Mở đầuQuá trình thực tập, tiếp cận thực tế và làm quen với công việc là yêu cầu,đòi hỏi khách quan. Việc làm này đã tác động trực tiếp tới nhận thức, t duy giúpcho sinh viên có thể hình dung ra những công việc mà họ có thể làm trong tơnglai. Đồng thời thực tập cũng là cơ hội tốt cho sinh viên củng cố lại kiến thức màmình đã thu lợm đợc trong trờng, và bớc đầu tạo lập phong cách làm việc.Đợt thực tập nhận thức năm thứ 4 này theo sự phân công của khoa và với sựhớng dẫn của TS. NGUY?N H?NG LIấN, TS. VAN éèNH SON TH?, TS.TR?N THANH HUY?N, TS. NGUY?N MINH TH?NG, ThS. Vế H?NGPHUONG và KS TR?NH QUANG TH?NG. Em đã tới cỏc địa điểm: Trung tõm húa nghi?m xang d?u quõn d?i.Trung tõm húa d?u – Vi?n húa h?c cụng nghi?p.T?ng kho xang d?u é?c Giang.Cụng ty c? ph?n húa d?u Petrolimex (Chi nhỏnh H?i Phũng).Cụng ty c? ph?n Gas Petrolimex.Cụng ty c? ph?n phỏt tri?n ph? gia và s?n ph?m d?u m? (APP)Tại cỏc đơn vị này bớc đầu có nhiều bỡ ngỡ song đợc sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa các cán bộ, kỹ thuật viên cuối cùng Em cũng đã hoàn thành tốt đợt thực tậpnày.Thời gian thực tập là 4 tuần tuy không nhiều vì vậy bản báo cáo của em cóthể còn có những thiết sót Em rất mong đợc Th?y (Cô) chỉ bảo để Em có thể hoànthiện bản báo cáo của mình tốt hơn.Nhân dịp này Em xin chân thành cảm ơn Trờng Đại học Bách khoa Hà Nội,Khoa Công nghệ húa h?c, B? mụn cụng ngh? Hữu Cơ - Hoá Dầu, cỏc th?y cụtrong b? mụn và các cán bộ, kỹ thuật viên đã nhiệt tình giúp đỡ Em hoàn thành tốt đợt thực tập này.
Trang 1Mở đầu
Quá trình thực tập, tiếp cận thực tế và làm quen với công việc là yêu cầu,
đòi hỏi khách quan Việc làm này đã tác động trực tiếp tới nhận thức, t duy giúpcho sinh viên có thể hình dung ra những công việc mà họ có thể làm trong tơnglai Đồng thời thực tập cũng là cơ hội tốt cho sinh viên củng cố lại kiến thức màmình đã thu lợm đợc trong trờng, và bớc đầu tạo lập phong cách làm việc
Đợt thực tập nhận thức năm thứ 4 này theo sự phân công của khoa và với
sự hớng dẫn của TS NGUYỄN HỒNG LIấN, TS VĂN ĐèNH SƠN THỌ, TS.TRẦN THANH HUYỀN, TS NGUYỄN MINH THẮNG, ThS Vế HỒNGPHƯƠNG và KS TRỊNH QUANG THẮNG Em đã tới cỏc địa điểm:
Trung tõm húa nghiệm xăng dầu quõn đội
Trung tõm húa dầu – Viện húa học cụng nghiệp
Tổng kho xăng dầu Đức Giang
Cụng ty cổ phần húa dầu Petrolimex (Chi nhỏnh Hải Phũng)
Cụng ty cổ phần Gas Petrolimex
Cụng ty cổ phần phỏt triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ (APP)Tại cỏc đơn vị này bớc đầu có nhiều bỡ ngỡ song đợc sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa các cán bộ, kỹ thuật viên cuối cùng Em cũng đã hoàn thành tốt đợt thực tậpnày
Thời gian thực tập là 4 tuần tuy không nhiều vì vậy bản báo cáo của em cóthể còn có những thiết sót Em rất mong đợc Thầy (Cô) chỉ bảo để Em có thểhoàn thiện bản báo cáo của mình tốt hơn
Nhân dịp này Em xin chân thành cảm ơn Trờng Đại học Bách khoa HàNội, Khoa Công nghệ húa học, Bộ mụn cụng nghệ Hữu Cơ - Hoá Dầu, cỏc thầy
cụ trong bộ mụn và các cán bộ, kỹ thuật viên đã nhiệt tình giúp đỡ Em hoànthành tốt đợt thực tập này
Hà Nội, tháng 6 năm 2007
Trang 2PhÇn I
TRUNG TÂM HÓA NGHIỆM
XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI
Trang 3I Giới thiệu về trung tâm Hóa nghiệm xăng dầu quân đội
Trung tâm được thành lập với nhiệm vụ xác định chất lượng của sảnphẩm dầu mỏ cung cấp cho quân đội
Hiện nay trung tâm là thành viên của Tổng cục đo lường chất lượng quốcgia VILAS 001
C
ơ cấu tổ chức của trung tâm:
Trong đó phòng kiểm tra chất lượng là phòng trọng điểm của trung tâm,
đây lá phòng chịu trách nhiệm chính trong việc đo đạc kiểm tra chất lượng cácsản phẩm phục vụ trong quân đội
Phòng kỹ thuật có nhiệm vụ cập nhật các phương pháp đo mới trong nước
và trên thế giới
II Các phương pháp xác định chỉ tiêu của nhiên liệu.
II.1 Xác định Chiều cao ngọn lửa không khói.
- Định nghĩa: chiều cao ngọn lửa không khói là chiều cao tối đa của ngọnlửa không có khói tính bằng mm, khi đốt nhiên liệu trong đèn dầu tiêu chuẩn
- Cấu tạo: Thân đèn hình trụ, bên cạnh có cửa kính để quan sát, bên trong
có thang mm để đo chiều cao ngọn lửa
Bấc đèn hình tròn làm bằng vải đặc biệt, với chiều dài trên 125mm Trướckhi đưa bấc vào đèn phải giặt sạch bằng ete, dầu hỏa hoặc xăng nhẹ Làm khô
30 phút ở 100oC đến 105oC
- Tiến hành: Cố định đèn trong buồng nhiệt độ tối thiểu là 15oC, trong mộtnơi không có gió lùa Đốt cháy bấc và xác định chiều cao bấc khoảng 10mmnhưng sau 5 phút nâng bấc cho đến khi ngọn lửa có khói Sau đó đưa xuống vịtrí không có khói Đọc chiều cao ngọn lửa không khói 5 đến 6 lần đưa lên vàđưa xuống Kết quả lấy giá trị trung bình các lần đọc
Phòng quản
lý hành chính
Phòng kiểm tra chất lượng
Phòng
kỹ thuật
Trung tâm hóa nghiệm xăng dầu quân đội
Trang 4II.2 Xác định nhiệt độ chớp cháy.
- Định nghĩa:
Nhiệt độ chớp cháy: là nhiệt độ thấp nhất ở áp suất khí quyển mà ở đómột mẫu sản phẩm dầu đung nóng trong một điều kiện nhất định sẽ sinh ralượng hơi tạo với không khí thành một hỗn hợp mà khi tiếp xúc với mồi lửa nó
sẽ bắt cháy rồi tắt ngay
Nhiệt độ chớp cháy thường được xác định đối với sản phẩm dầu spirit, dầu hỏa, gasoil, dầu nhờn…) Những máy xác định thông thường là máycốc hở, có nhiệt độ cao hơn máy cốc kín
(white Ý nghĩa:
Nhiệt độ chớp cháy là đại lượng đặc trưng cho hàm lượng các sản phẩmnhẹ chứa trong phân đoạn, nếu trong phân đoạn chứa nhiều sản phẩm nhẹ dễ bayhơi khi chúng được chứa trong các bể chứa, thùng chứa rất dễ xảy ra hiện tượng
nổ khi có tia lửa Do đó nhiệt độ chớp cháy có liên quan đến tính chất an toànđến vấn đề cháy nổ khi bảo quản nhiên liệu
- Phương pháp xác định:
Nhiệt độ chớp cháy được xác định trong những dụng cụ tiêu chuẩn ở đóphân đoạn dầu mỏ được đốt nóng với một tốc độ qui định, sau đó sản phẩm nhẹbay hơi tạo thành với không khí xung quanh một hỗn hợp mà đến một giới hạnnào đó nếu đưa ngọn lửa lại gần chúng sẽ bắt cháy rồi phụt tắt như một tia chớp,nhiệt độ ứng với thời điểm đó gọi là nhiệt độ chớp cháy
Xác định nhiệt độ chớp cháy theo hai phương pháp
+ Phương pháp cốc kín áp dụng cho các sản phẩm trắng là xăng, kerosen,diezel Phép thử để xác định nhiệt độ chớp cháy cốc kín là ASTM - D93 trongthiết bị Pensky-Martens Nhiên liệu được đưa vào cốc có nắp đậy kín chỉ có một
lỗ nhỏ để cho hơi bay ra Phía trên miệng lỗ có bugi đánh lửa tự động phát ra tialửa điện Cốc được đặt trong bình gia nhiệt, tốc độ gia nhiệt lên một cách từ từ
+ Phương pháp cốc hở áp dụng cho các sản phẩm khó bay hơi như dầunhờn Phép thử để xác định nhiệt độ bắt cháy cốc hở là ASTM - D92 Thínghiệm này, dầu nhờn được cho vào cốc không đậy nắp và được đưa vào khecủa máy gia nhiệt Phía ngoài của khe có bugi đánh lửa tự động
Phương pháp cốc kín bao giờ cũng có nhiệt độ chớp cháy lớn hơn cốc hở
Trang 5Xác định nhiệt độ chớp cháy có ý nghĩa rất quan trọng, vì qua đó có thểbiết đặc điểm của hydrocacbon tham gia vào thành phần của phân đoạn, đồngthời cho biết sự có mặt của hỗn hợp các cấu tử dễ bắt lửa Các hydrocacbon cónhiệt độ sôi lớn hơn làm tăng nhiệt độ chớp cháy và ngược lại Sự có mặt củahơi nước và sản phẩm phân huỷ ảnh hưởng rõ rệt tới nhiệt độ chớp cháy.
Theo nhiệt độ chớp cháy có thể biết được khă năng tạo ra hỗn hợp cháy
nổ của hơi sản phẩm với không khí, tồn tại giới hạn trên và giới hạn dưới Khinồng độ hơi thấp hơn giới hạn dưới và cao hơn giới hạn trên thì quá trình cháy
nổ không xảy ra Điều này giúp cho việc tồn chứa và bảo quản nhiên liệu Nhiệt
độ chớp cháy phụ thuộc vào độ ẩm, áp suất của khí quyển và phương pháp xácđịnh
II.3 Xác định trị số Octan.
- Khái niệm về trị số Octan:
Trị số Octan là một đơn vị đo quy ước dùng để đặc trưng cho khả năngchống kích nổ của nhiên liệu Đo bằng phần trăm thể tích của izo-octan (2,2,4 -trimetyl pentan C8H18) trong hỗn hợp chuẩn với n-heptan (n-C7H16), tươngđương với khả năng chống cháy kích nổ của nhiên liệu ở điều kiện tiêu chuẩn
Quy ước : trị số Octan của izo-octan là 100
trị số Octan của n-heptan là 0
- Ý nghĩa của trị số octan
Phản ánh khả năng chống kích nổ của xăng thương phẩm Xăng có trị sốoctan càng cao thì khả năng chống kích nổ càng lớn và kéo theo giá thành càngđắt Ngược lại xăng có trị số octan thấp thì khả năng chống kích nổ càng kém,xăng có chất lượng không cao, giá thành rẻ hơn
Xăng có trị số octan càng cao thì càng có nhiều cấu tử có khả năng chốngkích nổ tốt và ngược lại
- Các phương pháp xác định trị số octan
Có thể xác định trị số octan theo:
+ Phương pháp nghiên cứu Gost 8226-82, ASTMD2699-99
Trang 6Tiêu chuẩn này qui định phương pháp nghiên cứu xác định độ bền chốngkích nổ, biều thị bằng trị số octan của xăng máy bay, xăng ôtô, và các cấu tử củachúng có trị số octan đến 110 đơn vị.
Thực chất của phương pháp này là so sánh độ bền chống kích nổ củanhiên liệu thí nghiệm và nhiên liệu chuẩn, biểu thị bằng trị số octan Cường độcủa nhiên liệu thí nghiệm thay đổi theo tỉ số nén
Trị số octan xác định theo phương pháp nghiên cứu ký hiệu như sau: Giátrị của trị số octan/I/I (I/I là chữ cái của nghiên cứu)
Trị số octan bằng 100 trở xuống là thể tích của izo-octan với n-heptantương đương với khả năng chống kích nổ của nhiên liệu thí nghiệm trong điềukiện này
Trị số octan lớn hơn 100 là lượng Tetraetyl chì xác định cần đưa thêm vàoizo-octan để nhận được hỗn hợp tương đương về cường độ kích nổ của nhiênliệu thí nghiệm khi so sánh chúng trong điều kiện thí nghiệm của phương phápnày
+ Phương pháp mô tơ
Xác định theo tiêu chuẩn Gost 511-82 Tiêu chuẩn này qui định phươngpháp mô tơ xác định độ bền chống kích nổ, biểu thị bằng trị số octan của xăngmáy bay, xăng ôtô, và các cấu tử có trị số octan đến 110 đơn vị
Cách ghi: Giá trị của trị số octan/M (M là chữ cái theo phương phápmôtơ)
II.4 Xác định trị số xetan.
- Khái niệm
Trị số xetan là đơn vị đo quy ước, đặc trưng cho khả năng tự bắt lửa củanhiên liệu diezel, có giá trị đúng bằng giá trị của hỗn hợp chuẩn có cùng khảnăng tự bắt cháy Hỗn hợp chuẩn gổm n-hexan (C16H34) và -metyl naphtalen(C11H10)
Quy ước: trị số xetan của n-hexan bằng 100
trị số xetan của -metyl naphtalen bằng 0
- Phương pháp xác định
Thông thường trị số xetan được xác định bằng phương pháp tự bắt cháy
Trang 7trùng nhau Bằng cách thay đổi tỷ số nén và ghi các giá trị của tỷ số này tươngứng với tự bắt cháy chậm trùng nhau của nhiên liệu cần phân tích và nhiên liệuchuẩn Thường tỷ số nén của nhiên liệu chuẩn cần phải bao gồm tỷ số nén củanhiên liệu cần phân tích Bằng nội suy có thể xác định giá trị trị số xetan củanhiên liệu này.
Để xác định trị số xetan người ta cho động cơ chạy với nhiên liệu bất kỳ
và tăng dần tỷ số nén cho đến khi ổn định chế độ làm việc Sau đó đổ nhiên liệucần phân tích vào một bình, nhiên liệu chuẩn vào 2 bình và xác định với từngbình một Sau khi xác định điểm trùng bắt cháy của nhiên liệu cần phân tíchchuyển sang so sánh với hai nhiên liệu chuẩn
II.5 Xác định thành phần cất.
- Mục đích và ý nghĩa:
Đây là một chỉ tiêu quan trọng đối với các sản phẩm nhiên liệu như xăng,kerosen, diezel Thành phần cất đặc trưng cho khả năng tạo thành hỗn hợp cháykhi khởi động và trong quá trình làm việc của động cơ ở các chế độ khác nhau.Thành phần cất có ảnh hưởng đến đặc tính sử dụng và bảo quản nhiên liệu cũngnhư vấn đề an toàn phòng chống cháy nổ
Dầu mỏ và các sản phẩm dầu mỏ không thể dễ dàng phân tách thành cáchydrocacbon riêng biệt, chúng có thể chia ra các phần nhỏ gọi là phân đoạn.Theo thành phần phân đoạn ta có thể biết được các loại sản phẩm thu và khốilượng của chúng
Quá trình chưng cất thường được thực hiện theo tiêu chuẩn ASTM - D86,hoặc đối với từng loại nhiên liệu còn có thể tiến hành theo các tiêu chuẩn khác.Tuy nhiên, nguyên tắc chung của phương pháp xác định vẫn sử dụng là thiết bịchưng cất đơn giản Engler, từ đó xây dựng đồ thị biểu thị mối quan hệ giữanhiệt độ và phần trăm sản phẩm cất được
Đối với nhiên liệu thành phần phân đoạn đặc trưng cho khả năng bay hơitrong động cơ và áp suất hơi ở những nhiệt độ và áp suất khác nhau Đối vớinhiên liệu diezen thành phần phân đoạn ảnh hưởng lớn đến tốc độ bay hơi và tạo
ra hỗn hợp với không khí phun vào buồng đốt, ngoài ra còn ảnh hưởng tới tiêuhao nhiên liệu
- Tiến hành:
Trang 8Cho 100ml mẫu vào bình cất, lắp nhiệt kế vào bình cầu, lắp vòi bình cầuvào sinh hàn qua một nút cao su đầu vòi ngập sâu trong ống sinh hàn 25 – 40mmnhưng không chạm vào thành ống sinh hàn
Khi chưng các sản phẩm nhẹ thì hộp sinh hàn chứa đấy nước đá và tuầnhoàn nước để giữ nhiệt độ vào khoảng 0 – 50C Khi chưng các sản phẩm nặnghơn thì làm lạnh bằng nước
Đặt ống lường vào dưới đầu ống sinh hàn sao cho đuôi ống sinh hàn ngậpvào ống lường dưới 25mm nhưng không được chạm thành ống Gia nhiệt từ từsao cho tốc độ thu sản phẩm từ 4 5ml /phút Khi gia nhiệt mẫu dầu sẽ bay hơingưng tụ ở sinh hàn và chảy vào ống lường Theo dõi sự thay đổi nhiệt độ dựatheo nhiệt kế Khi có giọt chất lỏng đầu tiên rơi xuống ống lường thì đó là nhiệt
độ sôi đầu, ghi lại nhiệt độ sôi ứng với 10, 20 90% thể tích Đến khi nào cộtthuỷ ngân trong nhiệt kế từ cực đại tụt xuống thì đó là nhiệt độ sôi cuối Thôngthường chỉ thu được tới 98% sản phẩm do sự bay hơi và cặn còn lại trong bìnhchưng Từ số liệu thu được, lập đường cong chưng cất gọi là đường cong chưngcất Engler
II.6 Xác định hàm lượng nước trong nhiên liệu.
Dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ nói chung đều chứa một lượng nước vớicác tỷ lệ khác nhau Chúng ở dưới dạng các hạt nhỏ, dạng nhũ tương ổn địnhhoặc chưa ổn định
Nước có lẫn dưới dạng hệ nhũ tương rất khó tách Nước có mặt trong nhiên liệumáy bay là rất nguy hiểm vì khi nhiệt độ xuống thấp dưới 0oC sẽ đóng băngnước làm tắc vòi phun Trong các loại dầu cách điện như dầu biến thế thì cầnphải loại bỏ hoàn toàn lượng nước có lẫn vì nếu có lẫn nước thì sẽ làm mất tínhdẫn cách điện của dầu
Nước và tạp chất cơ học trong xăng được xác định bằng phép thử ASTM 95-83, còn trong diezel thường dùng phương pháp thử ASTM - D1796
-Để xác định hàm lượng nước thường sử dụng Toluen để cất theo phương pháp cuốn theo hơi nước, sau đó ngưng tụ và tách riêng nước với Toluen ở thiết
bị phân ly, từ đó suy ra hàm lượng nước
Trang 9PhÇn II
Trung t©m HãA DÇU
viÖn hãa häc
c«ng nghiÖp
Trang 10I Giới thiệu về trung tâm hóa dầu - viện hóa học công nghiệp:
* Thành lập vào năm 1955, tiền thân là Phòng thí nghiệm thuộc Sở Mỏ Đông
Dương Năm 1957 thành Viện nghiên cứu Công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp
và được đổi tên thành Viện Hoá học 30/4/1964 Viện Hoá học hợp nhất vớiPhòng Hoá học thuộc UBKHNN thành Viện nghiên cứu hoá học thuộc Bộ Côngnghiệp nặng Năm 1969 đổi tên thành Viện Hoá học Công nghiệp
* Lĩnh vực hoạt động:
- Nghiên cứu khoa học công nghệ hoá học, triển khai và áp dụng các tiến bộ kỹthuật bao gồm nghiên cứu, ứng dụng, thực nghiệm, sản xuất - chế thử tạo racông nghệ, sản phẩm, vật liệu và thiết bị mới cho ngành công nghiệp hóa chất vàcác ngành kinh tế khác
- Đánh giá, giám định, phân tích chất lượng sản phẩm hoá chất, tài nguyên, môitrường
- Tư vấn cho Tổng Công ty và các đơn vị kinh tế trong và ngoài Tổng Công ty
về khoa học kỹ thuật Tham gia lập và thẩm định các dự án khoa học kỹ thuật,soạn thảo công nghệ hoá học
- Đào tạo sau đại học và tham gia đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật và côngnghệ chuyên ngành
- Dịch vụ khoa học kỹ thuật
- Sản xuất, kinh doanh
*Các sản phẩm chủ yếu:
- Nghiên cứu, chế thử, triển khai công nghệ
-Triển khai sản xuất ở quy mô nhỏ và pilot
- Nghiên cứu công nghệ chế biến quặng apatit trong sản xuất phân bón; quặngcromit, boxit và các loại khoáng sản khác trong sản xuất các sản phẩm hoáchất
- Nghiên cứu công nghệ vật liệu và các sản phẩm liên quan (sơn, chất dẻo,composit, v.v
- Nghiên cứu, sản xuất một số sản phẩm hoá dầu (dầu phanh VH3-2, dầu mỡ bôitrơn các loại, chất trợ ngấm cho ngành dệt )
- Nghiên cứu và sản xuất thuốc tuyển quặng ( apatit, đa kim )
Trang 11- Nghiờn cứu, sản xuất cỏc hợp chất thiờn nhiờn (tinh dầu và hương thơm cỏcloại, extract thảo dược cỏc loại dựng cho mỹ phẩm )
- Nghiờn cứu, sản xuất cỏc chế phẩm hoỏ dược (artemisinin, rotudin, dextran Fe,gluconat Fe, gluconat Cu, )
- Nghiờn cứu, sản xuất cỏc chế phẩm tẩy gỉ, tẩy cặn, làm sạch đường ống và bảo
vệ kim loại
- Nghiờn cứu cỏc cụng nghệ, chế phẩm xử lý nước, mụi trường
II Xỏc định chỉ tiờu của sản phẩm phi nhiờn liệu.
Người ta khụng núi đến độ nhớt của xăng vỡ nú quỏ nhỏ
Đối với cỏc nhiờn liệu được sử dụng dưới hỡnh thức bơm phun (nhiờn liệumỏy bay phản lực, FO, DO), độ nhớt là giỏ trị cú ý nghĩa quan trọng Nú chophộp bơm, vận chuyển nhiờn liệu dễ dàng trong điều kiện hoạt động
Đặc biệt là với dầu bụi trơn, nú liờn quan đến khả năng bụi trơn và bỏmdớnh của dầu
- Nguyên tắc xác định độ nhớt động học
Độ nhớt động học là tỷ số giữa độ nhớt động lực và trọng lởng riêng của
nó tính bằng Stốc Nguyên tắc của phơng pháp này là xác định thời gian chảycủa chất lỏng qua ống mao quản có kích thớc nhất định và xác định độ nhớt theocông thức: V= C.t
- Cỏch tiến hành
Đo thời gian chảy của một thể tớch chất lỏng qua một một nhớt kế maoquản bằng thuỷ tinh dưới tỏc dụng của trọng lực Cú thể tớnh độ nhớt động lựcbằng cỏch nhõn độ nhớt động học với khối lượng riờng của chất lỏng đú
Trang 12+ Điều kiện chọn nhớt kế: Nhớt kế cần có thời gian chảy 200-800 giây.
+ Cầm nhớt kế trên một nhánh để tránh những lực xung đối tác động lên các điểm yếu của nhớt kế khiến nó có thể bị bẻ gẫy dễ dàng
+ Các chú ý để tránh sai số khi đo:
Cần ổn định nhiệt của mẫu ít nhất 15 phút
Trang 13Kiểm tra thí nghiệm ăn mòn tấm đồng khi cho tiếp xúc sản phẩm dầu mỏvới tấm đồng cho phép xác định bán định lượng tác động ăn mòn của sản phẩmlên đồng.
- Tiến hành
1 Đánh sạch tấm đồng nguyên chất bằng cách dùng giấy rápđánh theo chiều dọc sao cho sạch và phẳng để tránh ăn mòn cục bộ
2 Rửa sạch tấm đồng bằng dung môi dễ bay hơi (chẳng hạnxăng dung môi) không có lưu huỳnh Dung môi rửa: dùng để rửa sạch các vếtbẩn trên mảnh đồng Dung môi rửa phải có độ bay hơi thích hợp không chứa lưuhuỳnh Trong trường hợp có tranh chấp nên dùng dung môi iso octan
3 Thấm khô tấm đồng bằng giấy lọc hoặc bông
4 Dùng cặp gắp hoặc lót tay bằng giấy lọc cho tấm đồng vàoống nghiệm Cho nhiên liệu thí nghiệm vào ống nghiệm đến ngập tấm đồng.Nếu thí nghiệm hở thì cho ống nghiệm vào lọ rồi nhúng nó xuống thùng điềunhiệt, nếu thí nghiệm kín thì cho ống nghiệm vào bom kim loại và nút kín
5 Cho bom hoặc rọ đã chứa ống nghiệm đó vào trong thùngđiều nhiệt, giữ ở nhiệt độ 5010C trong 3 giờ nếu thí nghiệm với xăng ôtô, dầuhỏa, DO, FO Điều kiện thí nghiệm, nhiệt độ, thời gian, kín hay hở tùy thuộc vàotừng sản phẩm
6 Nhấc lọ ra hoặc nhấc bom ra Làm nguội bom dưới vòi nước
Mở nắp bom lấy ống nghiệm ra khỏi bom sau đó dùng cặp lấy tấm đồng ra
7 Dùng dung môi rửa tấm đồng rồi thấm khô, cho vào ốngnghiệm dẹt để so sánh với bản chuẩn ăn mòn
- Đánh giá mức độ ăn mòn
Ta quan sát tấm đồng theo các tấm đồng chuẩn ăn mòn của bảng chuẩn:Cho tấm đồng vào ống nghiệm dẹt hay để nghiêng 30 độ để có trạng tháiquan sát tựa như các tấm đồng ăn mòn chuẩn được quan sát qua một lớp keotrong suốt của bảng chuẩn
Bảng chuẩn gồm 13 tấm đồng có mức độ ăn mòn khác nhau:
+ Tấm chuẩn đầu tiên là tấm đồng vừa bị đánh bóng xong
Trang 14+ 12 tấm còn lại được chia làm 4 cấp ăn mòn từ ít đến nhiều đánh số từ 1tới 4.
+ Mỗi một cấp ăn mòn lại chia ra các cấp phụ theo mức độ ăn mòn tăng:a,b,c,d,e
+ Theo bảng chuẩn đó, có các cấp ăn mòn như sau:
Cấp 1: Ăn mòn nhẹ (1a, 1b)
Cấp 2: Ăn mòn vừa (2a, 2b, 2c, 2d, 2e): biến sắc, nhợt màu
Cấp 3: Ăn mòn nhiều (3a, 3b): nhợt màu rồi chuyển tối
Cấp 4: Ăn mòn mạnh (4a, 4b, 4c, 4d): Xám đen
- Phạm vi áp dụng:
Phương pháp này dùng để xác định độ ăn mòn mảnh đồng của nhiên liệuphản lực, xăng ôtô, dung môi rửa dầu hoả, nhiên liệu DO, dầu nhờn và các sảnphẩm dầu mỏ khác
Đối với các dầu có áp suất hơi bõa hoà > 1241 Pa thì không áp dụngphương pháp này
II.3 Xác định chỉ số kiềm tổng và chỉ số axit.
- Các phương pháp và tiêu chuẩn xác định
1 Chuẩn độ bằng chất chỉ thị ASTM D-974
2 Chuẩn độ điện thế ASTM D-664
3 Chuẩn độ điện thế với axít percloric (HClO4)
Trang 15phân tích thể tích có dùng chất chỉ thị mầu Phương pháp này dùng chất chỉ thịthuận lợi khi xác định các sản phẩm có mầu sáng.
Dung dịch chuẩn: HCl 0,1 N (pha trong rượu) Dung dịch chuẩn KOH 0,1N (pha trong rượu)
Dung dịch chỉ thị - Napthol bezen: Màu vàng da cam ở môitrường axit, có màu xanh ở môi trường kiềm
Dung dịch chỉ thị Metyl da cam có màu vàng da cam ở môitrường axit, màu đỏ ở môi trường kiềm
Dung môi chuẩn độ là hỗn hợp gồm 500ml toluen + 495ml izopropylic + 5 ml nước
- Tiến hành thí nghiệm:
* Lấy mẫu vào bình nón 250 ml
* Tiến hành chuẩn độ
Cho lượng mẫu theo qui định vào bình nón 250 ml
Thêm vào bình nón đó: 100ml dung môi chuẩn độ và 0,5 ml chấtchỉ thị - naphtolbezein
Lắc cho mẫu tan hoàn toàn rồi quan sát mầu của dung dịch trongbình nón:
- Nếu hỗn hợp có màu vàng da cam nghĩa là có axit thì xác định TAN
- Dùng buret chứa thuốc chuẩn KOH 0,1N chuẩn cho đến khi chuyển sangmàu xanh lá cây hoặc xanh nâu bền trong 15 giây
- Nếu hỗn hợp có mầu xanh thì có kiềm: Tiến hành xác định TBN
Dùng buret chứa thuốc chuẩn là HCl 0,1N chuẩn cho tới khi mầu xanh lácây chuyển sang màu vàng da cam
Chuẩn mẫu trắng chính là một mẫu gồm 100 ml dung môi chuẩn độ(không có mẫu sản phẩm dầu mỏ) theo từng trường hợp tùy theo tính chất axithoặc kiềm của dung môi đó
Nếu dung môi có tính axit thì dùng dung dịch chuẩn kiềm KOH 0,1N.Nếu dung môi có tính kiềm chuẩn bằng dung dịch axit HCl 0,1N
* Tính kết quả thí nghiệm
Trang 16 Khi dung môi chuẩn độ cũng có tính axit thì:
TAN = {(A-B).N 56,1}/ w
Trong đó: A: số ml KOH dùng chuẩn độ mẫu
B: số ml KOH dùng để chuẩn độ mẫu trắng
N: nồng độ nguyên chuẩn của dung dịch KOH
w: lượng cân mẫu (g)
Khi dung môi chuẩn độ mang tính kiềm thì:
TAN = {(A.N + B.n)56,1}/ w
Trong đó: A: số ml dung dịch KOH dùng chuẩn độ mẫu
B: số ml HCl dùng để chuẩn độ mẫu trắng
N: nồng độ nguyên chuẩn của dung dịch KOH
n: nồng độ nguyên chuẩn của dung dịch HCl
w: lượng mẫu cân (g)
Trong trường hợp xác định chỉ số kiềm cũng làm tương tự như xác địnhchỉ số axit Các công thức tính cũng có dạng tương tự
Tại trung tâm thí nghiệm xác định TBN ta dùng máy chuẩn Đó là mộtmáy chuẩn độ điện thế, có điện cực so sánh và điện cực làm việc, dung dịchchuẩn là axit HClO4 được bơm một cách tự động Các chương trình do máy nạpsẵn và kết thúc quá trình chuẩn độ cho ta đồ thị đường chuẩn, từ đó ta có thể xácđịnh điểm tương đương và xác định TBN theo công thức sau:
TBN = (Va –Vb) 56,1 N / số gam mẫu
Trong đó: Va: thể tích axit tiêu tốn trong quá trình chuẩn độ
Vb: Thể tích chuẩn mẫu trắng
N: nồng độ axit tính theo đương lượng
Xác định TAN thì theo phương pháp chuẩn độ thể tích thông thường
II.4 Xác định độ tạo bọt.
- Ý nghĩa
Tạo bọt là tính năng quan trọng đối với các loại dầu Khi dùng bơm, cóbọt thì ảnh hưởng tới dòng chảy Đặc biệt với dầu thuỷ lực khi tạo bọt thì bơm bị
Trang 17e làm cho píttông không cố định gây bập bùng làm khó điều khiển Với dầunhờn thì độ tạo bọt không được có, do tạo bọt làm giảm khả năng bôi trơn củadầu, gây tác hại xấu cho máy.
Khi pha chế dầu thuỷ lực, dầu động cơ thì độ tạo bọt được xác địnhthường xuyên Người ta thường pha phụ gia chống tạo bọt vào dầu ví dụ nhưphụ gia silycon hàm lượng ppm , làm cho dầu không có bọt
- Nguyên tắc
Tiến hành sục khí qua lớp dầu nhờn, khí hoà tan trong dầu làm tăng thể tích
do tạo bọt, thời gian sục khí là 15 phút Sau khi ngừng sục khí để ổn định trong
5 phút sự thay đổi thể tích trước và sau khi sục khí đánh giá khả năng tạo bọtcủa dầu Thổi khí ở một nhiệt độ nhất định 240,50C hoặc 930C0,50C
Bình đo ở 930C có thiết bị đung nóng và bình đo ở 24 0,50C thì cóthiết bị làm lạnh và đun nóng Thông thường đo ở 3 mức:
o Chu kì 1: đo tạo bọt ở 24 0,50C
o Chu kì 2: đo ở 930C 0,50C
o Chu kì 3: đo ở 24 0,50C
Đo chu kì nóng lạnh liên tiếp để xác định sự tạo bọt theo nhiệt độ Khốngchế tốc độ thổi khí ở 94 5 ml/ phút
Sở dĩ xác định độ tạo bọt ở 2 mức nhiệt độ là xác định theo khoảng nhiệt
độ làm việc của động cơ từ nhiệt độ thường tới nhiệt độ nóng lên của động cơ.Tuy nhiên 2 nhiệt độ này cũng theo tiêu chuẩn
II.5 Độ bền oxi hoá
- Ý nghĩa
+ Oxy hoá là 1 dạng làm hỏng hoá học các s/phẩm dầu mỏ
+ Độ bền của dầu bôi trơn đối với quá trình oxi hoá là một đặc tính quantrọng của dầu
Dầu nhờn khoáng (dùng cho mô tơ, biến thế, tuốc bin, ) không oxy hóa
dễ dàng trong điều kiện nhiệt độ thường và tiếp xúc với không khí Trong điềukiện sử dụng và ở nhiệt độ cao và thường có kim loại oxy hóa (đồng, chì, sắt) thìdầu nhờn bị phân hóa nhanh hơn Sự phân hóa này là do sự oxy hóa của một sốphân tử của các hợp phần trong dầu nhờn đẫn đến sự thay đổi sắc thái bên ngoài
Trang 18và một số tính chất lý, hóa, màu trở nên tối hơn, còn độ nhớt, độ axit và tác dụng
ăn mòn tăng lên Đồng thời khi sự oxy hóa tiến triển thì có thể tạo thành cácpolyme và bám trên các bộ phận lọc và các điểm chảy Oxy hóa là một dạng làmhỏng hỗn hợp các sản phẩm dầu mỏ Độ bền của dầu bôi trơn đối với quá trìnhoxy hóa là một đặc tính quan trọng của dầu
- Phương pháp xác định
Dùng oxy dưới tác dụng của nhiệt và xúc tác dây đồng trong một thờigian nhất định, ở một nhiệt độ quy định, ta xác định được độ bền oxy hoá củadầu thông qua các chỉ số như: A xit tan trong nước, axit tan trong dầu và tổnghàm lượng cặn
III XƯỞNG OXY HÓA PARAFIN SẢN XUẤT THUỐC TUYỂN QUẶNG APATIT.
III.1 Nguyên liệu cho quá trình oxy hoá.
Thuốc tuyển là một hoá chất dùng trong quá trình tuyển nổi làm giàuquặng apatit Thành phần chủ yếu của thuốc tập hợp dùng để tuyển nổi quặng làhỗn hợp các chất hữu cơ chứa oxy: rượu béo, và axit béo, tuỳ theo loại thuốc mà
tỷ lệ axit béo trong thuốc tuyển thay đổi từ 40 đến hơn 90% Nhiều loại thuốctuyển ngoại thương phẩm ở dạng dung dịch xà phòng tan trong nước, hàm lượnghoạt chất hữu cơ chỉ từ 40-50%
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp chế tạo thuốc tuyểnquặng từ các nguồn nguyên liệu khác nhau: tổng hợp từ nguyên liệu là sản phẩmdầu mỏ, từ nguồn dầu thực vật, mỡ động vật Ở Việt Nam nguyên liệu sản xuấtthuốc tuyển có thể đi từ các nguồn dầu thực vật như dầu lạc, dầu vừng, dầu hạtcao su, dầu dừa từ mỡ động vật như mỡ lợn, mỡ cá Tuy nhiên các nguyênliệu trên còn được dùng trong nghành thực phẩm vì vậy hướng nghiên cứu chếtạo thuốc tuyển từ nguồn nguyên liệu hoá dầu trên cơ sở oxy hoá các phân đoạnparafin lỏng là có triển vọng hơn Tới khi Việt Nam có công nghệ lọc hoá dầuthì nguồn nguyên liệu parafin lỏng cho sản xuất là rất dồi dào
Từ trước tới nay trên thế giới việc chế tạo thuốc tuyển quặng bằngphương pháp oxy hoá parafin lỏng thường làm riêng rẽ từ n-parafin và izo-parafin Điều này cần phải có công đoạn tách riêng n-parafin và izo-parafin đưavào oxy hoá Nhưng hiện nay có thể đưa trực tiếp hỗn hợp n-parafin và izo-
Trang 19Me(n+1) + RH Me
n + R + H
parafin đưa vào oxy hoá Nguyên liệu có thể đi từ dầu mỏ Bạch hổ Việt Nam, từnhiên liệu Diezen bán trên thị trường Việt Nam, từ parafin lỏng
III.2 Cơ chế của quá trình oxy hoá parafin để tạo ra axit béo và các hợp chất chứa oxy khác để phục vụ cho tuyển nổi.
Qúa trình oxy hoá có ý nghĩa lớn trong công nghiệp tồng hợp hữu cơ Rấtnhiều sản phẩm trung gian, dung môi, monome, chất hoá dẻo, các hoá chất cơbản được điều chế theo phương pháp oxy hoá Do được sử dụng nguồn nguyênliệu là oxy của không khí, giá thành của sản phẩm điều chế theo phương phápoxy hoá rẻ hơn nhiều so vơi một số phương pháp khác
III.2.1 Khi oxy hoá parafin tạo thuốc tuyển nổi có thể xảy ra theo cơ chế peroxit gốc dây chuyền.
1.
R1 - CH - R2 + R3 - CH2 - R4O
R1 - CH - R2 + R3 - CH - R4OH
OH + R3 - CH2 - R4 R3 - CH - R4 + H2O
2 R1 - CH - R2
O - OH
R1 - C - R2 + H2O O
Trang 20Trong các giai đoạn này, phụ thuộc vào điều kiện phản ứng mà hình thành các sản phẩm trung gian : Xeton, ancol bậc 2 theo các tỷ lệ khác nhau.
c Giai đoạn 3:
Nhiều tác giả cho rằng, các xeton được tạo ra từ peroxit bị oxy hoá trựctiếp thành - hydroxi peroxit:
R1 - C - R2 + O = O O
O
Andehit tiếp tục bi oxy hoá thành axit :
R'2 - C - H + O = O O
R'2 - C - O - OH O
R'2 - C - O - OH O
R'2 - C
O H
+ 2 R'2 C
OH O
Các ancol bậc hai cũng bị oxy hoá tiếp tục thành xeton rồi chuyển sang axit béo, như vậy số nguyên tử cacbon trong phân tử axit béo được tạo thành luôn luôn ít hơn số nguyên tử cacbon của parafin tham gia phản ứng.
Sau đó bị cắt mạch tạo thành axit dicacboxilic:
R(CH2)4COOH + O2 RCOOH + H - C - (CH2)4COOH
O
H - C - (CH2)4 - COOH + O2 HOOC - (CH2) - COOH
O
Trang 21III.3 Phân loại thuốc tuyển nổi.
Thuốc tuyển nổi có thành phần rất da dạng Trong đó có thể bao gồmnhững hợp chất vô cơ và hữu cơ, có thể là các axit và các kiềm, các loại muối,những chất có thể hoà tan được hoặc không thể hoà tan được trong nước
Tuỳ theo vào mục đích sử dụng các thuốc tuyển nổi được phân chia thànhnhững loại sau đây:
+ Thuốc tập hợp: Đó là những hợp chất hữu cơ tác dụng một cách lựachọn lên bề mặt những hạt khoáng vật nhất định và làm cho bề mặt đó có tính kịnước Thuốc tuyển tập hợp tác dụng tập trung trên bề mặt phân chia khoáng vật
- nước do đó làm kị nước bề mặt hạt khoáng vật và đảm bảo khả năng bám dínhcần thiết của nó vào bóng khí để cùng nổi lên
+ Thuốc tạo bọt: Thuốc tạo bọt là những chất có hoạt tính bề mặt, khi hấpphụ lên bề mặt phân chia pha nước - không khí (bề mặt bóng khí trong nước) thì
nó có khả năng giữ các bóng không khí luôn ở trạng thái phân tán, ngăn cảnchúng tập hợp với nhau thành bóng lớn Thuốc tạo bọt làm tăng thêm độ bền củabọt tuyển nổi do đó nó làm tăng thêm tính ổn định của bọt khoáng hoá đang và
đã nổi lên trên bề mặt bùn
+ Thuốc điều chỉnh: Nhiệm vụ của thuốc điều chỉnh này là điều chỉnh tácdụng của thuốc tập hợp lên các hạt khoáng vật khác nhau để nâng cao tính chọnlựa của quá trình tuyển nổi Do đó tác dụng của thuốc điều chỉnh mà thuốc tậphợp chỉ tác dụng và làm kị nước những khoáng vật nào cần đưa vào sản phẩm
Trang 22bọt Dựa vào tác dụng của chúng các thuốc điều chỉnh được chia ra thuốc kíchđộng và thuốc đè chìm.
+ Thuốc điều chỉnh môi trường: loại thuốc này có tác dụng đảm bảo trongbùn có độ PH thuận lợi cho quá trình tuyển nổi Nó làm thay đổi nồng độ ion H+
hoặc ion OH- và nồng độ các muối hoà tan, giữ cho các hạt mùn ở trạng tháiphân tán có lợi cho quá trình tuyển nổi Như vậy, thuốc điều chỉnh môi trườngtạo môi trường thuận lợi cho một số loại khoáng vật nào đó và không thuận lợicho những khoáng vật khác
Sự phân loại trên cũng chỉ là qui ước Bởi vì trên thực tế có những thuốctập hợp có tính tạo bọt và ngược lại cũng có những thuốc tạo bọt có tính tập hợp.Đối với thuốc kích động và thuốc đè chìm cũng vậy, có những thuốc trong mộtđiều kiện nào đó thì có tính kích động nhưng trong các điều kiện khác lại có tính
đè chìm
Đối với tất cả các loại thuốc đè chìm đều có những yêu cầu sau đây: Tácdụng có tính chọn lựa, có thành phần ổn định, rẻ tiền, dễ sử dụng (không bị hưhỏng khi bảo quản, dễ hoà tan trong nước, không có mùi khó chịu không độchại )
Trong tổ hợp các loại thuốc sử được dụng trong công nghiệp tuyển nổithuốc tập hợp là quan trọng nhất Vì vậy người ta thường gọi tắt thuốc tập hợp làthuốc tuyển, các thuốc khác thường gọi thẳng tên hoá chất hoặc gọi tên theochức năng, ví dụ như thuốc tạo bọt, thuốc đè chìm
III.4 Quy trình công nghệ xưởng sản xuất thuốc tuyển.
Trong công nghệ chế tạo thuốc tuyển, khâu quyết định đến chất lượng sản phẩm
và hiệu suất của toàn bộ dây chuyền sản xuất DO là công đoạn oxy hóa parafin.Phản ứng oxy hóa parafin xảy ra ở nhiệt độ 1400C - 1500C là phản ứng toả nhiệt.Trên thế giới, thiết bị oxi hóa parafin được thiết kế hoạt động theo phương phápliên tục, có ưu điểm là năng suất thiết bị cao, ít tốn năng lượng Tuy nhiên thiết
bị liên tục đòi hỏi phải có các thông số công nghệ rất ổn đinh, mặt khác việcthiết kế chế tạo thiết bị này rất phức tạp, đòi hỏi trình độ công nghệ cao Vớimục tiêu nghiên cứu để tìm ra chế độ công nghệ phù hợp thì việc sử dụng thiết
bị gián đoạn với ưu điểm dễ thay đổi thông số công nghệ sẽ thích hợp hơn
Cấp nhiệt cho hệ thống bằng gia nhiệt bằng hơi quá nhiệt giải nhiệt bằng nước
và tháp có thêm bộ phận phân phối khí và điều tiết khí Với giải pháp này tháp
Trang 23oxy hóa chế tạo ra đã đáp ứng được yêu cầu của công nghệ: tăng hiệu suất củaphản ứng oxi hóa, dễ điều chỉnh và khống chế được các chế độ công nghệ, kể cảnhiệt độ khối phản ứng, dễ vận hành và sử dụng an toàn Mặt khác, việc sử dụngnồi hơi quá nhiệt đã giảm được chi phí về năng lượng cho toàn bộ dây chuyền,
vì các công đoạn khác như trung hòa, lắng tách DO và sản xuất PO cũng cầnphải gia nhiệt
Sơ đồ công nghệ sản xuất thuốc tuyển nổi từ n-parafin lỏng:
Quy trình vận hành trong xưởng sản xuất thuốc tuyển :
Quá trình sản xuất của phân xưởng là theo phương thức gián đoạn, năng suất 2tấn/mẻ
III.5.1 Công đoạn sản xuất DO
TIÊU CHUẨN HÓA
Trang 24Đầu tiên nguyên liệu được bơm vào thùng chứa số (1) – thùng chứanguyên liêu để định lượng nguyên liệu parafin Sau đó từ đây nguyên liệu đượcbơm vào tháp số (2) – tháp oxi hoá Tại đây nguyên liệu được gia nhiệt đến nhiệt
độ 1500C bằng hơi nước quá nhiệt từ lò sản xuất hơi, hơi nước đi vào trong vỏ
và ống xoắn của thiết bị Không khí qua máy nén sục vào đáy tháp oxy hoá đilên đỉnh tháp, qua lớp parafin lỏng ở dạng sủi bọt Phản ứng oxy hoá xảy ra khinhiệt độ đạt 1500C Quá trình oxi hoá được thực hiện theo kiểu gián đoạn Khixảy ra phản ứng thì phản ứng toả nhiệt mạnh, vì đây là phản ứng toả nhiệt Lúc
đó sẽ ngừng cấp hơi, mà thay vào đó là cấp nước lạnh vào vỏ và ống xoắn đểlàm mát lấy bớt nhiệt đi sao cho duy trì nhiệt độ phản ứng tại 1500C Phản ứngxảy ra theo kiểu dây truyền nên nếu không khống chế nhiệt độ để nhiệt độ tăngmạnh thì sẽ làm cho sản phẩm bị hỏng, gây cháy nổ
Không khí và khí thải đi ra ở đỉnh tháp được tách riêng dầu và khí ởxyclon (3), tách phần dầu ở đáy Phần dầu đó được đưa sang tháp ngưng tụ (7),rồi đi vào thùng chứa dầu Con dầu nhẹ và nước được tiếp tục đi qua thiết bị làmlạnh ống chùm (4) Không khí đi qua đó được ngưng tụ một phần nước, sau đó
đi xuống dưới tháp hấp thụ tuần hoàn (5), hấp thụ nốt phần không ngưng, sau đóqua xyclon 6 rồi đi sang lò đốt xử lý khí thải Hỗn hợp trong tháp phản ứng đượclấy mẫu định kỳ để kiểm tra các thông số: chỉ số axit, este nếu đạt yêu cầu chỉ
số axit là 45 mg KOH/g thì tháo sản phẩm xuống thùng đựng sản phẩm 8, sảnphẩm này gọi là oxydat
Sản phẩm oxydat từ thùng chứa (8) được bơm lên thiết bị trung hoà (9)thông qua thiết bị lường Thiết bị trung hoà là thiết bị 2 vỏ có khuấy Dung dịchNaOH 15% được bơm lên từ thùng chứa (23) Phản ứng trung hoà có nhiệt độ90-950C trong thời gian từ 4-5h Thiết bị được cấp nhiệt bằng hơi nước bão hoà.Kết thúc phản ứng hỗn hợp được tháo xuống một trong 4 thùng lắng tách DO(11), (12), (13), (14)
Sản phẩm sau trung hòa được để lắng tách trong thời gian 24 h Sau 24hlắng tách hỗn hợp dung dịch chia ra 2 lớp: lớp trên là lớp dầu chứa một lượngnhỏ hợp chất chứa oxy không tham gia phản ứng, lớp dưới là dung dịch xàphòng Natri của axit béo
Thao tác tách tiến hành ở thùng chiết (15) Hoà tan toàn bộ phần chiếtphía dưới (sản phẩm trung hoà) trong nước nóng 70-800C tỷ lệ sản phẩm trung
Trang 25hoà / nước = 1/2, khuấy đều cho tan hết sau đó để lắng trong thời gian 24h Phầnkhông tan nổi lên trên được tách ra cho quay trở lại thiết bị phản ứng oxi hoá
Sau đó sản phẩm được bơm vào thùng chứa sản phẩm DO loãng (24),hàm lượng hoạt chất trong đó là 20% Còn phần dầu lớp trên được bơm ngượctrở lại thùng chứa (1)
Sản phẩm DO loãng ở thùng chứa DO loãng (24) được đưa sang thiết bị(18), là thiết bị cô sản phẩm Tại đây không sử dụng phương pháp đun nóng chonước bốc hơi mà dùng axit vô cơ để đẩy axit hữu cơ ra, tách thành hai lớp, lớpaxit hữu cơ nổi lên trên Người ta tháo được lớp nước đi, còn lớp trên sẽ bơmvào thùng chứa sản phẩm trung gian (22) Và hết một công đoạn sản xuất DO.III.5.2 Sản xuất axit từ dầu thực vật hoặc dầu cá:
Người ta bơm vào thùng kiềm hóa (16), (17) một lượng dầu thực vật,khoảng hơn 2 tấn cho một mẻ, bơm xút vào đó và thực hiện xà phòng hóa
Ở đây gia nhiệt bằng hơi nước bão hòa sục trực tiếp vào trong thùng, bằngcách đó hơi nước đã sục vào làm khuấy trộn sản phẩm, đồng thời cấp nhiệt, cấpnước cho khối phản ứng
Sau khi thực hiện xong quá trình xà phòng hóa, người ta cũng chuyển sảnphẩm sang thiết bị (18), để tiến hành tách axit béo đang ở dạng muối tách tương
tự như đối với DO bằng cách cho axit H2SO4 vào đẩy axit của dầu thực vật ra,sau đó tháo nước ra rồi bơm sản phẩm vào 1 trong 3 thùng chứa sản phẩm trunggian (19), (20), (21)
Khi đã có đủ hai thành phần DO và PO, người ta thực hiện khuấy trộn sảnphẩm bằng cách bơm DO và PO vào thùng (18), bơm thêm một số phụ gia vàorồi tiến hành khuấy lên đóng phi thành các thành phẩm xuất đi các nhà máy
Trang 26Phần III
Tổng kho xăng DầU đức giang
Trang 27I Những đặc điểm chính của Kho xăng dầu Đức Giang
Tổng kho xăng dầu Đức Giang là đơn vị trực thuộc Công ty Xăng dầu khuvực I Tổng kho bắt đầu được xây dựng từ năm 1955, khi đó có tên là Tổng kho
7 Kho nằm trên địa bàn Hà Nội Kho Đức Giang được các chuyên gia TrungQuốc, Liên Xô giúp đỡ thiết kế, xây dựng từ đầu năm 1955 Công trình đã hoànthành vào đầu năm 1956
Phần công nghệ của kho:
- Đường ống vận chuyển
- Nhà xưởng kho bãi chứa sản phẩm
- Nhà bơm trung tâm
+ Còn có 6 bể khác là bể phòng sự cố, bể tách lẫn và thu hồi dầu
- Ngoài ra còn có cảng phục vụ cho quá trình xuất, nhập cho kho
II Cấu tạo hệ thống đường ống, quy trình tách lẫn, pha màu xăng
II.1 Hệ thống đường ống.
- Ống màu xanh bạc: dùng cho mặt hàng xăng 92
- Ống màu xanh: dùng cho mặt hàng diezen
- Ống màu vàng: dùng cho mặt hàng dầu hỏa (KO)
Trang 28- Ống màu nhũ: dùng cho mặt hàng xăng 95 hoặc mazut
- Ống màu đỏ dùng trong chữa cháy
Kích thước các ống khác nhau: đường kính 273, 167, 159, 80mm Tùythuộc lượng hàng trong bể mà sử dụng các loại ống khác nhau Khi đầy hàng sẽ
sử dụng ống có đường kính lớn; khi hàng ít không thể dùng đường ống lớn nênphải giảm cấp dần xuống các đường ống có kích thước nhỏ hơn Ống có đườngkính 80mm được dùng để hút vét khi hàng gần hết
Dùng các đoạn ống lắp ghép lại với nhau, sau đó lắp đặt trên mặt đất dùngtrong các kho hoặc được chôn dưới mặt đất dùng để vận chuyển xăng dầu đườngdài từ cảng về kho hoặc từ kho này sang kho khác, từ nơi xuất đến nơi nhận nhờ các hệ thống bơm
* Ưu điểm của đường ống dẫn xăng dầu
- Có thể vận chuyển được một khối lượng lớn nhiên liệu, hoạt động liên tục
và ổn định bảo đảm cung ứng thường xuyên cho người tiêu dùng Cho phép hạnchế đến mức tối thiểu mất mát trong quá trình hoạt động
- Với loại lắp trên mặt đất sẽ tốn ít vốn đầu tư, dễ sửa chữa
- Với loại đặt dưới đất thì ít chịu ảnh hưởng của nhiệt độ nên không cần cólớp bảo ôn bên ngoài
* Bên cạnh những ưu điểm trên thì phương pháp vận chuyển xăng dầu bằngđường ống có những nhược điểm chủ yếu sau
- Với loại lắp trên mặt đất có thể làm ảnh hưởng đến giao thông, chịu ảnhhưởng của nhiệt độ, về mùa hè xăng dầu nhẹ sinh hơi có thể gây ra nút khí làmtắc đường ống, về mùa đông lạnh thì dầu nhờn tăng độ nhớt làm cho khó vậnchuyển, thậm chí còn bị đông đặc lại, vì vậy đường ống vận chuyển dầu nhờnphải có lớp bảo ôn nhiệt bên ngoài ống
- Với loại lắp đặt dưới mặt đất thì đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, việc kiểm trasửa chữa khó khăn, đường ống dễ bị ăn mòn
II.2 Quy trình tách lẫn.
Khi bơm nối tiếp 2 mặt hàng thì vùng tiếp giáp của 2 mặt hàng được gọi
là vùng lẫn Vùng lẫn được xác định bằng tự động nhưng bên cạnh cũng luôn có
kỹ thuật viên giám sát
Trang 29Khi có thông báo bắt đầu bơm đuổi hàng công nhân vận hành phải báocho kỹ thuật viên trực tách lẫn biết Trước thời điểm tách lẫn công nhân vậnhành phải mở xong các van thuộc đường nhập của bể nhập loại hàng tiếp theo ratới đường nhập chính nhưng chưa mở van điện thuộc đường nhập đó (VĐn), mởcác van thuộc đường nhập của bể tách hàng lẫn được chỉ định theo kế hoạchtrong đó chưa mở van điện (VĐ1)
Thao tác tách lẫn:
Khi kỹ thuật viên báo vùng hàng lẫn đến công nhân vận hành mở van điện
VĐ1 để thu nhận toàn bộ vùng lẫn vào bể chứa hàng lẫn, đồng thời đóng vanđiện VĐn của loại hàng kết thúc nhập Các bể lẫn có sức chứa 20 ÷ 25m3 Khi kỹthuật viên báo vùng hàng lẫn đã hết (sau khi thu được khoảng 10 ÷ 12m3 vùnglẫn), công nhân vận hành mở van điện VĐn thông vào bể thu nhận toàn bộ loạihàng kế tiếp, đồng thời đóng van VĐ1 kết thúc nhập vào bể phân lẫn Vùng lẫnđược tách biệt và chứa trong 2 bể A, D sau đó một thời gian được sử dụng đểphân tách ra từng loại
Do xăng dầu có tỷ trọng khác nhau thường thì tỷ trọng của xăng nhỏ nênnổi lên trên, dầu có tỷ trọng lớn sẽ chìm xuống dưới Sau một thời gian chúng tựphân lớp, còn phần bề mặt bám dính vào nhau sẽ có sự phân tách bằng việc phântích tỷ lệ pha trộn giữa xăng và dầu nếu lượng lẫn là nhỏ, tuy nhiên việc phântách sử dụng bằng chưng cất sẽ hiệu quả hơn nhưng tốn kém và khó khăn Saukhoảng 2 đến 3 ngày hàng trong bể lẫn được lọc và phân tích
Trong trường hợp bơm đuổi giữa các loại xăng (M92, M95) hoặc giữa cácloại dầu (DO, KO) thì không phải phân lẫn vào bể chứa hàng lẫn mà thực hiện:khi kiểm tra thấy xuất hiện vùng lẫn thì mở van điện chuyển nhập vào bể nhậploại hàng kế tiếp đồng thời đóng van điện vào bể của loại hàng đã kết thúc nhập
II.3 Pha màu xăng.
Việc pha màu cho xăng được thực hiện ngay tại đường ống, màu được đổtrực tiếp vào qua van nhỏ giọt trộn với xăng trong đường ống tạo nên màu củaxăng thương phẩm
III Quy trình xuất, nhập xăng dầu bằng đường ống.
Quá trình nhập hàng bằng tuyến ống.
Kho xăng Đức Giang chỉ sử dụng 1 tuyến đường ống chính để nhận 4 loại
mặt hàng xăng 92, 95, diezen và dầu hỏa Quá trình bơm hàng được tiến hành
Trang 30tuần tự Tuy nhiên hiện nay kho đã xây dựng thêm một tuyến đường ống nhậphàng nữa chạy song song cùng đường ống cũ
- Các đơn vị tham gia quá trình giao nhận hàng phải nắm được kế hoạch nhập hàng trước khi bơm hàng: nơi bơm hàng, thời điểm bơm hàng, chủng loại hàng, số lượng hàng và chất lượng xăng dầu sẽ bơm và đang bơm trong ống
- Bố trí sức chứa, bể tách lẫn đúng chủng loại, đạt tiêu chuẩn để tiếp nhậnhàng
- Bố trí người trực tuyến, vận hành công nghệ, tổ chức đón tách lẫn
- Kiểm tra hệ thống công nghệ có liên quan đến quá trình nhập hàng.Đối với loại bể 2.000m3 và 3.000m3 mức chứa hàng tại bể là 10.800mm và10.600mm
Đối với loại bể 15.000m3 mức chứa hàng tại bể là 14.050mm
- Lấy mẫu tại các thời điểm nhất định 20%, 50% và 80% số lượng của lôhàng, kiểm tra phân tích sơ bộ, báo cáo và lưu lại kết quả
- Trong trường hợp đuổi ống, phải lập phương án tách lẫn hợp lý để hạnchế tối đa lượng xăng dầu bị lẫn
- Thực hiện việc phát hiện vùng lẫn theo qui trình tách lẫn tự động hoặcthủ công
- Đối với xăng dầu bị lẫn, phải có phương án pha chế và xử lý kịp thời,đảm bảo chất lượng
IV Quy trình xuất, nhập xăng dầu bằng đường sắt (Waggon) và ô tô xitéc.
* Xuất hàng.
Kho xăng dầu Đức Giang có thể xuất hàng cho cả đường bộ và đường sắt(Waggon) Để xuất hàng kho xăng có hai giàn xuất: 1 giàn xuất cho đường bộ, 1giàn xuất cho đường sắt Nhưng để đảm bảo cho quá trình xuất hàng thì một hệthống không thể thiếu đó là: hệ thống bơm
Hệ thống bơm gồm: 8 bơm suất đường bộ và 6 đường sắt Các bơm sửdụng là máy bơm ly tâm công suất 80m3/h làm việc liên tục mỗi bơm xuất mộtmặt hàng Các bơm đều có sử dụng van hồi lưu, đồng hồ theo dõi áp suất, cácđầu ống chống giãn nở, các bình tách cặn, tách khí Máy bơm có đường ống ốngmềm nối giữa đường hút và đường đẩy, trên đường ống đẩy có van an toàn (van
Trang 31hồi lưu) Nếu đầu đường xả bị tắc khiến áp suất trong ống tăng cao, van hồi lưu
sẽ mở và cho bơm quẩn để tránh phá hủy máy bơm
IV.1 Qui trình xuất cho Waggon.
Hướng dẫn cho xe vào đúng họng xuất loại xăng dầu ghi trên phiếu, tiến hành kiểm tra:
- Kiểm tra độ khô sạch của xitéc theo đúng quy chế quản lý phẩm chất
- Kiểm tra phiếu xuất kho đảm bảo đúng quy định và hợp lệ
- Kiểm tra giấp chứng nhận dung tích hợp pháp, chiều cao tấm mức ghitrong giấy chứng nhận và thực tế Kiểm tra tình trạng kẹp chì nắp xitéc
- Kiểm tra điều kiện an toàn phòng cháy
- Kiểm tra các vật tồn chứa phụ và không cho mang theo vào kho nhữngvật chứa không liên quan đến giao nhận hàng
- Kiểm tra các van đáy, van xả rốn… các van này phải kín và ở trạng tháiđóng
- Kẹp chì chống tĩnh điện
Thả vòi xuất vào trong xitéc Trong quá trình bơm mới đầu phải từ từ, saukhi ngập đầu vòi thì bơm mạnh Thường xuyên để ngập đầu vòi trong dầu đểtránh bay hơi
- Thường xuyên kiểm tra mức dầu trong xitéc và kịp thời điều chỉnh vanđóng nhanh trên cần xuất để giảm dần lưu lượng bơm cho đến khi tới tấm mứcthì đóng van kết thúc
- Xuất xong thì tắt máy dừng bơm
- Kết thúc xuất hàng cho một Waggon, nâng vòi xuất hàng ra khỏi xitéc từ
từ để hàng chảy hết ở đầu ống xuất về xitéc và đưa cần xuất về đúng vị trí quyđịnh Tháo kẹp chì; Đóng nắp xitéc; Tháo chèn xe và cho xe ra vị trí kiểm tra
IV.2 Qui trình xuất cho ô tô Xitéc.
- Trước khi bơm xuất hàng phải kiểm tra máy bơm, thiết bị tiếp địa chốngtĩnh điện cho ô tô xitéc, bình tách khí, đồng hồ đo áp suất đẩy của máy bơm
- Mở van chặn từ bể xuất qua máy bơm tới họng xuất
Trang 32- Khi xuất hàng: hướng dẫn xe vào vị trí đóng hàng, lắp tiếp địa chốngtĩnh điện cho ô tô xitéc.
- Đưa cần xuất vào vị trí quy định trong xi téc để đóng hàng, mở van đóngnhanh trên cần xuất và thực hiện các thao tác của quy trình Khởi động máy bơmđóng hàng vào xi téc
- Phải thường xuyên kiểm tra lượng hàng xuất vào trong xi téc và mứcchứa hàng
- Xuất hàng xong nâng cần xuất từ từ để hàng chảy hết ở phần đầu ốngxuất, đưa cần về vị trí quy định, đậy nắp xi téc Tháo tiếp địa khỏi xe, dẫn xe rakhỏi họng xuất hàng
V Cấu tạo và sơ đồ bể công nghệ.
Bồn bể chứa xăng dầu là một trong những công trình kỹ thuật chính củakho xăng dầu Xăng dầu được tồn chứa trong các bể kim loại thẳng đứng hoặcnằm ngang, trong các bể ngầm bể tông cốt thép có lót kim loại
Các bể phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật đưa ra cho từng trườnghợp, tồn chứa đối với từng loại xăng dầu cụ thể Tuỳ theo khả năng thi công,phải đảm bảo tránh được ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài tác động tớichất lượng của sản phẩm tồn chứa trong bể Tất cả các bể chứa xăng dầu đặt nổitrên mặt đất hoặc các bể nửa nổi nửa chìm thì xung quanh bể phải sơn phủ lớpsơn trắng để phản xạ ánh sáng mặt trời, và phải có hệ thống phun nước làm mát
bể để hạ nhiệt độ và áp suất trong bể, có mái phao nhằm làm giảm hao hụt xăngdầu do bay hơi Nhiệt độ cho phép tối đa trong quá trình xử lý sản phẩm tại bểchứa không quá 85 90oC Nếu nhiệt độ cao quá giới hạn trên sẽ có thể gây nêntình trạng tràn dầu ra ngoài do nước có lẫn trong bể bị sôi Chỉ được tiến hànhcác thao tác bơm, rót cũng như xuất, nhập xăng dầu sau khi đã chuẩn bị và kiểmtra các bể chứa, các đường ống xuất, nhập và các thiết bị có liên quan
Kho xăng dầu hiện nay sử dụng phổ biến loại bể trụ đứng Bể trụ đứngbằng thép hàn, đặt nổi Các bể trụ đứng nổi có dung tích từ 400m3 trở lên, có thểtới 15.000m3
Dưới đây là một số đặc điểm cần chú ý đối với bể trụ đứng bằng thép hànđặt nổi:
Trang 331 Đáy bể: gồm các tấm thép có chiều dày khác nhau được hàn lại Đáy
bể được đặt trên phần móng đã được gia cố để đảm bảo chống lún, sát với đáy
bể là lớp bê tông nhựa đường chống thấm nước và hạn chế ăn mòn
2 Thành bể: gồm nhiều tấm thép ghép hàn với nhàu Do phải chịu áp lựcthủy tĩnh tăng dần theo độ sâu của xăng dầu nên chiều dày của thép thành bểtăng dần từ trên xuống dưới
3 Mái bể: kết cấu mái bể hình nón, hình chỏm cầu Mái bể đảm bảo độ
ổn định tương đối của bể chứa trong quá trình xuất nhập, tránh đọng nước, đồngthời là nơi để bố trí lắp đặt các thiết bị an toàn, kiểm tra của bể
4 Lỗ người chui: có tác dụng để người kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa đivào trong bể thực hiện nhiệm vụ Lỗ người chui thường được đặt ở ngay tầngthép thứ nhất
5 Hệ thống mái phao
6 Lỗ đo hàng: được đặt trên mái bể, tại đây có thể lấy mẫu xăng trong bể,
đo chiều cao, đo nhiệt độ bể
7 Đường ống xuất nhập: bao gồm đường ống và các hệ thống van đượcgắn vào thành bể và liên kết với các hệ thống đường ống xuất nhập của kho
8 Hệ thống hút vét, xả cặn: ở vị trí thấp nhất của đáy bể chứa, bên ngoài
có các đường ống, van nối với hệ thống hút vét của kho và có đường ống xả ra
hố, rãnh thu dầu thải, cặn của khu bể (hệ thống thoát nước xả cặn)
Trang 349 Đê bao ngăn cháy của khu bể: thường được xây bằng gạch, có tác dụngngăn cháy lan ra vòng ngoài của khu bể khi có sự cố mất an toàn của khu bể đểtránh sự loang ra của dầu.
10 Lỗ ánh sáng: đặt ở trên mái bể, nó có tác dụng để thông gió và lấy ánhsáng trước và trong khi bảo dưỡng, kiểm tra bể và thiết bị bên trọng
11 Van thở và bình ngăn tia lửa: Van thở được lắp ở trên mái bể, có tácdụng điều chỉnh áp suất trong bể nằm trong phạm vi cho phép mà bể có thể chịuđược trong các quá trình xuất nhập, tồn chứa và hoạt động khác của bể chứa.Dưới bộ phận khống chế áp suất và tiếp giáp với mái bể thường được lắp bộphận ngăn tia lửa có tác dụng ngăn tia lửa cháy ngược từ ngoài vào trong bểchứa
12 Cột thu lôi: lắp trên mái bể và nối tiếp đất, chiều cao đủ để bao phủ antoàn khu vực bể chứa Cột thường làm bằng thép hoặc đồng, vót nhọn ở đầu
13 Hệ thống tưới mát thành bể: là hệ thống các đường ống mầu đỏ có các
lỗ phun nhỏ bao xung quanh mái bể và thành bể, nối với hệ thống máy bơmnước nhằm tưới mát bể khi trời nắng to
14 Cầu thang bể: lắp bên ngoài bám theo thành bể, dẫn từ đáy tới mái bể,phục vụ cho việc đi lại trong quá trình thao tác kiểm tra, bảo dưỡng,… của côngnhân và quản lý
15 Lăng phun bọt chữa cháy cố định: thường được lắp ở tầng trên cùngcủa thành bể, nối với hệ thống bơm chữa cháy cố định của kho xăng dầu, khi cócháy thì dung dịch bọt chữa cháy sẽ được phun vào phía trong bể để phủ kín mặtthoáng xăng dầu, ngăn cản sự cháy
16 Hố và rãnh thu dầu cặn tiêu độc: được xây dựng bao quanh khu bể vànối với nhau thành hệ thống đưa nước thải của các khu bể xăng dầu về bộ phận
xử lý nước thải trước khi thoát ra hệ thống công cộng Ngoài hệ thống thu cặntiêu độc còn có hệ thống thu gom nước mặt khu bể (bao gồm nước mưa và nướctưới mát bể chứa) hệ thống này có đường dẫn tập trung về hố gạn, gạn cơ họcđơn giản rồi xả ra thoát nước công cộng
VI Hệ thống cầu cảng của kho xăng.
- Cầu cảng của kho xăng có nhiệm vụ nhập đường thủy các mặt hàng dầusáng và dầu mazut
- Ở cầu cảng xuất hàng theo đường thủy và đường bộ trong đó:
Trang 35+ Theo đường thủy: kiểm tra hàng (dầu mazut) nếu đảm bảo đủ chấtlượng thì xuất chuyển tiếp luôn, ngoài ra cũng có xuất cả mặt hàng dầu sáng.
+ Theo đường bộ chủ yếu là xuất dầu mazut
- Ở cầu cảng chỉ chứa mặt hàng dầu mazut với bể chứa có dung tích từ 20– 80m3 gồm khu 18 bể (25m3/bể), khu 20 bể (10m3/bể), khu 4 bể (80m3/bể), khu
4 bể (75m3/bể) Các bể đặt nằm ngang để người công nhân dễ vận hành thao tác,
và bảo dưỡng vệ sinh
VII Hệ thống phòng cháy chữa cháy
Trong Tổng kho còn có các hệ thống thiết bị, hồ chứa nước… phục vụcho công tác an toàn PCCC Cụ thể như: tại tất cả các bể chứa đều được lắp đặtcác đường ống chữa cháy Trên các họng xuất của nhà xuất cho ôtô xitéc, dànxuất wagong xitéc đều được nắp đặt các bình chữa cháy tự động Tại các trạmbơm, các trạm điều hành… đều được trang bị các bình chứa cháy
* PCCC khi nhập hàng:
- Không nhập hàng khi trời có giông
- Sử dụng đúng yêu cầu của thiết bị chống tĩnh điện
- Các đầu nối ống dẫn phải kín, bảo đảm chắc chắn, không được để xăng dầu dò
rỉ ra bên ngoài
- Trong quá trình nhập phải có người phụ trách kiểm tra sẵn sàng xử lý sự cố
- Khi nhập xong phải vệ sinh công nghiệp sạch sẽ
VIII An toàn lao động và vệ sinh công nghiệp.
An toàn lao động là yêu cầu mà bất cứ một cơ sở sản xuất hay kinh doanhnào cũng cần phải quan tâm nhằm hạn chế những rủi ro, những thiệt hại vềngười và tài sản xã hội chủ nghĩa Các cơ sở sản xuất hay kinh doanh đều phải
đề ra những qui tắc an toàn và các cá nhân liên quan như các cán bộ, công nhân
Trang 36và khách hành phải chấp hành vấn đề an toàn Ở bất kỳ nhiệt độ nào xăng dầucũng bay hơi, hơi xăng dầu bay lên khoảng không bể chứa thiết bị chứa đựngdần dần tự bão hoà với không khí trong khoảng đó và có thể tạo thành môitrường nguy hiểm gây cháy nổ Để có thể gây ra cháy cần có tác nhân gây ra tialửa và được gia nhiệt đến nhiệt độ bắt cháy, cho nên việc để các bồn bể chứa xatác nhân gây ra tia lửa là việc bắt buộc đối với bất kỳ một nhà máy xí nghiệp nào
do đó các yêu cầu về an toàn lao động khi làm việc
- Không đi giầy đinh, và mang bất cứ vật dụng phát ra tia lửa vào gần nơi đểxăng dầu
- Các bồn, bể, chứa, cũng như phòng thí nghiệm phải bố trí riêng biệt, có chu vibảo vệ
- Bên dưới các bồn, bể chứa phải trồng cỏ xanh hoặc rải sỏi để giải toả nhiệt vàchống ngọn lửa lan ra các nơi khác khi xảy ra hoả hoạn
- Phải bố trí các loại bình chữa cháy ngay bên cạnh các bồn, bể chứa
- Trong lúc làm việc nhân viên công tác, công nhân phải đeo tạp dề cao su,mang găng tay và đi ủng cao su, đeo kính
- Không sờ mó vào các máy móc đang vận hành đặc biệt là không được ngắt cầudao, không đi lung tung trong nhà máy, đồng thời phải vào ra theo đúng giờ quyđịnh của các cơ quan như một nhân viên
- Khi ra vào nhà máy cần thực hiện đúng các hướng dẫn của người hướng dẫn vàcác quy định khác của cơ quan
Chấp hành các qui tắc về an toàn lao động không chỉ góp phần hạn chế cáctai nạn và giảm được các thiệt hại đáng tiếc mà còn giúp cho mọi người sinhviên rèn luyện tư cách, tính cách cẩn thận và kỹ luật
Trang 38LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CP HOÁ DẦU PETROLIMEX.
Công ty cổ phần Hóa dầu Petrolimex [PLC] ngày nay, tiền thân là Công ty Dầu nhờn Petrolimex trực thuộc Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam -
PETROLIMEX được thành lập ngày 09/06/1994 với ngành nghề kinh doanh:Xuất nhập khẩu dầu mỡ nhờn, sản phẩm hoá dầu, vật tư thiết bị hoá dầu chuyêndùng, phục vụ công tác của công ty với mục tiêu phát triển công ty một cách bềnvững trên cơ sở đa dạng hoá sản phẩm Sau gần 5 năm hoạt động, công ty đã mởrộng hoạt động kinh doanh hình thành 3 ngành hàng là: Dầu Nhờn, NhựaĐường, Hóa Chất Vì vậy, ngày 13/10/1998 đã có quyết định đổi tên công tyDầu nhờn thành công ty hoá dầu Petrolimex để đánh dấu và khẳng định mộtbước phát triển mới của công ty
Ngày 23/12/2003 công ty Hoá Dầu thuộc tổng công ty xăng dầu Việt Namchuyển thành công ty cổ phần Hoá Dầu petrolimex với những ngành nghề kinhdoanh mới:
+ Kinh doanh xuất nhập khẩu Dầu mỡ nhờn, Nhựa đuờng, Hoá chất và các mặt hàng khác thuộc lĩnh vực sản phẩm dầu mỏ và khí đốt
+ Kinh doanh, xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị chuyên ngành Hóa dầu.+ Kinh doanh các dịch vụ: vận tải, cho thuê kho bãi, pha chế, phân tíchthử nghiệm, tư vấn và dịch vụ kỹ thuật hoá dầu
Đặc điểm nổi bật trong mạng lưới kinh doanh của Công ty Cổ Phần hoádầu là được tổ chức rộng khắp trên phạm vi toàn quốc và chiến lược kinh doanh
đa dạng hoá các mặt hàng Đến nay Công ty đã phát triển mở rộng sang kinhdoanh các mặt hàng nhựa đường, hóa chất vì vậy doanh thu hàng năm của công
ty không ngừng tăng lên qua các năm Việc ổn định và phát triển sản xuất kinhdoanh của Công ty còn thể hiện ở việc đầu tư, hoàn thiện và nâng cấp cơ sở vậtchất kỹ thuật Hiện tại, công ty đã có hệ thống kho cảng hoàn thiện tại Đà Nẵng,Hải Phòng, TpHCM và 2 nhà máy sản xuất Dầu Nhờn tại Hải Phòng và ThànhPhố HCM đảm bảo phục vụ tốt mọi nhu cầu của Xã hội đối với hàng dầu mỡnhờn, nhựa đường, hóa chất
Trang 39CHƯƠNG I.
NHÀ MÁY DẦU NHỜN THƯỢNG LÝ - HP
I Giới thiệu chung về nhà máy dầu nhờn Thượng Lý.
Nhà máy Dầu nhờn Thượng Lý - TP Hải Phòng gồm 3 bộ phận chính:
- Đội pha chế đóng rót:
Công suất pha chế 25.000 T/năm
Dây chuyền đóng rót DMN phuy 200 lít: 100 MT/ca sản xuất
Dây chuyền đóng rót DMN can nhựa 18 & 25 lít: 3.000 can/ca sản xuấtDây chuyền đóng rót, bao gói DMN lon hộp 0,5 lít – 4 lít: 10.000 lon/ca
Bể chứa dầu gốc: 06 bể; dung tích từ 500 m3 đến 1.500 m3/bể; tổng sứcchứa 7.000 m3
Bể chứa phụ gia: 02 bể, dung tích 50 m3/bể; tổng sức chứa 200 m3
Bể chứa thành phẩm: 04 bể, dung tích từ 50 m3; tổng sức chứa 200 m3
Trong các bộ phận trên thì bộ phận pha chế đóng rót có vai trò quyết định
về mặt chất lượng và số lượng các mặt hàng dầu nhờn sản xuất ra
1 Tổng quan về sản phẩm Dầu Mỡ nhờn.
Dầu Mỡ nhờn là sản phẩm có thành phần chính: dầu gốc và các phụ gia
Công dụng chính của Dầu Mỡ nhờn : bôi trơn, giảm ma sát, tẩy rửa, làmkín, làm mát, bảo quản, truyền nhiệt, cách điện, bảo vệ kim loại…
2 Các sản phẩm dầu mỡ nhờn của Công ty CP Hóa dầu Petrolimex – PLC.
Các sản phẩm của nhà máy sản xuất rất đa dạng gồm: dầu nhờn, dầu nhờnđộng cơ, dầu hàng hải, dầu công nghiệp (dầu phanh, dầu thủy lực, dầu biếnthế ) Ngoài ra, nhà máy còn liên kết với hãng dầu nhờn nổi tiếng thế giới như: