1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KIẾN THỨC, THÁI độ PHÒNG NHIỄM VI RÚTZIKA của PHỤ nữ từ 20 45 TUỔI tại PHƯỜNG LÁNG THƯỢNG, QUẬN ĐỐNG đa, hà NỘINĂM 2017

137 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó có 1 trường hợp trẻ 4 tháng tuổi mắc chứng đầu nhỏ nghi liên quan đến vi rút Zika tại Đắc Lắc [5].Số trường hợp nhiễm vi rút Zika tăng lên và một số trẻ dị tật đầu nhỏ được phát

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

PHẠM THU HẰNG

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ PHÒNG NHIỄM VI RÚT ZIKA CỦA PHỤ NỮ TỪ 20-45 TUỔI TẠI PHƯỜNG LÁNG THƯỢNG, QUẬN ĐỐNG ĐA,

HÀ NỘI NĂM 2017

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành y tế công cộng

Mã số: 872070160.72.03.01

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

PHẠM THU HẰNG

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ PHÒNG NHIỄM VI RÚT ZIKA CỦA PHỤ NỮ TỪ 20-45 TUỔI TẠI PHƯỜNG LÁNG THƯỢNG, QUẬN ĐỐNG ĐA,

Trang 6

MỤC LỤ

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT ii

DANH MỤC HÌNH VẼ ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.1 Đại cương về vi rút Zika 2

1.1.1 Đặc điểm sinh học .2

1.1.2 Dịch tễ học .2

1.1.2.1 Tình hình lưu hành vi rút Zika trên thế giới .2

1.1.2.2 Tình hình lưu hành vi rút Zika ở Việt Nam .2

1.1.3 Phương thức lây truyền vi rút Zika .2

1.1.3.1 Lây truyền qua véc tơ 2

1.1.3.2 Lây truyền qua quan hệ tình dục 2

1.1.3.3 Một số hình thức lây truyền khác .2

1.1.4 Biểu hiện lâm sàng 2

1.1.4.1 Các biểu hiện thường gặp 2

1.1.4.2 Một số biến chứng nghiêm trọng 2

1.2 Một số biện pháp phòng nhiễm ZIKV 2

1.2.1 Phòng diệt véc tơ truyền bệnh .2

1.3 Một số nghiên cứu về kiến thức thái độ về phòng nhiễm ZIKV .2

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .2

2.1 Đối tượng nghiên cứu 2

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 2

2.3 Thiết kế .2

2.4 Cỡ mẫu .2

2.5 Phương pháp chọn mẫu 2

2.6 Phương pháp thu thập số liệu .2

Trang 7

2.7 Các biến số nghiên cứu 2

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 2

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 2

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 2

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 2

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .2

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .2

3.2 Kiến thức về phòng nhiễm vi rút Zika .2

3.2.1 Kiến thức chung về vi rút Zika 2

3.2.2 Kiến thức về các biện pháp phòng nhiễm vi rút Zika 2

3.2.3 Đánh giá kiến thức về phòng nhiễm vi rút Zika .2

3.2.4 Thái độ về phòng nhiễm ZIKV 2

3.2.4.1 Mô tả kết quả thái độ về phòng nhiễm ZIKV 2

3.2.4.2 Đánh giá thái độ phòng nhiễm ZIKV .2

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ phòng nhiễm vi rút Zika .2

3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng nhiễm vi rút Zika .2

3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ phòng nhiễm vi rút Zika .2

a Phân tích đơn biến 2

3.4 Mô tả nhu cầu thông tin của đối tượng nghiên cứu 2

3.4.1 Mô tả nguồn thông tin tiếp cận vi rút Zika .2

3.4.2 Nhu cầu thông tin 2

Chương 4: BÀN LUẬN .2

4.1 Kiến thức, thái độ của đối tượng nghiên cứu về phòng nhiễm vi rút Zika 2

4.1.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về phòng nhiễm vi rút Zika .2

4.1.2 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về phòng nhiễm vi rút Zika 2

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ về phòng nhiễm ZIKV .2

4.3 Nhu cầu thông tin về ZIKV .2

4.4 Hạn chế của nghiên cứu 2

KẾT LUẬN .2

KHUYẾN NGHỊ .2

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO .2

PHỤ LỤC .2

LỜI CẢM ƠN DANH MỤC VIẾT TẮT DANH MỤC HÌNH VẼ DANH MỤC BẢNG BIỂU TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Đại cương về vi rút Zika .5

1.1.1 Đặc điểm sinh học .5

1.1.2 Dịch tễ học .7

1.1.2.1 Tình hình lưu hành vi rút Zika trên thế giới .7

1.1.2.2 Tình hình lưu hành vi rút Zika ở Việt Nam .11

1.1.3 Phương thức lây truyền vi rút Zika .12

1.1.3.1 Lây truyền qua véc tơ .12

1.1.3.2 Lây truyền qua quan hệ tình dục .13

1.1.3.3 Một số hình thức lây truyền khác .14

1.1.4 Biểu hiện lâm sàng .15

1.1.4.1 Các biểu hiện thường gặp .15

1.1.4.2 Một số biến chứng nghiêm trọng .15

1.2 Một số biện pháp phòng nhiễm ZIKV .18

1.2.1 Phòng diệt véc tơ truyền bệnh .18

1.2.2 Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục .20

1.3 Một số nghiên cứu về kiến thức thái độ về phòng nhiễm ZIKV .21

1.4 Khung lý thuyết .25

1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu .26

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu .27

Trang 9

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu .27

2.3 Thiết kế .27

2.4 Cỡ mẫu .27

2.5 Phương pháp chọn mẫu .28

2.6 Phương pháp thu thập số liệu .28

2.7 Các biến số nghiên cứu .29

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá .30

2.9 Phương pháp phân tích số liệu .33

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .33

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số .33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .35

3.2 Kiến thức về phòng nhiễm vi rút Zika .37

3.2.1 Kiến thức chung về vi rút Zika .37

3.2.2 Kiến thức về các biện pháp phòng nhiễm vi rút Zika .38

3.2.3 Đánh giá kiến thức về phòng nhiễm vi rút Zika .40

3.2.4 Thái độ về phòng nhiễm ZIKV .41

3.2.4.1 Mô tả kết quả thái độ về phòng nhiễm ZIKV .41

3.2.4.2 Đánh giá thái độ phòng nhiễm ZIKV .44

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ phòng nhiễm vi rút Zika .45

3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng nhiễm vi rút Zika .45

3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ phòng nhiễm vi rút Zika .49

3.4 Mô tả nhu cầu thông tin của đối tượng nghiên cứu .53

3.4.1 Mô tả nguồn thông tin tiếp cận vi rút Zika .53

3.4.2 Nhu cầu thông tin .53

Chương 4: BÀN LUẬN 56

4.1 Kiến thức, thái độ của đối tượng nghiên cứu về phòng nhiễm vi rút Zika .56

4.1.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về phòng nhiễm vi rút Zika .56

4.1.2 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về phòng nhiễm vi rút Zika .60

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ về phòng nhiễm ZIKV .61

Trang 10

4.3 Nhu cầu thông tin về ZIKV .63

4.4 Hạn chế của nghiên cứu .65

KẾT LUẬN 67

KHUYẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 77

YDANH MỤC VIẾT TẮT iii

DANH MỤC HÌNH VẼ .iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU .v

TÓM TẮT ĐỀ TÀI .1

ĐẶT VẤN ĐỀ .3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

1.1 Đại cương về vi rút Zika .66

1.1.1 Đặc điểm sinh học .66

1.1.2 Dịch tễ học .77

1.1.3 Phương thức lây truyền vi rút Zika .1213

1.1.4 Biểu hiện lâm sàng .1516

1.2 Một số biện pháp phòng nhiễm ZIKV .1819

1.2.1 Phòng diệt véc tơ truyền bệnh .1819

1.2.2 Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục .2021

1.3 Một số nghiên cứu về kiến thức thái độ về phòng nhiễm ZIKV .2122

1.4 Khung lý thuyết .2525

1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu .2627

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .2728

2.1 Đối tượng nghiên cứu .2728

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu .2728

2.3 Thiết kế .2728

2.4 Cỡ mẫu .2728

2.5 Phương pháp chọn mẫu .2829

Trang 11

2.6 Phương pháp và các bước tiến hành thu thập số liệu .2930

2.7 Các biến số nghiên cứu .3031

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá .3132

2.9 Phương pháp phân tích số liệu .3435

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .3435

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số .3536

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3637

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .3637

3.2 Kiến thức về phòng nhiễm vi rút Zika .3839

3.2.1 Kiến thức chung về vi rút Zika .3839

3.2.2 Kiến thức về các biện pháp phòng nhiễm vi rút Zika .3940

3.2.3 Đánh giá kiến thức về phòng nhiễm vi rút Zika .4142

3.2.4 Thái độ về phòng nhiễm ZIKV .4344

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ phòng nhiễm vi rút Zika .4647

3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng nhiễm vi rút Zika .4647

3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ phòng nhiễm vi rút Zika .4950

3.4 Mô tả nhu cầu thông tin của đối tượng nghiên cứu .5354

3.4.1 Mô tả nguồn thông tin tiếp cận vi rút Zika .5354

3.4.2 Nhu cầu thông tin .5455

Chương 4: BÀN LUẬN 5657

4.1 Kiến thức, thái độ của đối tượng nghiên cứu về phòng nhiễm vi rút Zika 5657

4.1.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về phòng nhiễm vi rút Zika .5657

4.1.2 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về phòng nhiễm vi rút Zika .6061

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ về phòng nhiễm ZIKV .6162

4.3 Nhu cầu thông tin về ZIKV .6464

4.4 Hạn chế của nghiên cứu .6667

KẾT LUẬN 6869

KHUYẾN NGHỊ 7071

PHỤ LỤC 7981

Trang 13

(Pan American Health Organization)

Ae Aegypti : Muỗi Ades Aegypti

Ae Albopictus : Muỗi Ades Albopictus

Trang 14

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Cấu trúc gien của các vi rút thuộc họ Flaviviridae .665

Hình 1.12: Hình ảnh cấu trúc hạt của ZIKV 6666 Hình 1.32: Hình ảnh hạt ZIKV sau khi dùng công nghệ cryo-electrion để phác họa 7777

Hình 1.43: Tình hình lưu hành vi rút Zika trên thế giới 10111110 Hình 1.5:4: Hình thái vòng đầu bình thường và vòng đầu bị tật đầu nhỏ 17181817

Trang 15

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Bảng tiêu chuẩn đánh giá kiến thức 3233231 Bảng 2.2: Bảng tiểu chuấn đánh giá thái độ 3334232 Bảng 3.1: Đặc điểm nghề nghiệp, trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 3637235

Bảng 3.2: Tình trạng hôn nhân, số con của đối tượng nghiên cứu và tiền sử gia đình mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue 3738236 Bảng 3.3: Mô tả kết quả trả lời kiến thức chung về vi rút Zika Kiến thức chung về

vi rút Zika 3839237

Bảng 3.4: Tỷ lệ (%) ĐTNC có kiến thức đúng về thời gian nên có thai sau khi bị nhiễm vi rút ZikaKiến thức về thời gian nên có thai sau khi nhiễm ZIKV 4041239 Bảng 3.5: Đánh giá điểm trung bình cho các nội dung thể hiện thái độ của ĐTCN 4445243

Bảng 3.6: Bảng phân tích đơn biến kiến thức phòng nhiễm ZIKV 4747245 Bảng 3.7: Bảng phân tích đa biến mô hình các yếu tố liên quan đến kiến thức 4949248

Bảng 3.8: Bảng phân tích đơn biến các yêu tố liên quan đến thái độ 5050249 Bảng 3.9: Phân tích đa biến mô hình các yếu tố liên quan đến thái độ 5253252 Bảng 3.10: Bảng tự đánh giá mức độ hiểu biết về zika và nhu cầu thông tin 5455253

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ(%) ĐTNC chọn các biện pháp phòng nhiễm ZIKVTỷ lệ chọn các biện pháp phòng nhiễm ZIKV 4041239 Biểu đồ 3.2: Đánh giá các nội dung trong trong kiến thức về phòng nhiễm

ZIKVĐánh giá các nội dung kiến thức phòng nhiễm vi rút Zika 4142240 Biểu đồ 3.3: Đánh giá kiến thức về phòng nhiễm vi rút Zika 4243241 Biểu đồ 3.4: Mô tả kết quả thái độ về phòng nhiễm ZIKV 4344242 Biểu đồ 3.5: Đánh giá thái độ phòng nhiễm ZIKV ở các nhóm đối tượng

4546244

Trang 16

Biểu đồ 3.6: Đánh giá chung thái độ phòng nhiễm ZIKV 4647245 Biểu đồ 3.7: Mô tả nguồn thông tin tiếp cận vi rút Zika 5354253 Biểu đồ 3.8: Nội dung thông tin cần biết thêm về ZIKV 5455254 Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ chọn các kênh thông tin truyền tải nội dung về Zika 5556255

Trang 17

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Vi rút Zika (ZIKV) và nguy cơ gây biến chứng hiện là một vấn đề hết sức quan

ngại trên thế giới

Vi rút Zika (ZIKV) là vi rút cùng họ với vi rút Dengue, truyền bệnh cho ngườichủ yếu qua muỗi ZIKV được chứng minh là có liên quan đến hàng nghìn ca tật đầunhỏ, bệnh viêm dây đa rễ thần kinh Guillian Barre đã thực sự gây mối lo ngại cho toànthế giới Khoa học đã chứng minh nếu trong quá trình mang thai bà mẹ bị nhiễm vi rútthì trẻ sinh ra có nguy cơ bị dị tật đầu nhỏ gây chậm phát triển trí tuệ và thể chất Theobáo cáo của Tổ chức Y tế thế giới có 31 quốc gia vùng lãnh thổ đã ghi nhận ca tật đầunhỏ liên quan đến ZIKV, trong đó tại Brazil có số ca lớn nhất thế giới trên 3000 cabệnh

Việt Nam là nước lưu hành phổ biến véc tơ truyền bệnh và đã xuất hiện ca biếnchứng đầu tiên cảnh báo tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp

Ca bệnh ZIKV đầu tiên xuất hiện ở Việt nam năm 2016 và 1 trẻ có tật đầu nhỏđược khẳng định có liên quan đến ZIKV là những dấu hiệu cảnh báo về tình hình lanrộng dịch ở nước ta Tại Hà Nội cho đến nay chưa ghi nhận ca bệnh nào song để thựchành phòng dịch bệnh hiệu quả, thì ngành Y tế cần phải tăng cường kiến thức chongười dân đặc biệt là đối tượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

Với lý do trên, chúng tôi tiến hành Phòng lây nhiễm ZIKV được Bộ Y tế khẩntrương triển khai ở nhiều địa phương trong cả nước Chính vì vậy,nghiên cứu này thựchiện nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ của phụ nữ trong độ tuổi20-45 tuổi của Phường Láng Thượng, Quận Đống Đa Hà Nội năm 2017 về phòngnhiễm vi rút Zikachúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ về phòng nhiễmZIKV của phụ nữ từ 20-45 tuổi tại phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội năm2017” với 3 mục tiêu: 1 Mô tả kiến thức và thái độ về phòng nhiễm ZIKV, đồng thời ;

2 xXác định một số yếu tố liên quan đến phòng nhiễm ZIKV 3 Mô tả Nnhu cầu tiếp

này Nghiên cứu này sẽ là một căn cứ cho những can thiệp về truyền thông phòng lây

vi rút trong cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu

nhiên hệ thống 400 phụ nữ từ 15 tổ dân phố phường Láng Thượng để thực hiện phỏngvấnphỏng vấn 400 phụ nữ bằng bộ công cụ tham khảo của WHO và CDC trực tiếp

Trang 18

bằng bảng hỏi trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2017 Toàn bộ số liệu được ,

30.,5 % biết sử dụng bao cao su Tỷ lệ ĐTNC có thái độ tích cực với phòng diệt muỗi là 82.,3%; 26.,3% với biện pháp sử dụng bao cao su.

Nghiên cứu cũng cho thấy trình độ học vấn của phụ nữ, số nguồn thông tin tiếpcận có mối liên quan kiến thức đạt và thái độ tích cực phòng bệnh của ĐTNC Cụ thể

là phụ nữ có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên có kiến thức về phòng bệnh đạt caogấp 3.59 lần và thái độ phòng bệnh tích cực gấp 2.77 lần đối tượng có trình độ học vấndưới trung cấp Đối tượng nhận thông tin về vi rút từ nhiều nguồn (>1 nguồn) có kiếnthức đạt về phòng ngừa nhiễm ZIKV cao gấp 1.9 lần và có thái độ về phòng ngừanhiễm ZIKV cao gấp 5,27 phụ nữ chỉ nhận thông tin từ 1 nguồn hoặc không nhậnđược thông tin

Ngoài ra phụ nữ có kiến thức đạt về phòng ngừa nhiễm ZIKV có thái độ tíchcực trong phòng ngừa nhiễm ZIKV cao gấp 1,75 lần phụ nữ có kiến thức không đạt vềphòng ngừa ZIKV

Các bà mẹ có Trình độ học vấn, số nguồn thông tin khai thác thông tin về vi rút Zika, kiến thức phòng ngừa ZIKV có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thái

độ phòng nhiễm ZIKV

Có 77% số ĐTNC muốn biết các thông tin về ZIKV, kênh truyền thông họ muốn nhận là internet (51.,5%), truyền hìỉnh (45.,5%) và bác sỹ (38%) Nội dung muốn biết nhất là cách phòng nhiễm (78.,2%), xử trí khi bị nhiễm vi rút (68.,5%).

Cần đẩy mạnh truyền thông đầy đủ về ZIKV trong các cơ sở y tế và cộng đồng,

truyền thông qua internet và truyền hình

Trang 19

ĐẶT VẤN ĐỀNhiễm vi rút Zika đang là vấn đề báo động về sức khỏe cộng đồng hiện nay trên toàn cầu Vi rút Zika thuộc họ Flaviviridae cùng họ với vi rút Dengue, truyền bệnh cho người qua véc tơ chủ yếu là muỗi [37].

Vi rút Zika lần đầu tiên được phân lập trên cơ thể người tại Uganda, Châu Phi vào năm 1952 [57] Các ca bệnh xuất hiện rải rác ở khắp châu Á và châu Phi đượcđánh giá là lành tính với các triệu chứng nhẹ giống bệnh cúm, rất hiếm khi gây tửvong Song Trong vòng khoảng gần 60 năm kể từ khi được phát hiện, các ca bệnh chỉxuất hiện rải rác ở các nước châu Phi và châu Á, chưa bùng phát thành dịch lớn Vụdịch lớn đầu tiên vào năm 2007 tại đảo Yap ở Thái Bình Dương và đến cuối năm

2015 dịch sốt Zika bùng nổ tại Nam Mỹ và nhanh chóng lây lan sang khắp 75 nước trên thế giới[89] Với sự lan rộng của dịch Zika, nhiều nghiên cứu đã chứng minh được rằng vi rút Zika chính là nguyên nhân gây ra hàng nghìn ca biến chứng nghiêm trọng gây tật đầu nhỏ ở trẻ em và hội chứng viêm dây đa rễ thần kinh Guillian Barré[68] Trên thế giới có 31 quốc gia ghi nhận có ca tật đầu nhỏtrong đó Brazil là nước có số ca bệnh cao nhât thế giới 3174 ca (tính đến tháng1/2016) Chính vì vậy, tháng 2/2016, Tổ chức Y tế thế giới đã công bố vi rút Zika

là vấn đề y tế khẩn cấp gây quan ngại trên thế giới[59].

Bên cạnh việc phát hiện hậu quả nghiêm trọng của nhiễm vi rút Zika các nhà khoa học còn khẳng định rằng Zika không chỉ lây truyền qua véc tơ gây bệnh mà còn lây trực tiếp qua đường tình dục, truyền từ mẹ sang con[68] Vì vậy nguy cơ lây truyền Zika có thể xẩy ra đối với tất cả người dân trong cộng đồng Việt Nam là nước lưu hành muỗi Ades truyền bệnh sốt xuất huyết, miễn dịch cộng đồng về vi rút Zika, chưa có, thế giới chưa có vắc xin và thuốc đặc trị

đều không có[9] Thêm vào đó là sự mở rộng thương mại du lịch giữa các nước trên toàn thế giới nên có nguy cơ lây truyền vi rút Zika là rất lớn Hai ca nhiễm vi rút Zika đầu tiên ở Khánh Hòa và thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 4/2016 Từ

đó đến nay, nhiều ca bệnh do vi rút Zika khác cũng được phát hiện ở một số tỉnh phía Nam và Tây Nguyên Theo thống kê của Bộ Y tế từ tháng 3/2016 đến ngày 12/6/2017 cả nước đã ghi nhận 246 trường hợp dương tính với vi rút Zika tại 15

Trang 20

tỉnh, thành phố Trong đó có 1 trường hợp trẻ 4 tháng tuổi mắc chứng đầu nhỏ nghi liên quan đến vi rút Zika tại Đắc Lắc [5].

Số trường hợp nhiễm vi rút Zika tăng lên và một số trẻ dị tật đầu nhỏ được phát hiện gây nhiều lo lắng và hoang mang trong cộng đồng Vì vậy, tìm hiểu kiến thức về vi rút Zika, thái độ đối với dịch bệnh rất quan trọng để làm cơ sở cho chiến lược truyền thông phù hợp giúp cộng đồng phòng nhiễm vi rút Zika một cách hiệu quả

Hà Nội là nơi có lưu hành muỗi Ades và các ca bệnh sốt xuất huyết xuất hiện quanh năm, do vậy nguy cơ lưu hành vi rút Zika là hoàn toàn có thể xảy ra Hơn thế nữa, Hà Nội là trung tâm chính trị kinh tế của cả nước, nơi tập hợp, giao lưu của nhiều người đến từ mọi miền ở trong và ngoài nước là điều kiện thuận lợi lây lan vi rút Zika Mặc dù cho đến nay, chưa có một trường hợp nhiễm Zika nào được ghi nhận tại Hà Nnội nhưng công tác dự phòng tránh nhiễm Zika là can thiệp rất cần thiết, đặc biệt là đối với phụ nữ ở tuổi sinh đẻ[15]. Vì vi rút Zika cónguy cơ gây ra tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh hoặc thai lưu nếu trong quá trình mang thai bà

mẹ bị nhiễm bệnh Do đó so với nhóm đối tượng khác trong cộng đồng, nhóm đốitượng này cần đặc biệt chú trọng phòng tránh vi rút hơn

Truyền thông Tăng cường kiến thức, giúp người dân nói chung và nhóm đốitượng trong độ tuổi sinh đẻ nói riêng hiểu biết đúng về Zika và các hậu quả khi bị nhiễm là các hoạt động quan trọng để cho các thực hành đúng cho dự phòng lây nhiễm Ngoài ra tại Hà Nội chưa có nghiên cứu về kiến thức cộng đồng về vi rút Zika Đó cũng là lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu ”Kiến thức, thái độ về phòng nhiễm vi rút Zika của phụ nữ từ 20-45 tuổi tại phường Láng Thượng, quận

Với hi vọng nghiên cứu này bước đầu phản ánh tình trạng kiến thức, thái độ của phụ nữ từ 20-45 tuổi tại phường Láng Thượng từ đó đưa ra giải pháp truyền thông can thiệp nhằm nâng cao nhận thức về vi rút Zika và cách phòng chống có hiệu quả tại cộng đồng

Trang 21

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về phòng nhiễm vi rút Zika của phụ nữ từ 20-45 tuổi ở phường Láng Thượng, Quận Đống Đa, Hà Nội năm 2017.

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng nhiễm vi rút Zika của phụ nữ từ 20-45 tuổi ở phường Láng Thượng, Quận Đống Đa, Hà Nội năm 2017.

3 Mô tả nhu cầu tiếp cận thông tin về vi rút Zika của phụ nữ từ 20-45 tuổi ở phường Láng Thượng, Quận Đống Đa, Hà Nội năm 2017.

Trang 24

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đại cương về vi rút Zika

1.1.1 Đặc điểm sinh học

Vi rút Zika (ZIKV) thuộc chi Flavivirus, họ Flaviviridae, cùng chi với các vi rút gây bệnh sốt vàng, sốt xuất huyết Dengue, viêm não Nhật Bản và viêm não Tây sông Nin [37] Cấu tạo của ZIKV gồm các thành phần: hệ gen, lớp vỏ bọc protein(capsid) và lớp vỏ ngoài.

Hệ gen của ZIKV là RNA sợi đơn dài 10.794 nucleotit với hai vùng không mãhóa được là 5’NCR và 3’NCR (non-coding regions), giúp vi rút nhân lên, tổng hợpthành phần cấu tạo đặc trưng của nó trong tế bào chủ [45] Khung đọc mở của ZIKVnhư sau: 5'-C-prM-E-NS1-NS2A-NS2B-NS3-NS4A-NS4B-NS5-3' và mã hóa cho mộtpolyprotein và sau đó nó được cắt thành lớp vỏ bỏ protein capsid (C), màng tiền thân(prM), vỏ (E), và các protein không cấu trúc (NS)[45] Các protein E tạo nên bề mặthạt vi rútvà tham gia vào quá trình sao chép bằng cách gắn lên trên thụ thể các tế bàocảm thụ[44, 45, 51] [51] NS1, NS3, và NS5 là những protein kích thước lớn và cótính bảo tồn cao trong khi protein NS2A, NS2B, NS4A và NS4B là những protein nhỏhơn và kỵ nước[44]

Hình 1.1: Cấu trúc gien của các vi rút thuộc họ Flaviviridae

Vùng không mã hóa 3’NCR gồm có 428 nucleotide có thế đóng vai trò dịch mã,đóng gói RNA, tạo vòng, ổn định hệ gen và định danh[51] Vùng 3’NCR tạo thành

Trang 25

một cấu trúc vòng lặp và 5’NCR cho phép dịch mã thông qua một mũ neuclotit methylhóa hoặc một protein gắn kết gen [60].

Cấu trúc của ZIKV nhìn chung giống như các vi rút thuộc họ Flaviviridae khác bao gồm một nucleocapsid đường kính khoảng 25-30nm được bao quanh bởi một màng lipid kép chứa các protein vỏ E và M Hạt vi rút hình cầu có đường kính khoảng 42-54 nm với những phần nhô ra ở bề mặt đo khoảng 5-10nm [44, 87] Các protein bề mặt được sắp xếp thành khoảng hai mươi mặt đối xứng giống nhau [58].

Hình 1.21: Hình ảnh cấu trúc hạt của ZIKV

Gần Tuy nhiên gần đây, nhóm nghiên cứu trường đại học Purdue đã sử dụng cộng nghệ cryo-electrion để phác họa hình vẽ bề mặt của một hạt (phần tử) ZIKV trưởng thành Họ thấy rằng ZIKV có điểm tương đồng với các nhóm vi rút khác như vi rút Dengue, vi rút viêm não tây sông Nin, sốt vàng da là vi rút RNA+ được bao bọc bởi một lớp màng dày bên trong lớp vỏ protein đa diện Ngoài ra có một

sự khác biệt ở lớp protein bề mặt đó là các E glycoprotein Có khoảng 180 giác hút mọc trên bề mặt của phần tử cho phép vi rút bám vào một vài tế bào cơ thể nhất địinh, bao gồm các kháng thể và vật chủ Những giác hút này cũng xuất hiện trên vi rút Dengue nhưng những đặc điểm khác biệt của protein E glycoprotein ở ZIKV có thể giải thích tại sao nó có khả năng tấn công các tế bào thần kinh ở thai nhi [33].

Trang 26

Hình 1.23: Hình ảnh hạt ZIKVsau khi dùng công nghệ cryo-electrion để phác họa Các nhà nghiên cứu hi vọng trong tương lai sẽ tìm ra một chất ức chế hay vắc xin nhắm vào E glycoprotein nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của vi rút vào tế bào.

Theo nghiên cứu hiện nay ZIKV có hai dòng chính: dòng có nguồn gốc từ châu Phi, và dòng có nguồn gốc từ châu Á Một số báo cáo cho rằng bề mặt vỏ của ZIKV có nguồn gốc châu Phi thiếu hụt các E glycoprotein nên nó thường được cho là không phá hủy các tế bào thần kinh Tuy nhiên tại Brazil, ZIKV dòng châu Á tồn tại E glycoprotein trên bề mặt là thủ phạm gây ra hội chứng Guillain-Barré và tật đầu nhỏ Trong một vài các nghiên cứu khác thì cho rằng việc thiếu hụt các E glycoprotein ở ZIKV nguồn gốc châu Phi là do khả năng truyền vi rút của từng loài muỗi cụ thể [32].

1.1.2 Dịch tễ học

1.1.2.1 Tình hình lưu hành vi rút Zika trên thế giới

Năm 1947, ZIKV lần đầu tiên được phân lập ở khỉ Rhesus trong khi giám sát trọng điểm bệnh sốt vàng ở rừng Zika, Uganda [22] Người ta quan sát thấy

có một con khỉ Rhesus bị sốt, và đã lấy huyết thanh của nó tiêm vào một nhóm chuột thí nghiệm theo đường não, một nhóm khác gồm một số con chuột và một con khỉ Rhesus khác theo đường bụng Nhóm chuột tiêm vào đường bụng không

có biểu hiện ốm trong suốt 30 ngày sau đó Khỉ bị tiêm huyết thanh cũng không

bị sốt trong suốt 23 ngày theo dõi Trong khi nhóm chuột bị tiêm huyết thanh vào đường não bị sốt sau 10 ngày tiêm Tác nhân trong huyết thanh khi gây sốt ở chuột được gọi là vi rút Zika (ZIKV).

Trang 27

Năm 1948, các nhà khoa học tiếp tục phân lập được ZIKV từ huyết thanh của khỉ Rherus sau khi bị tiêm dưới da hỗn dịch nghiền muỗi Ades Africanus [45].

Khi xuất hiện triệu chứng sốt, người ta tiếp tục lấy huyết thanh của con khỉ này tiêmtheo đường não của môt nhóm chuột thí nghiệm thì thấy một số con chuột trong nhóm

tử vong hoặc bị liệt sau khoảng từ 10-13 ngày [45]

Năm 1952, nghiên cứu về kháng thể trung hòa một số vi rút được phân lập ở Đông Phi, người ta đã phát hiện ra kháng thể trung hòa ZIKV ở huyết thanh những người bản địa, cụ thể là ở Uganda và cộng hòa Tanzania [45, 56, 74, 79] Hai năm sau, năm 1954 ZIKV lần đầu tiên được phát hiện trong huyết thanh của một bệnh nhân nữ 10 tuổi ở miền Đông Nigeria với triệu chứng sốt và đau đầu [50] Cũng trong cùng thời gian này, trong một cuộc điều tra huyết thanh học của người dân ở Ấn Độ, các nhà khoa học đã phát hiện sự hiện diện của ZIKV trong

cơ thể con người Tiếp theo đó thông qua các điều tra huyết thanh học thực hiện phảnứng trung hòa kháng thể, ZIKV cũng được đã được phát hiện có mặt ở một loạt các quốc gia Châu Phi, Châu Á như Ai Cập, Malaysia, Mozambich, Nigeria và Đông Nam Á như Philippine [48] và Việt Nam [53].

Nhìn chung từ những năm 60 đến 90 của thế kỷ 20, ZIKV hầu hết đều được phân lập trên muỗi và khỉ rherus ở các nước nằm trên dải xích đạo châu Phi[26] Những ca bệnh nhiễm ZIKV ở người được phát hiện qua xét nghiệm huyết thanh

và căn bệnh này được coi là lành tính với các triệu chứng nhẹ [55] Qua các nghiên cứu tại một số nước châu Phi cho thấy chưa xuất hiện ca tử vong nào hay

ca nhập viện nào do ZIKV tuy nhiên các nghiên cứu về phản ứng trung hòa kháng thể với ZIKV, cho thấy con người đã phơi nhiễm rộng rãi với ZIKV [74].

Từ năm 1969-1983 ZIKV đã được phát hiện ở Châu Á bao gồm các nước Ấn Độ, Malaysia, Pakistan, Indonesia Tuy nhiên, các ca bệnh xuất hiện lẻ tẻ và không bùng phát thành dịch [51] Các nhà nghiên cứu sau này cho rằng, thời kỳ đó việc phát hiện ra ca bệnh nhiễm ZIKV là hiếm vì biểu hiện lâm sàng của sốt ZIKV cũng gần tương tự như sốt Dengue và Chikunguya nên người ta thường bỏ qua nguyên nhân do sốt ZIKV [74].

Trong năm 2007, ZIKV đã lây lan từ Châu Phi, Châu Á sang đảo Yap ở Thái Bình Dương thuộc nước Cộng hòa Micronesia và gây ra vụ dịch sốt ZIKV lớn đầu tiên trong lịch sử loài người Người ta tiến hành điều tra dịch tễ và lấy

Trang 28

185 mẫu máu của người dân trên đảo, bằng xét nghiệm huyết thanh PCR cho thấy có 49 ca (26%) nhiễm ZIKV; 59 ca (32%) nghi ngờ vì có globulin miễn dịch IgM chống ZIKV trong huyết thanh Nhóm nghiên cứu ước tỉnh khoảng 73% dân số trên 3 tuổi ở đảo Yap đã bị nhiễm ZIKV song không có ca nào tử vong, nhập viện hoặc có biến chứng xuất huyết [46].

Trong giai đoạn từ 2010 đến 2015 tại châu Á xuất hiện những ca bệnh lẻ tẻ

là những khách du lịch Năm 2012, nữ du khách người Australia xét nghiệm dươngtính với ZIKV sau chuyến du lịch 9 ngày tại Indonesia [86] Năm 2013, 3 ca bệnhnhiễm ZIKV được phát hiện ở một người Đức, người Canada và người Nhật sau khi đi

du lịch tại miền Bắc Thái Lan [78] Năm 2014, một người phụ nữ Đức đã bị nhiễm ZIKV sau khi đi du lịch từ Malaysia trở về [88] Những nơi mà các khách du lịch này đến đều có muỗi truyền ZIKV lưu hành [26] Trong khoảng thời gian này ZIKV đã gây ra các ổ dịch lớn tại một số đảo thuộc Thái Bình Dương như French Polynesia (8.723 ca nghi nhiễm và hơn 30.000 ca lâm sàng có biểu hiện sốt ZIKV); Quần đảo Cook (932 ca nghi nhiễm và 50 ca nhiễm); và New Caledonia (1.400 ca nhiễm)[74]

Trong 2 năm 2015 - 2016, ở Châu Mỹ đã có 48 vùng và lãnh thổ quốc gia lưu hành ZIKV [69] Trong đó dịch bệnh ở Brazil là nghiêm trọng nhất, lây lan ở khắp 2.288 thành phố của 27 bang trong cả nước [52].

Ở Mỹ, ca bệnh xuất hiện đầu tiên là một công dân bang Texas du lịch khi vừa trở về từ vùng Nam Mỹ [27] đồng thời báo cáo 2 ca bệnh nhiễm ZIKV qua đường tình dục đầu tiên trên thế giới.

Ở Châu Á, một nghiên cứu về miễn dịch ở Thái Lan, cho thấy có hai mẫu phản ứng kháng nguyên với ZIKV [35] Nhật Bản báo cáo có một ca bệnh xâm nhập khi đi du lịch Thái Lan về [74] và hai trường hợp trước đây trở về từ Polynesia thuộc Pháp [74] Tháng 8-2016 một vụ dịch bùng phát mạnh ở Singapore, tiếp theo là Campuchia và Indonesia Bản đồ lưu hành ZIKV ngày càng

mở rộng ra khắp toàn cầu với 75 quốc gia lưu hành ZIKV qua véc tơ kể từ khi dịch bùng phát tại Nam Mỹ đầu năm 2015 [66].

Báo cáo ngày 23/12/2016 của WHO cho thấy không có thêm vùng lãnh thổ nào lưu hành ZIKV do muỗi truyền bệnh Tuy nhiên các ca bệnh nhiễm ZIKV vẫn xuất hiện do véc tơ muỗi truyền bệnh vẫn còn tồn tại, sự mở rộng giao lưu

Trang 29

thông thương du lịch khắp thế giới, miễn dịch ZIKV trong cộng đồng còn yếu Vì vậy mặc dù ngày 18 tháng 11 năm 2016, Tổng Giám đốc WHO đã công bố chấm dứt tình trạng khẩn cấp toàn cầu đối với ZIKV nhưng vẫn khuyến cáo các nước

có lưu hành ZIKV có kế hoạch chiến lược ứng phó lâu dài với ZIKV [59]

Tính đến ngày 10/3/2017, báo cáo của WHO cho thấy đã có tổng số 148 quốc gia và vùng lãnh thổ có sự lưu hành hoặc lây truyền vi rút Zika với 31 quốc gia ghi nhận trẻ mắc chứng đầu nhỏ có liên quan đến vi rút Zika [72]

Trang 31

Hình 1.34: Tình hình lưu hành vi rút Zika trên thế giới

(Nguồn WHO)

Trang 32

1.1.2.2 Tình hình lưu hành vi rút Zika ở Việt Nam

Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, muỗi Ades lưu hành phổ biến Bằng chứng là qua các năm dịch bệnh sốt xuất huyết luôn luôn xảy ra với hàng chục nghìn ca mắc ở cả ba miền Muỗi Ades cũng chính là véc

tơ truyền ZIKV Kể từ khi phát hiện ZIKV thông qua xét nghiệm huyết thanh

vào trong một nghiên cứu năm 1963 [53], ở Việt Nam chưa từng bùng phát dịch sốt ZIKV Trong năm 2016 trong điều kiện tự nhiên thuận lợi - vec tơ truyền bệnh phát triển, đồng thời giữa bối cảnh toàn cầu hóa, đi lại du lịch giao thương trong nước và giữa các nước thuận tiện đã tạo điều kiện cho ZIKV bùng phát Ngày 5/4/2016, Bộ Y tế đã thông báo xuất hiện các ca bệnh nhiễm ZIKV đầu tiên ở Việt Nam Một trường hợp ở Nha Trang, Khánh Hòa và một trường hợp ở Thành phố Hồ Chí Minh đều là bệnh nhân nữ với các triệu chứng sốt, nổi ban, viêm kết mạc, dương tính với ZIKV [8] Hiện tại các ca bệnh nhiễm ZIKV chủ yếu phát hiện ở các tỉnh phía Nam, rải rác ở các tỉnh Khánh Hòa, Đồng Nai, Phú Yên, Long An, Đắc Lắc, Bình Dương, Trà Vinh, thành phố Hồ Chí Minh [6, 14] Bên cạnh đó tại Đăk Lăk đã xuất hiện ca bệnh trẻ bị đầu nhỏ đầu tiên nghi do mẹ nhiễm ZIKV trong quá trình mang thai [7] Giám sát kết quả xét nghiệm chẩn đoán Zika tại 11 tỉnh thuộc Miền Trung (bao gồm các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình) năm 2016 cho thấy 9/1632 ca dương tính với vi rút Zika Khánh Hòa là tỉnh có tỷ lệ mắc Zika cao nhất 7/9 ca, Bình Thuận 1 ca, Phú Yên 1 ca Các vi rút Zika được tìm thấy ở đây có kiểu gen châu Á, cùng nhóm với chủng Việt Nam ở Hàn Quốc, Nhật Bản cũng như chủng lưu hành ở Trung Quốc và Châu Mỹ như Brazil, Mexico, Haiti năm 2014-2016 Trong giám sát đã xác định được 2 ca nhiễm vi rút Zika từ hệ thống giám sát sốt xuất huyết Dengue Như vậy việc giám sát và xét nghiệm chẩn đoán ca bệnh do vi rút Zika cần phối hợp với xét nghiệm với vi rút Dengue theo khuyến cáo của WHO [11] Thông tin từ hệ thống giám sát trọng điểm bệnh sốt xuất huyết Dengue - bệnh Chikungunya - bệnh do vi rút ZIKV cho thấy, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 33

từ tháng 3/2016 đến tháng 3/2017 đã ghi nhận 210 ca dương tính trên tổng số

1473 ca xét nghiệm tại 24 quận huyện và được phân bố ở 106/319 phường, xã của thành phố [13] Dịch bệnh sốt ZIKV đang bùng lên trong bối cảnh dịch sốt xuất huyết đang diễn ra từ tháng 9 đến tháng 3 hàng năm, với đỉnh dịch là tháng 12 Tuy nhiên qua hệ thống giám sát cho thấy triệu chứng bệnh do ZIKV thường rất nhẹ hoặc không có triệu chứng nên không phải tất cả mọi người đều đến bệnh viện khám [6] Vì thế con số thực tế có thể còn cao hơn nhiều so với số liệu thông báo.

Theo thống kê của Bộ Y tế từ tháng 3/2016 đến ngày 12/6/2017 cả nước đãghi nhận 246 trường hợp dương tính với vi rút Zika tại 15 tỉnh, thành phố[5]

Số liệu Zika hiện nay

Tại Hà Nội, đến ngày 10/9/2017 theo Sở Y tế, chưa ghi nhận ca nhiễm vi rút Zika nào xuất hiện [15] Song với các yếu tố nguy cơ như: véc tơ truyền bệnh - muỗi Ades lưu hành phổ biến và có mặt ở 584 phường xã; sự di chuyển

đi lại giữa các tỉnh thành phố trong cả nước làm phát tán tác nhân gây bệnh, nhất là Hà Nội là đầu mối giao lưu của cả nước; đồng thời hàng ngày Hà Nội tiếp đón 50-60 chuyến bay quốc tế với hàng nghìn khách nước ngoài nên Hà Nội là địa bàn có nguy cơ xuất hiện vi rút Zika [1]

1.1.3 Phương thức lây truyền vi rút Zika

1.1.3.1 Lây truyền qua véc tơ

ZIKV thuộc họ Flavividate cùng nhóm với DENV, vi rút viêm não Nhật Bản, vi rút gây bệnh sốt vàng, viêm não tây sông Nil truyền bệnh qua véc tơmuỗi [37] Cho Đây là nhóm vi rút truyền bệnh cho người qua vec tơ là muỗi và

bọ ZIKV được phân lập ở muỗi lần đầu tiên vào năm 1948, cho đến nay có rất nhiều loài muỗi trong họ Ades phân bố ở khắp các vùng địa lý và khí hậu khácnhau khắptrên thế giới được phát hiện dương tính với ZIKV[19] Tuy nhiên theo WHO và CDC, ZIKV lây lan sang người qua vec tơ chủ yếu là muỗi Ades AegyptiAdes Albopictus Nó cũng là vec tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue, chikungunya và bệnh sốt vàng ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới

Trang 34

[70] [40, 73] Việt Nam là nước lưu hành phổ biến DENV, ca bệnh sốt xuất huyết có quanh năm và thường gây thành dịch lớn với vec tơ truyền bệnh là muỗi Ades AegyptiAdes Albopictus nên có nguy cơ bùng phát dịch ZIKV.

Nguồn bệnh: giống như sốt xuất huyết người nhiễm ZIKV chính là nguồn bệnh từ nhiễm thể ẩn không biểu hiện triệu chứng đến mức độ xuất hiện các triệu chứng lâm sàng Muỗi Ades mang mầm bệnh sau khi đốt những người đã nhiễm ZIKV Người lành mắc bệnh khi bị những con muỗi này đốt (tiêm, chích).

Khối cảm nhiễm: bất kỳ người nào cũng có khả năng nhiễm vi rút Zika.

1.1.3.2 Lây truyền qua quan hệ tình dục

ZIKV lây truyền qua đường tình dục được các nhà khoa học công bố từ năm 2008 [26] Một nhà khoa học người Mỹ đã bị nhiễm ZIKV tại Senegan và khi trở về Mỹ đã truyền vi rút này sang cho vợ mình - người chưa bao giờ đến châu Phi và châu Á [47] Do vậy sau khi điều tra tình hình dịch tễ, triệu chứng của bệnh nhân các nhà khoa học rút ra kết luận nghi ngờ ZIKV tồn tại trong tinh dịch của người đàn ông và có khả năng lây lan sang vợ qua quan hệ tình dục Trong vụ dịch sốt ZIKV ở French Polynesia, Nam Thái Bình Dương năm

2013, người ta phân lập được ZIKV trong mẫu tinh dịch của bệnh nhân nhiễm ZIKV bằng xét nghiệm PCR [30] Tiếp theo, ngày 2/1/2016 các nhà khoa học

Mỹ cũng công bố ca bệnh nhiễm ZIKV qua đường tình dục do lây nhiễm từ bạn tình là người vừa đi du lịch trở về từ vùng đang bùng phát dịch ZIKV ở Venezuela [26].

Kể từ đó cho tới này một loạt các ca bệnh lây ZIKV qua đường tình dục

đã được báo cáo ở trên 13 nước và chủ yếu là qua tiếp xúc với âm đạo [64, 89] Phát hiện ZIKV trong tinh dịch của người đàn ông ở Tahiti năm 2013 cho thấy vi rút này đã tồn tại trong tinh dịch ít nhất 14 ngày sau khi có triệu chứng sốt Zika [30] Trong năm 2016, 07 báo cáo trên thế giới đều khẳng định sự hiện hữu của ZIKV trong tinh dịch thông qua xét nghiệm phản ứng real time PCR.

Về thời gian ZIKV tồn tại trong tinh dịch, môt số báo cáo cho là vi rút tồn tại

Trang 35

trong tinh dịch đến 14 ngày sau khi bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm ZIKV

và số lượng vi rútđược phát hiện là gấp 100000 lần so với số lượng vi rút ở trong mẫu máu Tuy nhiên, một số nghiên cứu tiếp đó đưa ra kết quả khác nhau Nghiên cứu ở NewZealand cho kết quả là 76 ngày, ở Pháp là 93 ngày, ở Italya là 181 ngày và dài nhất là là 188 ngày ở một người đàn ông Italya được chẩn đoán nhiễm ZIKV tại Haiti, các triệu chứng xuất hiện 14 ngày trước khi trở về Italya vào tháng 2 năm 2016 Căn cứ vào kết quả của các nghiên cứu đó, WHO đã khuyến cáo người dân trong vùng dịch hoặc trở về từ vùng dịch cần

sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục trong thời gian ít nhất 6 tháng để đề phòng lây nhiễm ZIKV [64].

ZIKV được phân lập không chỉ trong tinh dịch mà còn trong dịch âm đạo

và chất nhầy ở cổ tử cung của phụ nữ [74] Một điều đáng chú ý là sau một thời gian máu và nước tiểu nhiễm ZIKV thì chuyển sang âm tính với ZIKV trong khi đó dịch âm đạo vẫn tồn tại vi rút này Ngoài ra ZIKV còn được phát hiện tồn tại trong nước tiểu và nước bọt của bệnh nhân[64].

Tháng 9 năm 2016, CDC đã đưa ra khuyến cáo, khi quan hệ tình dục, sử dụngbao cao su trong vòng 8 tuần nếu là nữ giới và 6 tháng nếu là nam giới kể từ khixuất hiện triệu chứng đầu tiên Nếu không thấy xuất hiện triệu chứng thì sử dụngbao cao su từ thời điểm xét nghiệm ZIKV dương tính, hoặc trở về từ vùng códịch[31, 43]

1.1.3.3 Một số hình thức lây truyền khác

Qua đường truyền máu: Vụ dịch ở French Polysnia năm 2013 cho thấy có

1505 người hiến máu khỏe mạnh được xét nghiệm tìm ZIKV, kết quả cho thấy

có 42 trường hợp chiếm 2,8% tổng số mẫu điều tra dương tính với ZIKV Điều tra hồi cứu những trường hợp dương tính này thì có 11 ca có biểu hiện nhiễm ZIKV trước khi hiến máu Mặc dù trong kết quả điều tra này không tìm ra được bằng chứng cho thấy ZIKV truyền qua đường truyền máu song những vi rút thuộc cùng họ flavidate như DENV và vi rút Tây sông Nin đã được y văn ghi nhận truyền qua đường truyền máu Gần đây tại Brazil ghi nhận 2 ca nhiễm

Trang 36

ZIKV do truyền máu [29, 62]. Gần đây tại Brazil ghi nhận 2 ca nhiễm ZIKV dotruyền máu.

nhi trong suốt thời kỳ mang thai Bằng chứng là việc phát hiện vi rút không chỉtrong nước ối, nước tiểu hoặc huyết thanh của bà mẹ có bào thai bất thường vềnão[18, 77, 80, 84] mà còn bởi sự ghi nhận tồn tại RNA, protein, các hạt vi rúttrong não, nhau thai hoặc huyết thanh của trẻ sơ sinh bị tật đầu nhỏ và các thai nhi

đã tử vong[16, 17, 23, 80]

Theo số liệu hệ thống giám sát tại thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3/2016-3/2017 có 24.3% ca nhiễm Zika là thai phụ trên tổng số 210 mẫu dương tính Quá trình giám sát 20 thai phụ đã sinh, 17/20 trẻ được tiến hành tầm soát

vi rút Zika ngay sau sinh chỉ ghi nhận 01 trường hợp thai kỳ nhiễm bệnh ở tuần thai 26 có kết quả xét nghiệm trẻ dương tính với vi rút Zika, 16 trẻ còn lại có xét nghiệm âm tính với vi rút Zika [13].

Điều này cho thấy khả năng vi rút Zika lây từ mẹ sang con trong quá trình mang thai.

1.1.4 Biểu hiện lâm sàng

1.1.4.1 Các biểu hiện thường gặp

Triệu chứng của bệnh nhân nhiễm ZIKV thường giống với triệu chứng khi bị nhiễm nhiễm vi rút Dengue hoặc Chuykungyna Tuy nhiên mức độ trầm trọng của triệu chứng thường nhẹ hơn nhiều hoặc không có biểu hiện bên ngoài và hiếm khi tử vong [42, 71] Trên thế giới mới chỉ ghi nhận 3 ca tử vong

do ZIKV tại Brazil và 80% ca nhiễm ZIKV không có biểu hiện triệu chứng Các triệu chứng thường gặp cũng giống như nhiễm các loại vi rút khác

- Sốt: bệnh nhân thường sốt nhẹ từ 37.5ºC đến 38ºC

- Ban dát sẩn trên da

- Đau đầu, đau mỏi cơ khớp

- Viêm kết mạc mắt

Trang 37

Thông thường những triệu chứng trên sẽ hết sau 2-7 ngày Chính vì đặc điểm này mà nhiều người không nhận ra mình đã bị nhiễm ZIKV nên việc lây truyền ZIKV sang cộng đồng cũng nhanh chóng như các dịch vi rút đường hô hấp.

Hiện tại ZIKV chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, và chỉ điều trị triệu chứng.

Trang 38

1.1.4.2 Một số biến chứng nghiêm trọng

Qua điều tra hồi cứu và giám sát dịch tễ vụ dịch năm 2007 tại FrenchPolynesia, các nhà nghiên cứu nhận thấy có sự tăng lên của các ca dị tật thai nhi vàhội chứng Guillian-Barré (viêm đa rễ thần kinh) Giả thuyết về khả năng có mối liênquan giữa ZIKV và hội chứng tổn thương thần kinh, dị tật bẩm sinh được đưa ra vàkhuyến nghị cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để khẳng định [74]

a Tật đầu nhỏ do nhiễm ZIKV khi mang thai

Tật đầu nhỏ hay não bé (Microcephaly) được xác định là dị tật bẩm sinh khi kích thước đầu nhỏ hơn rất nhiều so với kích thước đầu trung bình của trẻ cùng lứa tuổi và cùng giới tính [63, 65] Đó là hiện tượng não của trẻ không phát triển đầy đủ trong bào thai trong suốt thai kỳ hoặc dừng phát triển sau ngay khi sinh Tật đầu nhỏ là một dị tật hiếm gặp Theo CDC, ở Mỹ cứ 10 000 đứa trẻ sinh ra thì có từ 2-12 đứa trẻ sống mắc dị tật này [36].

Trẻ bị tật đầu nhỏ có thể do nhiều nguyên nhân như do mẹ bị nhiễm độc, nhiễm trùng trong thời kỳ thai sản (CMV, Rubella, toxoplasma…), do đột biến nhiễm sắc thể hoặc trẻ bị bệnh lý về gen [12] Với các nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học đã công bố bằng chứng bà mẹ mang thai nhiễm ZIKV trong 3 tháng đầu là một nguyên nhân trẻ sinh ra bị tật đầu nhỏ

Theo WHO, việc chẩn đoán tật đầu nhỏ chính xác nhất tại thời điểm trongvòng 24h sau khi sinh bằng cách đo chu vi đầu và so sánh với bảng tăng trưởngvòng đầu chuẩn theo tuổi và giới của WHO, đồng thời phải tiếp tục theo dõi sau khisinh Hiện nay trên thế giới chưa có xét nghiệm đặc hiệu nào cho dị tật này và chỉ bằng cách siêu âm trong 3 tháng cuỗi thai kỳ để xác định có dị tật đầu nhỏ hay không [63] Điểm cut-off của chu vi vòng đầu thường là -2 độ lệch chuẩn của chu vi vòng đầu trung bình theo tuổi và giới Trẻ bị tật đầu nhỏ khi chu vi vòng đầu dưới -3 độ lệch chuẩn chu vi vòng đầu trung bình theo tuổi và giới [65].

Trẻ bị dị tật đầu nhỏ có thể là riêng lẻ hoặc cũng có thể đi kèm với các dị tật khác[39] Trẻ bị tật đầu nhỏ có thể gặp một loạt các vấn đề về sức khỏe như động kinh, chậm phát triển về vận động, thăng bằng, khả năng nói, khó nuốt,

Trang 39

giảm thính lực, thị lực thậm chí có thể đe dọa tính mạng Những vấn đề này có thể từ nhẹ đến nặng và thường là suốt đời

Về điều trị, hiện nay vẫn chưa có phương pháp điều trị triệt để Tùy theo mức độ phát triển của não sẽ có các liệu pháp phục hồi phù hợp Những trẻ này cần được khám thường xuyên để theo dõi sự tăng trưởng và phát triển cũng như điều chỉnh các liệu pháp phục hồi phù hợp [36] Vấn đề quan trọng

là cần phát hiện và can thiệp sớm vì can thiệp sớm sẽ giúp các em bé bị tật đầu nhỏ để cải thiện và phát huy tối đa năng lực thể chất và trí tuệ của mình Can thiệp sớm có thể bao gồm liệu pháp nói, liệu pháp nghề nghiệp, và vật lý trị liệu

Tại Việt Nam Bộ Y tế báo cáo có 1 ca tật đầu nhỏ nghi do nhiễm ZIKV tại Đắc Lắc Xét nghiệm huyết thanh của

người mẹ và trẻ đồng thời điều tra dịch tễ

quá trình mang thai cho thấy bà mẹ có

biểu hiện lâm sàng nhiễm ZIKV lúc ba

tháng đầu thai kỳ Đây là trường hợp tật

đầu nhỏ đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam

hiện nay[7]

Hình 1.45: Hình thái vòng đầu bình

thường và vòng đầu bị tật đầu nhỏ

b Viêm dây đa rễ thần kinh (Hội chứng

Guillain-Barré)

Hội chứng Guillian - Barré (GBS)

(viêm đa rễ và dây thần kinh cấp tính hay

viêm đa rễ và dây thần kinh sau nhiễm

khuẩn) là một bệnh tổn thương thần kinh ngoại biên cấp tính (rễ và dây thần kinh ởtủy sống và dây thần kinh sọ não), trong đó hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công

Trang 40

vào một phần hệ thống thần kinh ngoại biên Hội chứng này có thể ảnh hưởng đếncác dây thần kinh điều khiển vận động cơ cũng như dây thần kinh truyền cảm giácđau đớn, nhiệt độ, xúc giác Kết quả là nó nhanh chóng làm yếu cơ và mất cảm giác

ở chân và/hoặc ở cánh tay sau đó lan truyền tới phần trên của cơ thể [60] Bệnhnhân có khả năng bị đe dọa tính mạng khi bị liệt gần như hoàn toàn dẫn đến liệt cơ

hô hấp, thay đổi huyết áp nhịp tim và bắt buộc phải thở máy Theo thống kê trên thếgiới có 20-30% bệnh nhân GBS suy hô hấp phải thở máy và hồi sức tích cực, 70 %

ca GBS có vấn đề về khả năng tự điều chỉnh của cơ thể (như có rối loạn nhịp timhay huyết áp…) với 20% ca đặc biệt nghiêm trọng có khả năng tử vong Mặc dùbệnh nhân được chăm sóc tích cực nhưng tỷ lệ tử vong là 5% [74]

Đây là một hội chứng hiếm gặp với tỷ lệ mắc khoảng 0,8-1.9 ca trên 100.000dân mỗi năm ở tất cả các lứa tuổi [54] Tỷ lệ mắc thường thấp ở trẻ em (khoảngtrung bình 0.6 ca trên 100.000 trẻ) và tăng dần theo độ tuổi (2.7 ca trên 100.000người ở độ tuổi 80 [54] Ở Mỹ, tỷ lệ này là 1-2 ca trên 100.000 dân [41]

GBS hiện nay không có thuốc đặc trị mà chủ yếu điều trị các triệu chứng, đặc biệt là theo dõi nhịp thở, nhịp tim và huyết áp để can thiệp kịp thời khi bệnh nhân có triệu chứng liệt cơ hô hấp.

Về nguyên nhân gây bệnh, khoảng hai phần ba ca GBS xuất hiện sau khi nhiễm trùng Tác nhân gồm các loại vi khuẩn như campylobacter jejuni hoặc

vi rút như DENGUE, chikungunya, cytomegalo vi rút hoặc là HIV GBS cũng xảy ra với bệnh nhân sau khi tiêm vắc xin hoặc phẫu thuật [74] Gần đây, dựa vào các nghiên cứu quan sát về dịch tế học và các phân tích về các phản ứng miễn dịch của cơ thể người bệnh, các nhà khoa học đã khẳng định ZIKV là một trong những nguyên nhân gây GBS đồng thời ước tính nguy cơ bị GBS là 0.24 trên 1000 ca nhiễm ZIKV [38].

1.2 Một số biện pháp phòng nhiễm ZIKV

1.2.1 Phòng diệt véc tơ truyền bệnh

Trong khi văc xin phòng ZIKV chưa có thì theo CDC, WHO, và Bộ Y tế Việt Nam khuyến cáo biện pháp diệt, phòng muỗi Ades đốt là biện pháp hiệu

Ngày đăng: 28/07/2019, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Bình (2016), Muỗi truyền vi rút Zika lưu hành tại 584 xã, phường của Hà Nội, Báo Sức khỏe Đời sống, truy cập ngày 18/4/2017, tại trang web http://suckhoedoisong.vn/muoi-truyen-vi-rut-zika-luu-hanh-tai-584-xa-phuong-cua-ha-noi-n114821.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muỗi truyền vi rút Zika lưu hành tại 584 xã, phường củaHà Nội
Tác giả: Thái Bình
Năm: 2016
3. Bộ Y tế (2016), Quyết định 363/QĐ-BYT về việc ban hành "Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh do virus Zika" ngày 2 tháng 2 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫngiám sát và phòng, chống bệnh do virus Zika
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2016
6. Cục y tế dự phòng (2016), Hệ thống chẩn đoán trước sinh giúp phát hiện sớm dị tật thai nhi do Zika, truy cập ngày 12/12/2016, tại trang web http://vncdc.gov.vn/vi/tin-tuc-trong-nuoc/1032/he-thong-chan-doan-truoc-sinh-giup-phat-hien-som-di-tat-thai-nhi-do-zika Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chẩn đoán trước sinh giúp phát hiệnsớm dị tật thai nhi do Zika
Tác giả: Cục y tế dự phòng
Năm: 2016
7. Cục Y tế dự phòng (2016), THÔNG BÁO: Trường hợp trẻ mắc chứng đầu nhỏ nghi liên quan với vi rút Zika đầu tiên tại Việt Nam, truy cập ngày Sách, tạp chí
Tiêu đề: THÔNG BÁO: Trường hợp trẻ mắc chứng đầunhỏ nghi liên quan với vi rút Zika đầu tiên tại Việt Nam
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Năm: 2016
8. Cục Y tế dự phòng (2016), Thông tin báo chí: Hai trường hợp đầu tiên xác định nhiễm vi rút Zika tại Việt Nam , truy cập ngày 12/12/2016, tại trang web http://vncdc.gov.vn/vi/tin-tuc-trong-nuoc/901/thong-tin-bao-chi-hai-truong-hop-dau-tien-xac-dinh-nhiem-vi-rut-zika-tai-viet-nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin báo chí: Hai trường hợp đầu tiên xácđịnh nhiễm vi rút Zika tại Việt Nam
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Năm: 2016
9. Bộ Y tế Cục y tế Dự phòng (2016), Bộ Y tế lên kế hoạch phòng chống vi rút Zika xâm nhập Việt Nam, truy cập ngày 15/11/2016, tại trang web http://vncdc.gov.vn/vi/tin-tuc-trong-nuoc/833/bo-y-te-len-ke-hoach-phong-chong-vi-rut-zika-xam-nhap-viet-nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế lên kế hoạch phòng chống vi rútZika xâm nhập Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế Cục y tế Dự phòng
Năm: 2016
10. Nguyễn Hiến (2017), Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh do vi rút ZIKV của phụ nữ từ 18-40 tuổi tại phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa năm 20017, Luận văn Thạc sĩ Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liênquan đến phòng bệnh do vi rút ZIKV của phụ nữ từ 18-40 tuổi tại phườngPhước Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa năm 20017
Tác giả: Nguyễn Hiến
Năm: 2017
11. Huỳnh Kim Mai và các cộng sự. (2017), "Xác định các trường hợp nhiễm vi rút Zika tại khu vực miền Trung Việt Nam, năm 2016", Tạp chí Y học dự phòng 8(27), tr. 192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các trường hợp nhiễm virút Zika tại khu vực miền Trung Việt Nam, năm 2016
Tác giả: Huỳnh Kim Mai và các cộng sự
Năm: 2017
12. Nguyễn Công Khanh và các cộng sự. (2016), Sách giáo khoa Nhi khoa, nhà xuất bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Nhi khoa
Tác giả: Nguyễn Công Khanh và các cộng sự
Nhà XB: nhàxuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2016
13. Trung tâm y tế Dự phòng thành phố Hồ Chí Minh (2017), Nhìn lại một năm giám sát bệnh do vi rút Zika tại TPHCM, truy cập ngày 26/6/2017, tại trang web http://yteduphongtphcm.gov.vn/bai-viet/nhin-lai-mot-nam-giam-sat-benh-do-vi-rut-zika-tai-tphcm.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một nămgiám sát bệnh do vi rút Zika tại TPHCM
Tác giả: Trung tâm y tế Dự phòng thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
15. Sở Y tế Hà Nội (2017), Tình hình dịch bệnh tuần từ ngày 4/9/2017 đến 10/9/2017, truy cập ngày 13/9/2017, tại trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình dịch bệnh tuần từ ngày 4/9/2017 đến10/9/2017
Tác giả: Sở Y tế Hà Nội
Năm: 2017
12/12/2016, tại trang web http://vncdc.gov.vn/vi/tin-tuc-trong-nuoc/1028/thong-bao-truong-hop-tre-mac-chung-dau-nho-nghi-lien-quan-voi-vi-rut-zika-dau-tien-tai-viet-nam Link
2. Bộ Y tế (2013), Quyết định 973/QĐ-BYT năm 2013 về danh mục hóa chất diệt muỗi trong phòng chống sốt xuất huyết giai đoạn 2013-2015 do Bộ Y tế ban hành, chủ biên Khác
4. Bộ Y tế (2016), Quyết định 1223/QĐ-BYT ngày 5 tháng 4 năm 2016 về việc ban hành hướng dẫn tạm thời chăm sóc phụ nữ mang thai trong bối cảnh dịch bệnh do virus Zika, chủ biên Khác
5. Bộ Y tế (2017), Quyết định số 3091/QĐ-BYT ngày 30/7/2017 về việc ban hành Hướng dẫn giám sát trọng điểm lồng ghép bệnh sốt xuất huyết Dengue, bệnh do vi rút Zika và Chikingunya Khác
14. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2016), Kế hoạch ứng phó dịch bệnh sốt xuất huyết và virus Zika tại thành phố chủ biên, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w