truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát việt nam
Trang 1TÓM TẮT
Bài nghiên cứu đo lường mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào trong chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng, đồng thời ước lượng mức tác động của cú sốc các biến trong nền kinh tế trong việc giải thích sự biến động của lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn từ quý 1 năm 1999 đến quý 2 năm 2011 Bài nghiên cứu sử dụng mô hình
tự hồi quy vecto (VAR) qua các kiểm định thực nghiệm như kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller, hàm phản ứng xung và phân rã phương sai Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá nhập khẩu là 0,53 sau 5 quý, và vào chỉ số giá tiêu dùng là 0,29 sau 6 quý kể từ tác động của cú sốc tỷ giá đầu tiên So sánh với kết quả các bài nghiên cứu tương tự ở Việt Nam cũng như các nước châu Á nhưng giai đoạn trước đó, có thể thấy mức truyền dẫn tỷ giá ở mức trung bình và có tăng lên so với giai đoạn trước Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy ngoài biến cú sốc giá dầu thế giới và chỉ số giá nhập khẩu thì cung tiền M2 là một yếu tố chính giải thích biên động lạm phát Tỷ giá danh nghĩa giải thích khoảng 10% những biến động của lạm phát Các con số ước lượng này, hy vọng sẽ mang lại đóng góp nhỏ trong công tác hoạch định chính sách vĩ mô khi công cụ tỷ giá hối đoái được sử dụng hiệu quả.
Trang 21. GIỚI THIỆU
Tỷ giá là một biến kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mở Tỷ giá có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua các kênh khác nhau như thương mại, giá cả và ngân sách Chính vì vậy đây là một trong những kênh truyền tải của chính sách tiền tệ, truyền dẫn tác động từ các công cụ đến mục tiêu cuối cùng của chính sách, trong đó, quan trọng nhất là mục tiêu ổn định giá cả Đối với Việt Nam, mục tiêu này hiện càng trở nên cấp thiết khi chỉ số giá tiêu dùng tăng cao trong vài năm trở lại đây.
Những sự kiện kinh tế nổi bật như Việt Nam trở thành thành viên chính thức Tổ chức Thương mại thế giới WTO, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam trong hai năm 2007-2008, các vấn đề của thị trường ngoại hối Việt Nam trong hai năm 2009 -
2010 và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như nguy cơ lạm phát tăng mạnh trở lại đã đặt ra nhiều thách thức mới cho việc quản lý kinh tế vĩ mô và đặc biệt trong việc kiểm soát lạm phát ở nước ta
Có khá nhiều bài nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn về vấn đề lạm phát và các nhân tố tác động Theo Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) bên cạnh hai cách tiếp cận quen thuộc của kinh tế học tiền tệ như Keynes, Milton Freidman và kinh tế học cơ cấu như Akinboade, Greene, các nghiên cứu trong quá khứ về lạm phát còn đưa ra một cách tiếp cận thứ ba và có lẽ đơn giản nhất trong việc nghiên cứu các nhân tố quyết định lạm phát: cách tiếp cận ngang bằng sức mua - purchasing power parity (PPP) Cách tiếp cận này xuất phát từ Luật Một Giá với nội dung là khi không tính đến chi phí vận chuyển và các chi phí giao dịch khác, mối quan hệ giữa giá trong nước và giá thế giới trở thành P=E.Pworld trong đó E là tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và
đồng nội tệ
Cách tiếp cận này gợi ý rằng lạm phát chịu ảnh hưởng hoặc gián tiếp từ giá nhập khẩu cao hơn hoặc trực tiếp từ sự gia tăng của cầu trong nước Phương trình này ngầm ý rằng tỷ giá đóng vai trò nhất định trong việc quyết định mức giá và mức
Trang 3chuyển tỷ giá vào lạm phát cần phải được xem xét Sự phá giá đồng nội tệ có thể trực tiếp tác động lên giá trong nước của hàng hóa thương mại nhưng cũng có thể gián tiếp tác động vào mức giá chung nếu các quyết định về giá chịu ảnh hưởng của chi phí nhập khẩu Điều này đặc biệt đúng đối với những nước dựa vào việc nhập khẩu hàng hóa trung gian phục vụ sản xuất và có hiện tượng đô la hóa cao như Việt Nam Vậy sự tăng hay giảm tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát về thời gian lẫn độ lớn; tỷ giá hối đoái có thể giải thích bao nhiêu phần trăm những thay đổi của lạm phát; và liệu tỷ giá hối đoái có phải là một kênh phù hợp để đạt được kiềm chế lạm phát ở Việt Nam? Trả lời những câu hỏi này, bài viết tập trung vấn đề nghiên cứu Mức chuyển tỷ giá vào lạm phát – Exchange rate pass through – một trong những khái niệm khá quen thuộc trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô trên thế giới từ những năm 1980, và gần đây được lưu tâm bởi các nhà nghiên cứu ở Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết làm rõ khái niệm về truyền dẫn tỷ giá hối đoái, cơ chế truyền dẫn tỷ giá đếnlạm phát và các nhân tố vi mô và vĩ mô tác động đến mức truyền dẫn tỷ giá đến lạmphát dựa trên cơ sở lý luận từ tổng hợp kết quả các bài nghiên cứu trước đây
Nội dung nghiên cứu chính nhằm giải quyết hai vấn đề: (1) Đánh giá tác động sự truyềndẫn tỷ giá hối đoái vào trong lạm phát ở Việt Nam, bằng cách ước lượng mức truyềndẫn tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam tronghơn một thập kỷ qua giai đoạn từ năm 1999 đến hai quý đầu năm 2011 (2) Xác địnhtầm quan trọng của cú sốc các biến vĩ mô trong việc giải thích những biến động của lạmphát
Bài viết mong muốn đem đến một đóng góp nhỏ trong việc hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, bởi lẽ ước lượng được thời gian và độ lớn của mức truyền dẫn tỷ giá vào trong lạm phát sẽ giúp đưa ra những quyết định đúng đắn khi sử dụng công cụ
tỷ giá của chính sách tiền tệ nhằm đảm bảo mục tiêu chung hướng đến kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô như chủ trương của Chính phủ ta những năm gần đây và trong thời gian tới.
Trang 4Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp phân tích định tính, đồng thời so sánh, tổng hợp, đốichiếu các kết quả nghiên cứu về mức truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát, kết hợp phân tíchđịnh lượng nhằm đo lường hệ số truyền dẫn qua mô hình Tự hồi quy vecto - Vectorautoregression model (VAR) với chức năng phân rã Cholesky và phân rã phương saicủa mô hình này Các bước kiểm định, thực hiện ước lượng trong mô hình này sử dụngphần mềm Eview
Kết cấu chuyên đề: bài viết gồm năm phần, với bố cục như sau:
• Phần đầu tiên giới thiệu về vấn đề nghiên cứu.
• Phần hai cái nhìn tổng quan về cơ chế truyền dẫn tỷ giá, các nhân tố tác động đến
hệ số truyền dẫn, kết quả nghiên cứu trước đây về vấn đề mức truyền dẫn này trên thế giới của các tác giả ở các nước phát triển, nền kinh tế mới nổi và tại Việt Nam, câu hỏi nghiên cứu đặt ra.
• Phần ba trình bày phương pháp nghiên cứu, lựa chọn mô hình, trình bày về mô hình VAR cùng những ưu và nhược điểm, giải thích các biến và nguồn dữ liệu dùng trong mô hình.
truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng Ước lượng tầm quan trọng của cú sốc các biến vĩ mô trong việc giải thích những biến động của lạm phát.
• Phần cuối là kết luận của bài nghiên cứu về các kết quả đạt được, hạn chế của bài viết cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Trang 52. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Theo Bhagawati (1991) cụm từ “pass - through” – truyền dẫn tỷ giá hối đoái - lần đầu tiên được sử dụng trong ngôn ngữ kinh tế bởi Steve Magee (1973) trong bài báo của mình khi giải thích sự tác động của giảm giá tiền tệ Kể từ đó thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong kinh tế Khi nhắc đến thuật ngữ này, người ta muốn đề cập đến mức độ tác động đến giá cả liên quan như: giá xuất khẩu, nhập khẩu, giá tiêu dùng trong nước và mức độ mở cửa nền kinh tế Hai thập kỷ qua, một lượng lớn tài liệu kinh tế về truyền dẫn tỷ giá hối đoái đã được nghiên cứu Bắt đầu từ những quan điểm khác nhau, đã có nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra vai trò của truyền dẫn
tỷ giá hối đoái ở các nền kinh tế nhỏ và lớn
Khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái
Trước tiên cùng tìm hiểu về mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái là gì Khái niệm này được hiểu có đôi chút khác biệt bởi các nhà kinh tế, do góc độ nghiên cứu khác nhau.
Trong bài nghiên cứu của Goldberg và Knetter (1996) hay Olivei (2002) mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái được định nghĩa là phần trăm thay đổi trong giá nhập khẩu do 1% thay đổi tỷ giá hối đoái danh nghĩa gây ra Còn nghiên cứu của tác giả Mc.Carthy,
J (2000) thì xem xét dưới góc độ là mức chuyển của tỷ giá và giá nhập khẩu đến giá
cả sản xuất nội địa PPI và giá tiêu dùng CPI Trong một số bài nghiên cứu khác như Lian (2006) và Nkunde Mwase (2006), khái niệm về truyền dẫn tỷ giá hối đoái thường được hiểu rộng hơn, đó là mức chuyển của cú sốc tỷ giá vào trong các chỉ số giá, bao gồm chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng, được
sử dụng rộng rãi trong bài nghiên cứu của các tác giả ở nhóm nước đang phát triển; theo đó “truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của các chỉ số giá trong nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay đổi 1%” Khái niệm này cũng chính là góc độ xem xét và hệ số ước lượng trong bài nghiên cứu này.
Cơ chế truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát
Trang 6Những thay đổi trong tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát qua các chỉ
số giá theo hai kênh là trực tiếp và gián tiếp
Kênh truyền dẫn trực tiếp theo Nicoleta (2007), có thể nhìn thấy khi một cú sốc
trong tỷ giá làm giảm giá đồng nội tệ Điều này khiến giá cả hàng hóa nhập khẩu trở nên mắc hơn, tức ảnh hưởng đến chỉ số giá nhập khẩu Nếu hàng hóa đó được dùng cho mục đích tiêu dùng cuối cùng, giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng lên chỉ số giá tiêu dùng; hoặc nếu hàng hóa nhập khẩu là nguyên nhiên vật liệu dùng cho quá trình sản xuất, sẽ khiến chi phí sản xuất tăng cao, và như một hệ quả đẩy giá tiêu dùng tăng, gây ra áp lực lạm phát.
Hình 1 Kênh truyền dẫn trực tiếp của tỷ giá hối đoái
Nguồn: Nicoleta (2007)
Kênh truyền dẫn gián tiếp hàm ý khi có sự mất giá của đồng nội tệ, sẽ khiến hàng
hóa trong nước rẻ hơn, dẫn đến cầu xuất khẩu của quốc gia tăng Điều này sẽ gây ra một gia tăng trong cầu lao động, tiền lương và sau đó là tổng cầu, như một hệ quả,
có thể khiến lạm phát tăng Tuy nhiên, ảnh hưởng này chỉ có thể diễn ra trong dài hạn, vì tính chất cứng nhắc của giá cả trong ngắn hạn Bên cạnh đó, tình trạng đô la hóa ngày càng tăng trong nền kinh tế có thể là một nhân tố làm khuếch đại hiệu ứng truyền dẫn gián tiếp này Một khi tỷ giá biến động tăng, đồng nội tệ mất giá sẽ khiến cho giá cả các tài sản được định giá bằng đồng ngoại tệ (như bất động sản, hàng hóa
xa xỉ như ô tô…) sẽ tăng lên Và đây là nguyên nhân khiến giá cả tiêu dùng tăng.
Nguyên vật liệu sản xuất (chỉ số giá sản xuất PPI)
Hàng hóa nhập
khẩu (chỉ số giá
nước ngoài– P*)
Hàng hóa nhập khẩu (chỉ số giá nhập khẩu IMP)
Hàng hóa tiêu dùng cuối cùng (chỉ số giá tiêu dùng CPI)
Hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng (chỉ số giá tiêu dùng CPI)
Trang 7Cơ chế truyền dẫn tỷ giá có thể diễn ra một cách hoàn hảo, không hoàn hảo hoặc không xảy ra tùy vào đặc điểm kinh tế của từng quốc gia Khi cơ chế này xảy ra hoàn hảo, 1% phá giá nội tệ sẽ làm tăng 1% giá cả nội địa và ngược lại Nếu đồng nội tệ phá giá nhưng không làm thay đổi giá cả tính bằng nội tệ, ta nói rằng cơ chế truyền dẫn tỷ giá đã không xảy ra Trường hợp 1% phá giá làm tăng giá cả ít hơn 1% khi cơ chế truyền dẫn tỷ giá diễn ra không hoàn hảo.
Những nhân tố ảnh hưởng đến mức truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát
Có nhiều nhân tố quan trọng khác nhau – cả vĩ mô và vi mô – quyết định mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái Theo bài nghiên cứu của Lian, An (2006):
Các nhân tố vi mô bao gồm:
Việc định giá theo thị trường và điều chỉnh tăng giá (phần thêm vào giá vốn gồm chi phí và lãi)
Những đặc tính phân khúc thị trường như vận tải và chi phí phân phối, rào cản phi thuế quan và vai trò của các công ty đa quốc gia
Mức độ lợi tức theo quy mô (Là tỷ lệ mà theo đó sản lượng thay đổi khi số lượng của tất cả các đầu vào thay đổi.)
Tính co giãn cầu của hàng hóa nhập khẩu.
Các nhân tố vĩ mô bao gồm:
Mức độ lạm phát và tính kéo dài của những biến động tỷ giá
Môi trường chính sách tiền tệ
Quy mô và độ mở của nền kinh tế.
Các nhân tố ảnh hưởng mức truyền dẫn tỷ giá này được nhận định bởi các nhà nghiên cứu, trình bày sau đây:
Nhân tố vi mô:
1. Krugman (1987) phân tích hiện tượng định giá theo thị trường, theo đó các nhà cung cấp nước ngoài, muốn giữ những thị phần không đổi, chấp nhận
Trang 8mức lợi nhuận biên thấp hơn khi đồng tiền của quốc gia nhập khẩu mất giá, như vậy định giá theo thị trường hàm ý một mức truyền dẫn tỷ giá thấp hơn.
2. Burstein et al (2001) chỉ ra rằng chi phí của các nhà phân phối trong nước (như bán sỉ và bán lẻ) chiếm đến 40% trong giá bán lẻ sau cùng của bất kỳ hàng hóa nào Do những chi phí này ít phụ thuộc vào sự thay đổi của tỷ giá, nên có thể dẫn đến mức truyền dẫn tỷ giá thấp hơn, ngay với hàng hóa qua giao thương quốc tế.
(Returns to scale), kết luận rằng mức truyền dẫn tỷ giá tương quan nghịch với với độ co giãn của chi phí biên với đầu ra Nếu chi phí biên với đầu ra giảm, mức cầu cao hơn do giá giảm hậu quả từ việc tăng tỷ giá, có thể dẫn đến chi phí tăng thêm giảm, hàm ý mức mức truyền dẫn tỷ giá cao hơn.
4. Các nhà cung cấp nước ngoài thường điều chỉnh mức giá của họ theo độ co giãn của cầu ở nước nhập khẩu Mức độ co giãn của cầu theo sự thay đổi của giá càng cao, càng ít khả năng truyền dẫn cú sốc tỷ giá (Yang 1997)
Nhân tố vĩ mô:
1. Taylor (2000) cho rằng môi trường lạm phát và nhận thức về sự kéo dài của các cú sốc là những nhân tố quyết định mức truyền dẫn Chính xác hơn, các công ty thường ít điều chỉnh mức giá nếu những thay đổi trong tỷ giá và mức lạm phát được kỳ vọng là tạm thời, điểm này cũng được nhấn mạnh bởi Mann (1986) và được ủng hộ bởi Mc Carthy (2000)
2. Mối liên hệ giữa lạm phát và mức truyền dẫn tỷ giá hàm ý rằng chính sách tiền
tệ cũng có ảnh hưởng sự truyền dẫn những thay đổi của tỷ giá vào trong giá
cả nội địa Gagnon và Ihrig (2004) cho rằng những quốc gia với chính sách tiền
tệ chống lạm phát đáng tin cậy nhìn chung có mức truyền dẫn tỷ giá thấp hơn.
3. Độ mở của quốc gia, được tính bằng % nhập khẩu trên tổng sản lượng, cũng ảnh hưởng mức truyền dẫn tỷ giá Một cách trực quan, độ mở giao thương quốc tế của quốc gia càng lớn, thì mức truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng càng lớn Hơn nữa, theo Mc Carthy (2000), một quốc gia nhỏ thường có mức truyền dẫn tỷ giá cao hơn một quốc gia lớn Điều này là do ở các quốc gia lớn, cầu sẽ giảm phản ứng lại với mức giá nội địa tăng, nguyên nhân từ tỷ giá giảm khiến cầu thế giới và giá thế giới giảm.
Nguồn: Heidi Cigan (2008)
Trang 9Kết quả nghiên cứu trước đây ở các nước phát triển
Mc.Carthy, J (2000) là một trong các nhà nghiên cứu đầu tiên dùng nền tảng VAR
để đo lường mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái Trong bài nghiên cứu tác giả đã sử dụng
mô hình VAR đệ quy để đo lường sự ảnh hưởng của tỷ giá và giá nhập khẩu đến giá
cả nội địa PPI và chỉ số giá tiêu dùng CPI ở các nền kinh tế công nghiệp hóa được lựa chọn từ 1976 - 1998 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: những thay đổi của tỷ giá có ảnh hưởng khiêm tốn lên lạm phát giá cả nội địa trong khi giá nhập khẩu có ảnh hưởng lớn hơn; ở các nước có thị phần nhập khẩu lớn hơn và có tỷ giá, giá nhập khẩu ổn định hơn thì mức truyền dẫn lớn hơn và có vai trò quan trọng trong tiến trình lạm phát.
Hahn, E (2003) nghiên cứu tác động cua chuyển dịch cú sốc bên ngoài đến chuỗi
chỉ số giá và đến lạm phát khu vực đồng tiền chung châu Âu Bài nghiên cứu cũng sử dụng mô hình VAR như nghiên cứu của Mc.Carthy, J (2000) để đo lường mức truyền dẫn và thu được kết quả: mức truyền dẫn là lớn nhất và nhanh nhất do cú sốc bên ngoài đó là cú sốc giá nhập khẩu trừ giá dầu mỏ, tiếp đến là cú sốc tỷ giá, và cuối cùng là cú sốc giá dầu Mức ảnh hưởng giảm dần theo chuỗi chỉ số giá, nói cách khác
là mức truyền dẫn đến chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất, tiếp đến là chỉ số giá sản xuất và sau cùng là chỉ số giá tiêu dùng Cú sốc bên ngoài đóng góp phần lớn cho lạm phát ở khu vực đồng Euro kể từ khi Liên minh tiền tệ châu Âu được thành lập.
Ihrig, J., Marazzi, M and Rothenberg, A (2006) Nghiên cứu mức truyền dẫn tỷ
giá hối đoái đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở nhóm quốc gia G7 từ cuối những năm 1970, 1980 Kết quả nhận được: 1) Có sự sụt giảm giá nhập khẩu và biến động giá tiêu dùng gần như tất cả các nước G7 Khoảng một nửa các quốc gia này có sự biến động sụt giảm đáng kể giữa 1975-1989 và 1990-2004 có ý nghĩa thống kê 2) Kết quả ước lượng khi đồng nội tệ giảm giá 10% khiến giá nhập khẩu tăng trung bình 7% ở các quốc gia này những năm 1970, 1980, và chỉ tăng khoảng 4% trong 15 năm trở lại 3) Tương tự, đồng nội tệ giảm giá 10% khiến giá tiêu dùng tăng trung
Trang 10bình gần 2% những năm 1970, 1980, và ảnh hưởng trung lập đến giá tiêu dùng trong 15 năm trở lại.
Kết quả nghiên cứu trước đây ở các nền kinh tế mới nổi
Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007) đã xem xét hiệu ứng
truyền dẫn từ tỷ giá đến giá cả trong 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu Từ đó, dựa trên mô hình VAR, một phần nào thay đổi cách nghĩ thông thường rằng mức tryền dẫn tác động lên cả giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở các nền kinh tế mới nổi luôn cao so với các quốc gia phát triển Ở các thị trường mới nổi với tỷ lệ lạm phát một con số (nhất là các nước châu Á), người ta nhận thấy rằng mức tác động của tỷ giá lên giá nhập khẩu và giá tiêu dùng thấp và không khác nhau
là mấy so với các nền kinh tế phát triển Nghiên cứu này cũng cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá và lạm phát có mối quan hệ cùng chiều, phù hợp với giả thuyết của Taylor khi hai nước (Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ) được loại trừ khỏi phân tích Cuối cùng, về mặt lí thuyết có sự tồn tại mối liên hệ cùng chiều giữa chính sách mở cửa nhập khẩu
và mức truyền dẫn tỷ giá nhưng trên thực tế tác giả chưa tìm được bằng chứng thực nghiệm vững chắc về vấn đề này.
Mihaljek, D and Klau, M (2000) Bài nghiên cứu này trình bày các ước tính của
truyền dẫn khi tỷ giá hối đoái thay đổi và giá nhập khẩu thay đổi (được đo bằng ngoại tệ) đến lạm phát trong nước Mẫu là một nhóm gồm 13 nền kinh tế mới nổi (Nam Phi, Brazil, Chile, Mexico, Peru, Cộng hòa Czech, Hungary, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines và Thaí Lan), trong giai đoạn từ thập niên 1980 đến năm 1990 Nghiên cứu cho thấy mức truyền dẫn từ thay đổi tỷ giá vào lạm phát thì thông thường là mạnh hơn truyền dẫn từ giá nhập khẩu Nhưng có một sự suy giảm đáng kể từ giữa những năm 1990, có lẽ là do kết quả của những điều kiện kinh tế vĩ
mô ổn định và cải cách cơ cấu được thực hiện ở các nền kinh tế mới nổi.
Leigh, D and M Rossi (2002) sử dụng mô hình VAR với dữ liệu thống kê hàng
tháng từ tháng 1 năm 1994 đến tháng 4 năm 2002 để nghiên cứu sự truyền dẫn của
tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng tại Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả nghiên cứu cho thấy
Trang 11tác động của cú sốc tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá tại Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài trên 1 năm và có mức tác động mạnh nhất sau 4 tháng, sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến giá bán sỉ có mức độ mạnh hơn giá tiêu dùng và sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái là hoàn toàn trong một thời gian ngắn và với mức độ lớn hơn so với các ước lượng được thực hiện tại các nước đang phát triển khác trong nghiên cứu.
Jeffrey Frankel, David Parsley, and Shang-Jin Wei (2005) Sử dụng dữ liệu là giá
tám mặt hàng có thương hiệu, của 76 quốc gia Những yếu tố quyết định quan trọng của hệ số truyền dẫn bao gồm thu nhập bình quân đầu người, khoảng cách giữa hai nước, thuế, quy mô quốc gia, tiền lương, lạm phát dài hạn, và biến đổi tỷ giá trong dài hạn Qua nghiên cứu mẫu này rút ra được: 1)Truyền dẫn của thay đổi tỷ giá là lớn nhất trong việc xác định giá hàng hoá nhập khẩu tại bến tàu, mà giá này thì nhỏ hơn giá của hàng hoá cùng loại ở cấp độ bán lẻ, thấp hơn giá các sản phẩm thay thế của nội địa, và vẫn thấp hơn chỉ số CPI 2) Chi phí vận chuyển là một rào cản quan trọng làm cho truyền dẫn chậm ở tất cả bốn giai đoạn - cầu cảng nhập khẩu, bán lẻ, giá của đối thủ cạnh tranh, và CPI 3) Hệ số truyền dẫn cao hơn đáng kể trong một môi trường lạm phát cao và cũng bị ảnh hưởng bởi môi trường có tỷ giá thay đổi tạm thời.
Các nghiên cứu ở Việt Nam
Những năm gần đây đã có những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tồn tại mối quan
hệ giữa tỷ giá và lạm phát ở Việt Nam.
Camen, U (2006) nghiên cứu về các yếu tố tác động lên lạm phát CPI của Việt Nam
với chuỗi số liệu tháng từ 2/1996 - 4/2005 đã kết luận rằng tỷ giá danh nghĩa USD/VND đóng góp khá quan trọng vào tốc độ tăng CPI của Việt Nam, giải thích khoảng 19% trong tổng mức tăng CPI sau 12 tháng.
Võ Văn Minh (2009) dùng mô hình VAR để ước lượng mức tác động của mức
truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại Việt Nam với chuỗi số liệu tháng từ 1/2001 - 2/2007 cũng chứng minh được việc phá giá đồng Việt Nam tạo ra tác động không hoàn hảo
Trang 12lên giá nhập khẩu và lạm phát CPI Kết quả định lượng cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu sau 6 tháng là 1,04, sau 1 năm là 0,21; tuy nhiên mức truyền dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng trong 4 tháng đầu là âm và mức tác động tích lũy sau 1 năm chỉ là 0,13 – ở mức thấp so với các nước trong khu vực Do
độ lớn mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng là khá thấp, tác giả khuyến nghị một sự linh hoạt hơn của cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ví dụ như cho phép sự biến động biên độ tỷ giá hối đoái lớn hơn
Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) trong một nghiên cứu về
các yếu tố tác động lên lạm phát CPI của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010, cho kết luận khi Ngân hàng Nhà nước tăng 1% tỷ giá chính thức USD/VND sẽ tạo áp lực làm tăng lạm phát, và tỷ giá giải thích khoảng 19% mức lạm phát CPI sau 12 tháng và khoảng 30% sau 17 tháng Nghiên cứu cho thấy tỷ giá là một yếu tố khá quan trọng giải thích biến động của lạm phát, nhưng hạn chế chính của nghiên cứu này là việc
sử dụng tỷ giá chính thức giữa VND và USD thay vì tỷ giá hữu hiệu giữa VND và các đồng tiền của nhiều nước bạn hàng.
Nguyễn Phi Lân (2010) Tại trang thông tin của Ngân hàng Nhà nước, bài nghiên
cứu của tác giả với chuỗi số liệu từ 1998 - 2009 về cơ chế truyền tải chính sách tiền
tệ cũng cho thấy tương quan tỷ lệ thuận giữa tỷ giá và lạm phát mặc dù khả năng giải thích của tỷ giá đối với lạm phát là khá khiêm tốn, 5% sau 12 tháng và 8% sau
24 tháng Kết quả phân tích cũng cho thấy sự biến động của tỷ giá phụ thuộc rất lớn vào công tác điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ lãi suất và lượng tiền cung ứng ra lưu thông, các nhân tố bên ngoài nền kinh tế cũng tác động tới sự biến động của tỷ giá nhưng không quá lớn.
Có thể thấy các nghiên cứu về mối quan hệ biến động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát mới dừng lại ở phân tích mức độ ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng, chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh về mức ảnh hưởng đến bộ ba chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng để có thể đánh giá đầy đủ về quy
mô và thời gian của mức truyền dẫn nhằm đưa ra định hướng chính sách phù hợp,
có thể do hạn chế về mặt dữ liệu Việt Nam chỉ mới thống kê đầy đủ các chỉ số cụ thể
Trang 13theo quý từ 2009 Hơn nữa, bên cạnh những mặt đóng góp tích cực, các bài nghiên cứu còn những hạn chế nhất định như Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) chưa đo lường được độ lớn và thời gian của thay đổi tỷ giá vào lạm phát Võ Văn Minh (2009) đã chỉ ra dùng Mô hình VAR có thể đạt được việc đo lường cú sốc tỷ giá vào lạm phát, mức truyền dẫn ở Việt Nam vào mức độ trung bình so với các nền kinh tế khác Tuy nhiên chưa đưa ra lời giải thích logic về thứ tự các biến trong phương pháp phân rã Cholesky Hơn nữa có mối nghi ngờ về kết luận của bài nghiên cứu cho rằng những thay đổi trong tổng cầu không ảnh hưởng đến lạm phát Mục tiêu của bài nghiên cứu này cũng về vấn đề truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở Việt Nam, cố gắng vượt qua những mặt hạn chế của các nghiên cứu trước kia.
Câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mức truyền dẫn của tỷ giá vào lạm phát ở Việt Nam từ quý 1 năm 1999 đến quý 2 năm 2011 Do vậy, câu hỏi nghiên cứu trọng tâm đặt ra là: Cú sốc tỷ giá ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ lạm phát.
Để trả lời câu hỏi trọng tâm này, nghiên cứu đặt ra một số vấn đề liên quan sau:
• Giả định các yếu tố khác không đổi, tỷ giá thay đổi (mất giá) 1% thì lạm phát thay đổi bao nhiêu phần trăm?
• Tỷ giá hối đoái có thể giải thích bao nhiêu phần trăm những thay đổi của lạm phát?
• Liệu tỷ giá hối đoái có phải là một kênh phù hợp để đạt được kiềm chế lạm phát
ở Việt Nam?
Trang 143. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong bài viết này, một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng như:
• Phương pháp phân tích định lượng: mô hình VAR – (Vector autoregression
model) được sử dụng và ứng dụng chức năng hàm phản ứng xung IRF (Impulse Response Function), phân rã phương sai (Variance decomposition) để đo lường
và phân tích sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá; đồng thời thông qua chức năng phân rã phương sai, tác giả phân tích vai trò của các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam Phương pháp này, cùng các bước thực hiện, thu thập và xữ lý dự liệu sẽ được trình bày cụ thể sau đây.
Trong việc đo lường mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát, hai phương pháp thường được dùng ở một số bài nghiên cứu Phương pháp đầu tiên là phương trình
hồi quy tiêu chuẩn đơn trong các bài nghiên cứu của Olivei (2002), Campa và
Goldberg (2005), Campa, Goldberg và Gonzalez – Minguez (2005) ; Otani, Shiratsuka
và Shirota (2005) Họ áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để đo lường mức truyền dẫn, với đa thức phân phối có độ trễ để nắm bắt những phản ứng của giá cả hàng hóa giao thương với những thay đổi trong tỷ giá Nhưng hạn chế của phương pháp này là bỏ qua tính chất chuỗi thời gian của dữ liệu, như hầu hết chuỗi
vĩ mô và giá cả tài sản khác như tỷ giá, tăng trưởng kinh tế hay lạm phát là không dừng Cho nên những giả thiết trong đo lường OLS bị vi phạm, dẫn đến những vấn đề của hồi quy giả Hơn nữa, đo lường có thể bị thất bại từ những vấn đề không nhất quán do việc xác định biến nội sinh của tỷ giá và các chỉ số giá.
Phương pháp thứ hai có tên là VAR, véc tơ tự hồi quy (Vector Auto-regressive) được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1980 bởi Chrishtopher H Sims, người vừa đạt được giải Nobel kinh tế 2011.
Mô hình VAR
Trong mô hình VAR, một biến không những chịu ảnh hưởng từ tác động hiện tại của các biến khác mà còn chịu ảnh hưởng bởi độ trễ của chính nó và độ trễ của các biến
Trang 15khác trong quá khứ Mô hình VAR về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình) và có các trễ của các biến số VAR là mô hình động của một số biến thời gian Mô hình VAR tổng quát đối với hai biến số Y1, Y2 và trễ p bước có dạng sau đây:
• Mô hình VAR dạng cấu trúc
Trong mô hình này mỗi biến được biểu diễn dưới dạng hàm tuyến tính của biến khác hiện tại, biến trễ của chính nó và biến trễ của biến khác trong mô hình Mô hình VAR cấu trúc đơn giản với hai biến và trễ một bước có dạng:
• Mô hình VAR dạng rút rọn hay dạng tiêu chuẩn (Standar VAR – SVAR)
Trang 16Trong mô hình này một biến chỉ chịu tác động của độ trễ của chính nó và độ trễ của biến khác trong quá khứ Các nhiễu trắng trong phương trình bao hàm trong đó tính chất các biến Nếu các biến khác nhau có tương quan với nhau thì nhiễu trắng của chúng cũng tương quan với nhau Mô hình VAR dạng rút gọn với hai biến và trễ một bước có dạng:
• Mô hình VAR đệ quy (recursive VAR)
Trong mô hình này, các nhiễu trắng trong mỗi phương trình được xây dựng sao cho không tương quan với các nhiễu trắng trong phương trình hồi quy trước đó Phương pháp phân rã Cholesky được ứng dụng trong mô hình dạng này, ta sẽ phân tích kỹ hơn sau đây Mô hình VAR dạng đệ quy được sử dụng rất nhiều trong các nghiên cứu kinh tế, bao gồm trong đó có những nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá hối đoái, như Mc.Carthy, J (2000), Hahn, E (2003), Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007) Trong bài viết này, chúng ta cũng đo lường mức truyền dẫn tỷ giá theo mô hình VAR đệ quy này.
Phân rã Cholesky
Mô hình VAR dạng cấu trúc được xếp là mô hình không định dạng được Để xử lý vấn
đề này chúng ta đưa ra thêm ràng buộc lên các tham số của mô hình Một trong những cách tiếp cận dạng này là phân rã Cholesky Để minh họa phân rã Cholesky cho mô hình đơn giản hai biến và một trễ, phân rã này giả sử, chẳng hạn rằng a 11 =0, nghĩa là y 2 không có tác động tức thời lên y 1 (tuy nhiên nó vẫn có tác động trong các thời kì sau, thông qua cơ chế trễ của mô hình).
Trang 17Sắp xếp thứ tự (Cholesky ordering)
định sẽ gây ra tác động cho những biến ở sau nó, trong khi các biến sau không gây
ra tác động tới biến đứng trước nó.
thường người ta thường vận dụng đến lý thuyết kinh tế để đưa ra các cách sắp xếp lý thuyết phù hợp.
Ứng dụng của mô hình VAR
Về bản chất VAR là sự kết hợp của 2 phương pháp: tự hồi quy đơn chiều (univariate autoregression - AR) và hệ phương trình ngẫu nhiên (simultanous equations - SEs) VAR hay ở chỗ có được ưu điểm của AR là dễ ước lượng bằng phương pháp tối thiểu hóa phần dư (OLS) và ưu điểm của SEs là ước lượng nhiều biến trong cùng một hệ thống Đồng thời khắc phục nhược điểm của SEs là không cần lưu tâm đến tính nội sinh của các biến kinh tế Tức là các biến kinh tế vĩ mô thường mang tính nội sinh khi chúng tác động qua lại lẫn nhau Thuộc tính này làm cho phương pháp cổ điển hồi quy bội dùng một phương trình hồi quy nhiều khi bị sai lệch khi ước lượng Đây là những lý do cơ bản khiến VAR trở nên phổ biến trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô.
Mô hình Var thường được dùng trong các bài toán liên quan đến các biến kinh tế vĩ
mô như:
• Dự báo, đặc biệt là dự báo trung hạn và dài hạn.
• Phân tích cơ chế truyền tải sốc, nghĩa là xem xét tác động của một cú sốc trên một biến phụ thuộc lên các biến phụ thuộc khác trong hệ thống qua hàm phản ứng xung (Impulse response)
• Phân tích mức tác động của cú sốc mỗi biến trong việc giải thích biến động của một biến trong mô hình qua chức năng phân rã phương sai (Variance
decomposition)
Trang 18Hạn chế của mô hình VAR
Bên cạnh những ưu điểm nổi trội của mô hình Var : 1) không cần xác định biến nào
là biến nội sinh và biến nào là biến ngoại sinh 2) có thể sử dụng phương pháp OLS cho từng phương trình riêng rẽ 3) với một số ít biến trong mô hình nhưng tính tin cậy của dự báo thu được tốt hơn so với một mô hình hệ phương trình đồng thời gồm nhiều biến và nhiều phương trình, thì mô hình Var còn vướng phải một số hạn chế:
• Do trọng tâm mô hình được đặt vào dự báo nên VAR ít phù hợp cho phân tích chính sách.
• Khi xét đến mô hình VAR phải xét đến tính dừng của các biến trong mô hình Yêu cầu đặt ra khi ta ước lượng mô hình VAR là tất cả các biến phải dừng, nếu trong trường hợp các biến này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân để đảm bảo chuỗi dừng Càng khó khăn hơn nữa nếu một hỗn hợp chứa các biến có tính dừng và các biến không có tính dừng thì việc biến đổi dữ liệu không phải là việc dễ dàng.
• Khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ thích hợp Giả sử mô hình Var bạn đang xét
có ba biến và mỗi biến sẽ có 8 trễ đưa vào từng phương trình Như xem xét ở trên thì
số hệ số mà bạn phải ước lượng là 3 2 8+3=75 Và nếu ta tăng số biến và số trễ đưa vào mỗi phương trình thì số hệ số mà ta phải ước lượng sẽ khá lớn Ngoài ra, khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ còn được thể hiện ở chỗ nếu ta tăng độ dài của trễ sẽ làm cho bậc tự do giảm, do vậy mà ảnh hưởng đến chất lượng các ước lượng.
McCarthy (2000) là một trong các nhà nghiên cứu đầu tiên dùng nền tảng VAR để đo lường mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái Mô hình VAR có một số lợi thế so với phương pháp dựa trên một phương trình Một là mô hình có thể giải quyết vấn đề nội sinh vốn có trong phương pháp trên Hơn nữa, hàm phản ứng xung được đo lường chỉ ra những ảnh hưởng của một cú shock biến nội sinh những biến khác qua cấu trúc của VAR, cho phép không chỉ đo lường mức truyền dẫn tỷ giá trong một thời gian cụ thể,
mà còn trong giai đoạn biến động của nó.
Trang 19Có thể thấy tiếp cận VAR là một phương pháp đo lường hiệu quả mức độ và thời gian của các thông số Một số nghiên cứu điển hình dùng mô hình VAR như Hahn (2003)
và Faruqee (2006) cho trường hợp các nước phát triển, đặc biệt ở châu Âu, Ito và Sato (2006) cho các nước Đông Nam Á, Belaisch (2003) cho Brazil, Leigh và Rossi (2002) cho Thổ Nhĩ Kì Trong bài viết này mô hình VAR cũng được sử dụng để đo lường mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở Việt Nam.
Mô hình nghiên cứu
Đầu những năm 90, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao đột biến (tới 35% năm 1992), Việt Nam đã có những nổ lực kiềm chế lạm phát bằng những chính sách khác nhau, bao gồm cả áp dụng một chế độ tỳ giá tương đối cứng nhắc Lựa chọn này dựa trên nền tảng lý thuyết là giữ tỷ giá ổn định có thể cải thiện niềm tin vào đồng nội tệ, thúc đẩy chính phủ kiểm soát thâm hụt ngân sách và tăng trưởng tín dụng, nhờ đó giảm lạm phát và ổn định tình hình kinh tế vĩ mô Trên thực tế, lạm phát giai đoạn 92-96 được quản lý khá hiệu quả Tuy nhiên, điều này không được thể hiện giai đoạn sau đó Giai đoạn 97 -2003 Việt Nam phải trãi qua cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á và giai đoạn phục hồi, VND liên tục mất giá so với USD Tuy nhiên, lạm phát cao vẫn ko xuất hiện, thậm chí nền kinh tế còn rơi vào giai đoạn giảm phát 2000-2001 Hơn nữa, việc áp dụng chính sách tỷ giá tương đối cứng nhắc từ 2004 -2008 đã không giúp nền kinh
tế kiểm soát lạm phát Tỷ lệ lạm phát tăng qua các năm và cao đột biến vào khoảng 23% năm 2008 Một cái nhìn lại tỷ giá và lạm phát ở Việt Nam chỉ ra rằng mối quan
hệ này khá phức tạp và ảnh hưởng của những thay đổi tỷ giá lên lạm phát còn chịu phụ thuộc vào nhiều nhân tố vĩ mô khác Các kênh truyền tải đến lạm phát được trình bày dưới đây, là căn cứ giúp ta đưa các biến vào mô hình.
Hình 2 Các kênh truyền tải đến lạm phát
Mức giá
Giá hàng hóa phi thương mại Giá hàng hóa thương
mại
Trang 20Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Đức Thành (2010)
Để đo lường mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng ta đưa vào mô hình VAR các nhân tố như cú sốc cung, cú sốc cầu nhằm nhận diện những tác động lên nền kinh tế, cú sốc tiền tệ, cú sốc tỷ giá hối đoái và tác động lẫn nhau giữa các chỉ số giá Bài viết này cũng như những mô hình nghiên cứu trước đây giới thiệu bởi McCarthy (2006) và Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007) tiến hành nghiên cứu và đưa 7 biến vào trong mô hình:
• Giá dầu thế giới: OIL
• Tỷ giá hối đoái danh nghĩa hữu hiệu đa phương: NEER
• Chỉ số giá nhập khẩu: IMP
• Chỉ số giá tiêu dùng: CPI
• Tỷ lệ lãi suất ngắn hạn: RATE
Trong đó tỷ giá hối đoái và hai biến chỉ số giá sẽ là những biến chính trong phân tích này Biến giá dầu thế giới (oil) đại diện cho cú sốc cung và biến GDP thực (gdp) tượng trưng cho cú sốc cầu được đề cập để nắm bắt những ảnh hưởng thực sự đến
Tổng cung Tổng cầu
Tỷ giá Giá thế giới
(giá dầu, gạo và
Tiền tệ và tín dụng, lãi suất, thu nhập, tài sản, chi tiêu và thuế của Chính phủ.
Trang 21nền kinh tế Biến cung tiền M2 (m2) và biến lãi suất (rate) mô tả sự tác động của thị trường tiền tệ (trong đó có chính sách tiền tệ) tới mối liên hệ đang nghiên cứu.
Các biến được đưa vào mô hình với thứ tự sắp xếp như bên trên Việc sử dụng một tiến trình được lặp đi lặp lại để nhận diện ra những cú sốc tác động đồng thời đến những biến tương ứng và những biến xếp sau đó, nhưng lại không gây tác động đến những biến đứng trước Điều nay đồng nghĩa với ta đưa ra những giả định như sau:
Với chuỗi giá cả, chỉ số giá nhập khẩu đặt trước chỉ số giá tiêu giả định một sự tác động cùng lúc của cú sốc chỉ số giá nhập khẩu đến chỉ số giá tiêu dùng nhưng không
có chiều ngược lại, tức biến động của chỉ số giá tiêu dùng không ảnh hưởng đến giá nhập khẩu, mặc dù trên thực tế có cho thấy điều đó Chỉ số giá chịu ảnh hưởng lần lượt các cú sốc từ nền kinh tế Theo đó phương trình các chỉ số giá tại thời gian t có thể viết như sau:
impt= Et−1( impt) + α1εt oil+ α2εt gdp+ α3εt m2+ α4εt neer+ εt imp (1)
cpit= Et−1( cpit) + β1εt oil+ β2εt gdp+ β3εt m2+ β4εt neer+ β5εt imp+ εt cpi (2)
Với các nhân tố tác động từ nền kinh tế, ta giả định: 1) những biến động của giá dầu
có thể ảnh hưởng đến tất cả các biến số khác cùng lúc trong chuỗi nhưng giá dầu không bị ảnh hưởng cùng lúc bởi bất kỳ biến động nào khác, và chỉ chịu ảnh hưởng bởi cú sốc của chính nó trong quá khứ 2) GDP thực tượng trưng cho cú sốc cầu, chịu tác động của cú sốc cung 3) cung tiền M2 đại diện cho những tác động của chính sách tiền tệ, chịu ảnh hưởng từ cú sốc cung và cầu 4) biến tỷ giá được đạt sau với giả định có sự tác động đồng thời của cú sốc cung, cú sốc cầu lên tỷ giá, trong khi tác động của cú sốc tỷ giá lên biến đầu ra cần một độ trễ
Trang 22oilt= Et−1( oilt) + εt oil (3)
neert= Et−1( neert) + c1εt oil+ c2εt gdp+ c3εt m2+ εt neer (6)
Biến lãi suất được đặt sau cùng, với giả định những biến động trong tỷ giá đại diện cho thị trường tiền tệ, sẽ phản ánh đồng thời tất cả các cú sốc của nền kinh tế đại diện bởi các biến trong mô hình.
Trang 23Dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp theo quý từ Quý 1 năm 1999 đến quý 2 năm
2011, gồm 50 quan sát Được thu thập từ các nguồn Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO), Bộ Tài chính Việt Nam (MoF), Ngân Hàng Thế giới (WB) và Thống kê tài chính thế giới (IFS)
• Giá dầu thế giới (oil) lấy theo giá dầu U.K Brent đơn vị USD/thùng Nguồn: IFS
• GDP thực (gdp): GDP quý không được GSO công bố, được tính toán bằng đồng nội tệ theo nguồn từ GSO
• Cung tiền M2: được tính bằng đồng nội tệ, là tổng của 3 thành phần: tiền hẹp M1, tương đương tiền và trái phiếu, và các công cụ thị trường tiền tệ Nguồn
1999 (1999Q1= 100) Nguồn: GSO, MoF và IMF.
Chuỗi dữ liệu tất cả được đưa về cơ số mũ tự nhiên logarit.
Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương NEER
Trong các bài nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá hối đoái, biến tỷ giá có thể được lựa chọn nhiều cách khác nhau, nhưng thiết thấy so với tỷ giá chính thức giữa VND và USD, tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương NEER sẽ phản ánh tốt hơn những biến động của tỷ giá đến các biến khác trong nền kinh tế, phù hợp để đưa vào mô hình Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương NEER cũng được sử dụng trong bài nghiên cứu của Mc.Carthy, J (2000), Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007) NEER Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu đa phương (Norminal Effective Exchange Rate) phản ánh sự thay đổi giá trị của đồng nội tệ VND với tất cả các đồng tiền trong rổ tiền tệ được chọn (chưa tính đến tương quan sức mua, điều chỉnh theo lạm phát) Công thức tính NEER như sau: