1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THỰC TRẠNG NUÔI DƯỠNG BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH máu não tại BỆNH VIỆN lão KHOA TRUNG ƯƠNG năm 2019

94 220 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 429,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tai biến mạch máu não TBMMN là bệnh thường gặp ở người cao tuổi,là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư ở cácnước phát triển... Ngoài ra sau

Trang 1

LÊ THANH HÀ

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ THỰC TRẠNG

NUÔI DƯỠNG BỆNH NHÂN TAI BIÊN MẠCH MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ DINH DƯỠNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TÊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LÊ THANH HÀ

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ THỰC TRẠNG

NUÔI DƯỠNG BỆNH NHÂN TAI BIÊN MẠCH MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG NĂM 2019

Chuyên ngành: Dinh dưỡng Mã số: 60720303

LUẬN VĂN THẠC SĨ DINH DƯỠNG

Người hướng dẫn khoa học

1 TS Nghiêm Nguyệt Thu

2 PGS.TS Phạm Văn Phú

Trang 3

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơnTS.BS Nghiêm Nguyệt Thu và PGS.TS Phạm Văn Phú đã tận tình hướngdẫn và chỉ bảo cặn kẽ cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.

Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Ban Lãnh đạo và Phòng ĐT –QLKH – HTQT của Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng đã tạođiều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành luận văn này

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo SauĐại học Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo môi trường học tập thuận lợi cho emtrong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Bộ môn Dinh dưỡng & An toànthực phẩm – Viện Y học Dự phòng và Y tế Công cộng đã đóng góp nhiều ykiến quy báu cho em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Bệnh viện Lão khoa Trungương, y bác sĩ đang công tác tại khoa Cấp cứu và Đột Quị, khoa Thần kinh -Alzheimer đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho em trong quá trình thu thập số liệu đểhoàn thiện luận văn

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, ngườithân và bạn bè đã luôn ở bên động viên, khích lệ để em không ngừng học tậpvà phấn đấu trưởng thành như ngày hôm nay

Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Học viên

Lê Thanh Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOANKính gửi:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội.

- Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Y Hà Nội.

- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng - Trường Đại học

Y Hà Nội.

- Bộ môn Dinh dưỡng & An toàn thực phẩm.

- Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp thạc sĩ năm học 2017 – 2019.

Em xin cam đoan đây là nghiên cứu của em Các số liệu, cách xử ly,phân tích số liệu là hoàn toàn trung thực và khách quan Các kết quả nghiêncứu này chưa được công bố trên bất kỳ tài liệu nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Học viên

Lê Thanh Hà

Trang 5

BMI Body Mass Index: Chỉ số khối cơ thể

CED Chronic Energy Deficiency: Thiếu năng lượng trường diễn CRP C – reactive protein: Protetin phản ứng C

EN Enteral nutrition: nuôi dưỡng đường ruột

ESPEN European Society for Clinical Nutrition and Metabolism

Hiệp hội Dinh dưỡng lâm sàng Châu Âu MNA Mini Nutritional Assessment

MUAC Mid upper arm circumference: Chu vi vòng cánh tay

NRS 2002 Nutritional Risk Screening 2002: Công cụ sàng lọc nguy cơ

dinh dưỡng 2002

PN Parenteral Nutrition: nuôi dưỡng đường tĩnh mạch

SDD Suy dinh dưỡng

SGA Subjective Global Assessment: Công cụ đánh giá tổng thể

chủ quan TBMMN Tai biến mạch máu não

THA Tăng huyết áp

TTDD Tình trạng dinh dưỡng

WHO World Health Organization: Tổ chức Y tế Thế Giới

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐÊ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Đại cương về tai biến mạch máu não 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Phân loại 3

1.1.3 Các yếu tố nguy cơ 4

1.1.4 Tỷ lệ mắc TBMMN trên Thế Giới và ở Việt Nam 6

Trang 6

1.2.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân TBMMN 8

1.2.3 Phương pháp nuôi dưỡng bệnh nhân TBMMN 9

1.2.4 Nguyên tắc dinh dưỡng cho bệnh nhân TBMMN 12

1.3 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng 14

1.3.1 Khái niệm 14

1.3.2 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng đối với người bệnh TBMMN 14

1.4 Thực trạng tình trạng dinh dưỡng và nuôi dưỡng người bệnh TBMMN .20 1.4.1 Thế Giới 20

1.4.2 Việt Nam 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

2.2 Thiết kế nghiên cứu 22

2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 22

2.3.1 Cỡ mẫu 22

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 23

2.4 Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá 23

2.4.1 Nhân trắc 23

2.4.2 Sàng lọc dinh dưỡng theo bộ công cụ NRS 2002 25

2.4.3 Thực trạng nuôi dưỡng và khẩu phần ăn 27

2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu 27

2.6 Quy trình thu thập số liệu 28

2.7 Phân tích số liệu 29

2.8 Sai số và khống chế sai số trong nghiên cứu 29

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29

Trang 7

3.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 33

3.2.1 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu lúc nhập viện 33

3.2.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu sau quá trình nằm viện 37

3.3 Thực trạng nuôi dưỡng của đối tượng nghiên cứu 39

3.3.1 Các đường nuôi ăn và thời gian nuôi ăn 39

3.3.2 Khẩu phần ăn trong quá trình nằm viện 41

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 44

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: 44

4.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 46

4.2.1 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu lúc nhập viện 46

4.2.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu sau 7 ngày nhập viện 51 4.3 Thực trạng nuôi dưỡng của đối tượng nghiên cứu 54

4.3.1 Các đường nuôi dưỡng và thời gian nuôi ăn 54

4.3.2 Khẩu phần ăn trong quá trình nằm viện 55

KÊT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: Phân loại tình trạng dinh dưỡng cho người trưởng thành 16

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.2 Đặc điểm bệnh ly của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.3 Số đối tượng nghiên cứu sử dụng MUAC và chiều dài cẳng chân để ước tính cân nặng và chiều cao 33

Bảng 3.4 Đặc điểm nhân trắc của bệnh nhân lúc nhập viện 34

Bảng 3.5 Tình trạng dinh dưỡng theo chu vi vòng cánh tay 35

Trang 8

Bảng 3.8 Thay đổi chu vi vòng cánh tay trong tuần đầu nhập viện 37

Bảng 3.9 Thay đổi cân nặng của bệnh nhân trong tuần đầu nhập viện 37

Bảng 3.10 Chỉ số BMI lúc nhập viện và sau 7 ngày nằm viện 37

Bảng 3.11 Chỉ số Albumin, CRP, Hemoglobin máu trong 7 ngày nằm viện 38

Bảng 3.12 Chỉ số Cholesterol, Triglycerid, HDL-cholesterol, LDL-cholesterol máu trong 7 ngày nằm viện 38

Bảng 3.13 Tỷ lệ các đường nuôi dưỡng bệnh nhân trong 7 ngày từ lúc nhập viện 39

Bảng 3.14 Tỷ lệ bệnh nhân được nuôi ăn trong vòng 48 giờ đầu sau nhập viện 40

Bảng 3.15 Tỷ lệ bệnh nhân được nuôi ăn qua sonde dạ dày trong vòng 48h đầu sau nhập viện 40

Bảng 3.16 Mức tiêu thụ năng lượng trung bình từ khẩu phần ăn trong 7 ngày nuôi dưỡng 41

Bảng 3.17 Giá trị năng lượng và protein theo cân nặng bệnh nhân đạt được trong tuần đầu nhập viện 41

Bảng 3.18 Mức năng lượng khẩu phần bệnh nhân đạt được trong ngày đầu nhập viện và ngày 7 sau nằm viện 42

Bảng 3.19 Mức protein khẩu phần bệnh nhân đạt được trong ngày đầu nhập viện và ngày 7 sau nằm viện 43

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Các bệnh ly khác kèm theo 33Biểu đồ 3.2 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân lúc nhập viện theo BMI 34Biểu đồ 3.3 Nguy cơ dinh dưỡng của bệnh nhân lúc nhập viện theo NRS 2002 .36

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Các bước đo chu vi vòng cánh tay 23Hình 2.2 Cách đo chiều dài cẳng chân 24

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐÊ

Ngày nay, dân số người cao tuổi đang tăng lên nhanh chóng cả về sốlượng và tỷ lệ so với tổng dân số Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), dân sốgià là một thách thức mới trong vấn đề chăm sóc sức khỏe Theo dự báo dânsố của Tổng cục điều tra dân số (2010) tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân sốViệt Nam đã lên đến 10% vào năm 2012 [1] Dân số già hóa kéo theo tỷ lệmắc các bệnh tuổi già ngày càng tăng

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là bệnh thường gặp ở người cao tuổi,là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư ở cácnước phát triển Theo báo cáo của WHO tỷ lệ mắc mới của TBMMN trongmột năm là từ 100-250/100.000 dân [2] TBMMN là bệnh có tỷ lệ tử vong rấtcao hoặc để lại những di chứng hết sức nặng nề, ảnh hưởng đến đời sống, sinhhoạt của người bệnh, gia đình và xã hội Năm 2013 trên toàn cầu, có gần 25,7triệu người sống sót sau TBMMN, 6,5 triệu người chết vì TBMMN, 113 triệungười giảm hoặc mất khả năng vận động dẫn đến khyết tật do TBMMN, 10,3triệu người mắc mới TBMMN [3] Chi phí cho điều trị, chăm sóc bệnh nhânTBMMN rất tốn kém song kết quả đạt được còn hạn chế Hoa Kỳ mỗi nămchi tiêu 7 tỷ đô la cho TBMMN, ở Pháp chi phí cho TBMMN chiếm 2,5-3,0%tổng số chi phí y tế trong cả nước [4]

Ở Việt Nam, vấn đề dịch tễ học TBMMN trong cộng đồng chỉ mới đượcquan tâm gần đây Số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy có nhiều người mắcbệnh ly mạch máu não và có tỷ lệ từ vong rất cao Theo công trình nghiên cứudịch tễ học TBMMN ở Việt Nam từ năm 1989-1994 của Bộ môn thần kinhtrường Đại học Y Hà Nội và trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minhcho thấy tỷ lệ hiện mắc ở Hà Nội là 105/100.000 dân, ở thành phố Hồ ChíMinh là 400/100.000 dân, ở Huế là 106/100.000 dân Tỷ lệ tử vong doTBMMN ở 3 địa phương trên lần lượt là: 17,6% ở Hà Nội, 28,0% ở thành phốHồ Chí Minh và 30,7% ở Huế [5]

Trang 11

Bệnh nhân TBMMN thường giảm hoặc mất khả năng vận động, liệt nửangười, rối loạn nuốt, giảm độ nhạy của các cơ quan cảm thụ: thị giác, thínhgiác, khứu giác và vị giác Những vấn đề này thường làm bệnh nhân khó khăntrong việc đi lại, ăn uống Từ đó thể trạng cũng như khả năng phục hồi củabệnh nhân giảm rõ rệt, tăng nguy cơ SDD [6]

Tình trạng SDD trong quá trình nằm viện chiếm tỉ lệ khá cao Ở Úc tỷ lệSDD ở người bệnh mới vào viện chiếm khoảng 40% Ở Brazil tỷ lệ SDD nằmviện là 56,5%, trong đó SDD nặng là: 17,4%, SDD nhẹ và vừa là 39,1% [7].Theo Hiệp hội dinh dưỡng lâm sàng châu Âu ESPEN (2006) thì tỷ lệ SDDchiếm 20 - 60% bệnh nhân nằm viện và có đến 30 - 60% bị giảm cân trongthời gian điều trị [8]

Người ta ước tính cứ 5 bệnh nhân TBMMN nhập viện thì có 1 bệnh nhâncó tình trạng SDD [9] Một nghiên cứu của Foley NC (2009) ước tính tỷ lệSDD sau TBMMN dựa trên 18 báo cáo khác nhau nhận thấy tỷ lệ SDD daođộng từ 6,1 đến 62,0% [10] Bệnh nhân TBMMN nếu kèm theo SDD càng làmtăng nguy cơ gây suy giảm miễn dịch, nhiễm khuẩn bệnh viện, tàn phế, tăngthời gian nằm viện và thậm chí có thể dẫn đến tử vong

Để có thể góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc điều trị cũng nhưgiảm chi phí chăm sóc y tế, giảm biến chứng, cải thiện tình trạng dinh dưỡng

cho người bệnh TBMMN Đề tài: “Tình trạng dinh dưỡng và thực trạng nuôi dưỡng bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện Lão khoa trung ương năm 2019” được tiến hành nhằm mục tiêu sau:

1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2019.

2 Mô tả thực trạng nuôi dưỡng bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2019.

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đại cương về tai biến mạch máu não

1.1.1 Định nghĩa

Tai biến mạch máu não là một hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi các dấuhiệu rối loạn chức năng của não (khu trú hoặc toàn thể) phát triển nhanh, kéodài trên 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong, không xác định nguyên nhân nào khácngoài căn nguyên mạch máu [11]

1.1.2 Phân loại

TBMMN não thực ra là một nhóm bệnh ly khá phức tạp do nhiều nguyênnhân tùy thuộc vào vị trí tổn thương (động mạch, tĩnh mạch), vào cơ chế bệnhsinh (chảy máu, thiếu máu).v.v

TBMMN thường được phân thành ba loại:

+ TBMMN thiếu máu cục bộ não (nhồi máu não hay nhũn não)

+ TBMMN chảy máu não

+ Loại hỗn hợp vừa chảy máu não vừa nhồi máu não

Thiếu máu não cục bộ là hậu quả của sự giảm đột ngột lưu lượng tuầnhoàn não do tắc một phần hay toàn bộ một động mạch não Khu vực đượctưới bởi mạch máu bị tắc không được nuôi dưỡng sẽ bị hủy hoại nhũn ra.Trong thiếu máu cục bộ não người ta phân biệt các loại:

Thiếu máu cục bộ não thoáng qua: được coi là nguy cơ của thiếu máucục bộ hình thành

Thiếu máu cục bộ não hồi phục: nếu quá trình phục hồi quá 24 giờkhông di chứng hoặc di chứng không đáng kể

Thiếu máu cục bộ não hình thành: không hồi phục, di chứng nhiều.Chảy máu não: là sự xuất hiện của máu trong nhu mô não Có thể đikèm máu trong khoang dưới nhện và các não thất [12]

Trang 13

1.1.3 Các yếu tố nguy cơ

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây TBMMN, được chia thành 2 nhóm: Nhómkhông thay đổi được và nhóm thay đổi được [13]

1.1.3.1 Nhóm yếu tố nguy cơ không thay đổi được

Tuổi: Yếu tố tác động mạnh nhất đến TBMMN là tuổi Theo nghiên cứu

của nhiều tác giả, TBMMN có chiều hướng tăng theo tuổi, tuổi càng cao cónguy cơ mắc bệnh càng tăng Cứ 10 năm sau 55 tuổi, tỷ lệ TBMMN tăng gấpđôi ở cả nam và nữ [14] Hơn một nửa bệnh nhân TBMMN xảy ra ở ngườitrên 75 tuổi và hơn 80% ở người trên 65 tuổi [15] Nghiên cứu của Trần QuốcKhánh (2009), Đặng Việt Thu (2011), tuổi trung bình bệnh nhân TBMMN lầnlượt là 71,0 ± 8.4 và 72,1 ± 8.0 [16],[17]

Giới: TBMMN hay gặp ở nam nhiều hơn ở nữ Nghiên cứu của Đinh

Văn Thắng (2007) thấy tỷ lệ nam và nữ lần lượt là 54,3% và 45,7%, tỷ lệnam/nữ là 1,1/1,0 [18] Nghiên cứu của Đặng Việt Thu (2011) thấy tỷ lệ namvà nữ lần lượt là 56,0% và 44,0%, tỷ lệ nam/nữ là 1,27/1,0 [17]

Chủng tộc: So với người da trắng, những người da đen có tỷ lệ tử vong

do TBMMN cao hơn Với độ tuổi như nhau, tỷ lệ mới mắc TBMMN ở người

da đen cao hơn người da trắng [19] Trong một nghiên cứu dịch tễ của HoaKỳ, ở cùng độ tuổi như nhau, tỷ lệ tử vong do TBMMN ở người da đen gấp1,98 lần so với người da trắng [20]

Các yếu tố di truyền: tiền sử bố mẹ mắc TBMMN đều làm tăng nguy

cơ mắc bệnh này ở con cái Các bất thường về di truyền có thể làm bộc lộ cácyếu tố nguy cơ như THA, ĐTĐ, tăng lipid máu, tăng hormocystein máu, rốiloạn đông máu Giảm nồng độ Protein C, Protein S, đột biến yếu tố Vleidenvà giảm các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch Phìnhtách động mạch, hội chứng moyamoya, loạn sản xơ cơ đều có yếu tố giađình chiếm từ 10 đến 20% các trường hợp [21]

Trang 14

1.1.3.2 Nhóm yếu tố nguy cơ biến đổi được

Tăng huyết áp (THA): là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất trong

TBMMN Khi THA đột ngột sẽ gây vỡ các vi tĩnh mạch, gây nên hiện tượngchảy máu não Mặt khác THA cũng thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch,hình thành cục máu đông gây tắc mạch não [22]

Đái tháo đường (ĐTĐ): Ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ các nghiên

cứu đều cho rằng ĐTĐ là yếu tố nguy cơ gây ra tất cả các thể TBMMN [22],[23] Nghiên cứu UKPDS (United Kingdom Prospective Diabetes Study) chothấy giảm nồng độ HbA1C xuống 1% liên quan với giảm 15% nguy cơ mắcTBMMN và 18% nhồi máu cơ tim [24]

Rối loạn lipid máu: Nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa nồng độ lipid

máu và TBMMN đã được thực hiện từ năm 1930, Nghiên cứu về Tim mạch củaFrick MH (1987) trên 1081 người tuổi từ 40-55 điều trị Gemifibrozil và giả dượctheo dõi 5 năm thấy hạ lipid máu làm giảm 34% nguy cơ TBMMN [25]

Béo phì: Người ta cho rằng béo phì không trực tiếp gây TBMMN mà có

thể thông qua các bệnh ly tim mạch Những kết quả nghiên cứu ở Bắc Mỹ,Châu Phi cận Sahara và Châu Âu cho thấy béo phì là yếu tố nguy cơ gây ra tấtcả các thể TBMMN Những nghiên cứu gần đây cho rằng béo phì liên quanchặt chẽ với xơ vữa động mạch [26]

Các bệnh lý tim mạch: Các bệnh tim mạch gây tắc mạch não như: Hẹp

hai lá, rối loạn nhịp tim đặc biệt là rung nhĩ, rung thất, bệnh cơ tim là yếu tốnguy cơ quan trọng nhất của nhồi máu cơ tim ở các nước phát triển Vai tròbệnh ly tim mạch dẫn đến TBMMN tăng theo tuổi Theo nghiên cứuFramingham, sau 36 năm thấy 8% TBMMN do THA, 32,7% do bệnh mạchvành, 14,5% do suy tim, 14,5% do rung nhĩ và chỉ có 13,6% không do cácbệnh trên [27]

Trang 15

Thuốc lá: Hút thuốc là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với nhồi máu

cơ tim và TBMMN Nghiên cứu Framingham cho thấy nguy cơ TBMMNgiảm đáng kể sau 2 năm không hút thuốc [27]

Lạm dụng rượu: Hiện nay các nghiên cứu trên thế giới còn nhiều y kiến

khác nhau về vai trò của rượu đối với TBMMN Có tác giả thấy tỷ lệ tiêu thụrượu tăng lên 10% sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ mới mắc TBMMN lên 29% vàtỷ lệ tử vong do TBMMN lên 16% Sau khi mắc TBMMN lần đầu, việc lạmdụng rượu sẽ làm tăng nguy cơ tái phát TBMMN lần sau [28]

Tăng acid uric máu: Acid uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình oxy

hóa phân hủy purin và được bài tiết khỏi cơ thể qua thận Acid uric làm ảnhhưởng tới quá trình ngưng kết tiểu cầu và làm tăng đông máu Khi acid uricmáu ≥ 7mg/100ml sẽ làm tăng nguy cơ mắc TBMMN và nhồi máu cơ tim gấp

2 lần ở nam giới và là yếu tố tiên lượng kết quả điều trị sau nhồi máu cơ timvà TBMMN ở cả 2 giới [29]

1.1.4 Tỷ lệ mắc TBMMN trên Thế Giới và ở Việt Nam

Thế giới

Tại Mỹ, số ca TBMMN tăng lên nhanh chóng Trong thời gian từ năm1973-1991, số ca bị TBMMN ở Mỹ tăng từ 1,5 triệu lên 2,4 triệu Mỗi năm cókhoảng 700.000 người mắc, trong đó 500.000 bị TBMMN lần đầu và 200.000bị tái phát lần sau, chi phí cho điều trị TBMNN ở Mỹ mỗi năm ước tính lênđến 7,3 tỷ USD [30] Tại Pháp tỷ lệ hiện mắc hàng năm là 350/100.000 dân ởlứa tuổi 55 đến 64, 600/100.000 dân ở lứa tuổi 65 đến 74 và 950/100.000 dânở lứa tuổi trên 75 [31]

TBMMN là một vấn đề sức khỏe đặc biệt nghiêm trọng ở châu Á, nơi cóhơn 60% dân số Thế Giới và có nhiều quốc gia thuộc nhóm các nước phát triểnvà đang phát triển Năm 2017, một nghiên cứu trên quy mô lớn ở các nước châuÁ được thực hiện và nhận thấy: tỷ lệ mắc thấp nhất được ghi nhận ở Malaysia

Trang 16

(67/100.000 dân/năm), tỷ lệ mắc cao nhất là ở Nhật Bản (422/100.000 dân/năm).Một số nước như Trung Quốc tỷ lệ mắc là 219/100.000 dân, Hàn Quốc là216/100.000 dân [32].

do TBMMN chiếm đến 60% số bệnh nhân tử vong của khoa [34]

1.2 Dinh dưỡng đối với bệnh nhân tai biến mạch máu não

1.2.1 Tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với bệnh nhân TBMMN

Trong bất kỳ một bệnh nào chế độ dinh dưỡng đều hết sức quan trọng.Đối với bệnh nhân TBMMN việc hỗ trợ dinh dưỡng lại càng được chú y hơncả Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tổn thương não sau TBMMN gây nênnhững rối loạn về chuyển hóa và sinh ly từ đó sẽ dẫn đến tình trạng SDD vànếu bệnh nhân đã SDD trước đó nó sẽ nặng thêm tình trạng của bệnh nhân[10], [35] Việc mất khối nạc cơ thể (Lean Body Mass – LBM) được quan sátthấy ở bệnh nhân TBMMN ước tính lên đến 25gN mỗi ngày khiến bệnh nhâncó cân nặng khoảng 70 kilogram mất 10% LBM trong một tuần [36]

Trang 17

Ngoài ra sau TBMMN một số chất trung gian chuyển hóa của quá trìnhviêm như catecholamine, cortisol, interleukin-6, interleukin-IRA đều tăng dẫnđến tăng huy động protein của cơ thể làm bệnh nhân sụt cân rõ rệt [37].

Khi đã xác định được bệnh nhân TBMMN không thể ăn uống đườngmiệng thì việc nuôi ăn qua đường ruột (Enteral Nutrition – EN) phải được bắtđầu trong vòng 24 – 48 giờ đầu tiên vì đó là một kế hoạch quan trọng trongviệc hỗ trợ dinh dưỡng ban đầu Nuôi dưỡng đường ruột sớm sẽ giảm đượcteo ruột, giảm mất khối cơ và giảm nhiễm khuẩn [38] Nghiên cứu của Chiangvà cộng sự cho thấy nuôi dưỡng đường ruột sớm trước 48 giờ với bệnh nhânTBMMN nặng có tỷ lệ sống sót cao hơn, hồi phục GCS (Glasgrow ComaScore) ở tháng đầu tiên sau TBMMN [39] Việc hỗ trợ dinh dưỡng sớm cungcấp protein và chất béo làm giảm phản ứng viêm, tăng cường khả năng miễndịch, giảm các ca nhập ICU (Intensive Care Unit), cải thiện chức năng hệ thầnkinh sau 3 tháng [40]

1.2.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân TBMMN

SDD đang là hiện tượng phổ biến của hầu hết tất cả bệnh nhân nằm viện.Ngay cả ở những nước phát triển có nền y học hiện đại, tỷ lệ SDD trong bệnhviện vẫn ở mức khá cao Ở Úc tỷ lệ SDD ở người bệnh mới vào viện chiếmkhoảng 40%, tại Anh là 22% [7],[41] Bệnh nhân nặng tại khoa điều trị tíchcực (ICU) thường có tình trạng SDD, trong một nghiên cứu theo dõi 346 bệnhnhân điều trị tại ICU có trên 40% bệnh nhân bị giảm cân đáng kể (>10kg)trong 6-8 tháng nằm điều trị [42] Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hoan (2016)trên bệnh nhân nặng nằm điều trị ở khoa ICU tại bệnh viện Bạch Mai chothấy tỷ lệ SDD đánh giá bằng điểm NUTRIC là 27% bệnh nhân có nguy cơdinh dưỡng [43]

Các bệnh nhân TBMMN có nguy cơ SDD cao hơn những bệnh nhânkhác do ở bệnh nhân TBMMN thường có các triệu chứng như: rối loạn nuốt,

Trang 18

liệt nửa người, suy giảm nhận thức, giảm xúc giác và vị giác Tỷ lệ SDD sauTBMMN rất khác nhau giữa các báo cáo được công bố Nghiên cứu củaCorrigan (2011) trên bệnh nhân TBMMN tuổi từ 50-70 nhận thấy có 56,3%bệnh nhân bị suy dinh dưỡng trong thời gian 3 tuần nằm viện [44] Mộtnghiên cứu khác của Foley NC (2009) ước tính tỷ lệ suy dinh dưỡng sauTBMMN dựa trên 18 báo cáo khác nhau nhận thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng daođộng từ 6,1 đến 62,0% [10] Sự khác biệt về thời gian đánh giá, công cụ dùngđể đánh giá, loại TBMMN (xuất huyết não hay nhồi máu não), tình trạng hôn

mê và biến chứng sau TBMMN góp phần dẫn đến sự dao động tỷ lệ này Hơnnữa khi nhập viện ngoài TBMMN các bệnh ly mạn tính kèm theo như đáitháo đường, tăng huyết áp, Gout, suy tim cũng là nguyên nhân tăng nguy cơSDD, đặc biệt ở bệnh nhân cao tuổi

Suy dinh dưỡng liên quan đến tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong.Những bệnh nhân SDD nói chung và đặc biệt những bệnh nhân TBMMN cóSDD nói riêng cần phải được hỗ trợ dinh dưỡng càng sớm càng tốt Một mặtngăn ngừa các biến chứng nặng hơn, mặt khác tăng khả năng phục hồi ở bệnhnhân sau TBMMN

1.2.3 Phương pháp nuôi dưỡng bệnh nhân TBMMN

Đường nuôi dưỡng

Đối với bệnh nhân, luôn lựa chọn đường ruột: bệnh nhân tự ăn hoặc ănqua ống thông Nếu có chống chỉ định (hôn mê, nôn, rối loạn nuốt, co giật )chuyển sang nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch ngoại vi, thậm chí nhiềutrường hợp bệnh nhân còn được nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch trung tâm

1.2.3.1 Nuôi dưỡng qua ống thông

Mục đích là đưa ống thông qua đường mũi hoặc đường miệng vào dạdày để cung cấp thức ăn cho người bệnh cấp khi không tự ăn được bằngđường miệng hoặc ăn không đủ qua đường miệng Các lợi ích về dinh dưỡng

Trang 19

và phi dinh dưỡng của EN như duy trì tính toàn vẹn và cấu trúc chức năngruột phòng ngừa tăng tính thấm của ruột điều chỉnh đáp ứng chuyển hóa giúpgiảm kháng insulin, giúp cung cấp các chất dinh dưỡng, cung cấp đủ proteinvà calories, vận chuyển các vi chất dinh dưỡng, các chất chống oxy hóa vàduy trì khối cơ nạc [45].

Nuôi dưỡng qua ống thông là phương pháp được ưu tiên lựa chọn đểnuôi dưỡng bổ sung hoặc thay thế cho nuôi đường miệng, khi lượng thức ănqua miệng quá ít không đáp ứng được nhu cầu hoặc không thể nuôi dưỡngqua đường miệng trong trường hợp bệnh nhân hôn mê và rối loạn nuốt

Các đường nuôi dưỡng qua ống thông hiện nay đang được sử dụng là:+ Đường nuôi dưỡng qua sonde mũi – dạ dày

+ Đường nuôi dưỡng qua sonde mũi – tá tràng

+ Đường nuôi dưỡng qua sonde mũi – ruột non

+ Mở thông dạ dày

+ Mở thông hỗng tràng

+ Mở thực quản [45]

Việc lựa chọn đường nuôi dưỡng dựa vào 4 yếu tố: Tình trạng sinh lycủa đường tiêu hóa, nguy cơ hít sặc, thời gian phải nuôi qua sonde và kỹ thuậtphù hợp với bệnh nhân

Có 3 phương pháp chính nuôi dưỡng qua ống thông là: nhỏ giọt liên tục(continuos), nhỏ giọt ngắt quãng (intermittent) hoặc bơm trực tiếp (bolus) vàođường tiêu hóa là những phương pháp thông dụng nhất

+ Nhỏ giọt liên tục (continous): là phương pháp có nhiều ưu điểm hơnvì tránh đưa một khối lượng lớn với tốc độ nhanh dung dịch vào đường tiêuhóa gây nên hiện tượng quá tải, chướng bụng, ỉa chảy, tăng nhanh nhu độngruột và có thể trào ngược vào phổi

+ Nhỏ giọt ngắt quãng (intermittent): Phụ thuộc vào tình trạng bệnhnhân cho phép, phương pháp này cho phép các bệnh nhân có thời gian nghỉngơi và tự chủ nhiều hơn so với nhỏ giọt liên tục

Trang 20

+ Bơm trực tiếp (bolus): tổng lượng thức ăn được chia đều thành nhiềubữa (thông thường 6 bữa/ ngày) trung bình khoảng 200-400 ml/bữa Thời gianbơm thức ăn ít nhất là 15 phút Nuôi ăn bằng cách bơm trực tiếp được chỉđịnh rộng rãi cho bệnh nhân, trường hợp bệnh nhân nặng nên duy trì tư thếnằm đầu cao 30 độ trong khi cho ăn Cần chú y trước khi bơm thức ăn, phảikiểm tra lượng thức ăn còn đọng lại trong dạ dày bằng cách hút dịch dạ dày,để kiểm tra dịch tồn dư dạ dày [45].

1.2.3.2 Nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch

Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch được chỉ định khi cung cấp qua đườngmiệng hoặc đường tiêu hóa là không thể hoặc không đầy đủ Nuôi tĩnh mạchlà phương pháp nuôi dưỡng tạm thời trong thời gian ngắn, trong một sốtrường hợp cần thiết với một số trường hợp bệnh nặng trong phòng hồi sứccấp cứu và trong trường hợp một số bệnh ly đặc biệt như: tắc ruột, liệt ruột,xuất huyết tiêu hóa nặng, viêm phúc mạc, viêm tụy cấp [45]

Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch cũng gặp một số biến chứng sau:+ Gây thiếu các chất: taurin, choline, Vitamin E và nhất là glutamin –một acid amin quan trọng trong quá trình trao đổi chất Nếu nuôi dưỡng tĩnhmạch kéo dài sẽ dẫn đến thiếu một số yếu tố vi lượng như: đồng, kẽm,phosphate và chrom

+ Cơ học: gây huyết khối, tắc mạch, hoại tử da

+ Nhiễm khuẩn: tụ cầu vàng candida

+ Chuyển hóa: hạ đường máu hoặc tăng đường máu [45]

Hiện nay người ta thường áp dụng cả hai kỹ thuật nuôi dưỡng qua đườngtĩnh mạch là nuôi dưỡng qua tĩnh mạch trung tâm và nuôi dưỡng qua tĩnhmạch ngoại vi

Trang 21

+ Nuôi dưỡng tĩnh mạch ngoại vi: dễ thực hiện, ít biến chứng hơnnhưng phải thay đổi nơi tiêm truyền nhiều lần do vậy thường được áp dụngkhi nuôi ăn ngắn ngày (7-14 ngày) hoặc chỉ nuôi hỗ trợ Chống chỉ định trongtrường hợp bệnh nhân rối loạn chuyển hóa hoặc ven ngoại vi quá kém.

+ Nuôi dưỡng qua tĩnh mạch trung tâm: thường được tiến hành khicần nuôi dưỡng dài ngày (trên 2 tuần) và có thể cung cấp nhiều năng lượnghơn nhưng kỹ thuật phức tạp hơn và có nhiều biến chứng hơn Các dịchtruyền thường là ưu trương [45]

1.2.4 Nguyên tắc dinh dưỡng cho bệnh nhân TBMMN

Đối với bệnh nhân TBMMN việc nuôi ăn qua sonde dạ dày thườngđược áp dụng nhiều hơn so với việc nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch Việcchỉ định nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch trung tâm với bệnh nhân TBMMNít gặp hơn vì gặp rất nhiều biến chứng như: nhiễm khuẩn huyết liên quan đếncatheter, và mất cân bằng điện giải [46]

Dinh dưỡng hỗ trợ đối với bệnh nhân TBMMN do rối loạn nuốt, thay đổitrạng thái tâm thần và khả năng bệnh nhân phải đặt ống sonde Dinh dưỡngđường ruột được ưu tiên lựa chọn để hỗ trợ càng sớm càng tốt cho bệnh nhân

Mức độ tổn thương thần kinh và hồi phục sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu dinhdưỡng và kế hoạch hỗ trợ dinh dưỡng Thời điểm chỉ định khi bệnh nhânkhông thể ăn qua đường miệng, nuôi dưỡng đường ruột nên bắt đầu từ 24-48giờ đầu vì nó là mục tiêu quan trọng trong kế hoạch chăm sóc ban đầu Cácvấn đề dinh dưỡng: vấn đề cơ bản ảnh hưởng đến đường tiêu hóa là tổnthương chức năng miệng, hầu họng, và thực quản biểu hiện bằng nuốt khó.Nuốt đòi hỏi nhiều đầu nhận cảm thần kinh để thực hiện chính xác, vàTBMMN làm tổn thương đến hệ thống này ở khoảng 60% bệnh nhân Phốihợp với chuyên môn phục hồi chức năng đánh giá chức năng nuốt, và tập

Trang 22

phục hồi chức năng nuốt cho bệnh nhân Khi chuẩn bị thức ăn lưu y thay đổiđộ đặc lỏng phù hợp với tình trạng nuốt khó để giảm nguy cơ sặc Quyết địnhnuôi dưỡng bệnh nhân TBMMN như thế nào cần phải phụ thuộc vào tìnhtrạng của bệnh nhân, bệnh mắc kèm theo Chọn đường nuôi cần bắt đầu càngsớm càng tốt ngay khi bệnh nhân TBMMN ổn định và được hồi sức đầy đủ Chưa có nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho bệnh nhân TBMMN,nhưng có hướng dẫn của Chương trình giáo dục quốc gia về Cholesterol máuđể phòng ngừa TBMMN ở bệnh nhân mắc bệnh mạch vành và đái tháo đườngđược nghiên cứu > 90.000 bệnh nhân thấy chế độ ăn hợp ly giảm nguy cơmắc TBMMN [47] Các phương trình đơn giản dựa vào cân nặng để ước tínhtiêu hao năng lượng từ 25-30 kcal/kg/ngày thích hợp để ước tính nhu cầunăng lượng đủ ở hầu hết các bệnh nhân [48] Qua các nghiên cứu đo nănglượng lúc nghỉ của bệnh nhân sau TBMMN, nghiên cứu của Weekes đo nănglượng lúc nghỉ của bệnh nhân 24-72 giờ sau TBMMN và lặp lại sau 10 – 14ngày cũng thu được kết quả là nhu cầu năng lượng của bệnh nhân không tăngcao so với người khỏe mạnh cùng lứa tuổi [49] Các số liệu cho thấy cung cấpđầy đủ protein là một vấn đề thiết yếu trong nuôi dưỡng bệnh nhân TBMMN.Tầm quan trọng của sự tổng hợp protein não với sự tồn tại cũng như phục hồicác tế bào thần kinh đã được nghiên cứu và chứng minh Nhu cầu protein nênđược cá nhân hóa cho từng bệnh nhân, nhưng khuyến nghị chung từ 1,0-1,5g/kg/ngày [44] Bệnh nhân TBMMN nên được áp dụng chế độ ăn cho từngbệnh ly kèm theo như: ĐTĐ, THA, suy tim, rối loạn mỡ máu Những chế độ

ăn này nên được xây dựng cẩn thận và cá nhân hóa theo mục tiêu dinh dưỡngcho từng bệnh nhân vì những hạn chế về chế độ ăn uống có thể dẫn đến giảmlượng thức ăn, đặc biệt ở người cao tuổi [50]

Trang 23

1.3 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

1.3.2 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng đối với người bệnh TBMMN

1.3.2.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua chỉ số nhân trắc

Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích xác định, đo lường các biến đổivề kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Số đonhân trắc được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, để theo dõi thayđổi về tình trạng dinh dưỡng và tình trạng mất khối cơ Phương pháp này có

ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn, trang thiết bịkhông đắt, dễ vận chuyển Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu vềdinh dưỡng trong quá khứ và xác định được mức độ SDD Tuy nhiên, phươngpháp này cũng có một vài nhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổivề tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác địnhcác thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu [52]

Trong thực hành trên lâm sàng, các số đo nhân trắc thường được dùng là:cân nặng (tình bằng kilogram), chiều cao (tính bằng centimetes), chỉ số BMI,

Trang 24

chiều dài cẳng chân, chu vi vòng cánh tay [51].

Ở bệnh nhân TBMMN, các biến chứng làm bệnh nhân nằm liệt tạigiường Vì vậy việc xác định chiều cao và cân nặng của bệnh nhân gặp rấtnhiều khó khăn Hai chỉ số là chiều dài cẳng chân và chu vi vòng cánh taythường được sử dụng để ước tính chiều cao và cân nặng đối với những bệnhnhân cao tuổi, bệnh nhân nặng, đặc biệt đối với bệnh nhân TBMMN [53]

• Chu vi vòng cánh tay

Được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng liên quan tới khối cơ

và lượng protein khẩu phần Nghiên cứu của James và cộng sự (1994) tại 5nước châu Phi, Ấn Độ, Trung Quốc và Pagua New Guinea cho kết quả chu vivòng cánh tay bằng 23 cm ở nam và 22 cm ở nữ là điểm cắt có giá trị chosàng lọc tình trạng dinh dưỡng [54]

• Chiều dài cẳng chân

Ở bệnh nhân TBMMN, nhiều trường hợp bệnh nhân không đứng được

do những hậu quả sau TBMMN làm bệnh nhân mất thăng bằng, liệt nửangười Cheng H (2001) đã thực hiện một nghiên cứu với mục đích ước tínhchiều cao của người trưởng thành tại Đài Loan qua chiều dài cẳng chân vàxây dựng công thức:

+ Chiều cao nam = 85,1 + (1,73 x chiều dài cẳng chân) – (0,11x tuổi)+ Chiều cao nữ = 91,45 + (1,53 x chiều dài cẳng chân) – (0,16 x tuổi) [55]

• Chỉ số khối cơ thể (BMI)

Body Mass Index (BMI) được Adolphe Quetelet người Bỉ đưa ra năm 1832, chỉ số BMI là công cụ để đánh giá tình trạng dinh dưỡng đơngiản và hiệu quả được tính theo công thức:

Chỉ số khối cơ thể (BMI)= [56]

Trang 25

Bảng 1.1: Phân loại tình trạng dinh dưỡng cho người trưởng thành

(Theo phân loại của WHO năm 1995) [57].

Tiêu chuẩn chẩn đoán CED theo GLIM (Global Leadership Initiative

on Malnutrition) của ESPEN (2015):

+ Chỉ số khối cơ thể BMI<18,5 đối với người dưới 70 tuổi

+ Hoặc BMI<20,0 với người từ 70 tuổi trở lên [58]

1.3.2.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua các chỉ số hóa sinh

Protein toàn phần: Chỉ số này không nhạy vì có nhiều yếu tố ảnh

hưởng: protein khẩu phần, chuyển hóa thay đổi trong trường hợp chấnthương, stress, nhiễm khuẩn, giảm lượng oxy đi vào cơ thể, thiếu proteinhuyết tương do mất protein, thay đổi tính thấm mao mạch, vận động quásức… Chỉ số protein toàn phần được coi là giảm khi nhỏ hơn 60 g/l [59]

Albumin: là một protein trong gan thường được dùng để đánh giá tình

trạng dinh dưỡng Trong một vài nghiên cứu trước đây đã khẳng định rằngnồng độ albumin máu trong việc chẩn đoán SDD là rất có giá trị [60] Nồngđộ albumin huyết thanh bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khác ngoài yếu tốdinh dưỡng như giảm nhanh trong trạng thái stress và tình trạng nhiễm khuẩn,viêm, bệnh ly gan, bỏng, loạn dưỡng xương Albumin có chu kỳ bán hủy dài

Trang 26

khoảng 18 – 20 ngày và chiếm số lượng lớn trong huyết thanh, do đó khinồng độ albumin giảm tức là trước đó vài tuần có thế đã mất một lượng lớnprotein Chính vì vậy, giá trị chẩn đoán của albumin là khá muộn sau khi tìnhtrạng giảm protein nội tạng được khởi phát nhưng độ đặc hiệu của albuminkhá cao nên albumin huyết thanh luôn luôn là xét nghiệm quan trọng, và làmột thông số có giá trị đánh giá tình trạng dinh dưỡng Khi không có tìnhtrạng viêm nồng độ albumin huyết thanh có giá trị tiên lượng khả năng hồiphục, gia tăng các biến chứng ở bệnh nhân cao tuổi có TBMMN Gariblla vàcộng sự đã chỉ ra rẳng những bệnh nhân TBMMN có nồng độ albumin thấp sẽtăng nguy cơ biến chứng và nhiễm khuẩn [61] Giá trị Albumin bình thườngtrong máu là 35-48g/L, nếu giá trị Albumin máu từ 28-34g/L được coi là SDDnhẹ, từ 21-27g/L được coi là SDD vừa và <21g/L là SDD nặng [62].

CRP (C-reactive protein): là 1 protein được tìm thấy trong huyết tương

có mức độ tăng lên để đáp ứng với phản ứng viêm CRP được tổng hợp ở ganđể đáp ứng với các yếu tố được giải phóng bởi các đại thực bào và các tế bàomỡ, giá trị CRP bình thường trong máu là 0-5 mg/L [63] Chỉ số CRP trongmáu tăng cao thấy ở 75% bệnh nhân mắc TBMMN [64],[65] HM den Hartog(2009) thực hiện một nghiên cứu về nồng độ CRP huyết thanh trong giai đoạnđầu TBMMN liên quan đến kết quả lâm sàng xấu và tỷ lệ vong trong 4 năm từnăm 2003 đến 2007 trên 1187 bệnh nhân được làm xét nghiệm CRP huyếtthanh trong vòng 12 – 24 giờ sau nhập viện và theo dõi trong vòng 3 thángnhận thấy bệnh nhân có chỉ số CRP≥7 mg/L có tỷ lệ tử vong cao gấp 1,9 lầnvà tỷ lệ mắc việm phổi, nhiễm khuẩn huyết cao hơn 1,5 lần so với những bệnhnhân CRP<7 mg/L [66] Tăng CRP phản ảnh mức độ viêm toàn thân và mứcđộ tổn thương mô cơ thể CRP được dùng như một chỉ số để tiên lượng khảnăng phục hồi, mức độ nặng cũng tỷ lệ tử vong sau TBMMN [67],[68]

Hemoglobin: Một loại protein do globin tổng hợp có chứa sắt tạo thành.

Trang 27

Hemoglobin tồn tại trong hồng cầu, vận chuyển oxy đến các tổ chức cơ quan,và đào thải carbondioxit sản sinh trong quá trình trao đổi chất ra ngoài cơ thểtheo đường hô hấp ở phổi Khi thiếu máu, số lượng hồng cầu và nồng độHemoglobin cũng giảm Nếu trong chế độ ăn thiếu sắt hoặc việc hấp thunguyên tố sắt kém thì sẽ dẫn đến thiếu máu do thiếu sắt, lúc này nồng độHemoglobin giảm đi Vì thế có thể thông qua xét nghiệm nồng độ Hemoglobinđể đánh giá xem người bệnh có bị thiếu máu hay không Theo ngưỡng phânloại của WHO, giá trị Hemoglobin bình thường ≥12 g/l [69].

1.3.2.3 Các bộ công cụ sàng lọc và đánh giá tình trạng dinh dưỡng

NRS 2002 (Nutritional Risk Screening)

Phương pháp sàng lọc dinh dưỡng NRS 2002 (Nutritional risk screening)là phương pháp sàng lọc nguy cơ SDD do Hiệp hội Dinh dưỡng lâm sàng(ESPEN) đề xuất, gồm 3 thành phần: (1) dựa vào các tiêu chí: BMI, sụt cân,lượng khẩu phần ăn để đánh giá TTDD, (2) đánh giá mức độ nặng của bệnhvà (3) tuổi Nguy cơ dinh dưỡng có thể áp dụng với người bệnh nhập viện, sửdụng các thông số về TTDD và tình trạng bệnh ly hiện mắc, để xác địnhngười bệnh nào cần hỗ trợ dinh dưỡng Sau 128 cuộc thử nghiệm ngẫu nhiên,người ta thấy rằng trong khi các công cụ khác tập trung vào chẩn đoán SDDdựa trên những nguy cơ, NRS 2002 tìm cách xác định những người bệnh cónhiều khả năng được hưởng lợi nhờ can thiệp dinh dưỡng, dựa vào các tiêuchí: tình trạng sụt cân, tình trạng ăn uống, BMI, bệnh nặng kèm theo Trongthực hành lâm sàng, NRS 2002 được coi là tốn ít thời gian hơn và ít đòi hỏitrình độ của người thực hiện hơn các công cụ khác Sàng lọc nguy cơ dinhdưỡng giúp xác định hoặc dự đoán nguy cơ phát triển bệnh cùng các nguy cơbiến chứng, tử vong, chi phí y tế Một nghiên cứu thuần tập sử dụng công cụnày trên 2566 người bệnh cũng cho rằng NRS 2002 là đáng tin cậy, hiệu quảvà hợp lệ để dự đoán SDD và có giá trị tiên đoán về tiên lượng thông qua thời

Trang 28

gian nằm viện Nếu điểm NRS 2002 ≥ 3: người bệnh có nguy cơ SDD; nếuđiểm NRS 2002 < 3: đánh giá lại nguy cơ dinh dưỡng hàng tuần [70].

MNA (Mini Nutritional Assessment)

Tất cả người bệnh cao tuổi đều cần được sàng lọc dinh dưỡng ban đầutrong vòng 48 giờ kể từ khi nhập viện Nhận biết sớm tình trạng SDD chophép can thiệp kịp thời Phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu MNA làcông cụ sàng lọc dinh dưỡng thường được sử dụng cho người cao tuổi bị SDDhoặc có nguy cơ SDD để đưa ra các can thiệp dinh dưỡng Đây là phươngpháp nhanh đơn giản, giúp xác định nguy cơ SDD trước khi thấy giảm cânnặng và thay đổi nồng độ albumin máu MNA là một công cụ được đưa ra vàonăm 1994, có độ nhạy, độ đặc hiệu và độ tin cậy cao Đây là công cụ được cácnhà lão khoa quốc tế đưa ra, được xem là tin cậy, được các hiệp hội khuyếnnghị sử dụng Những người được sàng lọc bị SDD hoặc có nguy cơ SDD cóliên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong Ở người bệnh nằm viện, MNAgiúp dự đoán kết quả và chi phí chăm sóc Ở các nhà dưỡng lão hoặc trongđiều kiện có điều dưỡng chăm sóc tại nhà, MNA có liên quan đến điều kiệnsống, mô hình bữa ăn và bệnh ly mạn tính và cho phép can thiệp có mục đích

Ưu điểm là sàng lọc nhanh, dưới 5 phút, không cần đào tạo đặc biệt, khôngcần số liệu xét nghiệm, có hiệu quả vì phát hiện từ ngay khi chưa có sụt cân

nhiều Khi can thiệp dinh dưỡng thành công, điểm số MNA tăng [71]

SGA (Subjective Global Assessment)

Công cụ đánh giá tổng thể chủ quan (Subjective Global Assessment) haycòn gọi là SGA được xây dựng bởi Detsky và cộng sự trong những năm 1980.SGA là công cụ duy nhất được Hiệp hội dinh dưỡng đường miệng và tĩnhmạch của Mỹ (ASPEN) khuyến cáo sử dụng SGA thường được sử dụng đểđánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân lúc nhập viện trong vòng 48

Trang 29

giờ SGA là công cụ đánh giá nhẹ nhàng, không tốn kém, nhạy, tin cậy và đặchiệu, SGA được sử dụng rộng rãi trong nhiều bệnh, nhiều loại hình chăm sóc

y tế, kể cả bệnh nhi [72]

1.4 Thực trạng tình trạng dinh dưỡng và nuôi dưỡng người bệnh TBMMN

1.4.1 Thế Giới

Những bệnh nhân mắc TBMMN thường kèm theo triệu chứng điển hìnhlà rối loạn nuốt Do đó càng làm tăng nguy cơ SDD nặng lên 40 đến 60%trong thời gian nằm viện [73],[74]

Tỷ lệ SDD sau TBMMN dao động trong một khoảng rộng giữa cácnghiên cứu khác nhau Theo nghiên cứu tổng quan hệ thống của Foley vàcộng sự dựa trên kết quả của 18 nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ SDD sauTBMMN dao động từ 6,1 đến 62,0% [10] Trong một nghiên cứu củaCorrigan (2011) trên nhóm bệnh nhân TBMMN nhận thấy có 56,3% bệnhnhân bị SDD trong thời gian 3 tuần nằm viện SDD tăng lên tỷ lệ thuận vớithời gian nằm viện, Corrigan nhận thấy SDD lúc nhập viện ở bệnh nhânTBMMN chiếm tỷ lệ 16,3%, tỷ lệ này tăng lên 26,4% vào ngày thứ 7 và35,0% vào ngày thứ 14 [44] Trong 1 nghiên cứu khác của Lim HJ (2010)đánh giá TTDD trên nhóm bệnh nhân TBMMN bằng công cụ SGA nhận thấy,tỷ lệ bệnh nhân không có nguy cơ dinh dưỡng (SGA-A) chiếm 26,0%, tỷ lệSDD từ nhẹ đến vừa (SGA-B) chiếm 49,3%, tỷ lệ suy dinh dưỡng nặng(SGA-C) chiếm 27,7% [75] Nghiên cứu của Gloria Kartika (2017) trênnhững bệnh nhân TBMMN thấy: tỷ lệ bệnh nhân không có nguy cơ dinhdưỡng (SGA-A) chiếm 15,4%, SGA-B chiếm 69,2%, SGA-C chiếm 15,6%[76] Khi đã xác định bệnh nhân TBMMN rối loạn nuốt không thể ăn uốngđường miệng được, thì việc nuôi ăn đường ruột phải được bắt đầu càng sớmcàng tốt [77] Nghiên cứu của Chiang thấy nuôi dưỡng đường ruột sớm trước

Trang 30

48 giờ có tỷ lệ sống sót và hồi phục điểm Glasgrow cao hơn, giảm tỷ lệ biếnchứng sau TBMMN [39].

1.4.2 Việt Nam

Tại Việt Nam, tuy đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố nguy cơ củaTBMMN được tiến hành trên cộng đồng và trong bệnh viện, nhưng cácnghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trên nhóm bệnh nhân này còn hạn chế.Nghiên cứu của Lê Thị Thu Hà ở bệnh nhân TBMMN tại bệnh viện 175 đánhgiá theo BMI trên 39 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ CED là 38,4% [78] Nghiêncứu của Phan Thanh Luân cũng ở trên nhóm bệnh nhân TBMMN tại bệnhviện Lão khoa Trung ương đánh giá bằng công cụ MNA (Mini NutritionAssessment) trên 99 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ SDD là 47,5% [79] Gần đâynhất, nghiên cứu của Lê Thùy Trang (2018) đánh giá bằng công cụ NRS 2002tại bệnh viện Lão khoa Trung ương trên 60 bệnh nhân TBMMN cho thấy đến91,7% trong số này có nguy cơ SDD [80] Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnhhưởng đến sự khác biệt tỷ lệ này như thời gian đánh giá, đặc điểm về tuổi,giới, mức độ nặng của bệnh, tình trạng bệnh ly khác mắc kèm theo và công cụsàng lọc, đánh giá SDD

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn

- Bệnh nhân nhập viện trong vòng 24 giờ đầu tại khoa Cấp cứu đột quị,khoa Thần kinh-Alzheimer bệnh viện Lão khoa Trung ương và đượcchẩn đoán TBMMN

- Bệnh nhân nằm điều trị tại khoa với thời gian từ 7 ngày trở lên

- Bệnh nhân đồng y tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trư

Bệnh nhân và người nhà không cung cấp đủ thông tin, không đồng ytham gia nghiên cứu

Thời gian và địa điểm: Từ tháng 8/2018 đến 3/2019.

Địa điểm: Khoa Cấp cứu đột quị và khoa Thần kinh – Alzheimer, Bệnh viện Lão khoa Trung ương

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.3.1 Cỡ mẫu

n= (1- α/2) [81]

Trong đó:

n: Tổng số đối tượng cần điều tra

Z (1- α/2)= 1,96 khoảng tin cậy 95%

Ԑ = 0,06 là giá trị tương đối, lấy Ԑ = 0,06

p = 0,917 là tỷ lệ bệnh nhân TBMMN có nguy cơ dinh dưỡng đánh giábằng NRS 2002 của Lê Thùy Trang năm 2018 [80]

Trang 32

 Cỡ mẫu là 97 đối tượng, cộng thêm 5% bỏ cuộc là 105 đối tượng.

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện.Chọn tất cả các bệnh nhân nhập viện tại Bệnh viện Lão khoa Trung ươngđược chẩn đoán TBMMN ở khoa Cấp cứu đột quị, khoa Thần kinh-Alzheimervà thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng trong thời gian nghiên cứu cho đếnkhi đủ cỡ mẫu Trong thời gian lấy mẫu, nghiên cứu đã thu thập số liệu được

125 đối tượng

2.4 Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá

Thu thập số liệu vào ngày đầu bệnh nhân nhập viện và lặp lại vào ngàythứ 7 sau quá trình nằm viện

2.4.1 Nhân trắc

Chu vi vòng cánh tay: Đối tượng gập khuỷu tay vuông góc 90 độ Đo

và xác định điểm giữa nối mỏm cùng xương vai và mỏm trên khuỷu xươngcánh tay Tay để thõng tự nhiên, dùng thước mềm không chun giãn, vòngthước xung quanh điểm giữa đã xác định, không quá chặt cũng không quálỏng Đọc kết quả theo cm, với 1 số thập phân

Hình 2.1 Các bước đo chu vi vòng cánh tay Chẩn đoán SDD theo chu vi vòng cánh tay:

+ MUAC < 23(cm) đối với nam

+ MUAC < 22(cm) đối với nữ

Chiều dài cẳng chân

Trang 33

Đo chiều dài cẳng chân của bệnh nhân bằng thước mềm không chungiãn, độ chính xác 0,1cm.

Người bệnh nằm ngửa, gấp đầu gối trái sao cho tạo thành một góc 90o, đotừ đầu gối đến bàn chân Đọc và ghi lại chính xác số liệu tới 0,1 cm

Hình 2.2 Cách đo chiều dài cẳng chân

Chiều cao:

Đối với những bệnh nhân đứng được, nghiên cứu sử dụng thước SecaĐức (độ chính xác 0,1 cm) Bệnh nhân đứng thẳng quay lưng vào thước đo, 2gót chân chạm nhau, trục dọc của cơ thể trùng với trục của thước, hai cánh taybuông thõng Kéo eke của thước từ trên xuống dưới đến khi áp sát đến đỉnhđầu và vuông góc với thước Đọc, ghi lại kết quả với 1 số lẻ Ví dụ: 159,5 cm.Với những bệnh nhân TBMMN nằm liệt giường, hôn mê không đứngđược, thường không đo được chiều cao đứng Do đó nghiên cứu sử dụng côngthức ước tính chiều cao từ chiều dài cẳng chân do Cheng HS và cộng sự(2001) thực hiện trên 1179 người trưởng thành cho quần thể dân Châu Á (tạiĐài Loan):

+ Chiều cao nam = 85,1 + (1,73 x chiều dài cẳng chân) – (0,11 x tuổi)+ Chiều cao nữ = 91,45 + (1,53 x chiều dài cẳng chân) – (0,16 x tuổi) [55]

Trang 34

Cân nặng

Đối với những bệnh nhân đứng được, sử dụng cân TANITA (BF-679) có độchính xác 0,1 kg Khi cân người bệnh mặc quần áo mỏng, bỏ giày dép Qui địnhngười bệnh được cân vào một thời điểm nhất định trong ngày, thống nhất cân vàobuổi sáng Người bệnh đứng giữa bàn cân ở tư thế đứng thẳng, không chạm bấtcứ vật gì xung quanh Đọc và ghi kết quả với một số lẻ Ví dụ: 56,2 kg

Với những bệnh nhân nằm liệt tại giường, hôn mê việc cân bệnh nhân rấtkhó khăn Do đó nghiên cứu sử dụng công thức tính cân nặng qua ước tính BMItừ chu vi vòng cánh tay:

BMI(kg/m2) = 0,873 × MUAC – 0,0442 [82].

Chỉ số khối cơ thể (BMI)

(BMI)= [56]

Tiêu chuẩn chẩn đoán CED theo GLIM (Global Leadership Initiative on

Malnutrition) của ESPEN (2015):

+ Chỉ số khối cơ thể BMI<18,5 đối với người dưới 70 tuổi

+ Hoặc BMI<20,0 với người từ 70 tuổi trở lên [58]

2.4.2 Sàng lọc dinh dưỡng theo bộ công cụ NRS 2002

Phương pháp sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng NRS 2002 dựa vào các tiêuchí: Tình trạng sụt cân, tình trạng giảm khẩu phần, BMI, bệnh nặng kèm theo

Tình trạng sụt cân:

+ Hỏi người bệnh hoặc người nhà cân nặng hiện tại, cân nặng trước đó

và thời gian cân gần đây nhất

+ Tính % sụt cân =

Trang 35

Tình trạng ăn uống:

Ghi nhận tình trạng ăn uống hàng ngày của người bệnh

+ Hoàn toàn không ăn uống gì.

+ Ăn bằng 25%, 50%, 75% so với thường ngày.

+ Chỉ ăn cháo, súp, nước năng lượng thấp Ví dụ:nước trắng, nước trà,

cháo trắng, nước cháo, súp lỏng chỉ hầm nguyên liệu lấy nước uống

BMI: cân đo người bệnh để xác định BMI.

Bệnh nặng kèm theo:

+ Điểm = 1: người bệnh mắc bệnh mạn tính, nhập viện do các biến

chứng như gãy xương đùi, xơ gan có biến chứng, đợt cấp COPD, lọc thậnđịnh kỳ, ĐTĐ, ung thư Trong hầu hết các trường hợp nhu cầu chất đạm tăngnhưng vẫn có thể cung cấp đủ bằng đường miệng qua chế độ ăn hay dinhdưỡng bổ sung

+ Điểm = 2: Người bệnh liệt giường do bệnh, hậu phẫu, đại phẫu vùngbụng, TBMMN, viêm phổi nặng, bệnh máu ác tính Nhu cầu chất đạm thậtsự tăng lên, trong nhiều trường hợp cần nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch.+ Điểm = 3: Người bệnh thuộc khoa chăm sóc đặc biệt với sự hỗ trợ máythở oxi, chấn thương đầu, ghép tủy nhu cầu chất đạm tăng lên và không thểbù ngay cả bằng đường tĩnh mạch

Tổng điểm từ 0 đến 7 điểm, nếu tổng từ 3 điểm trở lên, người bệnh cónguy cơ dinh dưỡng, và cần có kế hoạch chăm sóc dinh dưỡng (Mẫu phiếukèm theo ở phần phụ lục)

Điểm NRS ≥ 3: Người bệnh có nguy cơ về dinh dưỡng

Điểm NRS < 3: Sàng lọc người bệnh lại hàng tuần

Trang 36

2.4.3 Thực trạng nuôi dưỡng và khẩu phần ăn

Thu thập dữ liệu về đường nuôi dưỡng bệnh nhân: nuôi qua đườngmiệng, sonde dạ dày, tĩnh mạch Thời gian bắt đầu nuôi dưỡng

Hỏi ghi khẩu phần 24 giờ: Hỏi và ghi lại tất cả các thực phẩm mà ngườibệnh ăn trong một ngày kể từ lúc ngủ dậy buổi sáng cho tới lúc đi ngủ vàobuổi tối

+ Tất cả các thực phẩm mà bệnh nhân ăn bao gồm đường miệng vàđường ống thông được ghi chép từ bệnh án kết hợp với quan sát Phỏng vấnđiều dưỡng chăm sóc hoặc người nhà về các thực phẩm mà bệnh nhân ăn

+ Thu thập số liệu bao gồm số lượng thực phẩm, cách chế biến thựcphẩm trong mỗi bữa, công thức của sản phẩm từ nhãn sản phẩm, từ xuất ăncủa bệnh viện (nếu bệnh nhân ăn theo chế độ ăn của bệnh viện)

Tính toán giá trị dinh dưỡng của khẩu phần theo phần mềm do ViệnDinh dưỡng xây dựng dựa trên số liệu của “Bảng thành phần thực phẩm ViệtNam 2007” [83]

Khẩu phần qua nuôi đường tĩnh mạch: Tất cả các dung dịch nuôi dưỡngbệnh nhân qua đường tĩnh mạch trong ngày được thu thập từ bệnh án kết hợpvới quan sát bao gồm: ngày, giờ truyền, tên dịch truyền, thành phần và nồngđộ các chất dinh dưỡng, số lượng dịch được truyền trong ngày

2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Nhóm biến số và chỉ số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:

+ Tuổi: tuổi của người bệnh tính theo năm dương lịch

+ Giới tính: nam, nữ

+ Trình độ học vấn: không đi học, cấp 1, cấp 2, cấp 3, trung cấp/đại học.+ Nghề nghiệp: làm ruộng, công nhân/viên chức, kinh doanh buôn bán tự

do, hưu trí

Trang 37

+ Các bệnh ly khác kèm theo: có, không.

+ Loại TBMMN: xuất huyết não, nhồi máu não

+ Số lần mắc TBMMN: lần đầu, từ 2 lần trở lên

Nhóm biến số và chỉ số về tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu:

+ Chỉ số về nhân trắc có: Chu vi vòng cánh tay, chiều dài cẳng chân, chiềucao, cân nặng, BMI (ngày đầu nhập viện và ngày 7 sau nằm viện)

+ Chỉ số về hóa sinh máu có: Albumin, CRP, hemoglobin, cholesterol,triglycerid, HDL-cholesterol, LDL-cholesterol (ngày đầu nhập viện và ngày 7sau nằm viện)

+ NRS 2002: có nguy cơ dinh dưỡng, không có nguy cơ dinh dưỡng

Nhóm biến số và chỉ số về thực trạng nuôi dưỡng của đối tượng nghiên cứu:

+ Đường nuôi dưỡng: nuôi qua đường miệng, sonde dạ dày, tĩnh mạch.+ Thời gian nuôi dưỡng: thời gian bắt đầu nuôi dưỡng qua đường miệng,sonde dạ dày, tĩnh mạch

+ Khẩu phần ăn: Tổng năng lương, protein, lipid trong chế độ ăn qua cácđường

2.6 Quy trình thu thập số liệu

Bước 1 Lựa chọn bệnh nhân TBMMN trong vòng 24 – 48 giờ kể từ thờiđiểm nhập viện

Bước 2 Thu thập thông tin chung và đặc điểm bệnh ly của đối tượngnghiên cứu

Bước 3 Thu thập các chỉ số nhân trắc (chu vi vòng cánh tay, chiều dài cẳngchân, cân nặng, chiều cao, BMI) Ghi chép lại các chỉ số xét nghiệm hóa sinh(Albumin, CRP, hemoglobin, cholesterol, triglycerid, HDL-C, LDL-C) từ ngàyđầu nhập viện Lặp lại vào ngày thứ 7 sau quá trình nằm viện

Trang 38

Bước 4 Đánh giá nguy cơ dinh dưỡng bằng NRS 2002.

Bước 5 Điều tra thực trạng nuôi dưỡng người bệnh trong ngày đầu tiênnhập viện, lặp lại vào ngày thứ 7 sau quá trình nằm viện

2.7 Phân tích số liệu

Tất cả các phân tích thống kê được xử ly bằng phần mềm STATA 12.0.Sử dụng các test thống kê: T test, Sign test, Fisher’s exact test, MannWhitney test [81]

2.8 Sai số và khống chế sai số trong nghiên cứu

Sai số

+ Sai số ngẫu nhiên: các sai số khi đo lường (ví dụ: cân, đo)

+ Sai số thông tin: hay gặp sai số nhớ lại hoặc sai số ước lượng (ví dụ:thường thấy khi khai thác khẩu phần ăn hằng ngày)

+ Sai số phỏng vấn: do kỹ thuật phỏng vấn của điều tra viên

Cách khắc phục sai số

+ Kỹ thuật cân đo chính xác, dụng cụ cân, đo được sử dụng như nhautrên toàn bộ đối tượng nghiên cứu

+ Công cụ thu thập thông tin đã được thử nghiệm và điều chỉnh phù hợpvới nghiên cứu

+ Bộ câu hỏi rõ ràng, ngôn ngữ dễ hiểu

+ Các định nghĩa, tiêu chuẩn, chỉ tiêu rõ ràng để phân loại đúng tìnhtrạng dinh dưỡng

+ Thống nhất chung kỹ thuật thu thập thông tin số liệu: số liệu nhân trắc(cân nặng, chiều cao, chu vi vòng cánh tay, chiều dài cẳng chân), cách hỏi vàghi khẩu phần ăn, dịch truyền (nếu có)

+ Kiểm tra lại mỗi phiếu sau khi phỏng vấn

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành sau khi được Hội đồng thẩm định đề cươngViện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, và sự đồng y của Ban lãnh

Trang 39

đạo bệnh viện Lão khoa Trung ương.

Các đối tượng tham gia nghiên cứu được cung cấp đầy đủ thông tin vềmục đích, nội dung nghiên cứu, tình nguyện tham gia vào nghiên cứu và cũngcó thể rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào, không cần ly do Các đối tượngtham gia nghiên cứu được giữ bí mật

Các số liệu nghiên cứu được bảo quản chặt chẽ, chỉ phục vụ cho công tácnghiên cứu khoa học, viết báo cáo và cung cấp cho từng đối tượng nghiên cứukhi cần thiết

Nghiên cứu chỉ có mục đích nhằm đề ra những biện pháp nâng cao sứckhỏe người bệnh, ngoài ra không có mục đích nào khác

Trang 40

CHƯƠNG 3 KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

4,823,226,445,6Trung bình: 76,0 ± 10,4

Nữ

6659

52,847,2

Trình độ

học vấn

Không đi họcCấp 1 (lớp 1-5)Cấp 2 (lớp 6-9)Cấp 3 (lớp 10-12)Trung cấp/cao đẳng/đại học

2617262729

20,813,620,821,623,2

Nghề

nghiệp

Làm ruộngCông nhân/viên chứcKinh doanh, buôn bán tự do

Hưu trí

40391927

32,031,215,221,6

Nhận xét:

Trong tổng số 125 bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu độ tuổi trungbình là 76,0 ± 10,4, trong đó có 6 bệnh nhân lứa tuổi từ 50 – 59 chiếm tỷ lệ4,8%, bệnh nhân ở nhóm tuổi từ 60 – 69 có 29 bệnh nhân (23,2%), bệnh nhânở nhóm tuổi từ 70 – 79 có 33 người (26,4%) và nhóm bệnh nhân chiếm tỷ lệcao nhất là nhóm trên 80 tuổi có 57 người với tỷ lệ 45,6%

Trong nghiên cứu, bệnh nhân nam có 66 người chiếm tỷ lệ 52,8%, cònlại là bệnh nhân nữ có 59 người chiếm tỷ lệ 47,2%

Trình độ học vấn của đối tượng đến hết cấp 1 là 13,6%, hết cấp 2 chiếm

Ngày đăng: 24/07/2019, 20:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Juvela S, Hillbom M, Palomọki H (1995). Risk factor for spontaneous intracerabral hemorrage. Stroke, 26, 1858-1864 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke
Tác giả: Juvela S, Hillbom M, Palomọki H
Năm: 1995
23. Selvin E, Coresh J, Shahar E et al (2005). Glycaemia (haemoglobin A1C) and incident ischaemic stroke: the Atherosclerosis Risk in Communities (ARIC) Study. The Lancet Neurology, 4(12), 821-826 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Lancet Neurology
Tác giả: Selvin E, Coresh J, Shahar E et al
Năm: 2005
24. Lancet (1998). Intensive blood-glucose control with sulphonylureas or insulin compared with convensional treatment and risk of complications in patients with type 2 diabetes (UKPDS 33). UK Prospective Diabetes Study (UKPDS) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Intensive blood-glucose control with sulphonylureas orinsulin compared with convensional treatment and risk of complicationsin patients with type 2 diabetes (UKPDS 33)
Tác giả: Lancet
Năm: 1998
25. Frick MH, Elo O, Haapa K et al (1987). Helsinki Heart Study: primary- prevention trial with gemfibrozil in middle-aged men with dyslipidemia.Safety of treatment, changes in risk factors, and incidence of coronary heart disease. N Engl J Med, 317(20), 1237-1245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N Engl J Med
Tác giả: Frick MH, Elo O, Haapa K et al
Năm: 1987
26. Suk SH, Sacco RL, Boden AB et al (2003). Abdominal obesity and risk of ischemic stroke: the Northern Manhattan stroke study. Stroke, 34(7), 1586–1592 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke
Tác giả: Suk SH, Sacco RL, Boden AB et al
Năm: 2003
27. Wolf PA, D Agostino RB, Kannel WB et al (1988). Cigarette smoking as a risk factor for stroke. The Framingham study. JAMA, 259(7), 1025–1029 Sách, tạp chí
Tiêu đề: JAMA
Tác giả: Wolf PA, D Agostino RB, Kannel WB et al
Năm: 1988
28. Thrif AG, Doonan GA et al (1999). Heavy drinking but not moderate or intermediate drinking increase the risk of intracerebral hemorrhage.Epidemiology, 10, 307-312 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology
Tác giả: Thrif AG, Doonan GA et al
Năm: 1999
29. Hilde MS, Jon VN, Ingrid T et al (2013). Uric acid is a risk factor for ischemic stroke and all-cause mortality in the general population: a gender specific analysis from The Tromsứ Study. BMC Cardiovasc Disord, 13, 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMC CardiovascDisord
Tác giả: Hilde MS, Jon VN, Ingrid T et al
Năm: 2013
31. Younan Z, Marie A, Melanie P (2012). The Incidence, Prevalence, and Mortality of Stroke in France, Germany, Italy, Spain, the UK, and the US: A Literature Review. Stroke Res Treat, 7, 436 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke Res Treat
Tác giả: Younan Z, Marie A, Melanie P
Năm: 2012
32. Narayanaswamy V, Byung WY, Jeyaraj P (2017). Stroke Epidemiology in South, East, and South-East Asia: A Review. J Stroke, 19(3), 286–294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Stroke
Tác giả: Narayanaswamy V, Byung WY, Jeyaraj P
Năm: 2017
33. Trịnh Tiến Lực (2001). Tình hình tai biến mạch máu não tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai, Chẩn đoán và xử trí tai biến mạch máu não, Hội thảo liên khoa báo cáo khoa học, 180-181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và xử trí tai biến mạch máu não
Tác giả: Trịnh Tiến Lực
Năm: 2001
34. Hoàng Văn Thuận (2001). Xử trí tai biến mạch máu não tại Viện trung ương Quân đội 108, Chẩn đoán và xử trí tai biến mạch máu não, Hội thảo liên khoa báo cáo khoa học, 142-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và xử trí tai biến mạch máu não
Tác giả: Hoàng Văn Thuận
Năm: 2001
35. Davis JP, Wong AA, Schuter PJ et al (2004). Impact of premorbid undernutrition on outcome of stroke patients. Stroke, 35(1), 1930–1934 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke
Tác giả: Davis JP, Wong AA, Schuter PJ et al
Năm: 2004
36. Bratton S, Chestnut R, Ghajar J et al (2007). Brain Trauma Foundation guidelines: nutrition. J Neurotrauma, 24, 77–82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Neurotrauma
Tác giả: Bratton S, Chestnut R, Ghajar J et al
Năm: 2007
37. Jensen GL, Mirtallo J, Compher C et al (2010). Adult starvation and disease-related malnutrition: a proposal for etiology-based diagnosis in the clinical practice setting from the International Consensus Guideline Committee. JPEN J Parenter Enteral Nutr, 34(2), 156–159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: JPEN J Parenter Enteral Nutr
Tác giả: Jensen GL, Mirtallo J, Compher C et al
Năm: 2010
38. Taylor SJ, Fettes SB, Jewkes C (1999). Prospective, randomized, controlled trial to deter - mine the effect of early enhanced enteral nutrition on clinical outcome in mechanically venti- lated patients suffering from head injury. Crit Care Med, 27(11), 2525–2531 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crit Care Med
Tác giả: Taylor SJ, Fettes SB, Jewkes C
Năm: 1999
39. Chiang YH, Chao DP, Chu SF et al (2012). Early enteral nutrition and clinical outcomes of severe traumatic brain injury patients in acute stage:a multi-center cohort study. J Neurotrauma, 29(1), 75–80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Neurotrauma
Tác giả: Chiang YH, Chao DP, Chu SF et al
Năm: 2012
41. Berry C, Hill C, Mckenzie C et al (2000). Prevalence of malnutrition on admission to four hospitals in England. Clinical Nutrition, 19(3), 191-195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Nutrition
Tác giả: Berry C, Hill C, Mckenzie C et al
Năm: 2000
42. Kvale R, Ulvik A, Flaatten H (2003). Follow – up after intensive care: a single center study. Intensive Care Med, 29(12), 2149-2156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intensive Care Med
Tác giả: Kvale R, Ulvik A, Flaatten H
Năm: 2003
43. Nguyễn Hữu Hoan (2016). Tình trạng dinh dưỡng và thực trạng nuôi dưỡng bệnh nhân tại khoa điều trị tích cực vệnh viện Bạch Mai năm 2015. Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và thực trạng nuôidưỡng bệnh nhân tại khoa điều trị tích cực vệnh viện Bạch Mai năm2015
Tác giả: Nguyễn Hữu Hoan
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w