Trong khi đó, việc nghiên cứu về tài sản và quyền sở hữu tài sản đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ dân sự và chưa thật sự thống nh
Trang 11
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT BÁO CÁO TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
PHẦN MỞ ĐẦU 4
I Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 4
II Tình hình nghiên cứu 4
III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài………12
V Phương pháp nghiên cứu đề tài……… ……13
PHẦN THỨ HAI: CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 14
I Một số vấn đề lý luận về vật quyền 15
II Quyền sở hữu theo quy định pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới 21
III Tài sản trong doanh nghiệp và quyền sơ hữu tài sản trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 23
IV Quyền sở hữu tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp cụ thể 33
V Một số nhận xét, đánh giá các quy định của pháp luật về Quyền sở hữu tài sản trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 42
VI Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về Quyền sở hữu tài sản trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp…47 PHẦN THỨ BA: CÁC CHUYÊN ĐỀ 52
Trang 22
Chuyên đề 1: CÁC LOẠI VẬT QUYỀN VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA VẬT
QUYỀN SỞ HỮU VỚI CÁC LOẠI VẬT QUYỀN KHÁC 5653
Chuyên đề 2: QUYỀN SỞ HỮU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 76
Chuyên đề 3: DOANH NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG……… ……….100 Chuyên đề 4: QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 139 Chuyên đề 5: QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA CÔNG TY 156151 CHUYÊN ĐỀ 6: QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 187 Chuyên đề 7: QUYỀN SỞ HỮU CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 201 PHẦN THỨ TƯ: TÀI LIỆU THAM KHẢO 216
PHẦN THỨ NĂM: BÀI VIẾT TẠP CHÍ 221
Trang 33
PHẦN THỨ NHẤT
BÁO CÁO TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trang 44
PHẦN MỞ ĐẦU
I Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể như doanh nghiệp, Hợp tác
xã, cá nhân kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp được ví như huyết mạch của nền kinh tế Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật được xác lập đối với tài sản trong trường hợp như: do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; ,… Về lý thuyết, quyền đối với tài sản (đối vật) là một vật quyền dù tài sản đó là tài sản thuộc sở hữu của mình hay thuộc sở hữu của người khác Vật quyền bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau
về tài sản, quyền sở hữu tài sản, quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt quyền công nghệ, kỹ thuật,,,Trong đó, quyền sở hữu tài sản là một quyền vô cùng quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Khung pháp lý điều chỉnh tài sản, quyền sở hữu tài sản với hoạt động kinh doanh hoạt động của các chủ thể bao gồm hai nhóm văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu: các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản, quyền sở hữu tài sản và các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp Nhằm đảm bảo sự thống nhất, minh bạch và hiệu quả về tài sản, quyền sở hữu tài sản gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sự ra đời của Bộ luật Dân
sư năm 2015, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, đã thể hiện tinh thần đổi mới nhằm tạo ra và bảo đảm một môi trường kinh doanh lành mạnh, phát huy sức mạnh
và lợi thế của các chủ thể kinh doanh Trên cơ sở quy định của các văn bản pháp luật, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Nhìn chung, hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản, quyền sở hữu tài sản với chủ thể đã tạo được khung pháp lý cơ bản, hành lang pháp lý cho hoạt động của các chủ thể, đặc
Trang 5sở hữu của doanh nghiệp không thể thực hiện được/và hoặc thực hiện hạn chế đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Quyền sở hữu tài sản với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể, doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường là một vấn đề khá phức tạp, mang tính thực tiễn cao Trong khi đó, việc nghiên cứu về tài sản và quyền sở hữu tài sản đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ dân sự và chưa thật sự thống nhất, phù hợp giữa quy định của luật dân
sự với các luật chuyên ngành khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật
Đầu tư, Luật Nhà ở… Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài (cấp trường): “Quyền sở hữu tài sản với hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong điều kiện kinh
tế thị trường” nhằm chỉ rõ vai trò, cách thức thực hiện quyền sở hữu tài sản – một
loại vật quyền đặc biệt gắn liền với hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các chủ thể, của doanh nghiệp là một yêu cầu cấp thiết hiện nay và có tính thời sự cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng phục
vụ cho hoạt động nghiên cứu và giảng dạy lĩnh vực luật thương mại, dân sự và là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những tổ chức, cá nhân quan tâm
Trang 66
II Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu về quyền sở hữu tài sản với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể, doanh nghiệp luôn là vấn
đề mang tính thời sự vì mô hình doanh nghiệp đã, đang phát triển mạnh mẽ không chỉ trên phương diện quốc tế mà còn phát triển ở Việt Nam về số lượng, quy mô và tốc độ,…Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của Việt Nam và nước ngoài ở nhiều mức độ và dưới những hình thức thể hiện khác nhau, chủ yếu thông qua sách tham khảo và các bài báo khoa học, đã đề cập những vấn đề pháp lý về quyền sở hữu tài sản với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể và doanh nghiệp
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài như:
Borzaga, Carlo and Jacques Defourny (Eds), The Emergence of Social
Enterprise, Routledge Studies in the Management of voluntary and Non-Profit
Organizations; London, Routledge, 2004;
H Toward: “A theory of property right”, “American Economic Review”
Evers, A &Laville, J.-L.(eds), The Third Sector in Europe, Cheltenham,
Edward Elgar, 2004;
Nyssens, M (ed.), Social Enterprise At the crossroads of market, public policies and civil society, London and New York: Routledge, 2006;
Pestoff, V & Brandsen, T (eds), Co-production: The Third Sector and the
Delivery of Public Services, London and New York, Routledge, 2007;
OECD, The changing boundaries of social enterprises, Paris, OECD Publishing, 2009; Pestoff, V., Brandsen, T & Verschuere, B (eds), New Public
Governance, the Third Sector, and Co-Production, London and New York,
Routledge, 2010;
Trang 77
European Commission, A Map of Social Enterprises and Their Eco-systems
in Europe, 2014;
Anna Triponel & Natalia Agapitova, Legal frameworks for social enterprise:
Lessons from a comparative study of Italia, Malaysia, South Korea, United Kingdom and United States, World Bank Group, 2016
Các công trình nghiên cứu của Việt Nam cũng đã đề cập và phân tích về tài sản và quyền sở hữu tài sản Có thể nêu ra một số sách và các bài báo tiếp cận liên quan đến quyền sở sữu tài sản:
+ Trần Văn Biên (2016) (Chủ nhiệm đề tài): “Bảo đảm quyền tài sản trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Đề tài cấp Bộ
+ Ngô Huy Cương (chủ biên):”Giáo trình Luật thương mại phần chung và thương nhân”, Nbx Đại học Quốc gia Hà Nội,(2013), tr 262
+ Trương Thanh Đức (2017) (Chủ biên): “Luận giải về Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội
+ Đại học tổng hợp Warszawa – Ba Lan, Witold Wolodkiewicz và GS.TS Maria Zablocka, Giáo trình luật La Mã (1999), (Lê Nết dịch), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
+ Nguyễn Ngọc Điện (2005) “Cần xây dựng lại khái niệm “quyền tài sản” trong luật dân sự, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 3
+ Hoàng Ngọc Thỉnh (2001), “Quyền sở hữu của cá nhân và phương thức
bảo vệ” Luận án tiến sĩ luật học
+ Nguyễn Thị Hòa (2011), “Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ luật học
Trang 88
+ Tưởng Duy Lượng (2007): “Bảo vệ quyền sở hữu trong bộ luật Dân sự
năm 2005”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 6/2007 Nội dung bài viết trình bày khái
quát về các biện pháp ảo vệ quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005;
+ TS Đoàn Quang Thiệu (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa), http://quantri.vn/dict/details/8659-su-hinh-thanh-tai-san-cua-doanh-nghiep,truy cập ngày 20/3/2018
+ TS Nguyễn Minh Tuấn (2013): “Những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong
chế định quyền sở hữu của Bộ luật dân sự năm 2005”, Tạp chí Luật học số 3/2013
+ Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế (Chương trình sau đại học), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
+ Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Thương mại, tập 1, Nxb Tư Pháp
+ PGS.TS Dương Đăng Huệ, Bài phát biểu tại Hội nghị phổ biến hướng dẫn
các nội dung liên quan đến việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo BLDS (sửa đổi) cho báo cáo viên pháp luật, do Bộ Tư pháp tổ chức vào ngày 17/01/ 2015 tại
Hà Nội, đăng báo Pháp luật Việt Nam
+ Các bài tham luận tại Hội thảo tại trường Đại học Luật Hà Nội về sửa đổi
Bộ Luật dân sự năm 2005
Bên cạnh những công trình khoa học nêu trên, việc tiếp cận về tài sản, quyền
sở hữu tài sản của các chủ thể còn được nhiều học giả nghiên cứu ở các công trình khác trên nhiều phương diện
Về cơ bản, các công trình nghiên cứu đề cập một số vấn đề chủ yếu sau:
Trang 99
Thứ nhất, những vấn đề lý luận về tài sản, quyền sở hữu tài sản được nhiều
tác giả tiếp cận theo quy định của pháp luật Nhìn chung, có nhiều cách tiếp cận ở những góc độ kinh tế, pháp lý, xã hội nhưng các công trình nghiên cứu đã đề cập việc nhận diện về tài sản, quyền sở hữu tài sản và mối quan hệ giữa các quyền về tài sản Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã đưa ra những gợi mở cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tài sản và quyền
sở hữu tài sản
Thứ hai, các công trình nghiên cứu phân tích và làm rõ các qui định về quyền
sở hữu của cá nhân trong pháp luật dân sự Việt Nam cũng như các phương thức bảo vệ quyền sở hữu cá nhân Bên cạnh đó, việc tiếp cận về căn cứ xác lập quyền
sở hữu tài sản chung của vợ chồng, những tài sản được xác định là thuộc tài sản chung của vợ chồng cũng được đề cập trong các công trình nghiên cứu
Thứ ba, nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật về tài sản, quyền sở hữu
tài sản cho thấy đã bộc lộ những hạn chế, bất cập Những hạn chế, bất cập đó thể hiện trên phương diện lý luận cũng như trên phương diện thực thi pháp luật Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự bất cập, hạn chế của những quy định về quyền sở hữu tài sản do nhiêu nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân chủ quan
và có nguyên nhân khách quan ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về tài sản và quyền sở hữu tài sản
Thứ tư, Các công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, phương diện
khác nhau và có kết quả nghiên cứu khác nhau nhưng đều quan tâm đến việc đề xuất những giải pháp cơ bản để hoàn thiện những quy định của pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản của các cá nhân, tổ chức trong quá trình xác lập, thay đổi hay hủy bỏ các quyền, nghĩa vụ liên quan trong các giao dịch dân sự
Như vậy, vấn đề quyền sở hữu tài sản đã được nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập một cách
Trang 1010
tổng thể về vấn đề này và đặt trong mối tương quan gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh của chủ thể, của doanh nghiệp Vì vậy, có thể nói đề tài được thực hiện (công trình khoa học cấp trường) là một đề tài với hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, đặc biệt trong bối cảnh sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật mới điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các chủ thể gắn liền với tài sản và quyền sở hữu tài sản
Với bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu đề tài xuất phát từ một số lý do cấp thiết sau:
Một là, vấn đề hội nhập quốc tế và bài toán cho doanh nghiệp Việt Nam
Kể từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam vẫn tiếp tục có những bước đi mạnh mẽ theo hướng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Hiện nay, Việt Nam đã tham gia đàm phán, ký kết và thực thi
12 hiệp định thương mại tự do (FTA) và đang tiếp tục đàm phán 4 hiệp định thương mại tự do Việc ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong những năm gần đây ở cấp song phương và đa phương đã và đang đem đến những cơ hội và thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp trong nước
Để điều chỉnh vấn đề tài sản, quyền sở hữu tài sản gắn liền với hoạt động của chủ thể và các doanh nghiệp, Việt Nam đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật Có thể nhận thấy, nhiều văn bản pháp luật giai đoạn “tiền WTO” (Việt Nam chưa trở thành viên chính thức của WTO) liên quan đến tài sản, quyền sở hữu tài sản như BLDS năm 2005, LDN năm 2005, LĐT năm 2005, không còn phù hợp với pháp luật quốc tế và khu vực Vì vậy, để đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam trong thời kỳ mới, sự ra đời của các văn bản pháp luật nói chung, trong đó có các
Trang 112015 Số lao động ước tính được tạo việc làm trong các doanh nghiệp được thành lập năm 2016 là 1.268 nghìn người, bằng 86,1% so với năm 20151
Nguồn vốn của doanh nghiệp giai đoạn 2007-2015 với tổng nguồn vốn tăng gần 5 lần, từ 4,8 triệu tỷ đồng năm 2007 lên 23,6 triệu tỷ đồng năm 2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 22,6% năm Nhìn chung tốc độ tăng trưởng tổng nguồn vốn luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của số lượng doanh nghiệp cho thấy sự phát triển về quy mô của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế Xét về các ngành kinh tế, hầu hết các ngành đều có sự tăng trưởng về quy mô vốn bình quân của doanh nghiệp trong giai đoạn 2007-2015, trừ ngành thông tin và truyền thống Những ngành có tăng trưởng mạnh mẽ nhất về quy mô vốn bình quân của doanh
1
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: “Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2016/2017”, Nxb Thông tin và truyền thông, tr 19
Trang 1212
nghiệp có thể kể đến như sản xuất kinh doanh và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, (tăng 4,56 lần), hoạt động dịch vụ khác (3,28 lần), hoạt động kinh doanh bất động sản (2,84 lần) Ngành có quy mô vốn bình quân cao nhất là hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm với khoảng 2.911 tỷ đồng/doanh nghiệp2
2015 theo ước tính của Tổng cục Thống kê đã có 427.709 doanh nghiệp ngoài nhà nước, tăng 3 lần và chiếm 96,66% Các doanh nghiệp FDI dù vẫn tăng về số lượng doanh nghiệp từ gần 5000 doanh nghiệp năm 2007 lên gần 12.000 doanh nghiệp năm 2015 nhưng tỷ trọng loại hình doanh nghiệp này luôn có xu hướng giảm dần
từ 3,33% (2007) xuống chỉ còn 2,7% (2015) Doanh nghiệp nhà nước đã giảm mạnh về số lượng và tỷ trọng trong nền kinh tế từ 3.494 doanh nghiệp, chiếm 2,34% (2007) xuống còn khoảng 2.835 doanh nghiệp, chiếm 0,64% (2015) Hiện nay, số lượng doanh nghiệp hoạt động theo hình thức công ty TNHH và CTCP ngày càng chiếm tỷ lệ cao Nếu năm 2007 chỉ có 52,08% doanh nghiệp hoạt động theo hình thức công ty TNHH thì đến năm 2015 loại hình doanh nghiệp này đã chiếm 65,04% tổng số doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam Tỷ trọng của CTCP tăng từ 15,06% (2007) lên 20,70% (2015) Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước lại có chiều hướng suy giảm .3
Bốn là, xuất phát từ thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu tài sản
Vấn đề quyền sở hữu tài sản được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau
Trang 1313
như Bộ Luật Dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014, Luật Thương mại 2005,…Thực tế cho thấy, về mặt lý luận đã có sự không thống nhất trong các quy định của các văn bản pháp luật, có nguy cơ tạo ra các xung đột pháp luật Về phương diện thực tiễn áp dụng cho thấy đã tạo ra các rào cản pháp lý cho hoạt động của các chủ thể, chủ yếu là các doanh nghiệp trên các phương diện như: xác lập, thay đổi, chuyển đổi quyền sở hữu tài sản, giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản và quyền sở hữu tài sản,…
Năm là, Xuất phát từ nhu cầu của đào tạo của Trường và đảm bảo sự thống nhất trong quá trình giảng day các môn học liên quan đến vấn đề quyền sở hữu tài sản
Hiện nay, các chương trình đào tạo hệ cử nhân, hệ sau đại học của trường Đại học Luật Hà Nội, cụ thể là môn học Luật doanh nghiệp, luật Thương mại, luật Dân sự, chế định tài sản, quyền sở hữu tài sản là một nội dung quan trọng và đang thu hút sự quan tâm nhiều sinh viên, học viên cao học và NCS Hơn nữa, thực trạng pháp luật về quyền sở hữu tài sản cho thấy vẫn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế tạo nên sự thiếu tính thống nhất, logic và kết dính giữa các môn học như môn học Luật dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật thương mại, Do vậy, việc nghiên cứu đề tài là cơ sở lý luận, học thuật quan trọng là tài liệu để học viên, NCS, sinh viên tham khảo khi đề tài này hiện còn khá mới trong giới luật học Việt Nam
III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu: nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam về tài sản, quyền sở hữu tài sản để chứng minh rằng quyền sở hữu tài sản là một trong những yếu tố có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh doanh và các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trang 1414
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài được xác định là: + Nhận diện bản chất pháp lý của tài sản, quyền sở hữu tài sản trong khoa học pháp lý hiện nay
+ Nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt giữa quyền sở hữu tài sản và các quyền khác liên quan đến tài sản
+ Doanh nghiệp và vai trò quan trọng của quyền sở hữu tài sản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
+ Nghiên cứu những quy định pháp luật về quyền sở hữu đối với các doanh nghiệp như DNNN, công ty, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài về quyền sở hữu tài sản và đúc rút một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận về tài sản, quyền sở hữu tài sản của chủ thể theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành trong mối tương quan với các quy định của một số nước trên thế giới Thực trạng áp dụng pháp luật về quyền sở hữu tài sản đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh cảu các chủ thể, các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vấn đề quyền sở hữu tài sản đối với các chủ thể là một đề tài có nội hàm rất rộng xét về đối tượng, phạm vi, không gian và thời gian Vì vậy, để đảm bảo dung
Trang 1515
lượng và chất lượng của một đề tài nghiên cứu khoa học (cấp trường) nhóm tác giả chủ yếu tiếp cận, nghiên cứu về tài sản và quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp – với tư cách là một chủ thể pháp luật chủ yếu trong nền kinh tế thị trường Trên cơ
sở đó, phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định về mặt không gian và thời gian
Về mặt không gian, đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành được quy định trong BLDS, LDN, LTM, LĐT và các văn bản pháp luật liên quan về tài sản, quyền sở hữu tài sản Về mặt thời gian, đề tài nghiên cứu từ thời điểm năm 1990 (khi LDNTN và LCT ra đời) đến nay
V Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền sở hữu tài sản nhằm ghi nhận và bảo đảm lợi ích của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp Đề tài vận dụng các nguyên tắc, phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, của Lý luận nhà nước và pháp luật trong điều kiện cụ thể của Việt Nam Trong đó, đề tài chú ý vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích, thống kê, so sánh; phương pháp hệ thống và phân tích tổng hợp; phương pháp quy nạp; phương pháp suy luận logic
Trang 1616
PHẦN THỨ HAI CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
Trang 1717
I Một số vấn đề lý luận về vật quyền
1 Quan niệm về vật quyền
Lý thuyết về vật quyền bắt nguồn từ khái niệm vật quyền được sử dụng trong luật La Mã cách đây đã hơn 1500 năm và trong nền pháp luật hiện đại, Bộ luật dân
sự của nhiều quốc gia trên thế giới đã tiếp tục sử dụng và phát triển nên không phải
là khái niệm mới Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm này hầu như mới chỉ được các nhà nghiên cứu luật pháp quan tâm khiến cho các nhà làm luật trăn trở mãi khi quyết định có sử dụng nó trong Bộ luật dân sự 2015 hay không?
Muốn hay không cũng cần thấy rằng lý thuyết về vật quyền rất quan trọng trong
cơ cấu của một BLDS bởi nó ảnh hưởng và chi phối đến nhiều chế định của bộ luật
này.“Tại sao lại xuất hiện khái niệm vật quyền? Khái niệm vật quyền không phải cái
mà người ta “nghĩ ra cho vui” mà nó đòi hỏi từ thực tiễn Nó là sản phẩm tất yếu
Bộ luật dân sự của Nhật Bản cũng quy định vật quyền tại phần hai, trái quyền tại phần ba Bộ luật dân sự của Đức, quy định chung về vật quyền tại phần một, phần thứ hai là trái quyền Tóm lại, đã có Bộ luật dân sự, thì không thể thiếu bộ phận thiết
Thuật ngữ vật quyền được xem xét dười góc độ là nội dung của quan hệ pháp luật được hiểu là quyền đối với vật/tài sản, và vì vậy tất cả những quyền mà chủ thể
được thực hiện đối với vật đều được gọi là vật quyền “Vật quyền (jus in re), theo
định nghĩa được chấp nhận trong học thuyết pháp lý ở các nước chịu ảnh hưởng của luật La Mã, là quyền được thực hiện trực tiếp và ngay lập tức trên một vật Người có vật quyền thực hiện các quyền của mình mà không cần sự hợp tác của
4 PGS.TS Dương Đăng Huệ, Bài phát biểu tại Hội nghị phổ biến hướng dẫn các nội dung liên quan đến việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo BLDS (sửa đổi) cho báo cáo viên pháp luật, do Bộ Tư pháp tổ chức vào ngày 17/01/
2015 tại Hà Nội, đăng báo Pháp luật Việt Nam Nguồn: Thế Anh
5 PGS.TS Dương Đăng Huệ, Tlđd
Trang 1818
người khác Chẳng hạn, người có quyền sở hữu nhà cư trú trong nhà, sửa chữa
vật quyền với tư cách là quyền đối với vật thường là nội dung của quyền sở hữu(nói đến quyền của chủ sở hữu là nói đến các quyền của chủ sở hữu đối với vật
sở hữu
Như vậy, cần hiểu tách biệt giữa vật quyền với ý niệm là một quan hệ pháp luật
và vật quyền với ý niệm là quyền dân sự (vốn là nội dung của các quan hệ pháp luật) Các cách hiểu này cho thấy, vật quyền và quyền sở hữu là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, quyền sở hữu cũng là vật quyền nhưng không đồng nghĩa với vật quyền bởi ngoài quyền sở hữu còn có nhiều loại vật quyền khác Vật quyền với góc
độ là quyền đối với vật là một thuật ngữ để chỉ về một tập hợp tất cả các quyền đối
với tài sản còn quyền sở hữu là thuật ngữ chỉ các quyền năng của chủ sở hữu đối
với tài sản của họ Nói cách khác, quyền sở hữu chỉ xác định quyền của chủ sở hữu đối với vật (các vật quyền) trong phạm vi sở hữu của họ mà không bao hàm quyền
đối với vật trong các trường hợp khác “Không có một quan niệm nào về quyền sở
hữu có thể bao trùm được tất cả Thay vào đó, sẽ là các mối quan hệ pháp lý khác
PGS.TS.Dương Đăng Huệ quan niệm vật quyền chính là quyền sở hữu và các
quyền khác đối với tài sản: “Như vậy, trong Bộ luật dân sự, thì toàn bộ phần “Tài
sản và quyền sở hữu” tại Bộ luật dân sự hiện hành và phần “Quyền sở hữu và các
Theo quan niệm trên thì vật quyền được hiểu theo nghĩa rộng Đó chính là pháp luật về sở hữu và tài sản và là quyền đối với tài sản nói chung.Về phần mình, chúng
6 PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện, Sự cần thiết của việc vận dụng lý thuyết vật quyền bảo đảm vào quá trình sửa đổi Bộ luật dân sự, Tạp chí Nghiên cứu luật pháp, số 02 + 03/2014 Tr.39
7 Jay M Feinman, Luật 101 – Mọi điều cần biết về pháp uật Hoa Kỳ, NXB Hồng Đức, 2015, tr 350
8 PGS.TS Dương Đăng Huệ, tlđd
Trang 19nhiều loại khác nhau, trong đó quyền đối với vật trong quyền sở hữu được gọi là vật
quyền sở hữu
2 Đặc điểm của vật quyền
Với bản chất là các quyền đối với vật/tài sản, vật quyền có một số đặc điểm sau đây:
- Quyền của chủ thể gắn liền với tài sản, có tài sản mới có quyền;
- Việc thực hiện quyền thông qua hành vi của chính mình, không phụ thuộc vào người khác;
- Vật quyền/quyền đối với vật là nội dung của các quan hệ pháp luật
3 Các loại vật quyền
Trước hết, phải nói rằng có nhiều cách phân loại vật quyền bởi có thể dựa vào quá nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại và theo mỗi cách phân loại thì các loại vật quyền lại có những tên gọi khác nhau Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện thì trong truyền thống học thuyết pháp lý châu Âu, cách phổ biến nhất để phân loại vật quyền
là thiết lập vật quyền thành hai nhóm là nhóm các vật quyền chính và nhóm các vật quyền phụ Đây là cách phân loại vật quyền dựa vào mức độ tác động vật chất mà chủ thể được phép thực hiện đối với vật trong khuôn khổ tìm kiếm lợi ích Theo cách
phân loại này thì Vật quyền chính bao gồm: Quyền sở hữu và các vật quyền chính
khác như quyền địa dịch, quyền hưởng dụng… trong đó quyền sở hữu đứng đầu
Trang 2020
nhóm vật quyền này do tính chất hoàn hảo của quyền năng Vật quyền phụ, còn gọi là
vật quyền bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, chỉ có tác dụng tạo ra sự an toàn cho người có quyền trong quá trình tham gia vào một quan hệ nghĩa vụ với tư cách trái chủ Trong
đó quyền của chủ nợ nhận thế chấp, nhận cầm cố là những ví dụ tiêu biểu cho các vật quyền thuộc nhóm này.9
Như trên đã nói, các loại vật quyền có thể được gọi theo nhiều tên gọi khác nhau tùy theo vật quyền được nhìn nhận theo tiêu chí nào Chẳng hạn, các vật quyền là nội
dung của quyền sở hữu nếu dựa vào mức độ tác động vật chất mà chủ thể được phép
thực hiện đối với vật trong khuôn khổ tìm kiếm lợi ích sẽ được gọi là vật quyền chính,
nhưng nếu dựa vào nguồn gốc hình thành vật quyền sẽ được gọi là vật quyền gốc
Cũng giống như một vật là tài sản nhưng nếu dựa vào tiêu chí di dời được hay không thì sẽ được gọi là động sản hoặc bất động sản; nếu dựa vào đặc điểm riêng biệt để xác định khả năng phân biệt giữa các vật thì sẽ được gọi là vật đặc định hoặc vật cùng loại
Chúng tôi thấy rằng, mỗi một cách phân loại về vật quyền theo các quan điểm như đã nói trên đều có những ưu điểm và những bất cập nhất định và cách phân loại
về vật quyền của chúng tôi trong chuyên đề này chắc cũng không nằm ngoài quy luật
đó Tuy nhiên, đầu tiên, vật quyền nên hiểu theo một nghĩa chung nhất là quyền của chủ thể trong việc thực hiện các hành vi để chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, hưởng dụng, sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, sử dụng bề mặt đối với tài sản tùy theo mối liên hệ pháp lý giữa họ với tài sản Cũng chính vì thế, trong phạm vi các quyền
nói trên đối với vật, khi pân loại vật quyền, chúng tôidựa vào mối liên hệ giữa người
có quyền đối với vật mà họ được phép thực hiện quyền trên đó Mặt khác, theo tinh
thần của Bộ luật dân sự 2015 được thể hiện thông qua tên gọi Phần thứ hai của Bộ
luật là: “Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản” thì các quyền khác là các
9
Nguyễn Ngọc Điện Sự cần thiết của việc xây dựng các chế định vật quyền và trái quyền trong luật dân
sự http://www.nclp.org.vn
Trang 2121
quyền đối với tài sản nằm ngoài quyền sởhữu, nhưng khi liệt kê các quyền này bằng các điều luật cụ thể thì các nhà làm luật không liệt kê vật quyền của bên nhận bảo đảm nên chúng tôi tạm chia vật quyền thành: Vật quyền sở hữu; vật quyền bảo đảm; vật quyền khác
4 Mối liên hệ giữa vật quyền sở hữu với các vật quyền khác
4.1 Mối liên hệ giữa vật quyền sở hữu với vật quyền bảo đảm
Thông qua bản chất, đặc điểm của vật quyền nói chung cũng như của các vật quyền nói riêng và và cơ sở hình thành các loại vật quyền, có thể thấy giữa vật quyền
sở hữu với vật quyền bảo đảm có các mối liên hệ sau đây:
Một là, Sự phái sinh sơ cấp mà vật quyền sở hữu là vật quyền gốc, vật quyền bảo đảm là vật quyền phái sinh Vật quyền bảo đảm bao giờ cũng phái sinh sơ cấp từ vật
quyền sở hữu bởi theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm, tài sản bảo đảm phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và vật quyền bảo đảm được chuyển dịch trực tiếp từ người bảo đảm sang bên nhận bảo đảm
Hai là, Sự dịch chuyển quyền định đoạt đối với tài sản Khi quyền định đoạt tài
sản đã được chủ sở hữu chuyển giao cho bên nhận bảo đảm thì quyền dịnh đoạt trở thành là quyền của người nhận bảo đảm đối với tài sản đó Theo lý thuyết về vật quyền thì người nhận bảo đảm được thực hiện các hành vi một cách trực tiếp lên tài sản bảo đảm vì lợi ích của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của ai, kể cả chủ sở hữu tài sản
Ba là, Vật quyền bảo đảm là một trong những nội dung của quan hệ luôn được hình thành theo thỏa thuận (quan hệ bảo đảm) giữa chủ sở hữu tài sản với người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm Quan hệ bảo đảm luôn được hình
thành từ các giao dịch (hợp đồng) bảo đảm nên yếu tố thỏa thuận là nét đặc trưng và duy nhất trong quan hệ này Trong đó, chủ thể của thỏa thuận này thì một bên (bên
Trang 224.2 Mối liên hệ giữa vật quyền sở hữu với vật quyền khác
Do vật quyền khác và vật quyền bảo đảm đều là vật quyền phái sinh từ vật quyền
sở hữu nên mối liên hệ giữa hai loại vật quyền này với vật quyền sở hữu gần như tương tự nhau Tuy nhiên, do tính chất của hai loại vật quyền này khác nhau nên sự liên hệ giữa giữa chúng với vật quyền sở hữu cũng có nhiều nét khác nhau Có thể thấy sự khác nhau này thông qua ba mối liên hệ sau:
Thứ nhất, Sự phái sinh sơ cấp hoặc thứ cấp mà vật quyền sở hữu là vật quyền gốc, vật quyền khác là vật quyền phái sinh Vật quyền khác có thể là sự phái sinh sơ
cấp từ vật quyền sở hữu, chẳng hạn như người có quyền hưởng dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác do chính chủ sở hữu tài sản đó trao quyền hưởng dụng; nhưng cũng có thể là sự phái sinh thứ cấp Phái sinh thứ cấp được hiểu là sự phái sinh tiếp nối sau phái sinh sơ cấp, và như vậy, vật quyền khác có thể là sự tiếp nối liên tục nhiều lần từ phái sinh sơ cấp
Thứ hai, Sự chuyển dịch quyền sử dụng đối với toàn bộ hoặc một phần tài sản
Quyền chiếm hữu trong vật quyền bảo đảm cũng là một vật quyền được chuyển giao Việc chiếm hữu trong trong vật quyền khác, nếu có, chỉ với mục đích là để người có vật quyền khác sử dụng, hưởng dụng tài sản là đối tượng của vật quyền nên nó không phải là vật quyền được chuyển giao Mặt khác, quyền sử dụng trong vật quyền khác
có thể là đối với toàn bộ tài sản, chẳng hạn, một người được chủ sở hữu trao quyền
10 Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Chẳng hạn, doanh nghiệp nhà nước được quyền dùng tài sản thuộc quyền sở hữu nhà nước để thế chấp trong vay vốn tại các tổ chức tín dụng
Trang 23không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu tài sản
II Quyền sở hữu theo quy định của một số nước trên thế giới và của Việt Nam
1 Quyền sở hữu theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giới
Đối với bất kỳ quốc gia nào thì chế độ sở hữu đều là yếu tố quan trọng, là cơ sở
hạ tầng của một thể chế chính trị nhất định Vì thế, pháp luật của các quốc gia đều chú trọng đến việc xây dựng hoàn chỉnh một chế định pháp luật về quyền sở hữu Quy định của pháp luật về sở hữu càng cụ thể, minh bạch thì tính khả thi của pháp luật càng cao, càng hạn chế được tình trạng lợi dụng khe hở của pháp luật và hạn chế các tranh chấp trong đời sống xã hội
Trong phạm vi giới hạn của đề tài, về nội dung này chúng tôi chỉ tìm hiểu khái
lược về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự của một số quốc gia như Bộ Luật dân sự
và thương mại Thái Lan, Bộ luật dân sự Nhật Bản, Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp,
Bộ luật dân sự Cộng hòa liên bang Đức
Như vây, nhìn theo góc độ chung nhất thì pháp luật các nước đề xác định quyền sở hữu là sự ghi nhận và bảo đảm thực hiện của pháp luật về các quyền năng của chủ thể đối với tài sản Với góc độ này, quyền sở hữu được hiểu là toàn bộ sự quy định của pháp luật (chế định sở hữu) về việc xác định ai là người có quyền đối
Trang 24về hình thức sở hữu và vai trò của các hình thức sở hữu là yếu tố cơ bản của các chế độ kinh tế khác nhau
Ở góc độ hẹp thì quyền sở hữu là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu trong phạm vi pháp luật cho phép Với góc
độ này thì quyền sở hữu chính là các quyền năng cụ thể của chủ sỡ hữu đối với các tài sản cụ thể của mình được xác định thông qua các quy định của pháp luật
Mặt khác, quyền sở hữu còn được nhìn nhận ở góc độ là quan hệ pháp luật được hình thành bởi sự tác động của pháp luật tới các quan hệ sở hữu Nói cách khác, quyền sở hữu là hệ quả của sự điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật tới các quan hệ sở hữu
Với các góc nhìn trên, quyền sở hữu có những yếu tố cơ bản sau đây:
- Quyền sở hữu là một quan hệ pháp luật
- Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý
- Quyền sở hữu là một phạm trù lịch sử
2 Quyền sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành
Về lý luận, quyền sở hữu được nhìn nhận theo nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, đề tài này chỉ xem xét quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền
sở hữu với góc độ là quyền năng cụ thể của chủ sở hữu đối với tài sản của họ Theo
Điều 158, BLDS 2015 thì “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.”
Trang 2525
Quyền chiếm hữu theo nghĩa chung nhất được xác định như sau: Quyền chiếm hữu là quyền của chủ thể được thực hiện hành vi nắm giữ, chi phối tài sản theo quy định của pháp luật hoặc theo ý chí của chủ sở hữu tài sản Trong đó, chủ sở hữu là người có quyền thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội; người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản; người được chủ sở hữu chuyển giao tài sản thông qua giao dịch dân sự có quyền nắm giữ, chi phối tài sản theo ý chí của chủ sở hữu tài sản; người khác chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật có quyền nắm giữ, chi phối tài sản theo quy định của pháp luật trong trường hợp đó
Quyền sử dụng là quyền được thực hiện hành vi khai thác công dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ tài sản của chủ sở hữu tài sản hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng Trong đó, chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật
Quyền định đoạt là quyền của chủ thể được thực hiện các hành vi chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản Trong đó, chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản; người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật
III Tài sản doanh nghiệp và quyền sơ hữu tài sản trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1 Doanh nghiệp và các loại tài sản doanh nghiệp
Trang 2626
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh11
Doanh nghiệp à một loại chủ thể pháp luật, tham gia vào quá trình hoạt động của đời sống l
xã hội với việc thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm Sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp thông qua các thủ tục thành lập và đăng kí kinh doanh
do pháp luật quy định Doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh với tính chất nghề nghiệp, trong đó với mục đích kinh doanh, lợi nhuận là chủ yếu
Tài sản doanh nghiệp được xác định là “cột trụ” đảm bảo sự gia nhập, hoạt động hay rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp Một trong những yếu tố tác động/chi phối năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tài sản doanh nghiệp Trong tiến hành hoạt động kinh doanh thì mục tiêu duy nhất của bất kỳ doanh nghiệp nào
là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị doanh nghiệp hay mục tiêu tăng trưởng Tài sản doanh nghiệp có thể được xác định theo nhiều cách tùy theo tính chất, mục đích của việc phân loại tài sản đó
Thứ nhất, căn cứ vào tính chất của tài sản thì tài sản của doanh nghiệp bao gồm
tài sản có tính chất hữu hình và tài sản có tính chất vô hình
Tài sản doanh nghiệp gồm tài tài hữu hình và tài vô hình Tuy nhiên, việc phân loại tài sản doanh nghiệp cũng chỉ mang tính tương đối Ở góc độ pháp luật tài sản, quyền và vật được đặt đối lập với nhau, không thể phân ra thành hai loại tài sản khác nhau mà đưa ra hai cách hình dung khác nhau về tài sản, hai cách tiếp cận khác nhau đối với tài sản.12
Trang 2727
được thì tài sản đó phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị
và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự Doanh nghiệp kể cả các loại tài sản có tính chất hữu hình như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, sản phẩm, hàng hóa Tài sản vô hình là tài sản không có hình dáng vật chất, không nhìn thấy được, không cầm nắm được Thực chất, tài sản vô hình chính là các quyền tài sản, bao gồm quyền tài sản trên một tài sản hữu hình hay còn gọi là vật quyền hoặc có thể trên một tài sản vô hình khác và các trái quyền trị giá được bằng tiền Bên cạnh tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng thì doanh nghiệp còn có loại tài sản khác - tài sản vô hình như nguồn nhân lực, bí quyết kỹ thuật, ý tưởng, nhãn hiệu, kiểu dáng và những kết quả vô hình khác có được từ khả năng sáng tạo và đổi mới của họ Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Trong đó, Quyền
sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.13Ngày nay, nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng tài sản vô hình của họ có giá trị lớn hơn so với các tài sản hữu hình trong quá trình phát triển doanh nghiệp Tài sản vô hình lại là tài sản có ý nghĩa nhất đối với doanh nghiệp trong thời đại giá trị doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào tài sản trí tuệ đặc biệt trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Thứ hai, Nếu xét tài sản gắn với quá trình chu chuyển trong hoạt động sản xuất
kinh doanh thì tài sản trong doanh nghiệp được phân ra làm hai loại là tài sản lưu động và tài sản cố định
13 Khoản 1, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Trang 2828
- Tài sản lưu động (TSLĐ): Là các tài sản thuộc về đối tượng lao động, nghĩa
là các tài sản này là đối tượng mà hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tác động tới và luân chuyển giá trị của nó một lần vào giá trị sản phẩm Tài sản lưu động của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, thu hồi hoặc luận chuyển giá trị trong vòng một năm hoặc một chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lưu động được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao phải thu và dự trữ tồn kho14
- Tài sản cố định (TSCĐ) Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp Nó gắn liền với Doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại Tài sản cố định là những tư liệu lao động
có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài và có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất Tài sản cố định bị hao mòn dần, giá trị của nó được chuyển dịch từng phần vào chi phí kinh doanh và giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu cho đến khi hư hỏng15 TSCĐ trong doanh nghiệp bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình Hiện nay TSCĐ bao gồm 7 loại TSCĐ và TS CĐ vô hình.16
Thứ ba, nếu dựa vào mối quan hệ sở hữu về tài sản thì tài sản trong doanh
nghiệp gồm:
- Vốn điều lệ: “Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc
cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần”17 Như vậy, vốn điều lệ là số vốn do các thành
14 Nguồn: TS Đoàn Quang Thiệu (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa), thanh-tai-san-cua-doanh-nghiep, truy cập ngày 20/3/2018
http://quantri.vn/dict/details/8659-su-hinh-15 http://luatsurieng.vn/co-cau-tai-san-co-dinh/vai-tro-cua-tai-san-co-dinh-doi-voi-hoat-dong-cua-doanh-nghiep.html 16
Xem thêm Thông tư số 147/ 2016/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 45/2013/TT-BTC
17 Khoản 29 Điều 4, Luật doanh nghiệp năm 2014
Trang 2929
viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ của doanh nghiệp/công ty Vốn điều lệ của doanh nghiệp có thể được tăng hoặc giảm trong quá trình doanh nghiệp hoạt động thông qua các kênh thu hút nguồn vốn khác nhau Tài sản góp vốn có thể là đồng tiền Việt Nam, có thể là ngoại
tệ được tự do chuyển đổi vào thời điểm góp vốn, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam Tài sản góp vốn còn có thể là giá trị quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Các quyền về sở hữu trí tuệ phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức góp vốn.Việc góp vốn điều lệ là sự cam kết mức trách nhiệm vật chất của các thành viên với khách hàng, đối tác Đồng thời, đây là vốn đầu tư cho hoạt động của doanh nghiệp và là cơ sở để phân chia lợi nhuận, cũng như rủi ro trong kinh doanh đối với các thành viên góp vốn
- Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu phản ánh số liệu và tình hình tăng, giảm các
loại nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên góp vốn trong công ty Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp
và các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh, do đó nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ Một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn
Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm vốn đóng góp của các nhà đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộng doanh nghiệp Chủ sở hữu vốn của doanh nghiệp có thể là Nhà nước, cá nhân hoặc các tổ chức tham gia góp vốn, các cổ đông mua và nắm giữ cổ phiếu Ngoài ra, vốn chủ sở hữu còn bao gồm các thành phần quan trọng khác như các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn mệnh giá; các
Trang 3030
khoản nhận biếu, tặng, tài trợ; vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn, của Hội đồng quản trị Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản và các quỹ hình thành từ lợi nhuận sau thuế, cùng với giá trị cổ phiếu quỹ làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu cũng nằm trong phân mục này trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
2 Các lớp sở hữu tài sản trong doanh nghiệp
Việc xác định các lớp sở hữu đối với tài sản doanh nghiêp có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các nguyên tắc quản lý tài sản, chế độ phân phối lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Để thấy rõ quyền của các chủ thể đối với tài sản trong doanh nghiệp, việc xác định các lớp sở hữu tài sản doanh nghiệp được nhận diện ở các khía cạnh sau:
Một là, Tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước thực hiện quyền của chủ
sở hữu trong các doanh nghiệp
Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.18Nhà nước là đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân được thực hiện trong phạm vi và theo trình tự do pháp luật quy định
Khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại
18 Điều 197 BLDS năm 2015
Trang 31Luật doanh nghiệp năm 2014 được ban hành đã xác định rõ và bảo đảm quyền
tự chủ của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh và Nhà nước chỉ với vai trò là chủ đầu tư, hưởng lợi từ việc đầu tư cho doanh nghiệp Sự chi phối của Nhà nước đối với DNNN diễn ra ở cả hai góc độ là quyền quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp và quyền của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tài sản đã đầu tư vào doanh nghiệp Thực tế hiện nay cho thấy đang có tình trạng lẫn lộn giữa hai góc độ này
Chúng tôi thấy rằng, với tư cách là nhà đầu tư, Nhà nước chỉ cần quan tâm đến lợi nhuận thu được từ vốn đầu tư mà hoạt động của doanh nghiệp mang lại Ở góc
độ này thì Nhà nước phải luôn tạo điều kiện để doanh nghiệp được quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình Nhà nước không can thiệp vào quá trình kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp bằng các biện pháp hành chính Ở góc độ quản lý,
19 Điều 200 BLDS năm 2015
Trang 3232
Nhà nước thông qua các cơ quan quản lý của mình để thực hiện việc giám sát, kiểm tra sự chấp hành, tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp có
sự đầu tư vốn của Nhà nước thì Nhà nước chỉ đóng vai trò là một trong các nhà đầu
tư (có thể là một trong các thành viên sáng lập) nên Nhà nước chỉ là chủ sở hữu đối với phần quyền sở hữu tương ứng với phần vốn góp Bởi vậy, giống với các thành viên khác, Nhà nước chỉ thông qua người đại diện vốn Nhà nước để thực hiện quyền và nghĩa vụ của thành viên, nhà đầu tư đối với hoạt động của doanh nghiệp
đã được xác định theo Điều lệ của doanh nghiệp và quy định của pháp luật về doanh nghiệp
Hai là, Tài sản thuộc vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Đối với DNTN thì tài sản của doanh nghiệp cũng chính là tài sản của chủ sở hữu DNTN Do đó, khi thành lập DNTN, chủ doanh nghiệp không thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản thuộc sở hữu của mình sang sở hữu của doanh nghiệp Việc thực hiện quyền sở hữu tài sản của DNTN thông qua đại diện (chủ doanh nghiệp)
Đối với các loại công ty có sự tách bạch tài sản giữa tài sản của chủ sở hữu với tài sản của công ty Khi thành lập công ty, các chủ sở hữu tài sản phải thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân sang sở hữu công ty Như vậy, dù nguồn vốn được hình thành như thế nào, quá trình thành lập hay quá trình hoạt động thì các tài sản đó phải chuyển vào tài sản của doanh nghiệp, xác lập quyển chủ sở hữu doanh nghiệp đối với tài sản Với tài sản thuộc vốn chủ
sở hữu, doanh nghiệp đóng vai trò là chủ sở hữu tài sản nên có toàn quyền về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Khi tham gia các quan hệ có liên quan đến tài sản này, doanh nghiệp thông qua hoạt động của những người đại diện hợp pháp thực hiện theo điều lệ, theo nghị quyết của Hội đồng thành viên (nếu là doanh nghiệp theo loại hình Công ty trách nhiệm
Trang 3333
hữu hạn; theo điều lệ, theo nghị quyết của Đại hội cổ đông/Hội đồng quản trị (nếu
là doanh nghiệp theo loại hình Công ty cổ phần Chủ sở hữu công ty có quyền Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty.20
Ba là, phần quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp của thành viên góp vốn, nhà đầu tư
Các thành viên, các nhà đầu tư bằng tài sản thuộc sở hữu của mình để góp vốn vào các doanh nghiệp với mục đích hưởng lợi nhuận từ hoạt động của doanh nghiệp Vì thế, mặc dù vốn góp của mình đã trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng với tư cách là thành viên/nhà đầu tư góp vốn cho sự hình thành, hoạt động, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, các chủ thể này có quyền tham gia giám sát, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp theo điều lệ và pháp luật doanh nghiệp Quyền này được thể hiện thông qua việc tham gia Hội đồng thành viên và bỏ phiếu đối với nghị quyết của Hội đồng thành viên (đối với doanh nghiệp
là CTTNHH); quyền tham gia Hội đồng quản trị/tham gia Đại hội cổ đông và bỏ phiếu đối với nghị quyết của Hội đồng quản trị/quyết nghị của Đại hội cổ đông (đối với doanh nghiệp là CTCP) Ví dụ: Hội đồng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ; thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công
bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều
lệ công ty.21
20
Khoản 1, Điều 75 LDN năm 2014
21 Khoản 2, Điều 56 LDN năm 2014
Trang 3434
Ngoài ra, với tư cách là chủ sở hữu phần quyền (tương ứng với vốn góp) các chủ thể này được hưởng phần lợi nhuận mà doanh nghiệp mang lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh (sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, trích lập các quỹ theo quy định) tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp Đồng thời nhà đầu tư có thể được định đoạt đối với phần quyền sở hữu (phần vốn góp) trong trường hợp được phép theo quy định trong Điều lệ của doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp quy định như chuyển nhượng phần vốn góp, thừa kế hay tặng cho tài sản là vốn góp cho người khác
3 Vai trò của quyền sở hữu tài sản đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Thứ nhất, quyền sở hữu là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp được thành lập và
hoạt động
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, dù đó là vốn đăng ký hay vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại doanh nghiệp Vốn có thể được xem là một cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại với tư cách là một pháp nhân (trừ doanh nghiệp tư nhân) để trở thành một chủ thể độc lập trong các quan hệ pháp luật Tuy nhiên, trong tất cả các loại tại sản thuộc về vốn của doanh nghiệp thì chỉ tổng giá trị của tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp mới là thước đo bắt buộc trong việc xác định doanh nghiệp có đủ điều kiện vật chất để thành lập và đăng ký hoạt động hay không
Thứ hai, Xác định thẩm quyền, phương thức sử dụng và định đoạt tài sản trong
doanh nghiệp
Trang 3535
Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm
vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác22
Có thể nói rằng, chỉ có thể tách biệt giữa quyền quản lý nhà nước với quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giữa quyền của doanh nghiệp với quyền của nhà đầu tư nếu đã xác định được các lớp sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp
Đối với DNNN, vốn chủ sở hữu cũng chính là vốn thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước đóng vai trò thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản nên Nhà nước có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản này Tuy nhiên, khi thực hiện các quyền trên, Nhà nước chỉ thông qua hoạt động giám sát, kiểm tra, thống kê tình hình quản lý, sử dụng và định đoạt về tài sản của doanh nghiệp Để tạo điều kiện tự chủ cho doanh nghiệp hoạt động, Nhà nước chuyển giao các quyền đối với tài sản cho doanh nghiệp thực hiện các quyền đó sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp tuân theo pháp luật để chủ động trong các hoạt động của mình
Đối với doanh nghiệp dân doanh, toàn bộ vốn có được từ bất kể nguồn nào, kể
cả sự đầu tư của Nhà nước đều thuộc vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp sử dụng vốn này với tư cách là chủ sở hữu tài sản/đồng chủ sở hữu hoàn toàn chủ động trong sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm về phân chia lợi nhuận cho các chủ đầu tư tương ứng với phần vốn góp của họ
22 Điều 160 BLDS năm 2015
Trang 3636
IV Quyền sở hữu tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp cụ thể
1 Quyền sở hữu tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Theo quy định hiện nay, có ba loại hình công ty gồm: công ty hợp danh, công
ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và công ty cổ phần (CTCP) Quyền sở hữu tài sản (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản) của công ty mang những điểm chung và tùy thuộc vào từng loại công ty việc xác định loại tài sản, thực hiện các quyền của chủ thể đối với tài sản của các công ty có những điểm khác biệt
Một là, Quyền chiếm hữu tài sản của công ty để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh
Quyền chiếm hữu tài sản của công ty được thể hiện qua việc chủ sở hữu công
ty hoặc công ty nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản Quyền chiếm hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu tài sản của chủ sở hữu và quyền chiếm hữu tài sản của người không phải là chủ sở hữu tài sản23 Chủ sở hữu công ty hoặc công ty được thực hiện mọi hành vi theo ý
chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình để đạt được mục tiêu đã đề ra nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội24
Điều 179 của Bộ luật Dân sự năm 2015
24 Điều 186 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 3737
doanh Quyền sử dụng tài sản là quyền của công ty khai thác công dụng, hưởng hoa
lợi, lợi tức có được từ tài sản Quyền sử dụng tài sản có thể được công ty chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật25
Chủ sở
hữu công ty hoặc công ty được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác26
Ba là, Quyền định đoạt tài sản công ty để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh
Quyền định đoạt tài sản là một quyền năng thuộc quyền sở hữu tài sản của công ty; nó có vị trí quan trọng nhất trong quyền sở hữu tài sản của công ty Quyền định đoạt tài sản của công ty được thể hiện ở chỗ công ty có thể bán, cho thuê, cầm
cố, thế chấp tài sản của mình
Đối với những tài sản thuộc chủ sở hữu công ty hoặc công ty có quyền sở hữu đầy đủ, chủ sở hữu công ty hoặc công ty có quyền bán, chuyển nhượng, trao đổi, thế chấp, cầm cố, tặng, cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất27 Tuy nhiên, cần
lưu ý là tài sản công ty thuộc sở hữu công ty nhưng tài sản đã được thành viên cổ đông góp vốn vào công ty thì thành viên hay cổ đông vẫn có phần quyền nhất định, đặc biệt là quyền định đoạt đối với phần vốn góp của thành viên vào công ty thông qua việc chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho tài sản28… (Điều 50, 53, 110 (1), 114 (1), 126, 182 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Điều 71 Luật các Tổ chức tín dụng
25 Điều 189 của BLDS năm 2015
26
Điều 190 của BLDS năm 2015
27 Điều 194 của Bộ luật Dân sự năm 2015
28 Xem thêm các Điều 50, 53, 110 (1), 114 (1), 126, 182 Luật Doanh nghiệp năm 2014; Điều 71 Luật các Tổ chức tín
dụng năm 2010
Trang 3838
năm 2010) Như vậy, ở một phương diên nhất định cũng cần có sự phân biệt quyền
sở hữu tài sản của chủ sở hữu công ty và quyền sở hữu của thành viên công ty
2 Quyền sở hữu tài sản nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Quản lý và sử dụng tài sản công
(2017): “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác.”
Tài sản công khi được đem thực hiện các hoạt động đầu tư trở thành vốn nhà nước Theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu
tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (2014): “Vốn nhà nước tại doanh
nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.”
Từ khái niệm trên có thể thấy vốn Nhà nước được cấu thành từ ba bộ phận:
Một là, vốn được cấp từ ngân sách, là vốn doanh nghiệp nhà nước được cấp
phát lần đầu khi mới hoạt động, vốn được cấp bổ sung trong quá trình hoạt động;
Hai là, vốn có nguồn gốc từ ngân sách, là các khoản vốn tăng thêm do được
miễn, giảm thuế thu nhập DN hoặc được cấp lại các khoản phải nộp ngân sách theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; các nguồn vốn viện trợ; viện trợ
Trang 3939
nhân dân, viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế, quà tặng theo quy định phải ghi tăng vốn ngân sách cấp;
Ba là, vốn của DN có vốn góp nhà nước tự tích lũy, đây là phần thu nhập
sau thuế DN giữ lại để tái đầu tư
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, với xu hướng ngày càng mở rộng quy
mô và phạm vi sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có vốn nhà nước cũng như các doanh nghiệp khác đều cần một lượng vốn nhiều hơn hiện tại để đáp ứng nhu cầu của mình Trong trường hợp này, pháp luật ghi nhận nhiều cách thức huy động vốn
để thu hút lượng vốn cần thiết cho doanh nghiệp như: huy động vốn vay, phát hành trái phiếu DN, v.v Trên thực tế, DN có vốn góp Nhà nước cũng là một pháp nhân trong nền kinh tế, do vậy về nguyên tắc muốn hoạt động thì tất yếu phải có một lượng vốn nhất định và nguồn vốn đó phải tách bạch, độc lập với khối tài sản của các tổ chức, cá nhân khác, từ đó giới hạn phạm vi trách nhiệm của pháp nhân trong các giao dịch đồng thời cũng tránh được sự can thiệp trực tiếp của người đầu tư đối với hoạt động kinh doanh của DN Do đó, vốn góp Nhà nước cũng phải được chuyển giao cho CTCP mà Nhà nước tiến hành góp vốn, để tạo thành khối tài sản riêng của công ty đó
Quyền sở hữu tài sản nhà nước (quản lý, sử dụng, định đoạt) để thực hiện các hoạt động đầu tư vào doanh nghiệp bao gồm góp vốn thành lập công ty, mua, nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp trong công ty Hoạt động quản lý và giám sát được Nhà nước thực hiện thông qua nhưng phương pháp sau: (i) Phương pháp trực tiếp: hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước được phân công tại doanh nghiệp có vốn nhà nước, thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá hệ quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn nhà nước, công tác kế toán, kiểm toán tại doanh nghiệp có vốn nhà nước.; (ii) Phương pháp gián tiếp: báo cáo thường xuyên, đột xuất của Hội đồng thành viên của doanh nghiệp có vốn nhà nước; (iii) Phương pháp minh bạch
Trang 4040
hóa thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng Hiệu quả của hoạt động quản lý và giám sát doanh nghiệp nhà nước chưa cao Nhiều sai phạm ở các doanh nghiệp có vốn nhà nước không được phát hiện cho đến khi hậu quả trở nên đặc biệt nghiêm trọng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế và tâm lý xã hội
3 Quyền sở hữu tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân (DNTN)
DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ sở hữu Tài sản của chủ sở hữu không tách rời với tài sản của doanh nghiệp tư nhân Chủ DNTN với tư cách là chủ sở hữu duy nhất của DNTN nên có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt DNTN theo ý chí của mình Cụ thể, quyền sở hữu của chủ DNTN đối với DNTN được thể hiện thông qua các quyền sau:
- Quyền thành lập DNTN
- Quyền bán DNTN
- Quyền cho thuê DNTN
- Quyền tạm ngừng kinh doanh đối với DNTN
- Quyền giải thể DNTN
- Quyền yêu cầu tuyên bố phá sản đối với DNTN
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật
Tóm lại, chủ DNTN có đầy đủ các quyền đối với DNTN với tư cách là chủ
sở hữu duy nhất của doanh nghiệp Các quyền của chủ DNTN đối với DNTN không chỉ là quyền sở hữu về tài sản trong doanh nghiệp, bao gồm tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc thiết bị…; tài sản vô hình như tên doanh nghiệp, hệ thống khách hàng của doanh nghiệp… như các thành viên công ty hay thành viên hợp tác xã Quyền sở hữu của chủ DNTN đối với DNTN còn là quyền sở hữu chính DNTN, bao gồm quyền định đoạt về số phận pháp lý của doanh nghiệp như các quyền nêu trên