4/1946
về thể thức xin lập hội của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
tại Điều 1 đã nêu: “Hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành động để đạt mục đích chung; mục đích
ấy không phải để chia lợi tức”19 Ngoài ra, Sắc luật 038-TT/SLU ngày 22/12/1972 (Việt Nam Cộng hoà ban hành), sửa đổi Dụ số 10 ngày 6/8/1950 quy định thể lệ lập hội (ban hành dưới chế độ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại),
Điều 1 đưa ra một định nghĩa về hội như sau: “Hội là giao ước của nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hoạt động liên tục để theo đuổi mục đích thuộc các lãnh vực tôn giáo, tế tự, từ thiện, văn hóa, giáo dục, xã hội, khoa học, mỹ thuật, giải trí, đồng nghiệp tương tế, ái hữu, thanh niên và thể dục, thể thao không có tính cách chính trị, thương mại hoặc phân chia lợi tức Hội do các
18 Freedom of association, collective-bargaining/lang en/index.htm, truy cập ngày 20/4/2018
http://www.ilo.org/global/topics/freedom-of-association-and-the-right-to-19 Nguồn https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Sac-lenh-52-quy-dinh-lap-hoi-35982.aspx
Trang 22Pháp thì Hội là giao kết hai hoặc nhiều người cùng đóng góp, bằng kiến thức
và sinh hoạt thường xuyên, vào việc thực hiện một mục đích không phải là mục đích để chia lời21
Hiện nay, quan điểm về hội được quy định cụ thể trong Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội,
theo đó, hội được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo pháp luật 22 Hội có các tên gọi khác nhau như: Hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật23
Như vậy, với cách hiểu chung nhất thì quyền lập hội có thể hiểu là quyền
tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được thành lập hoặc tham gia một nhóm người có cùng chí hướng để cùng nhau bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ lĩnh vực quan tâm chung
Quyền lập hội bao gồm cả quyền của một cá nhân tham gia hoặc rời khỏi nhóm một cách tự nguyện, quyền của nhóm thực hiện hành động tập thể để
http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/khai-niem-ve-hoi-trong-phap-luat-cong-hoa-phap-va-gop-y-22 Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội
23 Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội
Trang 2320
theo đuổi quyền lợi của các thành viên và quyền liên kết để chấp nhận hoặc từ chối tư cách thành viên dựa trên các tiêu chí nhất định Quyền lập hội ghi nhận khả năng của một cá nhân tập hợp với các cá nhân khác để cùng nhau bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ lĩnh vực quan tâm chung Ngoài ra, quyền lập hội còn bao gồm cả quyền tham gia công đoàn, tham gia tự do ngôn luận hoặc tham gia vào các cuộc tranh luận xã hội, các đảng phái chính trị, hoặc bất kỳ câu lạc bộ hoặc hiệp hội nào khác, bao gồm các giáo phái và tổ chức tôn giáo
Nó được liên kết chặt chẽ với quyền tự do hội họp và các quyền dân sự, chính trị khác
1.2.2 Đặc điểm của quyền lập hội
Là một trong những quyền dân sự, chính trị nên quyền lập hội cũng mang đặc điểm của quyền con người nói chung và nhóm quyền dân sự, chính trị nói riêng, bao gồm:
Thứ nhất, quyền lập hội vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù Tất cả
mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân cũng như chế độ xã hội hoặc truyền thống văn hóa đều được hưởng các quyền con người cơ bản trong đó có quyền lập hội Tuy nhiên, sự bình đẳng, không phân biệt đối xử không có nghĩa là cào bằng mức độ thụ hưởng các quyền Mọi người đều có quyền lập hội nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt giữa các cá nhân phụ thuộc vào đặc thù, năng lực của từng người, cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… mà người đó đang sống Xét về đặc thù và năng lực của cá nhân, cá nhân chỉ có thể thành lập hội mới, gia nhập các hội có sẵn, và điều hành hội24 khi đã ở một độ tuổi nhất định, có nhận thức về đời sống xã hội và tự chịu trách nhiệm về hành
vi của mình Ngoài ra, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội ở nơi
mà cá nhân đang sống cũng tác động đến quyền lập hội và tạo nên những sắc
24 Ủy ban Nhân quyền (HRC) hiện chưa có bình luận chung nào đề cập đến nội dung Điều 22 ICCPR quy định
về quyền lập hội Tuy nhiên, từ nội dung của nó, có thể thấy quyền này bao gồm cả ba khía cạnh: (i) lập ra các hội mới, (ii) gia nhập các hội đã có sẵn, và (iii) điều hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy động các
nguồn kinh phí cho hoạt động Xem thêm: Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (2009), Giáo trình Lý luận và
pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 241
Trang 24Thứ hai, quyền lập hội có tính cá nhân và không thể chuyển nhượng Về
nguyên tắc quyền lập hội là quyền của cá nhân và gắn liền với mỗi cá nhân
Cá nhân bằng chính hành vi của mình để thực hiện quyền lập hội Khi các cá nhân cùng nhau thực hiện quyền lập hội thì quyền này sẽ trở thành quyền chung của nhóm Quyền lập hội không thể mang ra mua bán, trao đổi, chuyển nhượng cũng không thể tuỳ tiện bị tước bỏ hay hạn chế bởi bất kỳ chủ thể nào,
kể cả các cơ quan hay quan chức Nhà nước Tuy nhiên, tính cá nhân, không thể chuyển nhượng, không thể bị tước bỏ của quyền lập hội không có nghĩa là Nhà nước không được quy định những trường hợp đặc biệt, khi cá nhân có hành vi gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác hoặc ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng, cá nhân có thể bị hạn chế thụ hưởng quyền lập hội, thậm chí phải chịu sự trừng phạt của pháp luật
Thứ ba, quyền lập hội được ghi nhận và bảo đảm bởi pháp luật quốc gia
và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Cũng như các quyền con người khác, quyền
lập hội vừa là quyền có tính “tự nhiên, vốn có” vừa là quyền có tính “pháp lý”
Là quyền có tính “tự nhiên, vốn có”, quyền lập hội dành cho tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, mầu da, tôn giáo, ngôn ngữ Mọi người đều bình đẳng trong việc hưởng quyền lập hội mà không có sự phân biệt đối xử Tuy nhiên, quyền lập hội của
cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và hiện thực hoá nếu nó được ghi nhận và bảo đảm bởi các quy định của pháp luật, bao gồm cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Điều này thể hiện tính “pháp lý” của quyền lập hội giống như các quyền con người khác
Trên phương diện pháp lý quốc tế, quyền lập hội được ghi nhận trong
Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (Điều 20): “Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình Không ai bị bắt buộc phải gia nhập
Trang 2522
một hội đoàn”; Công ước về quyền dân sự, chính trị (Điều 22): “Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”; Công ước về chống phân biệt đối xử với phụ nữ (Điều 7): “Các quốc gia thành viên Công ước phải tiến hành tất cả các biện pháp thích hợp nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong đời sống chính trị và công cộng của đất nước, cụ thể, phải đảm bảo cho phụ nữ, trên cơ sở bình đẳng với nam giới, các quyền: … Tham gia các tổ chức
và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước”… Các văn kiện pháp lý quốc tế không chỉ ghi nhận mà còn hình
thành cơ chế bảo đảm và thúc đẩy các quyền ghi nhận trong các văn kiện đó, bao gồm cả quyền lập hội Quyền lập hội và cơ chế bảo đảm quyền lập hội ở cấp độ quốc gia cũng được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia, trước tiên phải kể đến các quốc gia là thành viên của các văn kiện pháp lý quốc tế
nêu trên
Thứ tư, cùng với các quyền dân sự, chính trị khác, quyền lập hội được hình thành sớm hơn so với các quyền con người trong những lĩnh vực kinh tế, văn hoá và xã hội Trong lịch sử phát triển của quyền con người, quyền lập hội
trong nhóm quyền dân sự chính trị thuộc thế hệ quyền con người đầu tiên Các quyền này gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu vào thế kỷ XVII, XVIII nhằm lật đổ chế độ phong kiến, xác lập và khẳng định những quyền vốn thuộc về tự do cá nhân đã bị chế độ phong kiến kìm hãm Từ những nội dung đầu tiên của quyền công dân được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của các Nhà nước tư sản, quyền lập hội được chính thức pháp điển hoá trong Luật quốc
tế kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai với việc thông qua hai văn kiện có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng là Tuyên ngôn toàn thế giới về vấn đề nhân quyền (UDHR) và Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị (ICCPR)
Thứ năm, việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện quyền lập hội không phụ thuộc nhiều vào nguồn lực vật chất đảm bảo và ít bị ảnh hưởng bởi trình độ phát triển kinh tế của quốc gia Để tôn trọng, bảo đảm và thực hiện quyền lập
hội, không đòi hỏi Nhà nước phải đầu tư nhiều nguồn lực vật chất, cơ sở hạ
Trang 2623
tầng hay những điều kiện kinh tế Bất kì quốc gia nào, dù giàu hay nghèo cũng đều có thể bảo đảm được quyền này Trước hết, để tôn trọng quyền lập hội, Nhà nước sẽ không được can thiệp một cách thô bạo, tùy tiện vào việc thụ hưởng quyền lập hội của người dân Nhà nước không ngăn cấm các chủ thể trong xã hội được thành lập và gia nhập hội nếu việc thành lập và gia nhập đó không vi phạm pháp luật, không trái với phong tục, tập quán hoặc thuần phong
mỹ tục của đất nước Nhà nước không can thiệp vào các hoạt động bình thường của hội Quy chế, điều lệ của các hội được tự quyết bởi các thành viên mà không có sự can thiệp của Nhà nước Quyền riêng tư của các hội cũng cần được bảo đảm, các cơ quan Nhà nước không được thay đổi việc bầu chọn ban lãnh đạo của các hội, cử người của mình vào ban lãnh đạo hội… Tuy nhiên, việc thụ hưởng quyền lập hội của người dân không chỉ đòi hỏi sự tôn trọng, không được can thiệp tùy tiện của Nhà nước mà còn phải dựa trên những tiền đề chính trị, pháp lý, xã hội do Nhà nước thiết lập Nhà nước xây dựng khuôn khổ pháp lý cho quyền lập hội; hỗ trợ, tạo điều kiện cho các hội được thành lập và hoạt động (cung cấp địa điểm mở văn phòng, tài trợ tài chính trong giai đoạn đầu hoạt động ); có các biện pháp ngăn ngừa và trừng phạt các hành vi vi phạm quyền lập hội của người dân qua đó người dân khi thực thi quyền lập hội không phải sợ trở thành nạn nhân của dọa nạt, bôi nhọ, bắt bớ tùy tiện, đối xử vô nhân đạo hoặc hạn chế quyền đi lại
Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, quyền lập hội cũng có những đặc điểm riêng khác biệt với nhiều quyền dân sự, chính trị khác như:
Thứ nhất, quyền lập hội không phải một quyền tuyệt đối Trong khi phần
lớn các quyền dân sự, chính trị như quyền sống, quyền không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục; quyền không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử; … đều là những quyền phổ biến tuyệt đối, đòi hỏi phải được thực hiện ngay mà không có giới hạn, điều kiện, không thể bị hạn chế vì đó là ranh giới giữa có hay không có quyền con người; thì quyền lập hội có thể bị giới hạn trong các trường hợp nhất định theo quy định
Trang 27+ Nếu việc đặt ra các giới hạn là thực sự cần thiết trong một xã hội dân chủ, thì nó phải vì mục đích an ninh quốc gia hay an toàn, trật tự công cộng, hoặc để bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội hoặc bảo vệ các quyền và tự do của người khác Điều này không ngăn cản việc đặt ra những hạn chế hợp pháp trong việc thực hiện quyền này đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát
Không chỉ Công ước về quyền dân sự, chính trị, Nghị quyết về quyền tự
do hội họp hòa bình và lập hội của Hội đồng Nhân quyền số 15/21, 2010 cũng
đã ghi nhận vấn đề này25:
“1 Kêu gọi các quốc gia tôn trọng và bảo vệ đầy đủ quyền của mọi cá nhân hội họp hòa bình và lập hội một cách tự do, bao gồm liên quan đến các cuộc bầu cử, bao gồm những người có quan điểm hay niềm tin bất đồng hoặc thiểu số, những người bảo vệ nhân quyền,những người hoạt động công đoàn
và những người khác, bao gồm lao động di trú, muốn thực thi hoặc thúc đẩy các quyền này, và thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm rằng bất kỳ hạn chế nào đối với việc thực thi tự do hội họp hòa bình và lập hội phải phù hợp với các nghĩa vụ của mình theo luật quốc tế về nhân quyền;
Trang 281.3 Mối quan hệ giữa quyền lập hội với các quyền dân sự, chính trị khác
1.3.1 Cơ sở của mối quan hệ giữa quyền lập hội với các quyền dân sự, chính trị khác
Về lịch sử, quyền lập hội cũng như các quyền dân sự, chính trị khác đều
là thành quả của quá trình đấu tranh lâu dài của con người nhằm giành lấy tự
do cho mình Vì vậy, quyền lập hội cũng như các quyền dân sự, chính trị khác vừa là thành quả của quá trình đấu tranh cho tự do, đồng thời là sự biểu hiện xác thực của tự do và nhân phẩm Sự ra đời của các quyền dân sự, chính trị, (trong đó có quyền lập hội) về cơ bản là để hạn chế, ngăn chặn sự lạm dụng quyền, xâm hại đến cuộc sống, tự do của cá nhân con người từ phía các quan chức và cơ quan Nhà nước
Về tính chất, các quyền con người là thống nhất, không thể phân chia và
có tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau Chính vì vậy, không thể “chia cắt” hoặc
Trang 2926
“biệt lập” quyền lập hội với các quyền dân sự, chính trị khác Tất cả các quyền con người trong lĩnh vực dân sự, chính trị đều có tầm quan trọng như nhau, không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều có thể tác động tiêu cực đến việc thực hiện các quyền khác và tổng thể có tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người
Về pháp lý, quyền lập hội cũng như các quyền dân sự, chính trị khác cùng
được ghi nhận chính thức trong các văn bản pháp lý đầu tiên của các Nhà nước
tư sản như: Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789… Dưới góc độ Luật quốc
tế, các quyền này được quy định lần đầu tiên trong Tuyên ngôn toàn thế giới
về nhân quyền năm 1948 (UDHR) - văn kiện có nhiều khuyến nghị mà cho đến nay đã trở thành luật tập quán, có tính chất ràng buộc tất cả các quốc gia, sau
đó tiếp tục được phát triển trong Công ước về quyền dân sự chính trị năm 1966
Những điểm tương đồng giữa quyền lập hội và các quyền dân sự, chính trị khác cũng là cơ sở hình thành mối quan hệ giữa các quyền này Như phần trên đã phân tích, chúng đều là những quyền có tính chất gắn chặt với nhân thân của cá nhân con người, do đó không thể bị tước đoạt hay chuyển nhượng, cá nhân có thể sử dụng độc lập Việc bảo đảm và thực hiện các quyền này không phụ thuộc nhiều vào các nguồn lực vật chất đảm bảo, ít bị ảnh hưởng bởi trình
độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia…
1.3.2 Nội dung mối quan hệ giữa quyền lập hội với các quyền dân sự, chính trị khác
Xét về tổng thể, quyền lập hội và các quyền dân sự, chính trị khác đều nằm trong mối quan hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Việc bảo đảm (hay vi phạm) một quyền cả về mặt pháp lí và thực tiễn sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực (hay tiêu cực) đến việc bảo đảm các quyền khác Trong hầu hết các trường hợp, rất khó, thậm chí là không thể thực sự thành công trong việc bảo đảm riêng một quyền con người nào đó mà bỏ qua các quyền khác Quyền lập hội sẽ có rất ít ý nghĩa nếu các quyền dân sự chính trị khác không được đảm
Trang 3027
bảo Ngược lại, nếu quyền lập hội được thực hiện thì đó sẽ là một trong những
cơ sở và tiền đề tốt để thực hiện các quyền dân sự, chính trị khác
Dựa vào quá trình hình thành cũng như nội dung, quyền lập hội có mối quan hệ khá rõ nét với những quyền dân sự, chính trị sau:
- Trước hết, quyền lập hội có mối quan hệ với quyền tự do hội họp một
cách hoà bình được quy định tại Điều 21 ICCPR với nội dung: “Quyền hội họp hoà bình phải được công nhận”
Trước khi được quy định tách riêng tại hai điều khoản là Điều 21 và Điều
22 trong ICCPR, quyền lập hội và quyền tự do hội họp được quy định chung
tại Điều 20 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948: “Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hoà bình Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn” Chính cách quy định này đã cho thấy mối quan hệ
chặt chẽ của hai quyền này Xét về ý nghĩa, quyền lập hội và quyền tự do hội
họp một cách hoà bình đều là “những thành tố thiết yếu của một xã hội dân chủ” vì nó cho phép các thành viên “bày tỏ quan điểm chính trị, tham gia vào các mục tiêu văn học và nghệ thuật và các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa khác, tham gia vào việc thờ phụng tôn giáo và các niềm tin khác, hình thành
và gia nhập các tổ chức công đoàn và hợp tác xã, bầu chọn những người lãnh đạo đại diện cho mình và buộc họ phải chịu trách nhiệm”26
- Thứ hai, quyền lập hội có mối quan hệ với quyền tự do biểu đạt, tự do
ngôn luận được quy định tại Điều 19 ICCPR27
Nhìn chung, sự tập hợp của các cá nhân trong “hội” không chỉ cùng nhau hành động mà còn cùng nhau bày tỏ chính kiến, quan điểm về những vấn đề quan tâm chung Các quyền này đều có ý nghĩa quan trọng trong một xã hội dân chủ, nơi mà mọi người dân đều có quyền thể hiện quan điểm của mình về
26 Lời nói đầu của Nghị quyết 15/21 của Hội đồng Nhân quyền (A/HRC/RES/15/21 The Rights to Freedom of
http://www.icnl.org/research/resources/dcs/UNHRCResolution.pdf, truy cập 10/8/2018
27 Điều 19 ICCPR quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp”, và
“Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”
Trang 3128
những vấn đề liên quan đến lợi ích của họ Chính Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, thông qua án lệ từ vụ NAACP kiện Alabama ex rel Patterson (1958)28 đã kết luận rằng quyền lập hội có mối quan hệ chặt chẽ quyền tự do biểu đạt Quyền lập hội được hình thành trên cơ sở quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận Nhưng ngược lại, nếu không có “hội”, không có sự tập hợp lên tiếng của nhiều người thì quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận của từng cá nhân riêng lẻ sẽ bị giảm hiệu quả đáng kể Tuyên bố về những người bảo vệ nhân quyền của Liên Hợp
Quốc năm 1998 cũng khẳng định: Để thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người
và tự do cơ bản, trong đó có quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, mọi người phải có quyền tự do lập hội ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế29
- Thứ ba, quyền lập hội cũng có vai trò quan trọng đối với việc hiện thực
hóa quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia quản lý đất nước được quy định tại Điều 25 ICCPR30 Bình luận chung số 25 năm 1996 của Ủy ban Nhân quyền (cơ quan giám sát ICCPR) cũng khẳng định mối quan hệ giữa các quyền này như sau31:
+ Công dân còn tham gia quản lý Nhà nước bằng việc tạo ảnh hưởng thông qua tranh luận và đối thoại công khai với các đại diện của mình hoặc thông qua khả năng tự tổ chức Sự tham gia này được bảo đảm bằng quyền tự
do ngôn luận, hội họp và lập hội (đoạn 8)
+ Quyền tự do biểu đạt, hội họp và lập hội là những điều kiện quan trọng cho việc thực hiện hiệu quả quyền bầu cử (đoạn 12),
+ Để đảm bảo việc hưởng đầy đủ quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia quản lý đất nước thì việc trao đổi thông tin và ý kiến về các vấn đề chính
28 NAACP v Patterson, 357 U.S 449 Nguồn https://supreme.justia.com/cases/federal/us/357/449/
https://www.ohchr.org/EN/Issues/SRHRDefenders/Pages/Declaration.aspx, truy cập 10/8/2018
30 Theo Điều 25 ICCPR: Mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào và không có bất kỳ sự hạn chế bất
hợp lý nào, đều có quyền và cơ hội để:
+ Tham gia điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện do họ
tự do lựa chọn;
+ Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng
và bỏ phiếu kín, nhằm đảm bảo cho cử tri được tự do bày tỏ ý nguyện của mình;
+ Được tiếp cận với các dịch vụ công cộng ở đất nước mình trên cơ sở bình đẳng
31 Viện nghiên cứu quyền con người (2008), Bình luận và khuyến nghị chung của các uỷ ban công ước thuộc
Liên Hợp Quốc về quyền con người, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.348
Trang 3229
trị giữa Nhà nước và công dân, các ứng cử viên và những đại diện được bầu là quan trọng [ ] Điều này cũng đòi hỏi sự thụ hưởng đầy đủ và tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, hội họp và lập hội, kể cả quyền tự do tham gia các hoạt động chính trị có tính cá nhân hoặc thông qua các đảng phái chính trị hay các
tổ chức khác, quyền tự do tranh luận các vấn đề công, tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình hoà bình, chỉ trích, phản đối, công bố các ấn phẩm chính trị, tổ chức tranh cử và công khai các quan điểm chính trị (đoạn 25)
+ Quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập hay tham gia các tổ chức
và hiệp hội liên quan đến vấn đề chính trị hay công cộng là một sự bổ sung cho quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia quản lý đất nước Các đảng phái chính trị hay thành viên của các đảng phái chính trị đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý các vấn đề công và quá trình bầu cử Tuỳ theo cách quản lý của mình, các nước cần bảo đảm rằng các đảng phái chính trị tôn trọng các quy định của Điều 25 ICCPR để cho công dân theo đó thực hiện các quyền của mình (đoạn 26)
- Thứ tư, quyền lập hội và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có mối quan
hệ biện chứng với nhau32
Theo Báo cáo viên Maina Kiai: một số loại hội điển hình bao gồm tổ chức xã hội dân sự, câu lạc bộ, hợp tác xã, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, đảng phái chính trị, công đoàn, tổ chức và hiệp hội trực tuyến33 Rõ ràng quyền lập hội và quyền tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác chính là những nội dung thể hiện sự
gắn kết giữa các quyền này
- Cuối cùng, sự gắn kết giữa các cá nhân trong “hội” để “cùng nhau bày
tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ lĩnh vực quan tâm chung” có thể sẽ tạo ra
những hiệu ứng tích cực về mặt xã hội tác động đến việc bảo vệ và thúc đẩy
32 Khoản 1 Điều 18 ICCPR quy định: Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo
Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng
33 Report of the Special Rapporteur on the Rights to Freedom of Peaceful Assembly and of Association, Maina Kiai (A/ HRC/20/27), p.13, para 52
Trang 3330
các quyền dân sự, chính trị khác chẳng hạn như tạo dư luận để yêu cầu hạn chế hướng tới xoá bỏ án tử hình; hạn chế tình trạng tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục; đảm bảo quyền được xét xử công bằng; đảm bảo tự do và an ninh cá nhân;…
Như vậy, với tư cách là quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được thành lập hoặc tham gia một nhóm người có cùng chí hướng để cùng nhau bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ lĩnh vực quan tâm chung, quyền lập hội là một trong những quyền con người cốt lõi Nó có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện nhiều quyền con người khác trong các lĩnh vực dân
sự, chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội Quyền lập hội cũng đóng vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển của các xã hội dân chủ khi chúng là một kênh cho phép sự đối thoại cởi mở nơi mà quan điểm thiểu số hoặc bất đồng được tôn trọng
II PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN LẬP HỘI
2.1 Nội dung các văn kiện pháp lý quốc tế phổ cập về quyền lập hội
Trong hệ thống pháp luật quốc tế, quyền tự do lập hội được ghi nhận trong rất nhiều các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng của Liên hợp quốc như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (UDHR, Điều 20)34, Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR, Điều 22)35, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 (ICESCR, Điều 8)36, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc năm 1965 (ICERD, Điều 5)37, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm
1979 (CEDAW, Điều 7)38, Công ước về quyền trẻ em 1989 (CRC, Điều 15)39,
Trang 3431
Công ước về bảo vệ các quyền của tất cả người lao động di trú và các thành viên gia đình họ năm 1990 (CRMW, Điều 26)40, Công ước về bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị mất tích cưỡng bức năm 2006 (CPPED, Điều 24)41, Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 (CRPD, Điều 29)42…
Trong khuôn khổ ILO, quyền tự do lập hội cũng được coi là một trong những giá trị cốt lõi để hình thành nên các quy định của ILO Quyền thành lập
và gia nhập hội của người lao động cũng như người sử dụng lao động là điều kiện tiên quyết cho việc thương lượng tập thể và tham vấn xã hội Các điều ước quốc tế trong khuôn khổ ILO ghi nhận quyền tự do lập hội gồm: Công ước số
87 về tự do hiệp hội và bảo vệ quyền lập hội năm 194843, Công ước số 98 về quyền thương lượng tập thể năm 194944, Công ước số 135 về đại diện của người lao động năm 197145, Công ước số 141 về tổ chức của người lao động ở nông thôn năm 197546, Công ước số 151 về quan hệ lao động công vụ năm 197847… Ngoài ra, năm 1998, ILO đã thông qua Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền
cơ bản trong lao động Tuyên bố này có mối liên hệ mật thiết với 8 công ước
cơ bản của ILO (trong đó có Công ước số 87 và 98), theo đó Điều 2 của Tuyên
bố 1998 khẳng định các quốc gia thành viên của ILO, dù phê chuẩn hay chưa
43 Xem toàn văn Công ước số 87 tại:
http://www.ilo.org/dyn/normlex/en/f?p=NORMLEXPUB:12100:::NO:12100:P12100_ILO_CODE:C087:NO , truy cập ngày 22/4/2018
44 Xem toàn văn Công ước số 98 tại:
http://www.ilo.org/dyn/normlex/en/f?p=NORMLEXPUB:12100:::NO:12100:P12100_ILO_CODE:C098:NO , truy cập ngày 22/4/2018
45 Xem toàn văn Công ước số 135 tại:
http://www.ilo.org/dyn/normlex/en/f?p=NORMLEXPUB:12100:::NO:12100:P12100_ILO_CODE:C135:NO , truy cập ngày 22/4/2018
46 Xem toàn văn Công ước số 141 tại:
http://www.ilo.org/dyn/normlex/en/f?p=NORMLEXPUB:12100:::NO:12100:P12100_ILO_CODE:C141:NO , truy cập ngày 22/4/2018
47 Xem toàn văn Công ước số 151 tại:
http://www.ilo.org/dyn/normlex/en/f?p=NORMLEXPUB:12100:::NO:12100:P12100_ILO_CODE:C151:NO , truy cập ngày 22/4/2018
Trang 351948 (Tuyên bố Bogota, Điều 22)51, Công ước châu Mỹ về quyền con người năm 1969 (Điều 16)52, Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền của các dân tộc năm 1981 (Hiến chương Banjul, Điều 10)53, Hiến chương châu Phi
về quyền và phúc lợi trẻ em năm 1990 (Điều 8)54
Mặc dù được ghi nhận trong rất nhiều các văn kiện quốc tế khác nhau, tuy nhiên các điều khoản quy định về quyền lập hội chủ yếu tập trung ghi nhận các nội dung như: quyền thành lập hội, quyền gia nhập hội và quyền tự do hoạt động, điều hành hội…; đồng thời cũng chỉ ra các trường hợp quyền lập hội bị giới hạn theo quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người
2.1.1 Quyền thành lập và gia nhập hội
Điều 20 UDHR quy định: “Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hoà bình Không ai bị bắt buộc phải tham gia bất cứ một hiệp hội nào”
Điều này được tái khẳng định và cụ thể hoá trong quy định tại Khoản 1 Điều
22 của ICCPR, theo đó: “Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền thành lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình” Quyền thành lập và gia nhập hội là nội dung chính, chủ yếu của quyền
50 Xem toàn văn Hiến chương tại: http://fra.europa.eu/en/charterpedia, truy cập ngày 24/5/2018
51 Xem toàn văn Tuyên bố tại: http://www.hrcr.org/docs/OAS_Declaration/oasrights4.html, truy cập ngày 24/5/2018
52 Xem toàn văn Công ước tại: http://www.hrcr.org/docs/American_Convention/oashr5.html, truy cập ngày 24/5/2018
53 Xem toàn văn Hiến chương Banjul tại: http://www.hrcr.org/docs/Banjul/afrhr3.html, truy cập ngày 24/5/2018
54 Xem toàn văn Hiến chương tại: http://www.achpr.org/instruments/child/, truy cập ngày 24/5/2018
Trang 3633
tự do lập hội, bao hàm cả quyền thành lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của người lao động Người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ chức do họ tự lựa chọn mà không phải xin phép trước55
a, Về chủ thể của quyền: Điều 20 UDHR và Điều 22 ICCPR đều ghi nhận quyền này thuộc về tất cả mọi người, điều đó có nghĩa rằng chủ thể thực hiện
quyền này không bị giới hạn là công dân của quốc gia, người nước ngoài, người
có nhiều quốc tịch hay thậm chí người không quốc tịch đang cư trú, sinh sống trên lãnh thổ một quốc gia Cách hiểu này tương thích với quy định của Điều 2 ICCPR về việc không phân biệt đối xử và được tái khẳng định trong các Nghị quyết 15/2156, 21/1657, 24/558, Báo cáo 20/2759, 26/2960 của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc61
Trong Báo cáo 26/29, Maina Kiai nhấn mạnh rằng tất cả mọi người đều
có quyền tự do lập hội, đồng thời, Báo cáo này cũng dẫn chiếu đến Nghị quyết 24/5 của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (sau đây gọi tắt là Hội đồng), theo đó Hội đồng lưu ý các quốc gia về nghĩa vụ phải tôn trọng và bảo vệ đầy
đủ quyền của các cá nhân về hội họp hoà bình và tự do lập hội trên mạng trực
55 Điều 2 Công ước ILO số 87 về tự do hiệp hội và bảo vệ quyền lập hội năm 1948
56 Nghị quyết A/HRC/RES/15/21 năm 2010 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc về quyền tự do hội họp hoà bình và hiệp hội
Xem toàn văn Nghị quyết A/HRC/RES/15/21 tại: ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/G10/166/98/PDF/G1016698.pdf?OpenElement, truy cập ngày 23/4/2018
https://documents-dds-57 Nghị quyết A/HRC/RES/21/16 năm 2012 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc về quyền tự do hội họp hoà bình và hiệp hội
Xem toàn văn Nghị quyết A/HRC/RES/21/16 tại: ny.un.org/doc/RESOLUTION/GEN/G12/174/63/PDF/G1217463.pdf?OpenElement, truy cập ngày 23/4/2018
https://documents-dds-58 Nghị quyết A/HRC/RES/24/5 năm 2013 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc về quyền tự do hội họp hoà bình và hiệp hội
Xem toàn văn Nghị quyết A/HRC/RES/24/5 tại: ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/G13/178/33/PDF/G1317833.pdf?OpenElementn, truy cập ngày 23/4/2018
https://documents-dds-59 A/HRC/20/27 là Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về quyền tự do hội họp hoà bình và hiệp hội Maina Kiai gửi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc năm 2012
Xem toàn văn Báo cáo A/HRC/20/27 tại:
http://www.ohchr.org/Documents/HRBodies/HRCouncil/RegularSession/Session20/A-HRC-20-27_en.pdf, truy cập ngày 23/4/2018
60 A/HCR/26/29 là Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về quyền tự do hội họp hoà bình và hiệp hội Maina Kiai gửi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc năm 2014
Xem toàn văn Báo cáo A/HCR/26/29 tại: https://undocs.org/A/HRC/26/29, truy cập ngày 23/4/2018
61 Ths Lê Thị Thuý Hương – PGS.TS Vũ Công Giao, Tự do hiệp hội trong luật quốc tế, pháp luật của một số
quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam, trong PGS.TS Vũ Công Giao (chủ biên) (2016), Bảo đảm Quyền tự
do lập hội theo Hiến pháp 2013, lý luận và thực tiễn, Nxb.Hồng Đức, Hà Nội, trang 139
Trang 3734
tuyến (Internet) cũng như ngoài đời thực, kể cả trong bối cảnh bầu cử và bao gồm cả những người có quan điểm hoặc niềm tin thuộc nhóm thiểu số, các công đoàn viên, những nhà bảo vệ nhân quyền hoặc những người thúc đẩy bảo vệ các quyền đó…62
Bên cạnh đó, Báo cáo 20/27, 26/29 còn chỉ ra rằng các quốc gia không nên đặt ra bất kì giới hạn nào về quyền tự do lập hội của các cá nhân, kể cả là với trẻ em hay người nước ngoài63, các nhóm dân tộc thiểu số, phụ nữ, nhóm người LGBT (người đồng giới (nam/nữ), song giới và chuyển giới)64, ngoại trừ các thành viên của lực lượng vũ trang và cảnh sát có thể bị hạn chế quyền này
về mặt pháp lý Tuy nhiên, tất cả những hạn chế này, theo quy định của pháp luật quốc gia, phải phù hợp với các quy định của luật nhân quyền quốc tế, nếu không sự hạn chế này sẽ bị coi là bất hợp pháp65
b, Về mặt số lượng: Trên thực tế, yêu cầu về mặt số lượng thành viên tối
thiểu để thành lập hội nhằm mục đích là các hội không được thành lập một cách tràn lan, các hội phải được thành lập một cách tập trung, có hiệu quả và mục đích rõ ràng Nhìn chung, theo quy định của pháp luật quốc tế, mỗi cá nhân sẽ được tự mình quyết định có tham gia hoặc vẫn là thành viên của một hội hay không Không ai bị bắt buộc phải thuộc về một tổ chức hoặc bị xử phạt vì thuộc
về hoặc không thuộc về một hội Các hội sẽ được tự do xác định các quy tắc để lựa chọn thành viên, chỉ cần tuân theo nguyên tắc không phân biệt đối xử66 Điều này là rất quan trọng đối với các công đoàn hay các đảng phái chính trị,
vì việc can thiệp trực tiếp vào tư cách hội viên có thể ảnh hưởng đến tính độc lập của hội67 Ví dụ Luật về hội của Ecuador chỉ yêu cầu 5 người để lập một hội, trong khi luật của Ấn Độ quy định cần phải có 7 người, theo quy định trong
62 A/HRC/26/29, tlđd, đoạn 22
63 A/HRC/20/27, tlđd, đoạn 54
64 A/HRC/26/29, tlđd, đoạn 18
65 A/HRC/20/27, đoạn 54
66 OSCE, ODIHR (2015), Guidelines on Freedom of Association, Section B: Guidelines on Legislation
Pertaining to the Right to Freedom of Association, Guiding Principle, Principle 3 (đoạn 28), trang 22
https://www.osce.org/odihr/132371?download=true, truy cập ngày 11/4/2018
67 ILO, Digest of decisions and principles of the Freedom of Association Committee of the Governing Body of
the ILO, Fifth (revised) edition (Geneva, 2006), đoạn 723 http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/@ed_norm/@normes/documents/publication/wcms_090632.pdf, truy cập ngày 11/4/2018
Trang 3835
luật của Ai Cập thì cần có 10 người, luật của Ba Lan cần có 15 người và luật của Rumani cần có 21 người để lập một hội68
c,Về thủ tục thành lập hội: quyền tự do lập hội bảo vệ các hội một cách
công bằng, không phân biệt có đăng ký hay không đăng ký thành lập hội (ví dụ: Hoa Kỳ, Canada, Cộng hoà Moldova, Slovania) Ngoài ra, các cá nhân tham gia các hội không đăng ký cũng vẫn được tự do tiến hành bất cứ hoạt động hợp pháp nào, bao gồm quyền tổ chức và tham gia cá cuộc hội họp một các hoà bình và không bị coi là tội phạm theo pháp luật hình sự69 Tuy nhiên, để quản
lý việc các hội có hoạt động hợp pháp và hiệu quả thì các quốc gia thường yêu cầu một hội muốn có tư cách pháp nhân phải tiến hành thủ tục đăng kí thành lập hội, tuy nhiên, các thủ tục này cần đơn giản, linh hoạt và không gây khó khăn cho các cá nhân khi đi làm thủ tục70
Liên quan đến vấn đề này, Maina Kiai cho rằng: các thủ tục đăng ký thành lập hội phải đơn giản, không phiền hà và tốt nhất là nên miễn phí (như ở Bulgary) hoặc nhanh chóng, đơn giản (có thể điền/nộp đơn trực tuyến, như ở Nhật Bản)71 Ông khuyến nghị rằng một “thủ tục thông báo” (cơ quan công quyền không thể từ chối mà chỉ có thể tiếp nhận thông tin về một hội đã được thành lập) sẽ tốt hơn, phù hợp với luật nhân quyền quốc tế hơn là một “thủ tục cho phép” (đòi hỏi phải có sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để thành lập một hội có tư cách pháp nhân), do đó ông đề nghị các nước nên áp dụng “thủ tục thông báo”72 Thực tế cho thấy thủ tục thông báo được nhiều quốc gia sử dụng hơn so với thủ tục cho phép, vì thủ tục này thường đơn giản hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền lập hội của mình
so với thủ tục cho phép, đông thời hạn chế sự tuỳ tiện của cơ quan nhà nước
Ví dụ, tại Pháp theo pháp luật hiện hành, cơ quan nhà nước (tỉnh trưởng) không thể từ chối việc đăng ký của một hội nếu hội đáp ứng được các điều kiện về
Trang 39nhận (récipissé) Sau khi có được biên nhận của Tỉnh trưởng, hội có thể công
bố sự thành lập trên Công báo Bắt đầu từ thời điểm này, hội có tư cách pháp nhân và hiện hữu đối với bên thứ ba73
Trong lĩnh vực lao động, tại Điều 2 Công ước số 87 của ILO xác định mọi người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ chức mà họ tự lựa chọn mà không phải xin phép trước
Dù quốc gia thực hiện theo “thủ tục thông báo” hay “thủ tục cho phép” thì
cơ quan nhận đăng kí phải có trách nhiệm hành động ngay lập tức và pháp luật quốc gia cần đưa ra thời hạn nhanh chóng để phúc đáp với việc nộp đơn hay thông tin, tuỳ từng trường hợp Nhà chức trách không được trì hoãn vô thời hạn hoặc từ chối không nêu lý do việc giải quyết thủ tục đăng ký thành lập hội Trong khoảng thời gian này, các hội vẫn phải được coi là đang hoạt động hợp pháp, trừ khi có minh chứng ngược lại Nếu cơ quan nhà nước không đưa ra được phúc đáp về hồ sơ đăng ký thành lập trong thời gian quy định thì đồng nghĩa rằng hội đang hoạt động hợp pháp74
Bất kỳ quyết định nào từ chối thông báo hoặc đơn đăng ký thành lập hội đều phải được giải thích lý do rõ ràng, thông tin đầy đủ bằng văn bản tới người thông báo hoặc đăng ký Các hội bị từ chối có thể khiếu kiện quyết định này trước một toà án độc lập và công bằng75
73 TS Nguyễn Văn Quân, Về quyền và thủ tục lập hội trong dự thảo Luật về hội, trong PGS.TS Nguyễn Công
Giao (chủ biên) (2016), tlđd,trang 185
74 A/HRC/20/27, tlđd, đoạn 60
75 A/HRC/20/27, tlđd, đoạn 61
Trang 4037
Bên cạnh việc thành lập, các cá nhân còn có quyền gia nhập, rút khỏi các hội Tương tự, các hội có quyền ngưng hoạt động, và giải tán; tuy nhiên nếu các cơ quan nhà nước đưa ra quyết định ngưng hoạt động và giải tán hội thì phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của luật76 Theo Hội đồng, các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ đầy đủ quyền tự do lập hội cả trong đời sống thực
tế cũng như trên mạng trực tuyến Vì mạng trực tuyến (Internet), đặc biệt là sự bùng nổ các trang mạng xã hội như ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin truyền thông là những công cụ quan trọng hỗ trợ quyền tự do lập hội Ngoài ra, tất cả mọi người dều có quyền liên kết trong các không gian
ảo, tập hợp trong môi trường mạng trực tuyến để bày tỏ ý kiến của mình Tất
cả các quốc gia cần đảm bảo việc tiếp cận mạng trực tuyến được duy trì mọi lúc, kể cả khi có bất ổn chính trị77
2.1.2 Quyền tự do hoạt động, điều hành hội và được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô lý
Quyền tự do hoạt động của các hội đặt ra nghĩa vụ tương ứng của Nhà nước trong việc tôn trọng, thực thi và bảo vệ quyền này, trong đó bao gồm nghĩa vụ chủ động, nghĩa vụ bị động của Nhà nước
* Nghĩa vụ chủ động của Nhà nước: quyền tự do lập hội đặt ra yêu cầu
với Nhà nước có nghĩa vụ chủ động tiến hành các biện pháp tích cực để thành lập và duy trì một môi trường thuận lợi cho quyền này Điều tối quan trọng là các cá nhân thực thi quyền này phải có thể hoạt động một cách tự do mà không phải lo sợ họ là đối tượng phải chịu bất kì sự đe doạ hay bạo lực, bao gồm việc
xử tử bất hợp pháp; cưỡng bức mất tích hay không tự nguyện; bắt giam/giữ tuỳ tiện; tra tấn hay bị trừng phạt hoặc đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục; bị
76 Lã Khánh Tùng, Nghiêm Hoa, Vũ Công Giao (2015), tlđd, trang 21
77 A/HRC/17/27, Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về bảo đảm và bảo vệ quyền tự do tư tưởng và biểu đạt Frank La Rue gửi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc năm 2011, đoạn 79
Xem toàn văn Báo cáo tại:
http://www2.ohchr.org/english/bodies/hrcouncil/docs/17session/A.HRC.17.27_en.pdf, truy cập ngày 25/4/2018