1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề chuyển đổi giới tính trong bộ luật dân sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện pháp luật việt nam

415 175 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 415
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề được đề cập ở trên cho thấy, việc lựa chọn “Vấn đề chuyển đổi giới tính trong Bộ luật dân sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ

KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Mã số: LH-2017-02/ĐHL-HN

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Văn Hợi Thư ký đề tài: ThS Hoàng Thị Loan

Hà Nội, 2018

Trang 3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN I - BÁO CÁO TỔNG HỢP 1

PHẦN MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH 17

1.1 Khái niệm, đặc điểm của chuyển đổi giới tính 17

1.1.1 Khái niệm chuyển đổi giới tính 17

1.1.2 Đặc điểm của chuyển đổi giới tính 22

1.2 Bản chất của chuyển đổi giới tính 26

1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc công nhận chuyển đổi giới tính 33

1.3.1 Cơ sở lí luận của quyền chuyển đổi giới tính 33

1.3.2 Cơ sở thực tiễn của quyền chuyển đổi giới tính 44

1.4 Phân biệt chuyển đổi giới tính với xác định lại giới tính và chuyển giới 50

1.4.1 Phân biệt chuyển đổi giới tính với xác định lại giới tính 51

1.4.2 Phân biệt chuyển đổi giới tính với chuyển giới 54

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về chuyển đổi giới tính 55

1.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến việc thực hiện pháp luật về chuyển đổi giới tính 56

1.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật về chuyển đổi giới tính 59

1.6 Khát quát quy định pháp luật về chuyển đổi giới tính 63

1.6.1 Khái quát pháp luật một số quốc gia trên thế giới 63

1.6.2 Khái quát pháp luật Việt Nam 71

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH Ở VIỆT NAM 74

2.1 Thực trạng vấn đề chuyển đổi giới tính ở Việt Nam 74

2.1.1 Thực trạng pháp luật về chuyển đổi giới tính 74

Trang 5

2.1.2 Thực tiễn hoạt động chuyển đổi giới tính 106

2.2 Những hệ quả pháp lý của việc chuyển đổi giới tính 113

2.2.1 Hệ quả của việc chuyển đổi giới tính đến việc ghi nhận và bảo vệ các quyền nhân thân khác của cá nhân 113

2.2.2 Hệ quả của việc chuyển đổi giới tính đến các quan hệ tài sản 115

2.2.3 Hệ quả của việc chuyển đổi giới tính đến các quan hệ hôn nhân và gia đình 118

2.2.4 Hệ quả của việc chuyển đổi giới tính đến quan hệ lao động 122

2.2.5 Một số hệ quả pháp lý khác của việc chuyển đổi giới tính 125

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH Ở VIỆT NAM 130

3.1 Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi giới tính 130

3.1.1 Việc hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi giới tính phải được tiến hành khẩn trương để đáp ứng kịp thời nhu cầu và đòi hỏi của thực tiễn 130

3.1.2 Việc hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi giới tính phải phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới và pháp luật quốc tế 132

3.1.3 Việc hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi giới tính phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác 137

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi giới tính 139

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 139

3.2.2 Một số ý kiến góp ý cho Dự án Luật chuyển đổi giới tính 141

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả cho việc thực thi pháp luật về chuyển đổi giới tính tại Việt Nam 153

3.3.1 Đảm bảo về mặt tổ chức và đội ngũ cán bộ để triển khai thực hiện Luật Chuyển đổi giới tính trên thực tiễn 154

3.3.2 Đảm bảo về cơ sở khám chữa bệnh đáp ứng yêu cầu để thực hiện việc can thiệp y học nhằm chuyển đổi giới tính 157

Trang 6

3.3.3 Đảm bảo sự nhận thức của người có mong muốn chuyển đổi giới

tính về quyền và nghĩa vụ của mình 157

3.3.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về chuyển đổi giới tính 158

KẾT LUẬN 159

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

PHẦN II - BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 167

CHUYÊN ĐỀ 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH 169

CHUYÊN ĐỀ 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH 210

CHUYÊN ĐỀ 3 THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC KIỂM SOÁT CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ THẨM QUYỀN 282

CHUYÊN ĐỀ 4 MỘT SỐ HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH 306

CHUYÊN ĐỀ 5 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH Ở VIỆT NAM 351 PHẦN III - BÀI BÁO KHOA HỌC Error! Bookmark not defined

Trang 7

PHẦN I BÁO CÁO TỔNG HỢP

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong xã hội ngày nay, vấn đề bảo vệ quyền con người ngày càng được quan tâm sâu sắc và nó giống như một cuộc cách mạng đang hàng ngày được tiến hành ở mỗi Châu lục, mỗi quốc gia, mỗi tầng lớp, … khác nhau Ở mỗi một thời kì lịch sử khác nhau, mỗi một quốc gia khác nhau, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ ở các mức độ và phạm vi khác nhau Việc bảo vệ quyền con người được thực hiện bằng nhiều công cụ khác nhau, mà một trong những công

cụ có tính hiện thực nhất đó là công cụ pháp lý Tức là “để thực hiện quyền con người ở nghĩa tự nhiên cần phải thể chế hóa quyền đó thành các quyền pháp lý”1

Thực tế hiện nay cho thấy, pháp luật Việt Nam đang ngày càng thể hiện

sự hoàn thiện trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Điều đó thể hiện ngay trong bản Hiến pháp năm 2013, trong đó quyền con người tiếp tục được ghi nhận và được khẳng định ở một vị trí quan trọng Đặc biệt, ngày 24 tháng 11 năm 2015, Quốc hội khóa 13 đã thông qua Bộ luật dân sự năm 2015, trong đó các quy định về quyền nhân thân của cá nhân nhân đã được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản Một trong những vấn đề nổi bật nhận được sự quan tâm của dư luận trong nước và trên thế giới đó là việc hợp pháp hóa vấn đề chuyển đổi giới tính tại Điều 37 Đây là sự thay đổi mang tính đột phá trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân nói riêng, quyền con người nói chung, đồng thời đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ 62 trên thế giới, thứ 11 tại Châu Á cho phép chuyển đổi giới tính2

Tuy nhiên, chuyển đổi giới tính là quy định mới và còn tồn tại nhiều vấn

đề cần phải giải quyết để có thể áp dụng một cách hiệu quả trên thực tiễn Thực

tế, nhiều vấn đề còn tồn tại ý kiến trái chiều nhau như: chuyển đổi giới tính có phải là một quyền nhân thân hay không? Tại sao không có chữ “quyền” trước cụm từ chuyển đổi giới tính? Khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thì quyền của những người đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính trước khi Bộ luật dân sự

1 Võ Khánh Vinh (chủ biên), Quyền con người - tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội, 2010, tr.14;

2

Huy Lương, Việt Nam hợp pháp hoá quyền chuyển đổi giới tính, đăng này 24/11/2015 trên trang web:

http://isee.org.vn/vi/Blog/Article/viet-nam-hop-phap-hoa-quyen-chuyen-doi-gioi-tinh (truy cập ngày 10/12/2017)

Trang 9

năm 2015 có hiệu lực có giống với quyền của những người chuyển đổi giới tính sau khi Bộ luật có hiệu lực hay không? … và nhiều vấn đề đặt ra xung quanh việc vận dụng quy định về chuyển đổi giới tính như thế nào trong thực tiễn khi

Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực Hơn nữa, cũng giống như các vấn đề xã hội khác, hoạt động chuyển đổi giới tính đã hình thành và phát triển trên thế giới cũng như ở Việt Nam từ rất lâu Xung quanh vấn đề đó đã xảy ra ý kiến trái chiều nhau trong việc thừa nhận hay không thừa nhận giới tính sau khi chuyển đổi Khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, hoạt động chuyển đổi giới tính sẽ là hoạt động được thực hiện một cách hợp pháp và sẽ diễn biến phức tạp hơn Điều này đòi hỏi một cơ chế quản lý cũng như hệ thống quy định cụ thể liên quan đến việc thực hiện hoạt động chuyển đổi giới tính, cũng như việc ghi nhận và bảo đảm quyền lợi về mặt mọi của người thực hiện việc chuyển đổi giới tính Để giải quyết triệt để vấn đề này, cần phải có những nghiên cứu cụ thể, tạo

cơ sở cho việc cụ thể hóa quy định về chuyển đổi giới tính, bảo đảm việc áp dụng hiệu quả trên thực tế

Từ những vấn đề được đề cập ở trên cho thấy, việc lựa chọn “Vấn đề

chuyển đổi giới tính trong Bộ luật dân sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu là thực sự cần thiết trong giai đoạn

hiện nay Việc nghiên cứu và thực hiện đề tài sẽ có những giá trị về mặt lý luận

và thực tiễn sâu sắc

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Cho đến thời điểm hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn

đề chuyển đổi giới tính một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và ở các góc độ tiếp cận khác nhau Những công trình này là cơ sở quan trọng cho việc tiếp cận và tiếp tục nghiên cứu đề tài

* Sách:

Cuốn sách của Trương Hồng Quang (2014) về “Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật”, Nxb

Chính trị Quốc gia – Sự thật

Cuốn sách được tác giả triển khai thanh 03 chương viết, theo đó: Chương

1, tác giả đề cập tới các vấn đề chung về đồng tính, song tính và chuyển giới

Trang 10

Tại Chương này, tác giả có đề cập tới một số vấn đề lý luận về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới Chương 2, tác giả nghiên cứu về pháp luật quốc tế và một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới về người đồng tính, song tính và chuyển giới Chương 3, tác giả phân tích cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới trong đời sống xã hội, pháp luật của Việt Nam và một số khuyến nghị Nhìn chung, cuốn sách thể hiện được sự công phu và chiều sâu về đối tượng người đồng tính, song tính, chuyển giới Tuy nhiên, sự dàn trải các vấn đề nghiên cứu được chia sẻ ở cả 3 đối tượng người nên rất nhiều khía cạnh về người chuyển đổi giới tính các vấn đề lý luận, pháp luật thực định và định hướng áp dụng vẫn chưa được tác giả đề cập tới Những kết quả này của tác giả cũng là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị lớn khi chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này

Cuốn sách của Trương Hồng Quang (2017) về “Tìm hiểu quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính ở Việt Nam”, Nxb Chính trị

Quốc gia – Sự thật

Cuốn sách tập hợp 92 câu hỏi đáp liên quan đến việc nhận diện người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính và pháp luật về quyền của nhóm người này tại Việt Nam Trong cuốn sách này, các thuật ngữ như “bản dạng giới, người chuyển giới, người liên giới tính, người song tính, phẫu thuật chuyển đổi giới tính, xác định lại giới tính, …” đã được tác giải diễn giải một cách cụ thể

* Luận án, luận văn:

Luận văn thạc sĩ của Đặng Hoàng Hiếu (2015) về “Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,

Trường Đại học Luật Hà Nội

Luận văn được kết cấu thành 3 chương, trong đó tại Chương 1 tác giả trình bày một số vấn đề lý luận về quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới Trong Chương 2, tác giả đi vào phân tích thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành về quyền con người của người đồng tính, song tính, chuyển giới ở Việt Nam Trên cơ sở những nghiên cứu về lý luận và thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành ở Việt Nam, trong Chương 3,

Trang 11

tác giả đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm quyền con người của nhóm người này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Xuân Hoa (2017) về “Thực trạng vấn đề chuyển đổi giới tính ở Việt Nam hiện nay”, Trường Đại học Luật Hà Nội

Luận văn được kết cấu thành 3 chương Trong đó, tại chương 1, tác giả trình bày một số vấn đề khái quát chung về chuyển đổi giới tính như khái niệm chuyển đổi giới tính, thực trạng về chuyển đổi giới tính trên thế giới, thực trạng

về chuyển đổi giới tính ở Việt Nam Tại chương 2, tác giả phân tích thực trạng pháp luật về chuyển đổi giới tính trên thế giới và Việt Nam, trong đó dẫn chiếu các quan điểm pháp lý của Liên hợp quốc và của một số quốc gia cũng như Việt Nam về chuyển đổi giới tính Trên cơ sở những phân tích, đánh giá các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật, tác giả đề xuất một số kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về vấn đề chuyển đổi giới tính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

* Bài tạp chí

(1) Bài viết của Trương Hồng Quang (2013) về “Các vấn đề xã hội và pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6, tr.43 – 53

Bài viết được tác giả nghiên cứu các nội dung chủ yếu sau: (i) phân tích một số vấn đề xã hội của cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới; (ii) phân tích các vấn đề pháp lý của cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới Trong phần nghiên cứu các vấn đề pháp lý, tác giả có tập trung vào một số nội dung lớn sau: Một là, khẳng định pháp luật hiện hành không cấm hiện tượng người đồng tình, song tính và quy định cấm người chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính; hai là, phân tích sự bình đẳng giới; ba là, xác định thuật ngữ pháp lý “gia đình” – một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới các chủ thể này; bốn là, chính sách bảo vệ đối tượng trẻ em là LGBT; năm là, quy định pháp luật về việc cấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính

(2) Bài viết của Trương Hồng Quang (2013) về “Người chuyển giới tại Việt Nam dưới góc nhìn pháp lý”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12, tr.35 – 42

Trang 12

Bài viết được tác giả triển khai từ việc xác định như thế nào là người chuyển giới, đặc điểm về người chuyển giới; thực trạng xã hội và pháp lý liên quan đến người chuyển giới tới kết luận của riêng mình về việc cải thiện tình trạng chưa phù hợp ở góc độ xã hội và pháp lý đối với nguyển chuyển giới

(3) Bài viết của Thái Thị Tuyết Dung và Vũ Thị Thúy (2013) về “Bảo đảm quyền của người đồng tính, người chuyển giới trong tư pháp hình sự”, Tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, số 9

Bài viết được các tác giả triển khai một số nội dung như: (i) Nêu các khái niệm liên quan đến người đồng tính và người chuyển giới; (ii) phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến người đồng tính và người chuyển giới; (iii) bảo

vệ quyền của người đồng tính và người chuyển giới trong pháp luật hình sự; (iv) bảo vệ quyền của người đồng tính và người chuyển giới trong pháp luật tố tụng hình sự và thi hành án hình sự Với những nội dung chủ yếu trên, các tác giả đã hoàn thiện phần kiến thức nghiên cứu về người đồng tính, người chuyển giới nhìn từ góc độ tư pháp hình sự - một trong những công cụ nhằm bảo vệ quyền con người nói chung và người đồng tính, chuyển giới nói riêng

(4) Bài viết của Nguyễn Thị Lan (2014) về “Quyền làm cha mẹ của những người thuộc nhóm đồng tính, song tính và chuyển giới”, tạp chí Dân chủ

Pháp luật, số chuyên đề

Bài viết được tác giả triển khai thành 04 phần, cụ thể: Phần 1, khái lược chung về nhóm LGBT; phần 2, quyền làm mẹ của người đồng tính nữ, người song tính và người chuyển giới; phần 3, quyền làm cha của người đồng tính nam, người song tính và người chuyển giới; phần 4, một số giải pháp bảo đảm hơn nữa quyền làm cha, mẹ của người đồng tính, người song tính và chuyển giới

(5) Bài viết của Nguyễn Văn Nguyên (2014) về “Cần quy định về chuyển đổi giới tính trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Tạp chí Viện Kiểm sát, số 19

Bài viết được tác giả nghiên cứu theo hướng bình luận, đánh giá lồng ghép quan điểm, góc nhìn của cá nhân về việc ghi nhận vấn đề chuyển giới trong Bộ luật Dân sự 2005 (sửa đổi) Theo tác giả, việc ghi nhận nội dung mới này là điểm tiến bộ khi xem xét điều chỉnh các hiện tượng, quan hệ xã hội bằng quy phạm pháp luật Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở việc thể hiện quan

Trang 13

điểm, đưa ra hướng bình luận, trao đổi cho mốc thời điểm dự án các phiên của

Bộ luật Dân sự năm 2015 mà chưa nghiên cứu sâu các vấn đề pháp lý khác của chuyển đổi giới tính Vì vậy, với sự khởi đầu này, chúng tôi cho rằng đây cũng

là một trong những quan điểm quan trọng hỗ trợ cho việc nghiên cứu chuyên sâu vấn để chuyển đổi giới tính của chúng tôi

(6) Bài viết của Trương Hồng Quang (2014) về “Quyền kết hôn của người đồng tính”,Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, tr 27-36

Bài viết được tác giả thực hiện vào thời điểm Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đang trong quá trình rà soát sửa đổi, bổ sung Nhiều nội dung được đưa ra tranh bàn như độ tuổi kết hôn, chế định ly thân, hôn nhân thực tế và quan

hệ chung sống của người đồng tính nhận được sự quan tâm của khá nhiều từ dư luận Tác giả phân tích các khía cạnh khác nhau khi nghiên cứu bài viết này, cụ thể: Từ việc bình xét bối cảnh trên thế giới và Việt Nam đến thực tiễn đòi hỏi sự ghi nhận mối quan hệ đồng giới tại Việt Nam là nhu cầu thiết thực Tác giả cũng bình luận nhiều quan điểm khác nhau về việc ghi nhận hoặc không ghi nhận nhu cầu này của người đồng tính tại Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các quan điểm cá nhân về việc nên ghi nhận loại quyền năng cơ bản này cho người đồng tính tại Việt Nam

(7) Bài viết của Trương Hồng Quang (2014) về “Về quyền xác định lại giới tính và quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính tại Việt Nam”, Tạp chí Nhà

nước và Pháp luật, số 5, tr 32 – 39

Bài viết được tác giả triển khai nghiên cứu ở 3 mục, cụ thể: Mục đầu tiên, tác giả nghiên cứu khái quát về quyền xác định giới tính và quyền chuyển đổi giới tính; mục thứ hai, tác giả tập trung nghiên cứu quyền xác định giới tính và quyền chuyển đổi giới tính trong pháp luật Dân sự Việt Nam; mục thứ ba, một vài kiến nghị được tác giả đưa ra để định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về xác định lại giới tính và các thủ tục hành chính có liên quan Đồng thời, tác giả kiến nghị pháp luật cần thừa nhận người chuyển giới, cho phép người chuyển giới được phẫu thuật chuyển đổi giới tính

(8) Bài viết của Ngô Thị Hường (2015) về “Chuyển đổi giới tính và vấn

đề kết hôn của người chuyển đổi giới tính”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12

Trang 14

Bài viết được tác giả tập trung vào hai nội dung lớn là sơ lược về chuyển đổi giới tính và vấn đề kết hôn của người chuyển đổi giới tính Nội dung bài viết phản ánh được một khía cạnh quyền nhân thân lớn ảnh hưởng sâu rộng tới cộng đồng người chuyển đổi giới tính Công trình là nguồn tài liệu tham khảo khi chúng tôi thực hiện nghiên cứu sâu rộng và toàn diện về người chuyển đổi giới tính tại Việt Nam, đặc biệt là mối liên hệ giữa các quyền nhân thân khác trước

và sau khi chuyển đổi giới tính với quyền chuyển đổi giới tính của cá nhân

(9) Bài viết của Nguyễn Nam Hưng và Phạm Thị An Mây (2015) về “Bàn

về vấn đề chuyển đổi giới tính trong Dự án Bộ luật Dân sự”, tạp chí Kiểm sát,

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, số 6

Bài viết được xem xét như một ý kiến trao đổi, định hướng quan điểm xây dựng pháp lý về người chuyển đổi giới tính trong bối cảnh Bộ luật Dân sự Việt Nam đang sửa đổi, bổ sung Tác giả đồng tình với việc ghi nhận vấn đề này tại

Bộ luật Dân sự Việt Nam và khằng định rằng “Việc lần đầu tiên được ghi nhận quyền của người chuyển giới vào một bộ luật tư có ý nghĩa là xương sống cho việc ghi nhận ở một số các đạo luật hay ngành luật khác như: Luật bình đẳng giới, Luật hôn nhân và gia đình… sẽ mở ra cánh cửa góp phần đảm bảo quyền con người, góp phần bảo vệ quyền yếu thế trong xã hội”

(10) Bài viết của Đỗ Văn Đại và Ngô Thị Vân Anh (2016) về “Điều kiện

và hệ quả của chuyển đổi giới tính trong pháp luật Việt Nam”, tạp chí Nghiên

cứu lập pháp, số 6

Bài viết được nghiên cứu vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 đã được Quốc hội Khóa XIII thông qua, theo đó quy định về vấn đề chuyển giới đã được ghi nhận tại Điều 37 của Bộ luật này Tác giả đã triển khai bài viết theo hướng nghiên cứu các nội dung sau: Thứ nhất, các tác giả đã làm rõ điều kiện để chuyển đổi giới tính Trong đó, những vấn đề sau được tác giả khai thác: (i) quyền có điều kiện; (ii) vấn đề phẫu thuật; (iii) điều kiện về tâm lý; (iv) điều kiện về độ tuổi; (v) số lượng lần chuyển đổi giới tính; (vi) khả năng sinh đẻ Thứ hai, hệ quả của việc chuyển đổi giới tính, trong đó các vấn đề sau được nhấn mạnh: (i) thay đổi giấy tờ tùy thân; (ii) quyền nhân thân với giới tính mới; (iii) quan hệ vợ chồng đã có; (iv) quan hệ với con và hệ quả khác Bài viết đã nghiên cứu một cách khá sâu sắc quy định tại Điều 37 (vấn đề chuyển đổi giới tính) của

Bộ luật Dân sự năm 2015 Tuy vậy, dung lượng trang viết có hạn nên còn khá

Trang 15

nhiều khía cạnh khác nhau liên quan tới chuyển đổi giới tính chưa được tác giả

để cập Do đó, sự tiếp nối kết quả này của tác giả sẽ là điểm sáng cho đề tài nghiên cứu khoa học của chúng tôi

(11) Bài viết của Lê Thị Giang (2016) về “Quyền chuyển đổi giới tính - quyền nhân thân trong Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, số 14, tr

38-44

Bài viết đi vào tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của quyền chuyển đổi giới tính Bàn luận về quyền chuyển đổi giới tính trong Bộ luật Dân sự năm 2015 Chỉ ra một số vướng mắc trong quy định Điều 37 của Bộ luật này liên quan đến chuyển đổi giới tính và đề xuất ý kiến sửa đổi, bổ sung

(12) Bài viết của Bùi Ai Giôn (2017) về “Bàn về quyền chuyển đổi giới tính quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 22, tr.15-18 & 47

Tác giả trao đổi về quyền chuyển đổi giới tính, những vướng mắc khi thi hành quy định này trên thực tế và các giải pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc

đó Cụ thể, trong bài viết tác giả khẳng định “quyền chuyển đổi giới tính là một quyền nhân thân của cá nhân, nằm trong các quyền dân sự và là một phần của quyền công dân, quyền con người” Ngoài ra, tác giả cũng khái quát về vấn đề chuyển đổi giới tính trên thế giới, trong đó đưa ra thông tin có 61 quốc gia trên thế giới hợp pháp hoá việc chuyển đổi giới tính trên giấy tờ Cuối cùng, tác giả

đi vào nghiên cứu pháp luật Việt Nam về chuyển đổi giới tính, trong đó chỉ ra thực trạng, những khó khăn và một số giải pháp cho việc thực hiện quy định về chuyển đổi giới tính

(13) Bài viết của Cao Vũ Minh (2017) về “Các nội dung cụ thể khi xây dựng luật về chuyển đổi giới tính”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 6, tr.28-36

Trình bày các vấn đề về chuyển đổi giới tính trên phương diện lý luận, thực tiễn và trong hoạt động xây dựng luật về chuyển đổi giới tính Trong bài viết này, tác giả đưa ra quan điểm về những vấn đề cơ bản liên quan đến việc xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính như: Đối tượng áp dụng của Luật Chuyển đổi giới tính; Điều kiện về tuổi của người chuyển đổi giới tính; Các trường hợp không cho chuyển đổi giới tính; Điều kiện về chuyển đổi giới tính; Cơ sở khám, chữa bệnh

Trang 16

được phép can thiệp y tế để chuyển đổi giới tính; Các liên quan đến giấy tờ pháp

(14) Bài viết của Nguyễn Xuân Quang và Nguyễn Xuân Lý (2017) về

“Điều kiện chuyển giới về mặt pháp lý bắt buộc hoặc không bắt buộc phẫu thuật chuyển giới và kiến nghị cho pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6, tr.29-33

Dưới góc độ nhân quyền, bài viết đưa ra cơ sở ủng hộ việc công nhận chuyển đổi giới tính không bắt buộc phẫu thuật và kiến nghị cho Luật Chuyển đổi giới tính của Việt Nam Tuy nhiên, trong bài viết này, các tác giả vẫn chưa phân biệt được khái niệm chuyển giới và chuyển đổi giới tính khi đưa ra điều kiện công nhận chuyển giới về mặt pháp lý Trong đó, các tác giả đi vào bình luận vấn đề bắt buộc hay không bắt buộc phẫu thuật chuyển đổi giới tính

(15) Bài viết của Trương Hồng Quang (2017) về “Một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính tại Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11,

tr 65-76

Trên cơ sở phân tích, đánh giá những hạn chế khó khăn trong thực tiễn thi hành pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính, bài viết đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quyền của các đối tượng này trong thời gian tới

(16) Bài viết của Trần Thị Loan (2017) về “Pháp luật Hà Lan về chuyển đổi giới tính và một số gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,

số 12, tr 67-76

Bài viết phân tích các quy định của pháp luật Hà Lan về chuyển đổi giới tính trong Bộ luật Dân sự năm 1985 và Bộ luật Dân sự năm 2013 Trong đó có các nội dung đặc biệt quan trọng khi xây dựng luật chuyển đổi giới tính như: Chủ thể có quyền thay đổi giới tính; Điều kiện để thay đổi giới tính; Thủ tục thay đổi giới tính; Hậu quả pháp lý của việc thay đổi giới tính Qua đó những nghiên cứu này, tác giả đưa ra nhận xét và gợi mở một số kinh nghiệm cho quá trình xây dựng dự án Luật Chuyển đổi giới tính ở Việt Nam

Trang 17

(17) Bài viết của Nguyễn Nam Hưng (2018) về “Nên hay không nên cho phép những người đã lập gia đình được chuyển đổi giới tính”, Tạp chí Toà án,

1948 và Điều 14 Hiến pháp năm 2013

* Công trình nghiên cứu khác

Phạm Quỳnh Phương, Lê Thanh Bình, Mai Thanh Tú, (2012), “Khát vọng được là chính mình – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, công trình nghiên cứu

khoa học, Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và Môi trường

Công trình nghiên cứu này được nhóm tác giả nghiên cứu triển khai thành

02 phần thông tin kiến thức lớn Một là, phần mô tả nghiên cứu, trong đó phản ánh bối cảnh, mục đích, phương pháp, đạo đức và hạn chế của quá trình nghiên cứu Hai là, kết quả nghiên cứu thực địa, trong đó, nhóm tác giả đã đề cập tới các nội dung chính sau: (i) Những nét chung về cộng đồng người chuyển giới; (ii) xác định người chuyển giới là ai; (iii) những thách thức của người chuyển giới; (iv) kết luận và kiến nghị

Công trình thể hiện được tính công phu trong nghiên cứu, các dữ liệu thông tin đáng tin cậy, các quan điểm khoa học phản ánh đúng thực trạng xã hội Tuy nhiên, công trình chỉ tập trung vào đối tượng người chuyển giới và góc nhìn

xã hội đối với chủ thể này mà chưa phản ánh được nhiều sự điều chỉnh từ góc độ pháp lý Như vậy, việc nghiên cứu khái quát và cụ thể các vấn đề về chuyển đối giới tính vẫn là một lĩnh vực mới trong nền khoa học pháp lý, đặc biệt là quá trình định hướng áp dụng trong thực tiễn

2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Một là, Katinka Ridderbos (2011), “Controlling Bodies, Denying Identities - Human Rights Violations against Trans People in the Netherlands”,

Human Rights Watch, Netherlands

Trang 18

Công trình được tác giả nghiên cứu vấn đề vi phạm quyền con người đối với chuyển giới tại Hà Lan Trong đó, những nội dung được tác giả đề cập tới chủ yếu liên quan địa vị pháp lý của người chuyển giới tại Hà Lan Ví dụ: Ngoài mục tổng kết luật cũ, vấn đề ảnh hưởng tới người chuyển giới, đưa ra các đề xuất sửa đổi luật đó; kiến nghị với các cơ quan như: Chính phủ, bệnh viện, Hội đồng tư pháp, công ty bảo hiểm… vấn đề bảo vệ quyền đối với người chuyển giới, tác giả còn đề cập tới các nội dung sau: nhận diện giới tính; khung pháp lý; người chuyển giới tại Hà Lan; điều kiện để nhận diện giới tính trong Bộ luật Dân sự Hà Lan; trình tự thủ tục tại Tòa, bệnh viện liên quan tới chuyển đổi giới tính; quy định bắt buộc về vấn đề phẫu thuật của Nhà nước Hà Lan; một số vấn

đề về quyền nhân thân có ảnh hưởng tới việc chuyển đổi giới tính đặc biệt là quyền kết hôn và làm cha, mẹ; định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật

Hai là, GLBTQ Legal Advocates & Defenders (2015) “Transgender Legal Issues” (Các vấn đề pháp lý về người chuyển giới) New England”, USA

Công trình được tác giả nghiên cứu ba mảng vấn đề lớn, cụ thể: Thứ nhất, nguyên tắc pháp lý của người chuyển đổi giới tính theo quy định của các Luật Chông phân biệt Trong đó, sự phân biệt được xem xét dựa trên giới tính, khả năng vận động; xụ hướng tính dục Thứ hai, vấn đề bảo vệ người chuyển đổi giới tính theo Luật Liên bang và tại khu vực New England Thứ ba, các vấn đề pháp lý khác như: kết hôn, cha, mẹ của người chuyển giới, sinh viên chuyển giới, nhà vệ sinh công cộng, tội phạm của người chuyển giới, quyền nhân thân khác

Bà là, American Civil Liberties Union, “Transgender people & the Law – Frequently asked Questions” (Quy định của pháp luật về những người chuyển

giới – Những câu hỏi thường gặp), USA

Công trình như cuốn cẩm nang nghiên cứu làm rõ một số vấn đề pháp lý

về người chuyển giới dưới dạng hỏi đáp, cụ thể: Thứ nhất, sự phân biệt đối xử

về nghề nghiệp, nơi cư trú, hệ thống trường học và nơi công cộng; thứ hai, thay đổi họ tên và nhân thân; thứ ba, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe; thứ tư, luật hình

sự và người chuyển giới; thứ năm, quyền của người chuyển giới trong tù; thứ sáu, người nhập cư chuyển giới

Trang 19

Bốn là, Giáo sư Stephen Whittle OBE, Tiến sĩ Lewis Turner, Ryan

Combs, Stephenne Rhodes, “Transgender EuroStudy: Legal Survey and Focus

on the Transgender Experience of Health Care”, 2008

Cuốn sách được các tác giả đề cập tới 03 nội dung lớn: Một là, các vấn đề pháp lý về chuyển giới và người chuyển giới tại Châu Âu; Hai là, chính sách chăm sóc sức khỏe tại EU: Ảnh hưởng tới các chiến lược bình đẳng về chăm sóc sức khỏe cho người chuyển giới; Ba là, tiếp cận các gói chăm sóc sức khỏe của người chuyển giới

Những công trình nghiên cứu khoa học nước ngoài trên đều đề cập tới nền pháp lý của Khu vực và quốc gia mà các tác giả đang cư trú về người chuyển đổi giới tính Kết quả của những công trình này là nguồn tài liệu tham khảo lớn cho việc triển khai nghiên cứu tổng quát các vấn đề khác nhau của người chuyển đổi giới tính tại Việt Nam

Đánh giá chung: Về cơ bản, những công trình trên đã thể hiện được một

số khía cạnh khác nhau về vấn đề chuyển đổi giới tính Tuy nhiên, nhiều nguyên nhân như: Yêu cầu về số trang bài nghiên cứu, tính chất của công trình nghiên cứu, phạm vi, mục đích của bài viết, bối cảnh không gian, thời gian, đối tượng nghiên cứu, tính chất lịch sử về các quy định pháp luật qua từng thời kỳ… mà mỗi công trình mới chỉ nghiên cứu, bình xét được những nội dung nhỏ của vấn đề chuyển đổi giới tính Với thực tế này, một đề tài quy mô và toàn diện nghiên cứu vấn đề chuyển đổi giới tính – định hướng áp dụng tại Việt Nam là một việc rất cần thiết

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được Quốc hội Khóa XIII thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 và đã có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2017 lần đầu tiên thừa nhận vấn đề chuyển giới tại Việt Nam Sự ghi nhận lần này được đánh giá

là một trong những đột quá của Bộ luật Dân sự khi xem xét mở rộng quyền tự nhiên của con người Tuy nhiên, từ quy định của pháp luật tới vấn đề triển khai thực thi quy định này sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc Pháp luật với vai trò là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội hữu hiệu nhất cần khẳng định được sự ghi nhận quy định lần này là phù hợp với đòi hỏi, nhu cầu từ xã hội Do đó thêm một lần nữa khẳng định, việc nghiên cứu lý luận, thực tiễn và định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chuyển đổi giới tính thực sự là đòi hỏi khách quan trong bối cảnh hiện nay

Trang 20

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Việc nghiên cứu đề tài góp phần đưa ra những luận điểm, luận cứ của quy định về chuyển đổi giới tính cũng như cung cấp hệ lý luận cho việc thực hiện quy định về chuyển đổi giới tính ở Việt Nam

- Việc nghiên cứu đề tài góp phần đưa ra những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện và định hướng áp dụng quy định pháp luật về chuyển đổi giới tính ở Việt Nam trong thời gian tới

- Việc nghiên cứu đề tài nhằm cung cấp nguồn tài liệu quan trọng cho các nhà lập pháp và thực thi pháp luật trong lĩnh vực dân sự nói chung và trong việc bảo vệ các quyền nhân thân của cá nhân, đặc biệt là quyền chuyển đổi giới tính nói riêng

- Việc nghiên cứu đề tài nhằm cung cấp nguồn tài liệu quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn Luât dân sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội và các trường có đào tạo chuyên ngành luật

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về không gian, đề tài nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, việc nghiên cứu đề tài có khởi nguồn từ mong muốn nghiên cứu Điều 37

Bộ luật Dân sự năm 2015, nên đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề xung quanh Điều luật này như: đây có phải là một quyền nhân thân của cá nhân không, điều kiện để thực hiện quyền này như thế nào, kiến nghị hoàn thiện pháp luật xung quanh các vấn đề này Do đó, đề tài sẽ không đi sâu vào phân tích các vấn đề liên quan đến trình tự, thủ tục về mặt hành chính để thực hiện quyền này Trong quá trình nghiên cứu nhằm kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam, đề tài cũng so sánh đối chiếu pháp luật một số quốc gia trên thế giới về vấn đề chuyển đổi giới tính, để từ đó có những định hướng phù hợp đối với pháp luật Việt Nam

Về thời gian, đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn

áp dụng pháp luật về chuyển đổi giới tính trước và sau khi Bộ luật dân sự năm

2015 được thông qua

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trang 21

Việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu đề tài các tác giả cũng sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học như:

- Phương pháp phương pháp phân tích để làm rõ các vấn đề lý luận, các quy định pháp luật về chuyển đổi giới tính;

- Phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp để làm rõ vấn đề thực tiễn hoạt động chuyển đổi giới tính ở Việt Nam trước và sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được thông qua;

- Phương pháp phân tích, đánh giá những tác động của việc chuyển đổi giới tính đến việc ghi nhận và bảo đảm các quyền nhân thân của cá nhân, việc thực thi các quy định pháp luật có liên quan như pháp luật về lao động, pháp luật

về hình sự, hành chính, pháp luật về nghĩa vụ quân sự, …

- Phương pháp so sánh được sử dụng để chỉ ra sự khác biệt giữa chuyển đổi giới tính với các thuật ngữ khác như xác định lại giới tính, chuyển giới, … Đồng thời cũng nhằm chỉ ra sự khác biệt giữa quy định pháp luật về chuyển đổi giới tính của Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới

(2) Đề tài đã khái quát được các quy định pháp luật dân sự Việt Nam liên quan đến chuyển đổi giới tính Đề tài đã phân tích, đánh giá được những ưu điểm

và hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển đổi giới tính Đặc biệt đề tài còn đưa ra những đánh giá điểm hạn chế trong dự án luật chuyển đổi giới tính

(3) Đề tài đã khái quát pháp luật một số quốc gia về chuyển đổi giới tính,

từ đó nhóm tác giả có được sự nhìn nhận chính xác hơn về bản chất của việc chuyển đổi giới tính

Trang 22

(4) Trên cơ sở những phân tích, đánh giá về lý luận và thực trạng vấn đề chuyển đổi giới tính ở Việt Nam, đề tài đã chỉ ra những tác động của việc chuyển đổi giới tính đến các quyền nhân thân của cá nhân, đến việc thực hiện các quy định pháp luật có liên quan như pháp luật hình sự, hành chính, … Trên cơ sở đó, đề tà đã đưa ra được những kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chuyển đổi giới tính

6 Kết cấu báo cáo tổng hợp của đề tài

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về chuyển đổi giới tính

Chương 2 Thực trạng và những hệ quả pháp lý của chuyển đổi giới tính ở Việt Nam

Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chuyển đổi giới tính

Trang 23

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH

1.1 Khái niệm, đặc điểm của chuyển đổi giới tính

1.1.1 Khái niệm chuyển đổi giới tính

Trong các dự án3 mà Bộ Y tế xây dựng và chúng tôi được tiếp cận, có nhiều vấn đề tranh luận xảy ra mà chưa có hồi kết giữa ban soạn thảo và những

cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (trong đó nhóm người thuộc cộng đồng LGBT là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp khi Dự án được chính thức thông qua) Vấn đề có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến hầu hết các nội dung của dự án đó là để được công nhận là người chuyển đổi giới tính thì việc can thiệp y học có bắt buộc không và ở mức độ nào Chúng tôi cho rằng, để đi đến kết luận cuối cùng cho vấn đề này, bảo đảm Luật Chuyển đổi giới tính được thông qua phù hợp với bản chất của chuyển đổi giới tính thì việc cần thiết là phải nhận diện một cách chính xác các khái niệm cơ bản như giới, giới tính, chuyển giới, đặc biệt là khái niệm chuyển đổi giới tính

Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, về bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Do đó, bất cứ ai sống trong xã hội đều có cần phải thông qua các mối quan hệ xã hội với người khác và môi trường xung quanh để tồn tại Mỗi con người đều có nhu cầu thể hiện mình, nhận biết mình để khẳng định vị thế của mình trong các mối quan hệ đó Trong đó, nhu cầu và mong muốn được biết mình là nam hay nữ, mình thực sự mong muốn là nam hay nữ

và mong muốn đó có phù hợp với cơ thể của mình khi sinh ra hay không cũng là những mong muốn khách quan và tồn tại cùng với sự tồn tại của mỗi con người Mong muốn đó ban đầu chỉ là của từng cá nhân riêng lẻ, dần dần trở thành mối quan tâm của nhiều nhóm cá nhân và của cả cộng đồng Những mong muốn này

có được thoả mãn hay không được thoả mãn, có được xã hội chấp nhận hay không được chấp nhận đều có những ảnh hưởng nhất định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân đó và của cả xã hội Ở thời kỳ đầu, khi chưa một quốc gia nào thừa nhận những giới tính khác ngoài nam và nữ thì đã tồn tại những mâu thuẫn xung quanh đòi hỏi của cộng đồng GLBT và nhà nước Ngay cả khi chưa

3

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi được tiếp cận với hai bản Dự án Luật chuyển đổi giới tính do Bộ Y

tế là cơ quan chủ trì: (1) Bản dự án ngày 28/12/2017 xin ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; (2) Bản dự án ngày 15/01/2018 sau khi tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp

Trang 24

chấp nhận những đòi hỏi của nhóm người này, thì các quốc gia cũng đều phải bắt tay vào nghiên cứu để có những lập luận phù hợp với sự phủ nhận của mình với nhu cầu và đòi hỏi của những người trong cộng đồng GLBT Chính vì vậy, các thuật ngữ giới, giới tính, chuyển giới và chuyển đổi giới tính không phải là những thuật ngữ mới xuất hiện mà đã được quan tâm nghiên cứu trước khi khi Việt Nam hay bất cứ quốc gia nào hợp pháp hoá việc chuyển đổi giới tính

Khái niệm “giới” muốn nói đến vai trò của giới nam và giới nữ về mặt xã hội, hành vi, các hoạt động và các đặc tính của mỗi một giới (sinh học, tâm lý,

xã hội)4 “Giới chỉ sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam và nữ, phản ánh đặc điểm quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến địa vị xã hội của nam giới và phụ nữ”5 Như vậy, các quan điểm đưa ra đều nhận định giới là nói đến vai trò, địa vị xã hội của nam giới và phụ nữ Ví dụ giới nam thường để tóc ngắn và giọng nói ồm - trầm, giới nữ thường để tóc dài và giọng nói trong - cao Theo đó, chỉ cần dựa vào những biểu hiện bên ngoài về mặt xã hội có thể xác định được một người thuộc giới nam hay giới nữ

Với những phân tích về khái niệm giới ở trên, muốn thay đổi (chuyển đổi) giới từ nam sang nữ hoặc từ nữ sang nam chỉ cần thay đổi những đặc điểm nhận dạng như vị trí, vai trò của cá nhân trong xã hội (thay đổi những đặc điểm bên ngoài) Tức là, chuyển giới là việc thay đổi những đặc điểm nhận dạng về vị trí, vai trò của cá nhân trong xã hội, điều này có thể khiến cho những người xung quanh nhận diện về giới của cá nhân người chuyển giới không phù hợp với giới tính sinh học của họ Ví dụ: nữ muốn chuyển giới thành nam thì chỉ cần cắt tóc ngắn, mặc đồ nam, thay đổi giọng nói và làm những việc mà nam giới thường làm; một người nam muốn chuyển giới thành nữ thì chỉ cần để tóc dài, mặc đồ

nữ, thay đổi giọng nói và làm những việc mà nữ giới thường làm Để đạt được điều này, người chuyển giới có thể cần hoặc không cần thực hiện những phẫu thuật y học mà có thể chỉ cần điều trị nội tiết tố sinh dục là đủ Theo đó, người chuyển giới được hiểu là người nhận dạng, mong muốn mình có giới tính khác với giới tính sinh học khi sinh ra, cơ thể không có gì khiếm khuyết về giới tính6

4 Nguyễn Minh Tuấn (2017), Chuyển đổi giới tính cho người bị đau khổ về giới, bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo

“Góp ý dự án Luật chuyển đổi giới tính”, TW Hội Luật gia Việt Nam và Vụ Pháp chế - Bộ Y tế phối hợp tổ chức ngày 29/12/2017

5

Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Tập bài giảng Luật Bình đẳng giới, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr.8

6 Trương Hồng Quang, Tìm hiểu quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính ở Việt Nam,

Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2017, tr 9

Trang 25

Khái niệm “giới tính” muốn nói đến những biểu lộ sinh học đặc trưng của một người (như nhiễm sắc thể, tuyến sinh dục, các bộ phận sinh dục trong và ngoài) là nam hay nữ7 Giới tính thể hiện những đặc điểm sinh học của nam và

nữ, có tính chất bẩm sinh, tự nhiên, sinh thành, biến đổi tuân theo quy luật sinh học, gắn liền với cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết đi8 Như vậy, để xác định giới tính của một người có thể phải dựa vào nhiều đặc điểm như nhiễm sắc thể,

bộ phận sinh dục Thời điểm xác định giới tính của một người là thời điểm cấp giấy chứng sinh9 Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 17/2012/TT-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2012 của Bộ Y tế về quy định cấp và sử dụng giấy chứng sinh, thẩm quyền cấp giấy chứng sinh thuộc về: Bệnh viện đa khoa có khoa sản; Bệnh viện chuyên khoa phụ sản, Bệnh viện sản - nhi; Nhà hộ sinh; Trạm y tế cấp xã; Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hợp pháp khác được phép cung cấp dịch vụ đỡ đẻ Một thực tế từ trước đến nay là khi trẻ mới được sinh ra, chúng ta thường chỉ dựa vào bộ phận sinh dục để xác định giới tính của trẻ (trừ khi trẻ được sinh ra mà có khuyết tật bẩm sinh về giới tính thì cần thông qua thủ tục xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật) Theo quy định tại khoản

1 Điều 2 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Chính

phủ về Xác định lại giới tính: “Khuyết tật bẩm sinh về giới tính là những bất

thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật” Như vậy, nếu trẻ được sinh ra mà không có bất thường ở bộ phận sinh dục thì mặc nhiên được hiểu là không có khuyết tật bẩm sinh về giới tính và có thể xác định chính xác giới tính của trẻ là nam hay nữ

Về khái niệm chuyển đổi giới tính, hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác trái chiều, nhưng tựu chung lại có hai nhóm quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng “Chuyển đổi giới tính là phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục ngoài, trong và điều trị hormon sinh dục thay thế”10

Theo

7 Nguyễn Minh Tuấn (2017), Chuyển đổi giới tính cho người bị đau khổ về giới, bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo

“Góp ý dự án Luật chuyển đổi giới tính”, TW Hội Luật gia Việt Nam và Vụ Pháp chế - Bộ Y tế phối hợp tổ chức ngày 29/12/2017

8

Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Tập bài giảng Luật Bình đẳng giới, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr.5

9 Theo quy định tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư số 17/2012/TT-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2012 của Bộ Y tế về quy định cấp và sử dụng giấy chứng sinh Phụ lục này hướng dẫn cách ghi giấy chứng sinh, trong

đó một trong những nội dung phải ghi trong giấy chứng sinh đó là giới tính của trẻ

10

Nguyễn Minh Tuấn (2017), Chuyển đổi giới tính cho người bị đau khổ về giới, bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo

“Góp ý dự án Luật chuyển đổi giới tính”, TW Hội Luật gia Việt Nam và Vụ Pháp chế - Bộ Y tế phối hợp tổ chức ngày 29/12/2017

Trang 26

quan điểm này, việc chuyển đổi giới tính chỉ được thừa nhận đối với những người thực hiện việc phẫu thuật thay đổi bộ phận sinh dục trong và ngoài, tức là

sự can thiệp y học để chuyển đổi giới tính phải được thực hiện một cách toàn diện chứ không chỉ dừng lại ở việc phẫu thuật một trong các bộ phận cơ thể

Cùng quan điểm này, tác giả Lê Diệu Linh cho rằng: “Chuyển đổi giới tính (hay còn gọi phẫu thuật chuyển giới) là khái niệm dùng để chỉ những thủ tục y khoa

để thay đổi giới tính của một người, trong đó bao gồm những công đoạn như phẫu thuật bộ phận sinh dục, tiêm hoóc-môn, phẫu thuật chỉnh hình… ”11 Như vậy, mặc dù tác giả bài viết không chỉ ra cụ thể việc phẫu thuật bộ phận sinh dục

có toàn diện (cả trong lẫn ngoài) hay không nhưng dựa trên cụm từ “những thủ tục y khoa để thay đổi giới tính của một người, …” có thể hiểu rằng tác giả không loại trừ bất cứ sự can thiệp y học nào trong quá trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Chuyển đổi giới tính là chỉ những thủ tục y khoa dùng để thay đổi giới tính của một người trong đó có thể bao gồm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay không”12 Theo quan điểm này, chuyển đổi giới tính không nhất thiết trải qua quá trình phẫu thuật y học, tức là việc phẫu thuật

bộ phận sinh dục là không đặt ra Không trực tiếp đưa ra khái niệm chuyển đổi giới tính, tuy nhiên tác giả Phạm Quỳnh Phương cũng cho rằng: “Người chuyển đổi giới tính là những người có bản dạng giới13

khác với giới tính sinh học bẩm sinh Thông thường những người chuyển giới sẽ thay đổi hay muốn thay đổi cơ thể của mình bằng cách dùng liệu pháp hooc-mon, đi phẫu thuật, hay dùng các phương pháp khác để có thể có một cơ thể giống nhất với giới tính mà họ muốn Quá trình chuyển đổi thông qua các can thiệp về ý học như vậy thường được gọi

là quá trình chuyển đổi giới tính”14 Theo tác giả, chỉ cần thực hiện một trong các biện pháp như tiêm hooc-mon, phẫu thuật hoặc các phương pháp khác khiến cho cơ thể giống với giới tính mà họ muốn là đã được coi là quá trình chuyển

11

Lê Diệu Linh (2016), Luật hóa quyền chuyển đổi giới tính, bài viết đăng trên website: http://vksnd.vinhphuc.gov.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/conte nt/tintuc/lists/News&ItemID=30735 (truy cập ngày 10/01/2018)

12 c62d11217.aspx (truy cập ngày 10/01/2018)

https://vietadsgroup.vn/hoi-dap-la-gi-/chuyen-doi-gioi-tinh-la-gi-tim-hieu-ve-chuyen-doi-gioi-tinh-la-gi 13 Theo tác giả Trương Hồng Quang, “Bản dạng giới chỉ việc một người nhận dạng mình có giới tính nào (có thể

giống hoặc khác với giới tính sinh học khi sinh ra)” – Xem Trương Hồng Quang, Tìm hiểu quyền của người

đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2017, tr

9

14 Phạm Quỳnh Phương (2014), Người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam - Tổng luận các nghiên

cứu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.28

Trang 27

đổi giới tính Tức là quá trình này có thể thông qua việc phẫu thuật hoặc các phương pháp khác

Như vậy, sự khác biệt lớn nhất giữa hai quan điểm này là việc phẫu thuật thay đổi bộ phận sinh dục của người chuyển đổi giới tính là bắt buộc hay không bắt buộc Đây cũng là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất khi Bộ Y

tế tổ chức xin ý kiến thẩm định của các cơ quan, tổ chức và người dân Theo những phân tích về về khái niệm, thời điểm ghi nhận giới tính của một cá nhân, chúng tôi cho rằng muốn chuyển đổi giới tính của một cá nhân đã hoàn thiện về giới tính thì nhất định phải thay đổi bộ phận sinh dục Việc thay đổi bộ phận sinh dục chỉ có thể thực hiện được thông qua các phẫu thuật thay đổi bộ phận sinh dục của người muốn chuyển đổi giới tính Trên cơ sở nhận định này, chúng tôi ủng hộ những người theo quan điểm thứ nhất về thuật ngữ chuyển đổi giới tính như đã nói ở trên

Trong Dự án Luật Chuyển đổi giới tính, khái niệm chuyển đổi giới tính được xác định là quá trình thực hiện can thiệp y học để chuyển đổi giới tính của một người đã có giới tính sinh học hoàn thiện phù hợp với nhận diện giới của họ”15 Khái niệm này cũng thống nhất với nhận định trong quan điểm thứ nhất được trích dẫn ở trên Tuy nhiên, khái niệm chuyển đổi giới tính trong Dự án Luật Chuyển đổi giới tính có thể dẫn đến các cách hiểu khác nhau về chuyển đổi

giới tính: (i) Cách hiểu thứ nhất, việc chuyển đổi giới tính được áp dụng với

“người đã có giới tính sinh học hoàn thiện phù hợp với nhận diện giới của họ”;

(ii) Cách hiểu thứ hai, việc chuyển đổi giới tính được thực hiện đối với “người

đã có giới tính sinh học hoàn thiện” nhằm phù hợp với “nhận diện giới của họ” Theo quan điểm của chúng tôi, trước khi thực hiện việc chuyển đổi giới tính, nhận diện giới của người chuyển đổi giới tính trái ngược với giới tính sinh học của họ (kết cấu cơ thể và bộ phận sinh dục của nam nhưng lại cho rằng mình là

nữ và ngược lại) Đây cũng là một trong các điều kiện của cá nhân đề nghị điều trị nội tiết tố sinh dục để chuyển đổi giới tính mà khoản 2 Điều 7 Dự án đã đề cập16 Do đó, việc chuyển đổi giới tính để nhằm thay đổi giới tính sinh học học

đã hoàn thiện ở giới tính này sang giới tính khác phù hợp với nhận diện giới của người chuyển đổi giới tính Theo đó, chúng tôi cho rằng cách hiểu thứ hai là phù hợp, nhưng để bảo đảm thống nhất cách hiểu về chuyển đổi giới tính, chúng tôi

15 Bộ Y tế, Dự án Luật Chuyển đổi giới tính (bản ra ngày 15/01/2018), Điều 2 khoản 1

16 Xem khoản 2 Điều 7 Dự án Luật Chuyển đổi giới tính (bản ra ngày 15/01/2018)

Trang 28

cho rằng, khái niệm chuyển đổi giới tính phải được hiểu như sau: “Chuyển đổi giới tính là quá trình thực hiện can thiệp y học để chuyển đổi giới tính của một người đã có giới tính sinh học hoàn thiện sang giới tính khác phù hợp với nhận diện giới của họ” Quá trình can thiệp y học để chuyển đổi giới tính không chỉ là

quá trình phẫu thuật nhằm thay đổi bộ phận sinh dục của người chuyển đổi giới tính mà phải là toàn bộ quá trình từ điều trị nội tiết tố sinh dục đến phẫu thuật ngực, phẫu thuật bộ phận sinh dục để thay đổi giới tính khác với giới tính sinh học hoàn thiện

1.1.2 Đặc điểm của chuyển đổi giới tính

Trên cơ sở những phân tích trong phần khái niệm và việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến chuyển đổi giới tính, có thể nhận thấy một số đặc điểm của chuyển đổi giới tính như sau:

Thứ nhất, chuyển đổi giới tính là một quá trình, bao gồm cả các thủ thuật

y học và thủ tục pháp lý để công nhận sự thay đổi về giới tính của một cá nhân

Trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được thông qua, hoạt động chuyển đổi giới tính đã được thực hiện bởi nhiều cá nhân, bao gồm cả những người nổi tiếng như ca sĩ Hương Giang, Lâm Chí Khanh Trong đó, các cuộc phẫu thuật đều được diễn ra tại các quốc gia mà việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính đã trở nên khá phổ biến, ví dụ như Thái Lan Tuy nhiên, tất cả những người thực hiện việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính ở nước ngoài đều không được công nhận giới tính mới khi trở về Việt Nam khi chưa có quy định cụ thể Mong muốn lớn nhất của những người thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính là được công nhận giới tính mới về mặt pháp lý Việc công nhận này phải thông qua thủ tục pháp lý bắt buộc theo quy định của luật Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Dân

sự năm 2015, cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch Theo quy định này, việc đăng

ký thay đổi hộ tịch, đặc biệt là thay đổi giới tính về mặt pháp lý vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của người chuyển đổi giới tính Tức là bản thân người đã chuyển đổi giới tính có quyền quyết định đăng ký thay đổi hộ tịch hay không Song, theo quy định này, nếu không đăng ký thay đổi hộ tịch thì sẽ không được công nhận về mặt pháp lý đối với giới tính mới đã chuyển Cũng theo Dự án Luật Chuyển đổi giới tính ngày 15/01/2018, sau khi đã thực hiện việc can thiệp

y học để chuyển đổi giới tính, nếu muốn được công nhận đã can thiệp y học để

Trang 29

chuyển đổi giới tính thì người đề nghị công nhận phải nộp Đơn đề nghị cấp Giấy công nhận đã can thiệp y học để chuyển đổi giới tính17

Như vậy, với những phân tích trên có thể thấy, để được công nhận là người chuyển đổi giới tính, công nhận giới tính mới sau khi chuyển thì cá nhân người chuyển đổi giới tính phải trải qua quá trình từ can thiệp y học đến thủ tục pháp lý để công nhận

Thứ hai, hoạt động chuyển đổi giới tính là là hoạt động được thực hiện

dựa trên những điều kiện nhất định

Cho đến thời điểm hiện nay, Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về các điều kiện của người chuyển đổi giới tính mà chỉ khẳng định

“Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật” Điều này cũng đồng nghĩa với việc cho đến nay, việc chuyển đổi giới tính mới chỉ có giá trị trên giấy tờ chứ chưa được hiện thực hoá Chỉ khi nào Luật chuyển đổi giới tính có hiệu lực pháp luật thì việc hợp pháp hoá vấn đề chuyển đổi giới tính mới thực sự có ý nghĩa thực tiễn

Về các điều kiện của người thực hiện việc chuyển đổi giới tính, Điều 7 và

8 Dự án Luật Chuyển đổi giới tính xác định nhiều điều kiện khác nhau, trong đó

có những điều kiện cơ bản Theo đó, những người đã có giới tính sinh học chưa hoàn thiện (ví dụ người có khuyết tật về giới tính hoặc chưa định hình chính xác) thì thông qua sự can thiệp y học để xác định lại giới tính chứ không thực hiện việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính Những người chưa đủ 18 tuổi cũng không được chuyển đổi giới tính bởi vì nhận thức của họ chưa phát triển hoàn thiện nên họ chưa thể nhận biết được hết các hệ quả của việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính, khiến cho việc lựa chọn của họ có thể sai lầm, ảnh hưởng đến đời sống sau này Dự án Luật Chuyển đổi giới tính cũng xác định những điều kiện khác như người chuyển đổi giới tính phải là người độc thân, có nhận diện giới khác với giới tính sinh học của mình, có đủ sức khoẻ, … Tất cả những điều kiện này đều phải được tuân thủ nghiêm ngặt, bảo đảm việc áp dụng có hiệu quả các quy định về chuyển đổi giới tính, tránh việc lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện những hoạt động phi pháp

17 Xem Điều 18, 19 Dự án Luật Chuyển đổi giới tính (Bảncông bố ngày 15/01/2018)

Trang 30

Thứ ba, việc chuyển đổi giới tính phải được thực hiện bởi các tổ chức y tế

được cấp phép và cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính và việc đăng ký thay đổi hộ tịch sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều vấn đề như: sức khoẻ của người xin chuyển đổi giới tính, quyền và nghĩa vụ của người chuyển đổi giới tính, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, lợi ích công cộng Do đó, việc can thiệp chuyển đổi giới tính phải được thực hiện tại các tổ chức y tế có đủ năng lực và được cấp phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời việc thay đổi hộ tịch cũng phải được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều này có nghĩa rằng việc cá nhân tự thực hiện các biện pháp can thiệp y học tại các cơ sở không được cấp phép sẽ không được chấp nhận và không được công nhận là người đã can thiệp y học để chuyển đổi giới tính

Thứ tư, giới tính được chuyển chỉ có thể là nam hoặc nữ

Cho đến thời điểm hiện nay, pháp luật về hộ tịch của Việt Nam chỉ thừa nhận hai giới tính là nam và nữ18 Do đó, người đã hoàn thiện về giới tính được xác định ở thời điểm được cấp giấy chứng sinh là nam hoặc nữ thì khi thực hiện việc chuyển đổi giới tính cũng chỉ có thể là giớ tính nữ hoặc nam (tức là từ nam chuyển sang nữ hoặc từ nữa chuyển sang nam) Người có mong muốn chuyển đổi giới tính không thể thông qua việc can thiệp y học để phẫu thuật bộ phận sinh dục không phù hợp với một trong hai giới tính đó Trên thực tế, có nhiều trường hợp một cá nhân thông qua phẫu thuật y học để chuyển đổi giới tính nhưng lại có những dấu hiệu thể hiện cả giới tính nam và giới tính nữ (ví dụ có

cả tinh hoàn và âm đạo, có cả buống trứng và ương vật, …) Dưới góc độ khoa học, những người này được xác định là liên giới tính – người có cả đặc điểm sinh học của giới nam và nữ, không thể xác định được là nam giới hay nữ giới19 Dưới góc độ pháp lý, những người này sẽ không được công nhận giới tính mới sau khi phẫu thuật Mặc dù ở thời điểm hiện nay, pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, nhưng Dự án Luật Chuyển đổi giới tính ngày 15/01/2018 đã xác định các hình thức chuyển đổi giới tính và cho phép thay đổi

18 Xem Phụ lục số 04 (Ban hành kèm theo Thông tư số 17/2012/TT-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

19 Trương Hồng Quang, Tìm hiểu quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính ở Việt Nam,

Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2017, tr.10

Trang 31

hộ tịch tại Điều 6 Khi Luật này được thông qua và có hiệu lực, những quy định này sẽ được áp dụng một cách triệt để với mọi trường hợp

Thứ năm, chuyển đổi giới tính là vấn đề mang tính toàn cầu

Ở thời điểm tháng 11 năm 2015, Việt Nam là quốc gia thứ 62 hợp pháp hoá chuyển đổi giới tính Tuy nhiên, tính đến tháng 10 năm 2017, đã có 71 quốc gia hợp pháp hoá vấn đề chuyển đổi giới tính20 Với con số này có thể thấy, chuyển đổi giới tính không còn là vấn đề diễn ra ở một quốc gia hoặc một khu vực mà nó có tính phổ biến trên toàn thế giới hiện nay Có thể con người ta không cùng sinh ra và lớn lên ở một môi trường, nhưng những nhu cầu khách quan và đỏi hỏi bên trong cơ thể của con người thì ở đâu cũng như vậy Có thể

sự gia tăng số lượng những người có mong muốn chuyển đổi giới tính ở các quốc gia phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng họ đều có một điểm chung là mong muốn được sống đúng với nhận diện giới của mình và được thay đổi cơ thể phù hợp với nhận diện đó Trong tương lai, chắc chắn con số các quốc gia hợp pháp hoá chuyển đổi giới tính sẽ có tăng lên nhanh chóng, bởi vì chuyển đổi giới tính để được sống đúng với giới tính mong muốn là nhu cầu khách quan và hoàn toàn tự nhiên của con người Việc lựa chọn giới tính phù hợp với mong muốn là một quyền năng tất yếu, mỗi người luôn cần làm chủ bản thân mình bằng cách tự quyết định những yếu tố không thể tách rời khỏi con người mình và giới tính là một trong những yếu tố như vậy21

Thứ sáu, chuyển đổi giới tính mang bản chất của quyền con người

Dưới góc độ tự nhiên nhất, đã là con người thì có các quyền22

Tức là quyền con người là khái niệm để chỉ những quyền có thuộc tính tự nhiên nhất, xuất phát từ những nhu cầu, đòi hỏi khách quan bên trong của mỗi con người mà không ai có thể phủ nhận Đó là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì23 Tại Điều 14 Hiến pháp năm

2013 cũng ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được

20 Viện nghiên cứu Xã hội – Kinh tế và Môi trường, Có bao nhiêu nước hợp pháp hoá chuyển đổi giới tính,

(nguồn: Equaldex, cập nhật 2017)

21 Đỗ Văn Đại và Ngô Thị Vân Anh, Điều kiện và hệ quả của chuyển đổi giới tính trong pháp luật Việt Nam,

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2016, tr 17-26

22 Lã Khánh Tùng – Vũ Công Giao, Về các quyền dân sự chính trị cơ bản, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2015, tr 15

23 Lã Khánh Tùng – Vũ Công Giao, Về các quyền dân sự chính trị cơ bản, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2015, tr 16

Trang 32

công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Theo đó,

cả quyền cong người và quyền công dân đều được công nhận, tôn trọng, bảo vệ

và bảo đảm Tuy nhiên, có những khác biệt cơ bản giữa quyền con người và quyền công dân Quyền con người là quyền tự nhiên, sinh ra đã có và không phụ thuộc vào sự thừa nhận của nhà nước Quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình24

Chuyển đổi giới tính là nhu cầu xuất phát từ bản thân những người có cảm nhận giới tính sinh học hiện có không phù hợp với giới tính mình mong muốn Khi cơ thể phát triển đến một mức độ nhất định, nhận thức được sự khác biệt đó thì họ đã có mong muốn chuyển đổi giới tính bất kể mong muốn đó đã được nhà nước thừa nhận hay chưa Giới tính của một người khi được sinh ra hoàn toàn mang tính bẩm sinh mà chính bản thân họ không thể lựa chọn Do đó, khi đã cảm nhận sự khác biệt về giới tính của mình thì mong muốn thay đổi giới tính cũng là mong muốn mang tính bẩm sinh Xét ở các góc độ khác nhau, mong muốn này chính là quyền con người

1.2 Bản chất của chuyển đổi giới tính

Trong lịch sử xã hội loài người, ở mỗi một giai đoạn khác nhau, con người ta được sinh ra và được hưởng thụ những giá trị tinh thần và vật chất khác nhau Nhưng có một điểm chung của con người trong các giai đoạn phát triển đó

là con người được sinh ra trong xã hội nào cũng đều có những nhu cầu cơ bản

Từ những nhu cầu thiết yếu nhất như ăn, mặc, ở cho đến những nhu cầu cao hơn

về kinh tế, chính trị, xã hội, thậm chí là nhu cầu thay đổi bản thân cho phù hợp với cuộc sống… Đây là những nhu cầu khách quan gắn với sự tồn tại, phát triển tất yếu của con người và xã hội “Các nhu cầu khách quan của con người tạo ra quyền con người Một nhu cầu cơ bản của con người, về logic, sẽ tạo ra một quyền”25 Như vậy, về bản chất, quyền con người không phải là ý chí chủ quan của một giai cấp, một tầng lớp hay một con người cụ thể, mà nó là quyền tự nhiên và được hình thành một cách khách quan ngay từ khi con người được sinh

ra Ở mỗi một thời kì lịch sử khác nhau, mỗi một quốc gia khác nhau, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ ở các mức độ và phạm vi khác nhau Trong xã hội ngày nay, vấn đề bảo vệ quyền con người ngày càng được quan tâm sâu sắc

24

Lã Khánh Tùng – Vũ Công Giao, Về các quyền dân sự chính trị cơ bản, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2015, tr 20

25 Viện khoa học xã hội Việt Nam, Quyền con người - tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, GS.TS Võ

Khánh Vinh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010, tr.12;

Trang 33

và nó giống như một cuộc cách mạng đang hàng ngày được tiến hành ở mỗi Châu lục, mỗi quốc gia, mỗi tầng lớp, … khác nhau Việc bảo vệ quyền con người được thực hiện bằng nhiều công cụ khác nhau, mà một trong những công

cụ có tính hiện thực nhất đó là công cụ pháp lý Tức là “để thực hiện quyền con người ở nghĩa tự nhiên cần phải thể chế hóa quyền đó thành các quyền pháp lý”26 Điều này có nghĩa rằng, việc pháp luật các quốc gia ghi nhận cho cá nhân được hưởng các quyền cơ bản không phải là nguồn gốc làm phát sinh quyền của

cá nhân mà đó chỉ là việc quốc gia đó tạo ra công cụ pháp lý để bảo vệ quyền con người

Như vậy, với những phân tích ở trên có thể hiểu, quyền con người xuất hiện trước khi có nhà nước và pháp luật Ở thời kỳ sơ khai, quyền con người được hiểu là những nhu cầu cơ bản như ăn, mặc ở - những nhu cầu thiết yếu cho

sự tồn tại của con người Trong hành trình dài khám phá và chinh phục tự nhiên, nhận thức của con người dần dần được thay đổi Kéo theo sự thay đổi về nhận thức là sự gia tăng ngày càng nhiều các nhu cầu Các nhu cầu của con người không chỉ dừng lại ở mức cơ bản mà tăng dần theo sự phát triển của nhận thức Chỉ khi con người nhận thức được các nhu cầu của mình, con người mới thực sự tồn tại trong thế giới vật chất Sự gia tăng của các nhu cầu hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức của con người, bất kể các nhu cầu đó có được đáp ứng hay không

Chuyển đổi giới tính có phải là một nhu cầu khách quan?

Chuyển đổi giới tính và việc được công nhận giới tính mới đúng với mong muốn là một nhu cầu cơ bản của cộng đồng người chuyển giới ở Việt Nam cũng như trên thế giới Trước khi Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự năm

2015 (trong đó Điều 37 ghi nhận việc chuyển đổi giới tính) thì việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính đã được nhiều cá nhân người chuyển giới thực hiện trên thực tế và được ghi nhận trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian qua

Có thể thấy, nhu cầu được công nhận, có quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính của người chuyển giới Việt Nam là có thật Khá nhiều ý kiến đề nghị công nhận quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính là một quyền nhân thân của người chuyển giới Nếu không công nhận quyền này, nhiều người chuyển giới sẽ dễ rơi vào

26 Viện khoa học xã hội Việt Nam, Quyền con người - tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, GS.TS Võ

Khánh Vinh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010, tr.14;

Trang 34

tình trạng hình thể dễ đổi còn hộ tịch khó thay27 Như vậy, nhu cầu được sống

đúng với giới tính mong muốn cho dù giới tính sinh học hiện tại không phù hợp với giới tính mong muốn là nhu cầu của những người chuyển giới và nhu cầu này là nhu cầu tự nhiên, tồn tại trước khi được hợp pháp hoá

Về số liệu thực tế, Theo TS Nguyễn Huy Quang, Vụ trưởng Vụ Pháp chế,

Bộ Y tế, qua một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người chuyển giới chiếm khoảng 0,3-0,5% dân số Tại Việt Nam có khoảng 300.000 người mong muốn chuyển giới nhưng hầu hết thường phải ra nước ngoài phẫu thuật28 Đồng thời, nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) cho thấy 78% người chuyển giới muốn phẫu thuật chuyển giới, nghĩa là cứ 5 người chuyển giới thì sẽ có khoảng 4 người có nhu cầu muốn phẫu thuật chuyển đổi giới tính

Số còn lại không muốn vì các lý do: pháp luật chưa cho phép 51,9%, điều kiện kinh tế chưa đủ 79,6%; sợ bị ảnh hưởng sức khỏe 38,5%; sợ bị kỳ thị 17,0%; gia đình không cho phép 42,7%29 Như vậy, rõ ràng mong muốn được phẫu thuật chuyển đổi giới tính là mong muốn của đa số những người trong cộng đồng người chuyển giới Dự trên số liệu thống kê về lý do mà những người không muốn phẫu thuật chuyển giới đưa ra, theo quan điểm của chúng tôi những lý do

đó không xuất phát từ bản dạng giới của họ30

, mà thực chất đây là những rào cản khách quan đối với việc thực hiện mong muốn của họ Tức là về thực chất, họ cũng có nhu cầu chuyển đổi giới tính, nhưng nhu cầu của họ bị ngăn cản bởi các yếu tố khách quan

Khi rào cản khách quan đó được xoá bỏ, họ hoàn toàn có thể thoả mãn nhu cầu của mình Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã hợp pháp hoá chuyển đổi giới tính thì con số “51,9% không muốn phẫu thuật chuyển đổi giới tính vì pháp luật chưa cho phép” đương hiên biến mất, tức là con số 51,9% số người không muốn trước đây lại trở thành những người có mong muốn phẫu thuật chuyển đổi giới tính Theo quan điểm của chúng tôi, rào cản khó khăn nhất là rào cản pháp

27 Trương Hồng Quang, Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp

luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2014, tr 201

28 https://baomoi.com/viet-nam-co-khoang-300-000-nguoi-mong-muon-chuyen-gioi/c/23984849.epi (truy cập ngày 25/02/2018)

29 https://baomoi.com/luat-chuyen-doi-gioi-tinh-de-khong-la-cua-hep-toi-hanh-phuc/c/24007162.epi (truy cập ngày 25/02/2018)

30 Thực tế, không có người chuyển giới nào lại có mong muốn sống với giới tính sinh học khác với giới tính mình mong muốn khi không có bất cứ rào cản khách quan nào đối với việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính Không có một người nào tự nhận thấy mình là phụ nữ mà lại mong muốn sống với thân hình nam giới và ngược lại

Trang 35

lý đã được xoá bỏ thì trong tương lai, các rào cản khách quan khác cũng sẽ dần dần biến mất Cụ thể, khi các chi phí phẫu thuật chuyển đổi giới tính giảm xuống mức có thể chấp nhận được, khi trình độ y học của con người được nâng cao đến mức có thể bảo đảm được sức khoẻ của những người chuyển đổi giới tính, khi xã hội không còn kỳ thị và gia đình không phản đối thì tất cả các con số

đã trích dẫn ở trên sẽ tự động biến mất Khi đó, tất cả những người có nhu cầu phẫu thuật chuyển đổi giới tính đều có thể thực hiện mong muốn này

Trên cơ sở những phân tích và những số liệu được trích dẫn ở trên có thể thấy, chuyển đổi giới tính là là nhu cầu, mong muốn bên trong của những người chuyển giới Dù có thể thực hiện hay không thực hiện việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính, dù có những rào cản khách quan thì những nhu cầu này vẫn tồn tại trong bản thân mỗi người chuyển giới Cho dù có thể hoặc không thể thực hiện việc chuyển đổi giới tính thì bản thân người chuyển giới luôn mong muốn được sống với giới tính phù hợp với bản dạng giới của họ Đây là nhu cầu chủ quan nhưng lại phát sinh và tồn tại một cách khách quan bất kể trình độ học vấn ở mức độ nào, bất kể luật cấm hay cho phép, bất kể xã hội có kỳ thị hay không Sự thừa nhận hay không thừa nhận của xã hội không phải là yếu tố làm xuất hiện hoặc biến mất nhu cầu của người chuyển giới Nhu cầu này hoàn toàn là nhu cầu

tự nhiên, và ở thời điểm ban đầu khi nhu cầu đó được bộc lộ ra bên ngoài, xã hội chưa chấp nhận được ngay mà phải trải qua một quá trình nhận thức, nhu cầu của những người chuyển giới mới dần được thừa nhận31 ở các quốc gia

Trước đây, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (DSM) xem chuyển giới là

một dạng rối loạn định dạng giới (“gender identity disorder” - tức là một dạng

rối loạn tâm thần), vì thế thường áp dụng các liệu pháp điều trị tâm lý và môn Phẫu thuật chuyển giới chỉ được coi là cách thức cuối cùng, việc thay đổi giới tính trên giấy tờ pháp lý rất khó khăn Tuy nhiên, chuyển giới thực chất không phải là một dạng rối loạn tâm thần, vì chỉ có thể coi là rối loạn tâm thần

hoóc-31

Việc xã hội kỳ thị và chưa thể chấp nhận những người phẫu thuật chuyển đổi giới tính là vấn đề dễ hiểu Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, khi nhận thức của con người được nâng cao, khi đã quen với sự xuất hiện của những người chuyển đổi giới tính trong xã hội, thì sự kỳ thị sẽ dẫn được xoá bỏ Cũng giống như trước đây, việc phụ nữ không có chồng mà có chửa thì sẽ bị coi là chửa hoang và phải gánh chịu những hình thức xử phạt nặng nề theo quy định của pháp luật và phong tục, tập quán ở địa phương Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, pháp luật không có bất cứ quy định nào buộc phụ nữ không có chồng mà mang thai phải gánh chịu hình thức xử phạt, đồng thời xã hội cũng đã chấp nhận những trường hợp xảy ra trên thực tế Thậm chí, việc phụ nữ có thai (bất kể

có chồng hay không có chồng) là lại yếu tố khiến cho họ có thể được hưởng những ưu đãi hơn người khác Ví dụ như không bị áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định tại khoản 4 Điều 119 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm

2015, được hoãn chấp hành hình phạt tù theo điểm b khoản 1 Điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015 và không bị thi hành án tử hình theo điểm a khoản Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015

Trang 36

khi một người rơi vào hoàn cảnh đau khổ, bất lực rõ rệt và lâu dài, trong khi

nhiều người chuyển giới không trải qua những trải nghiệm như vậy Từ phát

hiện đó, năm 2012, chuyển giới được loại ra khỏi danh sách các dạng rối loạn

tâm thần của DSM, có nghĩa là được xem là một tình trạng tâm lý bình thường

DSM đồng thời kêu gọi cộng đồng hỗ trợ và chấp nhận người chuyển giới để họ

có thể tự do thể hiện bản dạng giới của mình và giảm thiểu kỳ thị Sau đó, nhiều

quốc gia khác cũng không coi chuyển giới là một dạng rối loạn tâm thần mà xác

định là một nhận dạng giới tự nhiên của con người Kết quả là quyền chuyển

giới và phẫu thuật chuyển đổi giới tính đã được gỡ bỏ các rào cản về nhận thức

và được hiện thực hoá về mặt pháp lý ở nhiều quốc gia32 Điều này càng chứng

tỏ nhu cầu chuyển đổi giới tính là nhu cầu hoàn toàn tự nhiên và khách quan của

những người chuyển giới Theo những phân tích ở trên có thể khẳng định nhu

cầu khách quan về việc chuyển đổi giới tính đã tạo ra quyền con người của

nhóm người chuyển giới trong xã hội

Chuyển đổi giới tính có phải là một quyền nhân thân?

Một trong những thay đổi có tính đột phá khi Quốc hội thông qua Bộ luật

Dân sự năm 2015 đó là đã hợp pháp hoá vấn đề chuyển đổi giới tính Theo đó,

tại Điều 37 quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định

của luật Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi

hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với

giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên

quan” Theo kết cấu, Điều 37 thuộc Mục 2 Chương 3 phần Những quy định

chung Tên gọi của Mục 2 là “Quyền nhân thân”, bao gồm 15 Điều, từ Điều 25

đến Điều 39 Trong đó, Điều 25 quy định khái quát về quyền nhân thân, các

Điều luật còn lại (trừ Điều 37) đều được gắn chữ “quyền” vào tên gọi của Điều

luật

Sự khác biệt trong cách đặt tên cho Điều 37 khiến cho Điều luật này trở

thành một dị biệt so với các Điều luật khác trong Mục 2 Đã có những ý kiến trái

triều nhau liên quan đến việc trả lời câu hỏi vậy “chuyển đổi giới tính” có phải

là quyền của cá nhân (cụ thể là một trong các quyền nhân thân của cá nhân hay

không)?

32

Trích báo cáo của Bộ Y tế năm 2017 về “Thực trạng về người có mong muốn chuyển đổi giới tính

(người chuyển giới) tại Việt Nam và hệ thống pháp luật có liên quan” (đăng trên trang thông tin điện tử của Bộ

Y tế)

Trang 37

Luồng ý kiến thứ nhất33 cho rằng, chuyển đổi giới tính không phải là nhu cầu và cũng không phải là quyền của tất cả mọi người mà chỉ dành cho những người thoả mãn những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật Chính vì vậy, việc sử dụng từ “quyền” để gắn vào cụm từ “chuyển đổi giới tính” là không phù hợp Bởi vì nếu tên gọi của Điều 37 là “Quyền chuyển đổi giới tính” thì phải xác định đó là quyền của tất cả mọi người, và bất cứ ai cũng có thể thực hiện việc chuyển đổi giới tính

Luồng ý kiến thứ hai khẳng định chuyển đổi giới tính là một trong những quyền nhân thân của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 201534 Chúng tôi đồng tình với luồng ý kiến này bởi vì:

(i) Trước hết, theo những phân tích ở trên thì chuyển đổi giới tính là nhu cầu khách quan của nhóm người chuyển giới Chính từ những nhu cầu khách quan này mà hình thành nên quyền con người cơ bản Dưới góc độ quyền con người, cá nhân có quyền được sống, trong đó bao hàm quyền được sống là chính mình, có quyền quyết định đối với cơ thể, hình hài của mình35 Quyền chuyển đổi giới tính là một quyền mới của công dân được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi

nhận Đây là quyền con người, xuất xứ từ các căn cứ nhất định: Thứ nhất, cá nhân có quyền sống với giới tính thật của mình; Thứ hai, giới tính của cá nhân

không chỉ được xác định trong giấy tờ về hộ tịch mà còn phải bảo đảm các đặc điểm sinh học của giới (đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả mối

quan hệ xã hội); Thứ ba, đó là cơ sở pháp lý để cá nhân thực hiện các quyền do

luật định phù hợp với giới tính thật của mình36

(ii) Nếu theo luồng ý kiến thứ nhất khẳng định “vì chuyển đổi giới tính không phải là nhu cầu của tất cả mọi người và không phải ai cũng có quyền chuyển đổi giới tính nên không sử dụng từ quyền khi đề cập đến chuyển đổi giới

33 Đây là ý kiến chúng tôi tiếp thu được thông qua một số buổi Hội thảo và Toạ đàm khoa học, trong đó có Toạ

đàm khoa học “Trao đổi các nội dung mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 với các thành viên tổ biên tập” của

Khoa Pháp luật Dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, tổ chức ngày 04, 05/01/2017 Những ý kiến này được thể hiện khi thảo luận trực tiếp nên chúng tôi chỉ mô tả lại luồng ý kiến này mà không thể dẫn nguồn

34 Lê Thị Giang, Quyền chuyển đổi giới tính – quyền nhân thân trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Kiểm

36

TS Nguyễn Văn Tiến (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh), Quyền chuyển đổi giới tính là quyền con người, Báo Pháp luật online, đăng ngày 04/02/2017 (truy cập ngày 25/02/2018 tại website: http://plo.vn/phap-luat/quyen-chuyen-doi-gioi-tinh-la-quyen-con-nguoi-680282.html)

Trang 38

tính” thì có nhiều vấn đề cần phải bàn luận liên quan đến các quyền nhân thân khác của cá nhân trong Bộ luật Dân sự như:

Một, không phải bất cứ cá nhân nào cũng có nhu cầu thực hiện tất cả các

quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự Do đó, nếu lý giải rằng vì không phải mọi người đều có nhu cầu chuyển đổi giới tính nên từ “quyền” là không phù hợp, thì chúng ta giải thích thế nào khi vấn đề xác định lại giới tính, vấn đề hiến, nhận mô tạng cơ thể người và hiến, lấy xác, vấn đề thay đổi họ tên, vấn đề xác định dân tộc … đều không phải là nhu cầu chung của tất cả mọi người mà vẫn có từ “quyền”?37

Hai, trong Bộ luật Dân sự, một số quyền nhân thân cũng không dành cho

tất cả mọi người (tức là có những quyền mà không phải ai cũng có thể thực hiện) Ví dụ như: Quyền xác định lại giới tính tại Điều 36 Bộ luật Dân sự năm

2015 chỉ được thực hiện đối với người có giới tính bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác Những người đã có giới tính hoàn chỉnh thì không bao giờ được thực hiện quyền này và bản thân họ cũng không có nhu cầu thực hiện quyền này Như vậy, rõ ràng là không phải ai cũng có thể thực hiện việc xác định lại giới tính nhưng việc xác định lại giới tính vẫn được xác định là quyền nhân thân; Cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự không đủ điều kiện để thực hiện quyền kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Song, kết hôn vẫn là một trong các quyền nhân thân của cá nhân được quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015

Chúng tôi cho rằng, những người đưa ra ý kiến phản đối việc sử dụng từ quyền đối với việc chuyển đổi giới tính vì không phải ai cũng được thực hiện chuyển đổi giới tính đang bị nhầm lẫn giữa việc có quyền và có đủ điều kiện để thực hiện quyền Về nguyên tắc, mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật (tức là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ)38 Theo đó, bất cứ quyền nhân thân nào được thừa nhận thì về cơ bản có giá trị với tất cả mọi người Tuy nhiên, khi thực hiện các quyền đó, cá nhân phải có đủ các điều kiện nếu pháp luật có liên quan có quy định về việc thực hiện quyền đó Do vậy, chúng ta phải hiểu rằng bất cứ cá nhân nào thoả mãn các điều kiện luật định thì được thực hiện việc

37 Theo ý kiến trao đổi của PGS TS Trần Thị Huệ tại buổi Toạ đàm khoa học “Trao đổi các nội dung mới của

Bộ luật Dân sự năm 2015 với các thành viên tổ biên tập” của Khoa Pháp luật Dân sự - Trường Đại học Luật Hà

Nội, tổ chức ngày 04, 05/01/2017 (nguồn: khong-duoc-goi-la-quyen-313770.html - truy cập ngày 25/5/2018)

http://baophapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/tai-sao-chuyen-doi-gioi-tinh-38 Xem thêm Điều 16 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 39

chuyển đổi giới tính (tức là có đủ điều kiện để thực hiện quyền mà luật đã quy định)

(iii) Việc không gắn từ quyền vào chuyển đổi giới tính tại Điều 37 tạo ra

sự không thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ Rõ ràng cả tên gọi của Mục 2 và tên gọi của 14 Điều luật còn lại đều có chữ quyền, nên việc bỏ đi chữ quyền ở Điều 37 khiến cho việc đặt điều luật này trong Mục 2 không phù hợp39 Một Điều luật quy định về một vấn đề không được xác định là quyền nhưng lại đặt trong một Mục có tên gọi là “quyền nhân thân” vừa tạo ra sự không phù hợp giữa tên gọi của điều luật và mục, vừa tạo ra sự không phù hợp về kết cấu của các điều luật trong mục, chương, phần

Với những phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng cần phải gắn cho Điều

37 chữ quyền để tên gọi của điều luật này là “Quyền chuyển đổi giới tính” Đồng thời, với những phân tích này có thể khẳng định về bản chất, “chuyển đổi giới tính” là một trong những nhu cầu khách quan của con người (cụ thể là nhóm người có nhu cầu chuyển đổi giới tính) Nếu nhìn dưới góc độ tự nhiên thì

đó là một trong những quyền con người cơ bản, còn nếu nhìn dưới góc độ pháp

lý thì chuyển đổi giới tính là một trong các quyền nhân thân của cá nhân

1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc công nhận quyền chuyển đổi giới tính

1.3.1 Cơ sở lí luận của quyền chuyển đổi giới tính

1.3.1.1 Xuất phát từ bản chất của người chuyển giới

Quyền chuyển đổi giới tính là quyền được ghi nhận dành cho người chuyển giới Chính vì vậy, việc xem xét bản chất của người chuyển giới chính là nền tảng đầu tiên để xác định cơ sở của việc ghi nhận quyền này trên thực tế

Người chuyển giới được hiểu là người có trạng thái tâm lý giới tính không phù hợp với giới tính cơ thể40 Chẳng hạn, một người sinh ra với cơ thể nam nhưng cảm nhận giới tính mình là nữ hoặc một người sinh ra với cơ thể nữ nhưng lại cảm nhận giới tính của mình là nam Cảm nhận này không phụ thuộc

Trang 40

vào việc người đó có làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay chưa Những người chuyển giới được mô tả là những người khi sinh ra đã mang sẵn một giới tính sinh học (dựa vào cơ quan sinh dục để phân biệt), nhưng tâm lý của những người này cảm nhận rằng giới tính của họ không giống với giới tính mà thể xác của họ đang có Không phải tất cả những người chuyển giới đều muốn thay đổi

cơ thể họ, mặc dù một số khác thì cảm thấy mong muốn điều này Tuy nhiên, hầu hết những người chuyển giới đều mong muốn thiết lập một vai trò xã hội phù hợp với giới tính mà tâm lý của họ tự xác định41

Năm 1980, hiện tượng chuyển giới (Transgender) đã được Hiệp hội tâm thần học Mỹ (American Psychiatric Association- APA) chính thức phân loại là một dạng bênh tâm thần có tên gọi Rối loạn định dạng giới (Gender Identity Disorder- GID) Theo đó, người chuyển giới có cơ thể hoàn toàn bình thường, nhưng về mặt tâm thần của họ có những biểu hiện sau:

- Tự cho bản thân thuộc giới tính khác: những người này hoàn toàn bình thường về giải phẫu và sinh học nhưng tự cho bản thân thuộc giới tính khác, một

số tìm cách thực hiện ý định chuyển đổi giới tính bằng các phương pháp phẫu thuật và sinh hóa (tiêm Hormone)

- Trạng thái tự cải trang quần áo để biểu lộ thành giới khác: những người này thích mặc quần áo, đi đứng nói năng như người khác giới (nam ăn mặc, nói chuyện yểu điệu như nữ và ngược lại, nữ ăn mặc và nói năng mạnh mẽ như nam) để cảm thấy mình khác biệt so với giới tính sinh học của mình

Vì xác định chuyển giới là GID và là một dạng bệnh tâm thần nên các tổ chức này có khuyến cáo nên điều trị bệnh cho người chuyển giới bằng các liệu pháp tâm lý hơn là công nhận việc chuyển đổi giới tính cho họ

Tuy nhiên, các tranh cãi về khuynh hướng của người chuyển giới không

cáo của Bộ Y tế42 năm 2017, trải qua nhiều kết quả nghiên cứu thì chuyển giới lại được kết luận thực chất không phải là một dạng rối loạn tâm thần Điều này

41 This campaign will be launched April 18th 2007

http://web.archive.org/web/20080608075230/http://www.usilgbt.org/index.php?categoryid=35 truy cập 03/8/2018

42

Bộ Y tế, Báo cáo Thực trạng về người có mong muốn chuyển đổi giới tính (người chuyển giới) tại Việt Nam

và hệ thống pháp luật có liên quan, 2017

http://moh.gov.vn/LegalDoc/Pages/OpinionPollInfo_V2.aspx?CateID=372 Truy cập ngày 30/7/2018

Ngày đăng: 28/07/2019, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w