Đồng thời còn giúp chẩn đoán: phình mạch, tắc mạch thận, thôngđộng tĩnh mạch thận, hẹp động mạch thận và các bệnh lý sỏi thận, sỏi niệuquản… Hiểu rõ về hệ thống động mạch thận và động mạ
Trang 1NGUYỄN THỊ TRANG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH THẬN
VÀ ĐỘNG MẠCH PHÂN THÙY THẬN TRÊN HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH 128 DÃY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 2NGUYỄN THỊ TRANG
NGHI£N CøU GI¶I PHÉU §éNG M¹CH THËN
Vµ §éNG M¹CH PH¢N THïY THËN TR£N H×NH
¶NH C¾T LíP VI TÝNH 128 D·Y
Chuyên ngành : Giải phẫu người
Mã số : 60720102
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Ngô Xuân Khoa
HÀ NỘI – 2018
Trang 3Để hoàn thành được cuốn luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào Tạo Sau Đại Học và Bộ môn Giải Phẫu trường Đại học Y Hà Nội.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Đốc, Phòng Kế Hoạch Tổng hợp, Khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và nghiên cứu tại bệnh viện.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới:
PGS.TS.Ngô Xuân Khoa, Phó trưởng bộ môn Giải Phẫu trường Đại
học Y Hà Nội, người thầy trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận văn Thầy đã dìu dắt, dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, giúp tôi trưởng thành và phát triển trong chuyên môn.
PGS.TS.Nguyễn Văn Huy, Người Thầy đã hướng dẫn, truyền đạt cho
tôi những kiến thức đầu tiên về con đường nghiên cứu giải phẫu, niềm đam
mê nhiệt huyết cho những bước đường sau này.
PGS.TS.Trần Sinh Vương, Chủ nhiệm bộ môn Giải phẫu trường Đại
Học Y Hà Nội, các thầy trong bộ môn và các thầy trong hội đồng đã truyền đạt kiến thức chuyên môn cho tôi và đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Tập thể các bác sỹ và kỹ thuật viên khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
và làm luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người chị thương yêu và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
NGUYỄN THỊ TRANG
Trang 4Tôi là Nguyễn Thị Trang, Bác sĩ nội trú khóa 41 – Chuyên ngành Giảiphẫu người – Trường Đại học Y Hà Nội xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa PGS.TS Ngô Xuân Khoa
2 Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nàokhác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực
và khách quan, đã được xác nhận của cơ sở nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2018
Người viết cam đoan
Nguyễn Thị Trang
Trang 5ĐMPTTD Động mạch phân thùy trước dưới
ĐMPTTT Động mạch phân thùy trước trên
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Giải phẫu thận nói chung và giải phẫu động mạch thận nói riêng là vấn
đề đã được nghiên cứu và mô tả từ lâu trong y văn Tuy nhiên ở mỗi thời kì,
có những phương pháp nghiên cứu khác nhau với những ưu nhược điểm riêng[1] Với sự ra đời của các kĩ thuật xâm lấn tối thiểu để điều trị các bệnh lý vềthận như can thiệp mạch thận, cắt thận nội soi, tán sỏi nội soi ngược dòng, tánsỏi qua da… giải phẫu thận và đặc biệt là giải phẫu động mạch thận và cácđộng mạch phân thùy đã được quan tâm dưới những góc nhìn mới [1]
Tại Việt Nam, từ những năm 1960 đến nay đã có nhiều nghiên cứu về
hệ thống động mạch thận, tuy nhiên thời gian đầu các công trình đều chútrọng nghiên cứu những đặc điểm phục vụ phẫu thuật mổ mở lấy sỏi, hay cắtthận bán phần và đa số nghiên cứu được thực hiện bằng phẫu tích xác, khôngkhảo sát được trên cơ thể sống, kích thước động mạch thường giảm do sự corút sau bảo quản Hiện nay, các kĩ thuật hình ảnh khác nhau như: chụp niệu đồtĩnh mạch (UIV), cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, chụp động mạch thận chọnlọc, … đã được nghiên cứu cho phép đánh giá hình thái thận trên cơ thể sốngmột cách chân thực và sống động
Việc tạo ảnh, dựng hình mạch máu ngày càng được ứng dụng rộng rãi, từkhi có chụp cắt lớp vi tính (CLVT) thế hệ 16 dãy, 32 dãy, 64 dãy, 128 dãy… độnhậy và độ đặc hiệu trong đánh giá bệnh lý mạch máu và đánh giá cấu trúcmạch máu là rất cao mà không cần xâm lấn Trong đó, chụp CLVT 128 dãyđộng mạch thận, có dựng hình cho kết quả tốt trong đánh giá cấu trúc độngmạch trong và ngoài thận Các công trình nghiên cứu về hình ảnh động mạchthận (ĐMT) trên phim chụp CLVT của các tác giả trên thế giới và trong nước
có Gümüş H và cộng sự [2], Tuncay Hazirolan và cộng sự [3], Võ Văn Hải vàcộng sự [4]
Trang 10Nghiên cứu giải phẫu của hệ thống động mạch thận và động mạchphân thùy thận (ĐMPTT) có ý nghĩa quan trọng trong lâm sàng, làm cơ sởtrong việc đánh giá, tiến hành, tiên lượng trong phẫu thuật cắt bán phần vàghép thận Đồng thời còn giúp chẩn đoán: phình mạch, tắc mạch thận, thôngđộng tĩnh mạch thận, hẹp động mạch thận và các bệnh lý sỏi thận, sỏi niệuquản… Hiểu rõ về hệ thống động mạch thận và động mạch phân thùy thậncòn giúp các nhà ngoại khoa và chẩn đoán hình ảnh tạo đường hầm tán sỏi,tránh một trong các biến chứng phổ biến trong tán sỏi qua da đó là thôngđộng tĩnh mạch hoặc giả phình động mạch có thể gây tình trạng chảy máunghiêm trọng sau tán sỏi [5].
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu giải
phẫu động mạch thận và động mạch phân thùy thận trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính 128 dãy” với hai mục tiêu:
1 Mô tả hình thái và các dạng biến đổi giải phẫu của động mạch thận
trên phim chụp CLVT 128 dãy.
2 Mô tả các dạng biến biến đổi giải phẫu của động mạch phân thùy
thận trên phim chụp CLVT 128 dãy.
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giải phẫu động mạch thận
1.1.1 Nguyên ủy
ĐM thận phần lớn xuất phát từ ĐM chủ bụng trong NC của Trịnh XuânĐàn [6], Võ Văn Hải [4], cũng có trường hợp xuất phát cùng thân chung với
ĐM mạc treo tràng trên trong báo cáo của Dalcik C [7]
Hình 1.1 Nguyên ủy của ĐM thận [8]
+ Vị trí nguyên ủy ĐM thận phải so với ĐM thận trái
Trong nghiên cứu của Võ Văn Hải và cộng sự [4] khảo sát trên 3 nhómđối tượng: 81 thi hài, 31 người hiến thận được chụp bằng DSA và 25 ngườihiến thận được chụp bằng cắt lớp vi tính, thận bên (P) thường ở vị trí thấp hơnthận bên (T) Do quá trình phát triển đi lên của thận (P) và sự phát triển của gan
về thể tích, thận (P) bị gan đè xuống nên thấp hơn thận (T) Tuy thế khi tác giả
so sánh vị trí nguyên ủy, thì nguyên ủy ĐM thận (P) thường cao hơn hoặc bằng
Trang 12nguyên ủy ĐM thận (T) chiếm 83,2% Kết quả này tương đồng với tác giả
Trịnh Xuân Đàn [6] là 71.4%, Lê Quang Triển là 88.9% [9], tác giả Cicekcibasi
[10] là 88.5%
+ Nguyên ủy ĐM thận đối chiếu lên cột sống
Bảng 1.1: Nguyên ủy ĐM thận đối chiếu lên cột sống
1.1.2 Đường đi liên quan
Từ nguyên ủy, ĐM thận chạy ngang ra ngoài, ra sau hướng tới rốn thận
Theo Breno J và cộng sự [13] chiều dài ĐM thận phải là 39.6 ± 13
mm, bên trái là 34.1 ± 11 mm Có sự khác nhau về đường kính giữa nam và
nữ, ở bên phải của nam là 7.11 ± 0.16 mm lớn hơn nữ là 6.14 ± 0.14 mm; bêntrái ở nam là 7.17 ± 0.17 mm lớn hơn ở nữ là 5.53 ± 0.15 mm
1.1.4 Các dạng đa ĐM thận
Trang 13Theo Sampaio và Passo [14]:
- ĐM rốn thận là ĐM thận chính thức có nguyên ủy từ ĐM chủ bụng đivào rốn thận
- ĐM cực trên và cực dưới là những ĐM thận nhưng không đi vào rốn
thận được gọi là các: “ĐM thêm vào” (additional renal arteries).
- 2 B: Hai ĐM rốn thận cho một nhánh ĐM cực trên
- 2 C: Hai ĐM rốn thận cho hai nhánh ĐM cực trên
- 2 D: Hai ĐM rốn thận cho một nhánh ĐM cực trên và 1 nhánh ĐM cựcdưới
Trang 14- 3 C: 2 ĐM rốn thận cho 1 nhánh ĐM cực trên, 1 ĐM cực trên tách ra
Theo Võ Văn Hải và cộng sự [4]:
+ Nhóm có 1 ĐM thận thuộc dạng A chiếm 51,6%; dạng B chiếm 20,4%;dạng C chiếm 0,5%; dạng D chiếm 1,8%; dạng E chiếm 1,3%; dạng F chiếm 0,5%
+ Nhóm có 2 ĐM thận thuộc các dạng A, B, C, D chiếm 13,0%; dạng Echiếm 3,6%; dạng F,G chiếm 4,0%
+ Nhóm có 3 ĐM thận thuộc dạng A chiếm 0,5%; dạng B, C chiếm 1,3%;dạng D chiếm 0,5%
+ Nhóm có 4 ĐM thận thuộc dạng A chiếm 0,5%; dạng B chiếm 0,5%.Theo Sampaio và Passos [14]:
+ Nhóm có 1 ĐM thận thuộc dạng A chiếm 55,3%; dạng B chiếm14,3%; dạng F chiếm 2,6%
+ Nhóm có 2 ĐM thận thuộc dạng A chiếm 7,9%; dạng B chiếm 3,4%;dạng E chiếm 6,8%; dạng F chiếm 5,3%
+ Nhóm có 3 ĐM thận thuộc dạng A chiếm 1,9%; dạng B chiếm 1,1%;thận có 2 ĐM rốn thận và 1 ĐM cực dưới chiếm 0,7%
+ Nhóm có 4 ĐM thận gồm 2 ĐM rốn thận và 1 ĐM cực trên và 1 ĐMcực dưới chiếm 0,4%
+ Nhóm có 5 ĐM thận gồm 3 ĐM rốn thận với 1 ĐM cực trên và 1 ĐMcực dưới
1.1.5 Các dạng nguyên ủy của ĐM cực trên và ĐM cực dưới
Trang 15Hình 1.2 Các dạng nguyên ủy các ĐM cực trên và ĐM cực dưới [4]
- Nguyên ủy ĐM cực trên và ĐM cực dưới có thể từ ĐM chủ bụng hoặc ĐMthận
+ Với ĐM cực trên, theo NC của Võ Văn Hải [4], tỉ lệ ĐM này xuất phát
từ ĐM chủ bụng là 7.1%, từ ĐM thận là 31.3% Theo Oelrich [15], tỉ lệ nàytương tự với nguyên ủy từ ĐM chủ bụng là 7%, tuy nhiên từ ĐM thận chỉchiếm 12%
+ Với ĐM cực dưới, theo NC của Võ Văn Hải [4] tỉ lệ ĐM này có nguồngốc từ ĐM chủ bụng là 4.5%, từ ĐM thận là 3.5%
Trang 16ĐM cực dưới đi bắt chéo phía trước niệu quản, có thể làm gấp khúc niệu
quản – bể thận gây chít hẹp, hậu quả là làm ứ nước thận, giãn đài bể thận,
thậm chí suy thận
1.1.6 Phân nhánh - cấp máu cho thận
Khi tới gần rốn thận, mỗi ĐM thận thường chia làm 2 ngành cùng:
- Ngành trước: thường chia 4 nhánh ĐM toả rộng trước bể thận
- Ngành sau: trèo lên bờ trên bể thận rồi vòng ra sau, đi dọc mép saurốn thận, để hở một phần mặt sau bể thận (thường rạch mặt sau bể thận, khiphải lấy sỏi đài bể thận)
Hình 1.3 Phân nhánh chi phối của ĐM thận [16]
Trên đường đi, ĐM thận tách nhánh nhỏ cấp máu cho tuyến thượng thận(ĐM thượng thận dưới); các nhánh cho mô mỡ quanh thận, bao thận, bể thận vànhánh cho phần trên niệu quản đoạn bụng Các nhánh này nối tiếp ở ngoài thận
Trang 17với các ĐM lân cận (ĐM hoành, ĐM sinh dục, ĐM đại tràng) và nối tiếp vớinhau trong lớp mỡ quanh thận tạo thành vòng mạch ngoài thận rất phong phú.
Các nhánh ĐM thận khi vào thận sẽ cung cấp máu cho từng vùng nhu
mô thận riêng biệt gọi là phân thùy thận (phân thùy thận ĐM) Tuy nhiên,cũng có những quan điểm khác trong phân thùy thận, nhưng nhìn chungcác phân thùy này không tương đương với các phân thùy thận cổ điển(phân thùy theo đài bể thận)
Các nhánh của ngành ĐM trước bể thận cấp máu cho một vùng rộnghơn các nhánh ở phía sau
Hình 1.4 Hình ảnh ĐM thận [17]
A: ĐM trước bể, B: ĐM phân thùy trên, C: ĐM phân thùy trước trên,
D: ĐM phân thùy trước dưới, E: ĐM phân thùy dưới
Động mạch thận tận cùng bằng các động mạch mà không có các tuầnhoàn bàng hệ Đường Brodel – đường ít mạch là khu vực gần như vô mạchcủa thận, nó nằm hơi sau bờ lồi của nửa sau thận, đây là chỗ chuyển tiếp giữavùng được cấp máu bởi nhánh trước và nhánh sau của động mạch thận Là 1đường song song với bờ ngoài của thận, nằm ở mặt sau tương ứng với vị tríkhoảng 2/3 ngoài, 1/3 trong từ rốn thận đến bờ ngoài của thận Đường mổ vàokhu vực này lấy sỏi ở đài thận sẽ ít gây tổn thương và ít chảy máu nhất [12]
Trang 18Hình 1.5 Hình ảnh ĐM thận và các nhánh phân thùy [17]
A:ĐM trước bể, B: ĐM phân thùy trên, C: ĐM phân thùy trước trên, D: ĐM phân thùy trước dưới, E: ĐM phân thùy dưới
1.2 Giải phẫu ĐM phân thùy thận
Do đặc điểm của các ĐM thận là ĐM tận, ngược lại tĩnh mạch thận thì
có sự nối thông với nhau nên từ những năm 1950, nhiều tác giả đã hệ thốnghóa các mạch máu chi phối cho từng phần của nhu mô thận, các ĐM nàyđược gọi là các động mạch phân thùy thận (ĐMPT) (Hình 1.4 và Hình 1.5)
Có nhiều cách phân chia phân thùy thận theo động mạch, tuy nhiên phân chiacủa Graves [18] hiện nay được nhiều tác giả công nhận, ứng dụng nhiều vàrộng rãi trong lâm sàng
Phân chia của Graves: Graves [18] trên cơ sở phân nhánh tương đối ổn
định của ĐM thận đã chia thận thành 5 phân thùy, mỗi phân thùy được cấpmáu bởi một ĐM riêng
Động mạch phân thùy thận:
o ĐM phân thùy trên (S1)
o ĐM phân thùy trước trên (S2)
o ĐM phân thùy trước dưới (S3)
o ĐM phân thùy dưới (S4)
o ĐM phân thùy sau (S5)
Trang 191.2.1 Động mạch phân thùy trên (S1)
Là 1 ĐM phân thùy nhỏ nhất, rất thay đổi về nguyên ủy có thể tách ra
từ ngành trước ĐM thận, từ 1 thân chung với S2 hoặc là một nhánh của S2hoặc từ ngành sau ĐM thận Về liên quan cũng rất thay đổi, có thể đi mặttrong nhóm đài thận I, hoặc đi ở rãnh giữa hai phần trong và ngoài nhóm đàithận I Phân thùy S1 chiếm nhỏ hơn 1/4 mặt trước trên thận
1 Phân thùy trên
2 Phân thùy trước trên
3 Phân thùy trước dưới
4 Phân thùy dưới
5 Hạ phân thùy sau trên
6 Hạ phân thùy sau dưới
Phạm vi cấp máu ở mặt trước thận tương ứng với nhóm đài thận II, mộtphần nhóm đài thận I và một phần nhóm trung gian (nếu có) trong khoảng trốnggiữa 2 nhóm II- III Phân thùy S2 chiếm khoảng 1/3 giữa trên mặt trước thận
Trang 201.2.3 ĐM phân thùy trước dưới (S 3)
Thường xuất phát sớm ở ngoài rốn thận, từ ngành trước, thân chung với
ĐM S2, thân chung với ĐM S4 hoặc là một nhánh tận của ĐM thận ĐM S3
đi vào thận trong khe giữa 2 nhóm đài thận II - III hoặc một đài thận trunggian và nhóm III, ít trường hợp đi dưới nhóm đài thận III
ĐM S3 cấp máu cho một phần ở mặt trước dưới thận (nhỏ hơn l/4 nửatrước thận) tương ứng với nhóm đài III và một phần trung gian giữa 2 nửa thận
1.2.4 ĐM phân thùy dưới (S 4)
Nguyên ủy rất đa dạng và có thể tách độc lập hay có thân chung với ĐMS3 từ: ĐM thận, ngành trước, ngành sau ĐM thận hoặc từ ĐM chủ bụng Vàoxoang thận, ĐM S4 thường chia sớm thành 1- 3 nhánh trước và 1 nhánh sau
- Các nhánh trước thường đi trước và dưới nhóm đài IV, đôi khi có thể quakhe giữa 2 nhóm đài III - IV tuỳ theo sự phát triển cân bằng bù trừ với ĐM S3
- Nhánh sau: đi bờ dưới của bể thận và đài thận lớn dưới, vòng ra sautới một vùng ở mặt sau cực dưới thận
ĐM S4 cấp máu chủ yếu cho nhóm đài IV, khoảng 1/4 dưới thận vàdiện tích ở mặt trước lớn hơn ở mặt sau thận
1.2.5 ĐM phân thùy sau (S5)
Là ngành sau ĐM thận, nhưng cũng có nguyên ủy luôn thay đổi Theosát bờ trên mép sau bể thận, bắt chéo mặt sau bể thận xuống dưới và phânnhánh bên theo kiểu trục chính hoặc theo kiểu phân đôi
* Cách phân chia khác:
Lê Quang Cát và Nguyễn Bửu Triều (1971) [19] cho rằng ĐMT ngoài
xoang rất thay đổi, khó hệ thống hoá nhưng khi tới gần xoang thận thì các
ĐM này phân chia tương đối ổn định và có thể hệ thống hoá được Dựa trên
số lượng nhánh ĐM nhìn thấy được ở rốn thận hoặc bên trong rốn thậnkhoảng từ 0 - 0,5 cm và các vùng thiểu mạch trong nhu mô thận, hai tác giảnày đã chia thận thành 8 phân thuỳ tương ứng với 8 ĐMPT cấp máu 4 phânthuỳ ở nửa trước (S1-S4) và 4 phân thuỳ ở nửa sau (S’1-S’4) Các ĐM nhìn
Trang 21thấy được là các ĐMPT có vị trí liên quan với mép trước và mép sau tươngứng của rốn thận [22].
Động mạch phân thùy 1 (S1): vào khe chính trước trên của rốn thận.Động mạch phân thùy 2 (S2): vào khe phụ trước của bờ trước rốn thậnĐộng mạch phân thùy 3 (S3): vào nửa dưới của mép trước rốn thậnĐộng mạch phân thùy 4 (S4): vào khe chính trước dưới của rốn thậnĐộng mạch phân thùy 5 (S’1): vào đầu sau của mép trên rốn thận
Động mạch phân thùy 6 (S’2): vào khe chính sau trên của rốn thận
Động mạch phân thùy 7 (S’3): vào giữa mép sau của rốn thận
Động mạch phân thùy 8 (S’4): vào khe chính sau dưới của rốn thận, cóthể hơi di lệch lên trên, xung quanh và tận hết ở đó
Lê Quang Cát và Nguyễn Bửu Triều nhận thấy ĐMPT 4 thường nằm ởkhe chính trước dưới rốn thận ĐM này có sự phân bố khá đặc biệt, nó có thểđược coi là ĐM cấp máu cho cực dưới của thận Một nhánh phía sau, chạylướt phía dưới của đài lớn dưới và hơi lệch ra sau, cấp máu cho 2/3 dưới củamặt sau cực dưới thận Ranh giới, phạm vi cấp máu của ĐMPT S4, S’4 (phạm
vi cấp máu của ngành trước bể và sau bể) là 1 đường thẳng kẻ từ góc sau dướirốn thận hoặc thấp hơn trong phạm vi 5 mm hợp với đường nằm ngang 1 góckhoảng 45 - 50 độ
1.3 Các dạng động mạch phân thùy thận
1.3.1 ĐM phân thùy trên
Graves [18] chia ĐM phân thùy trên ra thành bốn dạng dựa trên nguyên ủy
Hình 1.7 Các dạng của ĐM phân thùy trên [18]
Trang 22- Dạng I: ĐM phân thùy trên xuất phát ĐM trước bể hoặc có thânchung với ĐM phân thùy trước trên
- Dạng II: ĐM phân thùy trên xuất phát từ ĐM thận tại nơi phân chia ĐMtrước và sau bể
- Dạng III: ĐM phân thùy trên xuất phát từ ĐM thận hoặc ĐM chủ bụng
- Dạng IV: ĐM phân thùy trên xuất phát từ ĐM sau bể
Bảng 1.2 Tóm tắt kết quả nghiên cứu của các tác giả về các dạng
ĐM phân thùy trên
Tác giả Graves F.T.
[18]
Kher [20]
1.3.2 ĐM phân thùy trước trên
Theo Nguyễn Trung Nghĩa [23], chia ĐM phân thùy trước trên thành 4nhóm theo nguyên ủy:
- Nhóm 1: ĐM phân thùy trước trên có nguyên ủy từ ĐM trước bể
- Nhóm 2: ĐM phân thùy trước trên có nguyên ủy từ ĐMPT trên
- Nhóm 3: ĐM phân thùy trước trên có nguyên ủy từ ĐMPT trước dưới
- Nhóm 4: ĐM phân thùy trước trên có nguyên ủy từ nơi phân chia ĐM
trước và sau bể
1.3.3 ĐM phân thùy trước dưới
Chandragirish S [24], chia ĐM phân thùy trước dưới thành 6 nhómtheo nguyên ủy
- Nhóm I: ĐM phân thùy trước dưới có nguyên ủy từ ĐM trước bể
- Nhóm II: ĐM phân thùy trước dưới có nguyên ủy từ ĐM phân thùy
Trang 23trước trên.
- Nhóm III: ĐM phân thùy trước dưới có nguyên ủy từ ĐM phân thùy dưới
- Nhóm IV: ĐM phân thùy trước dưới có nguyên ủy từ ĐM thận
- Nhóm V: ĐM phân thùy trước dưới có nguyên ủy từ ĐM chủ bụng
- Nhóm VI: ĐM phân thùy trước dưới có nguyên ủy từ ĐM sau bể
Hình 1.8 Các dạng của ĐM phân thùy trước dưới [24].
Bảng 1.3 Tóm tắt kết quả nghiên cứu của các tác giả về các dạng ĐM
phân thùy trước dưới.
Tác giả Verma M.[21] Fine H.[25] Chandragirish S.[24]
1.3.4 ĐM phân thùy dưới
Kher G.A [20] chia ĐM phân thùy dưới ra thành bốn nhóm dựa trênnguyên ủy
- Nhóm I: ĐM phân thùy dưới có nguyên ủy từ ĐM trước bể
- Nhóm II: ĐM phân thùy dưới có nguyên ủy từ ĐM sau bể
Trang 24- Nhóm III: ĐM phân thùy dưới có nguyên ủy từ ĐM thận
- Nhóm IV: ĐM phân thùy dưới có nguyên ủy từ ĐM chủ bụng
Hình 1.9 Các dạng của ĐM phân thùy dưới [26]
Bảng 1.4 Tóm tắt kết quả nghiên cứu của các tác giả về các dạng ĐM
phân thùy dưới
Tác giả Kher G.A.
[20]
Verma M.
[21]
Fine H [25]
Trang 25Hình 1.10 Các dạng ĐM phân thùy trước trên, trước dưới, dưới [18]
- Nhóm I: ĐM phân thùy dưới tách ra đầu tiên, ĐM phân thùy trước trên có thânchung với ĐM phân thùy trước dưới
- Nhóm II: ĐM phân thùy trước trên tách ra đầu tiên, ĐM phân thùy trước dưới
có thân chung với ĐM phân thùy dưới
- Nhóm III: ĐM phân thùy trước trên, trước dưới, dưới tách ra cùng một điểm
Theo Graves [18]: Nhóm I: 53,3%; Nhóm II: 30%; Nhóm III: 16,6% NCcủa Nguyễn Lý Thịnh Trường [27], nhóm I: 41,5%, nhóm II: 32,08%, nhómIII:11,32%
1.3.6 Phân chia phân thùy thận theo hệ thống đài bể thận
Bên cạnh phân thùy động mạch thì một số tác giả đề cập tới việc phânthùy thận theo hệ thống đài bể thận
* S.S.Mikhailov và Sh.R.Sabirov (1976) [28] dựa vào định khuHTĐBT để phân thuỳ thận Mỗi một đài nhỏ tương ứng với một phân thuỳthận và đưa ra định nghĩa phân thuỳ thận là phần nhu mô thận bao gồm đàinhỏ, các tháp thận và vùng vỏ tương ứng Các đài nhỏ không phải bao giờcũng có 1 nhú thận (42%) mà có những đài nhỏ có tới 2 - 6 nhú thận vàthường gặp ở nửa trên của thận Do đó, tác giả đưa ra khái niệm các hạ phânthuỳ thận (subsegment) là phần thận bao gồm các tháp thận và phần vỏ thậntương ứng với một nhú thận Ngoài ra, 2 - 6 đài nhỏ tập trung thành 1 đài lớn
và phần thận tương ứng với các đài lớn được gọi là phân khu (secteur) Vớicác cách phân chia nêu trên thì thận được chia theo hệ thống đài bể thận rathành phân khu, phân thuỳ và hạ phân thuỳ Trong đó, mỗi thận thường có từ
1 - 4 phân khu, 4 - 12 phân thuỳ và mỗi phân thuỳ lại có thể có từ 2 - 6 hạphân thuỳ Các phân thuỳ này được gọi tên theo định khu gồm 2 phân thuỳtrên và dưới và các phân thuỳ trước sau theo thứ tự từ trên xuống dưới 1/3trên thận chiếm 33,6%, 1/3 giữa chiếm 25,8% và 1/3 dưới chiếm 40,6% tổng
Trang 26số các phân thuỳ thận.
* Trịnh Xuân Đàn (1999) [6] nghiên cứu trên người Việt nam đã nhận
xét là các đài nhỏ nằm cạnh nhau thường sát nhập thành một khối đài chung,miệng đài toả hình lá sen về các hướng khác nhau Việc xác định đúng sốlượng các đài nhỏ để phân thuỳ theo chúng là rất khó khăn và thiếu chính xác
Do đó, việc phân thuỳ thận theo các đài nhỏ kể trên là không thực tế và khó
áp dụng trong phẫu thuật vì số lượng và kích thước các phân thuỳ rất thay đổicho mỗi thận Định khu và số lượng các đài nhỏ cũng có những thay đổi nhấtđịnh nhưng vẫn có thể xác định được chúng sắp xếp theo từng nhóm làm cơ
sở để phân chia thận thành các phân thuỳ đài bể thận Nhìn chung, hệ thốngcác đài nhỏ được sắp xếp chủ yếu thành 4 nhóm đài điển hình: nhóm cực trên,giữa trên, giữa dưới và nhóm cực dưới
Dựa vào vùng nhu mô thận được dẫn lưu thuộc các phân thuỳ đài bể thận
có thể chia thận thành 2 nửa trên và dưới (trên lớn hơn dưới) với 4 phân thuỳkhông thật đều nhau và thay đổi theo từng cá thể tuỳ theo số lượng và cách sắpxếp của các nhóm đài Ký hiệu các phân thuỳ đài bể thận hay nhóm đài thậnbằng chữ số la mã (I, II, III, IV) để phân biệt với phân thuỳ ĐM
- Nhóm đài cực trên (I) là nhóm lớn nhất có phạm vi dẫn lưu 1/4 - 1/3trên thận, gồm 3 - 5 đài nhỏ tạo thành nguyên ủy cơ bản của đài lớn trên Một
số đài nhỏ đầu tiên hoặc cả nhóm đài trên thường hoà thành một miệng phễuchung ôm lấy các nhú tháp từ các hướng khác nhau Tuy nhiên, vẫn có thểthấy các rãnh liên đài và có 1 rãnh sâu ngăn cách 1 hay 2 đài nhỏ phía ngoàivới phần còn lại ở phía trong hoặc đôi khi nhóm đài này tách đôi thành 2nhóm nhỏ
- Nhóm đài giữa trên (II) dẫn lưu 1/6 - 1/5 giữa trên thận gồm có 1-2 đàinhỏ hướng theo hai mặt trước sau và lệch nhau theo chiều trên dưới đổ vàogiữa cuống đài lớn trên Đôi khi nhóm II đổ lệch vào giữa bể thận khi đài trênngắn hoặc sát nhập với nhóm đài 1 và được bù trừ bởi 1 - 2 đài trung gian đổ
Trang 27vào phần giữa bể thận Đôi khi nhóm này không có và được bù trừ bởi sự pháttriển trội của nhóm đài I.
- Nhóm đài giữa dưới (III) dẫn lưu 1/5-1/4 giữa dưới thận và thườnggồm 2 đài nhỏ nằm hơi lệnh nhau đổ vào đài lớn dưới hoặc giữa dưới bể thận.Một số trường hợp nhóm III phát triển trội gồm 2 đôi đài nhỏ cùng đổ vào đàilớn dưới hoặc 1 đôi đổ lệch lên trên vào bể thận, bù trừ cho nhóm II thu hẹphoặc đổ cao
- Nhóm đài cực dưới (IV) luôn bé hơn nhóm đài cực trên, dẫn lưu khoảng1/4 dưới thận, thường gồm 2- 4 đài nhỏ và phân biệt rõ hơn các đài nhóm 1 Đôikhi 2 - 3 đài kề nhau cùng hoà thành một miệng phễu tương tự nhóm cực trênhoặc có 1 đài nhỏ của nhóm này tách rời (phân đôi nhóm cực dưới)
1.4 Lược sử nghiên cứu về động mạch thận và động mạch phân thùy thận ở trong nước
* Trong nước:
Tác giả Lê Quang Cát chia nhỏ phân thùy sau của Graves thành 4 phânthùy dựa trên các nhánh của ngành sau ĐM thận [29]
Năm 1984, Nguyễn Thế Trường nghiên cứu về giải phẫu xoang thận, đã
mô tả kỹ về hình thái, số lượng, kích thước ĐM thận, các nhánh ĐM thận ởtrước và sau bể cũng như liên quan của chúng với bể thận ứng dụng vào phẫuthuật thận Nhìn chung, thân chính của ĐM thận chia thành 2 ngành trước vàsau tại bất kì điểm nào giữa rốn thận và ĐM chủ bụng Ngành trước tách rathành ĐM phân thùy đỉnh, ĐM phân thùy trên, ĐM phân thùy giữa, ĐM phânthùy dưới Ngành sau cấp máu cho phân thùy sau, nhưng nó cũng có thể tách
Trang 28giả mô tả liên quan ĐM phân thùy với hệ thống đài bể thận và đối chiếu cácphân thùy thận lên bề mặt thận Một điểm mới trong nghiên cứu, tác giả đãphân chia ĐM phân thùy sau của Graves thành hai ĐM hạ phân thùy là ĐM
hạ phân thùy sau trên và sau dưới [6]
Năm 1999, Vũ Văn Hà cũng đã mô tả các ngành ĐM trước và sau bể,các nhánh ĐM cấp máu cho cực dưới trong nghiên cứu giải phẫu bể thận ứngdụng lấy sỏi thận [32]
Năm 2002, Nguyễn Lý Thịnh Trường trong nghiên cứu của mình thựchiện trên xác cũng đã áp dụng cách phân chia và gọi tên của Graves trong mô
tả nguyên ủy của ĐM phân thùy [33]
* Nước ngoài:
Năm 1954, nhà phẫu thuật tiết niệu người Anh F.T.Gaves qua nghiêncứu trên 43 khuôn đúc ĐM thận đã nhận xét ĐM trong nhu mô thận sắp xếptheo một mẫu nhất định Dựa vào sự phân bố ĐM phân thùy, ông chia làm 5phân thùy: Đỉnh, trên, giữa, dưới và sau Đồng thời ông cũng đưa ra các dạng
ĐM phân thùy thuộc ĐM trước bể [18]
Tuy nhiên, có nhiều quan điểm chia phân thùy thận theo động mạch cấp máu Tác giả Hyrlt (1867) và tác giả Brodel (1901) chia thận làm 2 nửa làvùng trước và vùng sau [32]
Tác giả Boyce (1960) chia thận thành 4 vùng: đỉnh, mặt trước, mặt sau
và cực dưới [32]
Tuy phân thùy thận theo ĐM có khác nhau, song các tác giả đều thốngnhất là ĐM thận không có sự nối tiếp trong thận, khi tổn thương một nhánh
ĐM sẽ gây nhồi máu cho cả vùng nhu mô mà ĐM đó chi phối
Năm 1992 Sampaio và Passos [14], năm 2004 Khamanarong và cộng
sự [34], phân chia ĐM thận ngoài xoang thận dựa theo số lượng ĐM thận vàcác nhánh cực trên, cực dưới Đồng thời tác giả cũng đưa ra định nghĩa về
ĐM thận chính hay ĐM rốn thận, ĐM thận phụ hay “ĐM thận thêm vào”
Trang 29(additional renal arteries) là ĐM cực thận xuất phát từ ĐM chủ bụng.
Năm 2014, tác giả Chandragirish S và cộng sự qua nghiên cứu ĐMthận trên tiêu bản ăn mòn, đã phân chia ĐM phân thùy theo các dạng khácnhau dựa trên nguyên ủy của ĐM [24], [26]
1.5 Kĩ thuật chụp cắt lớp vi tính nghiên cứu động mạch thận và động mạch phân thùy thận
Máy chụp CLVT đầu tiên là máy chụp sọ não do tiến sỹ vật lý người AnhHounsfield cùng Ambrose phát minh ra vào năm 1971 Dựa vào lý thuyết vềtái tạo ảnh cấu trúc của một vật thể 3 chiều, Hounsfield đã thiết kế một máychụp CLVT gồm một hệ thống phát xạ tia X và những đầu dò đối diện vớibóng X quang Hệ thống này quay quanh một đường tròn tại một mặt phẳngvuông góc với trục cơ thể Chùm tia X khi đi qua cơ thể sẽ bị hấp thụ mộtphần, phần còn lại sẽ được đầu dò ghi lại Một lớp cắt được chia ra nhiều đơn
vị thể tích, mỗi đơn vị thể tích sẽ hiện lên ảnh như một điểm nhỏ, tổng cácđiểm hợp thành một quang ảnh Độ hấp thụ tia X của từng đơn vị thể tíchđược bộ nhớ ghi lại, cấu trúc hấp thụ tia X càng nhiều thì tỷ trọng càng cao vìvậy người ta còn gọi chụp CLVT là chụp cắt lớp đo tỷ trọng
Từ máy chụp CLVT đầu tiên ra đời đến nay máy chụp CLVT luôn luônđược đổi mới với mục đích là:
- Rút ngắn thời gian quét của bóng X quang cho một vòng quay 3600
quanh cơ thể
- Rút ngắn thời gian tạo ảnh và cải thiện chất lượng hình ảnh [35].Với các thế hệ máy cũ có thời gian cắt lâu và chỉ thu được một hình ảnhcho một chu kỳ quay do đó không thích hợp cho việc kiểm tra mạch máu.Ngày nay sự xuất hiện của các máy thế hệ mới CLVT đa dãy đầu dò 16, 64,128,… lớp cắt cho một vòng quay của bóng X quang với thời gian nhanh nhất0,3s trên bề dày lớp cắt 0,6mm, tái tạo hình ảnh 3D đã nâng cao độ phân giảiảnh và chất lượng chẩn đoán CLVT 128 dãy đã cho phép khảo sát các bệnh lýcủa ĐM vành, là những nhánh mạch rất nhỏ trong tim [36], kỹ tuật này không
Trang 30những đánh giá được tổn thương hẹp, tắc mạch mà còn giúp phát hiện cácbiến thể giải phẫu của mạch máu và hoạch định kế hoạch điều trị [37].
Máy chụp CLVT 128 dãy ra đời tạo ra một bước ngoặt trong lĩnh vựcchẩn đoán hình ảnh với tốc độ thăm khám nhanh, chất lượng hình ảnh cao và
sự vượt trội về phần mềm tạo ảnh [38] Máy chụp CLVT 128 dãy đã cho thấy
rõ hiệu quả to lớn trong chẩn đoán bệnh, đặc biệt là bệnh lý tim mạch và cácmạch máu toàn thân từ hệ ĐM cảnh, ĐM não, ĐM chi, ĐM các tạng
Máy chụp CLVT 128 dãy có khả năng dựng ảnh trên nhiều lớp cắt:
- Trên lớp cắt ngang (Axial)
- Tái tạo ảnh theo mặt phẳng đứng ngang (Coronal)
- Tái tạo ảnh theo mặt phẳng đứng dọc (Sagittal)
- VR (Volume Rendering) là kỹ thuật tái tạo ảnh đa thể tích, phần mềmnày giúp cắt các khối thể tích theo các hướng khác nhau và tạo ảnh ba chiều[39],[40]
- Từ hai phần mềm tạo ảnh này sẽ dựng lại được toàn bộ hệ thống mạchmáu, giúp chúng ta đo lường kích thước, mô tả vị trí xuất phát, đường đi,phân nhánh và liên quan của mạch máu
- Phần mềm tạo ảnh MIP và VR là những phần mềm khảo sát mạch máu
mà các thế hệ máy chụp CLVT 4, 8, 16… dãy không có, đã thể hiện tính ưuviệt vượt trội của nó trong chẩn đoán, đặc biệt thấy được hình ảnh giải phẫucủa hệ mạch, các biến đổi của chúng và các bệnh lý liên quan [41]
Trang 31Đây là kĩ thuật không xâm lấn, cho chẩn đoán chính xác được tổnthương, cũng như liên quan không gian của mạch thận với thận, và các tổchức xung quanh Nhờ đó xác định được phương pháp xử trí các tổn thươngcũng như tiên lượng.
Hiện nay, chụp CLVT đã trở thành phương pháp chẩn đoán hình ảnhđược lựa chọn đầu tiên để đánh giá các tổn thương hình thái học và chức năngcủa thận, đặc biệt là tình trạng nhu mô thận sau chấn thương với độ chính xáccao 92,5% Chụp CLVT có độ nhạy, độ đặc hiệu cao hơn hẳn chụp UIV vàcác phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác Với chụp có thuốc cản quang,CLVT đã thay thế UIV trong chẩn đoán chấn thương thận [42], [43] ChụpCLVT được chỉ định rộng rãi trong các trường hợp chấn thương có huyết
Trang 32động ổn định hoặc những trường hợp nghi ngờ có tổn thương phối hợp trongbệnh cảnh đa chấn thương [44], [45], [46] Hiện nay, chụp CLVT xoắn ốc cóthể đánh giá được phần lớn chấn thương mạch máu và thay thế dần vai trò củachụp mạch thận.
Chụp CLVT hệ tiết niệu cản quang ở thì sớm và muộn là cần thiết đểđánh giá đầy đủ tổn thương Phim chụp cuối của thì vỏ thận hoặc thì chụpthận sớm cho thấy rõ nhất hình ảnh cản quang mạch máu và có thể xác địnhđược thoát thuốc ra ngoài mạch máu Chụp thì bài tiết muộn (trên 3 phút saukhi tiêm) sẽ đánh giá hoàn chỉnh tổn thương thận nghi ngờ tránh bỏ sót chấnthương đường bài tiết [47]
Phẫu thuật tán sỏi qua da là phương pháp điều trị sỏi thận kỹ thuật cao,
ít sang chấn có khả năng thay thế cho mổ mở điều trị các sỏi lớn (> 2cm) ởđoạn trên niệu quản và thận, đặc biệt với sỏi san hô Việc tạo đường hầm đểtán sỏi tránh được các mạch máu trong thận, hạn chế biến chứng chảy máu rấtquan trọng Với phim cắt lớp vi tính 128 dãy có dựng hình, việc xác định rõvùng ít mạch máu đã trở nên dễ dàng hơn nhiều khi có thể nhìn rõ đến tận cácđộng mạch gian tiểu thùy
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Bệnh nhân nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhân được chụp động mạch thận
và động mạch phân thùy thận trên phim chụp cắt lớp vi tính 128 dãy hệ tiếtniệu tại phòng chụp CLVT Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 02/2018 đếntháng 07/2018
Cỡ mẫu nghiên cứu dựa vào công thức tính cỡ mẫu:
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính và ảnh dựng hình động mạch thận và độngmạch phân thùy thận được chụp tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Đạihọc Y Hà Nội
Trang 34- Hình ảnh rõ ràng
- Hiện rõ các động mạch thận và động mạch phân thùy thận trong cuống thậntới
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Tất cả BN không đạt tiêu chuẩn mô tả trên đều bị loại khỏi NC
Tất cả BN bị nhiễu ảnh, không hiện rõ được hệ thống động mạch thận
2.1.4 Phương tiện nghiên cứu
Máy CLVT OPTIMA 128 GE tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Máy bơm thuốc TM tự động, thuốc cản quang không ion
Phần mềm xử lý dựng hình và phân tích INFINITE PACK
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cách lấy mẫu nghiên cứu
Lấy mẫu thuận tiện Nghiên cứu mô tả, thu thập thông tin trên các tưliệu lưu trữ tại khoa Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lấy ngẫu nhiên Thu thậpcác thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu dựa vào biến số NC, ghi vàomẫu, rồi lập bảng NC và phân tích số liệu thu được
Quy trình nghiên cứu
- Bước 1: Thu thập các hình ảnh chụp CLVT 128 dãy hệ tiết niệu có tiêm thuốccản quang của các bệnh nhân trong tiêu chuẩn lựa chọn
- Bước 2: Sử dụng các phim cắt lớp ngang ở thì muộn và thì động mạch tái tạohình ảnh VR và MIP
- Bước 3: Thu thập và đo đạc các thông số cần thiết trên máy tính điền vào mẫubệnh án nghiên cứu
2.2.3 Thiết lập biến số nghiên cứu
Trang 35Tên biến Định nghĩa biến Đơn
vị
Phương pháp thu thập
Nguyên ủy của
ĐM thận
Nơi ĐM thận tách ra từ ĐM chủ bụng bên (P) và (T) %
Nguyên ủy của
ĐM cực trên Nơi ĐM cực trên tách ra %
Dựng hình MIP,
VR để xác định Nguyên ủy của
ĐM cực dưới Nơi ĐM cực dưới tách ra %
Dựng hình 3D,MIP, MPR để xác định
Trang 36Tên biến Định nghĩa biến Đơn
vị
Phương pháp thu thập
thùy trước trên,
trước dưới, dưới
Trang 37- Thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch: Xenetix 350mg, tốc độ tiêm máy 3ml/s, liều1ml/kg cân nặng.
- Dựng hình trên các mặt phẳng ngang, đứng ngang, đứng dọc tái tạo dựng lạicác ảnh hệ thống ĐM thận và các ĐM phân thùy theo kiểu MIP và VR là chủyếu
- MIP là kỹ thuật dùng hiện ảnh với đậm độ cao nhất từ các khối thể tích củacác lát cắt theo chiều hướng khác nhau đặc biệt có ý nghĩa trong dựng hìnhcác mạch máu
- VR là kỹ thuật tái tạo ảnh đa thể tích, phần mềm này giúp cắt các khối thể tích
đó theo các hướng khác nhau và tạo hình ảnh, cho phép quan sát cấu trúc dướidạng hình ba chiều, nhưng không cho thông tin về tỷ trọng cấu trúc đượcdựng Kỹ thuật tạo ảnh này đặc biệt có ý nghĩa trong việc đánh giá bất thường
Dùng biểu mẫu để thu thập thông tin
Các thông tin về quan sát các nhánh, các đoạn đều thống nhất rõ ràng.Làm sạch số liệu trước khi xử lý
Khi nhập số liệu và xử lý được tiến hành hai lần để đối chiếu kết quả
2.2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Việc tiến hành nghiên cứu phải được xin phép và được sự đồng ý của
Bộ môn Giải phẫu, Ban Giám Hiệu Trường Đại học Y Hà Nội và Cán bộkhoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Đại học Y Hà Nội, bệnh nhân của bệnhviện mới thu thập số liệu
Các thông tin thu được của bệnh nhân chỉ dùng với mục đích nghiên cứu.Nghiên cứu chỉ nhằm vào việc bảo vệ, nâng cao sức khoẻ cho nhân dân
Trang 38chứ không nhằm mục đích nào khác.
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Phân bố theo giới
Trong 128 bệnh nhân nghiên cứu, số BN nam là 78 chiếm tỉ lệ 61%, số
BN nữ là 50 chiếm tỉ lệ 39% (Biểu đồ 3.1)
- Tỉ lệ nam/nữ khoảng 1.6/1, p = 0.007 < 0.01
- Tỉ lệ nam và nữ là không như nhau với mức ý nghĩa 99%
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân nghiên cứu theo giới
3.1.2 Phân bố theo tuổi
- Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 49 ± 14
- Bệnh nhân ít tuổi nhất là 20 tuổi
- Bệnh nhân cao tuổi nhất là 82 tuổi (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Trang 40Hình 3.1 Vị trí ĐM thận đối chiếu lên cột sống trên bệnh nhân Phùng Duy K 24 tuổi.
3.2.2 Nguyên ủy của ĐM thận đối chiếu lên cột sống
- Trong 256 thận, tỉ lệ ĐM thận có nguyên ủy tương ứng đốt sống L1 và gian đốt
sống L1 – L2 chiếm tỉ lệ cao nhất lần lượt là 46.1% và 37.9% (Hình 3.1)
- Chỉ có 1 trường hợp ĐM thận có nguyên ủy ở đốt sống D12 chiếm tỉ lệ 0.4%
- Không ghi nhận trường hợp nào ĐM thận có nguyên ủy tương ứng ở phíatrên đốt sống D12 và dưới đốt sống L2
Bảng 3.2 Nguyên ủy của động mạch thận so với cột sống
ĐM thận Thận phải n % Thận trái n % n Chung %