1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHẬN xét đặc điểm lâm SÀNG, cận lâm SÀNG và kết QUẢ điều TRỊ NANG XƯƠNG hàm BẰNG PHƯƠNG PHÁP mở THÔNG NANG

75 164 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp điều trị nang xương hàm do răng bằng phẫu thuật giảmáp hay mở thông nang đã khắc phục được hạn chế của phương pháp trên vàđem lại thành công trên nhiều ca bệnh.. Các nang xươ

Trang 1

PHẠM THỊ HẰNG

NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NANG XƯƠNG HÀM BẰNG

PHƯƠNG PHÁP MỞ THÔNG NANG

LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Cấu tạo giải phẫu xương hàm 3

1.1.1 Xương hàm trên 3

1.1.2 Xương hàm dưới 4

1.2 Định nghĩa, nguồn gốc, phân loại nang xương hàm 5

1.2.1 Định nghĩa 5

1.2.2 Nguồn gốc hình thành nang 5

1.2.3 Phân loại 7

1.3 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và dịch tễ nang xương hàm do răng 8

1.3.1 Nang thân răng 8

1.3.2 Nang răng sừng hóa 14

1.2.3 U men thể nang 16

1.4 Điều trị phẫu thuật các tổn thương nang và dạng nang của xương hàm 19

1.5.1 Khoét nang 19

1.5.2 Mở thông nang 20

1.5.3 Khoét nang sau mở thông 22

1.5.4 Khoét nang với nạo nang 22

1.6 Một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về phương pháp mở thông nang 23

1.6.1 Trên thế giới 23

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 32

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ: 32

Trang 4

2.2.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 33

2.2.3 Công cụ thu thập thông tin 33

2.2.4 Các biến số nghiên cứu 33

2.2.5 Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu 36

2.2.6 Các bước tiến hành nghiên cứu 36

2.3 Phân tích số liệu 38

2.4 Khía cạnh đạo đức của đề tài 38

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 39

3.1.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 39

3.1.3 Cận lâm sàng 45

3.2 Đánh giá kết quả điều trị 48

3.2.1 Kết quả điều trị sau phẫu thuật 1 tuần 48

3.2.2 Kết quả điều trị sau phẫu thuật 6 tháng 49

Chương 4 : BÀN LUẬN 51

3.1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 51

3.1.2 Đặc điểm lâm sàng 53

3.1.3 Đặc điểm cận lâm sàng 55

3.2.1 Kết quả điều trị sau phẫu thuật 1 tuần 58

3.2.2 Kết quả điều trị sau phẫu thuật 6 tháng 58

KẾT LUẬN 61

KHUYẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

Bảng 3.1 Phân bố tuổi trong nghiên cứu 40

Bảng 3.2 Phân bố thời gian phát hiện nang theo giới 40

Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo lý do đến khám 41

Bảng 3.4 Triệu chứng cơ năng của nhóm nghiên cứu 41

Bảng 3.5 Phân bố vị trí nang 42

Bảng 3.6 Phân bố nang gây phồng xương 42

Bảng 3.6 Tình trạng phồng xương theo loại nang 43

Bảng 3.7 Tình trạng phồng xương theo kích thước nang 44

Bảng 3.8 Phân bố dấu hiệu bóng nhựa 44

Bảng 3.9 Phân bố dấu hiệu nhiễm trùng theo kích thước nang 45

Bảng 3.10 Số lượng nang trên mỗi bệnh nhân 45

Bảng 3.11 Phân bố kích thước nang theo tuổi 46

Bảng 3.12 Phân bố hình dạng nang theo kích thước nang 46

Bảng 3.13 Phân bố tình trạng tiêu chân răng lân cận theo loại nang 47

Bảng 3.14 Phân bố hình ảnh nang phá thủng vỏ xương theo kích thước nang 47 Bảng 3.15 Phân bố nang theo đặc điểm giải phẫu bệnh 48

Bảng 3.16 Phân bố các triệu chứng sau mổ một tuần 48

Bảng 3.17 Tình trạng vệ sinh 49

Bảng 3.18 Biến chứng xa sau phẫu thuật 50

Bảng 3.19 Kích thước nang sau phẫu thuật 50

Bảng 4.1 So sánh tỉ lệ nam và nữ với các tác giả khác 51

Bảng 4.2 Bảng giá trị trung bình, thời gian mở thông và tốc độ thu nhỏ nang sau khi mở thông trong nghiên cứu của Park 59

Trang 6

Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo giới tính 39

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Cấu tạo xương hàm trên 4

Hình 1.2 Cấu tạo xương hàm dưới 5

Hình 1.3 X quang năng thân răng 12

Hình 1.4 U men thể nang 18

Hình 1.5 Mở thông nang 22

Hình 2.1: Các dụng cụ phẫu thuật nang thân răng 37

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nang xương hàm là một bệnh lý đã được đề cập từ rất lâu trong lịch sử

y văn thế giới Có nhiều bằng chứng cho thấy những tổn thương nang xươnghàm đã xuất hiện từ lâu trong quá khứ Nang xương hàm được phát hiện trongcác mẫu xác ướp từ 4500 năm trước công nguyên và từ triều đại thứ 5 tại AiCập (2800 năm trước công nguyên) Những mô tả đầu tiên về nang xươnghàm được Aulus Cornelius Celsus thực hiện vào đầu thế kỷ thứ nhất, PierreFauchar (1690-1762), John Hunter (1729-1793) và những nhà khoa học khác[1], [2], [3]

Tại Việt Nam, nang xương hàm được nghiên cứu trong một số đề tài như

“Nang xương hàm lớn do răng” – Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú Đại học Y

Hà Nội của tác giả Lê Văn Sơn [4], “Nang xương hàm do răng” - Luận văn thạc

sỹ y học trường Đại học Y Hà Nội (1997) của tác giả Nguyễn Hồng Lợi [5].Nang xương hàm rất đa dạng và là một trong các bệnh lý thường gặp ởvùng hàm mặt Nang xương hàm gặp ở mọi lứa tuổi và cả hai giới Tuy làbệnh phổ biến nhưng việc chẩn đoán chính xác tổn thương nang xương hàmkhông dễ vì triệu chứng của các nhóm nang có nhiều điểm tương đồng, chồngchéo đặc biệt thường tiến triển âm thầm, không gây đau, hầu như chỉ đượcphát hiện khi nang đã phát triển với kích thước lớn làm biến dạng vùng mặt,ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chức năng [6], [7], [8], [9]

Với đặc điểm là lành tính nang xương hàm tiến triển chậm tuy nhiên nếukhông được điều trị kịp thời có thể gây tiêu xương, phồng xương, biến dạngmặt, thậm chí gãy xương bệnh lý Trên thế giới đã có nhiều phương pháp điềutrị nang xương hàm do răng Mỗi phương pháp có những kỹ thuật và ưunhược điểm riêng Phương pháp điều trị phổ biến hiện nay là bóc nang và nhổ

bỏ răng ngầm với ưu điểm can thiệp một lần, triệt để, thời gian điều trị ngắn

Trang 8

Tuy nhiên với phương pháp này răng ngầm thường được lấy bỏ và nguy cơtổn thương các cơ quan giải phẫu lân cận như xương hàm, dây chằng quanhrăng Phương pháp điều trị nang xương hàm do răng bằng phẫu thuật giảm

áp hay mở thông nang đã khắc phục được hạn chế của phương pháp trên vàđem lại thành công trên nhiều ca bệnh Đây là phương pháp không mới nhưnghiệu quả đối với những nang có kích thước lớn bảo tồn được răng ngầm trongnang và ít xâm lấn [10], [11], [12], [13]

Ở Việt Nam đã có nhiều trung tâm áp dụng phương pháp này để điều trịnang xương hàm Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu đánh giá đầy đủ về

kết quả điều trị Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nang xương hàm bằng phương pháp mở thông nang” với hai mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân nang xương hàm được điều trị tại một số bệnh viện ở Hà Nội từ 8/2013 đến 8/2018.

2 Nhận xét kết quả điều trị phẫu thuật mở thông nang xương hàm ở một nhóm bệnh nhân từ 8/2017 đến 8/2018.

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Cấu tạo giải phẫu xương hàm

1.1.1 Xương hàm trên

Xương hàm trên (maxilla) là xương chính ở mặt có 2 mặt, 4 bờ và 4 góc,trong rỗng gọi là xoang hàm trên Xương tham gia tạo nên thành hốc mũi,vòm miệng Xương có 1 thân và 4 mỏm

 Thân xương:

+ Nền quay vào trong tạo nên thành ngoài của ổ mũi.

+ Đỉnh quay ra ngoài khớp với xương gò má.

+ Mặt ổ mắt: tạo thành phần lớn nền ổ mắt, có rãnh dưới ổ mắt cho dây

thần kinh dưới ổ mắt đi qua

+ Mặt trước: có lỗ dưới ổ mắt cho dây thần kinh dưới ổ mắt thoát ra.

Ngang mức phía trên răng nanh có hố nanh, phía trong có khuyết mũi, dướikhuyết mũi có gai mũi trước

+ Mặt dưới thái dương: phía sau có ụ hàm trên, trên ụ có lỗ huyệt răng

cho dây thần kinh huyệt răng sau đi qua

+ Mặt trong mũi: có rãnh lệ, phía trước rãnh lệ có mào xoăn, phía sau có

lỗ xoang hàm trên, sau lỗ có diện khớp với xương khẩu cái, giữa diện có rãnhkhẩu cái lớn

 Các mỏm:

+ Mỏm trán từ góc trước trong thân xương lên tiếp khớp với xương trán.

Mặt ngoài có mào lệ, bờ sau có khuyết lệ, mặt trong có mào sàng

+ Mỏm gò má tương ứng với đỉnh thân xương, tiếp khớp với xương gò má + Mỏm khẩu cái nằm ngang, tiếp khớp với mỏm bên đối diện tạo thành

vòm miệng

+ Mỏm huyệt răng có các huyệt răng.

Trang 10

- Bờ trên có nhiều lỗ huyệt răng dưới.

- Bờ dưới có 2 hố cơ nhị thân ở giữa và chỗ ngành hàm liên tiếp với thânhàm có một rãnh nhỏ để động mạch mặt đi qua

 Quai hàm (ngành lên xương hàm dưới):

Hình vuông có hai mặt, bốn bờ

- Mặt ngoài có gờ cho cơ cắn bám

Trang 11

- Mặt trong có lỗ răng dưới (lỗ hàm dưới) và thông với ống hàm dưới để

mạch và thần kinh răng dưới đi qua, phía trước lỗ có gai Spix (lưỡi xương hàm dưới) là một mảnh xương hình tam giác và là mốc để gây tê trong việc

nhổ răng

- Bờ trên lõm gọi là khuyết hàm dưới (hõm Sigma), phía trước khuyết

hàm là mỏm vẹt, sau khuyết là mỏm lồi cầu gồm có chỏm hàm dưới và cổhàm dưới Chỏm hình bầu dục dẹt theo chiều trước sau

- Bờ dưới tiếp với thân xương hàm

- Bờ sau dày liên quan với tuyến nước bọt mang tai

- Bờ trước lõm

Hình 1.2 Cấu tạo xương hàm dưới [15]

1.2 Định nghĩa, nguồn gốc, phân loại nang xương hàm

1.2.1 Định nghĩa

Kramer (1974) đã định nghĩa “nang là một khoang bệnh lý chứa dịch,bán dịch hoặc có khí mà không phải hình thành do quá trình tạo mủ” Hầu hếtcác nang chứ không phải là tất cả được lót bởi biểu mô

1.2.2 Nguồn gốc hình thành nang.

Đa số các nang vùng hàm mặt có liên quan đến quá trình hình thành răng(nang do răng)

Trang 12

Theo Mervyl Shear và Paul M Speight (2007), hình thành răng là mộtquá trình phức tạp liên quan đến mô liên kết và biểu mô Ba mô chính thamgia vào quá trình hình thành răng là cơ quan tạo men, túi răng và nhú răng.

Cơ quan tạo men là một tổ chức biểu mô có nguồn gốc ngoại bì Túi răng

và nhú răng có nguồn gốc trung mô bởi vì chúng bắt nguồn từ các tế bàomào thần kinh

Quá trình hình thành răng bắt đầu với sự tăng sinh phía chóp của lá răng(bản chất là biểu mô) Lá răng tăng sinh hình thành nên cơ quan tạo men, mộtcấu trúc có hình mũ và phát triển tiếp theo thành hình chuông Sau khi hìnhthành cơ quan tạo men, dây (cuống) của lá răng thường bị đứt gãy và thoáihóa, tuy nhiên có thể còn sót lại một số đảo tế bào sau khi răng đã hình thành

và tế bào sót của lá răng này được cho là nguyên nhân gây nên một vài loạitổn thương nang và u do răng

Cơ quan tạo men có bốn loại biểu mô Lớp biểu mô ở trong cùng là biểu

mô men lớp trong và sẽ trở thành lớp nguyên bào tạo men sinh ra men răngsau này Lớp thứ hai sát với lớp biểu mô men lớp trong là lớp giữa Sát vớilớp giữa là lưới tế bào hình sao và ngoài cùng là biểu mô men lớp ngoài Baoquanh cơ quan tạo men là mô liên kết lỏng lẻo và được gọi là nhú răng Sựtiếp xúc với biểu mô cơ quan tạo men sẽ cảm ứng nhú răng để hình thhànhcác nguyên bào tạo ngà sau này Khi các nguyên bào tạo ngà sinh ra ngà thìchúng lại cảm ứng trở lại nguyên bào tạo men để sinh ra men răng

Tiếp sau quá trình hình thành thân răng, một lớp biểu mô mỏng của cơquan tạo men được gọi là bao chân răng Hertwig phân chia tăng sinh về phíachóp kích thích sự biệt hóa các nguyên bào tạo ngà ở phần chân răng của răngđang được hình thành Bao Hertwig sau đó sẽ đứt gãy nhưng vẫn còn sót cácđám tế bào nhỏ được gọi là các tế bào sót Malassez ở khoảng dây chằng nhachu Các tế bào sót Malassez được cho là nguồn gốc sinh ra hầu hết các nangquanh chóp

Trang 13

Trong quá trình phát triển của một răng sau khi hoàn tất hình thành menrăng, biểu mô của cơ quan tạo men hình thành một lớp tế bào mỏng bao phủmen răng của răng chưa mọc, lớp biểu mô này được gọi là biểu mô men thoáihóa Theo thứ tự bình thường, lớp biểu mô men thoái hóa này sẽ nối tiếp vớibiểu mô bề mặt và tạo nên biểu mô rãnh lợi của răng vừa mọc thì sẽ hìnhthành nang thân rang [6], [16], [18], [19].

Tóm lại, lớp biểu mô của vỏ nang có nguồn gốc từ phần thừa còn lại của

tổ chức tạo răng, có thể chia thành ba loại:

- Lớp biểu mô sót hoặc tuyến Serres vẫn còn tồn tại sau khi lá mầmrăng thoái hóa Từ đó phát triển nên nang răng sừng hóa Nó cũng có thể bắtnguồn của nang quanh răng bên tiến triển và nang lợi

- Lớp biểu mô men thoái hóa bắt nguồn từ cơ quan tạo men và phủ toàntoàn bộ răng ngầm và nang thân răng, nang răng mọc bắt nguồn từ mô này.Hiếm thấy phát triển thành nang bên thân răng

- Các tế bào biểu mô sót Malassez do sự vỡ ra từng mảnh của lớp biểu

mô bao Herwig Tất cả nang chân răng được hình thành từ đây

1.2.3 Phân loại

Theo Shear và Speight (2007), nang xương hàm được phân chia thànhhai loại chính sau [11], [20]

- Nang lót bởi lớp biểu mô:

+ Nang hình thành trong quá trình phát triển

 Do răng:

Nang lợi trẻ sơ sinh

Nang sừng hóa do răng

Nang thân răng

Nang răng mọc

Nang lợi người trưởng thành

Trang 14

Nang quanh răng bên trong quá trình phát triển

Nang do răng dạng hình chùm nho

Nang do răng dạng hạt

Nang do răng can xi hóa

 Không do răng

Nang giữa khẩu cái ở trẻ sơ sinh

Nang ống mũi khẩu cái

Nang mũi môi

+ Do viêm:

Nang chân răng

Nang sót

Nang bên thân răng và nang bên thân răng vị thành niên

Nang bên do viêm

- Nang không lót bởi biểu mô

Nang xương đơn độc

Nang phình xương

1.3 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và dịch tễ nang xương hàm do răng

1.3.1 Nang thân răng

Nang thân răng được lót bởi một lớp biểu mô và là nang phát triển dorăng Nang thân răng là nang bao bọc một phần hay toàn bộ thân răng của mộtrăng không mọc Nang dính với thân răng ở chỗ nối men - xương răng

Nang thân hiếm gặp hơn nang chân răng Chiếm khoảng 17% - 20%nang xương hàm [21], [22], [23], [24]

Nang bọc trên thân một chiếc răng, thường là răng vĩnh viễn hoặc răngthừa mọc ngầm Có tác giả thấy nang thân răng bẩm sinh ở một mầm răngsữa, thân một răng vĩnh viễn dưới một răng sữa chưa rụng

Trang 15

* Vị trí: vị trí phân bố của nang trên xương hàm liên quan chặt chẽ tới cácrăng ngầm.

Theo Mourshed (1964) nghiên cứu cho thấy tỷ lệ gặp nang thân răng củarăng ngầm là 1,44/100

Tương tự, tỷ lệ này theo Toller (1967) là 1/150

Trong đó mức độ hay gặp giảm dần theo thứ tự: Răng hàm lớn thứ bahàm dưới, răng nanh hàm trên, răng hàm nhỏ hàm dưới và cuối cùng là rănghàm lớn thứ ba hàm trên Các răng còn lại như răng cửa, răng hàm lớn, răngthừa ngầm có tỷ lệ thấp hơn Có trường hợp nang răng phát triển từ mộtodontoma Rất hiếm trường hợp nang thân răng bao quanh một răng sữa [9]

* Tuổi: tỷ lệ cao ở tuổi thiếu niên và tuổi 20-30 tuổi

Một ngiên cứu ở Canada của Daley và Wysocki (1995) trên 1545 nangthân răng tỷ lệ nang hay gặp nhất là ở độ tuổi 30-40

Ở Mexico, nghiên cứu 108 trường hợp nang thân răng phần lớn xảy ra ởlứa tuổi 20-30 (Ledesma-Montes và cộng sự, 2000)

Ở Nhật, nghiên cứu của Nakamura (1995) trên 259 trường hợp cho kếtquả 60% nang gặp lứa tuổi dưới 20

Trong nghiên cứu của Shefield.1292 nang thân răng được nghiên cứu thìphần lớn xảy ra ở độ tuổi 41-51

Ở Việt Nam các tác giả cũng cho tỷ lệ phân bố tuổi tương tự như trên thế giới Nghiên cứu của Huỳnh Anh Lan về u và nang xương hàm do răng đăngtrong kỷ yếu các công trình khoa học khoa Răng Hàm Mặt từ năm 1978-1992thì nang thân răng gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 26-30

Tuổi trung bình trong nghiên cứu của Hồng lợi (1997) tại viện RăngHàm Mặt Quốc gia Hà Nội là dưới 30 tuổi

Giới: Nam thường gặp hơn nữ với tỷ lệ 3:2

Nghiên cứu ở Nam phi trên 365 trường hợp, nam: nữ = 1,8:1

Trang 16

Daley và Wysocki (1995) nam/nữ=1,5:1

Huỳnh Lan Anh (1981), Nam lại ít hơn nữ Nam/nữ= 0,56:1

Nguyễn Hồng Lợi, nam/nữ= 1,9:1

Chủng Tộc: Người da trắng có tỷ lệ mắc nhiều hơn người da đen, tỷ lệsấp xỉ 1,6:1

Tuy nhiên nang thân răng có thể gặp ở mọi loại răng và có thể xảy ra ởmọi lứa tuổi

1.3.1.1 Lâm sàng

Cũng giống như các u và nang lành tính khác của xương hàm, nang thânrăng thường phát triển một cách âm thầm tới kích thước đáng kể trước khiphát hiện

Khi nang có kích thước nhỏ thường không có biểu hiện lâm sàng, đượcphát hiện tình cờ khi bệnh nhân đi chụp Xquang vì thiếu răng vĩnh viễn, răngsữa không rụng, răng kế cận nghiêng, xoay trục hoặc khi tiến hành các nhucầu điều trị khác như phục hình, chỉnh nha

Khi nang đạt kích thước đáng kể có thể gây chú ý cho người bệnh vớicác biểu hiện sau:

- Phồng xương gây biến dạng mặt mà không đau nhức

- Lung lay răng kế cận với vị trí răng chưa mọc hoặc răng sữa không rụng

- Tê môi dưới do nang to chèn ép vào ống răng dưới

- Sưng đau chỗ phồng xương do nang bị bội nhiễm

Khi thăm khám tại chỗ có các biểu hiện:

- Mặt biến dạng tại vị trí hay gặp nang thân răng như: góc hàm, hố nanh,vùng giữa cành ngang, gò má

- Trong miệng tại vị trí phồng xương thấy răng vĩnh viễn, răng sữakhông rụng dù quá tuổi thay, răng khôn chưa mọc… Cũng có thể không cócác dấu hiệu trên vì nang thân răng phát triển từ một răng thừa ngầm, trườnghợp này chỉ chẩn đoán sau khi có kết quả Xquang

Trang 17

- Niêm mạc trên chỗ phồng xương hoàn toàn bình thường, trường hợpnang to phông xương nhiều niêm mạc có thể loét chợt do sang chấn khớp cắn.

- Các răng lân cận thường chắc, nếu nang to phá hủy xương rộng và gâytiêu chân răng lân cận thì có dấu hiệu lung lay răng, xô lệch răng cạnh nang

1.3.1.2 Đặc điểm X quang

Trên Xquang nang thân răng thường được miêu tả như một tổn thươngtiêu xương 1 buồng bao quanh phần thân của một răng chưa mọc Tổn thương

có ranh giới rõ với đường viền xơ rõ nét

Trên Xquang thường quy nang thân răng được chia thành 3 thể:

- Thể trung tâm: hình ảnh tiêu xương bao trùm thân răng một cách cânđối, phần thân răng nằm hoàn toàn trong nang, phần chân răng nằm hoàn toànngoài nang

- Thể bên: hình ảnh tiêu xương không cân xứng, lệch về một bên củarăng Loại này thường gặp ở răng khôn hàm dưới đã mọc được một phần vànang nằm ở phía bên xa của răng

- Thể quanh chu vi: trên Xquang dường như toàn bộ thân và chân răngngầm nằm trong lòng nang

Liên quan tới răng kế cận: Nang thân răng có xu hướng gây tiêu châncủa các răng kế cận cao hơn các loại nang đơn giản khác của xương hàm.Theo nghiên cứu của Struther và Shear (1976) tỷ lệ gây tiêu chân răng kế cậncủa nang thân răng là 55% trong khi của nang chân răng là 18% Điều này cóthể được giải thích bởi tác dụng của túi mầm răng giống như khi gây tiêu chân

và thân răng sữa khi răng vĩnh viễn mọc chứ không phải do áp lực thủy tĩnhcủa nang thân răng cao hơn nang chân răng, trên thực tế Toller (1948) áp lựcnày ở hai loại nang là như nhau

Trang 18

Hình 1.3 X quang năng thân răng [22]

Hình ảnh phồng xương: Giống như các nang đơn giản khác nang thânrăng thường gây phồng vỏ xương ở một bản, hay gặp phồng bản ngoài xương,

ít khi phồng bản trong [23], [24], [25]

1.3.1.3 Giải phẫu bệnh

 Đại thể: Nang thân răng thường có hình dạng thay đổi, nhưng bao giờcũng bao quanh một thân răng, chân răng thò ra ngoài Đôi khi nang phát triểnlệch sang một bên hoặc hai bên chùm xuông cạnh chân răng Nang thường cóđường kính trung bình từ 2 – 4 cm, vỏ nang mỏng màu trắng nhạt dễ bị rách khibóc tách, trong lòng chứa dịch trong đôi khi có lẫn mủ nếu nang bị bội nhiễm

 Vi thể: biểu mô lót lòng nang gồm 2 – 4 lớp tế bào biểu mô men thoáihóa kiểu lát tầng không sừng hóa, ngăn cách với lớp vỏ xơ bởi một đường liêntục và phẳng Trong 1 vài trường hợp có thể thấy có sự xuất hiện của các tếbào tiết nhầy ở lớp biểu mô Brow và cộng sự (1972) Thấy có tới 36% nangthân răng ở hàm dưới và 53% nang thân răng ở hàm trên có tế bào tiết nhày.Lớp vỏ xơ liên kết có cấu trúc lỏng lẻo và chứa một lượng đáng kể glycosa-mynoglycan Thỉnh thoảng có những đảo hoặc dây tế bào biểu mô răng cònsót lại [24], [25], [26]

1.3.1.4 Chẩn đoán

* Chẩn đoán xác định:

- Lâm sàng: Ngoài các dấu hiệu chung của u và nang lành tính xươnghàm, nang thân răng có thêm một biểu hiện có tính chất gợi ý chẩn đoán đó là

Trang 19

tại vị trí tổn thương thường thấy thiếu răng, răng sữa không rụng hoặc răngkhôn chưa mọc Trường hợp nang thân răng ở một răng ở một răng thừa ngầmthì không có dấu hiệu này.

- Cận lâm sàng: dựa vào phim Xquang và giải phẫu bệnh học

 Chẩn đoán phân biệt: khi có nghi ngờ nang thân răng ta cần chẩn đoánphân biệt với;

- Túi mầm răng bị giãn: rất khó phân biệt giữa một nang thân răng nhỏvới túi mầm răng bị giãn vì hình ảnh Xquang và mô học là như nhau Tuynhiên nhiều tác giả đều cho rằng có thể coi là nang thân răng khi khoảng cách

từ nang tới bề mặt răng từ 3-4mm trở lên trên phim panorama hoặc 2-3mmtrên phim cận chóp

- Nang chân răng ở răng sữa ngay trên một mầm răng vĩnh viễn Hiếmkhi một răng sữa chết tủy tạo nên một nang chân răng nhưng trong trường hợp

có nang chân răng răng vĩnh viễn ở dưới mọc ấn lõm vào nang chân răng tạonên hình ảnh Xquang giống như nang thân răng của mầm răng vĩnh viễn.trường hợp này phân biệt bằng phẫu thuật nhổ răng sữa bóc tách nang xem códính vào răng vĩnh viễn không

- U men thể nang: phân biệt bằng giải phẫu bệnh

Vì u men thể nang đôi khi cũng liên quan đến một răng ngầm, thường làrăng khôn hàm dưới và có triệu chứng lâm sàng Xquang giống như một nangthân răng

U men thể nang chiếm khoảng 5-22% trong các loại u men trong đó 17%phát triển từ nang thân răng

Giải phẫu bệnh đại thể của u men thể nang nếu liên quân đến răng ngầmđôi khi giống như nang thân răng đôi khi có những vị trí thành nang dày lênhoặc lồi hẳn vào lòng nang như polip, chỉ có tại vị trí này khi làm tiêu bản cắtqua mới thấy hình ảnh của u men

Trang 20

- Nang răng sừng hóa: liên quan đến 1 răng ngầm trong 25-40% trườnghợp Triệu chứng lâm sàng và Xquang giống nang thân răng nhất là trongtrường hợp nang răng sừng hóa thể đơn buồng Tuy nhiên do đặc thù là có xuhướng phát triển dọc theo tủy nên ít khi gây phồng xương Nang thường có vỏmỏng dễ rách khi bóc, trong lòng chứa nhiều tổ chức bã đậu màu trắng lớpbiểu mô có từ 6-8 lớp tế bào vảy lát tầng sừng hóa, với lớp sừng hóa dày Vỏ

xơ mỏng ít khi xâm nhập tế bào viêm

- Ung thư tế bào biểu mô do răng Ung thư biểu mô do răng gặp ở nangthân răng rất hiếm, trong lịch sử y văn thế giới mới ghi nhận được 16 trườnghợp [24],[26],[27]

1.3.1.5 Điều trị

Tùy theo vị trí kích thước nang, cấu trúc xung quanh, hướng của răngngầm mà lựa chọn phương pháp điều trị khác nhau: Phẫu thuật bóc bỏ nanglấy răng ngầm, mở thông nang giảm áp lực trong lòng nang [26],[27]

1.3.2 Nang răng sừng hóa

Là một dạng đặc biệt (dạng biệt hóa) của nang do răng Nang răng sừnghóa có các đặc điểm mô bệnh học đặc trưng và cần phương pháp xử lý lâmsàng riêng biệt

Nang răng sừng hóa được hình thành từ các tế bào sót của lá răng Nangnày có cơ chế tăng trưởng và đáp ứng sinh học khác so với đa số các nangthân và nang chân rang [14],[16],[18]

1.3.2.1 Đặc điểm lâm sàng và X quang

Nang răng sừng hóa có thể gặp mọi lứa tuổi từ sơ sinh đến người già, lứatuổi từ 10 đến 40 chiếm 60% trường hợp Tỷ lệ nam cao hơn nữ một chút.Nang răng sừng hóa chiếm 60-80% trong đó chủ yếu gặp ở vùng thân xươnghàm phía sau cành lên

Trang 21

Các nang răng sừng hóa nhỏ thường không biểu hiện triệu chứng và chỉtình cờ phát hiện khi chụp X quang Các nang răng lớn có thể có triệu chứngđau sưng hoặc có lỗ dò Tuy nhiên một số nang răng quá lớn lại không gâytriệu chứng gì.

Nang răng sừng hóa có xu hướng tăng kích thước theo chiều trước sau ởtrong lòng tủy xương mà không làm phồng xương Đây là đặc điểm giúp chẩnđoán phân biệt trên lâm sàng và X quang giữa nang răng sừng hóa với nangthân răng và nang chân răng vì các răng này khi tăng kích thước thường làmphồng xương

Hình ảnh X quang của nang răng sừng hóa là hình ảnh thấu quang đềuđược bao xung quanh bởi một viền cản quang rõ Những tổn thương lớn đặcbiệt ở đoạn phía sau của thân xương hàm dưới và cành lên, có thể có hình ảnhnhiều ổ có thể thấy các răng chưa mọc liên quan đến tổn thương (gặp ở 20-40% các trường hợp), hình ảnh xquang này giống với hình ảnh Xquang củanang thân răng (khi thấy hình ảnh như vậy thường nghĩ tới nang thân răngnhiều hơn là nang sừng hóa) Trong những trường hợp này có thể nang đượchình thành từ các tế bào sót của lá răng gần răng chưa mọc và nó phát triểnbao lấy răng chưa mọc Nang răng sừng hóa ít gây tiêu chân răng lân cận hơn

so với nang thân răng và nang chân răng

Chẩn đoán nang răng sừng hóa dựa vào đặc điểm mô bệnh học các triệuchứng X quang chỉ có giá trị chẩn đoán chứ không có giá trị chẩn đoán xácđịnh [15],[16],[18]

1.3.2.2 Giải phẫu bệnh

Nang răng sừng hóa điển hình thường có một thành nang mỏng, dễ bị bóctách, do đó rất khó để bóc tách ra khỏi xương Trong lòng nang chứa dịchtrong giống như trong lòng huyết thanh hoặc có thể được lấp đầy bởi dạng gelkhi soi kính hiển vi chất dạng gel này chứa những mảnh chất sừng Lớp biểu

mô lót nang là một lớp đồng nhất biểu mô vảy lát tầng gồm 6-8 lớp tế bào

Trang 22

1.3.2.3 Điều trị và tiên lượng

Hầu hết các nang răng sừng hóa được điều trị giống như các nang dorăng khác tức là bóc tách lấy nang và nạo Nang răng sừng hóa rất khó có thểbóc tách nguyên khối do vỏ nang mỏng và bản chất rất dễ bị rách

Nang răng sừng hóa có xu hướng tái phát Một vài nghiên cứu có số mẫunghiên cứu lớn có tỷ lệ tái phát khoảng 30% [14],[26],[28]

1.2.3 U men thể nang

1.2.3.1 Đặc điểm lâm sàng và xquang

U men thể nang là một thể hay gặp nhất trong u lành tính xương hàmnguyên nhân do răng, nó chiếm quá 50% các u lành tính khu trú xương hàm

Là một u có nhiều tác giả nghiên cứu, thảo luận về giải phẫu bệnh, phân loại

và điều trị Riêng về tên gọi có rất nhiều tên gọi khác nhau, thống kê từ trướctới nay có trên 50 tên gọi với u này, thực chất u được phát triển từ tế bào tạomen răng hình sao (Amelolastoma) Đặc điểm của u thường gặp ở tuổi thanhniên hay trung niên, tuy nhiên cũng có khi gặp ở tuổi thiếu niên và người già

Đa số u khu trú ở thân xương hàm dưới Khi u ở giai đoạn cuối gây biến dạngmặt, có thể làm tự gẫy xương hàm dưới Chẩn đoán dựa vào X quang và lâmsàng là chủ yếu

Lâm sàng: Ở tuổi nào cũng gặp nhưng hay gặp ở tuổi trẻ U thườngphát triển chậm, vài năm đến hàng chục năm Giai đoạn đầu không có dấuhiệu lâm sàng, có khi tình cờ chụp X quang phát hiện được u Đa số u cư trú ởgóc xương hàm dưới, lan lên cành cao đến lồi cầu và mỏm vẹt, có khi lan ravùng cằm và sang bên đối diện Giai đoạn đầu bệnh nhân không để ý và cókhi cả quá trình bệnh không hoặc ít ảnh hưởng đến sức khoẻ toàn thân Da vàniêm mạc vị trí có u bình thường Khi u phát triển to làm biến dạng khuônmặt, phá huỷ xương và làm phồng xương hàm ở phía ngoài da và ngách tiềnđình lợi (có dấu hiệu bóng bàn) Có khi thấy dấu ấn răng ở niêm mạc vị trí u

Trang 23

bởi răng đối diện Răng ở trên khối u thường lung lay, có khi tự rụng hoặc đãđược nhổ bỏ (ổ nhổ không liền) Đôi khi thấy thiếu một răng thường là răng

số 8 hoặc số 7 Sờ thấy u gồ ghề, có dịch hoặc dấu hiệu bóng bàn Khi u bịbội nhiễm, nhiễm trùng sẽ gây phản ứng sốt Tại chỗ: Loét phần niêm mạc,chảy máu làm bệnh nhân đau, rối loạn ăn uống, làm bệnh nhân gầy sút nhanh

U men thể nang ở hàm trên có khi thấy triệu chứng ở xoang hàm nhiều hơn.Lúc đầu u nhỏ, khi muộn làm phồng phía môi – nền mũi hoặc vòm miệngcứng Khi đó u có thể thông với xoang hàm

X quang: Chụp các tư thế chếch hàm, thẳng mặt, toàn cảnh(panorama) có hình ảnh nang một ổ hoặc nhiều ổ Tổ chức xương bị phá huỷrộng nhưng khu trú rõ Một 1/4 hình ảnh là nang một ổ lớn cư trú gọn với bờxương còn rõ nét, thường có thêm một răng ngầm nằm ở phía dưới đáy u Gần1/4 hình ảnh đặc biệt, không điển hình như hình tuyết rơi hoặc một đám lớntiêu xương hay hiếm hơn là hình các gai xương và vỏ xương vỡ lởm chởmnham nhở Quá 1/2 hình nang nhiều ổ, tổ chức bị phá huỷ rộng hình tổ ong.Chọc hút nang thường có dịch vàng, khi nang bội nhiễm, nhiễm trùng có mủlẫn dịch màu nâu

1.2.3.2 Giải phẫu bệnh lý

Đại thể: U men có hình dáng đại thể thay đổi, có thể là một khối gồghề như chùm nho, đôi khi chắc và trắng nhạt, rải rác có những hốc chứa dịchtrong hơi nhày Trong các trường hợp khác, có khoang trở nên rất to, dạngnang, khối u có thể chỉ là một buồng có chứa các dịch khác nhau, hoặc trong,hoặc dạng gel hoặc nâu nhạt, ít nhiều chảy máu và biến đổi bởi các hiệntượng viêm Trong các dạng một nang duy nhất, việc quan sát là tìm chỗ dàycủa thành nang để bọc lấy nang Nhìn chung các răng ngầm bên cạnh uthường nằm ngoài nang và không dính vào màng nang, nhưng u cũng có thể

có vỏ bọc

Trang 24

Vi thể: Các hình ảnh tế bào học được coi là điển hình của u men là tổchức liên kết nằm kề với tế bào biểu mô, trong đó tế bào men là chủ yếu Bệnh sinh: Cho đến nay cơ chế bệnh sinh của U men thể nang vẫnchưa được thống nhất và rõ ràng Một số tác giả cho rằng, nụ răng thoái hoá

mà thành, một số tác giả khác lại cho rằng do những mảnh thừa biểu môMalassez tạo nên

1.2.3.3 Tiên lượng

U men thể nang phát triển chậm từ vài năm đến hàng chục năm Ở giaiđoạn đầu không ảnh hưởng đến toàn thân, do vậy rất khó phát triển để điều trịsớm Nếu không được điều trị, để đến muộn hoặc giai đoạn cuối, u có thể dẫnđến tự gãy xương hàm, nhiễm trùng và thực tế đã gặp có trường hợp thoái hoá

ác tính U hay tái phát khi điều trị phẫu thuật bảo tồn do nhiều nguyên nhânkhác nhau [29],[30]

Hình 1.4 U men thể nang [31]

Trang 25

1.4 Điều trị phẫu thuật các tổn thương nang và dạng nang của xương hàm

Mặc dù các nang được phân loại khác nhau nhưng không khác nhau về

kỹ thuật phẫu thuật loại bỏ nang Nguyên tắc phẫu thuật điều trị nang cũngquan trọng đối với việc điều trị u lành tính do răng của xương hàm và các tổnthương miệng khác

Các nang xương hàm được điều trị theo một trong 4 phương pháp sau:

- Khoét nang (enucleation)

- Mở thông (marsupialization)

- Kết hợp cả hai phương pháp trên

- Khoét nang với nạo (curettage)

1.5.1 Khoét nang (enucleation)

Khoét nang là một quá trình loại bỏ tổn thương nang Toàn bộ tổnthương nang bị loại bỏ mà không bị rách, gián đoạn Nang có khả năng khoét

vì lớp mô liên kết xơ giữa thành phần biểu mô và thành xương của hốc nang.Chính lớp này cho phép dễ tách nang ra khỏi hốc xương giống như bóc táchmàng xương ra khỏi hốc xương

Khoét nang cần được thực hiện cẩn thận để lấy toàn bộ nang ra thànhmột khối để làm giảm nguy cơ tái phát Tuy nhiên trên thực tế việc làm ráchnang có thể xảy ra khi thao tác bóc nang [24],[26],[28]

1.5.1.1 Chỉ định

Khoét nang là lựa chọn điều trị để loại bỏ nang xương hàm và nên được

sử dụng với bất kỳ nang nào của xương hàm để tránh gây tổn thương các cấutrúc gần kề

1.5.1.2 Ưu – nhược điểm

- Ưu điểm: có thể đánh giá mô bệnh học toàn bộ nang Bệnh nhân khôngcần bơm rửa hốc nang như mở thông Khi vạt niêm mạc màng xương lành,

Trang 26

bệnh nhân không có khó chịu.

- Nhược điểm: có thể gây ra một số ảnh hưởng như: gãy xương hàm,chết tủy răng, ảnh hưởng các mầm răng…

1.5.2 Mở thông nang (Marsupialization)

Mở thông, hay giảm áp hay phẫu thuật Partsch nhằm chỉ tạo ra một cửa sổphẫu thuật trên thành của nang, dẫn lưu các thành phần bên trong của nang vàduy trì sự liên tục giữa nang và khoang miệng, xoang hàm hay khoang mũi Chỉmột phần nang được loại bỏ để tạo một cửa sổ Lớp lót của nang được để lại tạichỗ Quá trình này làm giảm áp lực nội nang và thúc đẩy sự thu hẹp của nang vàbồi lại xương Mở thông có thể được sử dụng như một phương pháp duy nhấtcho một nang hoặc là bước đầu điều trị sau đó sẽ khoét nang

1.5.2.1 Chỉ định

- Khả năng tổn thương mô: sự gần kề của nang với cấu trúc quan trọng

có thể gây tổn thương chúng khi tiến hành khoét nang Ví dụ khi khoét nang

có thể gây lỗ thủng miệng – mũi, miệng xoang hoặc tổn thương các cấu trúcmạch thần kinh quan trọng (ống răng dưới) hoặc gây chết tủy các răng lành

- Khả năng phẫu thuật: nếu đường vào để lấy toàn bộ các phần của nangkhó khăn, có thể bị bỏ sót lại sau phẫu thuật chúng ta nên cân nhắc tới việc

mở thông

- Hỗ trợ các răng mọc: nếu các răng chưa mọc trên cung hàm liên quanvới nang (ví dụ nang thân răng), mở thông có thể cho phép răng tiếp tục mọcvào trong khoang miệng

- Quy mô của phẫu thuật: với các bệnh nhân có sức khỏe toàn thânkhông cho phép phẫu thuật lớn, mở thông sẽ trở nên đơn giản ít gây sang chấncho bệnh nhân

- Kích thước của nang: với các nang kích thước lớn nguy cơ gãy xươnghàm trong quá trình khoét nang có thể xảy ra Nó có thể tốt hơn bằng việc mởthông nang và trì hoãn khoét nang cho tới khi một lượng xương đáng kể được

Trang 27

bồi lại

1.5.2.1 Ưu – nhược điểm

- Ưu điểm: ưu điểm chính của mở thông là một kỹ thuật đơn giản Nó cóthể bảo tồn các cấu trúc quan trọng không bị tổn thương nếu như tiến hànhkhoét nang

- Nhược điểm: không đánh giá được toàn bộ mô bệnh học của nang, một

số trường hợp tổn thương xâm lấn hơn lại nằm ở phần còn lại của nang

- Bệnh nhân cảm thấy bất tiện Hốc nang phải giữ sạch để đề phòngnhiễm trùng vì thường đọng các mảnh vụn thức ăn Bệnh nhân phải bơm rửahốc nang vài lần một ngày Thời gian điều trị có thể vài thang tùy thuộc vàokích thước nang và tốc độ tạo xương

- Nguy cơ hình thành nang mới

1.5.2.2 Kỹ thuật

- Gây tê: bệnh nhân có thể gây mê hoặc gây tê tại chỗ

- Chọc hút: các nang được chọc hút các thành phần bên trong bằng kimtiêm để xác định hỗ trợ chẩn đoán

- Đường rạch:

+ Đường rạch tròn, oval hay elip có thể được sử dụng, khoảng 1cm hoặclớn hơn Để lại khoảng 0,5-1cm từ viền lợi của răng hoặc đỉnh sống hàm vớingười mất răng

+ Có thể rạch chữ U ngược đáy rộng hướng về phía nghách tiền đình,màng xương sau đó được lật lên

- Loại bỏ xương:

+ Trường hợp xương bị đảy mỏng, đường rạch có thể qua niêm mạcmàng xương, xương, lớp lót nang để vào nang Lớp lót nang và các thànhphần sau đó được chuyển làm mô bệnh học

+ Trường hợp lớp xương phủ dầy, dùng mũi khoan để khoan các lỗ dạng

Trang 28

hình tròn sau đó dùng mũi trụ liên kết các lỗ lại cẩn thận lấy bỏ mảnh xương.

- Lấy bỏ một phần lớp lót nang: dùng dao cắt bỏ một phần lớp lót củanang dựa theo viền xương, gửi phần này để xét nghiệm mô bệnh học

- Bơm rửa nang

- Khâu lộn túi: phần còn lại của nang được khâu với rìa niêm mạcmiệng Có thể khâu vắt hoặc khâu rời

- Nhét meche sau phẫu thuật nếu cần, để khoảng 7 ngày

- Lấy dấu làm nút bịt bằng nhựa silicone

Hình 1.5 Mở thông nang [18]

1.5.3 Khoét nang sau mở thông

Sau khi mở thông một số nang không thể hoàn toàn mất đi lúc đó cầntiến hành khoét nang làm giảm thời gian điều trị sau một thời gian mở thông

1.5.4 Khoét nang với nạo nang

Sau khi khoét nang dùng mũi khoan hoặc currete loại bỏ 1-2mm xươngxung quanh toàn bộ chu vi của hốc nang Điều này giúp loại bỏ bất cứ tế bàobiểu mô nào có mặt tại thành của nang và hốc xương tránh tái phát sau này.Phương pháp này áp dụng khi loại bỏ nang răng sừng hóa do tỷ lệ tái phát cao

Trang 29

và nó áp dụng cho bất cứ nang nào có sự tái phát trở lại.

1.6 Một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về phương pháp mở thông nang

1.6.1 Trên thế giới

Năm 2016, Rahpeyma A và cộng sự nghiên cứu về chỉ định và nhữnggiới hạn của phương pháp mở thông nang xương hàm Nghiên cứu được thựchiện trên 16 bệnh nhân (bao gồm 20 nang xương hàm) Kết quả nghiên cứucho thấy có 2 trong tổng số 16 bệnh nhân cần thay đổi kế hoạch điều trị, mộtnửa số nang có giải phẫu bệnh là nang răng sừng hoá, 2/3 số bệnh nhân cầnphẫu thuật khoét nang thì 2 sau khi mở thông nang thành công Qua các kếtquả trên, các tác giả rút ra kết luận về giới hạn của phương pháp mở thôngnang là không có khả năng đánh giá được giải phẫu bệnh toàn bộ nang, khótiên lượng khả năng mọc của răng ngầm, phụ thuộc vào sự hợp tác của bệnhnhân, khó khăn trong việc bơm rửa nang hàng ngày ở bệnh nhân nhiều nang

và nếu kích thước lỗ mở thông lớn thì có bất lợi trong khi đóng kín mô mềmsau khi phẫu thuật khoét nang thì 2 [32]

Năm 2014, Park H.S và cộng sự nghiên cứu hiệu quả của phươngpháp mở thông nang trên bệnh nhân nang thân răng, nang răng sừng hoá và umen thể nang với mục tiêu đánh giá hiệu quả lâm sàng của mở thông nang đốivới việc giảm kích thước nang cũng như đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đếntốc độ thu nhỏ của nang như tuổi, kích thước ban đầu của nang đối với từngloại nang Qua nghiên cứu trên 32 nang xương hàm (bao gồm 13 nang thânrăng, 14 nang răng sừng hoá và 5 u men thể nang) các tác giả rút ra kết luậnkhông có sự khác biệt về tốc độ thu nhỏ của nang ở 3 nhóm nang xương hàmtrên, tuy nhiên các yếu tố tuổi và kích thước ban đầu của nang có ảnh hưởngđáng kể đến sự thu nhỏ kích thước của nang [33]

Năm 2014, Gao L và cộng sự nghiên cứu kết quả điều trị mở thông

Trang 30

nang đối với các tổn thương nang do răng của xương hàm Nghiên cứu vớimục đích đánh giá hiệu quả phẫu thuật giảm áp như là điều trị đầu tiên đối vớinang xương hàm và các yếu tố liên quan đến tốc độ thu nhỏ của nang và tốc

độ tái tạo xương Nghiên cứu được thực hiện trên 32 bệnh nhân nang xươnghàm do răng, được phẫu thuật giảm áp, thực hiện khám lâm sàng và chụp Xquang trước và sau phẫu thuật Kết quả cho thấy tốc độ tốc độ thu nhỏ củanang chân răng là 3,37 cm2/tháng, nhanh hơn so với nang răng sừng hoá là2,87cm2/tháng và u men thể nang là 2,71cm2/tháng Kích thước nang sau mởthông có liên quan đến thời gian mở thông và kích thước ban đầu của nang,tuy nhiên không có sự liên quan giữa tốc độ thu nhỏ nang và tuổi của bệnhnhân Tác giả cũng nhận thấy sự tăng mật độ xương nhiều hơn đáng kể ở nangchân răng so với ở nang răng sừng hoá và u men thể nang sau khi mở thông[34]

Năm 2013, Soliman và cộng sự nghiên cứu mở thông nang trong điềutrị các nang lớn của xương hàm Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá kếtquả thực tế của phương pháp mở thông nang khi áp dụng là phương pháp điềutrị nang xương hàm duy nhất mà không kết hợp với phương pháp khác Có 20bệnh nhân được tiến hành mở thông nang, chụp phim CT Scanner để chẩnđoán, lập kế hoạch điều trị và theo dõi kết quả điều trị sau 3 tháng, 6 tháng và

12 tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy mở thông nang là một phương pháp tincậy trong điều trị các nang lớn của xương hàm với việc loại bỏ hoàn toàn tổnthương nang trong 13 ca và thu nhỏ kích thước đáng kể trong 7 ca còn lại, các

ca này sẽ được theo dõi trong thời gian dài hơn để tiếp tục đánh giá kết quảloại bỏ nang hoàn toàn của phương pháp mở thông nang Nghiên cứu cũngcho thấy mở thông có thể được sử dụng là phương pháp duy nhất trong điềutrị nang lớn của xương hàm [35]

Năm 2013, Telles D.C và cộng sự nghiên cứu đo đạc kích thước các

Trang 31

thành phần bên trong nang răng sừng hoá trước và sau khi mở thông Nghiêncứu được tiến hành trên 6 nang răng sừng hoá Các tác giả đo đạc độ dày lớpbiểu mô, độ dày vỏ xơ của nang, tiến hành mở thông nang, theo dõi một thờigian và sau đó là cắt nang thì 2 Kết quả sau đó cho thấy có sự thay đổi lớpbiểu mô và vỏ xơ của nang, độ dày cả hai lớp tăng lên đáng kể sau phẫu thuật

mở thông nang, điều này thuận lợi cho phẫu thuật khoét nang thì 2 khi lớpbiểu mô và vỏ xơ dày, dễ bóc tách hơn, hạn chế còn sót tổ chức nang do đógiảm tái phát về sau [36]

Năm 2013, Sano K và cộng sự báo cáo một ca lâm sàng đánh giá sựmọc của răng hàm hàm dưới mọc kẹt liên quan đến u men thể nang sau phẫuthuật mở thông nang và khoét nang Bệnh nhân nữ 13 tuổi đến vì sưng phồngtrong miệng vùng răng 37, khám lâm sàng và chụp X quang chẩn đoán sơ bộnang thân răng 37, chưa loại trừ u men thể nang Bệnh nhân được tiến hành

mở thông nang qua một cửa sổ 2x1 cm, bệnh phẩm làm giải phẫu bệnh kếtquả u men thể nang Sau khi mở thông, bệnh nhân được đặt gạc tẩm khángsinh vào hốc nang và thay gạc 2 lần 1 tuần tại phòng khám Sau 4 tháng, bệnhnhân được chụp phim kiểm tra, hình ảnh X quang cho thấy có sự mọc lên củarăng 37 Bệnh nhân được quyết định phẫu thuật khoét bỏ nang và bảo tồnrăng 37, hướng dẫn vệ sinh, bơm rửa hàng ngày Chụp phim sau 8 tháng thấyhình ảnh răng 37 đang mọc với chân răng chưa hoàn thiện, chụp phim sau 11tháng thấy răng 37 đã mọc hoàn toàn, chóp răng đóng kín tuy nhiên cắn hởmột chút, tiếp tục theo dõi không cần chỉnh nha, sau 17 tháng thấy răng đãmọc về đúng khớp cắn lý tưởng Kiểm tra lại lâm sàng và X quang sau 51tháng, khám lâm sàng không có triệu chứng bất thường, chụp X quang thấyrăng 37 ổn định, đã đóng kín cuống, không có hình ảnh thấu quang xươnghàm dưới Tác giả rút ra nhận xét đối với nang do răng, mở thông nang là mộtphương pháp hiệu quả có thể thực hiện để bảo tồn răng mọc kẹt hoặc răng liên

Trang 32

quan đến nang [37].

Năm 2013, Hou R và Zhou H tổng quan các nghiên cứu về mở thôngnang và phẫu thuật giảm áp Các tác giả thu thập và phân tích 69 bài báothuộc 33 tạp chí ở 23 quốc gia và vùng lãnh thổ Kết quả cho thấy các tổnthương nang chủ yếu là nang thân răng, nang răng sừng hoá, nang chân răng

và u men thể nang Các điều trị khác kết hợp với mở thông và phẫu thuậtgiảm áp bao gồm nhổ răng, kéo răng, khoét nang, nạo nang với curret và cắt

bỏ xương Có 32 bài báo báo cáo về trang thiết bị, bao gồm dẫn lưu, gạc, nútbịt và các thiết bị khác Có 45 bài báo báo cáo về thời gian theo dõi và 54 bàibáo báo cáo không có sự tái phát của tổn thương Qua tổng quan 69 bài báocác tác giả rút ra nhận xét phương pháp mở thông nang hay phẫu thuật giảm

áp có thể được thực hiện riêng lẻ hoặc có thể kết hợp với các phương phápđiều trị khác cùng với các trang thiết bị khác để điều trị các tổn thương nang ởcác vị trí khác nhau ở xương hàm Phương pháp này được chấp nhận là mộtphương pháp điều trị bảo tồn Các nghiên cứu theo dõi lâu dài đã chứng minhhiệu quả của phương pháp điều trị này [38]

Năm 2013, Kubota Y và cộng sự nghiên cứu về ảnh hưởng của tuổi vàkích thước ban đầu của nang đến tốc độ thu nhỏ của nang sau khi mở thông.Nghiên cứu được thực hiện trên 72 nang xương hàm (bao gồm 28 nang răng sừnghoá, 26 nang thân răng và 18 nang chân răng) Thời gian mở thông nang trungbình là 11 tháng đối với nang răng sừng hoá, 8 tháng đối với nang thân răng và 5tháng đối với nang chân răng Kết quả cho thấy kích thước nang ở cả 3 loại nangđều giảm sau khi mở thông, tốc độ thu nhỏ nang có mối liên quan đến kích thướcban đầu của nang ở nang răng sừng hoá và nang chân răng, không liên quan đáng

kể ở nang thân răng, trong khi tuổi bệnh nhân ít ảnh hưởng đến tốc độ thu nhỏ củanang ở cả 3 loại trong nghiên cứu [39]

Năm 2012, Manor E và cộng sự tổng quan các nghiên cứu lâm sàng,

Trang 33

bệnh học các tổn thương nang của xương hàm Nghiên cứu được tiến hànhtrên 322 bệnh nhân (bao gồm 192 nam và 130 nữ) với bệnh lý nang xươnghàm đã được chẩn đoán và điều trị thành công Tỉ lệ các loại nang trongnghiên cứu là 48% nang chân răng, 25% nang thân răng, 7% nang răng sừnghoá, 6% răng mọc răng, 5% nang do chấn thương và 9% là nang không dorăng Các phương pháp điều trị được thực hiện trong nghiên cứu bao gồmphương pháp mở thông nang, khoét nang, khoét nang kết hợp với ghép xương

và phương pháp cắt bỏ nang Trong nghiên cứu này, mở thông nang được thựchiện trên tất cả nang mọc răng và ở những nang xương hàm lớn Các tác giảnhận thấy mở thông nang có hiệu quả đáng kể trong điều trị bảo tồn nang răngsừng hoá, là phương pháp tiếp cận trong tương lai góp phần làm giảm hoặcloại bỏ phương pháp can thiệp phẫu thuật xâm lấn [40]

Năm 2012, Guler N và cộng sự nghiên cứu phương pháp điều trị bảotồn trong điều trị nang răng sừng hoá Mục đích của nghiên cứu là đánh giácác phương pháp phẫu thuật khác nhau trong điều trị nang răng sừng hoá vàkết quả của các phương pháp này sau hơn 9 năm theo dõi Đây là một nghiêncứu hồi cứu đánh giá 43 nang răng sừng hoá trên 39 bệnh nhân Có 3 phươngpháp phẫu thuật được sử dụng là khoét nang đối với nang nhỏ và không chắcchắn về giải phẫu bệnh, khoét nang kết hợp với sử dụng dung dịch đốt Canoyđối với nang nhỏ và có giải phẫu bệnh chắc chắn, mở thông nang và sau đókhoét nang đối với những nang lớn có thể phá vỡ hoặc chưa phá vỡ vỏ xươngnhưng không có lỗ rò ra mô mềm Các tác giả kết luận phương pháp khoétnang và khoét nang kết hợp với dung dịch Canoy có hiệu quả tốt trên nên nhỏ,trong khi phương pháp mở thông nên được áp dụng đối với những nang cókích thước rất lớn, và cần tiếp tục theo dõi thêm thời gian tiếp theo [41]

Năm 2002, Bodner L và cộng sự nghiên cứu các tổn thương nangxương hàm trên 69 bệnh nhân trẻ em đã được chẩn đoán và điều trị thành

Trang 34

công Kết quả cho thấy 45% là nang thân răng, 22% là nang mọc răng, 17,3%

là nang do chấn thương, 13,3% là nang chân răng và 3% các nang khác Có 3phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu là mở thông nang, khoét nang

và khoét nang kết hợp với ghép xương Các kết quả cho thấy sự phân bố vàđặc điểm đặc trưng nang xương hàm ở trẻ em khác biệt so với ở người trưởngthành Tốc độ phát triển nang nhanh và ở những vị trí phát triển của xươnghàm đặt ra vấn đề cần nghiên cứu và ứng dụng nhiều hơn những điều trị bảotồn trong điều trị nang xương hàm ở trẻ em, trong đó có phương pháp mởthông nang [42]

Bên cạnh đó cũng có rất nhiều nghiên cứu về phương pháp mở thôngnang trên từng loại nang riêng biệt

Đối với nang răng sừng hoá, năm 2011, Zhao Y và cộng sự nghiêncứu sự thay đổi mật độ xương và thể tích nang sau khi mở thông đối với nangrăng sừng hoá ở xương hàm dưới, các tác giả kết luận sự tái sinh xương diễn

ra nhanh sau khi mở thông nang và dẫn lưu, phẫu thuật khoét nang thì 2 cóthể được tiến hành sau khi mở thông 3 tháng hoặc nếu xương vỏ mỏng, thểtích nang trên 80 ml thì có thể trì hoãn thêm 1 - 3 tháng [43] Cùng năm 2011,Borgonovo A.E và cộng sự nghiên cứu đưa ra phương thức điều trị nang răngsừng hoá ở những bệnh nhân trẻ tuổi trong hội chứng Gorlin-Goltz bao gồm

mở thông nang và kết hợp khoét nang thì 2 cắt rộng xương xung quanh nang,phương pháp này cho kết quả tốt, ít xâm lấn và biến dạng mặt [44] Năm

2002, Ninomiya T và cộng sự nghiên cứu về cơ chế của phương pháp mởthông nang trong điều trị nang răng sừng hoá, các tác giả nhận xét mở thôngnang giúp ức chế interleukin-1 (một interleukin có vai trò quan trọng trongviệc phát triển nang) và ức chế sự phát triển của lớp biểu mô lòng nang do đó

có vai trò trong việc làm giảm kích thước nang [45] Ngoài ra còn rất nhiềunghiên cứu khác như nghiên cứu của Habibi A [46], nghiên cứu của Progrel

Trang 35

ở những bệnh nhân trẻ [49] Năm 2006, Lau S.L và Samman N tổng quan cơ

sở dữ liệu bao gồm 232 bài báo để đánh giá tỉ lệ tái phát của các phương phápđiều trị u men thể nang, kết quả cho thấy tỉ lệ tái phát của phương pháp cắtđoạn xương là 3,6%, của khoét nang là 30,5%, của khoét nang kết hợp dungdịch Canoy là 16% và tỉ lệ này là 18% đối với phương pháp mở thông nang

có hoặc không kết hợp với điều trị khác thì 2 Các tác giả kết luận rằng chỉ cómột bằng chứng tương đối yếu cho rằng cắt đoạn xương có tỉ lệ tái phát thấpnhất, tiếp theo là khoét nang kết hợp với dung dịch Canoy, khoét nang đơnthuần có tỉ lệ tái phát cao nhất và chưa thể đánh giá đầy đủ về phương pháp

mở thông nang do một số trường hợp cần phải kết hợp phẫu thuật thì 2 [50]

Về nang thân răng, năm 2009, Yahara Y và cộng sự nghiên cứu tiênlượng sự mọc của răng hàm nhỏ liên quan đến nang thân răng bằng phươngpháp mở thông nang Qua nghiên cứu trên 21 nang thân răng liên quan đếnrăng hàm nhỏ hàm dưới các tác giả nhận thấy sự mọc thành công của các rănghàm nhỏ liên quan đến nang thân răng có thể tiên lượng được trong vòng 3tháng sau khi mở thông, hơn nữa, sự mọc răng trong những trường hợp này cóthể chịu ảnh hưởng của tuổi bệnh nhân, độ sâu của răng và trục răng [51]

Trang 36

Cũng năm 2009, Huseyin K và cộng sự nghiên cứu hiệu quả của phươngpháp mở thông nang trong điều trị nang thân răng Nghiên cứu được tiến hànhtrên 35 nang thân răng trên 35 bệnh nhân trẻ em tuổi từ 8-13 được điều tịbằng phương pháp mở thông nang và theo dõi sau 5 năm, qua đánh giá kếtquả các tác giả kết luận phương pháp mở thông nang có thể là một sự lựachọn tốt hơn để điều trị nang thân răng ở trẻ em so với các phương pháp điềutrị truyền thống khác [52] Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu khác về mởthông nang thân răng như nghiên cứu của Hu Y.H [53], Fujii R [54], Nishide

N [55], Hyomoto M [56], Ertas U [57] và Yavuz M S, Martinez-Perez D.[58], Miyawaki S [59], Murakami A [60] Hầu hết kết quả đều cho thấy mởthông nang là phương pháp hiệu quả trong điều trị nang thân răng, bảo tồnrăng ngầm

Về nang thân răng, phương pháp truyền thống để điều trị nang thânrăng là phương pháp khoét nang và khoét nang kết hợp cắt cuống răng Tuynhiên trong trường hợp nang lớn, một số tác giả nghiên cứu áp dụng phươngpháp mở thông nang trong những trường hợp này, ví dụ nghiên cứu báo cáo 2

ca lâm sàng của Riachi F và Tabarani C [61], nghiên cứu mở thông nangchân răng lớn ở bệnh nhân 5 tuổi của Delbem A C B và cộng sự [62], haynghiên cứu của Takase T và cộng sự [63]

Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về mở thông nang xương hàmkhác, ví dụ nghiên cứu điều trị nang do răng thể tuyến của Kaplan I và cộng

sự [64] Mở thông nang cũng có thể được sử dụng trong điều trị một số nangphần mềm như nang mũi môi [65], nang nhái sàn miệng [66]

1.6.2 Tại Việt Nam

Các nghiên cứu mở thông nang ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều.Năm 2011, Đoàn Thanh Tùng nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng, Xquang và kết quả điều trị phẫu thuật nang thân răng trên 33 bệnh nhân nang thân

Trang 37

răng, trong đó có 32 bệnh nhân được áp dụng phương pháp điều trị khoét nang

và nhổ răng ngầm, một bệnh nhân được phẫu thuật mở thông nang, bước đầucho kết quả khả quan sau 3 tháng phẫu thuật, cần theo dõi dài hơn [67]

Năm 2014, Đoàn Thanh Tùng, Đặng Triệu Hùng, Phạm Hoàng Tuấn báocáo hiệu quả điều trị 3 trường hợp nang thân răng được điều trị bằng phươngpháp mở thông nang Sau thời gian theo dõi lần lượt là 9 tháng, 11 tháng và 12tháng, cả 3 bệnh nhân đều không thấy còn sự hiện diện của nang Kết quả nghiêncứu bước đầu khẳng định đây là một phương pháp hiệu quả trong điều trị nangthân răng, nếu khoảng mọc răng còn đủ thì mở thông nang có thể bảo tồn đượcrăng ngầm trong nang mà không cần can thiệp bằng khí cụ chỉnh nha [68]

Ngày đăng: 24/07/2019, 20:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Thị Thu Hà (2010). Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật nang chân răng tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt trung ương Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàngvà đánh giá kết quả phẫu thuật nang chân răng tại Bệnh viện Răng HàmMặt trung ương Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2010
13. Speight M, Shear M (2007). Cyst of the oral and Maxillofacial Regions.Fourth edition-Blackwell Munksgaard Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cyst of the oral and Maxillofacial Regions
Tác giả: Speight M, Shear M
Năm: 2007
14. Alfred L.W, Mahmood F. M (2005). Imaging of the Head and Neck. 2nd, Georg Thieme Verlag, New York, 509-549 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Imaging of the Head and Neck
Tác giả: Alfred L.W, Mahmood F. M
Năm: 2005
15. Anne M.R.A (2009). Grant's Atlas of Anatomy, 12th edition, Williams &Wilkins, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Grant's Atlas of Anatomy
Tác giả: Anne M.R.A
Năm: 2009
16. Antonio C (2006). Pathology of the Head and Neck. Springer-Verlag, Berlin, 4-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathology of the Head and Neck
Tác giả: Antonio C
Năm: 2006
18. Barnes L, Eveson W.J, Reichart P et al (2005). Pathology and genetics of head and neck tumours. IARC Press, 296-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IARC Press
Tác giả: Barnes L, Eveson W.J, Reichart P et al
Năm: 2005
19. Southam J.C, Soames J.V (2005). Oral pathology. Oxford University Press Inc, 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford UniversityPress Inc
Tác giả: Southam J.C, Soames J.V
Năm: 2005
20. Sarac Z (2010), Períc B, Filipovíc-Zone I et al (2010). Follicular Jaw Cysts. Coll Antropol, 34, 215-219 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coll Antropol
Tác giả: Sarac Z (2010), Períc B, Filipovíc-Zone I et al
Năm: 2010
21. Damm D. D, Allen C. M, Bouquot J. E et al (2002). Oral and Maxillofacial pathology, 2nd edition, Saunders Company printed in the United States of America, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral andMaxillofacial pathology
Tác giả: Damm D. D, Allen C. M, Bouquot J. E et al
Năm: 2002
22. Trần Văn Trường (2002). Nang và u lành tính vùng miệng hàm mặt. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nang và u lành tính vùng miệng hàm mặt
Tác giả: Trần Văn Trường
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2002
24. Killey H.C, Kay L.W, Seward G,R. Benign cystic lesions of the jaw, their diagnosis and treatment. Edinburgh and London: Churchill living stone, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edinburgh and London: Churchill livingstone
25. Bodner L (1998). Osseous regeneration in the jaws using demineralized allogenic bone implants. J Cananiomaxillofac Surg, 26(2), 116-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Cananiomaxillofac Surg
Tác giả: Bodner L
Năm: 1998
26. Neville B.W, Damm .D.D, Chi A.C et al (2002). Oral and maxilloficial Pathology. Saunders, 611-619 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saunders
Tác giả: Neville B.W, Damm .D.D, Chi A.C et al
Năm: 2002
27. Sự, P.T.H (2016). Đặc điểm lâm sàng, xquang và điều trị của nang xương hàm do răng. Tạp chí Y học Việt Nam, 443(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Việt Nam
Tác giả: Sự, P.T.H
Năm: 2016
28. Lê Thị Lợi (2016). Nang vùng hàm mặt. Bài giảng Bộ môn Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nang vùng hàm mặt
Tác giả: Lê Thị Lợi
Năm: 2016
29. Huỳnh Văn Dương (2015). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xquang, giải phẫu bệnh và đánh giá kết quả điều trị u nguyên bào men xương hàm.Luận án tiến sĩ Y học, Học Viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xquang, giảiphẫu bệnh và đánh giá kết quả điều trị u nguyên bào men xương hàm
Tác giả: Huỳnh Văn Dương
Năm: 2015
30. Isacsson G, Andersson L, Forsslund H et al (1986). Diagnosis and treatment of the unicystic ameloblastoma. Int J Oral Maxillofac Surg, 15, 759-764 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int J Oral Maxillofac Surg
Tác giả: Isacsson G, Andersson L, Forsslund H et al
Năm: 1986
31. Hsu M.H, Chiang M.L, Chen J.K (2013). Unicystic Ameloblastoma.Journal of Dental Sciences, XX, 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Dental Sciences
Tác giả: Hsu M.H, Chiang M.L, Chen J.K
Năm: 2013
32. Rahpeyma A, Khajehahmade S (2016). Marsupialization for Treatment of Jaw Cysts: Indications and Limitations. Journal of International Oral Health 2016, 8(2), 158-162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International OralHealth 2016
Tác giả: Rahpeyma A, Khajehahmade S
Năm: 2016
33. Park H.S, Song I.S, Seo B.M (2014). The effectiveness of decompression for patients with dentigerous cysts, keratocystic odontogenic tumors, and unicystic ameloblastoma. J Korean Assoc Oral Maxillofac Surg, 40, 260-265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Korean Assoc OralMaxillofac Surg
Tác giả: Park H.S, Song I.S, Seo B.M
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w