1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY KỸ THUẬT TAY CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH CẦU LONG KHOA SƯ PHẠM

301 68 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 301
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập giảng dạy kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh 116 3.2.2..

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

NGUYỄN VĂN THẠCH

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY KỸ THUẬT TAY CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH CẦU LÔNG KHOA SƯ PHẠM THỂ DỤC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

BẮC NINH - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

NGUYỄN VĂN THẠCH

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY KỸ THUẬT TAY CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH CẦU LÔNG KHOA SƯ PHẠM THỂ DỤC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Thạch

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐH : Đại học ĐHSP : Đại học sư phạm GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo GDTC : Giáo dục thể chất HLTT : Huấn luyện thể thao HLV : Huấn luyện viên LVĐ : Lượng vận động NCS : Nghiên cứu sinh NPV : Người phục vụ NTH : Người thực hiện

PH : Phối hợp PHDC : Phối hợp di chuyển

SL : Số lượng TDTT : Thể dục thể thao TTCB : Tư thế chuẩn bị VĐV : Vận động viên XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG

km/h : Kilomet/giờ

m.v : Khối lượng Vận tốc m/s : mét/giây

% : Tỷ lệ phần trăm

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các đơn vị đo lường

Mục lục

Danh mục bảng, sơ đồ, biểu đồ

1.1 Những cơ sở lý luận của công tác giảng dạy Cầu lông 5

1.1.2 Cơ sở sinh lý của bài tập Cầu lông (hoạt động không có

1.3.2 Các giai đoạn giảng dạy kỹ thuật Cầu lông 25 1.3.3 Đặc điểm công tác giảng dạy kỹ thuật Cầu lông cho đối

tượng sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất

Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

28

1.4 Đặc điểm phương tiện giảng dạy kỹ thuật Cầu lông 31

1.4.1 Những cơ sở lý luận của phương tiện Giáo dục thể chất

nói chung và giảng dạy Cầu lông nói riêng

31

Trang 7

1.4.2 Đặc điểm bài tập trong giảng dạy kỹ thuật Cầu lông 41

1.5.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 45 1.5.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 45

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 49

2.2.5 Kế hoạch và thời gian nghiên cứu 65

3.1 Thực trạng công tác giảng dạy kỹ thuật tay đối với sinh viên

chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học

Thể dục thể thao Bắc Ninh

66

3.1.1 Thực trạng chương trình và nội dung giảng dạy môn Cầu

lông cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất

66

3.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy môn

Cầu lông Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

71

3.1.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên Bộ môn Cầu lông Trường Đại

học Thể dục thể thao Bắc Ninh

75

3.1.4 Thực trạng đối tượng học tập chuyên ngành Cầu lông

Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

78

Trang 8

3.1.5 Thực trạng nội dung và kế hoạch giảng dạy kỹ thuật tay

cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường

Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

88

3.1.6 Thực trạng bài tập sử dụng giảng dạy kỹ thuật tay cho sinh

viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học

Thể dục thể thao Bắc Ninh

97

3.1.7 Lựa chọn test đánh giá hiệu quả giảng dạy kỹ thuật tay cho

sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại

học Thể dục thể thao Bắc Ninh

108

3.1.8 Thực trạng hiệu quả giảng dạy kỹ thuật tay cho sinh viên

chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể

dục thể thao Bắc Ninh

110

3.1.9 Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1 111

3.2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập giảng dạy

kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục

thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

116

3.2.2 Lựa chọn và xây dựng kế hoạch ứng dụng các bài tập

giảng dạy kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành

Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

123

3.2.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các bài tập đã lựa chọn

trong giảng dạy kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông

ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CỐNG BỐ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Thể

1.1 Bảng số lượng và thời gian các môn học trong mỗi lĩnh

vực kiến thức của Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh theo kế hoạch đào tạo năm 2010 và 2015

6

3.1 Thời gian học tập môn thể thao chuyên ngành ngành

Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh thời gian gần đây

67

3.2 Bảng phân phối thời gian cho các hình thức giảng dạy ở

các chương trình giảng dạy chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

Sau Tr.68

3.3 Phân phối thời gian cho các nội dung tập luyện trong các

chương trình giảng dạy chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

Sau Tr.68

3.4 Bảng phân phối thời gian cho các hình thức giảng dạy ở

các chương trình giảng dạy chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất của Trường ĐHSP Thể dục thể thao Hà Nội và Trường ĐH Thể dục thể thao Đà Nẵng

Sau Tr.70

3.5 Phân phối thời gian cho các nội dung tập luyện trong

chương trình giảng dạy chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất của Trường ĐHSP Thể dục thể thao

Hà Nội và Trường ĐH Thể dục thể thao Đà Nẵng

Sau Tr70

3.6 Kết quả phỏng vấn về sự hỗ trợ của gia đình cho việc học

tập của sinh viên chuyên ngành Cầu lông trong nhà trường (n=126)

73

Trang 10

3.7 Thực trạng lực lượng giáo viên Bộ môn Cầu lông Trường

Đại học TDTT Bắc Ninh

75

3.8 Kết quả phỏng vấn sinh viên về lực lượng giáo viên Bộ

môn Cầu lông Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

76

3.9 Số lượng thí sinh đăng ký thi vào học tập chuyên ngành

ở một số môn của Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh trong những năm gần đây

79

3.10 Kết quả phỏng vấn lựa chọn yếu tố vào học chuyên

ngành Cầu lông của sinh viên Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh (n=126)

80

3.11 Trình độ chuyên môn Cầu lông ban đầu của sinh viên

chuyên ngành Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh (n = 126)

83

3.12 Môi trường công tác của sinh viên chuyên ngành Cầu

lông ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh một

số năm gần đây

86

3.13 Kết quả phỏng vấn giáo viên, huấn luyện viên và chuyên

gia Cầu lông về thực trạng hiệu quả nội dung giảng dạy

kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh (n = 35)

Sau Tr.89

3.14 Kế hoạch thời gian giảng dạy kỹ thuật Cầu lông cho sinh

viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất theo chương trình năm 2010 và 2015

92

3.15 Kế hoạch giảng dạy các kỹ thuật tay cho sinh viên

chuyên ngành Cầu lông theo mỗi học phần (lịch trình)

Sau Tr.93 3.16 Kết quả phỏng vấn đánh giá phân phối nội dung chương

trình môn chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất của nhà trường (n = 35)

95

Trang 11

3.17 Mức độ sử dụng các nhóm bài tập trong giảng dạy một

kỹ thuật ở giai đoạn ban đầu cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

101

3.18 Mức độ sử dụng các nhóm bài tập giảng dạy kỹ thuật ở

giai đoạn dạy học sâu cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

106

3.20 Kết quả kiểm tra các test đánh giá kỹ thuật tay cho sinh

viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh (n=19)

110

3.21 Kết quả học tập của lớp chuyên ngành Cầu lông ngành

Giáo dục thể chất khóa Đại học 49 thời điểm kết thúc học kỳ 4

111

3.22 Kết quả phỏng vấn các nguyên tắc lựa chọn bài tập giảng

dạy kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh (n = 35)

122

3.23 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập giảng dạy kỹ thuật

tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh (n = 35)

124

3.24 Kết quả phân tích chỉ số Cronbach’s Alpha nhằm lựa

chọn bài tập ở nhóm các bài tập mô phỏng (không tiếp xúc cầu)

126

3.25 Kết quả phân tích chỉ số Cronbach’s Alpha nhằm lựa

chọn bài tập ở nhóm các bài tập kỹ thuật đơn lẻ (có tiếp xúc cầu)

Sau Tr.126

Trang 12

3.26 Kết quả phân tích chỉ số Cronbach’s Alpha nhằm lựa

chọn bài tập ở nhóm các bài tập phối hợp kỹ thuật

Sau Tr.126 3.27 Mã hóa tên các bài tập đã lựa chọn 128 3.28 Kết quả kiểm tra ban đầu của nhóm thực nghiệm và đối

chứng của sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất khóa Đại học 50 và 51 Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

Sau Tr.132

3.29 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm

và đối chứng của sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất khóa Đại học 51 Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh (n=20)

Sau Tr.133

3.30 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm

và đối chứng của sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất khóa Đại học 50 Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh (n=38)

Sau Tr.134

3.31 Kết quả so sánh tự đối chiếu trình độ kỹ thuật trước và

sau thực nghiệm của hai nhóm đối tượng nghiên cứu lớp chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất khóa Đại học 51

Sau Tr.135

3.32 Kết quả so sánh tự đối chiếu trình độ kỹ thuật trước và

sau thực nghiệm của hai nhóm đối tượng nghiên cứu lớp chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất khóa Đại học 50

Sau Tr.135

3.33 Kết quả học tập các học phần của hai nhóm đối chứng và

thực nghiệm ở thời điểm sau thực nghiệm

Sau Tr.138

Tr.18 1.3 Sơ đồ hệ thống kỹ thuật cơ bản Cầu lông Sau

Tr.20

Trang 13

3.1 Sơ đồ hệ thống kỹ thuật tay trong môn Cầu lông 88

3.2 Quy luật hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động của người

3.1 Mức độ tăng trưởng sau khi áp dụng hệ thống bài tập đã

lựa chọn của lớp chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC khóa Đại học 51 sau học phần 1

Sau Tr.137

3.2 Mức độ tăng trưởng sau khi áp dụng hệ thống bài tập đã

lựa chọn của lớp chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC khóa Đại học 51 sau học phần 2

Sau Tr.137

3.3 Mức độ tăng trưởng sau khi áp dụng hệ thống bài tập đã

lựa chọn của lớp chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC khóa Đại học 50 sau học phần 3

Sau Tr.137

3.4 Mức độ tăng trưởng sau khi áp dụng hệ thống bài tập đã

lựa chọn của lớp chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC khóa Đại học 50 sau học phần 4

Sau Tr.137

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

Trường Đại học TDTT Bắc Ninh với lịch sử phát triển hơn 55 năm, luôn

là chiếc nôi đào tạo ra đội ngũ cán bộ, huấn luyện viên giáo viên TDTT có năng lực, có phẩm chất đạo đức, đặc biệt là có chuyên môn giỏi, góp phần đưa nền thể dục thể thao nước nhà ngày càng phát triển vững mạnh Trong nhà trường, việc nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là việc làm thường xuyên, nhằm không ngừng hoàn thiện hệ thống đào tạo của nhà trường Với nhiều biện pháp và cách thức khác nhau, như áp dụng quy trình đào tạo mới, cải tiến chương trình, nội dung giảng dạy, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình dạy và học như: hiện đại hóa các sân bãi, bể bơi, nhà tập, các phòng thí nghiệm và trang thiết bị luyện tập, tổ chức biên soạn giáo trình, tài liệu, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo v.v nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo những cán bộ chuyên môn về thể dục thể thao có đầy đủ các năng lực đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước

Hiện nay nhà trường đang tiến hành đào tạo 15 môn chuyên ngành khác nhau, trong đó có môn học Cầu lông Môn học Cầu lông được đưa vào chương trình giảng dạy và đào tạo chính thức trong nhà trường từ năm 1977, trải qua 40 năm cho đến nay đội ngũ giáo viên Bộ môn không ngừng học tập nâng cao trình

độ chuyên môn và luôn cố gắng cập nhật những kiến thức chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn Cầu lông trong nhà trường

Đối với sinh viên chuyên ngành Cầu lông nói chung và đặc biệt là sinh viên chuyên ngành Cầu lông khoa Sư phạm thể dục (nay là ngành Giáo dục thể chất) nói riêng, mục đích đào tạo là phục vụ cho việc giảng dạy chuyên môn Cầu lông của các em khi ra trường đạt kết quả cao Vì vậy yêu cầu về kỹ thuật trong quá trình học là đặc biệt quan trọng, đó chính là khả năng thực hiện kỹ thuật phải chuẩn, chính xác và hiệu quả

Kỹ thuật trong môn Cầu lông rất phong phú và đa dạng Theo các chuyên gia, kỹ thuật Cầu lông có thể được chia làm bốn nhóm chính là: nhóm kỹ thuật

di chuyển, nhóm kỹ thuật phòng thủ, nhóm kỹ thuật phát cầu và nhóm kỹ thuật tấn công; hoặc hai nhóm chính là bộ pháp (kỹ thuật của chân) và thủ pháp (kỹ

Trang 15

thuật của tay) Tuy nhiên, trong môn Cầu lông nhóm kỹ thuật của tay có vai trò đặc biệt quan trọng, do nó mang lại hiệu quả cao nhất trong tập luyện và thi đấu của môn thể thao này Nhận thức được vấn đề này, cho đến nay ở nước ta việc nghiên cứu về trình độ kỹ thuật của vận động viên và sinh viên Cầu lông cũng

đã được nhiều đề tài của sinh viên, học viên cao học của các trường Đại học TDTT nghiên cứu, hoặc được một số tác giải biên soạn và biên dịch từ tài liệu nước ngoài Tuy nhiên các công trình nghiên cứu nói trên chỉ mới dừng lại ở một số mặt và kỹ thuật tay nhất định như: Lê Hồng Sơn (1998), Đào Chí Thành (2002), Lê Hồng Sơn (2005), Nguyễn Hạc Thúy (2006), v.v Những công trình trên đã góp phần quan trọng cho việc phát triển và hoàn thiện kỹ, chiến thuật và thể lực cho vận động viên, nhưng vẫn còn chưa đi sâu và phát huy hết được hiệu quả của bài tập, đặc biệt cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể đối với nhóm kỹ thuật tay của môn Cầu lông Mặt khác, trong quá trình giảng dạy các kỹ thuật hiện nay, giáo viên Bộ môn Cầu lông Trường Đại học TDTT Bắc Ninh thường theo sở trường của mỗi thầy nên việc lựa chọn và đưa ra các bài tập cũng thường khác nhau và không mang tính đồng nhất Chính

vì vậy, việc nghiên cứu lựa chọn các bài tập để tập luyện cho nhóm kỹ thuật của tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh là vấn đề cần thiết và cấp bách, vừa góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy cho sinh viên, đồng thời kết quả nghiên cứu còn là nguồn tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đào tạo của nhà trường

Nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng của nhóm kỹ thuật tay trong Cầu lông đối với quá trình giảng dạy, huấn luyện cho sinh viên và vận động viên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả giảng dạy kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông Khoa Sư phạm Thể dục Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh”

Trang 16

Mục đích nghiên cứu:

Lựa chọn các bài tập cho nhóm kỹ thuật tay phù hợp nâng cao hiệu quả giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn dạy và học của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án xác định giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Nhiệm vụ 1: Thực trạng công tác giảng dạy kỹ thuật tay đối với sinh viên

chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập giảng dạy

kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Giả thuyết khoa học:

Kết quả quan sát và kiểm tra trong thực tiễn giảng dạy đã cho thấy, các bài tập sử dụng trong giảng dạy kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh hiện nay chưa đáp ứng được mục tiêu của chương trình môn học và đặc biệt trong thi đấu, là vấn đề cần

được quan tâm Giả thuyết cho rằng, trình độ kỹ thuật còn thấp và không đồng

đều xuất phát từ thực tiễn đổi mới công tác thi tuyển đầu vào, đó là không tiến hành thi tuyển nội dung năng khiếu chuyên môn, cũng như ảnh hưởng của hệ thống các bài tập đang được ứng dụng chưa phù hợp với trình độ đối tượng đào tạo Nếu luận án lựa chọn và xây dựng được các bài tập giảng dạy kỹ thuật tay một cách khoa học, phù hợp với điều kiện và trình độ chuyên môn của sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC thì hiệu quả công tác đào tạo chuyên ngành Cầu lông sẽ được nâng lên

Ý nghĩa khoa học của luận án:

Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung và hoàn thiện những kiến thức lý luận

về các vấn đề liên quan tới kỹ thuật Cầu lông và công tác giảng dạy kỹ thuật môn Cầu lông, các kiến thức chuyên môn về xây dựng và lựa chọn bài tập giảng

Trang 17

dạy kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh theo hướng đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường nói chung cũng như Bộ môn Cầu lông nói riêng và nhu cầu xã hội

Ý nghĩa thực tiễn của luận án:

Luận án đã đánh giá được thực trạng công tác giảng dạy kỹ thuật tay thông qua kết quả đánh giá các nội dung: Kế hoạch giảng dạy, nội dung và phân phối chương trình môn học chuyên ngành, các điều kiện đảm bảo cho dạy và học, đặc điểm đối tượng sinh viên chuyên ngành, thực trạng sử dụng bài tập ở từng giai đoạn giảng dạy kỹ thuật tay và thực trạng hiệu quả giảng dạy kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất một cách chi tiết

Luận án đã lựa chọn được 17 test chuyên môn để đánh giá hiệu quả sử dụng bài tập, đảm bảo độ tin cậy và có tính khả thi khi áp dụng Đồng thời, kết quả nghiên cứu luận án đã lựa chọn được 118 bài tập kỹ thuật tay chuyên môn thuộc 3 nhóm, bao gồm: Nhóm các bài tập mô phỏng động tác kỹ thuật, nhóm các bài tập kỹ thuật đơn lẻ và nhóm các bài tập phối hợp kỹ thuật để giảng dạy

kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất

Luận án đã xây dựng được kế hoạch thực nghiệm ứng dụng các bài tập chi tiết đến từng giáo án cho 4 học phần chính giảng dạy kỹ thuật tay trong chương trình môn học chuyên ngành Cầu lông Kết quả ứng dụng các bài tập đã lựa chọn theo kế hoạch thực nghiệm bước đầu đã cho thấy hiệu quả tích cực trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy kỹ thuật tay cho sinh viên chuyên ngành Cầu lông ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những cơ sở lý luận của công tác giảng dạy Cầu lông

Cầu lông xuất hiện đầu tiên trên thế giới là ở Châu Á, bắt đầu từ trò chơi dân gian ở Ấn Độ Để Cầu lông phát triển thành môn thể thao hiện đại như ngày nay, thế giới vẫn ghi nhận là do công lao của nước Anh Người Anh đã đưa trò chơi này về nước rồi phát triển bằng cách phổ biến rộng rãi và xây dựng hệ thống luật thi đấu chặt chẽ để đảm bảo cho mỗi người chơi đều có thể bộc lộ hết năng lực của mình trên cơ sở găng đua công bằng theo luật định Ngày nay ở nhiều quốc gia trên thế giới đã phổ biến môn thể thao này Năm 1992 ở Đại hội Olympic tại Barcelona, Cầu lông chính thức được đưa vào nội dung thi đấu của Đại hội

Ở Việt Nam, môn Cầu lông được du nhập chủ yếu bằng hai con đường: Thực dân hóa và Việt kiều hồi hương Phong trào tập luyện Cầu lông chỉ thực sự được phổ biến rộng rãi trên phạm vi cả nước sau khi đất nước thống nhất (1975)

Để phục vụ cho công tác phong trào, đầu năm 1977 Tổng cục TDTT đã ra quyết định thành lập Bộ môn Cầu lông tại trường cán bộ TDTT Trung ương (nay là Trường Đại học TDTT Bắc Ninh) với nhiệm vụ chủ yếu là giảng dạy môn thể thao này cho các đối tượng sinh viên trong nhà trường Đến nay, Cầu lông không chỉ là môn học chính của Trường Đại học TDTT Bắc Ninh mà còn được phổ biến ở hầu hết các trường có đào tạo về TDTT, ngoài ra còn là môn học quan trọng trong chương trình GDTC của các trường Đại học, Cao đẳng và phổ thông khác trên toàn quốc Để giảng dạy môn Cầu lông nói riêng và các môn thể thao khác nói chung cần dựa trên các cơ sở sau:

1.1.1 Các cơ sở về quy chế, quy định

Các môn học được giảng dạy trong các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta hiện nay đều cần đảm bảo tuân thủ theo các quy định sau:

Kế hoạch đào tạo: Là văn bản pháp quy mà Nhà nước quy định cho mỗi trường cần thiết phải có làm cơ sở cho công tác đào tạo của mình dựa trên khối lượng môn học, kiến thức trang bị và thời gian quy định tương xứng với mỗi cấp

Trang 19

học của một trường nhất định Kế hoạch đào tạo được Hội đồng nhà trường xây dựng dựa vào mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường, đồng thời trên cơ sở khung chương trình do Bộ GD&ĐT quy định đối với mỗi bậc học trong đó bao gồm số lượng, thời gian và thời điểm giảng dạy các môn học thuộc lĩnh vực đại cương chung, lĩnh vực kiến thức chuyên môn cơ sở và lĩnh vực kiến thức ngành học Tùy theo các giai đoạn đào tạo khác nhau ở mỗi trường mà có những kế hoạch đào tạo khác nhau Ví dụ ở bảng số liệu sau sẽ chứng minh vấn đề này:

Bảng 1.1 Số lượng và thời gian các môn học trong mỗi lĩnh vực kiến thức

của Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

theo kế hoạch đào tạo năm 2010 và 2015

TT Lĩnh vực kiến thức

Kế hoạch năm 2010 Kế hoạch năm 2015

Số môn học

Tổng thời gian

Số đơn

vị học phần

Số đơn

vị học trình

Số môn học

Tổng thời gian

Số đơn

vị học phần

Số đơn

vị học trình

Chương trình giảng dạy: Là văn bản pháp quy thể hiện kết cấu, nội dung

và thời gian giảng dạy cho một môn học nhất định trong mỗi cơ sở đào tạo Chương trình môn học do tập thể giáo viên giảng dạy môn học đó biên soạn dựa trên các cơ sở sau:

Trang 20

Kế hoạch đào tạo của nhà trường

Thời gian giảng dạy

Đối tượng giảng dạy

Điều kiện phục vụ

Trên cơ sở kế hoạch đào tạo chung của nhà trường, mỗi môn học xây dựng chương trình giảng dạy cụ thể cho các đối tượng học tập riêng biệt Căn cứ vào thời gian và đối tượng, mỗi môn học khi xây dựng chương trình phải lựa chọn nội dung giảng dạy phù hợp Khối lượng nội dung có thể nhiều hay ít xong phải đảm bảo tính toàn diện và đại diện cho lượng kiến thức của môn học cần trang bị cho sinh viên Chương trình môn học phải được Hội đồng đào tạo nhà trường thông qua và phê duyệt trước khi áp dụng cho công tác giảng dạy của bộ môn

Lịch trình giảng dạy: Là kế hoạch giảng dạy môn học theo từng giai đoạn trong đó quy định cụ thể về thời gian và nội dung giảng dạy cho mỗi giáo án của giai đoạn đó Thời gian và nội dung giảng dạy của lịch trình phụ thuộc vào quy định của chương trình giảng dạy môn học đã được xây dựng và phê duyệt trước

đó Lịch trình giảng dạy do giáo viên phụ trách chương trình được bộ môn phân công biên soạn Lịch trình phải được thông qua trước tập thể bộ môn và được sự phê duyệt của phòng đào tạo nhà trường làm căn cứ cho giai đoạn giảng dạy môn học với những đối tượng khác nhau trong nhà trường

Đề cương giảng dạy: Được xây dựng trên cơ sở quy định của lịch trình giảng dạy trong đó bao gồm nội dung và thời gian giảng dạy cùng những dự kiến về phương tiện, phương pháp sử dụng để thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu cho mỗi giáo án cụ thể của giai đoạn Đề cương giảng dạy do giáo viên phụ trách chương trình biên soạn, được thông qua và phê duyệt trước tập thể bộ môn và là

cơ sở để biên soạn giáo án giảng dạy cho từng buổi lên lớp

Giáo án giảng dạy: Là văn bản cuối cùng được biên soạn trước mỗi buổi lên lớp cho từng đối tượng khác nhau Nội dung của giáo án phải thể hiện được mục đích, yêu cầu, nội dung giảng dạy mà buổi học đó phải giải quyết, đồng thời là phương tiện, phương pháp được sử dụng để hoàn thành những nhiệm vụ

Trang 21

mà giáo án đó đặt ra Giáo án do giáo viên trực tiếp giảng dạy đối tượng biên soạn dựa trên cơ sở lịch trình và đề cương giảng dạy quy định Giáo án được áp dụng chỉ sau khi đã có sự phê duyệt của trưởng môn học

1.1.2 Cơ sở sinh lý của bài tập Cầu lông (hoạt động không có chu kỳ)

Như chúng ta đã biết, các bài tập định lượng dựa vào cơ cấu động tác được chia ra làm hai loại đó là các bài tập có chu kỳ và không có chu kỳ

Hoạt động không có chu kỳ thường được thực hiện trong các môn thể thao sức mạnh hoặc sức mạnh tốc độ Các bài tập loại này khác với hoạt động có chu

kỳ là chúng không có các động tác lặp đi lặp lại cố định theo các chu kỳ như nhau và tổng công suất hoạt động nhỏ Như vậy, xét theo khía cạnh như trên thì Cầu lông là môn thể thao mà trong đó các bài tập được sử dụng để tập luyện nằm trong nhóm các bài tập không có chu kỳ với tố chất thể lực đặc trưng của môn Cầu lông là hoạt động sức mạnh tốc độ

Hoạt động sức mạnh tốc độ bao gồm các dạng bài tập thể lực nhằm tạo ra vận tốc lớn nhất cho một trọng tải ổn định Ví dụ như động tác kỹ thuật đập cầu trong môn Cầu lông, trọng lượng của vợt và quả cầu ổn định, do vậy muốn đập cầu mạnh người tập cần phải tác động vào chúng một lực tối đa trong một thời gian tối thiểu

Các hoạt động sức mạnh tốc độ bao giờ cũng có một số động tác tạo đà Thường đó là các động tác có chu kỳ Các động tác tạo đà có thể biến đổi về biên độ và hình thức cũng như lực dậm nhảy Ví dụ như trong kỹ thuật bẩy nhảy đập cầu của môn Cầu lông thì các động tác tạo đà ở đây đó chính là những động tác ra tay, vung vợt và bật nhảy lên cao để thực hiện pha đập cầu

Trong các hoạt động sức mạnh tốc độ, vận động viên cần phải cố gắng ở mức tối đa Ngoài ra, hoạt động loại này còn đòi hỏi cơ phải có tính linh hoạt và phối hợp rất cao trong một thời gian ngắn, vì vậy chúng còn thường được gọi là hoạt động sức mạnh bột phát Nhìn chung hoạt động sức mạnh tốc độ tác động đến trạng thái chức năng cơ thể tương đối yếu hơn

Trong các bài tập sức mạnh tốc độ, hệ máu của vận động viên hầu như không có biến đổi gì rõ rệt Tần số nhịp tim trong các môn thể thao ném đẩy

Trang 22

biến đổi rất ít Trong các môn nhảy, đặc biệt là nhảy sào, tần số nhịp tim có thể lên tới 140 – 150 lần/phút Đặc điểm quan trọng nhất là nhịp tim của vận động viên tăng lên cao sau khi đã kết thúc các bài tập sức mạnh tốc độ

Huyết áp của vận động viên tăng lên, tuy không cao lắm, nhất là huyết áp tối đa (150 – 160 mmHg)

Tần số hô hấp tăng không đáng kể sau khi đã kết thúc hoạt động Thể tích

hô hấp và hấp thụ oxy cũng tăng lên ít nhiều

Các bài tập sức mạnh tốc độ là những bài tập có công suất lớn, được thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn, vì vậy năng lượng được sử dụng chủ yếu

là do phân giải ATP và CP dự trữ ở trong cơ Nhu cầu oxy không được thỏa mãn trong quá trình hoạt động làm cho nợ oxy lên tới gần 95% Song, do thời gian ngắn nên tổng nợ oxy không lớn lắm Nợ oxy vào khoảng 20 – 30 lít trong hoạt động kéo dài 1 phút

Chức năng của các cơ quan bài tiết và điều hòa thân nhiệt biến đổi không đáng kể trong các hoạt động sức mạnh tốc độ

1.1.3 Các cơ sở về nội dung, phương tiện và phương pháp giảng dạy

Để làm rõ hơn về những vấn đề này trước hết luận án xác định: Cầu lông

là một môn học "Giáo dưỡng thể chất là dạy học vận động Đó là sự truyền thụ và tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người ."[69], [70] hoặc "GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người" [69], [70] Như vậy, trên cơ sở lý luận chung về TDTT

đã có thể xác định Cầu lông là một môn học chuyên biệt nằm trong hệ thống GDTC chung bởi quá trình giảng dạy Cầu lông có đối tượng truyền thụ (người thầy), có đối tượng tiếp thu (người học) mà đặc trưng của quá trình dạy học Cầu lông cũng nhằm dạy học vận động và phát triển các tố chất vận động cần thiết cho con người Từ cơ sở nhận thức trên, từ lâu Cầu lông đã được xếp vào là một trong những môn học của nhóm các môn "kiến thức ngành" trong Trường Đại học TDTT Bắc Ninh cũng như các trường Đại học TDTT khác trên cả nước Trong nhiều chương trình giảng dạy Cầu lông của Trường Đại học TDTT Bắc

Trang 23

Ninh đều viết: "Cầu lông là một môn học" và chương trình gần đây nhất (2015)

do tác giả Nguyễn Văn Đức chủ biên cũng khẳng định "Cầu lông là một môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo chính quy ."[85] Luận văn: "Xây dựng giáo học pháp giảng dạy Cầu lông cho đối tượng SV phổ tu Trường Đại học TDTT 1 - Từ Sơn, Bắc Ninh" cũng đã xác định: "Cầu lông là một môn học" [97] Từ những cơ sở trên luận án có thể khẳng định: Cầu lông là một môn học Vậy nội dung, phương tiện, phương pháp giảng dạy của môn học này như thế nào chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu ở các phần sau đây:

1.1.3.1 Nội dung giảng dạy:

Nội dung giảng dạy của bất kỳ môn học nào đều được quy định trong sách giáo khoa hoặc giáo trình của môn học đó Đặc điểm giảng dạy Cầu lông cũng như tất cả các môn thể thao khác chủ yếu là dạy học vận động, trong đó bao gồm dạy học động tác (kỹ thuật) và giáo dục các tố chất thể lực Mỗi đối tượng giảng dạy khác nhau cần có sự lựa chọn về khối lượng nội dung khác nhau để giảng dạy tùy theo mục đích, yêu cầu đào tạo của đối tượng đó Trong các trường Đại học chuyên về TDTT, mục tiêu đào tạo cho sinh viên là để trở thành những cán

bộ, giáo viên, huấn luyện viên về TDTT Vì vậy, việc giảng dạy cho những đối tượng này không chỉ là những kỹ năng vận động mà còn bao gồm cả kiến thức

và những năng lực khác như: Đối với sinh viên ngành GDTC là năng lực sư phạm, với sinh viên ngành HLTT là những kỹ năng huấn luyện, với sinh viên ngành Quản lý TDTT là những kỹ năng quản lý, tổ chức phong trào, v.v

Theo các chương trình giảng dạy Cầu lông cho đối tượng sinh viên chuyên ngành ngành GDTC của Trường Đại học TDTT Bắc Ninh có những nội dung chính như sau:

Giảng dạy về kiến thức: Bao gồm những nội dung về chuyên môn Cầu lông như: Lịch sử phát triển, nguyên lý và hệ thống kỹ thuật, chiến thuật, luật Cầu lông, phương pháp tổ chức thi đấu và trọng tài Cầu lông Các kiến thức khác về sư phạm như: Phương pháp giảng dạy kỹ thuật, phương pháp giảng dạy chiến thuật, phương pháp giáo dục các tố chất thể lực chuyên môn, phương pháp kiểm tra và đánh giá trong giảng dạy Cầu lông Các kiến thức về nghiên cứu

Trang 24

khoa học chuyên môn Những nội dung giảng dạy này thường chiếm từ 10 - 20% thời lượng của tổng chương trình (tùy theo mỗi giai đoạn khác nhau) Hình thức lên lớp chủ yếu là giảng dạy lý thuyết, thảo luận hoặc làm bài tập ở nhà

Giảng dạy kỹ năng: Bao gồm những nội dung tập luyện về kỹ thuật, chiến thuật, phát triển các tố chất thể lực chung và chuyên môn Rèn luyện năng lực thể hiện kỹ, chiến thuật trong thi đấu Cầu lông Những nội dung này chiếm hầu hết tổng thời lượng của chương trình (75 - 80%, tùy theo chương trình của mỗi giai đoạn khác nhau) Hình thức lên lớp chủ yếu cho các nội dung này là giảng dạy thực hành

Giảng dạy những kỹ năng khác: Bao gồm các nội dung về thực hành phương pháp như: Thực hành phương pháp sư phạm, thực hành phương pháp tổ chức thi đấu và trọng tài, thực hành phương pháp nghiên cứu khoa học Những nội dung này thường chiếm từ 5 - 10% tổng thời lượng của chương trình với hình thức lên lớp chủ yếu là thực hành, ngoài ra có thể là theo hình thức làm bài tập ở nhà

1.1.3.2 Phương tiện giảng dạy:

Mỗi hình thức lên lớp khác nhau yêu cầu phải có những phương tiện giảng dạy khác nhau Giảng dạy Cầu lông cũng như các môn thể thao khác thường có hai hình thức chủ yếu là lên lớp lý thuyết và lên lớp thực hành

Lên lớp lý thuyết: Để lên lớp theo hình thức này giáo viên thường phải chuẩn bị các phương tiện như: Tài liệu chuyên môn và các tài liệu khác có liên quan, phấn, bút viết bảng, v.v Ngoài ra còn sử dụng các phương tiện có sẵn của nhà trường như: Hội trường, phấn, bảng Ngày nay, do sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, việc sử dụng các phương tiện này đã giảm đi rất nhiều và được thay bằng các thiết bị máy móc như: máy vi tính, máy trình chiếu hoặc các thiết bị điện tử khác Yêu cầu quan trọng đối với giáo viên là phải làm chủ được các thiết bị này đồng thời phải biên soạn tốt các giáo án điện tử để phục vụ cho công tác giảng dạy của mình

Lên lớp thực hành: Đây là hình thức lên lớp chủ yếu và quan trọng nhất trong công tác giảng dạy Cầu lông Phương tiện quan trọng nhất phục vụ cho

Trang 25

hình thức giảng dạy này là các bài tập TDTT "Bài tập TDTT là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt của GDTC" [69], [70] Vậy các bài tập TDTT sử dụng làm phương tiện trong giảng dạy môn Cầu lông có đặc điểm gì, chúng ta tiếp tục nghiên cứu ở các mục tiếp theo trong phần tổng quan này

1.1.3.3 Phương pháp giảng dạy:

Các nhóm phương pháp sử dụng để giảng dạy các môn thể thao nói chung

và Cầu lông nói riêng bao gồm: Nhóm phương pháp sử dụng lời nói và phương tiện trực quan, nhóm phương pháp trò chơi và thi đấu, nhóm phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ

Các phương pháp sử dụng lời nói: Chỉ dẫn, giải thích, chỉ thị, đánh giá bằng lời, báo cáo và giải thích, tự nhủ và một số phương pháp khác Mỗi phương pháp khác nhau đều có ý nghĩa và tác dụng khác nhau trong quá trình giảng dạy, song về cơ bản đều nhằm mục đích chung là: "truyền thụ kiến thức, kích thích tư duy, đặt nhiệm vụ và điều khiển, phân tích đánh giá kết quả, điều chỉnh hành vị người học" [69] Phương pháp này không chỉ sử dụng cho người thầy mà còn có ý nghĩa đối với cả người học: " trong quá trình nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành động" [15],[69] của họ

Các phương pháp đảm bảo trực quan: Trong nhóm phương pháp này bao gồm các phương pháp trình diễn tự nhiên và trình diễn gián tiếp, phương pháp

sử dụng giáo cụ trực quan, phương pháp sử dụng mô hình và sa bàn, phương pháp sử dụng phim ảnh, video, phương pháp trình diễn cảm giác lựa chọn, phương pháp cảm giác quan và phương pháp định hướng [15],[69] Sử dụng các phương pháp này nhằm kích thích "các cơ quan cảm thụ để liên hệ với hiện thực khách quan" [15],[69] nhằm tiếp thu bài tập trên cơ sở các yêu cầu riêng lẻ cũng như các đặc tính không gian, thời gian, nhịp điệu của bài tập đó

Nhóm phương pháp trò chơi và thi đấu:

Trò chơi ra đời rất sớm trong lịch sử loài người và có sự phát triển song hành cùng nền văn hóa xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí của loài người,

"song, một trong những chức năng chủ yếu nhất của trò chơi là chức năng giáo dục" [15],[69] Phương pháp trò chơi trong giáo dục thể hiện ở đặc điểm tổ

Trang 26

chức, hướng dẫn của người dạy cũng như sự phong phú và đa dạng của nó nhằm đạt được mục đích rèn luyện năng lực vận động cho con người Mặc dù phương pháp trò chơi có tác dụng rất lớn trong việc phát huy tối đa năng lực vận động cũng như khả năng sáng tạo của con người, song trong lĩnh vực giảng dạy kỹ thuật của một môn thể thao nào đó thì còn rất nhiều hạn chế

Phương pháp thi đấu có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức và kích thích tối

đa khả năng hoạt động của con người theo quy tắc của cuộc thi và phương thức đánh giá thành tích cuộc thi đó Đặc điểm của phương pháp này là so sánh về năng lực toàn diện của con người trong điều kiện đua tranh về thứ bậc nhằm đạt thành tích cao nhất cho bản thân Sử dụng phương pháp thi đấu nhằm giáo dục nhiều mục đích khác nhau bao gồm kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, tâm lý, các phẩm chất đạo đức ý trí khác Trong giảng dạy Cầu lông, phương pháp thi đấu thường được phân chia làm 2 loại chính là: Phương pháp thi đấu có điều kiện (hạn chế) và thi đấu toàn diện

Nhóm phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ: Đây là nhóm phương pháp quan trọng và cơ bản nhất trong GDTC cũng như trong giảng dạy Cầu lông Đặc điểm của nhóm phương pháp này là việc tổ chức và điều chỉnh một cách chặt chẽ về chương trình tập luyện, "định lượng chính xác và điều khiển diễn biến lượng vận động" [15], [69], [98] Sử dụng có mục đích những điều kiện hỗ trợ bên ngoài nhằm phát triển tối đa năng lực vận động của người học trong việc tiếp thu các kỹ năng, kỹ xảo cũng như phát triển các tố chất thể lực của họ Việc lựa chọn phương pháp cụ thể trong nhóm phương pháp này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực cũng như kinh nghiệm của GV trong quá trình giảng dạy để hoàn thành tốt mục đích lên lớp của buổi tập Nhóm phương pháp này bao gồm:

Phương pháp tập lặp lại - ổn định theo chế độ lượng vận động liên tục và ngắt quãng

Phương pháp tập biến đổi theo chế độ lượng vận động liên tục và ngắt quãng

Phương pháp tập tổng hợp

Trang 27

1.1.4 Cơ sở về kiểm tra và đánh giá

Bất cứ môn học nào, kiểm tra - đánh giá là yêu cầu bắt buộc trong quá trình giảng dạy Thông qua công tác này, người giáo viên "thu được những thông tin về hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học Nhờ đó giáo viên có thêm điều kiện nắm vững hơn học sinh, kịp thời giúp họ củng cố,

mở rộng, đào sâu, hoàn thiện những tri thức kỹ năng, kỹ xảo đã học Hơn nữa, giáo viên có thể dựa vào thông tin ngược để tự đánh giá và điều chỉnh kịp thời hoạt động của mình" [2] Kiểm tra - đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh "chẳng những có ý nghĩa giáo dưỡng mà còn có ý nghĩa giáo dục nó đòi hỏi học sinh phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, phải tích cực và độc lập tiến hành hoạt động của mình, phải tự bồi dưỡng ý trí và thói quen lao động đồng thời phát triển ý thức tự kiểm tra, đánh giá và hoàn thiện hoạt động học tập của mình" [2]

Theo tác giả Lê Khánh Bằng, kiểm tra trong giáo dục đại học được phân loại như sau:

Kiểm tra từng phần

Kiểm tra, thi cuối kỳ (học phần)

Thi và kiểm tra lại

Cũng theo tác giả Lê Khánh Bằng, kiểm tra và thi có những hình thức sau: Thi và kiểm tra miệng

Hình thức thi và kiểm tra viết

Hình thức thi thực hành nhằm kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo người học

Hình thức kiểm tra đặc biệt

Kết quả thi và kiểm tra được thể hiện trong việc đánh giá về tri thức hoặc

kỹ năng, kỹ xảo sinh viên tiếp thu được trình bày trong bài Để đảm bảo công tác đánh giá được khách quan, công bằng và chính xác cần dựa vào những tiêu chuẩn nhất định Những tiêu chuẩn này có thể đặt chung cho một nhóm trường

có tính chất đào tạo như nhau song cũng có thể đặt ra cho từng trường riêng biệt trong hệ thống giáo dục đại học ở nước ta Nhìn chung công tác kiểm tra và đánh giá là một vấn đề phức tạp Đặc biệt trong điều kiện hiện này, chủ trương

Trang 28

giảm tải, giảm áp lực đối với học sinh, sinh viên của xã hội và của ngành giáo dục đào tạo càng đặt ra nhiều thách thức cho công tác này Để bổ sung vào lĩnh vực này, luận án tiến hành thực hiện một chuyên đề riêng biệt đã được trình bày trong quá trình nghiên cứu và học tập của tác giả

Từ khi trở thành môn học chính thức của Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, công tác kiểm tra - đánh giá luôn được đặt ra song hành cùng với quá trình giảng dạy môn Cầu lông trong nhà trường Trong suốt quá trình giảng dạy, công tác kiểm tra và đánh giá của bộ môn luôn đảm bảo sự khách quan, công bằng và chính xác theo những tiêu chuẩn định trước Tuy nhiên do yêu cầu và những điều kiện khách quan mà ở mỗi giai đoạn khác nhau có những hình thức, tiêu chuẩn kiểm tra - đánh giá khác nhau

Nhìn chung, bộ môn Cầu lông - Trường Đại học TDTT Bắc Ninh thường tiến hành tổ chức công tác này như sau:

Về loại hình kiểm tra: Bộ môn Cầu lông vẫn thực hiện theo cả 3 loại gồm: Hình thức thi miệng (vấn đáp): Nhằm đánh giá kiến thức của sinh viên đã tiếp thu được trong quá trình học tập Hình thức này trước đây thường được sử dụng, song đến nay đã hạn chế nhiều bởi quỹ thời gian dành cho hình thức thi này không còn phù hợp

Hình thức thi viết: Hiện vẫn được sử dụng thường xuyên nhằm kiểm tra kiến thức tiếp thu được của sinh viên, song hiện nay hình thức này thường được

sử dụng các đề thi mở để sinh viên có thể làm bài tập kiểm tra ở nhà, giảm bớt

áp lực cho sinh viên, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên chủ động nghiên cứu, tham khảo tài liệu để có thể làm bài với hiệu quả tốt nhất

Hình thức thi thực hành: Đây là hình thức thi chủ yếu và quan trọng nhất trong công tác giảng dạy Cầu lông vì thời lượng học tập thực hành của sinh viên chiếm tới 75 - 80% tổng thời gian học tập môn này Với hình thức thi này, bộ môn đã sử dụng hệ thống các Test kiểm tra tiêu chuẩn, tương ứng với những kỹ năng, kỹ xảo mà sinh viên tiếp thu được qua từng giai đoạn học tập nhất định sinh viên tiến hành các bài thi dưới sự theo dõi, xác định và đánh giá kết quả thi của giáo viên

Trang 29

Công tác đánh giá được bộ môn tiến hành theo những barem điểm đặt ra theo cùng với đề thi và kiểm tra ở mỗi giai đoạn học tập khác nhau Các bài thi viết được chấm điểm theo lượng kiến thức mà sinh viên làm được trong bài Các bài thi thực hành được chấm điểm theo năng lực hoàn thành các Test kiểm tra đã đặt ra Năng lực này thường chủ yếu được xác định trên cơ sở về số lượng khách quan và một số ít Test được kèm theo sự đánh giá chủ quan của giáo viên trong quá trình thực hiện bài thi và kiểm tra

1.2 Hệ thống kỹ thuật Cầu lông

1.2.1 Khái niệm về kỹ thuật Cầu lông

Kỹ thuật thể thao: "là những cách giải quyết nhiệm vụ vận động hợp lý và

có hiệu quả cao nhất" [69] Hoặc "kỹ thuật thể thao là cách thức giải quyết nhiệm vụ vận động hợp lý và có hiệu quả cao nhất, là nhân tố quan trọng quy định trình độ, năng lực thi đấu của vận động viên" [75]

"Kỹ thuật Cầu lông là phương pháp động tác được sử dụng trong thi đấu của vận động viên" [39] Gần đây nhất trong cuốn "Giáo trình Cầu lông" (xuất bản năm 2015) xác định: "Kỹ thuật Cầu lông là tập hợp tất cả các động tác hợp

lý nhằm đánh cầu sang sân đối phương đạt hiệu quả cao nhất" [15]

Trong bốn quan điểm trên có sự thống nhất giữa lý luận và phương pháp GDTC và lý luận và phương pháp huấn luyện thể thao, nhưng ở hai khái niệm này mới chỉ dừng lại trong góc độ kỹ thuật thể thao nói chung chứ chưa đi vào

cụ thể của một môn thể thao nào Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý là Cầu lông cũng là một trong những môn thể thao nằm trong hệ thống các môn thể thao nói chung, vậy những khái niệm này vẫn có thể áp dụng cho kỹ thuật của môn Cầu lông được Khái niệm của tác giả Nguyễn Văn Đức đưa ra đã áp dụng cụ thể cho riêng môn Cầu lông, song ở phần sau: " đánh cầu sang sân đối phương đạt hiệu quả cao nhất" lại chưa cụ thể, bởi hiệu quả đánh cầu trong thi đấu phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác như: chiến thuật thi đấu, trình độ năng lực của đối phương, v.v

Từ những phân tích trên, luận án xin đưa ra khái niệm: "Kỹ thuật Cầu lông là tập hợp những cách thức giải quyết nhiệm vụ đánh cầu hợp lý và có hiệu

Trang 30

quả cao nhất" Sử dụng chữ "tập hợp" trong khái niệm bởi trong hệ thống kỹ thuật Cầu lông có những kỹ thuật không trực tiếp giải quyết nhiệm vụ đánh cầu

mà chỉ mang tính hỗ trợ như các kỹ thuật di chuyển Mặt khác, hầu hết các kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ đánh cầu của tay trong Cầu lông đều có liên quan mật thiết đến các động tác của chân (trừ kỹ thuật giao cầu), chính vì vậy mà hiệu quả của kỹ thuật chỉ được phát huy khi có sự phối hợp hợp lý giữa những động tác của chân và tay

1.2.2 Hệ thống kỹ thuật Cầu lông

Kỹ thuật không phải là vấn đề bất biến mà nó được thay đổi theo hướng phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Ngay trong cùng một giai đoạn lịch sử nhất định, quan điểm khác nhau cũng dẫn tới sự tổng hợp và phân chia các kỹ thuật khác nhau trong từng môn thể thao Cầu lông hiện đại được hình thành và phát triển cách đây hơn 140 năm (1873), trải qua các giai đoạn khác nhau, kỹ thuật của môn thể thao này cũng thay đổi và ngày càng hoàn thiện Đặc biệt từ nửa cuối thế kỷ trước sự giao lưu quốc tế của môn thể thao này ngày càng được mở rộng, kỹ thuật cũng có điều kiện để phát triển hơn trong hoàn cảnh ganh đua thành tích giữa các nước với nhau, giữa Châu lục này với Châu lục khác

Năm 1998, tác giả Trần Văn Vinh và Đào Chí Thành, trong cuốn "Giáo trình Cầu lông" của Trường Đại học TDTT 1 đã phân loại hệ thống kỹ thuật Cầu lông theo sơ đồ sau:

Trang 31

Sơ đồ 1.1 Hệ thống kỹ thuật cơ bản Cầu lông

HỆ THỐNG KỸ THUẬT CƠ BẢN CẦU LÔNG

Kỹ thuật tấn công Kỹ thuật giao cầu

Giao cầu thuận tay

Giao cầu trái tay

Kỹ thuật phòng thủ

Phải thấp tay Trái thấp tay

Kỹ thuật đánh cầu phải cao tay

Kỹ thuật đánh cầu trái cao tay

Kỹ thuật đập cầu thuận tay

Kỹ thuật đánh cầu trên đầu

Kỹ thuật

bỏ nhỏ cầu rơi gần lưới

Kỹ thuật đánh cầu trên lưới

Kỹ thuật chém cầu hai góc lưới

Kỹ thuật chặn cầu

- Bước nhảy sang ngang

Trang 32

Theo cách phân chia này, hệ thống kỹ thuật Cầu lông bao gồm 4 nhóm chính là: nhóm kỹ thuật di chuyển, nhóm kỹ thuật phòng thủ, nhóm kỹ thuật tấn công và nhóm kỹ thuật giao cầu Trong nhóm kỹ thuật di chuyển bao gồm 9 kỹ thuật đơn lẻ cho cả 3 loại hình di chuyển là đơn bước, đa bước và bước nhảy Các kỹ thuật sử dụng tay cầm vợt để đánh cầu có 12 kỹ thuật nằm trong 3 nhóm còn lại là: phòng thủ, tấn công và giao cầu

Cũng trong khoảng thời gian này, hai tác giả Bành Mỹ Lệ và Hậu Chính Khánh cũng cho ra mắt cuốn giáo trình Cầu lông dùng trong Trường Đại học TDTT Bắc Kinh (Trung Quốc), năm 2000 được tác giả Lê Đức Chương dịch ra tiếng Việt Trong cuốn sách này, hệ thống kỹ thuật Cầu lông được phân chia thành 2 nhóm chính là thủ pháp (các kỹ thuật của tay) và bộ pháp (các kỹ thuật của chân)

Các kỹ thuật tay bao gồm: Giao cầu (thuận và trái tay); Kỹ thuật đỡ giao cầu; Kỹ thuật đánh cao sâu; Kỹ thuật treo cầu; Kỹ thuật đập cầu; Kỹ thuật vê cầu; Kỹ thuật đẩy cầu; Kỹ thuật móc cầu; Kỹ thuật tạt cầu; Kỹ thuật cắt cầu; Kỹ thuật hất cầu Hầu hết các kỹ thuật trên đều có thuận và trái tay (trừ kỹ thuật đập cầu) Như vậy theo sự phân chia này, kỹ thuật tay trong Cầu lông có tổng cộng tới 21 loại

Các kỹ thuật chân được phân chia như sau: Kỹ thuật di chuyển lên lưới;

Kỹ thuật di chuyển lùi về sau; Kỹ thuật di chuyển sang hai bên; Kỹ thuật di chuyển bật nhảy đánh cầu Theo cách phân chia này có thể tóm tắt thành sơ đồ sau:

Trang 33

HỆ THỐNG KỸ THUẬT CƠ BẢN CẦU LÔNG

Các kỹ thuật chân Các kỹ thuật tay

Kỹ thuật treo cầu phải, trái

Kỹ thuật đập cầu

Kỹ thuật vê cầu phải, trái

Kỹ thuật đẩy cầu phải, trái

Kỹ thuật móc cầu phải, trái

Kỹ thuật tạt cầu phải, trái

Kỹ thuật cắt cầu phải, trái

Kỹ thuật hất cầu phải, trái

Di chuyển lên lưới phải, trái

Di chuyển lùi phải, trái

Di chuyển ngang phải, trái

Bật nhảy

Sơ đồ 1.2 Hệ thống kỹ thuật cơ bản Cầu lông

Trang 34

Năm 2004, nhóm tác giả với chủ biên là thạc sĩ Hướng Xuân Nguyên cũng cho xuất bản cuốn giáo trình Cầu lông dành cho sinh viên Trường Đại học

Sư phạm TDTT Hà Tây (nay là Hà Nội) Trong cuốn giáo trình này các tác giả cũng phân chia hệ thống kỹ thuật Cầu lông tương tự cuốn giáo trình Cầu lông của Trường Đại học TDTT 1 đã được trình bày ở trên Vậy tại sao lại có sự khác biệt trong hai cách phân chia giữa sách Trung Quốc với các cuốn sách của Việt Nam Để làm rõ vấn đề này, sau khi nghiên cứu nội dung cụ thể kỹ thuật trong từng cuốn sách, luận án đưa ra một số nhận định sau:

Về mặt tổng thể, cả hai cách phân chia là không có sự khác biệt lớn: Đều

có các kỹ thuật di chuyển của chân và các kỹ thuật đánh cầu của tay Sự khác biệt lớn nhất ở chỗ, các kỹ thuật tay trong sách của Việt Nam được phân nhỏ hơn theo 3 nhóm nhỏ hơn là: Giao cầu, tấn công và phòng thủ Còn sách của Trung Quốc lại dồn chung vào thành 1 nhóm

Thứ hai là: Tên các kỹ thuật di chuyển theo sách Trung Quốc được đặt theo hướng di chuyển chứ không đặt theo cách di chuyển như của sách Việt Nam Trên thực tế, các hướng di chuyển trong sách Trung Quốc vẫn phải sử dụng các bước đơn, nhiều bước hoặc bước nhảy như trong sách Việt Nam đã phân chia Ngược lại, các bước di chuyển trong sách Việt Nam cũng được thực hiện theo các hướng như sách Trung Quốc đã quy định

Một số kỹ thuật tay có tên gọi giống nhau như: đập cầu, giao cầu Nhưng cũng còn rất nhiều kỹ thuật có tên gọi khác nhau như: Đánh cầu trên đầu - Đánh cầu cao sâu; Treo cầu - Chém cầu; Tạt cầu - Đánh cầu trên lưới; Vê cầu, móc cầu - Bỏ nhỏ; Đánh cầu thấp tay - Hất cầu; Đẩy cầu - Chặn đẩy Về mặt nội hàm, các cặp kỹ thuật trên đều có cấu trúc như nhau Sự khác biệt về tên gọi có thể xuất phát từ công tác dịch thuật do người dịch đặt ra

Trong sách Trung Quốc có kỹ thuật đỡ giao cầu, trên thực tế phân chia như vậy là chưa hợp lý bởi khi đã giao cầu, VĐV có thể sử dụng rất nhiều các

kỹ thuật đánh cầu khác nhau Ví dụ: Có thể sử dụng kỹ thuật đánh cầu trên đầu (cao sâu), đập cầu, treo cầu (chém cầu) khi đối phương giao cầu cao sâu về cuối

Trang 35

sân Hoặc có thể sử dụng kỹ thuật đánh cầu thấp tay, kỹ thuật bỏ nhỏ, kỹ thuật đánh cầu trên lưới để đỡ những quả giao cầu thấp gần, v.v

Kỹ thuật đánh cầu cao tay phải trái có trong sách Việt Nam nhưng không

có trong sách Trung Quốc Theo phân tích thì trong sách Trung Quốc đưa kỹ thuật này chung vào với kỹ thuật đánh cầu cao sâu, nhưng sách Việt Nam lại chia thành 2 kỹ thuật độc lập bởi điểm tiếp xúc cầu của 2 kỹ thuật này là có sự khác biệt Kỹ thuật đánh cầu cao sâu có điểm tiếp xúc cầu ở trên đỉnh đầu của vận động viên, còn kỹ thuật đánh cầu cao tay lại có điểm tiếp xúc ở trên cao bên phải hoặc bên trái vị trí đứng đánh cầu của vận động viên Kỹ thuật tạt cầu có trong sách Trung Quốc song lại không có trong sách Việt Nam Vấn đề này được bổ sung vào cuốn giáo trình Cầu lông xuất bản năm 2015 của Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, do tác giả Nguyễn Văn Đức làm chủ biên với tên gọi là

"kỹ thuật bạt cầu" [15]

Trong sách Trung Quốc có 2 kỹ thuật là "vê cầu" và "móc cầu", theo phân tích thì đây là 2 kỹ thuật mà sách của Việt Nam có tên gọi chung là "kỹ thuật bỏ nhỏ" Trong thực tế, 2 kỹ thuật này cũng có sự khác biệt ở điểm tiếp xúc cầu:

"Vê cầu" là kỹ thuật bỏ nhỏ có điểm tiếp xúc cầu ở trên cao gần sát với mép trên của lưới, còn "móc cầu" là kỹ thuật bỏ nhỏ có điểm tiếp xúc thấp gần với mặt sân hơn Thực hiện kỹ thuật này gần giống với kỹ thuật đánh cầu thấp tay song lực sử dụng lại rất nhỏ

Năm 2015, tập thể giáo viên bộ môn Cầu lông với chủ biên là tác giả Nguyễn Văn Đức đã biên soạn cuốn giáo trình Cầu lông của Trường Đại học TDTT Bắc Ninh Trong nội dung cuốn sách ở phần "kỹ thuật cơ bản của Cầu lông" có viết: "Mỗi kỹ thuật phải dựa trên nguyên lý chung về đánh cầu, dựa trên mối liên hệ có tính tương đối ổn định của sự vận động đó là cấu trúc của động tác, dựa trên đặc tính không gian, thời gian (tư thế cơ thể, tần số động tác, tính nhịp điệu ) Đặc biệt là các đặc tính về động lực, bao gồm sự ảnh hưởng của các loại lực bên trong cũng như các lực bên ngoài " [15] Cuốn sách cũng

đã đưa ra hệ thống kỹ thuật cơ bản của Cầu lông theo sơ đồ sau:

Trang 36

HỆ THỐNG KỸ THUẬT CƠ BẢN CẦU LÔNG

Đơn bước Đa bước Bước nhảy Phải thấp tay Trái thấp

tay

Giao cầu thuận

Giao cầu trái

- Bước nhảy sang ngang

Kỹ thuật đánh cầu phải cao tay

Kỹ thuật đánh cầu trái cao tay

Kỹ thuật đánh cầu cao

xa

Kỹ thuật đập cầu

Kỹ thuật treo cầu 2 góc lưới

Kỹ thuật

bỏ nhỏ cầu gần lưới

Kỹ thuật chặn cầu sát lưới

Kỹ thuật móc cầu

Kỹ thuật bạt cầu

Kỹ thuật đánh cầu trên lưới

Sơ đồ 1.3 Sơ đồ hệ thống kỹ thuật cơ bản Cầu lông

Trang 37

Như vậy, theo cuốn giáo trình Cầu lông mới, các tác giả vẫn thống nhất phân chia hệ thống kỹ thuật Cầu lông thành 4 nhóm khác nhau như cuốn giáo trình Cầu lông xuất bản năm 1998 Một số kỹ thuật đã thay đổi tên gọi giống với sách dịch của Trung Quốc hơn như: "Kỹ thuật đánh cầu trên đầu" đổi thành "Kỹ thuật đánh cầu cao xa"; "Kỹ thuật chém cầu" đổi thành "Kỹ thuật treo cầu" Bổ sung thêm 2 kỹ thuật là "Kỹ thuật móc cầu" và "kỹ thuật bạt cầu" nhằm chi tiết hơn về hệ thống kỹ thuật Cầu lông mà hiện nay các vận động viên hàng đầu thế giới đã thường xuyên sử dụng trong các giải thi đấu lớn

So với nhiều môn thể thao khác, hệ thống kỹ thuật cơ bản của Cầu lông là tương đối phức tạp Nó bao gồm cả các kỹ thuật di chuyển của chân và các động tác đánh cầu của tay Sự phối hợp các bước chân với kỹ thuật tay luôn là yêu cầu bức thiết và là sự đảm bảo của hiệu quả đánh cầu Trong tương lai, sự phát triển của môn thể thao này có thể sẽ tiếp tục phát sinh những kỹ thuật mới hoặc thay đổi chi tiết hơn về sự phân chia các kỹ thuật nhằm mục đích nâng cao thành tích thi đấu của môn Cầu lông trên thế giới

1.3 Đặc điểm công tác giảng dạy kỹ thuật Cầu lông

1.3.1 Đặc điểm kỹ thuật Cầu lông

Cầu lông là một môn thể thao thi đấu đối kháng gián tiếp Mọi kỹ thuật

mà vận động viên cần thực hiện đều phụ thuộc vào tình huống cầu do đối phương đánh sang tùy theo điểm rơi, đường cầu và lực sử dụng của họ Để so sánh với một số môn thể thao khác, kỹ thuật của Cầu lông vẫn có những đặc điểm sau:

1.3.1.1 Đặc điểm của kỹ thuật di chuyển:

Trong thi đấu Cầu lông, kỹ thuật di chuyển không có ý nghĩa trực tiếp nhưng lại có ý nghĩa là tiền đề cơ sở của hiệu quả đánh cầu Nếu "đủ chân, đủ tay" vận động viên có thể chủ động đánh cầu để mang lại hiệu quả cao hơn, nếu

"thiếu chân" khi đánh cầu sẽ bị động hơn và làm hạn chế rất nhiều đến hiệu quả đánh cầu Đặc điểm của các kỹ thuật di chuyển trong Cầu lông bao gồm:

Toàn bộ các bước di chuyển trong Cầu lông đều được thực hiện trong sân (một nửa do bên mình phụ trách) chứ không chạy ra ngoài sân như Bóng chuyền

Trang 38

(cứu bóng) hoặc thường xuyên di chuyển bên ngoài cuối sân như Quần vợt Trong thi đấu đơn, với diện tích sân 5.18m x 6.70m là tương đối lớn, song nếu vận động viên luôn trở về đúng vị trí chuẩn bị ở giữa sân thì khi di chuyển để đánh cầu chỉ cần thực hiện từ 1 - 3 bước chân là có thể đảm bảo được mọi vị trí

ở trên sân của mình Còn trong đánh đôi, việc áp dụng các kỹ thuật di chuyển lại phụ thuộc rất nhiều vào chiến thuật phối hợp giữa hai vận động viên cùng bên Nếu là phối hợp hàng ngang thì hai vận động viên phải sử dụng kỹ thuật di chuyển tiến lùi là chính Nếu phối hợp trên dưới thì lại phải sử dụng kỹ thuật di chuyển ngang là chính Nếu phối hợp đường chéo lại cần chủ yếu các bước di chuyển chéo

Toàn bộ các bước di chuyển trong Cầu lông đều dựa "trên cơ sở của các

kỹ thuật di chuyển bước chân cơ bản như bước đạp, bước vượt, bước nhảy, bước chéo, bước đệm, bước đôi, v.v " [39] với các hướng khác nhau trong phạm vi nửa sân của mình Có thể chỉ là 1 bước (bước đơn) quanh vị trí chuẩn bị của vận động viên, nhưng tối đa cũng chỉ trong phạm vi 5 bước nếu trường hợp phải chạy chéo từ góc này đến góc kia của sân

Tất cả các bước di chuyển của chân đều được phối hợp với một kỹ thuật đánh cầu nhất định tùy theo điểm rơi, đường cầu đối phương đánh sang Kỹ thuật bật nhảy thường phối hợp với các kỹ thuật đánh cầu tấn công Các bước di chuyển lên lưới thường phối hợp với các kỹ thuật phòng thủ hoặc bỏ nhỏ Các bước lùi về sau thường phối hợp với những kỹ thuật đánh cao tay, v.v

1.3.1.2 Đặc điểm các kỹ thuật đánh cầu:

Trong Cầu lông, do có sự đa dạng của các loại hình kỹ thuật đánh cầu đã tạo nên những đặc điểm tương đối khác biệt giữa chúng về cấu trúc động tác, cơ cấu phối hợp lực cho đến tác dụng chiến thuật của từng loại kỹ thuật Các kỹ thuật đánh cầu trong môn Cầu lông có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Sức mạnh đánh cầu ở các động tác khác nhau có sự khác biệt rất

lớn Có khi cùng một kỹ thuật được sử dụng, song do ý đồ chiến thuật khác nhau

mà vận động viên sẽ thể hiện lực đánh cầu khác nhau, từ đó tạo ra tốc độ và điểm rơi khác nhau

Trang 39

Thứ hai: Việc sử dụng kỹ thuật của vận động viên luôn luôn phụ thuộc

vào đặc điểm quả cầu đánh sang của đối phương Cầu đối phương đánh sang có quỹ đạo, tốc độ, điểm rơi luôn biến hoá đa dạng và không hề chịu sự điều khiển của bản thân mình Vận động viên luôn bị động trong việc sử dụng kỹ thuật để đánh trả các quả cầu của đối phương đánh sang

Thứ ba: Việc lựa chọn điểm phát lực cũng luôn có sự biến đổi theo tình

thế đang diễn ra trên sân Nếu cầu đối phương đánh sang chậm và ta có đủ thời gian di chuyển để đánh cầu tốt thì có thể dễ dàng lựa chọn điểm phát lực, nhưng nếu không đủ thời gian thì việc lựa chọn điểm phát lực sẽ khó khăn hơn, từ đó gây nên tình thế bị động và đánh cầu sẽ không được chuẩn xác Mặt khác do ý

đồ chiến thuật của mình, tình huống trực tiếp đang xảy ra, mặc dù đã lựa chọn điểm phát lực đánh cầu thì cũng phải thay đổi để đưa đối phương vào thế bị động

Thứ tư: Mặc dù có sự khác biệt tương đối lớn về cấu trúc của các nhóm kỹ

thuật tay khác nhau, song trong cùng một nhóm, một số kỹ thuật lại có những nét tương đồng rất gần nhau Ví dụ: Trong nhóm kỹ thuật tấn công, các kỹ thuật: đánh cầu cao sâu, đập cầu, treo cầu, đánh cầu phải cao tay có cấu trúc gần như nhau từ giai đoạn chuẩn bị đến giai đoạn rút vợt và lăng vợt đánh cầu Điểm khác biệt lớn nhất của các kỹ thuật này là ở điểm tiếp xúc cầu và yêu cầu về dùng sức Điểm tiếp xúc của kỹ thuật đánh cầu cao sâu là trên đỉnh đầu thì của

kỹ thuật đập cầu là ở chếch trên trước trán và đánh cầu phải cao tay là chếch trên bên phải Nếu như kỹ thuật đập cầu đòi hỏi phải dùng sức tối đa thì kỹ thuật treo cầu lại yêu cầu dùng lực vừa phải để sao cho cầu vừa qua lưới và điểm rơi ở gần chân lưới nhất Không chỉ có vậy, trong 2 nhóm kỹ thuật giao cầu và phòng thủ lại có nét tương đồng ở giai đoạn lăng vợt tiếp xúc cầu (vòng cung lăng vợt và điểm tiếp xúc thấp) Những điểm giống nhau trên là cơ sở quan trọng để GV có thể áp dụng quy luật "chuyển kỹ xảo" vào công tác giảng dạy của mình

1.3.1.3 Các giai đoạn của kỹ thuật đánh cầu:

Trong tập luyện và thi đấu Cầu lông, để tạo ra lực đánh cầu, người tập sử dụng chủ yếu bằng các động tác gập, duỗi cổ tay cầm vợt Bất cứ động tác đánh

Trang 40

cầu nào cũng đều phải trải qua 5 giai đoạn, các giai đoạn đó là: Rút vợt, lăng vợt, tiếp xúc cầu, dừng vợt và đưa vợt về tư thế chuẩn bị (TTCB) ban đầu

Rút vợt: Là giai đoạn được bắt đầu từ TTCB ban đầu đưa vợt ra phía sau

điểm tiếp xúc cầu đến khi vợt được dừng lại ở điểm xa cầu nhất Giai đoạn này lực phát sinh chủ yếu từ vai và các động tác xoay của thân mình Các động tác đánh cầu càng cần sử dụng lực lớn bao nhiêu thì biên độ của cánh tay và xoay thân càng lớn bấy nhiêu Cuối giai đoạn này là thời điểm vợt được dừng lại và mặt vợt ở phía sau bàn tay cầm vợt

Lăng vợt: Là giai đoạn được thực hiện tiếp theo kể từ khi vợt được dừng ở

điểm cách xa điểm tiếp xúc cầu nhất đến trước khi tiếp xúc cầu Giai đoạn này vợt luôn được đưa từ phía sau về phía trước theo hướng cùng với hướng đánh cầu Mặt vợt luôn luôn đi sau bàn tay cầm vợt cho đến cuối giai đoạn được sử dụng lực gập cổ tay để chuyển mặt vợt đi nhanh hơn về phía trước nhằm tạo lực đánh cầu đột biến đồng thời để điều chỉnh đường cầu theo ý muốn

Tiếp xúc cầu: Đây là giai đoạn ngắn nhất nhưng lại quan trọng hơn cả so

với các giai đoạn khác Để có thể đánh cầu theo đúng ý đồ chiến thuật, giai đoạn này gần như một lúc đồng thời vừa phải tính toán đến góc độ mặt vợt khi tiếp xúc cầu vừa phải tính toán đến lực sử dụng đánh vào cầu sao cho hợp lý Cả hai yêu cầu trên đều đòi hỏi người tập sử dụng thành thạo sự điều khiển vợt bằng cổ tay hết sức tinh tế và chính xác Các động tác giả nhằm đánh lừa đối phương có hiệu quả hay không cũng cần phải được thực hiện tốt ở giai đoạn này Muốn cầu

đi xa hay gần, cao hay thấp, chéo hay thẳng đều phải tiếp xúc cầu một cách chuẩn xác

Dừng vợt: Là giai đoạn được tính từ sau khi vợt tiếp xúc với cầu cho đến

khi vợt dừng hẳn Giai đoạn này càng dài khi sử dụng lực đánh cầu càng mạnh

do lực quán tính của động tác càng lớn Tuy nhiên do cấu tạo trọng lượng của vợt Cầu lông không lớn, đồng thời lực phát sinh khi đánh cầu phụ thuộc rất nhiều vào lực gập cổ tay bởi vậy người tập thường cần phải chủ động dừng vợt

để chuẩn bị cho quả đánh tiếp theo

Ngày đăng: 27/07/2019, 02:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w