Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứuvề tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên học đường nói chung, đốivới lứa tuổi vị thành niên ở trung học cơ sở nói riêng nhưng chủ yếu là cácng
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ DINH DƯỠNG
Trang 3TRẦN THỊ NHI
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH DINH DƯỠNG CỦA HỌC SINH TẠI BA TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ HUYỆN VỤ BẢN, TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2017
Chuyên ngành: Dinh dưỡng
Mã số: 60720303
LUẬN VĂN THẠC SĨ DINH DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Trần Thị Phúc Nguyệt
Hà Nội – 2018
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới:
Ban giám hiệu, phòng đào tạo Đại học Trường Đại học Y Hà Nội đã tạomọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Các thầy/cô và cán bộ Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộngtrường Đại học Y Hà Nội đã giúp tôi trau dồi những kiến thức vô cùng quýbáu trong thời gian tôi là học viên
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt tới: PGS.TS.Trần Thị PhúcNguyệt - Giảng viên bộ môn Dinh dưỡng-An toàn thực phẩm - Trường đạihọc Y Hà Nội trong thời gian qua đã tận tình hết mình giúp đỡ, hướng dẫn,định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Điều dưỡngNam Định, nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu Xin cảm ơn các em sinh viên trường Đại họcĐiều dưỡng Nam Định, các thầy cô và các em học sinh ở những trường họcnơi tôi thực hiện đề tài đã hết sức nhiệt tình và trách nhiệm giúp đỡ tôi trongquá trình thu thập và xử lí số liệu
Tôi xin cảm ơn những người thân yêu trong gia đình đã luôn sát cánh
và ủng hộ tôi hết mình trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Cảm ơn bạn bè, anh chị đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình họctập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trần Thị Nhi
Trang 5Tôi là Trần Thị Nhi - học viên cao học khóa XXV - Trường Đại học Y
Hà Nội, chuyên ngành dinh dưỡng, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn
của Cô PGS.TS Trần Thị Phúc Nguyệt.
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãđược công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơinghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, Ngày 4 Tháng 6 Năm 2018
Học viên
Trần Thị Nhi
Trang 6SD : Độ lệch chuẩn (Standard Deviation)
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH M C B NG Ụ Ả
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) lứa tuổi vị thành niên bắt đầu từ 10-19tuổi, đây là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn Nó đánh dấu bằngnhững thay đổi xen lẫn nhau về mặt thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hộichuyển từ đơn giản sang phức tạp Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyểntiếp rất quan trọng về tâm sinh lý và dinh dưỡng, chuẩn bị cho giai đoạn pháttriển đầy đủ của cơ thể, hoàn thiện các cơ quan, chức phận [1] Tình trạngdinh dưỡng của lứa tuổi này liên quan chặt chẽ với lứa tuổi trước cũng nhưsau đó
Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2000 cho kết quả tỷ lệ suydinh dưỡng thể gầy còm ở nhóm tuổi 11-14 tuổi là 42,57% và tỷ lệ thừacân,béo phì là 1,88%, chiếm 6-10% cho từng nhóm tuổi, trong đó trẻ em lứatuổi học đường chiếm tỷ lệ cao [2] Hiện nay, suy dinh dưỡng và béo phì làhai hình ảnh tương phản nhưng đặc trưng của xã hội đang phát triển Nhiềubằng chứng cho thấy nước ta đang xuất hiện gánh nặng kép về suy dinhdưỡng, thiếu dinh dưỡng vẫn đang là một thách thức hàng đầu [3]
Thừa cân, béo phì không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ khitrưởng thành mà còn ảnh hưởng đến hành vi học tập của trẻ Kéo theo nguy
cơ cao mắc các bệnh mạn tính không lây như tim mạch, tăng huyết áp, tiểuđường, sỏi mật, viêm khớp sau này
Vấn đề quan trọng nữa là kiến thức, thực hành dinh dưỡng , chăm sóc sứckhỏe của các em cũng chưa được tốt [4],[5]
Khi bị thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến tiềm lực sức khỏe, sự pháttriển của não bộ và tư duy Nếu trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến khảnăng học tập, lao động, sáng tạo và gây tổn thất rất nhiều về mặt kinh tế [6]
Trang 9Thực trạng này đã và đang là một vấn đề đặt ra cho ngành dinh dưỡngnói riêng và ngành Y tế nói chung là cần phải có biện pháp nâng cao sức khỏebản thân mà dinh dưỡng hợp lý mang lại Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu
về tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên học đường nói chung, đốivới lứa tuổi vị thành niên ở trung học cơ sở nói riêng nhưng chủ yếu là cácnghiên cứu ở thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh còn những khu vựckhác thì chưa nhiều
Vụ Bản là một trong 9 huyện của tỉnh Nam Định cách thành phố HàNội 100 km về phía Nam Trước đây là một huyên nông nghiệp nhưng nhờmạng lưới giao thông thuận lợi cùng với đó là sự phát triển khu công nghiệptrong vài năm trở lại đây đã tạo ra bộ mặt mới của huyện Kinh tế phát triểncùng sự bận rộn của bậc cha mẹ khi tập trung làm việc tại khu công nghiệpmới có thể là một tác động không nhỏ tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ Vớimong muốn cung cấp những bằng chứng khoa học giúp chính quyền, các tổchức y tế địa phương và gia đình có kế hoạch chăm sóc sức khỏe học sinh hợp
lý Chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu: “Tình trạng dinh dưỡng và kiến thức, thực hành dinh dưỡng của học sinh tại ba trường trung học cơ
sở, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định năm 2017” với các mục tiêu sau:
1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của học sinh tại ba trường trung
học cơ sở, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định năm 2017.
2. Mô tả kiến thức, thực hành dinh dưỡng của học sinh tại ba trường
trung học cơ sở, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định năm 2017.
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm sức khỏe
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Sức khỏe là một trạng thái hoàntoàn thoải mái về mặt thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ làkhông có bệnh hay thương tật [7],[8] Vì vậy sức khỏe được coi là tài sản quýgiá của con người, sức khỏe đã có và tồn tại từ khi con người sinh ra cho đếnkhi chết, nhưng mức độ thì thường xuyên thay đổi trong suốt cuộc đời [9].Các định nghĩa khác cũng được đưa ra, trong số đó có định nghĩa gần đâynhất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân [10] Sứckhỏe là quyền lợi cơ bản nhất của con người và phải được nhìn nhận như tàisản của con người, của xã hội cùng giống như bất kỳ của cải vật chất nào [8].Nghiên cứu các quy luật phát triển của cơ thể lứa tuổi đang lớn và những yếu
tố ảnh hưởng lên quá trình này có ý nghĩa lý luận và thực tế lớn lao Mộttrong những nội dung của môn hình thái người là nghiên cứu đặc điểm tăngtrưởng và các kích thước nhân trắc của cơ thể Trong quá trình phát triển từ sơsinh cho đến khi trưởng thành, chứa đựng hàng loạt các biến đổi sâu sắc, đặcbiệt là trong thời kỳ dậy thì Vì vậy các nhà sinh học, y học, giáo dục học trênthế giới đều quan tâm đến
Có một sức khỏe tốt là một trong những quyền cơ bản của con người
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đó là các đặctrưng cá nhân: sinh học và di truyền, tính nhạy cảm của mỗi cá nhân, trình độhọc vấn, thu nhập kinh tế, lối sống lành mạnh hay buông thả, sự tác động củamôi trường sống, môi trường làm việc, mạng lưới tổ chức y tế và khả năng
Trang 11tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, và một số nhân tố không kémphần quan trọng đó là dinh dưỡng
1.1.2 Khái niệm tuổi vị thành niên
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vị thành niên nằm trong độ tuổi từ
10-19 chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu từ 10-14 tuổi, giai đoạn sau từ 15-10-19 Làthời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn Nó được đánh dấu bằng sựthay đổi xen kẽ lẫn nhau về thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hội chuyển từđơn giản sang phức tạp.Trong quá trình phát triển, lứa tuổi vị thành niên phảitrải qua những thay đổi về thể chất, tâm lý, xã hội, hành vi tình dục, sự tựnhận thức và tự đánh giá Những chuyển biến đột ngột và to lớn này có thểgây ra nhiều sức ép lớn, khiến các em lo lắng Vì thế, ở lứa tuổi này các emcần sự hướng dẫn tại từng giai đoạn phát triển và ở từng vấn đề một [11 ].Đây là lứa tuổi chiếm tỉ lệ cao trong tổng dân số Lứa tuổi này được quantâm nởi nó không những chiếm một tỉ lệ khá cao trong tháp dân số, mà tỉ lệcủa lứa tuổi này tăng nhanh đáng kể so với các nhóm tuổi khác Hơn nữađây là lứa tuổi dậy thì đó là giai đoạn đánh dấu sự chín muồi, sự trưởngthành của trẻ Trên thế giới, lứa tuổi VTN chiếm khoảng 20-30%, con sốnày cao hơn ở các nước nghèo, và ở Việt Nam, theo số liệu điều tra dân sốnăm 2009 là gần 20%
Sự phát triển trong 10 năm thứ hai của cuộc đời đòi hỏi một lượng lớncác chất dinh dưỡng Nhu cầu khuyến nghị chung (RDAs) cho lứa tuổi nàynhiều khi không đáp ứng được nhu cầu của nhiều cá thể Ở giai đoạn thiếuniên, nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ trai và trẻ gái ở cùng độ tuổi không khác nhaunhiều, nhưng đến giai đoạn này do tốc độ tăng trưởng và phát triển ở tuổi dậythì nên nhu cầu dinh dưỡng ở hai giới khác nhau rõ rệt Tình trạng dinh dưỡngcủa lứa tuổi nữ vị thành niên là yếu tố quan trọng góp phần làm xuất hiện sớm
Trang 12hay muộn một trong các dấu hiệu phát triển sinh lý của trẻ Nhiều nghiên cứutrên thế giới cho thấy các thiếu nữ có tình trạng dinh dưỡng tốt thường cóhành kinh sớm hơn so với các thiếu nữ có tình trạng dinh dưỡng kém Tốc độtăng trưởng nói chung ở thiếu nữ có hành kinh sớm cao hơn so với các thiếu
nữ có hành kinh muộn Sau tuổi dậy thì, sự khác biệt về nhu cầu trở nên ổnđịnh [12] Trẻ dần hoàn thiện thể lực, sinh lý để trở thành người lớn
Lứa tuổi vị thành niên có giai đoạn dậy thì - giai đoạn cơ thể phát triểnnhanh cả về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp và có những biến đổi về tâm sinh
lý nên đã có những vấn đề phát sinh như hành vi tình dục và những ảnhhưởng khi không có đủ kiến thức: mang thai ngoài ý muốn, sinh con sớm, cácbệnh lây nhiễm qua đường tình dục đặc biệt là HIV/AIDS có ảnh hưởng rấtlớn đến tương lai sau này của các em Lứa tuổi này cơ thể phát triển nhanh, cónhiều thay đổi về tâm sinh lý đặc biệt là tầm vóc Do đó, nhu cầu năng lượng
và các chất dinh dưỡng cao, đặc biệt là vitamin và chất khoáng (A, D, C, sắt,canxi ) giúp cho các em phát triển bình thường Chất đạm là nền tảng xâydựng cơ thể và đặc biệt quan trọng với lứa tuổi này Chất béo cần thiết với sốlượng vừa phải, tránh ăn quá nhiều chất béo Tinh bột cũng là phần quan trọngtrong quá trình ăn uống của trẻ vị thành niên vì nó là chất cung cấp nhiềunăng lượng và có trong những thực phẩm giá rẻ [13]
Tình trạng dinh dưỡng chính là yếu tố quan trọng thúc đẩy xuất hiệnsớm hay muộn một trong các dấu hiệu phát triển sinh lý của trẻ Cần quan tâmđặc biệt đến nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi này nhất là đối với nữ vị thànhniên Tình trạng dinh dưỡng của các em là yếu tố quan trọng góp phần làmxuất hiện sớm hay muộn một trong các dấu hiệu phát triển sinh lý của trẻ Các
em gái cần được nuôi dưỡng tốt trong hiện tại cũng như để chuẩn bị làm mẹtrong tương lai Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy các thiếu nữ có tìnhtrạng dinh dưỡng tốt thường có hành kinh sớm so với các thiếu nữ có tình
Trang 13trạng dinh dưỡng kém Tốc độ tăng trưởng nói chung ở thiếu nữ có hành kinhsớm cao hơn so với thiếu nữ có hành kinh muộn [9]
Như vậy, vấn đề sức khỏe và sự phát triển của lứa tuổi vị thành niên làmột vấn đề bức thiết cho xã hội
1.2 Tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên
Từ lâu người ta đã biết mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạng dinhdưỡng và tình trạng sức khỏe Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểmchức phận, cấu trúc và các chỉ tiêu hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầudinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ănuống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể [12] Số lượng và loại thựcphẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theotuổi, giới, tình trạng sinh lý (thời kỳ có thai, cho con bú ) và mức độ hoạtđộng thể lực, trí lực Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng chủ yếu phụ thuộcvào tình trạng sức khỏe của cá thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cânbằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể có tình trạng dinhdưỡng không tốt ( thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khỏehoặc dinh dưỡng hoặc cả hai
Đứng về góc độ sinh học lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếprất quan trọng, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển đầy đủ của cơ thể Tầm vócthấp (còi cọc) ở tuổi vị thành niên được coi là chỉ tiêu đánh giá tình trạng dinhdưỡng trong quá khứ, nó phản ánh quá trình tích lũy chồng chất của sự thiếu
ăn và môi trường sống kém
Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên ta có thểdựa vào các chỉ số nhân trắc như chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI (cânnặng/chiều cao2) là một trong những phương pháp đánh giá tình trạng dinhdưỡng và có khả năng phát hiện những thiếu hụt dinh dưỡng ở thời kỳ bệnh lý
Trang 14lâm sàng Theo nghiên cứu của Ye Gang thì các số đo về nhân trắc (cânnặng/chiều cao) là rất cơ bản và tiện lợi cho đánh giá tình trạng dinh dưỡng ởlứa tuổi này Tình trạng dinh dưỡng trong quần thể phản ánh quá trình nuôidưỡng, môi trường và bệnh tật trước đây Vì vậy trong giai đoạn tuổi vị thànhniên nếu dinh dưỡng kém sau này khi mang thai sẽ dẫn đến suy dinh dưỡngbào thai làm giảm trọng lượng của trẻ sơ sinh [14]
Tình trạng dinh dưỡng chịu ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng, tìnhtrạng sức khỏe, chăm sóc và lao động
1.2.1 Suy dinh dưỡng/Thiếu dinh dưỡng protein- năng lượng
Thiếu dinh dưỡng Protein – năng lượng là loại thiếu dinh dưỡng quantrọng nhất ở trẻ em, với biểu hiện là tình trạng chậm lớn và hay đi kèm vớicác bệnh nhiễm khuẩn
Suy dinh dưỡng (SDD) protein-năng lượng là tình trạng chậm lớn,chậm phát triển xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng, thườngkèm theo tác động của nhiễm khuẩn và ngược lại tạo điều kiện cho nhiễmkhuẩn phát triển là, nặng thêm tình trạng thiếu dinh dưỡng [15] Đây là vấn đềsức khỏe quan trọng và phổ biến nhất của trẻ em trong các nước đang pháttriển như nước ta hiện nay
Từ lâu người ta đã nhấn mạnh đến hai nguyên nhân trực tiếp cơ bảndẫn đến SDD trẻ em Nguyên nhân thứ nhất là chế độ ăn của trẻ không đủ cả
về số lượng, thiếu năng lượng, protein cũng như các chất dinh dưỡng khácnhau như vitamin và các yếu tố vi lượng Nguyên nhân trực tiếp thứ hai là cácbệnh nhiễm trùng và kí sinh trùng kèm theo [15] Nhờ các nghiên cứu dịch tễhọc dinh dưỡng người ta đã tìm ra hàng loạt yếu tố liên quan đến tình trạng
Trang 15SDD trẻ em ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta Đó là các yếu tố
về sinh học, di truyền (chủng tộc, dân tộc, tình trạng sức khỏe bệnh tật khi mẹmang thai), yếu tố về hành vi, lối sống và bà mẹ trẻ (nuôi con bằng sữa mẹ;cho con ăn bổ sung, theo dõi, chăm sóc trẻ khi khỏe và khi trẻ ốm…), các yếu
tố về môi trường như điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, truyền thống, tậpquán, môi trường gia đình, nhà trường và yếu tố về loại hình và chất lượngcác dịch vụ chăm sóc sức khỏe trên địa bàn [16]
Những trẻ học đường có nguy cơ bị suy dinh dưỡng là: trẻ từ các giađình nghèo, có bố hoặc mẹ bị chết hoặc bị bệnh, trẻ thường phải tự lo cho bảnthân mình do bố mẹ đi làm xa, trẻ sống trong vùng bị thiếu ăn, trẻ ăn quánhiều quà vặt như kẹo hoặc nước ngọt, thường là những trẻ ở thành thị mà bố
mẹ thường đi làm xa hoặc thường vắng nhà [17]
Như vậy, SDD protein-năng lượng thực chất là tình trạng bệnh lí do thiếunhiều chất dinh dưỡng hơn là thiếu protein và năng lượng đơn thuần
Hậu quả của tình trạng SDD trẻ em là sự hạn chế về chiều cao, suygiảm về thể lực dẫn đến học hành kém, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sốngsau này và lại tiếp tục sinh ra những thế hệ thấp bé Trẻ bị SDD dễ mắc cácbệnh nhiễm khuẩn, diễn biến thường nặng và dễ dẫn đến tử vong
- SDD và tình trạng bệnh tật tử vong
SDD thể nặng gây hậu quả nghiêm trọng Qua phân tích 7,6 triệu trườnghợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trong năm 2010 trên thế giới có đến 1/3 trườnghợp tử vong liên quan đến SDD (khoảng 2,8 triệu) Năm 2010 trên toàn thếgiới có 20 triệu trẻ em bị SDD nặng, 171 triệu trẻ em bị SDD thể thấp còi và
104 triệu trẻ em SDD thể nhẹ cân [18]
Trang 16- Thiếu dinh dưỡng với phát triển hành vi và trí tuệ
Có thể thấy mối liên quan giữa thiếu dinh dưỡng và kém phát triển trí tuệhành vi qua cơ chế sau:
+ Do thiếu nhiều chất dinh dưỡng cùng lúc, trong đó có các chất dinhdưỡng cần thiết cho sự phát triển trí tuệ như iot, sắt…
+ Trẻ em thiếu dinh dưỡng thường lờ đờ, chậm chạp, ít năng động nên íttiếp thu được qua giao tiếp với cộng đồng và người chăm sóc
Với sự hiểu biết hiện nay, người ta thấy SDD sớm trong bào thai vànhững năm đầu cuộc đời có ảnh hưởng xấu đến phát triển trí tuệ ít nhất là suốt
cả thời niên thiếu [19]
- Suy dinh dưỡng và sức khỏe khi trưởng thành
Những trẻ thấp bé sẽ trở thành những người trưởng thành có tầm vóc bénhỏ, năng lực sản xuất kém Gần đây người ta thấy sự liên quan giữa SDDtrước đó và thừa dinh dưỡng về sau và đó là sự kết hợp đặc biệt nguy hiểm[19],[20] Đối với SDD thể thấp còi người ta cũng nhận thấy có mối liên quangiữa thấp còi và thừa cân ở trẻ em [17] Ở các nước nghèo, số đông trẻ em bịthấp còi và thiếu cân, nhưng khi thu nhập tăng, điều kiện sống thay đổi, chúng
dễ dàng trở nên béo phì, mà chúng ta đều biết phòng chống béo phì ở trẻ emcũng vất vả không kém phòng chống SDD, thiếu cân [17]
• Phân loại trên cộng đồng:
Năm 2007, trên cơ sở phân tích những nhược điểm của quần thể thamchiếu NCHS năm 1977 mà một trong số đó là chỉ số BMI chỉ áp dụng cho trẻ
9 tuổi trở lên và khoảng giới hạn percentile chỉ từ 5-95% WHO đã thiết lậpchuẩn phát triển tăng trưởng mới cho trẻ từ 5-19 tuổi [21],[22] Đây là sựchuyển tiếp từ chuẩn phát triển mới của WHO năm 2006 (dành cho trẻ 0-5tuổi) với trẻ ở độ tuổi lớn hơn (5-19 tuổi) [22] Trong đó theo khuyến cáo củaWHO năm 2007, để nhận định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ trong độ tuổi đi
Trang 17học và tuổi vị thành niên (5-19 tuổi), các chỉ số nhân trắc thường được sửdụng là cân nặng theo tuổi (weight for age), chiều cao theo tuổi (height ofage) và BMI theo tuổi (BMI for age) Chỉ số chiều cao theo tuổi và BMI theotuổi áp dụng cho trẻ 5-19 tuổi Riêng chỉ số cân nặng theo tuổi chỉ áp dụngcho trẻ dưới 10 tuổi [23]
Hiện nay, ở các nước đang phát triển tỷ lệ SDD trẻ em học đường cònkhá cao, đặc biệt là trẻ em ở các vùng nông thôn nghèo Nghiên cứu củaHadiu và cộng sự ở vùng dân nghèo, thành phố Ujang Pankang của Indonesiacho thấy có tới 55% trẻ em học đường thấp còi, 10% gầy còm [24] Lứa tuổihọc đường ít gặp tình trạng SDD nặng trừ khi có nạn đói vì ở lứa tuổi này trẻphát triển chậm hơn so với thời kì trẻ dưới 5 tuổi, và chúng có thể đòi ăn khi
bị đói Một nghiên cứu chỉ ra rằng, tại Ấn Độ tỷ lệ SDD cao nhất ở các khuvực ven đô thị (30,2% và 53,2% theo tiêu chí Ấn Độ và quốc tế) Tại các khuvực đô thị và đô thị cao, tỷ lệ SDD là 14,1% và 9,8% tương ứng theo các tiêuchí Ấn Độ; 27,1% và 19,2% tương ứng theo tiêu chuẩn quốc tế của nhóm trẻ
10 - 19 tuổi [25]
Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng ởlứa tuổi học đường Tỷ lệ thiếu cân của học sinh nữ 11-15 tuổi tại một sốtrường THCS Thành phố Huế (2007) là 19,4%, trong đó SDD nữ chiếm15,5% [26] Nghiên cứu của tác giả Bùi Văn Dũng, Khương Văn Duy chothấy, tỷ lệ SDD ở trẻ nữ 12-13 tuổi ở nội thành Hà Nội là 21,2% và ở ngoạithành là 42,2% [2] Theo nghiên cứu của Phạm Ngọc Khái ở trẻ tuổi họcđường Thái Bình cho thấy có trên 49% trẻ em bị nhẹ cân (1997), đến năm
2002 vẫn còn 48,7% trẻ em tuổi học đường suy dinh dưỡng thể nhẹ cân [27],[28] Năm 2005, tại vùng nông thôn thuộc huyện Bình Lục, Hà Nam tỷ lệ thấpcòi trẻ em 11-14 tuổi là 32,4% [29]
Trang 18Ngoài việc ảnh hưởng đến sự phát triển tổng thể, SDD còn làm tăngnguy cơ mắc bệnh, để lại những hậu quả nặng nề SDD ảnh hưởng rõ rệt đếnphát triển trí tuệ, hành vi khả năng học hành của trẻ và khả năng lao động khiđến tuổi trưởng thành SDD hoặc kém hấp thu có thể dẫn đến những rối loạnnghiêm trọng, chẳng hạn như rối loạn tạo xương, thiếu máu và hội chứng liênquan đến thiếu hụt vitamin, khoáng chất, axit béo thiết yếu, các axit amin, vànguyên tố vi lượng SDD có liên quan đến tuổi kinh nguyệt có muộn (cũngnhư vô kinh thứ phát), trong khi mức độ béo phì vừa phải có liên quan đếntrưởng thành tình dục sớm [30].
Vấn đề suy dinh dưỡng hiện nay đang phổ biến tại các các nước đangphát triển, cộng đồng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùngđồng bào dân tộc thiểu số Kèm theo đó là hậu quả của việc thiếu năng lượngtrường diễn, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, sức khỏe tâm thần
1.2.2 Thừa cân – béo phì
Thừa cân: là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so vớichiều cao
Béo phì: là tình trạng tích lũy thái quá và không bình thường của lipidtrong tổ các tổ chức mỡ tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe [31]
Thừa cân - béo phì đang tăng lên mức báo động trên khắp thế giới ởngười lớn và cả trẻ em Đó thực là một mối đe dọa tiềm ẩn trong tương lai
Có hai nhóm nguyên nhân chính về thừa cân - béo phì là béo phì đơn thuần(không có nguyên nhân sinh bệnh học) và béo phì bệnh lí (béo phì có cácvân đề bệnh lí liên quan gồm: bệnh lí do nội tiết, do sử dụng thuốc ) Cácnghiên cứu cho thấy gần 80% béo phì đơn thuần ở trẻ em có liên quan đếnchế độ ăn, bao gồm:
Trang 19- Ăn quá nhiều năng lượng: trẻ em ăn nhiều dầu, mỡ, gạo Tỷ lệ chất béo trongkhẩu phần ăn quá cao.
- Các thói quen ăn nhanh, ăn thêm bữa phụ vào buổi tối trước khi đi ngủ, thích
ăn các món xào, uống nhiều nước ngọt
- Giảm các hoạt động thể lực để tiêu hao năng lượng như: hoạt động thể thao,nhảy dây, đá cầu Trẻ thường bị nhốt trong nhà, thiếu sân chơi, chương trình họcquá căng thẳng, xem ti vi nhiều, chơi trò chơi điện tử
- Một số yếu tố có thể xem là yếu tố nguy cơ:
+ Yếu tố gia đình: con cái của những người béo phì có nguy cơ béo phìcao gấp 3 lần con các gia đình bình thường Trong gia đình nhiều người béophì thì nguy cơ béo phì của trẻ càng cao
+ Điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội: ở các nước phát triển có mối liênquan nghịch giữa tình trạng kinh tế xã hội với béo phì, ngược lại ở các nướcđang phát triển có tình trạng kinh tế càng cao càng dễ béo phì hơn do quanniệm béo là biểu hiện sự giàu có, béo là khỏe mạnh
+ Ngủ ít: lý do ngủ ít dẫn đến béo phì chưa rõ, cũng có thể là do hoạtđộng tiêu mỡ của cơ thể chủ yếu vào tối và đêm khuya, vì vậy sự ngủ ít làmgiảm tiêu mỡ [32]
Ở các nước đang phát triển béo phì tồn tại song song với thiếu dinhdưỡng (BMI<18,5) gặp nhiều ở đô thị hơn ở nông thôn Ở Mỹ có nhiềunghiên cứu về vấn đề thừa cân béo phì, báo cáo số liệu cho thấy gần 13 triệu(16,9%) của trẻ em Mỹ tuổi từ 2-19 bị béo phì, hơn một phần ba (35%) người
Mỹ trưởng thành bị béo phì tương ứng khoảng hơn 78 triệu người trưởngthành [33] Tỷ lệ người trưởng thành béo phì ở Hồng Kông là 20% nam, 75%nữ; Canada 15%, Hà Lan 8%, Anh 26% [34]
Tại Ai Cập, ở trẻ vị thành niên đi cùng với suy dinh dưỡng, thừa cânbéo phì cũng là một vấn đề đáng quan tâm Số liệu thống kê năm 2014 chothấy rằng từ năm 2006 đến năm 2014 tỷ lệ thừa cân tăng từ 23,6% đến 32,5%,
ở nam chỉ số này lần lượt là 25,6% và 30,7% Tỷ lệ béo phì cũng khác nhau ở
Trang 20hai nhóm: ở nữ là 7,4% và 7,0%; ở nam là 8,2% và 6,8% tương ứng với haimốc thời gian là năm 2006 và 2014 [35].
Ở Việt Nam khảo sát năm 2005 tại một huyện duyên hải miền trung –Phú Cát tỉnh Bình Định với tổng số 41268 học sinh tiểu học và trung học cơ
sở, tỷ lệ thừa cân- béo phì là 0,12% [36] Theo kết quả nghiên cứu của TrầnThị Minh Hạnh và cộng sự tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 về tình trạngdinh dưỡng học sinh trung học cơ sở thì tỷ lệ thừa cân – béo phì là 22,5%(trong đó 15,7% thừa cân và 6,8% béo phì) [37]
Thừa cân – béo phì ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của trẻ Béo phì
ở trẻ em là nguy cơ béo phì ở người lớn Những trẻ béo sẽ ngừng tăng trưởngsớm, trước dậy thì chúng thường cao hơn so với tuổi nhưng khi dậy thì, chiềucao ngừng phát triển và trẻ có xu hướng thấp hơn bạn bè Sự mặc cảm về hìnhdáng cơ thể ở độ tuổi này cũng gây không ít khó khăn cho các em Vì vậy cầnphải theo dõi chiều cao, cân nặng của trẻ thường xuyên để phát hiện sớmSDD hoặc thừa cân, béo phì để xử lý kịp thời Và đối với trẻ VTN, cách tốtnhất là tăng cường hoạt động thể lực với các loại hình và mức độ thích hợp(như thể dục nhịp điệu, đi bộ, chạy nhảy, bơi lội ) Cùng với việc đảm bảomột khẩu phần ăn hợp lý, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, khuyến khích ăn rau
và hoa quả, hạn chế sử dụng các thực phẩm giàu năng lượng, nghèo vi chấtdinh dưỡng và đồ uống có đường, sẽ làm giảm nguy cơ mắc các bệnh mạntính sau này như bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường hay các rốiloạn dạ dày, ruột Các bệnh mạn tính này đã tiêu tốn rất nhiều kinh phí đểđiều trị và có ảnh hưởng rõ ràng tới tuổi thọ của con người
Trang 211.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng tuổi vị thành niên
1.3.1 Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng và tập quán ăn uống của trẻ
Sức khỏe của học sinh là một bộ phận quan trọng của sức khỏe cộngđồng, các dịch vụ sức khỏe trong nhà trường mang lại hiệu quả kinh tế caobởi vì trẻ học tập và vui chơi cùng với nhau sẽ học tập nhau và trẻ sẽ chia sẻnhững gì chúng được học cho cha mẹ và những người khác
Tuy nhiên ở lứa tuổi này trẻ cũng đã phần nào tự chăm lo về sức khỏe,
do vậy gia đình ít quan tâm hơn Vì vậy, trẻ có thể có những biểu hiện khácnhau về dinh dưỡng, có những hiểu biết đúng hoặc sai Những biểu hiện vàthói quen dinh dưỡng của trẻ ảnh hưởng đến sự lựa chọn thực phẩm, cách ănuống của trẻ, cuối cùng là ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Một số nghiên cứu cho thấy tập tính ăn uống của trẻ có liên quan đếntình trạng dinh dưỡng Những trẻ ăn nhiều đồ ngọt, thức ăn giàu chất béothường có dấu hiệu thừa cân, béo phì [13] Ngược lại những trẻ ăn kiêng, bỏbữa sáng thường là những trẻ thiếu dinh dưỡng [9]
Thói quen ăn uống, sở thích ăn uống đã ảnh hưởng đến tình trạng dinhdưỡng của trẻ Những trẻ thích ăn nhiều đồ ngọt, thức ăn nhanh chế biến sẵnthường có nguy cơ thừa cân nhiều hơn những trẻ kiêng ăn những thứ trên.Bên cạnh đó, kinh tế gia đình là yếu tố góp phần ảnh hưởng tình trạng dinhdưỡng của trẻ Những trẻ ở gia đình có mức sống cao có nguy cơ thừa cânhơn những trẻ ở gia đình nghèo Kiến thức, sự hiểu biết của gia đình và củatrẻ về dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Sự hiểubiết cũng như quan tâm của gia đình với trẻ và của tự bản thân trẻ về dinhdưỡng sẽ tránh nguy cơ thừa và thiếu dinh dưỡng
Trang 221.3.2 Khẩu phần ăn
Để đảm bảo cho cơ thể một sự phát triển đầy đủ và cân đối, yếu tố quantrọng hàng đầu là chế độ dinh dưỡng và diễn biến về mức tiêu thụ lương thực-thực phẩm của trẻ là một phần thiết yếu của việc đánh giá tình trạng dinhdưỡng
Ngay từ thời xa xưa, các nhà y học cổ đại đã biết được vai trò của dinhdưỡng trong phòng và điều trị bệnh Hypocrat khuyên rằng tùy theo tuổi tác,công việc, thời tiết nên ăn ít hay nhiều, ít ăn một lúc hay rải rác nhiều bữa.Trong việc điều trị ông viết: “Thức ăn cho bệnh nhân phải là một phương tiệnđiều trị và trong phương tiện điều trị của chúng ta phải có các chất dinhdưỡng”, “hạn chế và thiếu chất bổ rất nguy hiểm đối với người mắc bệnh mạntính” [40] Theo quan niệm hiện nay, một khẩu phần hợp lý nghĩa là: cung cấp
đủ nhiệt lượng theo nhu cầu cơ thể; có đủ các chất dinh dưỡng cần thiết vàcác chất dinh dưỡng ở một tỷ lệ cân đối, thích hợp [12]
Một số công trình nghiên cứu cho thấy ăn uống hợp lý là yếu tố căn bảnnhất cho sự tăng trưởng và phát triển Năng lượng, protein, chất béo, vitamin
và các yếu tố vi lượng cần được cung cấp đầy đủ và tăng cường dự trữ cácchất trong cơ thể [41]
Ở mức độ dinh dưỡng vĩ mô, trẻ ăn quá nhiều hoặc quá ít các chất sinhnhiệt dài ngày gây nên tình trạng suy dinh dưỡng protein năng lượng Trongkhi đó ở mức độ vi mô thiếu canxi, sắt và các yếu tố vi lượng khác cũng nhưvitamin trong chế độ ăn có thể gây nên một số bệnh như quáng gà, thiếumáu ở phụ nữ
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, sự cung cấp đầy đủ năng lượng cho trẻ
em, một chế độ dinh dưỡng hợp lí cho trẻ em trong những năm đầu đời sẽ gópphần cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể phát triển ở giai đoạn dậy thì [42]
Trang 23Chế độ ăn uống là yếu tố không nhỏ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng vàphát triển VTN Ở trẻ nữ, tuổi VTN là thời kỳ dự trữ các chất dinh dưỡngchuẩn bị cho giai đoạn mang thai, tiết sữa và các công việc nặng nhọc khác
mà sắp phải trải qua Sự bùng nổ tăng trưởng tại lứa tuổi này được điều khiểnbằng hoocmon Nhu cầu dinh dưỡng đã có liên quan tương đối chặt chẽ vớitrọng lượng cơ thể và sự phát triển cơ thể ở từng thời kỳ Trong giai đoạn dậythì, chiều cao tăng khoảng 25%, còn trọng lượng cơ thể tăng 50% so vớingười trưởng thành [1] Thiếu dinh dưỡng (thiếu về số lượng và chất lượng)cũng như sự mất cân đối trong khẩu phần ăn dẫn đến sự tăng trưởng chậm và
có thể gây nên suy dinh dưỡng cấp hay mạn tính và nhiều dạng thiếu dinhdưỡng khác [42]
Theo Nut Blain (1969) nhận định rằng có mối liên quan giữa chiều cao,cân nặng với nhu cầu năng lượng của cơ thể và đã kết luận: nhu cầu nănglượng của mỗi cơ thể phụ thuộc vào trọng lượng của mỗi cơ thể đó Nhưngnhu cầu năng lượng rất đa dạng nó không chỉ phụ thuộc vào trọng lượng màcòn phụ thuộc vào đặc tính riêng của từng cá thể Ví dụ Widdwson (1997) đãghi nhận những đứa trẻ nhẹ cân đôi khi ăn nhiều hơn những trẻ béo, vì vậykhi nghiên cứu nhu cầu năng lượng của trẻ em lứa tuổi đến trường và lứa tuổiVTN, chúng ta cần quan tâm đến sự khác nhau giữa nhu cầu năng lượng đãkhuyến cáo nói chung và nhu cầu riêng của từng người [4] Vậy để cho sứckhỏe cộng đồng thanh thiếu niên phát triển tốt, khi khuyến cáo chế độ dinhdưỡng và các loại thực phẩm sử dụng thì sự thay đổi thành phần các chất dinhdưỡng cũng như thực phẩm tiêu thụ trong cơ thể đã thu được qua khẩu phần
ăn góp phần quyết định sức khỏe con người
Có một đặc điểm rất đặc trưng cho quá trình tăng trưởng ở lứa tuổi vịthành niên là sự khác nhau ở từng cá thể về thời gian bắt đầu dậy thì Vì vậy, có
Trang 24khi trẻ 14 tuổi đã trưởng thành còn 17 tuổi chưa phát triển đầy đủ Do đó nhu cầudinh dưỡng phải căn cứ vào tuổi sinh học thì tốt hơn là căn cứ vào tuổi đời
1.3.3 Yếu tố kinh tế xã hội
Một trong những biểu hiện của tình trạng kinh tế, xã hội đó là vấn đềthu nhập Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (1991) về ảnh hưởng của tìnhtrạng kinh tế - xã hội đến sự phát triển của trẻ học đường ở Banglades chothấy: trẻ từ các gia đình có thu nhập cao có cân nặng và chiều cao theo tuổicao hơn so với trẻ từ các gia đình có thu nhập thấp [43]
Một số nghiên cứu khác ở Thái Lan cũng thấy rằng tình trạng dinhdưỡng của trẻ em tuổi học đường cần được lưu tâm, học sinh ở tầng lớp xã hộithấp có tỷ lệ mắc các bệnh thiếu dinh dưỡng cao [45] Nghiên cứu mới đây tạiBrazil cho thấy tỷ lệ thiếu cân và thấp còi cao hơn trong các hộ gia đình tìnhtrạng kinh tế xã hội thấp và trong hộ gia đình có điều kiện vệ sinh kém [45]
Ở nước ta nền kinh tế đang còn trong thời kì chuyển tiếp, ranh giới giàu
và nghèo ngày càng rõ rệt đã ảnh hưởng không ít đến dinh dưỡng và sức khỏecủa trẻ em Bên cạnh tỷ lệ SDD còn khá cao, tỷ lệ thừa cân béo phì đã có xuhướng gia tăng đặc biệt tại các đô thị lớn [41] Một nghiên cứu khác ở ViệtNam cho thấy trẻ em ở gia đình giàu có trọng lượng cao hơn trẻ em ở gia đìnhnghèo [46]
Một thực tế trong xã hội là quy mô hộ gia đình cũng ảnh hưởng đếnviệc tiếp cận lương thực – thực phẩm, vì số người không hợp lí với thu nhậpthì bình quân thấp sẽ dẫn đến chế độ dinh dưỡng kém Vì vậy, kích cỡ giađình cũng ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đặc biệt là các nướcđang phát triển Các tác giả còn cho thấy tình trạng học vấn của cha mẹ cóliên quan đến chất lượng bữa ăn của trẻ [47]
Trang 251.4 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng vị thành niên
1.4.1 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng vị thành niên
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thôngtin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở cácthông tin số liệu đó Người ta dùng hai phương pháp là phương pháp định tính
và định lượng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Một số phương pháp thường được sử dụng để đánh giá TTDD như [48]:
- Nhân trắc học
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
- Thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứngthiếu dinh dưỡng rõ ràng và kín đáo
- Các xét nghiệm lâm sàng chủ yếu là hóa sinh ở dịch thể và các chất bàitiết(máu, nước tiểu,…) để phát hiện mức bão hòa chất dinh dưỡng
- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụtdinh dưỡng
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong Sử dụng các thống kê y tế để tìm hiểu mốiliên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến TTDD và sức khỏe
Trong đó phương pháp nhân trắc học là một phương pháp được sử dụngphổ biến trong nhiều nghiên cứu Phương pháp nhân trắc học dinh dưỡng cómục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tìnhtrạng dinh dưỡng Chỉ số nhân trắc như cân nặng, chiều cao được dùng tronghầu hết các điều tra cơ bản Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm làđơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn, trang thiết bị không đắt,
dễ vận chuyển, có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về TTDD trongquá khứ và xác định được mức độ suy dinh dưỡng [49]
Gần đây, một số phương pháp định tính cũng đã được sử dụng trongđánh giá tình trạng dinh dưỡng.Trong nghiên cứu tiến hành đánh giá dinh
Trang 26dưỡng dựa theo chỉ số BMI Trẻ vị thành niên được tính cho lứa tuổi từ 10-19tuổi, từ năm 1995, theo quy ước của Tổ chức Y tế thế giới, đối với trẻ vị thànhniên, dùng chỉ số khối cơ thể BMI.
Công thức tính chỉ số BMI =
Do đặc điểm của lứa tuổi này là cơ thể đang phát triển, chiều cao chưa
ổn định nên không thể dùng một ngưỡng BMI như người trưởng thành màBMI được tính theo giới và tuổi của trẻ
1.4.2 Cách phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 10 – 19 tuổi
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 10 – 19 tuổi theo chỉ số sautheo WHO năm 2007 [50]
- Trẻ em trên 10 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể BMI (Percentiles) tínhtheo tuổi và giới của trẻ như sau:
+ BMI < 5 percentile: Thiếu dinh dưỡng
+ BMI từ 5 đến dưới 85 percentiles: Bình thường
+ BMI ≥85 percentiles: Thừa cân
+ BMI ≥ 85 percentile và BDNGD cơ tam đầu và BDNGD dưới xương
bả vai đều ≥ 90 percentile hoặc khi BMI ≥ 95 percentiles: Béo phì
- Ngoài ra ở lứa tuổi này cân nặng và chiều cao riêng rẽ không đánh giá hếtđược tình trạng dinh dưỡng, mà cần phối hợp giữa cân nặng với chiều cao vàcác kích thước khác Các kích thước thường được sử dụng như: cân nặng,chiều cao, đo bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu và góc xương bả vai, đo %
mỡ cơ thể [48]
- Tần suất tiêu thụ lương thực thực phẩm: Số lượng thực phẩm tiêu thụ phảiđược đánh giá một cách chính xác cũng như sự có mặt của các loại thựcphẩm và xu hướng tiêu thụ lương thực, thực phẩm của trẻ trong giai đoạnhiện nay
Trang 27- Điều tra khẩu phần:
Đánh giá mức tiêu thụ lương thực - thực phẩm: Áp dụng phương pháphỏi ghi ngày hôm qua Ngày điều tra là các ngày trong tuần kể cả những ngày
mà bữa ăn có thể được cải thiện hơn bình thường (chủ nhật, ngày nghỉ ).Không điều tra các ngày ăn uống đặc biệt như: ma chay, cưới xin, lễ hội.Người điều tra hỏi và ghi lại toàn bộ các loại lương thực, thực phẩm (bao gồmcác bữa ăn ở tại gia đình và ngoài gia đình) mà trẻ sử dụng một cách chínhxác trong ngày
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Điạ điểm và Thời gian nghiên cứu
- Thời gian: tháng 8/2017 – 5/2018
- Địa điểm: Nghiên cứu được tiến hành trên ba trường trung học cơ sở tạihuyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định: Tam Thanh, Thị Trấn Gôi, Trung Thành
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh đang học tại các trường THCS: TamThanh, Thị Trấn Gôi, Trung Thành
2.2.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng
- Học sinh từ 11 đến 14 tuổi đang học tại các trường
- Cơ thể không bị dị dạng, dị tật bẩm sinh
- Tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những học sinh không hợp tác trong quá trình nghiên cứu
- Học sinh đang mắc bệnh nhiễm trùng cấp tính
- Học sinh bị rối loạn trí nhớ
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức cỡ mẫu ước tính cho một
tỷ lệ với độ chính xác tương đối:
n = Z2 1- Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
Z1- = 1,96 là giá trị tương ứng của hệ số giới hạn tin cậy, với độ tin cậycủa ước lượng là 95%
Trang 29p = 0,13 (tỷ lệ SDD thể gầy của học sinh các trường THCS ở ngoại thành
TP HCM năm 2012) [37]
ε: khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ cỡ mẫu và tỷ lệcủa quần thể, chọn ε = 0,2
Vậy theo công thức tính cỡ mẫu: n = 1,962 x ≈ 643
Cộng thêm 10% tỷ lệ ước tính bỏ cuộc và lấy tròn số thì cỡ mẫu tối thiểuđiều tra là 700
Trên thực tế số lượng học sinh tại ba trường được đưa vào nghiên cứu là
730 học sinh
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn:
Giai đoạn 1: chọn mẫu có chủ đích
Chọn chủ đích huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định vào nghiên cứu, nơi các
xã trên địa bàn đều có trường trung học cơ sở và có dân số tương đối đông,điều kiện kinh tế khác nhau, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, huyện nhiệt tình,đồng ý việc triển khai nghiên cứu
Giai đoạn 2: Chọn ngẫu nhiên trường nghiên cứu:
- Liệt kê danh sách 18 trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Vụ Bản
- Chọn ngẫu nhiên 3 trường gồm: trường THCS Tam Thanh, trường THCS ThịTrấn Gôi, trường THCS Trung Thành với khoảng 30 học sinh/ lớp
Với 730 đối tượng nghiên cứu chia đều cho 3 trường mỗi trườngnghiên cứu 244 học sinh
Giai đoạn 3: Chọn đối tượng nghiên cứu:
Tại mỗi trường chọn ngẫu nhiên 2 lớp trong mỗi khối Mỗi lớp chọnngẫu nhiên 30 học sinh Như vậy tại mỗi chùm của trường có 244 học sinh.Tổng cộng có 730 học sinh được chọn vào điều tra nghiên cứu
2.6 Mô tả các bước tiến hành nghiên cứu:
18 trường THCSHuyện Vụ Bản
Trang 30Chọn ngẫu nhiên
Sơ đồ quy trình các bước nghiên cứu 2.7 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu
2.7.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.7.1.1 Phương pháp nhân trắc:
- Cân nặng được đo bằng cân điện tử SECA có độ chính xác 0,1 kg
- Chiều cao được đo bằng thước không co giãn có độ chia chính xác tớimilimet
Kĩ thuật đo
Trường THCS
Tam Thanh
Trường THCS Thị trấn Gôi
Trường THCS Trung Thành
- Khối 6, 7, 8, 9
2 lớp/ khối
- Chọn cả lớp
Đồng ý tham gia
Trang 31- Cân nặng: sử dụng cân SECA (độ chính xác 0,1kg) Trọng lượng cơ thểđược ghi theo kg với một số lẻ Chuẩn bị cân: đối tượng được hướng dẫn mặcquần áo gọn gàng, trừ bớt cân nặng quần áo khi tính kết quả Khi cân: hướngdẫn đối tượng đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọnglượng phân bố đều cả hai chân Cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng[48],[49].
- Chiều cao: Đo chiều cao đứng bằng thước không co giãn có độ chiachính xác tới milimet Chiều cao được ghi theo cm với một số lẻ Đối tượng
bỏ giày, dép, mũ, nón, bờm tóc, khăn, búi tóc, đứng quay lưng vào thước đo,
2 chân sát nhau Đảm bảo 9 điểm chạm: 2 gót chân, 2 bụng chân, 2 mông, 2vai và chẩm Trục cơ thể trùng với trục thước đo, mắt nhìn thẳng 2 tay buôngthõng 2 bên Dùng êke vuông/thước thẳng áp sát đỉnh đầu, thẳng góc vớithước đo Đọc kết quả theo cm với 1 số thập phân [48],[49]
- Xác định tuổi của trẻ: Dựa theo cách tính tuổi của WHO 2007 [22] Tuổi của trẻ được tính dựa vào ngày sinh của trẻ và ngày điều tra
+ Ngày tháng năm sinh của trẻ - Ngày điều tra : Số tuổi hiện có
Ví dụ: 11 tuổi – 11 tuổi 11 tháng 29 ngày: 11 tuổi
12 tuổi – 12 tuổi 11 tháng 29 ngày: 12 tuổi
2.7.1.2 Phỏng vấn: sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn
Sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn để thu thập các thông tin khácnhau về:
Thông tin chung (phụ lục)
- Thông tin của học sinh: Họ tên, tuổi, giới, địa chỉ
- Thông tin về kinh tế gia đình, trình độ học vấn của bố, mẹ trẻ, nghềnghiệp của bố, mẹ trẻ
Kiến thức về dinh dưỡng
Trang 32Sử dụng bộ câu hỏi đã được xây dựng để phỏng vấn nhằm đánh giá kiếnthức của học sinh về dinh dưỡng (phụ lục) như:
- Kiến thức về các thực phẩm cần thiết trong bữa ăn chính hàng ngày
- Bữa ăn chính/ ngày
- Lượng nước uống cần thiết/ ngày
- Nguyên nhân, tác hại của béo phì, suy dinh dưỡng
- Cách phòng tránh béo phì, suy dinh dưỡng
- Nguồn tiếp cận thông tin về dinh dưỡng
Thực hành về dinh dưỡng
Thông qua bộ câu hỏi đã được xây dựng để phỏng vấn nhằm đánh giáthực hành của học sinh về dinh dưỡng (phụ lục) như:
- Thực hành ăn sáng
- Thói quen ăn đồ ăn vặt
- Thói quen sử dụng thức ăn nhanh
- Thời gian ngủ một ngày
- Lượng nước uống / ngày
- Thói quen giải trí trong ngày
- Thời gian tham gia hoạt động thể lực
- Tần suất tiêu thụ lương thực -thực phẩm
- Cách chế biến món ăn của gia đình học sinh
Bộ câu hỏi đã được thử test trước khi triển khai Trước khi phát vấn,chúng tôi giải thích rõ mục đích, chỉ muốn biết thực chất để có thể bổ sungkiến thức cho các em học sinh Chúng tôi hướng dẫn đầy đủ các câu hỏi vàcác cách trả lời vào các câu hỏi
2.7.2 Cách đánh giá kết quả
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 10 – 19 tuổi theo chỉ số sau
Trang 33dựa vào WHO năm 2007 [50]:
- Trẻ em trên 10 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể (BMI) tính theo tuổi vàgiới của trẻ
Sử dụng quần thể tham khảo của WHO 2007 với các điểm ngưỡng sau:
<5 percentile Gầy hoặc thiếu dinh dưỡng
Từ 5 đến dưới 85 percentiles Bình thường
Cách tính BMI:
Cân nặng (kg) BMI =
(Chiều cao)2 (m)
Đánh giá kiến thức, thực hành dinh dưỡng của học sinh
- Tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng về vấn đề dinh dưỡng
- Tỷ lệ học sinh có thói quen dinh dưỡng đúng
- Tần suất tiêu thụ lương thực- thực phẩm: Tính % từng loại thực phẩm
mà học sinh hay ăn trong ngày, tuần, tháng Từ đó tìm ra được những loạithực phẩm nào học sinh hay sử dụng, ít sử dụng hoặc không sử dụng Nhưvậy có thể đưa ra một bức tranh về sự có mặt của các loại thực phẩm và xuhướng tiêu thụ lương thực, thực phẩm của trẻ trong giai đoạn hiện nay tại cáctrường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
2.8 Các sai số và cách khống chế sai số
Các sai số mắc phải
- Sai số trong cân đo nhân trắc (sai số do người đo không chuẩn)
- Sai số trong thu thập thông tin
- Sai số do đối tượng cung cấp thông tin không chính xác
Trang 34Cách khống chế
- Chuẩn hóa kỹ thuật trước khi thực hiện
- Nghiên cứu viên được tập huấn kỹ trước khi tiến hành điều tra
- Phiếu điều tra phải được thử nghiệm để đảm bảo phù hợp với ngôn ngữ
và trình độ cuả đối tượng
- Giải thích rõ cho đối tượng về mục đích của nghiên cứu để họ trả lờithành thật và chính xác với các câu hỏi
- Giám sát ngay các phiếu vừa phỏng vấn
2.9 Xử lý số liệu
- Số liệu định lượng: được kiểm tra, làm sạch và nhập bằng phần mềmEpiData 3.1 Các phân tích được thực hiện bằng phần SPSS 18.0 với các testthống kê trong y học
- Các tần số quan sát và tỉ lệ % của các biến số độc lập và phụ thuộcđược tính và biểu thị trên các bảng
- Sử dụng test χ2 để so sánh 2 tỷ lệ, sử dụng OR để đo lường mối liênquan, mức ý nghĩa thống kê p <0,05
- Các giá trị, độ lệch chuẩn được tính cho các biến định lượng
- Sử dụng các test thống kê thích hợp để phân tích kết quả
2.10 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu đã được sự đồng ý của hội đồng bảo vệ đề cương củaViện Đào tạo y học dự phòng và y tế công cộng cùng Ban Gíam hiệu cũngnhư học sinh tại các trường trung học cơ sở
- Nghiên cứu không ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy và học tập
- Các thông tin của đối tượng được giữ bí mật, mọi thông tin thu thậpđược do sự hợp tác của người tham gia và người làm đề tài
- Các số liệu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu không nhằm mụcđích nào khác
Trang 35- Đối tượng có thể từ bỏ nghiên cứu bất cứ lúc nào.
- Các kết quả của nghiên cứu sẽ được phản hồi cho trường
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân bố học sinh theo địa điểm và giới (N=730)
Trang 37nhóm 13 tuổi (22,3%) Tỷ lệ học sinh nữ ở nhóm 11 tuổi và 14 tuổi cao hơnhọc sinh nam với tỷ lệ tương ứng: 13,5% và 13,4%, 12,9% và 12,5% Nhưngngược lại tỷ lệ học sinh nữ ở nhóm 12 tuổi và 13 tuổi lại thấp hơn so với ởhọc sinh nam với tỷ lệ tương ứng: 10,5% và 8,8%; 14,9% và 13,5% Sự khácbiệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Biều đồ 3.1: Phân loại kinh tế hộ gia đình của học sinh (N=730)
Nhận xét
Biểu đồ 3.1 cho thấy, số gia đình học sinh thuộc diện nghèo, cận nghèo(có sổ hộ nghèo) chiếm tỷ lệ thấp 6,6%
Trang 38Bảng 3.3 Trình độ học vấn và nghề nghiệp của bố mẹ học sinh (N=730)
trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất tương ứng là 49,7% và 51,1% Tiếp đến
là trình độ học vấn ở phổ thông trung học với tỷ lệ 29,9% và 28,8% Tuynhiên, vẫn còn có bố mẹ của học sinh không biết chữ chiếm tỷ lệ thấp tươngứng 0,7% và 0,5%
Nghề nghiệp của bố mẹ học sinh chủ yếu là công nhân và nông dân: tỷ
lệ bố là nông dân chiếm 44%, công nhân chiếm 24%, tỷ lệ mẹ là công nhânchiếm 37,5% và nông dân chiếm 33,6% 0,7% bố là nội trợ và 0,5% mẹ củahọc sinh làm nghề tự do, xuất khẩu lao động,
3.2 Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tại ba trường trung học cơ sở
Bảng 3.4: Trung bình cân nặng và chiều cao của học sinh (N=730)
Trang 39Sự phát triển chiều cao rõ rệt hơn phát triển cân nặng của học sinh Ởhọc sinh nam thì chiều cao tăng lên khá đều giữa các nhóm tuổi, mỗi nămtăng trung bình khoảng 6 cm Với học sinh nữ thì tốc độ phát triển chiều cao ởnhóm 12 tuổi và 13 tuổi là nhanh nhất, trung bình tăng 6cm Độ tuổi 13 – 14tăng chậm hơn, tăng trung bình 2cm/năm.
Trang 40Bảng 3.5: Phân bố tình trạng dinh dưỡng học sinh theo giới (N=730)
Tình trạng dinh dưỡng Thiếu
dinh dưỡng (BMI < 5 th )
Bình thường (5 th ≤ BMI < 85 th )
Thừa cân, béo phì (BMI ≥ 85 th )
ý nghĩa thống kê p > 0,05